2013

Quân Đội, Những Người Lính Của Nhân Dân Các Anh Còn Ngủ Đến Bao Giờ ?

Đối với thế giới, uy tín của chính quyền cộng sản Việt Nam đã mất từ lâu, mất một phần khi xảy ra cuộc chiếm đóng Cambodia, mất toàn phần khi làn sóng thuyền nhân tràn lên các đại dương và xác chết của họ trôi khắp bãi bờ các quốc gia khác.  Với dân chúng trong nước, giờ đây họ thôi là nhà cầm quyền vĩ đại. Bởi sự thoát đồng đã xảy ra từ rất lâu, họ thôi là thượng đế và dân chúng thôi là những con nộm bị điều khiển bằng thứ tôn giáo do kẻ cầm quyền sáng tác. Dân chúng đã nhìn rõ bản mặt của họ: những con vật đi bằng hai chân, những con vật tham tàn, những con vật đang run sợ vì sự tham tàn của chúng không còn được bóng tối che đậy.  Nhà cầm quyền Hà Nội lúc này chỉ còn tin vào nòng súng. Nhưng bất kì kẻ cầm súng nào cũng có lúc chết vì chính thứ vũ khí mà họ sử dụng. Bởi vì, chẳng có thứ vũ khí nào tự động nhả đạn. Vũ khí nào cũng cần bàn tay của con người, dù là bàn tay bấm nút chiến tranh hạt nhân hay bàn tay cầm dao găm, súng lục. Khi con người đã nhìn rõ sự thật, khi họ không còn bị huyễn hoặc bởi các trò mị dân, khi họ hiểu họ là ai và họ có thể làm chủ số phận của họ bằng cách nào, lúc ấy, các nòng súng sẽ đổi hướng.  Tiếng nhạc ầm ĩ trong ngày hội “Ngàn năm Thăng Long” hẳn đã át đi tiếng nức nở của trên năm mươi gia đình nạn nhân chết vì bão lụt ở miền Trung. Các quan chức Hà Nội không bỏ ra một nửa giây để tưởng niệm những kẻ xấu số. Họ quên. Cũng như họ đã từng quên những người dân đánh cá tỉnh Thanh bị giặc Tầu giết ngoài khơi, như họ quên các chiến sĩ đã bỏ mình trên biên giới vào cuộc chiến tranh năm 1979. . . Họ quên và họ quên. Vậy họ nhớ điều gì?  Khi con gái họ có nhu cầu mua một chiếc váy cưới xấp xỉ 200. 000 euros tại đại lộ Champs Elysées thì họ phải nghĩ cách làm đầy thêm các ngân khoản ở ngân hàng ngoại quốc. Khi nhân tình của họ cần chiếc xe hơi sang trọng như xe của cô Hồ Thu Hồng thì họ phải nghĩ cách để kiếm cho bằng được chiếc xe ấy, để nàng khỏi tủi thân vì kém chị kém em. Khi ngôi lầu của họ chỉ đáng giá hai triệu đô la mà của kẻ khác giá gấp đôi thì họ phải tìm cách đuổi kịp và vượt hắn. Đó là mối quan tâm cốt lõi của giai cấp tư sản đỏ Việt Nam giờ đây, cái guồng quay cũ kĩ của đám mới giầu.  Ai đó từng nói câu này: “Trong giai đoạn tích luỹ tư bản, giai cấp tư sản có thể giết chết cha đẻ của họ để có tiền”. Giai cấp tư sản đỏ Việt Nam cũng có chung một trạng thái tâm lý đó: khát tiền, làm mọi thứ để có tiền, bất kể phương tiện nào, dù đó là tội ác. Nhưng tư sản đỏ Việt Nam không cần giết bố, bởi họ có một đối tượng khác dễ giết hơn nhiều: dân đen. Họ không cần đốn ngã kẻ sinh thành bởi có thể hút máu dân đen một cách thoả thuê, vừa thoả mãn cơn khát tiền lại vừa yên ổn lương tâm vì không mắc tội giết cha. Lấy ví dụ về tập đoàn Vinashin. Mua một vỏ tầu cũ nát, đáy nứt, không thể vận hành, lấy sơn quét lên rồi rút hàng triệu đô la trong công quỹ. Hàng triệu đô la ấy quan lớn bỏ túi, còn con tầu “bãi rác” sơn bóng loáng kia được đặt trên đất liền để làm “hiện vật bảo tàng”. Nghe tưởng như chuyện đùa. Nghe như tiếu lâm. Thứ tiếu lâm cười ra nước mắt. Chỉ có ở Việt Nam , nơi kẻ cầm quyền coi dân là lũ trâu bò, mới dám làm điều ngang ngược đó. Chỉ có ở xứ Việt Nam , khi tất cả các cuộc kí kết, thương thuyết của chính phủ đều diễn ra trong bóng đêm và dân chúng không được quyền biết đến mới có thể xảy ra hiện tượng này.  Lấy ví dụ thứ hai: các vụ buôn người. Dưới chế độ độc đảng, độc tài, ai có thể làm được điều này nếu không là chính các thành viên trong chế độ ấy. Tại sao lại buôn người? Vì buôn người thu lời nhanh nhất, mà vốn đầu tư coi như zero nếu có quyền hành. Cho nên, buôn người là nghề mới của đảng cộng sản Việt Nam, đảng thừa thãi quyền hành vì không có đối trọng.  Đã là lái buôn, ắt phải tham. Lòng tham mà không bị điều tiết bởi các điều luật thì nó sẽ phát triển vô cùng tận. Do đó, món hàng hoá có tên gọi là “dân đen”của các quan chức Việt Nam sẽ được khai thác tối đa để làm đầy túi các bậc trị vì dân. Khi đã coi dân chúng là hàng hoá, ắt người cộng sản phải tìm mọi cách để đám dân đen trở thành vật vô tri, tức là các công cụ, thứ công cụ này có chức năng sản xuất nhưng phải câm và phải điếc. Khi mà các công cụ dân đen không chịu nổi đàn áp, buộc mở mồm thì lập tức họ có cách để bắt nó phải câm. Vũ khí đó có tên gọi “chuyên chính”, bộ máy đàn áp trứ danh lâu nay.  Hãy đọc báo Công an nhân dân đưa tin về vụ xử ba thanh niên sáng lập công đoàn Tự do ngày 27 tháng 10 năm nay: “Được Trần Ngọc Thành, kẻ cầm đầu Uỷ ban bảo vệ người lao động Việt Nam đưa Hùng, Hạnh sang Malaysia đào tạo, huấn luyện, rồi từ ngày 28/1 đến ngày 9/2/10, Trần Ngọc Thành đã chỉ đạo Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương thực hiện các vụ kích động biểu tình, rải truyền đơn ở Trà Vinh, Đồng Nai, Tp HCM, nội dung kêu gọi người dân chống lại Đảng, Nhà nước, kêu gọi đấu tranh để đòi dân chủ; lợi dụng các vấn đề còn thiếu sót trong chế độ lao động, tiền lương của công nhân ở một số khu công nghiệp để tổ chức tuyên truyền, kích động công nhân đình công, biểu tình, phá hoại máy móc, nhà xưởng, tài sản của doanh nghiệp. . .”  Thứ nhất, tác giả bài báo này quên rằng “Kích động công nhân đình công, biểu tình, phá hoại máy móc, nhà xưởng, tài sản của doanh nghiệp” là đích xác các hành động của người cộng sản Việt Nam những năm trước cách mạng. Các hành động này cũng đã từng xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới, khi giai cấp lao động không chịu nổi sự áp bức và bóc lột của đám chủ nhân. Các phản ứng tiêu cực này chỉ xảy ra khi sự thoả thuận giữa người làm công với kẻ trả công bị vi phạm và cuộc sống của người lao động bị đe doạ.  Phải chăng tác giả bài báo này cho rằng chỉ riêng đảng cộng sản vĩ đại của ông ta là được quyền sử dụng chiêu thức ấy còn những người khác thì bị cấm vì họ không được là người mà chỉ là thứ phẩm của người, tức “dưới người”, nói cách khác: “người vượn Néandertal”? Thứ hai, câu “lợi dụng các vấn đề thiếu sót trong chế độ lao động, tiền lương của công nhân. . . ” chỉ là lối mỹ từ hoá sự vật. Nói một cách xác thực và dân giã, hiện nay các quan lớn cộng sản Việt Nam đang thực thi chính sách “bòn nơi khố quạnh, đãi nơi quần hồng”.  Tại sao lại “bòn nơi khố quạnh”? Vì ngu, vì tham, vì trước ngoại nhân thì dốt nát và khiếp nhược nên các quan lớn chỉ có lối kiếm tiền dễ nhất là bóc lột đồng bào mình, những người không có phương tiện để tự bảo vệ, những kẻ bị hà hiếp, bị tê liệt cùng một lần vì đói nghèo và sợhãi. Tại sao lại “đãi nơi quần hồng”? Vì người cộng sản lúc này thôi còn là cộng sản, họ đã trở thành đám tư sản dù vẫn giữ vẻ mặt ngô nghê và bộ điệu lố bịch của kẻ cách đây chưa lâu còn lo le sợi dây giong lợn giống hoặc lúc lắc cái ống bơ đựng xu lẻ ăn mày. Khi đã đổi vai thì họ phải bám vào cái giai cấp tương lai của họ, giai cấp mới này chính là đám quần hồng, thế nên họ phải đãi đám quần hồng để còn kiếm chác phần đường mật trong đũng cái quần hồng ấy.  Sự thật đơn giản, nếu người ta nhìn thẳng vào nó. Đám cầm quyền hôm nay đã rơi từ đỉnh cao của sự “kiêu ngạo cộng sản” xuống vũng bùn của“các con lợn truỵ lạc phương Tây” mà trước đây họ thường sa sả chửi rủa, họ đang sống xả láng trong cảnh phồn vinh mà trước đây họ mỏi mồm lên án. Nói tóm lại, họ đang là thứ “khỉ khoác quần áo”, thứ “nhặt cái đuôi của bọn tiểu tư sản cắm vào lỗ mồm” như ông tổ hói đầu Lenin của họ từng cảnh báo trước đây. Trong cuộc sống tối tăm, nhục nhằn của người nô lệ, các anh hùng đánh đuổi ngoại xâm chính là các bậc thánh sống, được tôn trọng, thần phục, ngưỡng mộ, và có toàn quyền trở thành các nhà sáng lập triều đình.  Nhìn lại lịch sử, ta dễ dàng chiêm nghiệm điều đó. Phải chăng triều Lý, triều Trần, triều Lê, triều Tây Sơn Nguyễn Huệ đều được khởi dựng sau các chiến thắng lẫy lừng chống kẻ xâm lăng? Ngoại trừ Đinh Bộ Lĩnh là viên tướng phất cờ khởi nghĩa dẹp loạn sứ quân, thống nhất đất nước, nói một cách dễ hiểu là viên tướng duy nhất xây dựng triều đình khi chiến thắng các cuộc nội chiến phân quyền, còn lại, những gương mặt sáng chói trong lịch sử đất Việt đều là những anhhùng chống Tầu và chống Nguyên – Mông. Các triều vua này từng tuyên bố “Sông núi nước Nam vua Nam ở”.Và cuộc sống mái của họ là giành mục đích người Việt Nam là người Việt Nam, dẫu áo vải quần thâm nhưng đàn ông nhất quyết không cạo trọc, tết sam như gã A. Q, đàn bà không bó chân như các mợ Tầu. Tuân theo logic ấy, triều cộng sản được hình thành là nhờ nó có công trong cuộc cách mạng chống giặc Tây. Và người ta còn khoan dung cho nó là vì tính đến cái công ấy, cái công “dành độc lập dân tộc”, cái khả năng nối tiếp truyền thống của các Vua nước Nam nhất thiết phải ở đất nước Nam, coi sự tồn tại của non sông quý hơn tròng mắt của chính họ.  Cái tinh thần bất khuất ấy, còn hay chăng? Còn hay chăng, tinh thần dân tộc của những người đã đổ máu để cắm ngọn cờ hồng lên thành Hà Nội sáu mươi lăm năm trước, những cảm tử quân đã ôm bom ba càng vào mùa đông năm 1946 với lời thề “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”? Nếu những anh hùng vô danh ấy có linh hồn, hẳn các linh hồn ấy giờ đây đang nức nở. Nếu những hiển linh của các vua xưa có thể cất lời, thì lời đầu tiên họ nói sẽ là “Lũ người này đã phản bội lại dân tộc, bọn sâu bọ này đã bôi nhọ mặt chúng ta!” Ngày Hội Ngàn năm Thăng Long diễn ra vào đúng ngày 1 tháng 10, thằng mù cũng biết đó chính là ngày Quốc khánh Trung Quốc. Tại sao lại là con số này? Tại sao có sự lựa chọn này? Vô ý chăng? Nhầm nhỡ chăng? Mất trí nhớ chăng? Cứ coi như Bộ trưởng Bộ Văn hoá dốt nát thì trên đầu ông ta còn mười một người trong bộchính trị. Không lẽ cả mười một người này mắc chứng mất trí nhớ? Không lẽ cả mười một người này mắc bệnh thiểu năng? Nếu để cho mười một kẻ thiểu năng đứng trên đầu trên cổ mình thì dân Việt xứng đáng là các bệnh nhân của trại tâm thần, một trại tâm thần khổng lồ chưa từng thấy mà trong đó các con bệnh bị tiêm thuốc ngủ liều cao liên miên nên đờ đẫn, không còn khả năng nhận thức sự vật xung quanh. Nếu không, họ đã bị bán đứng cho Tầu, và tương lai của họ, một tương lai không tránh được sẽ là bản sao lại sầu thảm của những người dân Tây Tạng hoặc Tân Cương một khi họ bó tay trước lũ bán nước. Chọn ngày Quốc Khánh Trung Quốc để mở hội Ngàn năm Thăng Long là một biểu tượng hai mặt.  1. Với triều đình Bắc Kinh chính phủ Hà Nội đã làm bản tuyên bố: Thành Thăng Long cũng chỉ là một bộ phận trong lịch sử mẫu quốc, nó phải được treo đèn kết hoa cùng một lần với đèn hoa của thủ phủ đại triều. Một khi thủ đô của một quốc gia đã định vị nhưvậy, có nghĩa quốc gia ấy tự xác nhận danh tính chư hầu một cách công khai. Sự kiện này là bản giao kèo bộc lộ lòng trung thành vô hạn và vô điều kiện của đám hàng thần Hà Nội.  2. Với dân chúng, đây cũng là lời tuyên bố thẳng thừng: Chúng tao bất chấp lịch sử, chúng tao có toàn quyền định đoạt vận mệnh đất nước. Kẻ nào chống lại, kẻ đó sẽ bị tiêu diệt. Chọn ngày quốc khánh Trung Hoa để mở hội Ngàn năm Thăng Long là bằng chứng hiển nhiên để mảnh vải rách cuối cùng che thân chế độ cộng sản rơi xuống. Họ đã trở thành kẻ bán nước, công khai hoá hành vi bán nước của mình. Nếu như năm 1945, cha anh họ là các anh hùng giải phóng dân tộc thì giờ đây, trái lại, họ là những tên phản tặc, sỉ nhục của tổ tiên, chẳng những cắt đất, cắt biển dâng cho giặc mà còn đương nhiên ném bùn lên lịch sử. Người Việt Nam ta có câu “hổ phụ sinh cẩu tử”. Mà bọn người này, không những là những con “cẩu tử” mà còn là “cẩu ghẻ”, “cẩu sida”.  Những người cầm quyền Hà Nội thừa thông minh để hiểu rằng họ là những con cẩu ghẻ. Rằng trong dòng máu của bất cứ người Việt nào cũng lưu cữu một thành tố có tên gọi “chống ngoại xâm”, mà thứ ngoại xâm thống trị lâu dài nhất, tàn độc nhất, để lại các kinh nghiệm đau thương sâu đậm nhất trong kí ức là “giặc phương Bắc”.  Cuộc thực dân hoá của Pháp 100 năm chỉ là cơn bão chóng qua so với thời kì bắc thuộc của giặc Tầu. Họ biết rằng bất cứ kẻ nào phản lại truyền thống đấu tranh dân tộc, kẻ đó mất chỗ đứng trong lòng dân chúng. Ngày hôm trước còn được tung hô hoàng đế, hôm sau đã biến thành “Thằng chó săn, thằng phản tặc, phường bán nước”. Đó là trường hợp vua Lê Chiêu Thống đã phải chịu do hành vi bán nước của ông ta. Còn câu ca “Nguyễn Ánh cõng rắn về cắn gà nhà” mãi mãi là bài học lịch sử tố cáo tội ác của kẻ đặt lợi ích dòng họ trên quyền lợi dân tộc. Giờ đây, nhà cầm quyền Hà Nội biết rằng họ đã bị đẩy sang bên kia đường biên, họ rơi vào cùng một bè lũ với Lê Chiêu Thống và Nguyễn Ánh. Để đặt tên cho họ một cách rõ ràng và chính xác, tôi xin nhại lại câu “cõng rắn về cắn gà nhà” của các cụ xưa mà rằng nhà cầm quyền Hà Nội giờ đây là bọn “dẫn hổ về thịt dê nhà“  DẪN HỔ VỀ THỊT DÊ NHÀ. Tại sao lại là hổ và dê? Hổ, vì vương triều phương Bắc bây giờ mạnh hơn thực dân Pháp năm xưa nhiều lần, để so sánh một cách chính xác thì phải dùng hình ảnh con hổ chứ không thể là con rắn. Dê, vì nhìn lại bản đồ, bạn đọc sẽ thấy rằng toàn bộ bán đảo Đông Dương có thể ví như một con dê mà Tây nguyên chính là phần sống lưng con dê đó. Một khi con hổ Trung Hoa cắm được móng vuốt lên chính giữa lưng con dê này, coi như số mạng con dê đã nằm trong hai hàm răng của nó. Đế quốc Trung Hoa sẽ trải rộng khắp châu Á. Việt, Miên, Lào sẽ trở thành các tỉnh thành khác nhau của Trung Hoa, “công đầu” này thuộc về ai nếu không là nhà cầm quyền Hà Nội, kẻ dựng lên công trình bauxite Tây nguyên? Bauxite ư? Trò lừa đảo! Thiếu gì các quặng bauxite rải rác khắp miền Bắc Việt Nam , tại sao không là Lào Cai, Yên Bái hay Cao Bằng mà lại là Tây Nguyên? Vả chăng, khai thác bauxite để làm gì? Kiếm tiền chăng? Dối trá! Biết bao bài báo đã phân tích chán chê lợi hại về khai thác bauxite, kể cả các tài liệu trên thế giới cũng công bố rộng rãi tác hại của nó, mà vụ gần đây nhất là Vùng bùn đỏ Hungaria. Còn có thể nói thêm được điều gì khi mà sự bán nước hiển nhiên đã bầy ra trước mặt dân chúng, giữa thanh thiên bạch nhật?  Nhà cầm quyền Hà Nội hoàn toàn có ý thức về hành vi bán nước của họ, bởi con tính của họ là trở thành một thứ “Thái thú Tô Định hiện đại”, được hưởng đủ phần xôi thịt của Bắc triều. Còn Việt Nam biến thành một tỉnh nào đó của Trung Quốc, mang tên Quảng Việt, Quảng Nam, Quảng Lạc. . . họ không cần quan tâm. Họ biết rõ rằng hành động của họ là đi ngược lại lợi ích của nhân dân, biết rằng không người Việt nào cam tâm làm nô lệ cho Tầu, rằng kinh nghiệm đau đớn của tổ tiên luôn luôn sống trong ý thức lẫn vô thức dân tộc, thế nên họ chủ trương đàn áp dân chúng, họ chủ trương dùng bàn tay sắt để bóp nghẹt cổ những ai muốn nói lời phản kháng. Không phải ngẫu nhiên mà năm 2009, thứ trưởng bộ nội vụ Nguyễn Văn Hưởng tức Trần đã công khai dọa nạt những người trí thức Việt Nam vào dịp viện IDS của tiến sĩ Nguyễn Quang A tuyên bố giải tán.  Ông nghị Trần nói rằng “Ở Việt Nam đảng độc quyền lãnh đạo nên không thể có phản biện. Phản biện tức là phản động. Các anh muốn phản biện hả? Nhà tù đang còn nhiều chỗ lắm. Nhưng chúng tôi cũng không cần đến nhà tù, chúng tôi có các phương tiện hữu hiệu hơn. Tai nạn xe cộ bây giờ tổ chức rất dễ dàng. Còn một biện pháp rẻ hơn và nhàn nhã hơn: đầu độc. Các anh uống cà phê rồi khi về đến nhà thì cứng đơ ra mà chết. Những bài bản này thế giới sử dụng đã lâu, chúng tôi cũng không thua kém họ. . . ” Những lời lẽ này nói lên điều gì nếu chẳng phải sự công khai triệt để của tính tội phạm và tư cách chó? Một chính thể không còn lý do chính đáng để tồn tại thì chỉ có thể duy trì bằng bạo lực, chỉ có thể sử dụng bọn tội phạm, bọn sát nhân, bọn cặn bã xã hội, tóm lại, bọn chó giữ nhà.Không còn lý tưởng, không còn đạo đức, ngập chìm trong tham lam, trụy lạc, con người trượt từ chữ NGƯỜI sang chữ CON.  Bác chúng em Vào những năm 1989, 1990, tôi có vinh hạnh làm quen và gặp gỡ ông Lê Giản, người công an đầu tiên của Việt Nam, người lãnh đạo bộ máy cảnh sát từ những năm đầu cách mạng. Ông Lê Giản đích thực là “Người công an nhân dân, từ nhân dân mà ra, do dân và vì dân”. Tôi hiểu vì sao cuộc kháng chiến thành công. Kháng chiến thành công vì có những người như ông Lê Giản. Nhưng ông Lê Giản đã chết và“Người công an nhân dân”cũng đã chết theo. Cái chết này xảy ra từ từ với thời gian, một cái chết âm thầm, nhưng không phải là vô hình vô ảnh.  Tôi chứng minh:Cách đây ngót ba thập kỉ, khi những lượt hoa quả đầu tiên từ phương bắc tràn vào nước ta, các phòng phân tích thuộc Bộ Nội vụ đã báo cáo lên bộ chính trị rằng các thứ hoa quả này đều tẩm formaldéhyde (thuốc ướp xác chết) vô cùng độc hại cho người tiêu dùng vì nó phá huỷ mô liên kết của các tế bào và là tác nhân gây ra bệnh ung thư.Bộ chính trị ra lệnh cấm phổ biến sự thực trên vì “sợ mất lòng nước bạn”. Các sĩ quan công an chỉ có thể ngăn cấm chính vợ con họ và rỉ tai những người thân cận nhất (anh em ruột, cha mẹ vợ chẳng hạn), đối với người ngoài, họ tuyệt đối tuân thủ mệnh lệnh cấp trên. Tuyệt đối im lặng. Tuyệt đối thản nhiên nhìn đồng bào mình ăn thứ đồ ăn nhiễm độc, biết chắc chắn rằng ngày một ngày hai họ sẽ ung thư và sẽ chết vì bệnh đó.  Tính kỉ luật của đám sĩ quan này mới cao thượng làm sao(!) Và cao thượng làm sao, những kẻ ngồi quanh bàn họp bộ chính trị, những bậc lương đống của triều đình, chịu trách nhiệm chăn dắt dân đen, đàng hoàng ra lệnh cấm rò rỉ sự thật vào tai dân chúng, bỏ mặc mấy chục triệu người bị đầu độc và chết dần chết mòn! Đối với tôi, con đường bán mình cho giặc của chế độ Hà Nội đã khởi sự từ ngày ấy. Và ngày ấy cũng là cái mốc đánh dấu sự chuyển biến chất lượng này: từ người công an nhân dân, công an đã trở thành kẻ quay lưng lại với nhân dân. Ba thập kỉ đã qua, những kẻ quay lưng lại với nhân dân đã trượt không ngừng trên con dốc, để trở thành kẻ thù của nhân dân. Bây giờ, gương mặt nào là gương mặt đích thực của công an? Người hùng bảo vệ dân hay đám chó giữ nhà cắn cổ dân để bảo vệ ông chủ của nó? Hãy xem lại các hình ảnh đưa lên internet năm 2008 về vụ nông dân bị cướp đất biểu tình ở Sài Gòn. Những người dân cầy gầy gò xơ xác, đa phần là người già và phụ nữ, từ các tỉnh Tiền Giang, An Giang, Bến Tre, Long An, Bình Thuận đổ đến trước văn phòng Quốc hội 2 với các khẩu hiệu “Trả đất cho dân”, “Chống cửa quyền, tham nhũng”. Những người dân ấy đã bị đám công an và dân phòng béo múp vì bia rượu, mặt hằm hằm sát khí đối xử ra sao? Mấy thế kỉ đã qua nhưng hình ảnh bọn người này vẫn là bản sao chính xác bọn nha lại mà Nguyễn Du đã mô tả trong Truyện Kiều:“Đầy nhà một lũ ruồi xanh” và “Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi”.  Gần đây nhất, hãy nhìn hình ảnh anh Nguyễn Ngọc Quang, một giáo dân ở Định Quán, tỉnh Đồng Nai vì tham gia đấu tranh cho dân chủ mà bị công an Đà Lạt ba lần tổ chức tai nạn xe cộ để kẹp suýt chết. Tôi tự hỏi, có lúc nào những người công an này tự vấn lương tâm? Tại sao họ không dùng sức lực, dùng khả năng hung bạo mà họ sẵn có để giết những tên giặc Tầu, lũ dã nhân tàn sát những người dân đánh cá Thanh Hoá?  Nếu là những người mà nghề nghiệp đặt trên bạo lực, bản năng hiếu chiến mạnh mẽ, tại sao họkhông dùng khả năng đó để tiêu diệt ngoại xâm mà lại đi đàn áp những sinh viên yêu nước biểu tình đòi Trường Sa, Hoàng Sa trước sứ quán Tầu? Tại sao? Vì họ thiếu trí khôn hay vì họ là những kẻ mù loà, óc não bị khô cứng trong một cuộc sống mà ngoài việc tuân theo mệnh lệnh cấp trên không còn khả năng nghĩ đến điều gì khác ? Vì chưa từng là công an, nên tôi dành những câu hỏi ấy cho họ trả lời. Tôi chỉ nêu lên nhận xét thứ hai, nhận xét khi tôi nhìn tấm ảnh đoàn biểu tình đòi mạng người xảy ra tại thị xã Bắc Giang ngày 25 tháng 7 năm nay.  Nhiều người biết rằng, ngày 23 tháng 7, hai công an huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang đã đánh chết anh Nguyễn Văn Khương, 21 tuổi, quê quán tại huyện Việt Yên vì tội danh không đội mũ bảo hiểm. Ngày 25 tháng 7, gia đình anh Khương đã chở xác chàng trai này lên thị xã Bắc Giang đòi đền mạng. Dân chúng xông lên ủng hộ gia đình nạn nhân, con số lên đến hàng ngàn người, làm thành một cuộc biểu tình rầm rộ chưa từng có trong lịch sử tỉnh Bắc Giang, mà theo bài phỏng vấn, các cụ già đã nói rằng còn đông hơn ngày theo Việt Minh cướp chính quyền năm Ất dậu.  Trong sự kiện này, tôi chú ý đến một chi tiết: công an đưa xe cứu hoả mang vòi rồng đến trấn áp dân chúng, nhưng trước khí thế căm hờn của đám đông, công an bỏ chạy, hàng chục người dân trèo lên xe đứng. Hiện tượng đó chứng tỏ không phải lúc nào công an cũng tê liệt vì mù loà, luôn hành động như đám robot hoặc lũ chó berger. Trong lúc nguy khốn, họ đã tính toán và đã chọn con đường bỏ chạy để thoát thân. Có lẽ, con tính của họ cũng đơn giản thôi. Không phải công an nào cũng phú quý vinh hoa như ông nghị Nguyễn Văn Hưởng. Đa phần những người lính quèn chỉ đủ sức nuôi một vợ thôi mà để nuôi cô vợ này với hai, ba đứa con kèm theo cuộc sống của họ cũng không phải là “thiên đường nơi hạ giới”. Nếu máu đổ ra mà chỉ để bảo đảm cuộc sống ấy thì đó là một cuộc đổi chác ngu xuẩn. Thêm nữa, lớp lính bây giờ tương đối trẻ, họ biết chữ nên không hoàn toàn bị bưng bít thông tin, họ hiểu được số phận của đám công an ra sao khi các cuộc cách mạng dân chủ xảy ra ở Nga, ở Tiệp, ở Hung, ở Đức, và ở Ukraina mới rồi.  Thêm nữa, dù hổ thẹn hay cố tình bưng bít lương tâm, nơi thầm kín nhất của con tim, họ cũng hiểu rằng chết vì một lý tưởng cao cả thì đó là cái chết xứng đáng không làm hổ thẹn cho con cháu, chết chỉ vì miếng cơm thì đó là cái chết của con chó gác sân mà khi dân chúng nổi lên, họ sẽ lấy bắp cầy phang vỡ sọ hoặc dùng câu liêm cắt cổ. Khi lòng dũng cảm và tinh thần hào hiệp không còn nữa, cái còn lại là sự tính toán vị kỉ của mỗi con người. Sự vị kỉ này cũng có mặt tốt của nó, nó là rào cản để chủ nghĩa cuồng tín không thể đặt chân vào mảnh sân của mỗi căn nhà.  Một người công an, nếu chưa mất toàn bộ sự sáng suốt, ắt phải biết tính toán họ được bao nhiêu và mất bao nhiêu, liệu số lương bổng họ được có trang trải nổi phần tiêu phí cho đám tang của họ và nuôi nổi cô vợ với lũ con còn lại, hay sự hy sinh của họ chỉ để làm nặng thêm túi tiền các quan lớn, khiến các quan thêm rửng mỡ để đi hiếp trẻ con (như ông chủ tịch kiêm phó bí thư tỉnh Hà Giang tên Nguyễn Trường Tộ và các ông khác chưa bị lộ mặt), hay máu họ đổ xuống chỉ để đổi lấy các hộp kem đắt tiền nhằm bổ dưỡng làn da mịn màng cho các mỹ nhân của quan lớn (như đám mèo cái đang vờn quanh rốn ông nghị Nguyễn Văn Hưởng)? Vân vân và vân vân. . .  Sự tính toán luôn có lợi cho con người. Bởi thánh nhân thường hiếm mà kẻ trục lợi thường nhiều nên không thể đòi hỏi tất cả mọi người đều xả thân vì đất nước. Tuy nhiên, nếu không là thánh nhân thì họ cũng là dân Việt. Là dân Việt, họ phải hiểu rằng truyền thống chống Tầu là dòng máu sôi sục liên tục chảy trong tim dân tộc này. Bất cứ kẻ bán nước nào, sớm hay muộn, trước hay sau cũng sẽ nằm trước mũi súng của nhân dân.  Dân Việt : Ai là dân Việt? Phải chăng đó là tộc người duy nhất trong hàng trăm tộc Việt (Bách Việt) xưa kia sống ở phía nam sông Dương Tử còn giữ lại được bản sắc mà chưa bị đồng hoá như chín mươi chín tộc Việt kia? Phải chăng vì sự cứng đầu này mà đất Việt luôn luôn là con mồi trong tâm thức Bắc triều? Ngoài các lý do về nhu cầu bờ biển với các hải cảng, nhu cầu khoáng sản, còn một nhu cầu thầm kín nữa mà quan lại phương Bắc không nói ra, đó là nhu cầu đồng hoá nốt cái phần còn lại của Bách Việt.  Niềm kiêu hãnh Đại quốc là ở đó. Mối bực mình của Đại quốc cũng là ở đó. Một khi họ đã thâu tóm, đã chiếm lĩnh, đã áp đặt nền văn hoá và chữ Hán lên chín mươi chín tộc Việt kia, lẽ nào còn cái tộc cuối cùng họ phải chịu thua?Ở thế thượng phong mà mấy ngàn năm nay chưa nuốt trọn hòn xôi Việt Nam, mảnh đất cỏn con, dường như là một “vết thương lòng, một sự tự ái” mà vua chúa Trung Hoa không chịu được. Cách đây vài năm, ai đó từng nói với tôi rằng “Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch là địch thủ, nhưng về chính sách đối với Việt Nam thì bọn họ sẽ ngồi cùng một bàn”.Đó là một nhận định sáng suốt. Năm trước, ông bộ trưởng bộ quốc phòng Trung Quốc tiến hành cuộc điều tra dư luận xem bao nhiêu phần trăm dân chúng ủng hộ xâm chiếm Việt Nam . Theo công bố của ông ta thì con số này lên đến trên 90%. Cứ cho rằng Trung Quốc là một nước cộng sản nên dân chúng còn sợ hãi, họ phải tuân theo thượng cấp nên có thể trừ đi 20 phần trăm, phần còn lại vẫn là trên 70 phần trăm. Và điều này là sự thật không ai có thể chối bỏ.  Năm nay đã là năm 2010, thế kỉ 21, Trung Quốc không còn sống dưới vương triều họ Mao, không còn phải đổi xác người thân cho nhau để chén thịt. Kinh tế phát triển, các phương tiện kĩ thuật phát triển, trình độ văn hoá được nâng cấp, sách báo lan tràn trong các đô thị, không thể cho rằng dân Trung Quốc hoàn toàn bị dắt mũi bởi họ ngu dốt, bởi thiếu thông tin, bởi sợ hãi nhà cầm quyền, ngược lại, họ đang dương dương tự đắc vì là dân của Cường quốc số 2 trên thế giới. Vậy thì, cái “hòn xôi Việt Nam chưa nuốt được” kia không chỉ làm ngáng họng đám cầm quyền mà cũng còn làm ngứa ngáy cổ họng vô số dân đen phương Bắc, một mặc cảm có mẫu số chung.  Vì lý do nào mà bộ trưởng bộ quốc phòng Trung Quốc làm cuộc điều tra này? Đó là một trò chơi ngẫu nhiên hay là sự thăm dò có chủ định? Vì lý do nào mà trên các site internet Trung Quốc tung ra hàng loạt bài chửi bởi, nhục mạ “lũ chó Việt Nam , phải đánh bọn chúng. Lũ chó Việt Nam, lần này chúng ta sẽ thanh toán lịch sử”, và công bố một cách chi tiết chương trình thôn tính Việt Nam trong ba mươi mốt ngày, phần còn lại của bán đảo được quy định là một tuần, tóm lại là chương trình con hổ Trung Quốc nuốt trọn con dê Đông Dương? Liệu nhà cầm quyền phương Bắc có thể ngang ngược làm những điều ấy chăng nếu như chính quyền Hà Nội còn là một chính quyền độc lập mà không tự nguyện biến mình thành đám gia nô cho vương triều Đại Hán? Tôi dành những câu hỏi ấy cho bạn đọc trả lời. Tôi chỉ xin nhắc họ rằng, chúng ta là tộc người cuối cùng sống sót mà không bị đồng hoá thành người Hán. Tổ tiên chúng ta đã đấu tranh không mệt mỏi để chống lại sự áp đặt của Bắc triều, bởi họ đã nhìn thấy sự đánh mất bản diện, sự lụi tàn của 99 tộc Việt kia.  Để tồn tại và được là chính mình, tổ tiên ta vừa chống chọi vừa lùi xuống phương Nam . Lịch sử của dân tộc Việt tóm gọn trong câu này: “ Nam tiến”! Nam tiến, nam tiến và nam tiến! Cuộc Nam tiến thứ nhất khởi sự dưới triều Lê, từ năm 1428 đến năm 1527. Kể từ đây, cuộc khai khẩn và chinh phạt tiếp tục không ngưng nghỉ. Từ Thăng Long các đoàn quân xưa vượt qua đèo Ngang, sau lưng họ là những đoàn nông dân và thợ thủ công vào phá rừng, bạt núi, kiến tạo ruộng đồng và lập làng xây ấp. Rồi tiến đến châu Ô, châu Rí. Rồi, từ đèo Ngang vượt qua đèo Hải Vân là chặng đường thứ hai. Cứ thế mà hành trình này tiếp tục cho đến mũi Cà Mau.  Nam tiến, đó là sự nghiệp dựng nước của tổ tiên ta. Bây giờ, chúng ta không còn cơ hội để tiếp tục sự nghiệp của họ. Chúng ta không thể Nam tiến. Trước mặt chúng ta đã là biển. Chúng ta tiến đi đâu? Người Việt chỉ còn cách tồn tại cuối cùng là giữ lấy đất đai, đất đai ấy là xương máu của cha ông ngàn đời tích tụ lại, đất đai ấy là nơi cắt rốn chôn rau nhưng cũng là thành luỹ mà họ có thể nương tựa vào để duy trì cuộc sống cho mình và cho các thế hệ mai sau.  Để giữ được non sông, để có thể là người Việt mà không trở thành đám thiểu số khiếp nhược của một vương quốc khác, chúng ta không thể tiếp tục dung dưỡng một chính quyền bán nước, một chính quyền đã ngang nhiên cắt đất, cắt biển cống cho phương Bắc, đã nhục nhã biến ngọn cờThăng Long ngàn năm thành một mảnh vải vụn xén ra từ cái váy hồng Bắc Kinh. Chúng ta không thể bảo vệ được Tổ quốc nếu tiếp tục nuôi giữa lòng dân tộc mình một con rắn độc, cũng như Vua An Dương Vương xưa đánh mất non sông vì trót đẻ ra và trót yêu thương đứa con gái phản tặc có tên là Mỵ Châu. Với tất cả các hành vi nhục nhã mà họ đã làm, chế độ Hà Nội giờ đây đã chính thức trở thành một thứ Mỵ Châu.   Tuy nhiên, Mỵ Châu xưa là một người đàn bà xinh đẹp nhưng ngu dốt, kẻ luỵ tình nông nổi nên tội bán nước của cô ta còn được người đời khoan dung. Tại đền thờ Cổ Loa có hai tượng đá, tượng đá ngoài sân là biểu tượng Mỵ Châu nằm gục mặt xuống đất mà bất cứ ai đi qua cũng phải đạp một cái lên lưng và nhổ một bãi nước bọt để trừng phạt “con Mỵ Châu bán nước”. Còn tượng đá trong đền, tựa như một người đàn bà cụt cổ phủ vải đỏ thì lại được hương khói do lòng đồng cảm với “Mỵ Châu khờ dại và lụy tình”.  Dân Việt vốn không cuồng tín, họ phân biệt rõ ràng mọi sự, bên kia chữ lý còn đọng chữ tình. Nhưng nàng Mỵ Châu ngây thơ, khờ dại đã chết từ mấy ngàn năm trước, còn chính quyền Mỵ Châu bây giờ không một chút khờ dại mà cũng chẳng luỵ tình ai, nó chỉ luỵ cái túi tiền của chính nó. Mọi tính toán của nó chỉ nhằm tu tạo, xây đắp quyền lợi bản thân, cũng như con thú chỉ có một đam mê duy nhất là liếm cho mượt bộ lông của chính nó mà thôi. Mỵ Châu ngày nay là một con đĩ già trơ trẽn, trần truồng nằm dạng háng sẵn cho phương Bắc. Người dân Việt phải chém cụt đầu con đĩ ấy, trước khi nó kịp trao hết nỏ thần vào tay giặc nếu chúng ta không muốn lặp lại số phận bi thảm của An Dương Vương. Dân tộc Việt không thể làm được điều ấy, nếu quân đội không đứng lên cùng với họ. Quân đội, những người lính của nhân dân, các anh còn ngủ đến bao giờ? Dương Thu Hương http://son-trung.blogspot.de/2013/02/duong-thu-huong-quan-oi-ngu-guc.html
......

Trí thức không thể quẩn quanh trong tháp ngà khoa học

Đáng buồn “trí thức trùm chăn” có vẻ nhiều lên, hoặc không thì cũng là “số đông im lặng”, thụ động. Nguyên nhân có cả ở tư cách “kẻ sĩ” của trí thức ngày nay yếu ớt và cả ở một xã hội dễ trùm chăn ru ngủ trí thức. Tạo Hóa cho con người ta không ai giống ai, khác nhau cả về hình dáng, tâm tính, suy nghĩ. Do vậy, trước mỗi sự kiện, hiện tượng, vấn đề có những cách nhìn nhận khác nhau, có những ý kiến khác nhau là chuyện thường, có thể nói đó là một bản tính tự nhiên. Tự nhiên mà giống nhau cả thì còn gì là tự nhiên. Và khi con người hợp thành xã hội thì lại lẽ tự nhiên là không có một vấn đề xã hội nào được đồng thuận tuyệt đối, được đồng thuận ngay từ đầu, mà luôn phải chịu sự tranh luận, xem xét, xoay ngang đảo ngược, tóm lại là phải chịu sự “phản biện” của mọi thành phần xã hội. Trí thức là thành phần xã hội có tri thức và hiểu biết, có năng lực nhận thức và xét đoán khoa học, có tính cách độc lập và tư cách phát ngôn. Hai chữ “phản biện” dùng cho trí thức là đúng lắm. Phản biện đây là theo tinh thần hoài nghi khoa học trước mọi vấn đề, là chỉ tin khi đã được thuyết phục bằng lý tính, là tranh luận bàn bạc trong không khí tự do dân chủ thực sự để cùng nhau tìm ra sự thật và chân lý. Phản biện là bác bỏ để chấp nhận, không phải là “nói ngược” cho sướng miệng, cho hả tức giận, càng không phải là để tạo cớ nổi tiếng. Phản biện đúng là một vai trò quan trọng, không thể thiếu của trí thức, cả trong lĩnh vực chuyên môn và cả trong các vấn đề xã hội. Tên gọi “trí thức trùm chăn” không phải bây giờ mới có. Nó là để chỉ một bộ phận trí thức quay lưng lại thực tại xã hội, nhắm mắt bịt tai trước những vấn đề bức xúc, cấp thiết của nhân quần, chỉ quẩn quanh trong tháp ngà khoa học, cho rằng mình chỉ cần làm tốt công việc chuyên môn là đủ, không cần dính dáng gì đến chính trị, thời sự. Loại trí thức này thường bộc lộ vào những thời điểm lịch sử có nhiều biến động lớn, trong các phong trào cách mạng xã hội sôi động, khi cần tiếng nói và hành động của tầng lớp trí thức như những phần tử tinh hoa của xã hội thúc đẩy sự vận động của đời sống theo hướng tích cực. Nhưng ngay cả vào những thời điểm quyết liệt, khủng hoảng nhất, bộ phận “trí thức trùm chăn” vẫn không phải là tiêu biểu, vẫn có nhiều trí thức dám dấn thân và xả thân cho đất nước. Thành công của cách mạng và kháng chiến ở nước ta hơn nửa thế kỷ qua là có phần đóng góp quan trọng của các trí thức dấn thân đó. Đáng buồn hiện nay “trí thức trùm chăn” như có vẻ nhiều lên, hoặc không thì cũng là “số đông im lặng”, thụ động. Nguyên nhân có cả ở tư cách “kẻ sĩ” của trí thức ngày nay yếu ớt và cả ở một xã hội dễ trùm chăn ru ngủ trí thức. Sự xuất hiện của hai từ “phản biện” không chỉ trong lời lẽ thông thường mà cả trong các văn kiện chính trị cho thấy giới trí thức, ở những đại diện dũng cảm của mình, đã không cam chịu đánh mất vai trò như đã nói trên của mình. Họ lên tiếng tại nhiều diễn đàn công khai và chính thức, họ viết các kiến nghị, các tâm thư, các yêu cầu gửi các cấp chính quyền, họ viết báo viết mạng bày tỏ ý kiến chính kiến của mình, tất cả đều căn cứ vào một điều hiến định là “tự do tư tưởng, tự do ngôn luận”. Xã hội đã quen dần và chính quyền đã chịu dần sự phản biện của trí thức. Tuy nhiên, để nói tới một phong trào phản biện sôi nổi, nghiêm túc, có người nói và người nghe, có phản và có biện, nói thẳng và nói thật, tiếp thu và trao đổi, bình đẳng và khách quan, thì quả thực những người trí thức dũng cảm vẫn đang là đơn độc. Trí thức thụ vốn tự bản chất không hèn, nhưng có một cái sợ khiến họ phải hèn, hoặc tự làm hèn. Kể ra trí thức bị hèn vì sợ thì không còn là trí thức đúng nghĩa nữa. Nhưng vậy thì đội ngũ trí thức bao năm qua xây dựng mà không đúng nghĩa là trí thức thì lỗi do đâu? Câu hỏi này tôi nghĩ cần phải được phản biện mạnh mẽ. Dịp này cả nước đang thảo luận góp ý dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, một điều tôi muốn đề xuất là: những gì đã được hiến định (như quyền biểu tình, quyền lập hội, quyền tự do tư tưởng, ngôn luận) thì phải nhanh chóng cụ thể hóa thành luật để nhà nước và nhân dân thi hành, và không ai được có quyền vi hiến. Khi đó tôi tin phản biện xã hội của mọi tầng lớp nhân dân, nhất là của giới trí thức, sẽ là một công cụ đắc lực phát triển xã hội.
......

Chúng ta giống nhau hơn là chúng ta tưởng

Để kết thúc một năm cũ   Việc những người nông dân mới đây ký tên vào Lời kêu gọi do những trí thức khởi xướng và việc những cựu sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa ký tên vào văn bản do những người cộng sản soạn thảo đã làm tôi nghĩ đến điều này : chúng ta giống nhau hơn là chúng ta tưởng. Không ai phủ nhận được sự khác biệt giữa các cá nhân, sự khác biệt giữa các vùng miền, giữa các tầng lớp có nghề nghiệp khác nhau, có mức độ tài sản khác nhau… Nhưng liệu có thể phân biệt một cách hết sức rạch ròi giữa người miền Nam và người miền Bắc, giữa công nhân, nông dân và trí thức, giữa người trong nước và người sống ở hải ngoại ? Có thể nào vạch ra một ranh giới rõ rệt giữa những con người, có thể nào phân chia con người thành những chiến tuyến bất di bất dịch ? Có lẽ chúng ta giống nhau hơn là chúng ta tưởng. Thế nên những người chống cộng sẽ có một ngày ngỡ ngàng chứng kiến một nghệ sĩ cộng sản (mà nếu có sang biểu diễn ở Cali rất có thể sẽ bị họ tẩy chay) từ chối nhận bằng khen của người đứng đầu chính phủ mà bà cho là « làm nghèo đất nước, làm khổ nhân dân ». Nhưng Kim Chi nói là bà không chống cộng, bà chỉ chống cái xấu, cái ác, sự hủy diệt. Có lẽ những người chống cộng cũng đã không chống cộng nếu sau khi chiến tranh kết thúc họ được sống trong tình nhân ái, họ được đối xử bình đẳng, được nhìn nhận như là nạn nhân của một hoàn cảnh cụ thể chứ không phải như kẻ thù không đội trời chung, nếu họ có một cuộc sống bình an, có một cuộc sống của con người. Chúng ta cùng có những nỗi niềm, dù có thể khác nhau nhưng đều là những nỗi niềm. Các nhà văn miền Nam phải vào trại cải tạo dĩ nhiên bị tổn thương. Còn các nhà văn miền Bắc phải bị giam cầm như nhóm Nhân Văn, Hoàng Hưng, Hoàng Cầm, Dương Thu Hương, Bùi Ngọc Tấn… có bị tổn thương không ? Chúng ta đều tổn thương, với các mức độ khác nhau nhưng đều tổn thương. Sao vẫn không hết nhu cầu tiếp tục làm tổn thương nhau ? Tuổi thơ tôi từng trải qua những đêm dài bên bếp lửa mùa đông, ba tôi đọc cho chúng tôi nghe những câu thơ về miền Nam, và ông khóc. Giảng viên và sinh viên miền Bắc tìm đọc các tác giả Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm, Hoàng Ngọc Biên, Nguyễn Mộng Giác, Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền…với tất cả sự yêu mến chân thành của họ. Nhiều sinh viên miền Bắc ngày nay hứng thú làm các bài tập nghiên cứu về các nhà văn nhà thơ đô thị miền Nam trước 75, những nhà văn nhà thơ mà sinh viên ở không ít trường đại học miền Nam cho đến thời điểm này vẫn không được tiếp cận trong phạm vi trường đại học. Vậy sao không tin là người miền Bắc thật lòng với miền Nam ? Sao có thể gộp tất cả những người sống ở miền Bắc vào cái danh từ « người miền Bắc » đầy định kiến? Hỏi thì hỏi vậy, nhưng tôi và nhiều người khác đều hiểu cái quá khứ đau thương mà người miền Nam phải trải qua sau khi chiến tranh chấm dứt. Điều quan trọng là một bộ phận nhỏ trong xã hội, ở cả hai miền, bộ phận lãnh đạo có khả năng và trách nhiệm thực hiện quá trình hóa giải cho nỗi đau của những người dân của hai miền, cái bộ phận ấy cho đến giờ vẫn chưa có những động thái cần thiết cho sự hòa giải. Tại sao những người lãnh đạo lại phải nhìn đồng bào của mình như những kẻ thù truyền kiếp ? Tại sao không thể nhìn nhận họ như là nạn nhân của thời cuộc, không hiểu rằng họ đã chẳng có lựa chọn nào khác ? (Mà suy cho cùng, có sai không khi nói rằng tất cả, bên này hay bên kia, đều là nạn nhân của thời cuộc ? ) Tại sao không thể đối xử với họ như là đồng bào, và như là con người ? Tại sao không thể làm như Nelson Madela ? Tại sao giờ đây vẫn cứ phải tiếp tục nhìn đồng bào mình như những kẻ thù, tại sao vẫn phải luôn tìm kiếm kẻ thù, tại sao cứ phải biến mọi người thành kẻ thù, kể cả khi chiến tranh đã kết thúc? Ngày nay khắp nơi đều xảy ra cảnh bất công. Nông dân trong Nam bị cướp đất, còn nông dân ngoài Bắc thì không ư ? Còn ai là không biết tới các vụ Tiên Lãng, Văn Giang, Nam Định ? Công dân trong Nam « thắt cổ tự tử » chết trong đồn công an, còn công dân ngoài Bắc bị công an đánh chết công khai. Giờ đây còn ai không biết tới bi kịch của gia đình chị Thanh Tuyền và chị Kim Tiến ? Và càng ngày càng nhiều người phải vào tù vì các hoạt động đấu tranh cho quyền con người, cả ở miền Nam cũng như miền Bắc. Bắc hay Nam có khác gì nhau ? Những người như tôi là người ở đâu ? Sinh ra lớn lên ở miền Trung, từng làm việc ở miền Bắc và giờ đây sống ở miền Nam, tôi chẳng là người của miền nào, hay là người của cả ba miền ? Điều mà tôi biết rõ : tôi là người Việt Nam. Liệu chúng ta có thể không chỉ nhìn mình như là người của một vùng nào đó, không chỉ nhìn mình như là người của một giới nào đó, để có thể vừa nhìn thấy mình vừa nhìn thấy cả người khác, để thấy rằng chúng ta giống nhau hơn là chúng ta tưởng ? Nếu một người như André Menras Hồ Cương Quyết có thể kiêu hãnh giơ tấm chứng minh thư lên để tự xác nhận mình là người Việt Nam thì chúng ta có nên cứ giữ mãi cái ranh giới bắc nam như một vết thương không bao giờ khép miệng ? Chúng ta có nhiều thứ chung hơn là chúng ta tưởng, cho dù chúng ta ở bên nào : bên bị đạp vào mặt hay bên đạp lên mặt người khác, bên phải vào tù vì can đảm dám nói lên sự thật hay bên phải bịa ra những bản án kết tội những người vô tội. Dù chúng ta là những dư luận viên hay là những người cầm bút để phản biện thì hàng ngày có thể chúng ta vẫn đi trên cùng những con đường dưới cùng những hàng cây, thở cùng một loại không khí, uống cùng một nguồn nước, ăn cùng những thực phẩm như nhau. Con cái chúng ta có thể chơi đùa trong cùng một công viên, có thể đến cùng một trường học, có thể sẽ được dạy dỗ bởi những người thầy cất tiếng nói phản biện vì mong muốn một tương lai tốt đẹp cho học sinh sinh viên của họ. Một vài người thầy trong số đó, như Đinh Đăng Định, đã chấp nhận chịu bất công, chịu bị trừng phạt với hy vọng rằng con cái của chúng ta, con cái của chính các dư luận viên có một xã hội công bằng hơn, nhân văn hơn, có những trường học tiến bộ hơn, chất lượng hơn và không phải đi nước khác để tị nạn giáo dục. Chúng ta đón cùng một cái tết, ăn cùng một loại bánh chưng. Chúng ta có cùng một quá khứ, có cùng một nguồn cội, có cùng những nỗi đau. Dù chúng ta là kẻ gây ra nỗi đau hay là kẻ chịu đựng nỗi đau thì đó cũng là nỗi đau chung của chúng ta. Và ngày nay chúng ta cùng đối diện với những vấn nạn chung của xã hội, với cái nguy cơ chung là an ninh quốc gia bị đe dọa. Dù có tạo ra khác biệt cỡ nào về quyền lực và vật chất, khi tước đoạt tự do của toàn xã hội thì thiểu số quyền lực và giàu có cũng không có tự do đích thực, tất cả đều cùng bị đẩy vào trạng huống của những kẻ nô lệ. Dù chúng ta có đứng về phía nào, phe nào, phái nào, dù chúng ta có mạt sát nhau, gây tổn thương cho nhau, trừng phạt nhau đến mức nào, thì khi mất nước chúng ta sẽ cùng là những kẻ nô lệ. Chúng ta giống nhau hơn là chúng ta tưởng. Sài Gòn, ngày 15/1/2013Nguyễn Thị Từ Huy http://www.diendan.org/viet-nam/chung-ta-giong-nhau-hon-la-chung-ta-tuong
......

Tết của dân oan tại vườn hoa Lý Tự Trọng

Tết Quí Tị năm nay dân oan từ các tỉnh kéo về Hà Nội khiếu kiện đã giảm bớt vì một số được công an đưa lên xe chở về nguyên quán, trong lúc vườn hoa Mai Xuân Thưởng bị phong tòa và vườn hoa Lý Tự Trọng thì chỉ còn mười mấy người ở lại vì không có nhà để về. Tết lạnh lẽo nơi công viên Vào những ngày trước Tết, công an phường Thụy Khuê, khu vực có nhiều dân oan tụ họp quanh năm để khiếu kiện nhà đất, được lệnh phong tỏa vườn hoa Mai Xuân Thưởng để dân oan không thể lui tới. Tiếp đó, công an đến ngay trụ sở tiếp dân ở Hà Nội, buộc một số dân oan tỉnh Dak Nông lên xe về nguyên quán phía Nam, trong lúc một số khác được người dân ở Dương Nội, Hà Đông, cho tá túc mấy ngày Tết: Sau hôm đó bà con đã được ở nhờ một gia đình người nông dân tốt ở Dương Nội. Đấy là hôm 26 Tết. Đó là lời bà Lê Hiền Đức, người thường sát cánh hỗ trợ dân oan trong những vụ khiếu kiện nhà đất bị trưng thu với tiền đền bù không thỏa đáng: Đến 27 Tết, một công an ở Hà Đông gọi điện: “Cụ ơi cụ bảo dân phải về Dak Nông lấy giấy giới thiệu của địa phương mới được đăng ký tạm trú. Hai sáu hai bảy Tết rồi, bảo người ta về địa phương để lấy giấy giới thiệu thì thà rằng sang 26 người ta lên ô tô người ta về cho nó xong. Sau đó tôi lại báo cáo lên cấp trên và cuối cùng thì bà con báo với tôi là được tạm cho ở mấy ngày. Đấy là nhóm người Dak Nông trụ lại ở Dương Nội.Còn một số khoảng độ mười chín người dân oan Hải Phòng và một số các tỉnh khác nữa, đêm giao thừa không có chỗ nào nương tựa cả thì vẫn nằm trong lều ở vườn hoa Lý Tự Trọng. Tám giờ tối đêm 30 Tết công an phường Thụy Khuê lại ra đấy. Được biết bà con bị cướp một số quà Tết, bánh chưng rồi mứt rồi thì phong bì tiền rồi điện thoại rồi mì tôm vân vân… Đó là những thứ quà mà dân oan được người Hà Nội và một vài tổ chức hảo tâm ghé cho, trong đó phải kể đến những người tốt bụng ở Văn Giang và Dương Nội. Cảnh màn trời chiếu đất của người dân oan đêm 30 Tết. Blog Nguyentuongthuy Không phải đợi đến tối 29 chạy 30 Tết mà trước đó mấy ngày, từ 27 Tết, công an đã đến vườn hoa Lý Tự Trọng, phát cho những người ở lại mỗi người hai trăm ngàn đồng và thuyết phục họ giải tán. Bà Cúc, dân oan Thanh Hóa từ năm 2005 tới giờ, cho biết: Đêm 30 Tết họ đánh xe ra họ cho công nhân dọn vệ sinh, họ không đuổi nhưng mà cho nằm ở vỉa hè vườn hoa đến mai sớm là phải ra ngoài. Mùng Một Tết đi đến các cơ quan, còn mùng Hai thì tôi đang ngồi ở vỉa hè của vườn hoa Lý Tự Trọng. Bữa nay còn mười chín người, cũng sợ lắm, sợ họ đuổi thành đứng ngồi cũng không yên. Nhà tôi họ phá đi một nửa còn một nửa sắp rồi không còn nơi ở. Ở đây dân thương mình thì người ta cho chứ còn nhà nước thì chẳng ông cán bộ nào ra cả, chỉ có cho hai trăm mà phải ký vào bản cam kết là không được ở vườn hoa, không được đi đến nhà các ông để chúc Tết. Chúng tôi không ký vào bản cam kết mà cũng không lấy hai trăm ngàn. Bữa 30 Tết thì cái chú công an ấy ra mừng tuổi cho tôi một chục ngàn. Còn đến mùng Một là có chú đó ra mừng cho năm chục ngàn, những người khác được người chục ngàn người được hai chục. Có sao thì tôi nói vậy, nhưng mà không ăn ở được yên ổn, cứ ra ngoài trời ở chứ không được sự quan tâm của nhà nước cái gì cả. Photo by Blog Nguyentuongthuy Cũng có mặt ở vườn hoa Lý Tự Trọng cho đến sáng mùng Hai này là sư cô Đàm Bình, đi khiếu kiện hơn năm năm nay: Ngày 27 thì họ ra họ hốt đồ, ngày 28 coi như công an đến giải thích là nhân hỗ trợ hai trăm để vào nhà trọ. Tôi thì chính quyền chiếm hết chùa chiền rồi, không còn chỗ ở, tôi bảo tôi không có tài sản gì tôi cứ ở vườn hoa chứ không đi đâu cả. Thế thì bà con cũng đi sơ tán khỏi nơi ấy, đến 1 giờ  sáng bắt đầu trở về vườn hoa. Đến đêm 30 thì công an lại đến hốt đồ lúc 11 giờ đêm, bao nhiêu đồ đạt chăn màn của bà con không mang theo được thì lại dấu vào thùng rác ở công viên. Họ ra  họ dọn rác  thì họ lấy hết cả chăn màn ở cái thùng rác. Bây giờ bà con không có chiếu,người còn mảnh chăn đắp người thì không có. Người nào không nhận hai trăm đi nhà trọ là họ không cho một cái gì hết. Không được đi thăm các lãnh đạo nhà nước Vẫn theo sư cô Đàm Bình, niềm an ủi trong đêm Tết lạnh lẽo nơi công viên là năm nay có nhiều đoàn thể đi phát quà cho dân oan hơn những năm trước. Rất là đông các đoàn phát quà rồi bánh kẹo là hơn mọi năm chứ mọi năm thì không ai dám cho dân oan, họ bảo dân oan là không ai được liên quan không ai được cho. Nếu mà ai không nhận tiền hai trăm để đi vào nhà trọ hoặc về quê ăn Tết thì phải cam kết không được ở vườn hoa, không được đến nhà riêng của các cán bộ cấp cao để gây rối trật tự công cộng. Cụ Ngọc, dân oan đón giao thừa ở vườn hoa Lý Tự Trọng. Blog danoan Về vấn đề nhận hai trăm ngàn của công an đưa để vào nhà trọ hoặc đi nơi khác, một dân oan khác trong số mười chín người ở lại vườn hoa Lý Tự Trọng, bà Hải, quê ở Ninh Bình, giải thích cặn kẻ hơn: Nội dung của giấy mà công an thành phố Hà Nội đưa cho chúng tôi là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc, Giấy Cam Kết … Họ Tên…Địa Chỉ, họ photo sẵn là “Tôi được Đảng và Nhà Nước quan tâm giúp đỡ để về quê ăn Tết số tiền hai trăm nghìn, và tôi xin cam kết trong dịp Tết này không có mặt ở vườn hoa, không ra vườn hoa và không đến nhà các cơ quan và lãnh đạo nhà nước. Ký tên” Tuy nhiên, theo lời bà Cúc ở Thanh Hóa, bà Hải ở Ninh Bình cũng như sư cô Đàm Bình, vì không nhận  hai trăm ngàn và không ký vào giấy cam kết, nên sang mùng Một tất cả mười chín dân oan đã từ vườn hoa Lý Tự Trọng kéo đi chúc Tết lãnh đạo: Bà con chúng tôi có đi đến nhà ông Nguyễn Phú Trọng, đến nhà ông Nguyễn Sinh Hùng, sau đó chúng tôi đến số 72 Cơ Quan Liên Hiệp Quốc ở tại Việt Nam chúng tôi ghi tên, sau đó về đến chỗ thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và ông Trương Tấn Sang là chủ tịch nước. Khác với mọi năm, mọi người cho biết tiếp, năm nay dân oan đi chúc Tết lãnh đạo đã không bị công an đuổi và đều được ghi tên. Chỉ riêng tại tư dinh thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và chủ tịch nước Trương Tấn Sang là dân oan không được ghi tên mà thôi.   Nguồn: RFA
......

Hiến pháp, những “trò khỉ” và chuyện góp ý hay không

Năm 2013 khởi đầu bằng một sự kiện mà tới bây giờ vẫn còn rất “nóng”, đó là chuyện Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 của Đảng, công bố “Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992” để công chúng góp ý. Xét về tính chất thì đây là một “sinh hoạt chính trị” do Đảng đề xướng và thực tế cho thấy là đến giờ, Đảng đã đạt được một số “thành quả nhất định” từ đợt “sinh hoạt chính trị” này. Nhiều blogger, facebooker đã nêu ý kiến, thảo luận về các góp ý cho “Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992”. Trong đó, đáng chú ý nhất là “Kiến nghị về Sửa đổi Hiến pháp” do 72 nhân sĩ, trí thức khởi xướng (ở đây, mình xin tạm gọi là “Kiến nghị 72”). Ngoài 7 đề nghị cụ thể, 72 vị nhân sĩ, trí thức khởi xuớng “Kiến nghị 72” còn giới thiệu một bản Hiến pháp do họ tự soạn thảo với 9 chương và 81 điều (1). Tính đến ngày 5 tháng 2, sau 12 đợt thu thập chữ ký, “Kiến nghị 72” có hơn 2.500 công dân thuộc đủ các vùng, miền, thành phần xã hội, tôn giáo, tuyên bố ủng hộ. Tuy nhóm khởi xướng “Kiến nghị 72” vẫn còn tổ chức thu thập chữ ký ủng hộ “Kiến nghị 72” nhưng hôm 4 tháng 2 vừa qua, họ đã cử 15 vị đại diện đến Văn phòng Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp, để trao “Kiến nghị 72”. Nói cách khác, nhóm khởi xướng “Kiến nghị 72” và những công dân tuyên bố ủng hộ kiến nghị này đã làm xong công việc của họ, theo đúng đề nghị của Đảng. Phải chờ “hồi sau mới rõ” Đảng sẽ thực thi trách nhiệm của phía “xin góp ý” với bên đã tích cực “cho ý kiến” như thế nào. Dù chưa biết Đảng sẽ tiếp nhận “Kiến nghị 72” và ứng xử với cả “Kiến nghị 72” lẫn những người tuyên bố ủng hộ kiến nghị ra sao, song mình vẫn thấy việc soạn thảo, tuyên bố ủng hộ, gửi “Kiến nghị 72” cho Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp là điều hết sức cần thiết. 1. Trong 68 năm ở vị trí tổ chức chính trị nắm giữ quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội tại Việt Nam (1945-2013), Đảng đã “chế tạo thành công và đưa vào sử dụng” năm bản Hiến pháp (1946, 1959, 1980, 1992, 2001 – bản sửa đổi bản 1992 và đây mới thật sự là bản Hiến pháp hiện hành). Nếu mình không lầm thì cả trong lịch sử nhân loại, lẫn pháp chế sử của loài người, Đảng CSVN là tổ chức chính trị duy nhất lập – giữ kỷ lục về “chế tạo và sử dụng Hiến pháp”. Dưới “sự lãnh đạo tài tình và sáng suốt” của Đảng, “Hiến pháp” trở thành một thứ áo khoác, thường xuyên được cắt – may “cho phù hợp với tình hình và nhiệm vụ trong giai đoạn mới”, “bảo đảm vai trò lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng” tại Việt Nam. Khi “Hiến pháp” không còn nguyên nghĩa và được “chế tạo, sử dụng” như một thứ áo khoác, có lẽ không ngoa nếu gọi đó là “trò khỉ”. Riêng với Hiến pháp, Đảng đã có năm lần chơi… “trò khỉ” và hình như Đảng toan giở “trò khỉ” thêm một lần nữa. Sở dĩ mình nói như thế vì lần này, kế hoạch “sửa đổi Hiến pháp” cũng có đầy đủ các dấu hiệu của một thứ “trò khỉ”. Nếu không có thời gian đọc, phân tích nhưng muốn biết “trò” này “khỉ” đến mức nào, các bạn ít theo dõi thời sự có thể tìm xem “Teo dần quyền con người trong Hiến pháp” của bác Hoàng Xuân Phú (2). Dẫu thấy và đã chỉ ra rất rõ, rất thuyết phục về “tính khỉ” trong trò khỉ mang tên “sửa đổi Hiến pháp 1992” nhưng bác Phú vẫn tham gia nhóm soạn thảo, gửi “Kiến nghị 72”. Vì sao? Phải chăng cả bác Phú lẫn 71 vị còn lại trong nhóm soạn thảo, gửi “Kiến nghị 72” và hơn 2.500 công dân đã chính thức tuyên bố ủng hộ kiến nghị này đều ngây thơ và làm chuyện hết sức vô ích như bạn Kami nhận định trong bài “Vì sao tôi không góp ý và ký kiến nghị sửa đổi Hiến pháp?” (3)? Suy nghĩ mà bạn Kami trình bày qua “Vì sao tôi không góp ý và ký kiến nghị sửa đổi Hiến pháp?” khá phổ biến nhưng theo mình, lối suy nghĩ và cách hành xử đó không đúng trong bối cảnh như hiện nay. Tên tuổi, lai lịch của từng vị trong danh sách 72 vị khởi xướng “Kiến nghị 72” cho thấy, có ráng cũng không thể xếp bất kỳ ai vào diện “ngây thơ”. Tất cả đều thuộc nhóm “dư hiểu biết và thừa kinh nghiệm” cả về Đảng lẫn hiện tình chính trị Việt Nam. Mình không tin có vị nào trong số 72 vị này tin chắc, rằng Đảng sẽ tiếp nhận “Kiến nghị 72” một cách vui vẻ, trọng thị và xem xét kiến nghị đó một cách nghiêm túc. Vậy thì tại sao họ vẫn soạn – giới thiệu – kêu gọi ủng hộ – gửi? Mình không dám võ đoán nhưng nếu mình là Đảng thì rõ ràng “Kiến nghị 72” là thứ rất khó nuốt nhưng không nuốt thì cũng giống như tự khắc họa cho “tính khỉ” của “trò khỉ”, được đặt tên là “sửa đổi Hiến pháp 1992” rõ nét hơn và thiên hạ thêm chán ghét hơn.. “Kiến nghị 72” cũng có thể sẽ tiếp tục vào sọt rác như nhiều kiến nghị khác nhưng với mình, tất cả các kiến nghị đã bị Đảng xem như rác đều có giá trị. Nó là hình thức nhắc nhở Đảng một cách công khai và rất đường hoàng rằng, càng ngày, càng nhiều nhân sĩ, trí thức, công chúng thuộc đủ mọi vùng, miền, thành phần xã hội, tôn giáo, kể cả cán bộ, Đảng viên của Đảng, không đồng tình với những việc Đảng làm. Rằng các hình thức trấn áp không còn hiệu quả nữa. Rằng tất cả các trò bịp bợm sẽ bị vô hiệu hóa, sẽ trở thành phản tác dụng và tất nhiên, “mỡ nó” sẽ được dùng để “rán nó”… Thành ra, nếu bạn cũng muốn nhắc nhở Đảng một cách công khai và rất đường hoàng như vậy, hãy tuyên bố ủng hộ “Kiến nghị 72” bằng chữ ký của bạn. 2. Sẵn dịp Đảng mời gọi góp ý “sửa đổi Hiến pháp 1992”, mình muốn thưa riêng với các bác lãnh đạo Đảng đôi lời. Thưa các bác, trong chính trị, niềm tin là một loại “vốn đặc biệt”. Do ngu dốt, chủ quan, lại còn tham và ác, các bác đã tiêu sạch khoản “vốn đặc biệt” này. Lẽ ra nên ngừng “chơi”, các bác vẫn muốn “gỡ gạc” bằng cách bày thêm một ván bài nữa. Trong ván bài “củng cố và giữ quyền lực”, các bác không chỉ đã “cháy túi” mà thiên hạ còn tỏ tường việc các bác chuyên đánh “bạc bịp”. Trò “sửa đổi Hiến pháp 1992” do các bác bày ra giống như chuyện “lột nốt” và “đặt cược” bằng “cái quần đùi”. Nó vừa thảm hại, vừa nhiều rủi ro. Ở tình thế như hiện nay, các bác nên làm cho thiên hạ thương, đừng tiếp tục hành xử theo kiểu vừa gian, vừa láo. Các bác cũng nên thôi hoang tưởng về khả năng “Muôn năm trường trị. Nhất thống giang hồ” như Nhậm Ngã Hành trong “Tiếu ngạo giang hồ” của Kim Dung. Hãy xem “Kiến nghị 72” là một cơ hội. Bỏ qua cơ hội cuối cùng này, các bác sẽ mất luôn cái “quần đùi”, hoàn toàn trần truồng, ở không được mà về cũng chẳng còn lối. Đ.P.V. 08-02-2013 ——- Chú thích (1) Kiến nghị về Sửa đổi Hiến pháp 1992 (2) Teo dần quyền con người trong Hiến pháp (3) Vì sao tôi không góp ý và ký kiến nghị sửa đổi Hiến pháp? Nguồn: Đồng Phụng Việt  
......

Đến lượt thủ tướng phản công

Đến nay thì phần lớn công luận đều thừa nhận hội nghị trung ương 6 là một thất bại thảm hại của phe Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang. Tuy nhiên, sở dĩ có nhận định đó là vì mức chờ đợi của xã hội đã lên quá cao cùng với các tuyên bố đầy hứa hẹn trước hội nghị, chứ khó có thể xem hội nghị 6 là thắng lợi của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Tuy kết quả sau cùng là xé được bản quyết định kỷ luật của Bộ Chính Trị nhưng uy tín và sĩ diện của ông Nguyễn Tấn Dũng cũng bị sứt mẻ đáng kể, từ việc trở thành trò cười "đồng chí X" đối với cả nước đến việc bị coi là không xứng đáng nắm ghế trưởng ban chỉ đạo chống tham nhũng nữa, v.v. Chính vì vậy mà nhiều người chờ đợi ông Nguyễn Tấn Dũng, với quyền lực tài chính và công cụ công an còn nguyên trong tay, sẽ lập tức phục hận. Nhưng quả đúng với bản chất nhiều mưu trí của ông Dũng – mà tùy góc nhìn, có người xem là "bản lãnh", có người gọi là "hiểm độc" – ông đã tạm án binh bất động để ổn cố lại hàng ngũ dưới trướng. Ông chỉ đi đó đây thăm các đơn vị công an, sinh viên để hô hào phải có “liêm sỉ”. Trong khi đó, phe 2 ông Sang - Trọng liên tục ra tay: Từ việc chính thức chỉ định ông Nguyễn Bá Thanh, bí thư Đà Nẵng, ra Hà Nội làm Trưởng ban Nội chính Trung ương vừa tái lập; đến rình rang công bố các thành viên thuộc 3 ban của đảng gồm Ban Nội Chính, Ban Kinh Tế, Ban Chống Tham Nhũng; đến tường thuật rôm rả buổi họp Ban Chống Tham Nhũng đầu tiên do ông Nguyễn Phú Trọng chủ tọa. Hiển nhiên, với quá nhiều các ban tương tự trong quá khứ, đặc biệt là những gì vừa xảy ra ở Hội nghị 6, công luận vừa dè dặt vừa hy vọng về 3 ban lần này. Nhưng đến khi nghe ông Nguyễn Phú Trọng cất tiếng: "Tay nhúng chàm không thể chống tham nhũng" thì giới đại gia và tập thể các quan chức cấp cao đều thở phào nhẹ nhõm. Câu nói này không khác gì câu "kỷ luật sẽ tạo thù hận" của cùng tác giả vào tháng trước. Vì giới nắm tiền và nắm quyền ở thượng tầng hiện nay đều biết rõ TẤT CẢ các thành viên thuộc cả 3 ban, kể cả 3 trưởng ban, đều dính chàm không chỉ trên tay mà còn khắp người nữa. Riêng ông Dũng thì không chỉ biết mà còn có luôn con số "chàm" ai đã nhận từ ông bao nhiêu và có luôn hồ sơ "chàm" từ công an – an ninh về các vụ tham ô của thành viên khác. Tóm tắt lại, ông Dũng biết tất cả các thành viên 3 ban đều đang đeo găng tay đi họp mà thôi và vì vậy cái ban của ông Trọng chỉ là đòn hù. Có lẽ chỉ có 1 người mà ông Nguyễn Tấn Dũng quan ngại là ông Nguyễn Bá Thanh. Một phần lý do, vì ông Thanh nổi tiếng về bản tính đánh thí mạng — nghĩa là nhắm mắt ra đòn cực độc và bất chấp đối phương sẽ phản công và làm thiệt hại mình thế nào. Vụ giao tranh với tướng công an Trần Văn Thanh từ 2007 đến 2009 là một thí dụ điển hình. Và phần lý do còn lại là lời hứa đã lọt ra tới công luận, đó là lời hứa từ Bộ Chính Trị sẽ giao cái ghế thủ tướng của ông Dũng cho ông Thanh. Với bản tính và lời hứa nặng ký đó, người ta không ngạc nhiên khi từ Đà Nẵng, Bí thư thành ủy Nguyễn Bá Thanh trong những ngày chưa chính thức nhậm chức trưởng Ban Nội Chính, đã hăng hái nổ nhiều phát súng nhắm về hướng của phe nhóm thủ tướng. Hàng ngũ cán bộ và cả một vài tờ báo nhanh chóng truyền tai nhau các câu hăm dọa của ông Thanh: "Sắp tới tôi sẽ rà vô một số cái, cho hốt liền, không nói nhiều", hay "Một số ông giờ đang ngồi run", hay "Bắt liền chứ không cần phải đợi có bằng chứng chung chi gì hết." …. Tóm tắt lại, ông Thanh đã tuyên chiến lập tức: ông sẽ tỉa dần hàng ngũ quanh ông Dũng trước khi tiến vào tâm điểm chính là cá nhân thủ tướng. Rõ ràng ông Thanh dám làm điều mà ông Sang, ông Trọng rụt rè trong những tháng qua vì sợ đối phương vạch luôn bàn tay "chàm" của gia đình 2 ông. Và đó là lý do mà ông Nguyễn Tấn Dũng phải lấy quyết định chuyển sang thế phản công. Đòn phản công của ông Dũng bao gồm cả hai mặt: thủ và công. Thứ nhất về mặt thủ, ông Dũng cố hạ tối đa uy tín của Trưởng Ban Nội Chính trước khi ban này khởi động làm việc. Đó là việc xuất hiện ngày 17/1/2013 hồ sơ thanh tra và kết luận của Thanh tra Chính phủ trên báo chí, dù hồ sơ này mới đóng dấu “mật” chỉ mấy ngày trước đó. Kết luận này nói rằng thành phố Đà Nẵng mà ông Thanh vẫn đang nắm ghế bí thư thành ủy đã "gây thất thu ngân sách" hơn 3,400 tỷ đồng do định giá đất đai không chính xác hay giảm giá đất không theo quy định của nhà nước. Ngay sau đó Bộ Công an được Thủ tướng Dũng nhanh chóng và công khai giao nhiệm vụ nhập cuộc điều tra, "làm rõ dấu hiệu cố ý làm trái". Nghĩa là hăm dọa sẽ truy tố hình sự một khi "tìm thấy chứng cứ". Hai ngày sau, 19/1/2013, Chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Đà Nẵng, ông Văn Hữu Chiến lập tức kêu oan về cả kết luận điều tra lẫn cách thức điều tra, bằng một văn bản dài và hàng loạt phỏng vấn với báo chí. Ông Chiến phản đối kết luận của Thanh tra Chính phủ vì "không có cơ sở"; phản đối việc "Thanh tra không chịu nghe giải trình của Thành phố"; phản đối việc "Thanh tra đưa kết luận này ra thông báo trên báo chí". Ngày 29/1/2013, văn phòng thủ tướng, qua miệng của ông Vũ Đức Đam, một lần nữa công bố giữ nguyên kết luận về sai phạm của lãnh đạo Đà Nẵng và tiếp tục tiến hành lệnh của thủ tướng cho công an điều tra để truy tố. Ông Đam còn nói: "Thủ tướng chưa nhận được ý kiến phản ánh nào… của thành phố Đà Nẵng". Cho đến nay, hầu như tất cả công luận đều xem đây là một đòn công khai của ông Nguyễn Tấn Dũng đánh vào uy tín của ông Nguyễn Bá Thanh, đặc biệt nếu so với cách hành xử đầy tính châm chước của ông Dũng đối với chính quyền Thành phố Hải Phòng ngay sau vụ tai tiếng lớn ở Tiên Lãng. Có xác suất cao trong những ngày tới, trưởng Ban Nội Chính Trung Ương sẽ phải dành một phần thời giờ để trả lời các đoàn điều tra từ bộ công an và thậm chí có thể phải ra trước tòa để trả lời về các "sai phạm" trong quá khứ tại Đà Nẵng. Và dĩ nhiên các buổi này nhiều phần sẽ được công bố thoải mái trên báo chí. Và dĩ nhiên, mọi đòn đánh nhắm vào ông Nguyễn Bá Thanh đều là lời cảnh cáo dằn mặt cho từng thành viên của cả 3 ban Nội Chính, Kinh Tế, và Chống Tham Nhũng của Bộ Chính Trị. Thứ nhì trong thế công, ngày 21/1/13, tức là chỉ 3 ngày sau khi tung ra “hồ sơ mật” nêu trên, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Phòng Chống Tội Phạm (Ban Chống Tội Phạm) trực thuộc Văn phòng Thủ tướng. Ban chỉ đạo này do cánh tay mặt của thủ tướng là Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đứng đầu và Bộ trưởng Công an, tướng Trần Đại Quang, giữ vai trò Phó ban thường trực. Thoạt nhìn trên lý thuyết, người ta thấy có sự tách bạch khá rõ giữa Ban Nội Chính của Trung ương Đảng và Ban Chống Tội Phạm của chính phủ. Trên giấy tờ, Ban Nội chính có nhiệm vụ tham mưu, đề xuất với Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng cho chủ trương; định hướng xử lý một số vụ việc, vụ án; thực hiện nhiệm vụ cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng. Tức là những nhiệm vụ mang tính đối phó với nội bộ đảng. Trong khi đó, cũng trên giấy tờ, nhiệm vụ của Ban Chống Tội Phạm là "phối hợp các cơ quan chức năng, các lực lượng để đấu tranh với các băng nhóm tội phạm nguy hiểm”, nghĩa là nhắm vào việc đối phó với xã hội bên ngoài. Tuy nhiên, chỉ nhìn sâu hơn một chút, người ta đã có thể thấy rõ ngay mưu trí của ông Dũng khi tạo lập Ban Chống Tội Phạm như một vũ khí tấn công mới. Trước hết, Ban Chống Tội Phạm không bị giới hạn vào một lãnh vực phạm pháp nào. Cụ thể nó được cho phép “hoạt động trên nhiều địa bàn, các vụ án nghiêm trọng, phức tạp về an ninh, kinh tế, trật tự an toàn xã hội nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội”. Đây là những thuật ngữ khá quen thuộc để cho phép loại quyền hạn không biên giới. Thế nào là "nghiêm trọng, phức tạp" hoàn toàn do văn phòng thủ tướng hay chính ban này định đoạt. Và tất cả mọi loại "sai trái" dù trong bất kỳ lãnh vực nào đều có thể qui về phạm trù mơ hồ của "an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội". Nói cách khác, Bộ Chính Trị vừa tước ghế trưởng Ban Chống Tham Nhũng khỏi tay thủ tướng, ông Dũng cho lập ngay một Ban mới với quyền hạn còn rộng hơn nữa và hoàn toàn nằm dưới quyền kiểm soát của thủ tướng. Kế đến Ban Chống Tội Phạm cũng không bị hạn chế trong phạm vi đối tượng. Nó không bị dừng lại ở cấp bộ nào, dù là địa phương hay trung ương, một khi đã tự kết luận đó là một vụ "nghiêm trọng, phức tạp". Và khi nhân danh đối phó với những kẻ phạm pháp, ban này không cần phân biệt đó là đảng viên hay dân thường. Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay ở Việt Nam, chỉ những người có quyền chức mới có cơ hội và phương tiện để phạm pháp nghiêm trọng, và đặc biệt, mới có khả năng lập "băng nhóm tội phạm". Và tuyệt đại đa số những người đang nắm chức quyền đều là đảng viên trung và cao cấp. Do đó, đối tượng chính của Ban Chống Tội Phạm là thành phần đảng viên có máu mặt, y như 3 ban của Bộ Chính Trị. Về mặt bắp thịt, Ban Chống Tội Phạm của ông Dũng không kém gì Ban Chống Tham Nhũng của ông Trọng. Ban Chống Tội Phạm không những do phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, cánh tay mặt của ông Dũng, cầm đầu mà còn đặt Bộ trưởng Bộ Công An Trần Đại Quang ở vị trí phó ban. Đây là yếu tố hệ trọng vì Công An là nơi đảm trách hầu hết công việc điều tra để các Ban dựa vào kết quả điều tra đó mà ra đối sách. Kinh nghiệm cho thấy, trong các vụ án chính trị cũng như kinh tế, những hồ sơ của cơ quan điều tra Bộ Công an có thể thay đổi, thêm bớt hoặc ngay cả dựng đứng, bịa đặt cho phù hợp với từng đối tượng, từng “chuyên án” đã được chỉ đạo. Với cách sắp xếp này trong Ban Chống Tội Phạm, ông Nguyễn Tấn Dũng có thể thực hiện được hai điều: (1) Có thể ngăn chận hoặc ra lệnh sửa đổi bất kỳ bản điều tra nào của công an nếu xét thấy không có lợi cho phe nhóm ông; hoặc tùy tiện tung ra công luận các bản điều tra có nhiều thiệt hại cho các đối thủ. (2) Có thể ra lệnh cho công an tấn công các đối thủ dưới dạng mở hồ sơ điều tra, khám xét nhà cửa, kiểm tra tài sản, tạm giữ, tạm giam,… Tướng CA Nguyễn Văn Hưởng Và một vũ khí trong bóng tối khác của ông Dũng cũng góp phần khiến bắp thịt của Ban Chống Tội Phạm đáng sợ hơn tất cả mọi ban khác. Đó là hệ thống riêng của cựu thượng tướng công an Nguyễn Văn Hưởng, người được xem là một hung thần theo truyền thống của trùm mật vụ Beria dưới thời Stalin trên đất Liên Xô. Công luận Việt Nam, báo chí lề trái vẫn tiếp tục ngờ vực bàn tay ông Hưởng trong những vụ đột tử, như cái chết mờ ám của ông Đào Duy Tùng năm 1994 khi đang là thường trực Bộ Chính Trị; cái chết vì ngộ độc của thứ trưởng bộ Công An Nguyễn Văn Rốp (Tư Rốp) năm 2001; cái chết bất ngờ của cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt ở Singapore; kể cả vụ ám sát hụt ông Ba Kiên Tham mưu trưởng Quân Khu 7 ở Campuchia,…. Tin tức về bàn tay trong bóng tối này đã trở nên thông thường trong dân chúng đến độ khi nghệ sĩ Kim Chi từ chối đề nghị ban khen của ông Dũng, bà nghĩ ngay đến xác suất một cái chết sắp được dàn dựng cho bà. Với vũ khí Ban Chống Tội Phạm mang thẩm quyền vô giới hạn và có cả phương tiện công khai lẫn bí mật như vậy, ông Dũng thừa sức vô hiệu hóa cả 3 ban của Bộ Chính Trị. Điều này có thể thấy ngay qua một vài phóng chiếu cụ thể. Chẳng hạn như khi Ban Nội Chính sắp sửa truy tố một nhân vật nào đó thuộc phe ông Nguyễn Tấn Dũng theo lời khai của một số nhân chứng, thì các nhân chứng trong vụ án đột nhiên mất tích hay qua đời trong thầm lặng. Ở mức thấp nhất, các nhân chứng này bỗng nhiên bị công an bắt giam khẩn cấp vì những tội danh khác và bị điều tra về nhiều loại tội khiến các lời khai của họ với Ban Nội Chính không còn đáng tin và không đáng làm cơ sở buộc tội nữa. Đây là việc làm quá dễ trong chức năng phó Ban Chống Tội Phạm kiêm Bộ trưởng Công An của tướng Trần Đại Quang. Ở mức chủ động tấn công hơn nữa, khi Ban Nội Chính sắp điều tra một vụ việc gì không có lợi cho phe ông Nguyễn Tấn Dũng, Ban Chống Tội Phạm còn có thể lập tức dùng một sai phạm nào đó ở hiện tại hay trong quá khứ, để mở màn "điều tra người điều tra" và tung ngay tin tức này ra báo chí. Và dĩ nhiên Ban Chống Tội Phạm cũng sẽ rất hiệu quả trong việc tấn công ngược vào hàng ngũ của ông Trương Tấn Sang, Nguyễn Phú Trọng để đánh trả mỗi khi Ban Nội Chính làm thiệt hại hàng ngũ dưới trướng ông Dũng. Diễn trình ăn miếng trả miếng này đã và đang liên tục xảy ra kể từ sau vụ đổ bể hệ thống ngân hàng. Thí dụ điển hình là các tấn công nhắm vào chị em bà Đặng Thị Hoàng Yến và ông Đặng Thành Tâm, những người được xem là thành viên trong hệ thống làm ăn của ông Trương Tấn Sang. *** Các đòn phép, và từ đó danh sách các "nạn nhân", sẽ gia tăng nhanh trong cuộc chiến giữa Ban Chống Tội Phạm và 3 ban của Bộ Chính Trị trong những tháng trước mặt. Nhưng giữa lúc các ban giương cờ xí lên chuẩn bị đánh nhau lớn, chẳng ai thấy có ban nào nhắc tới vụ tham nhũng lớn nhất trong lịch sử đất nước, đó là số tiền hàng trăm tỉ mỹ kim đã thất thoát qua các tập đoàn kinh tế và tổng công ty. Núi tiền khổng lồ đó không thể tan biến mà không để lại dấu tích gì. Phải chăng chẳng ban nào dám nói tới vì số "chàm" đó đã được chia và gởi lên quá nhiều cửa ở thượng tầng? Nếu viết lại các phân tích của mình vào thời điểm giành giật "chống tội phạm - chống tham nhũng" hiện nay, hy vọng ông Nguyễn Văn An sẽ bổ túc vào cái tên mà ông đã khéo đặt cho cốt lõi của các tệ nạn và tình trạng không thể tự chữa của Đảng CSVN. Đã đến lúc gọi đó là các LỖI HỆ THỐNG CHÀM cho rõ nghĩa hơn chăng?
......

Dân biểu Mỹ đề cử LM Lý và HT Quảng Ðộ Nobel Hòa Bình 2013

Linh Mục Nguyễn Văn Lý và Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ vừa được hai dân biểu liên bang Hoa Kỳ đề cử giải Nobel Hòa Bình 2013 vì họ đã tận tụy cả đời đấu tranh bất bạo động cho quyền làm người tại Việt Nam. Dân biểu đảng Dân Chủ ở California, bà Zoe Lofgren và dân biểu đảng Cộng Hòa đơn vị New Jersey, Chris Smith, đã ca ngợi LM Nguyễn Văn Lý, 66 tuổi, là người đấu tranh nhân quyền tại Việt Nam không ngừng nghỉ và bất chấp bạo lực hay tù tội từ năm 1975. Năm 2006, Linh Mục Lý là một trong những người thành lập Khối 8406, một tổ chức quần chúng gồm đủ mọi thành phần xã hội, thúc hối nhà cầm quyền CSVN trả lại cho người dân các quyền tự do tuy có trong Hiến Pháp nhưng lại không có trong thực tế. Trước sự phát triển nhanh chóng của Khối 8406, cuối tháng 3, 2007, ông bị CSVN kết án tù 8 năm trong phiên tòa ở Huế không có luật sư và thân nhân cũng bị cấm chứng kiến. Tấm hình Linh Mục Nguyễn Văn Lý bị công an bịt miệng được phổ biến khắp thế giới là bằng chứng hùng hồn cho các quyền con người bị tước đoạt tại Việt Nam. Ðầu năm 2010, nhờ sự áp lực của Hoa Kỳ và các nước phương Tây, Linh Mục Lý được nhà cầm quyền Việt Nam tạm trả tự do vì bị tai biến mạch máu nhiều lần trong tù. Nhưng đến tháng 7, 2011, thì ông bị giam trở lại vì ngài tiếp tục chống gậy đấu tranh khi bị giam lỏng ở Nhà Hưu Dưỡng thuộc Tổng Giáo Phận Huế. Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ, 84 tuổi, nay là viện trưởng Viện Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất cũng đã từng bị chế độ Hà Nội lưu đày suốt 10 năm và bỏ tù 5 năm vì đi cứu trợ nạn nhân bão lụt hồi năm 1995. Ngài từng viết nhiều lá thư kêu gọi CSVN bãi bỏ điều 4 Hiến Pháp vốn giành độc quyền cai trị cho đảng CSVN. Ðây là cái cốt lõi hiện đang biến đảng CSVN trở thành một tổ chức cầm quyền độc tài, tàn ác với dân và cực kỳ tham nhũng vì đảng viên bao che cho nhau. Suốt nhiều năm qua, HT Quảng Ðộ bị giam lỏng ở Thanh Minh Thiền Viện, Phú Nhuận-Sài Gòn. Khách dù là người ngoại quốc đến thăm ngài cũng bị ngăn chận và hành hung. Các ngôi chùa trực thuộc Giáo Hội Việt Nam Thống Nhất tại các địa phương cũng đều bị phong tỏa và cô lập. Những năm gần đây chính khách Mỹ, Âu Châu đã từng nhiều lần đề cử HT Thích Quảng Ðộ và LM Nguyễn Văn Lý giải thưởng Nobel Hòa Bình. Khi hay tin hai vị lãnh tụ tôn giáo Việt Nam được đề cử năm nay, tổ chức Freedom Now ở thủ đô Hoa Thịnh Ðốn đã lên tiếng nhiệt liệt ca ngợi. “Cả hai ngài đã hy sinh cá nhân mình, cống hiến suốt đời đấu tranh ôn hòa để cải cách chính trị và tôn trọng quyền tự do căn bản của người dân ở Việt Nam.” Giám đốc tổ chức Freedom Now là Maran Turner phát biểu. “Chúng tôi tin sự đề cử này là một bước quan trọng công nhận các hoạt động hợp đạo lý của họ. Thay vì trừng phạt thì phải tuyên xưng nên chúng tôi yêu cầu nhà cầm quyền CSVN phải trả tự do tức khắc cho họ. LM Nguyễn Văn Lý đang bị biệt giam ở nhà tù Nam Hà mà lâu nay không ai biết tình trạng sức khỏe của ông ra sao. Năm 2001, ngày đã cùng với giáo dân giáo xứ An Truyền, cách thành phố Huế khoảng 7 km, căng biểu ngữ ở trước nhà thờ: “Tự do tôn giáo hay là chết.” Ông đã ra nhiều bản tuyên ngôn tố cáo chính sách bạo ngược, phi nhân của nhà cầm quyền CSVN cũng như viết sẵn di chúc cống hiến thi thể cho sinh viên y khoa nghiên cứu học tập khi ông qua đời. Theo: Người Việt
......

FDP-Chef von Hessen Hahn stellt Akzeptanz Röslers als Vizekanzler infrage.

FDP-Chef von Hessen Hahn stellt Akzeptanz Röslers als Vizekanzler infrage. Chủ tịch đảng FDP tiểu bang Hessen Ông Hahn đã đặt ra vấn đề xã hội của Đức có chấp nhận Rösler như một phó Thủ Tướng Đức.  Wegen seiner Äußerung über Röslers vietnamesisches Aussehen ist Hahn in die Kritik geraten. Opposition spricht von stilloser Entgleisung.Ông Hahn, chủ tịch đảng FDP tiểu bang Hessen, vì lời phát biểu về Philipp Rösler có-nét-như-người-Việt-Nam nên Hahn hiện đang bị chỉ trích nặng nề. Phe Đối Lập cho đó là lời nói trật đường rầy trơ trẻn.  Der hessische FDP-Landesvorsitzende Jörg-Uwe Hahn (l.) ist wegen einer Äußerung über das Aussehen von Philipp Rösler in die Kritik geraten. In einem Interview hatte Hahn gesagt: Bei Philipp Rösler würde ich allerdings gerne wissen, ob unsere Gesellschaft schon so weit ist, einen asiatisch aussehenden Vizekanzler auch noch länger zu akzeptierenChủ tịch đảng FDP tiểu bang Hessen ông Jörg-Uwe Hahn thời gian này đang bị chỉ trích thậm tệ chỉ vì một câu phát biểu hớ hênh của ông ta về Philipp Rösler. Trong một cuộc phỏng vấn trên đài, Hahn đã tuyên bố: " Tôi rất muốn đặt câu hỏi này với ông Philipp Rösler rằng nhân dân của chúng ta đã chuẩn bị tinh thần kỹ chưa, để chấp nhận một người ngồi ghế Thủ Tướng nước CHLB Đức mà lại có dáng bề ngoài có vẻ như một người Châu Á." Wiesbaden. Hessens FDP-Landesvorsitzender Jörg-Uwe Hahn (FDP) hat die Akzeptanz von FDP-Chef Philipp Rösler als Vizekanzler wegen dessen vietnamesischer Herkunft infrage gestellt. "Bei Philipp Rösler würde ich allerdings gerne wissen, ob unsere Gesellschaft schon so weit ist, einen asiatisch aussehenden Vizekanzler auch noch länger zu akzeptieren", sagte Hahn, der auch Integrationsminister in Hessen ist, der "Frankfurter Neuen Presse" (Donnerstag).Chủ tịch đảng FDP bang Hessen ông Jörg-Uwe Hahn thời gian này đang bị chỉ trích thậm tệ chỉ vì một câu phát biểu hớ hênh của ông ta về Philipp Rösler. Trong một cuộc phỏng vấn trên đài, Hahn đã tuyên bố: " Tôi rất muốn đặt câu hỏi này với ông Philipp Rösler rằng nhân dân của chúng ta đã chuẩn bị tinh thần kỹ chưa, để chấp nhận một phó Thủ Tướng CHLB Đức mà có dáng bề-ngoài-như-một-người-Châu-Á lâu hơn nữa chứ."  Die Opposition im hessischen Landtag reagierte mit Kritik und Vorwürfen auf die Äußerung: "Dass Herr Hahn infrage stellt, ob unsere Gesellschaft einen "asiatisch aussehenden Vizekanzler" noch länger akzeptiert, ist eine stillose Entgleisung", sagte der Parlamentarische Geschäftsführer der SPD-Landtagsfraktion, Günter Rudolph. Die Äußerung unterstelle nicht nur den Menschen eine fremdenfeindliche Neigung. "Sie zeigt auch, dass der Integrationsminister selbst offenbar rassistische Tendenzen hat."Phe Đối Lập trong quốc hội tiểu bang Hessen, ông Günter Rudolph- Thư ký quốc hội của đảng bộ lên tiếng chỉ trích Hahn dữ dội và đổ lỗi về lời tuyên bố của Hahn " Ông Hahn đã đặt ra vấn đề đó có vẻ như nhấn mạnh xã hội của Đức có chấp nhận một phó Thủ Tướng Đức mà nhìn giống như một người Á Châu hay không, đúng là câu phát biểu trật đường rầy trơ trẻn." Lời phát biểu bóng gió làm tổn thương tâm lý con người. Nó chứng minh ngay cả một Bộ trưởng bộ Hội nhập Xã hội mà cũng có tư tưởng bài ngoại, kỳ thị chủng tộc"                             Jörg-Uwe Hahn & Philipp Rösler  Linken-Fraktionschefin Janine Wissler sagte, "Hahn greift mit seiner Anspielung auf Philipp Röslers Aussehen in die allerunterste Schublade des politischen Machtkampfs". "Als Hessischer Minister für Integration erweist sich Hahn damit als offensichtliche und unerträgliche Fehlbesetzung."Bà Janine Wissler, đảng Linke / Tả Khuynh lên tiếng " Hành động này của Hahn có vẻ như châm chọc về bề ngoài của Philipp Rösler, là hành động rẻ tiền thấp hèn nhất trong các phương cách đấu tranh tranh giành quyền lực chính trị. Là Bộ trưởng bang Hessen về bộ Hội nhập Xã hội mà mở miệng những lời như Hahn rõ ràng là sai quấy và không thể chấp nhận được."  Nach der Kritik aus den Oppositionsfraktionen kündigten die Liberalen für den Nachmittag eine Stellungnahme an. Zuvor hatte Hahn bereits über den Kurznachrichtendienst Twitter erklärt, er habe nicht den FDP-Bundesvorsitzenden kritisieren, sondern eine gesellschaftliche Debatte anstoßen wollen.Sau những lời chỉ trích của phe Đối Lập thì đảng Liberale FDP đã lên tiếng về ý kiến của đảng mình. Mặc dù trước đây Hahn đã giải thích với nhóm phóng viên Twitter, là ông ta không cố tình đụng chạm tới cá nhân ông đảng trưởng FDP của CHLB Đức, mà ông ta chỉ muốn nêu lên một cuộc tranh luận với công luận mà thôi."   Nguồn: dpa  
......

Phiếm Luận: Chuyện Năm Tỵ

Chỉ trong chớp mắt giống một thoáng chiêm bao, năm lại hết, tết đã tới. Trong tâm tư ngưới Việt tha hương tị nạn, dù người bỏ nước đi trước, vượt biên sang sau hay gia đình đoàn tụ, chắc không sao tránh khỏi nỗi bùi ngùi xúc động mỗi khi quạnh quẽ đón xuân nơi đất khách quê người. Ðể phần nào quên đi nỗi sầu viễn xứ, chúng tôi hân hạnh đóng góp vài mẩu chuyện phiếm về năm con rắn, trước để có dịp viết lại những giòng chữ Việt tuy đơn sơ mộc mạc nhưng đầy trừu mến thương yêu, sau để ôn lại vài sự tích xa xưa do ông bà kể lại để cống hiến độc giả những giây phút giải trí thoải mái vào lúc xuân sang. Trước hết, nhân dịp đầu năm, thành thực cầu chúc qúi vị cùng bửu quyến được an khang thịnh vượng, vạn sự như ý, phúc lộc đầy nhà. Theo ngũ hành can chi, năm vừa qua là năm thìn, cầm tinh con rồng. Nếu căn cứ vào "tin tức khí tượng cho tàu chạy ven biển" do các vị chuyên "rờ mu rùa" bàn tán theo sách Lốc Cốc Tử, năm rồng bao giờ cũng rất hên "đại cát đại lợi", vì chẳng những Rồng là một linh vật đứng đầu trong tứ linh "long, ly, qui, phụng" mà còn là biểu hiệu của chân mạng thiên tử. Tuy nhiên trong năm vừa qua, nếu có vị nào chưa được may mắn khi du hành Las Vegas hoặc không được thuận lợi lúc viếng thăm Wall Street, hãy khoan thất vọng. Chắc chắn qua năm con rắn, mặc dù được coi là "dần thân tị hợi “tứ hành xung", nhưng "phúc lộc thọ" sẽ ào ào bò, trườn, lê, lết tới. Sở dĩ chúng tôi giám đoán chắc như vậy vì tuy Rồng trông"ngon" thật, bay lộn rất "ngoạn mục", nhưng chiếu theo luật vận hành của tạo hóa, chẳng qua cũng chỉ ăn hiếp được chú mèo, đến khi xà vương xuất hiện cũng phải bỏ chạy có cờ, nhường ngôi vua phàm trần cho họ hàng loài rắn. Ðể bài phiếm luận có đầu có đuôi, đề nghị chúng ta hãy tìm hiểu họ hàng hang hốc của loài rắn trước, rồi sau đó sẽ "phiếm" đến những chuyện liên quan tới mãng xà tinh. Theo khoa học, rắn thuộc loài bò sát tương tự như giống thằn lằn không chân. Ðiều khác biệt là rắn có một hàng vẩy cứng dưới bụng có thể di động được như những chân nhỏ khi trườn lết. Ðặc điểm nữa là xương hàm trên của rắn có thể di chuyển, đổi chỗ để miệng có thể mở rộng khi nuốt những mồi lớn. Môn học nghiên cứu về rắn, hay "Xà Học", được giới khoa học gọi là "Herpetology" bắt nguồn từ chữ Hy Lạp "Herpeton" co nghĩa là "loài bò sát". Sau nhiều cuộc khảo sát kỹ lưỡng, người ta vẫn chỉ dự đoán được rằng rắn xuất hiện trên trái đất cùng lúc với loại khủng long, vào thời đại Triassic khoàng 200 triệu năm trước đây. Việc nghiên cứu về tổ tiên loài rắn tương đối khó khăn vì xương rắn nhỏ nên không tồn tại nhiều trong các hóa thạch vật (fossil) giống các động vật có xương lớn khác như khủng long, voi, cọp v.v... Căn cứ vào những bằng chứng tìm được trong thời Cretaceous cách đây khoảng 130 triệu năm, rắn do loại thằn lằn chuyên sống trong hang dưới đất (burrowing lizard) biến thể. Loại thằn lằn này phải sống trong hang để khỏi bị các giống vật khác ăn thịt và cũng để dễ săn mối. Trải qua nhiều triệu năm, chân và và tai của giống thằn lằn hang này bị biến mất để dễ di chuyển trong hang hóc chật chội; dần dần, theo lịch trình tiến hoá biến thành rắn. Bù lại, rắn có khứu giác rất nhạy, có thể đánh hơi con mồi từ xa. Vì không có chân nên rắn không thể đi hoặc chạy nhảy, mà phải di chuyển bằng động tác "trườn" (locomotion) giống như bơi cạn! Toàn thân rắn được bao bọc một lớp vảy. Những chiếc vảy này vô cùng cứng rắn, không lớn lên tương ứng theo sự trưởng thành của thân rắn. Vì vậy cứ 2-3 tháng rắn phải thay da để tăng trưởng một lần. Các chiếc vảy này không chỉ giúp rắn bảo vệ mà còn có chức năng như những bàn chân nhỏ để rắn trườn bò. Khi di chuyển, thân dài và nhỏ của rắn uốn cong thành hình chữ S, phía dưới thân thể theo sát bộ phận phía trên để bò lên cùng vị trí ấy. Khi bò, các vảy trườn theo bộ phận lồi ra, rắn dùng đầu nhọn của các chiếc vảy để trèo lên những đám cỏ hoặc đám đất gồ ghề. Một số loại rắn đặc biệt có khả năng lướt nhanh, hầu hết là thuộc chi Chrysopelea. Chúng có khả năng phóng mình rất xa như bay khoảng trên 10 mét trong không khí, do đó có người gọi là rắn bay. Da rắn được vảy phủ kín. Hầu hết rắn di chuyển dựa vào lớp vảy này. Da rắn khá nhẵn hoặc có hạt. Mi mắt rắn trong suốt và thường xuyên đóng kín, được gọi là vảy mắt. Rắn lột da để lớn theo theo chu kỳ. Không giống những loài bò sát khác, cách thức lột da của rắn t ương tự như người ta tháo bỏ một chiếc vớ: nó cọ đầu và mũi vào những vật cứng, như đá, cho tới khi da rách và chúng bắt đầu lột. Tất cả các loài rắn đều ăn thịt. Chúng có thể ăn cả những con rắn khác và những động vật có vú, động vật nhỏ như thằn lằn, chim, trứng các loài khác hay sâu bọ. Một số loài có nọc độc để giết chết con mồi trước khi tiêu thụ. Một số loài khác thì xiết mồi đến chết. Thậm chí có những loài rắn nuốt sống cả con mồi. Xương hàm dưới của rắn rất linh hoạt. Hai hàm của nó không gắn liền cố định mà di chuyển được và nối thẳng vào xương sọ, cho phép chúng mở rộng miệng để nuốt trọn con mồi dù có lớn hơn nhiều so với đường kính thân rắn. Sau khi ăn, rắn trở nên lười biếng và thụ động trong khi bộ tiêu hóa bắt đầu làm việc. Lúc này, hệ tiêu hóa hoạt động rất mạnh, nhất là khi phải tiêu thụ con mồi lớn. Ở một số loài rắn, toàn bộ hệ thống tiêu hóa sẽ nghỉ ngơi giữa những bữa ăn để tránh thất thoát năng lượng vì rắn ăn khá ít; trong vòng 48 giờ hệ tiêu hóa sẽ hấp thụ đầy đủ chất dinh dưỡng từ con mồi. Ở loài rắn đuôi chuông (rattle snake), năng lượng được chuyển hóa rất nhiều trong khi tiêu hóa, nhiệt độ cơ thể có thể tăng lên đến 14 độ C so với môi trường xung quanh. Loài rắn thường không cắn người, tuy nhiên có trường hợp những đứa trẻ bị trăn khổng lồ tấn công trong rừng nhiệt đới. Ngay cả một số loài rắn vốn được xem là hung dữ cũng rất ít khi nào cắn người nếu chúng không bị giật mình hay bị khiêu khích, ngoài ra chúng thường lảng đi nơi khác. Phần lớn rắn không độc hoặc độc của chúng cũng không gây chết người. Thông thường, rắn ăn thịt những loài động vật gặm nhấm. Có một vài ngoại lệ như rắn lục, chỉ ăn sâu bọ. Nói chung, rắn thường ăn một số loại thức ăn cố định như chuột hoặc chuột hoang gerbil. Rắn sinh sản bằng nhiều cách. Hầu hết rắn đều đẻ trứng, và đa số số rời bỏ trứng của chúng sau khi đẻ. Tuy nhiên, một số loài lại giữ trứng trong cơ thể đến khi trứng nở. Gần đây, giới khoa học xác định được một số loài rắn đẻ con, giữ con của chúng trong nhau thai hoặc một thứ tương tự túi noãn; đây là một điều khác thường trong giới bò sát. Việc giữ trứng trong cơ thể cho đến lúc nở thành con là cách giúp rắn mẹ kiểm soát nhiệt độ của trứng và bảo vệ con khỏi những đe dọa của môi trường chung quanh. Những cái chết do bị rắn cắn thường không mấy phổ cập. Trên toàn thế giới chỉ có khoảng 450 loài rắn có độc (250 trong số đó có nọc độc đủ giết người). Hàng năm tại Hoa Kỳ, có khoảng 6.000 bị rắn cắn, còn ít hơn số người chết vì sấm sét. Rắn độc xử dụng nước bọt; chất độc tiết qua những chiếc nanh trong miệng để làm tê liệt hoặc giết con mồi. Đa số loài rắn không độc xiết con mồi đến chết. Nọc độc rắn có thể là độc tố thần kinh hoặc độc tố máu. Độc tố thần kinh tấn công hệ thần kinh trong khi độc tố máu làm hư hại hệ tuần hoàn. Rắn Pitviper Philippine Rắn độc sử dụng độc tố máu thường có nanh tiết chất độc ở trước miệng, giúp chúng dễ dàng chích thẳng chất độc vào nạn nhân. Rắn sử dụng độc tố thần kinh, như loài rắn cây đước độc tính cao, có nanh nằm ở phía sau miệng đồng thời nanh cong về phía sau. Vì tiến trình phức tạp của loài rắn bắt đầu cách đây hàng trăm triệu năm nên đến bây giờ có khá nhiều chủng loại hoặc "gia đình" (families) rắn sinh sống tại những vùng khác biệt trên trái đất. Có loại xuất hiện từ lúc các đại lục còn như dính liền, nên hiện nay có mặt hầu như khắp nơi trên thế giới. Nhiều loại rắn mới chỉ có trong từng vùng vì mặt đất đã bị tách rời do đại dương ngăn cách. Các nhà khoa học hiện phân loại chừng 14 hoặc 15 chủng loại (families) rắn khác nhau, tổng cộng chừng 2.400 giống (species). Có hai loại rắn chỉ có một giống, một loại có hai giống và một loại khác có ba giống, trong khi loại rắn Colubridae có tới trên 1.500 giống. Ðại cương, rắn được chia thành những chủng loại như: rắn nước chuyên sống dưới nước, rắn cây chuyên sống trên cây, rắn hổ, rắn lục, trăn v.v…Tổng cộng có kho ảng 1.000 loại rắn khác nhau trên thế giới. Riêng tại Vi ệt Nam có gần 200 loại gồm rắn độc, rắn nước và rắn biển .v... Ðặc tính chung của rắn là không có chân. Thân rắn có vẩy cứng cách nhau bằng một lớp "keratin" mềm rất đàn hồi để rắn có thể trườn nhanh và dễ dàng. Vẩy trên mình rắn được dùng như một lớp khiên để che chở toàn thân. Ngược lại, vẩy bụng lại nằm ngang để rắn có thể di chuyển. Vì lớp vẩy bao phủ toàn thân nên rắn thường phải "lột da" để thân thể phát triển lớn hơn. Mỗi khi lột da, rắn tiết ra một chất nhờn đặc biệt dưới lớp vẩy, các mạch máu trong mình, nhất là ở đầu, đều phồng căng lớn để làm bong lớp da cũ, bắt đầu từ dưới hàm. Lúc đó, rắn sẽ cọ đầu vào những vật cứng như thân cây, tảng đá v.v... để lột da, bắt đầu từ lớp da đầu. Trong lúc lột da, rắn coi như bò ra từ cái vỏ và lộn lớp da cũ từ trong ra ngoài. Một đặc điểm nữa là sọ rắn có thể co dãn vì gồm những xương nối với nhau bằng những sợi gân đàn hồi. Mép rắn nằm sâu vào phía trong nên hàm trên và hàm dưới có thể mở rộng tối đa cũng như di chuyển độc lập. Ngay cả óc rắn cũng có thể di chuyện tới lui hoặc ngang dọc. Nhờ đặc tính đàn hồi này mà rắn có thể nuốt những con mồi rất lớn. Răng rắn rất nhọn, nghiêng về phía trong miệng để giữ chặt con mồi không bị vuột. Vì phải há miệng rất lớn mỗi khi nuốt mồi nên sọ rắn phải chịu một áp lực rất lớn, nhưng nhờ lớp xương sọ có thể đổi chỗ nên rắn vẫn không hề hấn gì. Ngoài ra, răng rắn còn có thể mang nọc độc dùng dể giết chết con mồi hay để tự vệ. Thông thường, nanh mang nọc độc của rắn thường nằm ở hàm trên. Khi bị rắn cắn, nọc độc từ một hạch trên đầu rắn sẽ được "bơm" qua nanh để chuyền vào vết thương. Người ta thường nói "miệng hùm, nọc rắn" để chỉ những nơi nguy hiểm, độc địa. Vậy nọc rắn "độc" ra sao? Nên nhớ: nọc rắn vẫn có thể chảy khi đầu rắn đã bị chặt đứt, và số lượng cũng vẫn bằng với lúc rắn còn sống! Ngoài ra, nọc rắn lúc còn nhỏ cũng độc như rắn lớn. Khi cố tình tấn công, rắn nhả ra nhiều nọc độc hơn là lúc tự vệ, thí dụ như khi có người vô ý dẫm vào đuôi. Ðúng ra, nọc rắn không hẳn được tuôn ra từ miệng, mà từ những hạch đặc biệt nằm ở phía trong mắt. Nanh của loại rắn lục (viper) rất dài đến độ phải "xếp" lại rắn mới có thể khép miệng được và có thể di chuyển như cây kim để chích ngay nọc độc vào con mồi. Ðối với loại rắn có nanh độc nằm phía trong miệng, rắn phải cắn và giữ chặt con mồi rồi mới tiết nọc độc sau. Nghe đồn dạo ở Việt Nam, một số lính Mỹ chiến đấu trong rừng mệnh danh một loại rắn hổ địa phương là rắn "hai bước", "ba bước" hoặc "năm bước" để chỉ người bị rắn cắn chỉ đi thêm được vài ba bước là ngã ra chết. Ðặc điểm quan trọng khác của rắn là tài đánh hơi. Tuy rắn có lỗ mũi nhưng được dùng để thở hơn là đánh hơi. Sở dĩ rắn nhạy hơi là nhờ một cơ cấu đặc biệt gọi là cơ quan Jacobson gồm hai rãnh nhỏ nằm ở hàm trên. Cơ quan này có nhiều thần kinh nhỏ nối với phần não bộ chuyên về khứu giác. Khi rắn le lưỡi qua lại trước mặt, những phân tử”mùi hơi" của mục tiêu sẽ được hút v ào lưỡi rồi truyền đến cơ quan Jacobson lên tới óc. Thị giác của rắn cũng khá tinh, nhưng chỉ phân biệt rõ ràng khi đối tượng di động hoặc đổi chỗ. Có người cho rằng rắn "không bao giờ ngủ" vì lúc nào cũng mở mắt. Ðiều này không đúng. Rắn có ngủ nhưng mắt vẫn mở vì không có mí mắt để khép lại. Tuy rất khó quan sát, nhưng ta có thể biết rắn ngủ khi thấy đồng tử thu nhỏ lại, hoặc dấu đầu vào khúc mình rắn khoanh tròn. Một phương pháp nữa là khoa tay trước mắt rắn; nếu không thấy mắt di chuyển và lưỡi thè ra là lúc rắn đang ngủ. Thính giác của rắn coi như không được bén nhạy vì không có vành tai để âm thanh dội lại. Các nội tạng của rắn đều dài theo thân mình. Gan rắn dài nhưng không chia ra từng miếng, mật rắn nằm giữa bao tử và ruột. Phổi trái tương đối nhỏ trong khi phổi phải lại rất dài vì chứa những túi dự trữ dưỡng khí giúp rắn không cần thở trong lúc bận nuốt mồi lớn. Ðại đa số rắn thường đẻ trứng. Trứng rắn hình bầu dục. Sau khi thụ tinh chừng hai tháng, rắn đẻ trứng, vỏ mềm tại nơi có nhiệt độ và ẩm độ thích hợp. Trứng nở trong vòng từ 4 đến 12 tuần lễ tùy theo loại rắn, trong thời gian này, trứng phồng lớn. Rắn con dùng răng tự cắn vỏ trứng để chui ra ngoài. Trăn cái ấp trứng bằng cách truyền thân nhiệt qua trứng. Nhiều giống rắn sinh sống tại vùng lạnh, trên cây hoặc dưới nước không đẻ trứng mà giữ trong mình cho tới khi nở rồi đẻ ra con. Ngủ cùng trăn Ðặc biệt có loại rắn "Brahminy Blind Snake" được gọi là "parthenogenic" nghĩa là "toàn cái". Loại rắn này đẻ trứng không có giống đực, sau nở ra toàn rắn cái. Có loại rắn cái không cần "chịu đực" mỗi lần đẻ trứng mà vẫn sinh con. Lý do vì loại rắn này có thể "giữ" tinh trùng đực lâu đến bảy năm! Khi đẻ trứng, rắn cái chỉ cần dùng lại tinh trùng cũ mà không cần tới rắn đực! Rắn con ngay từ lúc mới nở đã phải tự lực cánh sinh, săn mồi và tự vệ vì rắn bố và mẹ không ở bên cạnh để săn sóc. Trong vòng một năm rắn tới tuổi trưởng thành. Hình dạng và màu sắc không những dùng để phân biệt chủng giống mà nhiều khi còn cho biết môi trường sinh sống của rắn. Con trăn rừng dài nhất đo được 33 feet (khoảng 10 mét). Con trăn nước (green anaconda) dài nhất bị bắt tại Brasil dài 18 thước 9. Những loại trăn lớn này di chuyển nặng nề, cần ăn nhiều nên chỉ sống tại những nơi dễ kiếm mồi lớn. Ngoài ra, vì là loài "máu lạnh" nên rắn cần môi trường bên ngoài để hâm nóng thân thể tới nhiệt độ thích hợp mới có thể hoạt động được. Do đó, những loại trăn, rắn lớn chỉ sống tại vùng nhiệt đới. Rắn cũng có nhiều màu sắc khác nhau để có thể "ngụy trang" hoặc thu hút và bảo vệ thân nhiệt tùy theo môi trường sinh sống. Nhiều loại rắn còn đổi màu khi tăng trưởng. Vẩy rắn thật ra chỉ là những chỗ da dầy và cứng hơn những chỗ khác, vì vậy vẩy cũng chính là da rắn. Sự cấu tạo này khác với vẩy cá có thể tách rời khỏi da. Vẩy rắn được dùng như lớp giáp để che chở thân rắn khi trườn cũng như để tự vệ. Trong vẩy rắn có hạch đặc biệt làm thành màu sắc của rắn. Thật ra. vảy rắn gồm hai lớp, phân cách bằng một lớp tế bào mỏng, trong suốt. Rắn còn nhỏ thường lột da nhiều hơn rắn lớn để thân thể tăng trưởng. Rắn cái thường lột da trước khi đẻ trứng hoặc đẻ con. Rắn bị thương cũng lột da thường xuyên để tự chữa. Rắn thường ăn các động vật khác, nhưng vì không có tay chân nên phải nuốt trọn con mồi. Hàm rắn có thể tạm thời di chuyển, da rất đàn hồi để có thể nuốt mồi lớn hơn đầu. Nhiều trăn, rắn lớn có thể nuốt trọn con nai nhỏ hoặc cả cá sấu. Có rắn lại ăn cả loại rắn khác. Loại trăn thường cuốn chặt con mồi đến nghẹt thở truớc khi nuốt. Rắn độc truyền nọc độc để giết con mồi trước khi nuốt trọn. Chúng ta thường thấy hình ảnh "phù thủy rắn" là ông già Ấn Ðộ gầy nhom, miệng thổi cây kèn sặc sỡ trước mặt một con rắn hổ nghển cổ, phùng mang, đầu đong đưa qua lại theo tiếng nhạc, trông rất ghê rợn. Những tay "thầy rắn" này được người Tây Phương mệnh danh la "Snake Charmers". Tuy màn trình diễn trông có vẻ nguy hiểm, nhưng có nhiều giả tạo trong đó. Trước nhất là tiếng kèn rên rỉ và đầu rắn đong đưa theo điệu nhạc như khiêu vũ. Thật ra, rắn không nghe được tiếng nhạc nên biết đâu mà "nhảy"? Rắn chỉ theo dõi những di động của cây kèn sặc sỡ hoặc của chính ông thày rắn trong tư thế chuẩn bị tấn công. Ðầu rắn ngóc cao, mang bạnh lớn, đầu đảo qua lại, mắt theo dõi những di động của cây kèn như bị thôi miên vì rắn coi cây kèn như địch thủ. Các thày rắn thường dùng loại rắn hổ mang "đeo kính" (naja naja) rất dài, đôi khi tới 20 feet (khoảng 6 mét), mang bạnh ra trông rất dữ dằn. Tuy nhiên, để giảm bớt nguy hiểm, có thể rắn đã được "ngâm lạnh" hoặc cho ăn thật no để tở nên chậm chạp, hoặc đã bị nhổ mất nanh độc hay khâu miệng. Do đó, nhiều tay thầy rắn còn nhảy chung với rắn, hôn rắn hoặc ngậm cả đầu rắn vào trong miệng. Tuy đã bị "giải độc" nhưng cứ nhìn những con rắn đeo kính" này "phùng mang múa mỏ" lắc lư theo điệu kèn rền rĩ của các tay “fakir” cũng đã đủ ớn phải không qúi vị? Sau đây là vài chuyện khó tin nhưng có thật về rắn. Người Cắn Răn: Vào khoảng tháng 5/1997, anh Valentin Grimalo đang buớc bên lề cỏ dọc theo xa lộ tại thị xã Edinburg thì bị một con rắn cắn. Lập tức, Valentin nắm lấy con rắn, dùng miệng cắn đứt đầu rắn rồi lột da dùng làm giây cột bên trên vết thương để nọc độc không truyền vào tim. Theo tờ báo Beaver County Times, sau đó có người lái xe chở anh tới bệnh viện chữa trị. Anh hoàn toàn bình phục. Rắn Bắn Chết Người: Chỉ có người đi săn, giết rắn, làm sao rắn có thể bắn chết người? Thế mà vài năm trước đây tại Iran, có một anh thợ săn bị rắn bắn chết bằng "shotgun". Bạn anh thợ săn cho biết: nạn nhân toan bắt sống một con rắn bằng cách dùng báng súng đè đầu rắn xuống khiến mình rắn co lại, cuốn quanh báng súng. Chẳng may đuôi rắn cuốn trúng cò khiến súng khai hỏa trúng đầu anh thợ săn. Hẩu Xực: Ðây là chuyện hoàn toàn có thật. Vào năm 1973, một người đàn ông 42 tuổi tại Trung Hoa cho biết anh đã ăn chừng 10.000 con rắn sống trong vòng hai thập niên. Anh cho biết nếu bữa nào không "xực" ít nhất một con rắn thì cảm thấy rất buồn bực, khó chịu. Ăn nhiều rắn như vậy, chắc cuộc đời anh ta "lên hương" lắm? Không đúng như vậy, vì chẳng một bà hay cô nào giám lại gần tay "xực" rắn này, nên suốt đời anh ta mồ côi vợ. Chắc không có cô nào chịu nổi khi được anh mời về nhà ăn bữa tiệc rắn đầu tiên. Lẫu rắn   Tiếp theo là một số ngộ nhận về rắn. - Rắn nào cũng nguy hiểm: ngược lại, đa số rắn đều vô hại. - Rắn không biết ngửi: tuy rắn không thính mũi, nhưng "khứu giác" quan trọng hơn là lưỡi và cơ quan Jacobson. - Rắn thường trơn trợt: rắn trông bóng láng nhưng thật ra da rắn rất khô và ấm. - Vẩy rắn dùng để giữ thân nhiệt: đúng ra, vẩy rắn không thấm nước, dùng để giữ độ ẩm khiến rắn không bị chết khô ngoài nắng. - Rắn có khả năng thôi miên: rắn chỉ nhìn trừng trừng khiến người và vật sợ hãi. - Thân rắn lạnh: tuy thuộc loài máu l ạnh nhưng thật ra, rắn có thể giữ thân nhiệt rất cao, đến hàng trăm độ F. Nhưng rắn không thể tự sinh ra thân nhiệt như con người mà hải nhờ tới môi ytrường bên ngoài. - Vẩy rắn rất dầy và nặng: đúng ra. vẩy rắn rất mỏng như giấy. - Rắn rất dữ: ngược lại, rắn rất nhát, chỉ tấn công khi bị bắt buộc. - Rắn không có xương sống: rắn có khoảng 300 đốt xương sống và xương sườn. Con người chỉ có 33 hay 34 xương sườn. Tới đây xin kể một số kỷ lục về rắn. - Rắn ngắn nhất: loại rắn "kim" tại vùng đảo St. Lucia, Martinique, Barbados, chỉ dài khoảng 10 phân. - Rắn già nhất: con trăn đực tên "Popeye" chết năm 1977 tại sở thú Philadelphia, già 40 năm 3 tháng 10 ngày. - Rắn nhanh nhất: rắn hổ Phi Châu có thể di chuyển 14 - 19 km một giờ. - Rắn độc nhất: rắn biển giống Hydrophis Belcheri có nọc độc mạnh gấp hàng trăm lần rắn độc thông thường. Giống rắn đất độc nhất là rắn hổ Úc Ðại Lợi. - Rắn dài nhất: trăn dài 10 thước bị giết tại đảo Celebes, Nam Dương vào năm 1912. Rắn độc dài nhất là loại rắn hổ vùng Ðông Nam Á đo được 5 thuớc 71 tại sở thú Luân Ðôn. - Rắn nặng nhất: trăn nước Nam Mỹ và Trinidad. Kỷ lục nặng khoảng 500 lbs, dài chừng 9 thước. Ngay từ thời Thượng Cổ, đã có nhiều tương quan và huyền thoại giữa người và rắn, có lẽ vì hình dạng dài và uyển chuyển của rắn được coi như xương và tủy sống là trung tâm của mọi hoạt động của con người. Gần đây, nhà phân tâm học nổi tiếng Karl Jung của Thụy Sĩ cũng phân tách rằng rắn với nhiều điều kỳ bí là biểu tượng của vô thức con người. Những nhà khảo cổ tìm thấy nhiều hình dáng "uốn éo" giống như rắn trong nhiều hình vẽ, tượng hoặc đồ gốm thời cổ. Nhiều hình vẽ con rắn khổng lồ cuốn quanh cả vũ trụ, dưới gốc cây hay khoanh tròn trên bụng đàn bà chửa, tượng trưng cho oai lực tạo nguồn sống cũng như bất tử. Rắn cũng chui ra từ trong hang dưới đất nên nhiều khi còn được coi là sinh vật của âm giới. Hình ảnh rắn ngậm đuôi trong miệng và lột da cũng tượng trưng cho sự tái sinh và trường thọ. Vì vậy, loài người đã sùng bái và thờ rắn từ lâu. Người vùng Babylon và Ai Cập có nhiều tranh vẽ hoặc tượng những vũ công nhảy múa trong các buổi tế lễ theo dáng di chuyển của rắn. Người vùng Sumer tin tưởng rắn là thần vật bảo vệ "trục vũ trụ". Dân Ba Tư thờ thần rắn biết bay trên trới tên Azhi Dahaka, được coi như thần sáng tạo những trăng sao trên trời. Tưởng cũng nên nói người Âu Châu thời cổ sắp chung rồng và rắn vào cùng một loại trong đó rồng là một loại "rắn" sống trên trời, có cánh biết bay. Tên "dragon" tức là rồng bắt nguồn từ Hy Lạp chữ "drakon" có nghĩa là rắn. Qua tới Ai Cập, hình ảnh rắn lại được thể hiện rõ ràng và phổ cập hơn. Ðiển hình nhất là vương miện của các vị vua (Pharaoh) đều có hình của thần rắn hổ. Khăn đội của của vua Ai Cập cũng được mở rộng tới vai, trông giống như rắn hổ phùng mang. Thần rắn hổ tên Uraeus thường được thấy khoanh tròn trên trán của vua chúa có liên quan tới thần Horus khi tái sinh thành những "Pharaoh". Nữ hoàng Cléopatra dùng rắn hổ cắn vào người để tự tử vì tin rằng Uraeus sẽ đưa nàng về chốn vĩnh hằng. Người Ai Cập còn tin rằng thần rắn Apep là chúa của bóng tối và hủy diệt vì lúc nào cũng muốn nuốt chửng mặt trời. Thần mặt trời Ra và thần bóng tối Apep tranh dành nhau quyết liệt, gây ra những lần nhật thực và đêm tối, nhưng lần nào thần Ra cũng thắng vì mặt trời vẫn xuất hiện mỗi ngày. Apep còn có hình dạng như một con cá sấu, có tên là Typhon tức là rồng. Trong thần thoại Hy Lạp, rắn Typhon là con út của thần Gaea và Tartarus. Typhon cao hơn núi, có cánh, đôi mắt nẩy lửa, chân có móng vuốt như rồng và thân rắn. Typhon kết hôn với nàng Echinda sanh ra bốn con là Hydra, Ceberis, Chimera và con sư tử Nemean. Người Ai Cập còn thờ thần rắn Nehebkau có chân và tay như người. Tại Phi Châu, bộ lạc Ewe tin rằng con rắn khổng lồ tên "Anyiewo" thường hiện ra kiếm ăn vào lúc trời mưa, thân rắn phản chiếu lên trời thành cầu vồng bảy sắc . Người Dogan thuộc Trung Phi tin rằng có thần Lebe là một con rắn. Tại Dahomey, có thần rắn tên Danh hiện thân thành cầu vồng cuốn vòng quanh vũ trụ, đuôi ngậm trong miệng. Thần Danh hay Da, như vậy được coi là phúc thần bảo vệ trật tự toàn vũ trụ. Khi thần Danh hiện thân thành cầu vồng, phần nam tính mang màu đỏ, phần nữ tính màu xanh. Phần trên trái đất, Danh có 3.500 khúc, cũng bằng phần dưới để cùng nâng trái đất. Tại Nigeria, có thành phố cổ Benin rất huy hoàng tráng lệ không thua các đền đài Ai Cập, được kiến trúc theo hình dạng một con rắn. Ở mạn Trung Ðông, người Hebrew dùng rất nhiều danh từ để nói về rắn. Thí dụ như "akshub" là rắn khoanh tròn, "epheh" là rắn phun nọc, "livyathin" (Leviathan) là rắn biển, "pethen" là rắn cuốn, "shephiyphon" là rắn mổ, "tsepha" hay "tsiphoniy" là rắn le lưỡi. Trong sách Exodus, rắn được đồng hóa với cây gậy, gọi là gậy Aaron. Tiên tri Moses của dân Do Thái có cây gậy khi liệng xuống đất biến thành rắn, khi cầm lên lại thành gậy. Moses dùng cây gậy rắn này để rẽ nước dẫn dân qua biển và đập vào đá để biến thành nước. Có lẽ con vật dáng sợ nhất trong Thánh Kinh mang tên Leviathan, là một con rắn hay rồng biển chuyên phá hoại trật tự và những sáng tạo trên đời. Leviathan cuối cùng bị Thiên Chúa đập nát đầu. Cùng cặp với Leviathan là Behemoth. Vùng Trung Mỹ, dân Mayan thờ thần "rắn có lông" (feathered snake) tên Kulkulcan hay Queztalcoatl. Kim tự tháp "El Castle" thờ thần Kulkulcan có 365 bậc tượng trưng 365 ngày trong một năm, 52 cửa tượng trưng một thế kỷ Mayan có 52 năm và 18 sân thượng tượng trưng cho 18 tháng trong một năm Mayan. Dân Aztec cũng thờ thần rắn có lông này. Tới Nam Mỹ, tại Columbia có thần rắn Chiminigagua cư ngụ trong một hồ đầy rắn. Ba Tây có nữ thần rắn Iara, còn được gọi là "mae d'agua" có nghĩa là "mẹ của nước". Dân Inca có nữ thần rắn Chalchiuhtlicue mặc áo rất đẹp dệt bằng vỏ sò và da rắn, là thần sinh sản. Tại Paraguay có thần Mboi-Túl mình rắn, đầu vẹt là thần che chỏ các loài vật và cây cỏ. Tại Âu Châu, trong các đền thờ cổ La Mã, người ta tìm được dấu tích của thần Chimera là một sinh vật rất kỳ lạ thân sư tử, đầu dê, đuôi rắn. Thần y khoa Aescepulus hay Askepulus hiện thân trong thần thoại La Mã là một con rắn. Dân Celtic có huyền thoại Thánh Patrick đuổi rắn ra khỏi Ái Nhĩ Lan, ngoại trừ một con rắn lớn tên là Luogh Derg Monster bị nhốt dưới đáy hồ Lough Derg. Người ta thường thấy tượng thánh Patrick đạp đầu một con rắn, tượng trưng cho quyền lực Thiên Chúa chiến thắng qủi Satan. Tại Tô Cách Lan hiện nay vẫn còn đồn đại hồ Loch Ness có một con rắn biển lớn mà dân chúng thường thân mật gọi là Nessie. Nhiều người quả quyết đã nhìn thấy và chụp được cả hình Nessie, nhưng những cuộc thăm dò tìm kiếm đáy hồ Lock Ness mới đây bằng những dụng cụ thu hình tối tân không tìm ra dấu vết. Tại Á Châu, người Nhật tin rằng vùng biển bao quanh các đảo đều có rất nhiều "người rắn” đầy quyền lực. Nữ thần cai trị các sông là Sarawati kết hôn với một rắn chúa. Thần rắn Susa-No-Wo cũng được nhắc tới rất nhiều trong việc tranh chấp với nữ thần mặt trời Amataratsu omi kami. Dân Ấn Ðộ từ lâu vẫn coi rắn hổ vẫn được coi là thần vật. Mãng xà vương Naga, con của Kadru và Daksha rất được dân chúng tôn thờ và sùng bái. Naga - tiếng Phạn có nghĩa là rắn - cư ngụ trong các cung điện của đô thị ngầm Bhogavati và cai quản các nguồn nước như sông ngòi, suối v.v... Naga biết hát và nhảy múa, đôi khi có nhiều đầu như Mulchalinda hay Naga Kanya. Sesha là vua của các Nagas có tới 1,000 đầu và bận y phục màu tím. Thần Shiva có rắn gọi là "naga bushana" cuốn quanh cổ. Thần Vishnu ngủ trên một con rắn cuốn tròn trên mặt nước. Hai con rắn khác, một ngóc đầu lên, một quay đầu xuống tượng trưng cho tình trạng thức và ngủ. Thần Vishnu khi ngồi cũng được rắn Naga Kanyan chín đầu phùng mang che chở. Trong kinh Phật cũng nói tới rắn 1,000 đầu tên Ananda khoanh tròn quanh trục trái đất. Sau thời gian tịnh tâm dưới gốc bồ đề, Phật Tổ ngồi tại một gốc cây khác để tham thiền không để ý gì đến chung quanh. Trong lúc đó, bỗng nhiên giông bão nổi lên. Một con rắn lớn tên Muchalinda từ gốc cây bò ra, cuốn quanh Phật 7 lần để che chở và dùng mang che đầu Phật cho khỏi ướt. Dân Cam Bốt tin rằng vương quốc Khmer do vua rắn sáng lập. Con đường dẫn đến ngôi đền chính tại Ankhor Wat của Cam Bốt được khảm bằng nhiều "naga" bảy đầu và cũng có nhiều hình rắn được tạc trên tường. Ngay cả xứ Tây Tạng không có rắn cũng thờ thần Naga có tên là Lu. Tên Nagajurna tiếng Tây Tạng gọi là Lu-truh. Trong tiếng Phạn, Naga có nghĩa là rắn hổ mang l à chúa tể của loài rắn với những chiếc răng sắc nhọn mà dù là con voi to lớn bị cắn phải cũng sẽ trở nên bất động và chờ tử thần đến đưa đi. Rắn hổ mang còn tượng trưng cho thần Siva tối cao nắm giữ trong tay quyền lực hủy diệt và tái sinh. Truyền thuyết kể rằng, vị vua đầu tiên sáng lập ra vương quốc Chân Lạp là Kampu. Ngài là một quốc vương tài giỏi, yêu thương dân chúng, được thần dân tôn sùng và kính trọng. Một lần, trên đường sang đất nước Indonesia xinh đẹp, ngài gặp nữ vương con gái vua rắn Naga kiều diễm, thông minh vượt trội, vừa dịu hiền, vừa quyết đoán. Quốc vương tuy mới gặp nhưng đã đem lòng yêu mến và quyết lấy nàng làm vợ. Sự dũng mãnh, oai phong và tài giỏi của quốc vương Kampu thể hiện trong các kỳ thi thử sức đầy gay go, quyết liệt của vua rắn Naga đã giúp ngài làm vừa lòng vị nhạc phụ tương lai khó tính và đưa nữ vương lên ngôi hoàng hậu. Quốc vương Kampu và Hoàng hậu Naga cùng nhau sáng lập và xây dựng nên đất nước Campuchia. Các vị vua của đất nước xứ chùa tháp đều cho xây dựng các cung điện và đền thờ khổng lồ bằng đá, mà rắn Naga được xem là vị thần canh giữ chốn thiêng liêng. Rắn Naga luôn xuất hiện trên cầu thang, các lối đi, trên ngưỡng cửa hoặc trên các mái tháp để xua đuổi tà ma. Rắn Naga còn tượng trưng cho sự phồn thực và là loài có khả năng bảo vệ nguồn nước cho người Campuchia. Đến thăm các các ngôi đền cổ ở Campuchia, du khách sẽ thấy nhiều cầu vòng có hình rắn Naga. Những chiếc cầu vòng này tượng trưng cho cầu nối giữa cõi nhân gian và cõi Niết Bàn. Rắn Naga nhiều đầu tượng trưng cho chiếc cầu nằm trải dài dưới chân những ngôi đền núi là thế giới con người đến đỉnh của ngôi đền tượng trưng cho cõi thần linh. Theo quan niệm của con dân xứ Angkor, rắn 3 đầu tượng trưng cho tam tài là thiên, địa, nhân; 5 đầu theo thuyết ngũ hành kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Thần Naga bảy đầu tượng trưng cho sự đắc đạo trong tu hành và 9 đầu chính là con đường dẫn lên thiên đàng. Rắn Naga 7 đầu còn tượng trưng cho bảy sắc dân trong xã hội Campuchia cổ xưa, cũng như biểu trưng cho năng lực của người nam, sự vĩnh hằng, sự vô tận và sự bất tử. Rắn Naga 7 đầu còn phù hợp với 7 sắc cầu vồng. Cũng có rắn Naga 6 đầu, biểu trưng cho người nữ, trái đất, thể xác và sự chết. Trong các ngôi chùa của “đất nước xứ chùa tháp”, rắn Naga ngự trên các mái chùa, các đầu đao để xua đuổi tà ma và bảo vệ đạo Phật. Ngoài ra cũng có hình tượng rắn Naga được chạm trổ bằng xà cừ uốn lượn quấn quanh những cánh cửa chùa, trên những chiếc tủ đựng kinh sách, trên những chiếc xe tang đưa người chết đến nơi hỏa thiêu tượng trưng cho vị thần đưa linh hồn người tốt lên cõi Niết Bàn. Truyền thuyết rắn Naga đã ăn sâu vào thế giới tâm linh của người Campuchia. Tại Thủ đô Phnompenh của “đất nước xứ chùa tháp” xinh đẹp có một khách sạn 5 sao mang tên thần rắn Naga, đó là Khách sạn NagaWorld. NagaWorld nằm giữa vùng địa thế ven bờ đẹp như tranh vẽ của sông Mekong và biể n hồ Tonlé Sap tràn đầy sức sống. Theo truyền thuyết, tên của NagaWorld bắt nguồn từ thần thoại rắn 7 đầu hay còn gọi là thần Naga. Rắn thần dũng mãnh được tin là luôn ẩn cư trong lòng sông và canh giữ kinh thành PhnomPenh. Người ta bảo rằng chỉ có thể thấy ngài xuất hiện khi cầu vồng tỏa sắc và nếu được như thế sẽ rất may mắn. Ðặc biệt người Hy Lạp có rất nhiều thần thánh và huyền thoại liên quan tới rắn. Loại nữ trang cổ Hy Lạp thông dụng nhất mang hình rắn khoanh tròn. Thần Zeus được coi như vị thần tối cao, xuất hiện mỗi mùa xuân dưới dạng môt con rắn khoanh tròn cùng với nữ thần cai quản trái đất Rhea cũng mang hình rắn. Rắn, như vậy được người Hy Lạp coi là biểu tượng của đất và nước. Chính thần Zeus khi bị cha là Chronos đuổi giết đã biến hình thành một con rắn để trốn thoát.. Sau này Thần Zeus trở thành thần tối cao vì đã chinh phục được con rắn khổng lồ Typhon, tương tự như chuyện Yahweb chinh phục Leviathan trong thánh kinh. Người ta cũng tin rằng có một con rắn lớn tên Python nằm giữa trung tâm trái đất để giữ cho khỏi bể. Theo huyền thoại, Python là con của Gaia được nặn bằng bùn và đất đọng lại sau trận lụt lớn Deucalion. Vì Python quá hung dữ không ai giám lại gần nên dân chúng xin thần Appolo trợ gúp. Thần Appolo từ núi Olympus hiện xuống, dùng cây cung bạc, bắn mũi tên vàng giết chết Python, do đó thần Appolo còn được gọi là Pythian Appolo. Về thiên văn, người Hy Lạp dùng tên Draco có nghĩa là Rồng để đặt cho một chòm sao rất dài trông như con rắn trên trời. Theo truyền thuyết, rồng Draco là vật nuôi trong nhà của thần Zeus. Vì Zeus bắt cóc nàng Europa nên người em của nàng là Cadmus tìm đến cứu chị. Draco bị Cadmus giết chết nên thần Zeus biến Draco thành bất tử bằng cách đưa lên trời trở thành chòm sao. Ngoài Draco, còn có chòm sao khác mang tên Hydra cũng mang hình tượng rắn. Nữ thần bảo hộ thành phố Athen là Athena rất nổi tiếng thường mang một tấm khiên có hình con rắn. Athena mà người La Mã gọi là Minerva, còn được gọi là Pallas Athena. Ngày nay, Minerva rất thông dụng để đặt tên cho con gái tại các quốc gia nói tiếng Tây Ban Nha vùng Nam Mỹ. Athena là con của thần Zeus (Jupiter), ngay khi được tạo ra từ trán cha đã khôn lớn và mặc áo giáp. Athena thường đội nón sắt, tay cầm giáo và mang khiên. Lớp áo giáp của Athena giống như của cha, có tên là "aegis", làm bằng một lớp da dê viền rắn, khi lay động phát ra tia chớp để giết quân thù. Ngày nay, tên "Aegis" được đặt cho hệ thống phòng thủ chống hỏa tiễn của các chiến hạm hải Quân Hoa Kỳ. Tuy nhiên, Athena khác xa thần chiến tranh là Ares (Mars). Nàng tượng trưng khía cạnh tinh khôn, sáng suốt của nghệ thuật chiến tranh hơn là một chiến sĩ. Athena không những mưu lược khi xung trận mà còn rất hữu dụng trong hòa bình. Nàng là người sáng chế ra chiếc cầy và cách đóng ách vào bò để dạy dân cầy đất. Athena còn được coi là nữ thần bảo hộ các thành phố lớn. Tên của nàng được dùng để đặt cho thủ dô Athen của Hy Lạp vì một hôm, thần Zeus cho biết sẽ dùng tên của vị thần nào tạo ra được sự lợi ích nhất cho dân chúng để đặt cho thành phố lớn nhất. Thần Poseidon tặng dân loài ngựa. Athena dùng mũi giáo đâm xuống đất tạo ra cây olive được dân chúng rất thích. Vì vậy thần Zeus trao tặng thành phố này cho Athena. Do đó, người ta còn thất nhiều hình tượng nữ thần Athena tay cầm cành olive biểu tượng cho hòa bình và sung túc. Athena là nữ thần còn trinh trắng nên được gọi là Parthenos (gái trinh) và được thờ ở đền Parthenon. Huyền thoại đáng kể nhất còn liên quan tới ngày nay là chuyện ông Asclepius (người La Mã gọi là Aescepulus hay Askepulus) chuyên dùng rắn để chữa bệnh cho dân chúng nên sau này được tôn xưng ông tổ sáng lập ra ngành Y Khoa, trước cả tổ sư Hippocrates. Nguyên thần Apolo có một bà vợ tên Coronis là một cô gái rất xinh đẹp của thành phố Thessaly, nhưng vì bà này không trung thành nên bị Thần giết chết. Ðứa con trai sơ sinh của hai người được gửi cho Chiron là một quái vật đầu người, mình ngựa nuôi dưỡng. Ðược Chiron truyền Y Thuật nên Asclepius trở thành một danh y hành nghề cứu nhân độ thế. Cách chữa bệnh của ông rất lạ đời: ông thường cho các bệnh nhân vào nằm ngủ qua đêm trong một đền thờ Rắn Thần để đến khuya, bầy Rắn bò ra liếm vào mình con bệnh, đến sáng hôm sau bách bệnh đều tiêu tan! Vì lý do đó, dân chúng Hy Lạp thời cổ dùng hình ảnh biểu con rắn cuốn quanh cây gậy để làm biểu tượng của danh y Asclepius. Y thuật của ông cao siêu đến độ có một lần ông cãi mệnh trời, cải tử hoàn sinh cho một vị hoàng tử. Vì vậy, thần Zeus tức giận dùng một tia sét để đánh chết Asclepius. Y thuật của ông sau này được các đệ tử truyền qua La Mã và được Hippocrates hệ thống hóa. Hiện nay bên Hy Lạp vẫn còn các đền thờ Thần Rắn. Hình ảnh con rắn cuốn quanh cây gậy, gọi là caduceus, tiếng Hy Lạp là Kerykeion đã trở thành biểu tượng của ngành y khoa hiện đại, các tân bác sĩ trước khi ra trường chữa bệnh đều phải thề trước tượng tổ Hippocrates này. Ðọc mãi những chuyện rắn trong khoa học và huyền thoại cũng phát chán phải không qúi vị? Ðể thay đổi không khí cũng như "văn phong" và chứng tỏ sự oai lực của giống mãng xà, chắc không gì bằng kể lại mẩu chuyện rắn trong Thánh Kinh. Câu chuyện này rất nổi tiếng, không những vì đã vượt thời gian và không gian đến nỗi mọi người Ðông Tây đều biết, mà còn liên quan mật thiết đến nguồn gốc loài người. Chuyện kể rằng khi Thiên Chúa sáng tạo xong trời đất muôn vật, thấy vũ trụ tuy "trăm hoa đua nở" nhưng vẫn thiếu sinh khi nên dùng đất - ôi! cát bụi lại trở về với cát bụi - để nắn thành người đàn ông, đặt tên là Adam. Thiên Chúa cho Adam ở trong vườn Ðịa Ðàng là nơi đầy hoa thơm cỏ lạ, không chút ưu phiền. Tuy nhiên, tuy được cư ngụ tại một nơi không bao giờ sợ bị "lay off" cũng chẳng phải lo về những chuyện trần tục như "trả bills", "bảo hiểm", "thị trường chứng khoán... trồi sụt" v.v..., nhưng ông tổ Adam thân mến của chúng ta vẫn cảm thấy "buồn man mác, nhớ bâng khuâng" vì thiếu một bóng hồng thân yêu. Một hôm, sau khi ca đi ca lại mãi bản vọng cổ "hỡi ơi nhìn trời hiu quạnh, nhìn trăng, trăng lạnh, nhìn rốn...", cụ tổ Adam chịu đời không thấu bèn than thở cùng Thiên Chúa về cuộc sống cô đơn, thiếu... ướt át của mình. Thiên Chúa thông cảm cảnh "phòng không chiếc bóng" của cụ Tổ nên bẻ một khúc xương sườn của ông Adam - với hàm ý rằng nếu ngươi muốn "liên hệ" với phái đẹp, ta sẽ cho ngay, nhưng trước hết ngươi phải tập làm quen với mùi đau khổ cái đã - để tạo thành một người đàn bà, đặt tên là Eva. Thiên Chúa cho phép hai người được tự do đi lại, "vacation" 24/24 và được phép ăn bất cứ của ngon vật lạ nào trong vười Ðịa Ðàng, ngoại trừ một loại trái cây gọi là Trái Cấm. Kể từ khi có người đẹp Eva bầu bạn, cuộc đời ngài Adam lên hương và phấn khởi thấy rõ. Chỉ có mỗi một việc tận hưởng "tứ khoái". Không phải "cầy" hai ba "jobs" để n àng “shopping” thì không khoái tỉ sao được! Hai ông bà tà tà cùng nhau "kề vai cọ... vế", an hưởng hạnh phúc. Cho tới một ngày kia, có một con rắn do qủi Satan là kẻ thù của Thiên Chúa biến hình, cám giỗ và xúi bà Eva cứ việc bẻ trái cấm mà ăn, vì ai ăn được trái cấm sẽ được trẻ đẹp mãi mãi, không bao giờ cần viếng thăm thẩm mỹ viện, và nhất là còn có nhiều quyền lực hơn cả Thiên Chúa! Bà Eva nghe lời ngon ngọt của qủi dữ bèn năn nỉ ỉ ôi cùng ông Adam để bẻ Trái Cấm. Lúc đầu ông Adam còn nhớ đến lời răn của Chúa nên nhất định từ chối. Về sau, bị bà Eva dùng chiến thuật "nước chảy đá món, trường kỳ kháng chiến", và nhất trúng độc chiêu độc chiêu "bế môn tỏa cảng", ông Adam chịu đời không thấu, đành bẻ Trái Cấm để hai người cùng ăn. Bà Eva vì muốn mau được "trường kỳ" trẻ đẹp và có nhiều quyên lực hơn Thiên Chúa nên "ngốn" hết rất nhanh. Nhưng đúng lúc ông Adam đang nuốt trái cấm còn mắc ngang cổ, bỗng Thiên Chúa hiện ra trách phạt hai người đã không theo lời răn. Vì vậy, các đấng "đực rựa" con cháu của cụ tổ Adam ngày nay còn mang một "cục nợ" chình ình tại cần cổ được gọi là "trái táo Adam" (Adam's Apple). Từ đó, cả ông Adam lẫn bà Eva bị trục xuất khỏi vườn Ðịa Ðàng, đầy xuống trần gian sinh con đẻ cái tạo thành nhân loại đầy khổ ải ngày nay để tiếp tục trả “nợ tổ tông”. Qua câu chuyện lý thú về thủy tổ loài người kể trên, tác giả mạn phép có một đôi lời bàn theo kiểu Mao Tôn Cương. Trước nhất, ngay từ th ơời tạo thiên lập địa, chúng ta thấy ông tổ Adam của giới đàn ông con trai có cuộc sống "đầy đủ tiện nghi", không phải đi làm, cắt cỏ, cào lá, sửa xe v.v... tối ngày chỉ ăn chơi phè phỡn rồi xách vợt đi dợt Tennis trong vườn Ðịa Ðàng. Tuy sung sướng là vậy nhưng cụ Adam vẫn cảm thấy "đời vắng em rồi, dzui mí ai?" Vì vậy, đến ngày nay, nếu có vị tu mi nam tử nào có chết dở sống dở vì các đấng liền bà con gái tưởng cũng là chuyện thường vì chỉ theo gương ông Tổ. Thứ hai, con rắn thật là khôn ngoan, qủi quyệt và rất rành "tâm lý". Biết được các đấng trượng phu hào hoa phong... thấp có thể bách chiến bách thắng nhưng khó qua được cửa ải "quần hồng" nên rắn ta đã khôn ngoan "lòn cửa hậu". Rắn biết "chăm phần chăm" rằng một khi tướng bà đã "OK", mọi chuyện sẽ chắc ăn như cua gạch. Cho dù tướng ông có phản đối đi nữa, nhưng khi đã lọt vào... đồ bát quái của nữ tướng, dù có cứng rắn đến đâu cũng sẽ bị nhũn như con... chi chi. Trong lịch sử Ðông Tây kim cổ, có thiếu gì chuyện phản ảnh qui luật "lệnh ông không bằng cồng bà" này. Chẳng hạn như nàng Thúy Kiều với "làn thu thủy, nét xuân sơn" đã làm đấng anh hùng Từ Hải oai dũng "râu hùm, hàm ém, mày ngài, vai năm thước rộng, thân mười thước cao" bị chết đứng. Gần đây, những câu chuyện "cửa hậu" tại Việt Nam hoặc oai lực của rồng cái biết hút xì gà Monica Lewinsky làm Tông Tông Bill Clinton xiểng niểng tại Hoa Kỳ đã hùng hồn chứng tỏ oai lực này. Thứ ba, câu chuyện trái cấm vườn Ðịa Ðàng này cũng chứng tỏ biệt tài "ăn nhậu" của qúi bà. Mặc dù có câu "nam thực như hổ, nữ thực như miêu", nhưng lúc ăn trái cấm, bà Eva đã "nhẩm xà" phần nhiệm của mình rất nhanh. Trong lúc đó, ông Adam vẫn còn ì ạch nhai nuốt đến nỗi bị Thiên Chúa bắt gặp tại trận chưa nuốt kịp, trái cấm còn kẹt trên cổ. Báo hại cho đến ngày nay, các vị đực rựa còn được "ân hận" mang cục nợ này mà chẳng được tích sự gì!. Có lẽ vì vai trò không đẹp của rắn trong Vườn Ðịa Ðàng nên hầu hết các sắc dân trên thế giới đều dùng rắn để ví von với những hình tượng mang ý nghĩa xấu. Trong tiếng Pháp, "serpent" là con Rắn, nhưng người Pháp cũng dùng chữ "serpent" để chỉ loại người hiểm độc. Thí dụ như "langue de serpent" là ăn nói độc địa; "serpent caché sous fleurs" tức "rắn ẩn dưới hoa" là sự nguy hiểm nằm dưới bề ngoài đẹp đẽ không ngờ "réchauffer un serpent dans son sein" tức "ủ rắn trong ngực" là nuôi họa vào thân hay nuôi ong tay áo. Trong văn học Pháp cũng có giai thoại hai văn hào nổi tiếng có điều xích mích. Một ông làm bài thơ kể chuyện ông kia đi chơi núi bị rắn độc cắn, nhưng kỳ lạ thay không hề hấn gì, mà ngược lại, con rắn lại bị chết! Người Anh cũng có nhiều câu nói không đẹp về rắn. Thí dụ như ""snake in the grass" đồng nghĩa với "serpent sous fleurs"; "speak with forked tongue" là miệng lưỡi ăn nói độc địa như lưỡi rắn; "lower than a snake's belly" để chỉ loại người đê tiện, hèn hạ, xảo trá, hèn hạ như không còn gì thấp hơn. Những câu nói này đều rất đúng nếu đem áp dụng vào đám đầu xỏ Việt Cộng. Người Trung Hoa khi gặp nhau cũng thường chào hỏi bằng câu "Vô xà hồ?" nghĩa là không gặp chuyển chẳng lành gì chứ? Sau khi đọc những chuyện “rắn rết cùng với ông Adam và bà Eva, chắc qúi độc giả cảm thấy cũng có đôi phần lý thú? Vậy "thừa thắng xông lên" và cũng để được tiếng vui xuân vẫn không quên chiến sĩ, nay xin "phiếm" thêm về phái nữ cho đúng câu "kính nữ đắc thọ". Vào dịp đầu năm, các bà các cô thường có "thuần phong mỹ tục" đi xin xâm, hái lộc, coi bói, xem tướng v.v... nên thiết tưởng nên kể vài mẫu chuyện đến tướng số của phái nữ có liên quan tới rắn. Chả là ngày xửa ngày xưa, theo quan niện "nam nữ thụ thụ bất thân" nên nhiều khi cho tới khi thành gia thất, đôi trai gái vẫn chưa hề được gặp mặt nhau chứ đừng nói đến chuyện "xào khô, xào ướt" hoặc cằm tay cầm chân, bẻ giò bẻ cẳng hôn hít chùn chụt như thời vệ tinh nguyên tử bây giờ. Tuy nhiên, không phải vì vậy mà các cụ ta nhắm mắt lấy mò, vì các vị nam phụ lão ấu từ thời Hồng Bàng đã luôn luôn thực hành câu "lấy chồng xem tông, lấy vợ xem giống". Tuy nhiên, "xem" đây không phải là "vạch trần" ra mà coi như thời đại văn minh bây giờ. Với quan niệm tam tòng tứ đức "công dung ngôn hạnh" thời xưa, sức mấy mà coi được cái... giống của qúi vị liệt nữ! Ðiều quan trọng khi cưới vợ là phải chọn được cô nào có tướng "vượng phu ích tử", tránh các vị liền bà mang tướng "thương phu trích lệ" hoặc lưỡng quyền cao là tướng sát phu v.v... Vì vậy, phải nhờ những vị chuyên rờ mu rùa "xem mặt mà bắt hình dong" theo kiểu "cái miệng làm sao, cái ngao làm vậy". Kinh nghiệm mấy ngàn năm của các đệ tử thầy Qủi Cốc về tướng số nữ giới được cô đọng thành một bài thơ tứ tuyệt không tiện "ngâm" trong lúc đầu xuân, chỉ biết trong đó có những chữ "hồng diện, trường mi, chiết yêu, trường túc" để mô tả những "quái" tướng của các vị liễu yếu đào tơ. Rất tiếc, vào dịp đầu xuân tết nhất, dù có uống mật gấu tác giả cũng không giám công khai diễn nôm nguyên văn cũng như nguyên nghĩa... đen chùi chũi như mõm chó của bài thơ, chỉ giám lạng quạng giải thích phần nào. "Hồng diện"có nghĩa là mặt màu hồng, do dó "đào" đẹp còn được gọi là "hồng phấn mỹ nhân" hay "hồng nhan tri kỷ". "Trường mi" là lông mi dài, được mệnh danh là "mi thanh mục tú". "Chiết yêu" là lưng hay eo thon, do đó tục ngữ ta có câu "những người thắt đáy lưng ong, vừa khéo "chiều" chồng, vừa khéo nuôi con". "Trường túc" là chân dài, được đánh giá là "trường túc bất tri lao". Nếu nghiệm ra, bài thơ tướng số nói trên đúng phóc không chỗ chê. Chúng ta hãy nhìn kỹ những mỹ nhân đông tây kim cổ, từ Cléopatra, Marie Antionette đến Tứ Ðại Mỹ Nhân hoặc các vị liền bà con gái trong các tuồng chưởng như Hân Tố Tố, Chu Chỉ Nhược, Hoàng Dung, Triệu Minh Quận Chúa v.v... cho đến tận ngày nay, phái yếu luôn luôn chú trọng tới chuyện "má hồng" (hồng diện) bằng cách tô son điểm phấn. Mục "tô lục chuốt hồng" này còn lan cả đến môi đưa tới các mục "xâm", có vị còn đi quá xa "chơi" luôn phần "hình nhi hạ" nữa! Còn vụ lông mi dài "trường mi" thì khỏi phải nói! Ngoài các mục xâm, cấy, mang lông mi giả, có vị còn xài thuốc "thoa đâu mọc đó. Eo thon "chiết yêu" có lẽ được các vị nữ lưu chú ý nhất cùng với mục "ngực nở", vì vậy mới có những chuyện nhịn ăn, hút dầu hút mỡ để vòng số 2 nhỏ đi được vài "inches". Riêng vụ chân dài "trường túc" rất quan trọng đối với các bà các cô Giao Chỉ tương đối "ngắn đòn", vì vậy những giầy cao gót cỡ 10 phân được các vị này nồng nhiệt chiếu cố. Ðến đây, thế nào cũng có một số qúi vị độc giả thân mến lên tiếng trách móc rằng cái "vốn trời cho" của qúi vị liền bà con gái có liên quan gì đây đến chủ đề rắn mà tác giả khai thác kỹ đến như vậy? Qúi vị khoan nóng tính, hãy bình tĩnh rót ly trà, nhâm nhi miếng mứt để coi "hồi sau sẽ tiếp". Chẳng lẽ với 4,000 năm văn hiến, số mạng các bà các cô là sinh vật quan trọng nhất trên quả địa cầu chỉ bao gồm trong 4 câu thơ... ngắn ngủn như vậy, phái yếu sẽ chẳng hài lòng. Thật ra, các cụ ta không những chỉ căn cứ vào bài thơ trên mà còn xem kỹ tướng ăn, tướng ngồi, tướng đứng, tướng đi để chọn con dâu tương lai. Một trong những "quái tướng" được các cụ để ý là tướng đi "vặn mình xà" hay gọi tắt là "xà hành". Tướng đi độc đáo này chỉ có những bà những cô "chiết yêu, trường túc" mới đủ công lực để trình diễn. Tác giả vì không được hân hạnh thuộc giới "quần vận yếm mang" nên khó bề diễn tỏa. Tuy nhiên, qúi vị hãy để trí tưởng tượng làm việc, hình dung khúc mình "giây" của con rắn lúc di chuyển, thân hình đong đưa, khi sang đông, lúc về tây, lên thác xuống ghềnh, trông thật uyển chuyển và mềm mại, thật "đã con mắt" phải không qúi vị? Nay nếu lại có cả một tòa thiên nhiên "dầy dầy sẵn đúc" đặt trên cái "foundation" ẹo qua ẹo lại đó, thật là hết xảy, không bút mực nào tả xiết! Muốn biết thêm chi tiết về thế đi hào hứng "vặn mình xà" này, cứ tìm hỏi các đấng đực rựa dạo trước thường đóng đô rửa mắt tại Brodard hay Givral đường Tự Do hoặc Nguyễn Huệ của thủ đô Sài Gòn xa xưa sẽ rõ. Sang qua mặt y dược, người Á đông đã dùng một số loài rắn như cạp nong (rắn mai gầm) (Bungarus fasciatus Schneider ), rắn hổ (Elapidae) rắn cạp nia (rắn mai gầm bạc) v.v..làm thuốc từ lâu. Người Việt Nam ta thường quan niệm rắn càng độc lại càng “nên thuốc”, tương tự như “càng đẹp càng độc” hay “hồng nhan họa thủy” khi luận về liền bà con gái! Thịt rắn chứa nhiều protein, acid amin, thường dùng dưới dạng ngâm rượu thuốc gồm 1 bộ 3 con gọi là tam xà (1 hổ mang, 1 cạp nong, 1 rắn ráo), hoặc bộ 5 con gọi là ngũ xà (1 hổ mang, 1 cạp nong, 1 cạp nia, 2 rắn ráo). Cũng có thể làm thành dạng viên chữa đau nhức khớp xương, tê bại, nhọt độc. Nọc rắn rất độc do có các enzym và protein độc, thường được dùng dưới dạng thuốc chích, thuốc mỡ chữa tê thấp, giảm đau cho bệnh nhân ung thư, hạn chế phát triển khối u. Mật rắn chứa các loại acid mật chữa phong thấp, khớp xương, đau lưng, sốt kinh giản ở trẻ em, ho, hen suyễn, dùng dưới dạng siro, rượu thuốc Xác rắn (xà thoái) chữa động kinh, co giật ở trẻ em, đau cổ họng, ghẻ lở. Dùng 6-12g một ngày, dưới dạng thuốc sắc hay sao vàng tán bột uống, ngâm cồn bôi ngoài. Mỡ rắn được dùng để chữa phỏng lửa.   Qua tới phần tướng số để lấy hên đầu năm, người sinh vào những năm 1917, 1929, 1941, 1953, 1965, 1977, 1989, 2001 người tuổi rắn (Tỵ). Nói chung người tuổi Tỵ ưa thích hài hước, song cũng có trường hợp ngoại lệ. Một số người lãnh đạm, lạnh lùng, một số khác lại thường trêu đùa, chế giễu người khác, nhưng khi gặp lúc nguy cấp họ có thể hâm nóng bầu không khí bằng cách pha trò vui vẻ, ngay cả khi họ chịu áp lực nặng nề cũng chẳng chút hốt hoảng. Người sinh năm Tỵ có thể trở thành nhà triết học, thần học, nhà chính trị và cũng có thể là một nhà tư tưởng sâu sắc. Họ là người bí ẩn nhất trong số mười hai con giáp và có trí tuệ đặc biệt bẩm sinh. Người tuổi Tỵ nho nhã, lịch sự, rất thích đọc sách nghe nhạc, thích ăn ngon và xem kịch. Những cô gái xinh đẹp nhất, nổi bật nhất, các chàng trai cá tính mạnh mẽ thường sinh vào năm Tỵ, cho nên nếu bạn sinh năm Tỵ, chắc hẳn bạn sẽ có một vận mệnh tốt đẹp. Nhìn chung, nữ giới tuổi Tỵ vốn là một mỹ nữ. Cô tự tin, ung dung và thong thả. Họ yêu thích thời trang, ăn mặc đúng mốt. nhưng không mấy quan tâm đến vấn đề bình đẳng nam nữ cô còn hiền lương, thẳng thắn, trong sáng, thuần khiết, lễ phép. Nam giới tuổi Tỵ thường hướng tới cuộc tình cháy bỏng, mãnh liệt. Vì vậy, trong suốt cuộc đời, họ luôn được phái nữ vây quanh, là một mẫu phong lưu điển hình. Về sức khỏe, người tuổi Tỵ dễ bị rơi vào căng thẳng khi cuộc sống của họ không theo đúng thứ tự. Họ thích một cuộc sống bình yên, họ chọn sự yên tĩnh chứ không chọn sự náo nhiệt và thích loại công việc dễ xử lý hơn là loại công việc bận rộn. Về Sự nghiệp, người sinh năm Tỵ rất giàu tính sáng tạo và làm việc chăm chỉ vô cùng. Họ đặc biệt giỏi về giải quyết vấn đề và tự hạn định thời gian cho mình rất chặt chẽ. Họ cũng có thể trở nên quyến rũ và mê hoặc để thu hút mọi người quanh họ. Sang mặt tình duyên những người tuổi Tỵ là người chịu trách nhiệm trong các mối quan hệ và họ sẽ là người quyết định xem có nên tiếp tục mối quan hệ đó hay không. Một khi đã lựa chọn được người bạn đời, họ sẽ không ngại công khai điều đó. Người bạn đời của họ sẽ giống như một phần thưởng mà họ giành được sau bao lâu mong ước, họ trở nên ghen tuông và thậm chí là bị ám ảnh khi họ bảo vệ người ấy. Quan trọng là không bao giờ được phản bội người tuổi Tỵ, vì một con rắn bị phản bội sẽ trả thù rất ghê gớm. Tuổi Tỵ hạp với tuổi Dậu, Sửu, nhưng xung khắc với tuổi Dần, Thân và Hợi Ngoài ra, sách "Tử Vi Ðẩu Số" do Qủy Cốc Tử sáng tác từ thời cụ Bành Tổ cũng có khá nhiều lời bàn ... Mao Tôn Cương rất lý thú về vận mạng của những người mang cốt rắn. Liền bà con gái tuổi Tỵ thường rất đẹp, khôn ngoan lanh lợi, hấp dẫn như Marilyn Monroe hay ít ra cũng "xexy" nhu Monica Lewinsky! Các nàng này ưa thích thời trang, ăn diện rất "hiện đại" và đúng "mode". Tuy nhiên, loại phụ nữ "rắn" này lại thích cuộc sống trong tổ ấm gia đình và có máu ghen khủng khiếp khiến Hoạn Thư cũng phải chạy mặt! Các chàng tốt số vớ được cô vợ tuổi Tỵ cần đề cao cảnh giác, nếu lạng quạng với đào nhí hay thích mục bia ôm sẽ có ngày bị hổ mang ... bành mổ thác hoặc biến thành bà con với anh chàng Bobbit chẳng mấy hồi! Liền ông con trai tuổi Tỵ cũng rất quyến rũ, chải chuốt theo kiểu "mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bảo". Phái nữ sa vào tay loại "lady killer" này cần "thủ" kín, nếu sơ ý cởi mở sẽ bị "mổ" tan tác! Sách "Giải Ðiềm Ðoán Mộng" cũng nói "duy hùng duy bi, nam tử chi tường; duy hủy duy xà, nữ tử chi tường", nghĩa là các bà có mang nằm chiêm bao thấy gấu là điềm sinh con trai, thấy rắn l à dấu hiệu sinh gái. Vì vậy, trong truyện "Nhị Ðộ Mai" (Hoa Mai Hai Lần Nở) mới có câu thơ: Hiếm hoi mới được mộng xà Vân Tiên là gái, mặt hoa khuynh thành" Ngược lại, nằm mơ thấy hoa lan lại sinh con trai như trong thơ "Bần Nữ Thán" (Gái Nghèo Than Thân) nói về chuyện lân gia hàng xóm sinh con đẻ cái: Kìa như động bích lân gia Kẻ đà bốc phượng, người đà mộng lan" Sau khi du lịch vòng quanh thế giới để xem rắn, mời qúi vị trở về xứ Giao Chỉ "ta về ta tắm ao ta" để nghe chuyện rắn "quê hương". Chẳng nơi nào đẹp và "nhiều chuyện" bằng nơi chôn nhau cắt rốn phải không qúi vị? Trong văn chương Việt Nam, có nhiều câu tục ngữ ca dao cùng huyền thoại hay ho liên quan tới rắn. Trong kho tàng cổ tích dân gian có truyện Trạng Quỳnh vẽ rắn khiến vua quan Tàu phải lắc đầu thán phục. Nguyên Trạng Quỳnh được vua ta cử đi sứ sang Tàu để bàn chuyện giao hảo giữa hai nước. Vua quan Tàu muốn làm nhục sứ nước Nam nên bày ra cuộc thi vẽ, với điều kiện khi dứt ba tiếng trống, phải vẽ xong một con vật. Dĩ nhiên, vua Tàu đã chọn sẵn một họa sĩ chuyên vẽ súc vật tài giởi nhất trong nước đã tập dượt thuần thục vẽ rất nhanh một con vật. Trạng Quỳnh biết ý định thâm độc của vua Tàu, nhưng vẫn bình tĩnh coi như không. Ðến ngày thi, mỗi bên được cấp một tờ giấy, môt ngọn bút lông và một nghiên mực. Khi tiếng trống đầu tiên vừa dứt, Trạng Quỳnh đã nhúng cả mười đầu ngón tay vào nghiên mực rồi vẽ vẽ ngoằn ngoèo trên giấy trong lúc họa sỉ Tàu còn chưa vẽ được gì. Khi nộp bức tranh, vua Tàu bắt bẻ cho rằng Trạng Quỳnh vẽ chẳng ra hình thù gì cả. Ông biện bạch thưa là đã vẽ xong mười con rắn đang bò khi mới dứt một tiếng trống. Thế là vua Tàu bị đuối lý, đành phải để Trạng Quỳnh thắng cuộc thi vẽ. Tục ngữ cũng có câu "cõng rắn cắn gà nhà" để chỉ phường Việt gian bán nước, cam tâm là đầy tớ cho ngoại bang, cúi đầu khom lưng cõng chủ về để làm hại đồng bào. Câu này rất đúng trong trường hợp bọn Việt Cộng trước đây cõng con rắn trắng Nga Sô, hiện lại cõng con rắn đỏ Trung Cộng về cắn đồng loại. Ấy vậy mà con cháu cáo Hồ ngoài miệng vẫn ngon ngọt hô hào tự do độc lập, nhưng lại chủ trương độc tài đảng trị kìm kẹp dân chúng, thật là một bọn "khẩu Phật tâm xà". Ðối với con rắn độc Cộng sản, chúng ta cần phải tiêu diệt hoặc tránh xa, không thể nghe lời dụ giỗ đường mật của chúng ca bài "giao lưu" hay "hòa hợp hòa giải" vì như Esape đã nói "nếu bạn sưởi ấm con rắn trong lòng, khi hồi sức, nó sẽ cắn bạn ngay". Bọn Việt Cộng cũng chuyên nghề "vẽ rắn thêm chân", bày vẽ nay luật này, mai lệ nọ để làm khó dễ hầu móc túi nhân dân với thủ tục "đầu tiên".Nói tóm lại, bọn Cộng Sản nguy hiểm và độc như "miệng hùm, nọc rắn", không thể khinh thường được. Ngoài tục ngữ ca dao, văn chương Việt Việt Nam còn có chuyện rắn rấy ký thú liên quan tới ông Bảng Nhãn Lê Qúi Ðôn (1726 - 1784), người xã Diên Hà, tỉnh Sơn Nam (Thái Bình ngày nay)tỉnh, con của Tiến sĩ Hình Bộ Thượng thư Lê Phú Thứ đời Dụ Tông thời chúa Trịnh Cương. Ô ng nổi tiếng là thần đồng. Lên năm tuổi học Kinh Thi, mỗi ngày thuộc cả chục dòng sách. Mười một tuổi, mỗi ngày học Sử ông thuộc tám, chín chương. Mười bốn tuổi đã thông hết Ngũ kinh, Tứ thư, Sử, Truyện. Trong một ngày có thể làm 10 bài phú, không phải nghĩ, không viết nháp. Mười tám tuổi thi Hương đậu Giải Nguyên. Hai mươi bảy tuổi thi Hội, thi Ðình đậu Tam Nguyên Bảng Nhãn. Ông để lại nhiều tác phẩm giá trị với đủ thể loại (triết, văn, sử, địa, ngôn ngữ ...kể cả khoa học nữa) nên người đời sau tôn ông là một nhà bác học. Ông còn có tục danh là Lê Danh Phương, tự là Doãn Hậu, hiệu là Quế Ðường. khi còn nhỏ là một đứa bé tuy thông minh nhưng rất tinh nghịch, khó dậy, rắn mắt và cứng đầu cứng cổ. Tương truyền thuở nhỏ, một hôm ông đang cởi truồng tắm s ông với các bạn, bỗng gặp một quan Thượng hỏi thăm nhà. Ông liền đứng dạng chân và dang tay ra bảo quan Thượng: - Nếu ông biết được cháu đang ra dấu chữ gì, cháu sẽ chỉ nhà cho ông. Quan Thượng cũng tha thứ cho sự nghịch ngợm của tuổi trẻ nên bỏ đi. Ông cười ầm lên và bảo với các bạn: - Ông ấy làm quan to mà không biết chữ các bạn ơi! Quan Thượng bực mình quay lại nói: - Trẻ con đừng hỗn láo. Mày mới học lỏm được chữ Ðại ( ) mà đã dám đi trêu chọc người rồi. Ông càng cười to hơn: - Thế thì ông không biết chữ thật! Có cái chấm ở dưới nữa thì là chữ Thái ( ) chứ sao lại chữ Ðại !? Khi quan Thượng vào nhà ông Lê Phú Thứ, mới biết cậu bé ấy là con của bạn mình. Ông kể lại câu chuyện dọc đường. Ông Thứ liền gọi con ra trách mắng và đánh đòn. Quan Thượng thấy bé Đôn thông minh nên xin tha, với điều kiện phải ứng khẩu một bài thơ tạ lỗi. Ông xin quan Thượng ra đầu đề. Quan Thượng nói: - Cha cháu vừa nói cháu là đứa bé "rắn đầu rắn cổ", vậy cháu cứ lấy đó làm đề bài. Ông Lê Qúi Đôn ngẫm nghĩ một lát rồi đọc bài thơ "Rắn Ðầu Biếng Học” như sau: Chẳng phải liu điu cũng giống nhà, Rắn đầu biếng học lẽ không tha. Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ, Ráo mép chí quen phường láo lếu, Lằn lưng chẳng khỏi vệt dăm ba. Từ nay Trâu, Lỗ xin chăm học, Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia. Bài thơ này không những ngụ ý xin lỗi cha mẹ về tội "rắn đầu" của mình mà mỗi câu thơ đều mang tên một loại rắn như liu điu (rắn nhỏ), hổ lửa, mai gầm, rắn ráo, thằn lằn, hổ mang v.v... Trâu là nước Trâu, quê hương của thày Mạnh Tử Lỗ là nước Lỗ, quê của "Vạn Thế Sư Biểu" Khổng Tử. Quan Thượng phải tấm tắc khen là kỳ tài! Sau khi làm bài thơ này, quả nhiên ông Lê Qúi Ðôn giữ đúng lời hứa, chăm chỉ học hành, thi đỗ Bảng Nhãn, làm quan nhất phẩm triều đình. Ông còn để lại nhiều áng văn chương và bộ sử rất giá trị. Ngoài chuyện văn chương thi phú của ông Bảng Nhãn Lê Qúi Ðôn có liên quan tới rắn, lịch sử nước ta còn có một huyền thoại về rắn dính dáng tới đệ nhất khai quốc công thần Nguyễn Trãi đời nhà Lê. Ông Nguyễn Trãi thi đỗ Tiến Sĩ vào năm 1400, là con của Bảng Nhãn Nguyễn Phi Khanh. Khi cha bị giặc Minh bắt giải về Kim Lăng, ông theo cha lên tận ải Nam Quan không chịu trở về. Ông Phi Khanh bảo con:"Con phải về nhà lo việc trả thù cho cha, rửa thẹn cho nước, chứ đi theo khóc lóc mà làm gì?" Nghe lời cha, ông Nguyễn Trãi trở về, ngày đêm lo việc trả thù nhà, nợ nước. Gặp lúc Bình Ðịnh Vương Lê Lợi đem quân về đóng ở Lỗi Giang thuộc vùng Thanh Hóa, Nghệ An, ông vào yết kiến và được dùng làm quan Tham Mưu. Về sau, ông Nguyễn Trãi giúp vua Lê lập được nhiều công lớn trong việc đánh đuổi giặc Minh. Chính ông đã bày mưu dùng mỡ viết trên lá cây hàng chữ "Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần, Lê Lai vi tướng" (Lê Lợi là vua, Nguyễn Trãi là quan, Lê Lai là tướng) rồi để kiến ăn, đục thành chữ. Ông cho thả những lá cây này theo dòng nước chảy tới chỗ đông dân cư. Dân chúng thấy được những lá cây có hàng chữ này, nghĩ đây là điềm trời báo trước nên tin tưởng và nô nức theo Bình Ðịnh Vương rất đông. Khi dẹp xong quân xâm lăng dành lại nền độc lập cho xứ sở, ông Nguyễn Trãi làm bài "Bình Ngô Ðại Cáo" là một áng văn chương tuyệt tác để tuyên cáo cho thiên hạ được rõ về chiến công của vua Lê. Ðến khi về già, ông Nguyễn Trãi cáo quan về trí sĩ tại Côn Sơn thuộc vùng Chí Linh, Thanh Hóa, lấy biệt hiệu là Ức Trai để hưởng thú thanh nhàn. Tục truyền một hôm ông làm vườn, chẳng may lưỡi cuốc chém phải một ổ rắn, giết chết bầy rắn con, chỉ còn rắn mẹ bị thương chạy mất. Ðêm đó khi Ức Trai tiên sinh ngồi đọc sách tại thư phòng, bỗng có một giọt máu từ trên xà nhà nhỏ xuống trúng vào chữ "Ðại" (có nghĩa là "đời" hay "thế hệ"). Vết máu thấm qua 3 trang giấy. Ông Nguyễn Trãi ngước nhìn lên, thấy một con rắn cụt đuôi còn vấy máu từ trên xà nhà phóng mình ra ngoài chạy mất. Cụ tưởng rằng đây chỉ là một chuyện ngẫu nhiên nên chẳng để ý. Mấy hôm sau có một cô bán chiếu rất xinh đẹp đi ngang mời cụ mua chiếu. Thấy cô hàng có duyên, cụ liền ứng khẩu bài thơ có ý trêu chọc: “Ả ở nơi nào bán chiếu gon? Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn? Xuân xanh nay được bao nhiêu tuổi? Ðã có chồng chưa? Ðược mấy con?" Cụ Nguyễn Trãi lúc đó là một vị quan lớn, dù đã trí sĩ, nhưng thân phận rất cao, nên bài thơ có tính cách bỡn cợt và hơi trịch thượng. Không ngờ gặp phải cô hàng chiếu tên Nguyễn Thị Lộ đanh đá cũng chẳng vừa gì. Thị Lộ bèn trả lời bằng cách ứng khẩu một bài thơ họa nguyên vận như sau: “Tôi ở Tây Hồ bán chiếu gon, Cớ sao ông hỏi hết hay còn? Xuân xanh mới độ trăng tròn lẻ, Chồng còn chưa có, hỏi chi con?" Câu cuối của bài thơ tuy ngụ ý cô hàng chưa có chồng nên hỏi chi đến chuyên con cái, nhưng cũng có ý trả đũa sự khinh miệt của cụ Nguyễn, vì "hỏi chi con" còn hàm ý coi cụ Nguyễn như "con", "hỏi làm chi vậy hả con?" Cụ Nguyễn thấy cô hàng chiếu vừa xinh đẹp, lại có tài thi phú mẫn tiệp nên sau này cưới về làm nàng hầu. Sử chép vào tháng bảy năm Nhâm Tuất (1442), nhân dịp đi duyệt binh ở Chí Linh, vua Lê Thái Tông ghé Côn Sơn thăm lão thần Nguyễn Trãi. Nhà vua thấy Thị Lộ có tài sắc nên truyền chỉ bắt nàng đi theo hầu. Chẳng may trên đường về khi tới huyện Gia Ðịnh thuộc tỉnh Bắc Ninh thì vua băng hà. Triều đình đổ tội cho Thị Lộ giết vua, ghép cho Nguyễn Trãi tội âm mưu rồi xử "chu di tam tộc". Sau này, có người cho rằng Thị Lộ chính là con rắn mẹ biến hình để trả thù xưa. Giọt máu nhỏ vào chữ Ðại thấm qua ba trang giấy ngụ ý báo trước món nợ sẽ phải trả bằng máu của ba đời giòng họ Nguyễn. Mãi đến 22 năm sau, vua Lê Thánh Tông xét lại vụ án vì vợ nhà vua tên là Nguyễn Thị Hằng là cháu bốn đời của bà Châu Thị, vợ cả của ông Nguyễn Trãi. Vua thấy nhiều điều oan ức nên truyền hủy bỏ bản án trước, phục chức cho ông Nguyễn Trãi. Có người cho rằng đại thần Lê Sát vì thấy ông Nguyễn Trãi được vua Lê Thái Tổ trọng vọng nên sinh lòng đố kỵ, lợi dụng cơ hội để sát hại công thần. Ðó là vụ án lịch sử Lệ Chi Viên. Kể xong một số truyện rắn trong dã sử, tới đây tác giả thấy nên đổi đề tài, xoay qua những chuyện cổ tích. Theo các ông bà thuở xưa, rắn có thể tu luyện thành tinh và lột da sống đời. Những "mãng xà tinh" này đều có viên ngọc trong đầu gọi là ngọc rắn, nếu người nào có viên ngọc này sẽ có thể nghe được tiếng nói của loài vật. Ngày xưa, có một anh học trò nghèo tên Công Dã Tràng vì cứu được một gia đình rắn nên được rắn chúa trả ơn bằng cách nhả cho môt viên ngọc. Một hôm, Dã Tràng ngậi viên ngọc rắn trong miệng đi vào rừng, chợt nghe bầy kiến xôn xao bảo nhau phải dời tổ lên cành cây cao vì trong vòng ba ngày sẽ có mưa lụt lớn. Nghe được tin này, Dã Tràng bèn tức tốc báo cho quan huyện sở tại để ra thông tri cho dân chúng chuẩn bị tránh nạn hồng thủy. Quả nhiên ba ngày sau trời đổ mưa tầm tã là vỡ đê gây lụt lớn. Nhưng dân cư trong vùng không bị thiệt hại vì đã đề phòng trước. Quan huyện tâu với triều đình vì Dã Tràng có ngọc rắn nghe được tiếng loài vật nên đã biết truớc có nạn lụt. Nhà vua rất thích, cho với Dã Tràng vào cung, ban cho một chức quan nhỏ để có thể cùng Dã Tràng du ngoạn đó đây, cùng nghe tiếng loài vật. Môt hôm, vua ngự thuyền rồng cùng Dã Tràng ra biển nghe tiếng cá. Chợt nhà vua nghe thấy một cặp cá vừa thong dong bơi lội, vừa thân mật trò chuyện với nhau. Thích quá, vua há miệng ra cười khiến viên ngọc rắn rơi xuống biển. Dã Tràng tiếc ngọc, nhảy xuống biển mò nên bị chết đuối. Tuy đã chết nhưng Dã Tràng vẫn muốn tìm viên ngọc nên biến thành con dã tràng là một loài cua nhỏ, hàng ngày bò lên bãi biển lấy cát mong lấp biển nhưng vẫn không bao giờ tìm lại được viên ngọc. Vì vậy, người đời thường ví những ai làm những việc không thể thực hiện được la "uổng công đã tràng". Trong dân gian cũng có câu: "Dã Tràng xe cát biển Ðông, Nhọc mình mà chẳng nên công cán gì" Tưởng cũng nên nói bên Tàu cũng có khá nhiều chuyện rắn liên quan. Thí dụ như chuyện Lưu Bang chém rắn. Nguyên dưới triều bạo chúa Tần Thủy Hoàng, Lưu Bang là đình trưởng tại huyện Phong Bái. Một hôm quan huyện sai Lưu Bang dẫn một toán dân phu đi xây thành tại Ly Sơn, tất cả bàn nhau bỏ trốn vì công việc quá nặng nhọc, sớm muộn gì cũng sẽ chết. Ði đến gần hẻm núi Mang Ðãng, bỗng gặp một con rắn trắng cực lớn nằm cản ngang đường. Mọi người đều nhốn nháo sợ hãi, riêng Lưu Bang vẫn điềm nhiên nói: "Ðại trượng phu không vì trở ngại mà lùi bước". Nói xong liền cầm kiếm chém con rắn đứt làm hai, giúp mọi người thoát nạn. Sau này, khi cùng Hạng Vũ diệt xong nhà Tần, Lưu Bang tuy được phong làm Hán Vương, nhưng vì Hạng Võ nghe lời quân sư Phạm Tăng, muốn diệt trừ hậu hoạn nên bị đưa đi trấn nhậm vùng Quan Trung là nơi địa thế vô cùng hiểm trở, ra vào chỉ có một đường lát bằng gỗ dài, chừng 300 dậm gọi là Sạn đạo. Tuy bị đày vào nơi hiểm địa, Lưu Bang cùng với quân sư Trương Lương và Nguyên Soái Hàn Tín giốc chí chiêu binh mãi mã để chờ ngày tiêu diệt Sở Bá Vương Hạng Võ. Khi lực lượng đã mạnh, Hàn Tín dùng kế nghi binh "Minh tu Sạn đạo, ám độ Trần Thương", giả bộ cho quân sửa sang lại Sạn đạo, nhưng kỳ thực lại cho quân lẻn qua hẻm núi Trần Thương để đánh bọc hậu quân Sở. Dọc đường, quân Hán bị một con rắn khổng lồ mắt to, sáng như hai ngọn đèn, miệng đỏ đe dọa, nhưng bị tướng Ngập Hấp chém chết. Thấy xác rắn quá lớn, mọi người đều khiếp sợ. Hàn Tìn nói: "Thời thượng cổ tại núi Côn Lôn chu vi ba vạn dậm, thế mà có con rắn lớn quấn quanh núi ấy". Câu chuyện rắn này làm chúng ta liên tưởng tới huyền thoại có con rắn cực lớn quấn quanh trái đất để nâng đỡ. Cuối cùng, khi Hán Sở tranh hùng, Lưu Bang với sự trợ giúp đắc lực của quân sư Trương Lương và Nguyên Soái Hàn Tín đã đánh bại Hạng Võ trong trận Cửu Lý Sơn khiến Hạng Võ phải tự sát tại bến Ô Giang cùng người đẹp Ngu Cơ. Do đó, điềm chém rắn ngày trước đã ứng nghiệm vào việc Lưu Bang diệt nhà Tần và Sở, mở nghiệp nhà Hán. Trong truyện chưởng Cô Gái Ðồ Long cũng kể Trương Vô Kỵ học được nghề y của Tiết Thần Y nên sau này cứu sống được vợ của một danh sư bị "linh chi xà" cắn. Nãy giờ nghe kể chuyện Rắn từ Ðông sang Tây, chắc qúi vị độc giả thân mến của bổn báo nếu không khát nuớc, thế nào cũng cảm thấy đói bụng. Vì vậy đã tới lúc bàn tới chuyện ăn uống liên quan tới rắn. Tuy da số chúng ta thường coi rắn là một sinh vật đáng sợ, cần phải tránh xa, nhưng người Việt thuộc vùng Nam Kỳ Lục Tỉnh lại hay bắt rắn để làm món... nhậu! Những ai từng có dịp qua lại vùng Cần Thơ, Long Xuyên, Vĩnh Long, Sa Ðéc, Cao Lãnh... chắc khó quên những quán nhậu thịt rắn nổi tiếng, có nhiều món rất ngon, giá cả lại rất "bình dân". Tại Tây Ðô Cần Thơ có quán nhậu Vĩnh Ký nổi tiếng về món rắn và rùa. Tại Long Xuyên có quán Ba Vị vang danh không kém. Các vị đệ tử thần Lưu Linh thường có câu "nhất rắn nhì rùa" để ca tụng hai món mồi "bắt" nhất của dân làng nhậu. Dạo còn phục vụ trong quân chủng Hải Quân, tác giả có dịp hành quân vùng Cao Lãnh, Ðồng Tháp Mười, thường thấy rắn đủ loại, kể cả trăn, được đem bán ngoài chơ Tân Châu, Hồng Ngự, An Long, Phuớc Xuyên v.v... cùng với lươn và chuột, nhất là vào mùa nước nổi. Dân vùng này nói là khi nước dâng lên ngập các cánh đồng, rắn và chuột bị ngộp nước phải bò ra khỏi hang để leo lên cây hay những gò đất cao. Lúc đó họ chỉ việc chèo xuồng dùng chĩa để đâm hay dùng dây thòng lọng bắt bỏ vào giỏ. Theo lời bàn tán của các tay nhậu nhiều kinh nghiệm thường kể trên bàn rượu, tuy loại rắn bông súng là món nhậu phổ thông nhất, nhưng ngon nhất phải kể tới thịt rắn hổ vì "rắn càng độc, thịt càng ngon" tương tự như "đàn bà càng đẹp lại càng độc"! Nói đến vùng đất miền Nam Việt Nam là nói đến rừng rậm có nhiều chim muông và thú dữ, cá tôm đầy đồng, ruộng lúa bạt ngàn... trong đó loại bò sát như rùa, rắn nhiều vô kể: rắn nước, bông súng, ri cá, rắn gáo... Rắn có nọc độc như: rắn hổ mang, hổ đất, nơi rừng rậm hoang vu là môi trường lý tưởng cho chúng sinh sống và phát triển . Vào mùa nắng chúng ở những bụi rậm, gốc cây, gò đống ngoài đồng hoặc đào hang trú ẩn để sinh đẻ, người ta dùng thuật bắt rắn ngay được bằng tay không, dù rắn độc mấy cũng không hại được. Còn vào mùa nước lên, chúng leo lên cây để tránh nước, đây cũng là cơ hội để con người tha hồ mà bắt. Rắn quấn khoanh tròn theo nhánh cây nằm yên như bất động, người bắt rắn chỉ cần mũi chĩa phụp vào là đúng mục tiêu, rắn chỉ cựa quậy không sao thoát khỏi, con nào ngoan cố kiếm đường tẩu thì rơi xuống nước liền bị đập vào lưng nằm ngay đơ bất tỉnh, người bắt rắn để ăn đập cho chết luôn, còn người bắt rắn để bán, thường đập cho rắn bất tỉnh. Sau đó họ bắt bỏ vào bao, rắn có sức chịu đòn mạnh lắm, thấy nó phơi mình chớ không chết đâu (người ta nói nó làm bộ chết, nếu ai không biết sơ ý sẽ chết vì nó). Rắn hổ mang là món ăn quý, ngày xưa thường dùng để đi lễ quan trên và đãi khách. Bắt rắn về, người ta cắt cổ lấy máu nó hòa với rượu uống trị bệnh phong thấp đại tài, sau đó đem đốt trên lửa rồi cạo vẩy (gọi là làm lông), mổ bụng, lấy mật có người dám nuốt sống, người ta nói mật rắn hổ cũng trị được nhiều chứng bệnh lại bổ khỏe nữa. Người ta lấy mật rắn hổ đất đem phơi khô để dành trong gia đình có ai mới vừa sinh con đem mật này mài, hay ngâm với nước cho uống sau này không bị bệnh hen xuyễn. Làm rắn xong phải bỏ đầu, bỏ đuôi vì họ cho rằng trong đó có chất độc. Rắn có nhiều cách nấu, nhưng thông thường ở vùng quê người ta hay nấu cháo với đậu xanh ăn ngon lại bổ khỏe. Nồi cháo được bắc lên đồng thời cho rắn vào, đợi khi nước vừa sôi, họ vớt rắn ra dùng tay lột từ trên xuống, phần da và thịt rắn tróc nguyên lớp chỉ còn trơ phần xương. Xương này chặt thành từng đoạn để vào nồi nấu cháo cho ngọt nước, phần thịt xắt nhỏ thành từng miếng mỏng đem xào cho thêm nhiều gia vị càng thơm ngon, khi nồi cháo gạo và đậu xanh nhừ mới cho phần thịt, hành, tiêu vào rồi nêm lại lần nữa, nồi cháo kể như hoàn thành. Ăn cháo rắn hổ ngon không chê vào đâu được, tối ngủ thấy mình mẩy mát lạnh, sức khỏe tăng lên. Cần nhớ khi làm rắn hổ chớ dùng thớt gỗ me để chặt rắn, người ta nói thớt me kỵ thịt rắn hổ ăn sẽ chết. Điều thứ hai khi nấu thịt rắn hổ phải nấu ngoài trời để tránh bồ hóng rớt vào nồi cháo ăn cũng chết người, đó là những điều cấm kỵ mà ông bà mình nói lại cần tránh là tốt nhất. Đó là cách làm của người nhà quê, đơn giản mà ngon, không cầu kỳ như ở thành thị. Người ta nấu món rắn có tên “long hổ hội”, gồm một con rắn hổ mang (rắn Cạp nong càng quý) và một con mèo đen (đen tuyền) nấu với chân giò heo, thêm vài vị thuốc bắc, món này ăn tuyệt chiêu không dễ gì kiếm đ ư ợc, may ra chỉ có các đại gia Vi ệt Cộng mới c ó dịp thưởng thức! Người ta còn có cách ăn thịt rắn công phu hơn. Có nhà bắt rắn về nuôi trong một óng tre vài lóng, một đầu để mắt, đầu kia để trống bỏ rắn vào bịt lại. Đằng mắt tre xuyên chừa một lỗ nhỏ, giã hành thun tẩm que tre để vào lỗ. Rắn sợ hành co mình lại, một tuần sau thay que cũng tẩm hành mà đẩy vào thêm, rắn càng co mãi, lâu dần ngắn bằng con chạch, vảy trắng da, rất béo ngon. Ngoài việc được dùng làm món nhậu khoái khẩu, rắn còn được dùng để ngâm "rượu thuốc". Dân nhậu còn kháo nhau rằng thịt rắn độc không những ngon mà còn "nên thuốc" nữa. Chẳng vậy mà tại vùng biên giới Miên - Việt như Tịnh Biên, Châu Ðốc, Tân Châu, Hồng Ngự còn có hai loại rượu thuốc rất nổi tiếng, có tác dụng "bách chiến bách thắng". Ðó là rượu con "cắc kè bay" tức là ba xi đế ngâm với con cắc kè có mang xòe ra như cặp cánh. Loại thứ hai là rượu thuốc ngâm rắn hổ mun. Hai loại rượu này được nổi tiếng là rượu "bà khen". Dân nhậu sau khi lai lai ba sợi, lúc ba ngù giải thích rằng đấng trượng phu nào uống các loại rượu này, nhất là mấy vị lão ông sồn sồn thuộc loại gần... rã bành tô, thế nào cũng được bà xã chẳng những đã không phản đối mà còn... khen hay! Nhiều ông còn thề sống thề chết trên bàn rượu rằng nhờ nhậu "bà khen" mà đã gần thất tuần vẫn còn có con còn ẵm ngửa! Có điều không rõ vì ba ngù tối ngày, các vị này có "sua" là con của mình không? Chẳng hiểu rượu "bà khen" này có sánh được với loại "nhất dạ ngũ giao sinh lục tử" hay rượu "Mao xếng xáng" không, nhưng tới đây tác giả cảm thấy cần phải có đôi lời cảnh giác, nhất là đối với qúi vị nam nhi gần tới tuổi "retire" súng ống trong tình trạng rỉ sét, đạn dược cũng gần cạn. Nếu qúi vị đọc tới đây thấy bùi tai quá, nên vội vàng đi kiếm rắn ở xứ Cờ Hoa này ngâm rượu để uống với mục đích cao cả để được "bà khen", rủi lỡ bị "bà chê", tác giả sẽ không chịu trách nhiệm đâu. Hiện nay tại Việt Nam có nhiều hãng chế tạo rượu ngâm rắn để bán cho du khách và Việt kiều. Bên Trung Hoa cũng bầy bán công khai những bình rượu thuốc ngâm rắn gọi là "Tam Xà Tửu" (rượu ngâm ba loại rắn) hay "Ngũ Xà Tửu (rượu ngâm năm loại rắn). Nghe đồn, đây cũng là đặc sản"bà khen" của các chú Ba. Rượu rắn Như trên đã nói, rắn không những là món mồi rất bắt và được "bà khen", nhưng còn được phái nữ, tuy đa số rất sợ, nhưng lại vẫn chú ý theo dõi nữa. Lý do vì trong muôn loài sinh vật, kể cả con người, chỉ có rắn là có thể trẻ mãi, cải lão hoàn dồng. Trong số qúi vị độc giả, chắc đã có nhiều người thấy các con vật như chó, mèo, voi, cọp v.v... chết già, nhưng chắc chưa có ai thấy rắn chết vì... có tuổi. Lý do vì khi gần hết xí quách, rắn ta chỉ việc nằm thẳng cẳng, tự lột da là trở thành đào tơ hơ hớ ngay. Có lẽ học được cái quái chiêu "lột da sống đời" này của rắn mà lắm bà nhiều cô đã áp dụng với hy vọng được trẻ mãi. Tác giả thuộc giới đực rựa nên chỉ được nghe đồn hiện nay có phương pháp "lột da" (peeling) giống như rắn nên cho dù phái đẹp tuổi đã sồn sồn nhưng vẫn có thể trẻ đẹp, da dẻ mịn màng như mới "mười mí"! Nếu da mặt chẳng may bị "xếp pli" nhăn nheo như tờ giấy lộn vì phong sương của cuộc đời, chỉ cần ủi, căng và nhất là "lột" như rắn là kéo lại được tuổi thanh xuân ngay. Kỹ thuật "peeling" ra đời là một tin mừng cho nữ giới, nhưng qúi bà qúi cô cũng nên cẩn thận vì nghe nói chỉ công hiệu khi lột da mặt. Nếu qúi nữ giới "thừa thắng xông lên" da chỗ nào cũng đòi lột để trở thành "brand new", rủi bị "ép phê ngược" thì nguy lắm. Bài phiếm luận đầu Xuân con rắn đến đây đã khá dài, và tưởng cũng đã có "đủ cả đầu đuôi" nên tác giả chẳng giám "họa xà thiêm túc" (vẽ rắn thêm chân). Tuy chủ đề là rắn, nhưng đã được mở đầu và kết thúc bằng loại sinh vật "độc" nhất mà cũng "ngon" nhất trên địa cầu, đó là phái nữ. Ðiều này đã chứng tỏ lòng kính trọng của tác giả đối với con cháu bà Eva, không hề giám "hạ bệ" như chẳng may có ai lầm tưởng. Nhân dịp đầu xuân, với thiện chí cao đẹp mong ước đã giúp vui qúi độc giả được một vài giây phút thoải mái bên ly "tam xà tửu", tác giả bèn nổi hứng vác nàng Kiều của cụ Nguyễn Du ra mà "lẩy" rằng: "Lời quê góp nhặt giông dài Mua vui cũng được một vài weekend!" Với mục đích mua vui trong mấy ngày xuân, giám mong qúi độc giả vui lòng lượng thứ những sơ sót hoặc "đụng chạm" ngoài ý muốn. Mến chúc qúi vị và bửu quyến năm mới An Khang Thịnh Vượng.   TRẦN ÐỖ CẨM (Austin, Texas Jan. 2013)
......

Nguy cơ Trung Quốc

Lời người dịch: Nền kinh tế Vìệt Nam cũng như hệ thống tài chánh ngân hàng Việt Nam hiện nay là một „copy“ mang nhiều khiếm khuyết của nền kinh tế và hệ thống ngân hàng Trung quốc. Nhân đọc được bài viết có giá trị về sự rủi ro của hệ thống ngân hàng Trung quốc đăng trên trang nhất của nhật báo dành cho giới doanh nhân và kinh tế của Đức “Handelsblatt“ ngày 31.01.2013 tôi xin được dịch ra tiếng Việt để mọi người cùng tham khảo. Nguyễn Hội ***************************** Trung Quốc lừa cả thế giới: trong lĩnh vực nợ nần nhà nước là biểu tượng sáng chói. Tuy nhiên rủi ro bạc tỷ trong lĩnh vực ngân hàng dùng chi phí cho các dự án danh tiếng và chi phí cho các chương trình kích thích kinh tế. Bong bóng tín dụng rất nguy hiểm đã được hình thành (tại Trung quốc).   Niềm tự hào mới nhất của Trung Quốc là tuyến đường sắt cao tốc 2 300 km với xe lửa màu trắng thon gọn nối liền Quảng Châu và Bắc Kinh, trung tâm kinh tế phía Bắc và phía Nam của quốc gia. Tốc độ tối đa là 300 km mỗi giờ.   Dự án chỉ có một lỗi là không bao giờ có lợi nhuận.   Cho tới nay công ty đường sắt Trung Quốc đã mượn nợ của ngân hàng tổng cộng là 280 tỷ euro để chi phí cho dự án này cũng như cho các dự án khác. Ngân hàng chủ nợ có „thấy lại“ được số tiền cho vay nêu trên hay không là điều còn cao hơn là nghi ngờ.   Bong bóng nợ đã hình thành tại Trung Quốc, bong bóng này cũng như tất cả mọi thứ khác hiện diện trên Nước Cộng hòa Nhân dân là rất vĩ đại. Nhà nước luôn luôn chi phí hàng tỷ USD vào các dự án danh tiếng mới, chủ yếu được tài trợ bằng các khoản vay nợ ngân hàng ngắn hạn. Họ muốn phát triển bằng mọi giá – cho dù nợ ngập đầu.   Ở phương Tây, các ngân hàng phải bảo đảm rủi ro tín dụng mà họ cho vay bằng vốn của chính ngân hàng và tiền vốn bảo đảm này mỗi ngày mỗi tăng (bởi qui định của pháp luật) và các khoản nợ xấu phải được xử lý bằng cách đưa vào các ngân hàng xấu (bad debt bank), trong khi đó các ngân hàng Trung Quốc được thổi phồng to một cách không kiểm soát được. „Hàng chục nghìn quan chức cấp thấp của chính phủ và các nhà quản lý doanh nghiệp nhà nước đã mượn nợ mà không cần phải kiểm tra, giám sát“, nhà kinh tế Michael Pettis của Đại học Bắc Kinh cho biết. Chính thức là nhà nước không thiếu nợ cao. Tuy nhiên tất cả các rủi ro được dồn vào bảng cân đối của các ngân hàng (bank balance sheet). Vì vậy, ngân hàng (tại Trung Quóc) là lĩnh vực nguy hiểm nhất cho sự phát triển của nền kinh tế thế giới. Họ phải phục vụ một nền kinh tế lớn nhất trên thế giới sau Hoa kỳ, nhưng đồng thời cũng là nơi nhận chỉ thị của chính quyền xã hội chủ nghĩa trung ương. Các khoản cho vay mà không có bất kỳ một kiểm soát từ bên ngoài. Theo các chuyên gia, trên thực tế Trung quốc chỉ có đủ khả năng tăng trưởng từ 5% đến 6% mà thôi, nhưng họ đặt mục tiêu cho năm nay là hơn tám phần trăm. Cơn nghiện tín dụng đã phóng đại thực tế ở Trung Quốc.   Vòng luẩn quẩn của việc giảm tăng trưởng và gia tăng nợ nần có vẻ đe dọa nặng nề hơn là Trung Quốc có nhiều ngân hàng lớn nhất thế giới. Ngân hàng Công nghiệp và Thương mại Trung Quốc (Industrial & Commercial Bank of China), với mức vốn tổng cộng gần 186 tỷ euro là ngân hàng có giá trị nhất thế giới. Ngân hàng thúc đẩy tăng trưởng gần như là độc quyền, tài trợ từ các ngân hàng khác cho tới nay không đáng kể.   Cơn đói tín dụng lên cao đến độ mà các doanh nghiệp (Trung quốc) phải kiếm ngày càng nhiều nguồn vốn từ các ngân hàng không chính thức. Tháng mười năm ngoái Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã cảnh báo sự phát triển bùng nổ của các ngân hàng trong bóng tối gây nguy hiểm cho sự ổn định tài chính của đất nước và tăng tính thiếu minh bạch của hệ thống (tài chính).   Chẳng có gì gọi là ngạc nhiên khi doanh nhân Đức ngày càng mất tin tưởng vào quốc gia đầy hy vọng trong quá khứ này là Trung Quốc. Tuy vẫn còn thu hút với doanh thu bán hàng hoá ngày càng tăng - nhưng nguy cơ cũng gia tăng.   Ở phương Tây cuộc khủng hoảng tài chính được lắng dịu, nhưng ở Trung Quốc lại đang ủ một thảm họa mới. Tin tức hôm qua được loan báo là nợ hàng tỷ của chính quyền cấp tỉnh đã được gia hạn tiếp. Rõ ràng là việc trả nợ không cần thiết phải nghĩ đến. Cựu giám đốc Ngân hàng Thế giới phụ trách Trung Quốc, Yukon Huang, đã viết trên báo Financial Times rằng, „các ngân hàng Trung Quốc quá lớn để quản lý, Chúng ta sẽ chứng kiến nhiều cuộc vỡ nợ và những cuộc khủng hoảng tài chính nhỏ, một hoặc thậm chí hai ...“   Mặt trái của sự phát triển bùng nổ tại Trung Quốc. Trong khi châu Âu đang tiếp tục trông chờ một giải pháp thuyết phục nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng nợ euro và Mỹ đang trên bờ vực thẳm của sự suy sụp ngân sách quốc gia, một nền kinh tế lớn khác tỏ vẻ không một chút ấn tượng về khủng hoảng là Trung Quốc. Tại Cộng hòa nhân dân hàng năm có trình báo số liệu thống kê về tình hình phát triển bùng nổ đặc biệt, năm 2013 các nhà kinh tế Trung quốc kỳ vọng nền kinh tế Trung Quốc sẽ tăng trưởng 8,5%.   Một phép lạ xảy ra nhờ sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản lèo lái nền kinh tế thị trường? Thưa không. Bởi vì phép lạ phải được chứng minh, kiểm tra chặt chẽ hơn là chỉ qua một cơ chế rất tầm thường - sự gia tăng GDP chủ yếu là do các tỉnh và địa phương Trung Quốc, thí dụ như chi phí cho các dự án lớn xây nhà ở theo phương châm: tiền không không quan trọng.   Với phương pháp trên, các tỉnh và địa phương làm suy yếu hệ thống tài chính Trung Quốc từ bên trong ra bên ngoài - mặc dù trung ương Bắc Kinh làm ăn thực sự vững chắc. „Hàng chục ngàn các quan chức chính phủ cấp thấp cũng như các nhà quản lý doanh nghiệp nhà nước đều có thể thực hiện các dự án đầu tư mà không cần được kiểm soát, giám sát“, kinh tế gia Michael Pettis của Đại học Bắc Kinh cảnh báo. Kết quả là: nợ lên đến nhiều nghìn tỷ (ức) nhân dân tệ, việc trả được nợ là hoàn toàn không chắc chắn, như các chuyên gia từng cảnh báo. Thoạt nhìn, hệ thống ngân hàng có vẻ mạnh mẽ, theo ông Pettis. Trong trường hợp của một cuộc suy thoái kinh tế, các ngân hàng tin tưởng rằng sẽ được nhà nước để được cứu trợ. Các khoản nợ của chính phủ tỉnh và địa phương theo một cuộc kiểm tra đặc biệt của nhà nước ít nhất là 25% tổng sản lượng GDP - ở Đức, mặc dù tình hình tài chính các thành phố, địa phương không mấy sáng sủa nhưng khoản nợ của thành phố chỉ với 5% GDP. Thậm chí chính phủ trung ương Bắc Kinh không hề biết được là bao nhiêu các khoản vay này không thể trả lại được.   Chính thức ngân hàng khai báo ít khoản nợ xấu. Các nhà phân tích hoài nghi những con số được khai báo này. Mục tiêu lợi nhuận cho các dự án nhà ở thường được nêu không thực tế. Nhà cửa thường được xây dựng một cách nhanh chóng và chỉ hai năm sau khi xây hoàn tất đã cần phải được cải thiện. Chính quyền địa phương sau đó cần nhiều tiền hơn. Các tỉnh trưởng hành động theo phương châm: „Bắc Kinh sẽ giải quyết.“   Một vấn đề của nợ Trung Quốc nữa là thời gian đáo hạn khác biệt của các khoản vay và các dự án mà họ tài trợ. Thời gian xây dựng một hệ thống xử lý nước thải hoặc một tuyến đường sắt đòi hỏi phải mất nhiều năm. Thời gian có thể đạt được lợi nhuận thường lên tới nhiều thập niên.. Chi phí cho các dự án này thường bằng các khoản vay nợ ngân hàng có kỳ hạn một vài tháng hoặc vài năm. „kỳ hạn trả nợ thực tế và thời gian đáo hạn của các khoản vay nợ cách nhau quá xa“ kinh tế gia Qu Hongbin của ngân hàng lớn HSBC.cho biết. Tiền, không phải là một vấn đề, bởi vì tỷ lệ tiết kiệm của Trung quốc trên 50%. „vật thiếu thốn là những công cụ (quản lý) tài trợ dài hạn.“   Trung Quốc không có những công cụ đó. Tài trợ bằng trái phiếu đòi hỏi phải có một thị trường thực sự trưởng thành, với việc đánh giá trung thực và thông tin minh bạch về những doanh nghiệp và chính quyền liên quan. "Trung Quốc đã thực hiện được một số vấn đề, nhưng chưa đủ“ , một doanh nhân người Đức cho biết. Những người có trách nhiệm rõ ràng là thiếu tính nhận thức vấn đề.   Tuy nhiên, ngay cả trong một nền kinh tế mà nhà nước chiếm ưu thế, một nguyên tắc cũng phải tuân giữ là: nếu mượn nợ thì tiền vay nợ cuối cùng phải được hoàn trả lại cho chủ nợ. Tiền của các ngân hàng trên thực tế là tiền do người dân Trung quốc tiết kiệm. Một ví dụ là Bộ Đường sắt Trung Quốc là một trong những tổ chức mang nợ cao nhất thế giới: bộ vay mỗi năm thêm gần một nghìn tỷ nhân dân tệ, tương đương với 118 tỷ euro. Theo nhà kinh tế Pettis là „một sự mất cân bằng to lớn“ và tiên đoán về trung hạn nước Cộng hòa nhân dân sẽ có „một thảm họa nợ nần“. Cứu trợ ngân hàng bởi nhà nước là điều không thể tránh khỏi.   Do đó, thống đốc ngân hàng trung ương Zhou Xiaochuan suy nghĩ phương cách làm thế nào qui trách nhiệm rủi ro này cho chính quyền cấp tỉnh. Đề nghị của ông là: phần lớn các khoản vay nợ của chính quyền tỉnh phải được bảo đảm bởi cư dân của tỉnh đó. Theo cách suy tính của Zhou Xiaochuan, chỉ khi nào có chủ nợ hoặc người bảo lãnh tại địa phương, thì chức năng kiểm soát mới thực sự được thực hiện.   Tựa: Das China-Risiko Tác giả: Finn Mayer-Kuckuk và Frank Sieren. Đăng trên trang nhất nhật báo Đức Handelsblatt ngày 31.01.2013 Chuyển ngữ: Nguyễn Hội  
......

Thư gửi con trai anh Nguyễn Quốc Quân

Tôi nghĩ mình đường đột và hơi sỗ sàng khi viết lá thư này cho một người chưa bao giờ biết mặt và cũng hầu như không có chút thông tin gì ngoài những dòng dưới đây [1]: Hôm qua, cháu Khoa con trai lớn nói với tôi: “Điều duy nhất con mong muốn bây giờ là bố được trở về với mình, mà tại sao bố lại chống lại họ trong lúc này, tại sao lại quyết định tuyệt thực hả mẹ?”. Tôi trả lời cháu rằng: “Bố đang đấu tranh cho quyền hạn của một người tù. Không chỉ cho bố mà cho những người tù khác nữa. Theo chính luật pháp Việt Nam khi chấm dứt điều tra trong vòng ba ngày bố phải được gặp Luật sư. Con nghĩ xem, nếu không phải một mình bố mà tất cả tù nhân, hoặc tám chục triệu người cùng đòi hỏi nhà nước phải làm những điều đúng theo luật pháp Việt Nam đã quy định, có lẽ mọi việc đã khác nhiều.” Tôi biết Khoa chưa hiểu nhiều về những việc bố làm, có lẽ cháu cũng đang đi tìm cái vỏ trứng của mình. Vì thế, hãy cho phép tôi cảm nhận Khoa như một đứa cháu trai dù chưa hề quen biết. Hy vọng cháu chấp nhận điều này. Bố cháu, một người đàn ông 60 tuổi, một vợ hai con, một người Việt tị nạn, rời khỏi Việt Nam vào năm 1981, một Tiến sĩ toán học, một đảng viên thuộc đảng Việt Tân và là một công dân Hoa Kỳ [2]. Điều này có nghĩa, bố cháu là một người đàn ông bình thường như những người đàn ông khác ở bất kỳ xứ sở tự do nào, trừ... Việt Nam (!) Ở Việt Nam, có lẽ cháu biết, một người được cho là bình thường, khi và chỉ khi họ không quan tâm hoặc thờ ơ và lãnh đạm trước mọi vấn đề xã hội, nếu họ không muốn vào tù hay trại tâm thần với tư cách là người bất bình thường. Cháu Khoa! Tôi biết, lần bố cháu bị bắt mới đây, mà ĐCSVN buộc phải trả tự do sau hơn 9 tháng giam cầm tùy tiện, không phải là lần đầu tiên. Trong hơn 9 tháng tù đó, bố cháu đã tuyệt thực không dưới một lần để đòi hỏi Quyền Con Người phải được nhà cầm quyền Việt Nam tôn trọng. Sau khi ĐCSVN buộc phải trả tự do và trục xuất bố cháu về Mỹ với tư cách là công dân Hoa Kỳ, tôi đã viết một lá thư cho đảng của bố cháu để ngỏ lời cám ơn và tôi đã bị rầy vì lời cám ơn được cho là vô duyên, vô ích và vô nghĩa. Không sao cháu ạ! Một người chỉ cần chút hiểu biết, sẽ nói lời cám ơn một người phu quét đường tự nguyện, bởi con đường dơ bẩn đó ta chỉ dám đi đến, sau khi phó mặc cho người phu đó chịu trách nhiệm về sự sạch đẹp. Có lẽ cháu thắc mắc, ở Việt Nam chẳng lẽ không còn "người phu quét đường tự nguyện"? Còn chứ, nhưng nơi "hành nghề" của những người phu ấy là trại tù, trại phục hồi nhân phẩm, trại tâm thần hay một cái gì tương tự như thế, vì bên ngoài họ không được phép làm việc, do những chủ nhân trên con đường đó thích ở... dơ, mặc dù những ông bà chủ này không quên xức nước hoa, vận đồ hiệu, thắt "tie", đeo nữ trang. Tất nhiên, để đảm bảo thơm tho trước người khác, họ luôn đủ thông minh để tránh xa người phu quét đường vì sợ... bẩn lây! Bố cháu - Nguyễn Quốc Quân - một công dân Hoa Kỳ - hà cớ gì vào Việt Nam để làm "người phu quét đường tự nguyện"?! Không đâu, Khoa! Bố cháu vẫn nhớ về từng con đường, góc phố, hàng cây, ngôi nhà, dù bây giờ những hình ảnh tươi đẹp trở nên tàn tạ, bẩn thỉu và không còn thuộc về bố cháu, tuy thế bố cháu nghĩ vẫn cần phải góp thêm vài nhát chổi cùng người dân trong nước để làm sạch. Tôi gọi đó là Tình Yêu. Đơn giản vậy thôi, cháu ạ! Chắc chắn, cháu hiểu rõ thế nào là Tình Yêu Thủy Chung, nhất là khi người yêu của mình rủi ro bị... cưỡng bức vì những tên vô lại! Người Việt Nam chúng ta đã lãnh hậu quả tương tự như vậy đấy, Khoa! Ai nỡ bỏ người mà ta yêu thương nhất mực vì sự cố ngoài ý muốn, phải không cháu? Cháu có thể gọi đó là Tình Yêu Cao Cả. Tình yêu của bố và mẹ cháu đối với quê hương Việt Nam hội đủ cả hai yếu tố: Thủy Chung và Cao Cả. Vì vậy, cháu hãy tự hào vì có một người cha như anh Nguyễn Quốc Quân và một người mẹ như chị Ngô Mai Hương. Có lẽ cháu không tưởng tượng nổi, cuộc sống bình yên của một gia đình nào đó (ví dụ trên đất Mỹ), bỗng một hôm bị phá vỡ tan tành và gia đình đó buộc phải khăn gói trốn chạy khỏi quê hương mình? Điều kinh khủng lắm phải không cháu? Bố mẹ cháu và hàng triệu người Việt Nam đã buộc phải làm như thế sau 1975! Nói điều này để cháu cảm thông, thương yêu và trân trọng hơn quá khứ đau buồn của bố và mẹ cháu cũng như hàng triệu người Việt khác đã xảy ra tương tự như thế! Nếu cháu vẫn xem Việt Nam là cội nguồn, tôi mong cháu hãy tìm đọc tác phẩm "Bên Thắng Cuộc" của nhà báo Huy Đức và những tác phẩm trước đó như: Đêm Giữa Ban Ngày (Nhà văn Vũ Thư Hiên), Hoa Xuyên Tuyết (nhà báo Bùi Tín), Những Thiên Đường Mù (Nhà văn Dương Thu Hương) v.v... để rõ thêm lịch sử bi hận và nhức nhối của người Việt Nam chúng ta. Ngày nay, bố mẹ cháu cũng như hàng triệu người Việt hải ngoại khác, có quyền vất bỏ hết tất cả những cay đắng và đau thương của dĩ vãng để tìm nguồn vui trong cuộc sống tự do trên quê hương thứ hai. Tuy nhiên, bố và mẹ cháu đã chọn làm "người phu quét đường tự nguyện" cho quê hương thứ nhất. Đó không là điều đáng để cháu đăm chiêu tìm hiểu lý do tại sao như thế? Một số người bảo là phù phiếm trong việc làm, hoang tưởng trong hành động và điên cuồng trong tham vọng, khi bố cháu đã nhiều lần trở về Việt Nam trong tư cách một đảng viên của một chính đảng và chịu giam cầm nhiều tháng. "Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại", những người chê bai, đả kích, nghi ngờ bố cháu, phải chăng, hoặc là họ cố tình không hiểu để ngụy biện cho tính đố kỵ cùng tâm trạng tự ti, hoặc là họ không còn Tình Yêu đối với quê hương này và áp đặt tâm thức chủ bại cho bố cháu? Để làm gì nhỉ? Chắc là để làm bố cháu nản lòng?! Cháu có thấy, thật thiếu công bằng, khi họ tự cho cái quyền nghi ngờ lòng yêu nước của bố mẹ cháu, nhưng chưa bao giờ họ cho phép người khác nghi ngờ cái phía sau là cái gì đã thúc đẩy họ nói lên những lời miệt thị cốt để đánh gục sự kiên trì cũng như nhân phẩm bố cháu? Dựa trên một Tình Yêu Thủy Chung và Cao Cả, người ta luôn nhẹ nhàng vượt qua số phận nghiệt ngã cùng những đòn thù khốc liệt. Cháu có quyền ngưỡng mộ về điều này. Nhân đây, tôi muốn giới thiệu một "người phu quét đường tự nguyện" độc đáo nữa - André Menras Hồ Cương Quyết [4]. Rất may (!) "người phu" này nhờ lý lịch cũng độc đáo không kém đã giúp ông không phải ở trong trại tâm thần nào đó, nên ông mới có "cơ hội" làm đẹp cho đời. Thú thật, tôi xấu hổ khi nhắc về "người phu" này, không biết những ông chủ, bà chủ cùng các người phục dịch, hầu hạ vây quanh có bao giờ hổ thẹn trước "người phu" này không, khi những nhát chổi "Hòang Sa Việt Nam - nỗi đau mất mát" của ông đập thẳng vào đầu não bọn bành trướng Trung Cộng gây tội ác đối với đồng bào và đất nước chúng ta?! Một "người phu quét đường tự nguyện" nữa - Lê Công Định, vừa được trả tự do, chắc chắn là điều mà nhiều người Việt Nam, trong đó có bố mẹ cháu cùng vui mừng chào đón "người phu" này về nhà ăn tết. Mong muốn giản dị của cháu và những người thân của LS. Lê Công Định đã thành sự thật. Tôi chỉ muốn nói thêm, còn nhiều lắm những thân nhân của các "người phu quét đường tự nguyện" khác đang trông ngóng họ về ăn tết với gia đình, Khoa ạ! Cháu đã tìm ra "cái vỏ trứng của mình" chưa? Tôi tin, từ "cái vỏ trứng" đó, một chú Đại Bàng dũng mãnh vặn mình và đầy tự tin vút lên trời cao với khát vọng mãnh liệt, Khoa nhỉ? Hy vọng trong đêm giao thừa, bên cạnh bố mẹ, đón cái tết cổ truyền Việt Nam, cháu hãy nhớ về chúng tôi: Người Việt Nam đang lạc loài ngay trên chính quê hương mình. Nhờ cháu chuyển lời chúc sức khỏe đến với hai vợ chồng "người phu quét đường tự nguyện" cùng lời nhắn gởi của tôi [4]: Hãy nhớ và hãy nhớ Người Việt Nam đang lạc loài Hãy thương và hãy quý Tình đồng bào ta với ta Hãy biết và hãy biết Rằng ngày mai khi ta về Hãy nhóm ngọn lửa hồng Đốt sáng vạn niềm tin   Tạm biệt Khoa! Ngày về quê của gia đình cháu có lẽ không còn xa lắm! http://danluan.org/tin-tuc/20130206/thu-gui-con-trai-anh-nguyen-quoc-quan
......

Tâm Tình một Vị Linh Mục ....

Lm Gioan Baotixita Đinh Xuân Minh Đức Quốc: Thứ hai, ngày 14-01-2013.   Thật tâm mà nói, vì công việc mục vụ, tôi rất ít nghe nhạc, nhạc Đức cũng như nhạc Việt. Nhưng khi tôi nhận được Youtube, với bài hát: "Triệu con tim, một tiếng nói“ của anh Trúc Hồ sáng tác và trình bày. (Xuất bản 11-01-2013). Nói mà không ngoa.   Tôi đã mở ra nghe ít nhất phải trên 20 lần.   Nghe hoài, nghe mãi mà không chán, nghe nhiều lần muốn thuộc luôn. Tôi muốn mở nhạc thật to, thật lớn, mở Volum hết cỡ, để cho mọi người hàng xóm chia xẻ niềm vui và tự hào của tôi.   Tôi tự hào vì người yêu chuộng tự do công lý không hèn. Tôi tự hào, vì dân tộc tôi, anh em cứu chính anh em đồng hương của tôi.   Tôi tự hào nói cho mọi người bản xứ và cho đồng bào chúng tôi trong nước biết, chúng tôi dù bên này Đại dương, nhưng vẫn luôn hướng về quê mẹ, vẫn yêu quê hương.   Tôi mừng vui, chực như niềm vui vừa đến, đến với tôi và đến với mọi người, như đón chào mùa Xuân, mùa Xuân dân tộc, xuân hy vọng, xuân vui hòa bình trong cảnh người yêu người, tay trong tay rõng bước đại lộ vắng bóng kẻ phản bội.   Tôi tự hào, vì vẫn còn rất nhiều người yêu tổ quốc. Họ hiên ngang can đảm anh dũng đứng lên. Họ lên tiếng diễn tả nỗi đau buồn khốn tả.   Họ đứng ngóng trước thảm cảnh: “Ải Nam Quan, Hoàng sa, Truờng sa nay không còn Mẹ Việt Nam ơi!“ Mẹ Việt Nam ơi? Phải làm sao đây?! “Quê hương mình rồi sẽ ra sao????!!!!“   Tôi tự hào, vì chính anh em đồng bào tôi, chính anh em dòng giống Lạc Hồng của tôi, vì qúa yêu thương đồng bào trong nước, họ đã bất chấp nguy hiểm, khủng bố hành hung. Họ anh dũng, hát lên nguyện vọng tình yêu nước, tình yêu người, yêu quê hương. Họ ca ngợi tình yêu đồng bào, tình yêu nhân loại, yêu quê hương, xóa tan hận thù. Ôi! Còn cảnh hạnh phúc ấm cúng nào hơn?!   Hãy hát lên nguyện vọng yêu nước!   Hãy nghe để thông cảm cảnh mất nước do chính kẻ mang danh „giải phóng đồng bào tôi“. Hãy nghe để hiểu thế nào dân tộc tôi đang bị dày xéo do tập đoàn tay sai ngoại bang.   Bài hát này, hát lên, “để thay thế cho những người bị bịt miệng không được nói“ (Mc Việt Dũng). Đúng vậy! Bạn nhé! Ở đất nuớc tôi, ai bày tỏ yêu nước là trọng tội đấy. Vậy thử hỏi, kẻ cầm quyền của nước tôi là ai?   Thực dân Tầu Cộng? Kẻ phản bội nhân dân đồng bào? Kẻ rước voi dày mồ? Kẻ bán nước? Tội đồ dân tộc?   Xem kìa! Kẻ phản bội đã lộ diện! Bí thư thành ủy HCM, Cộng sản Lê Thanh Hải, "xử lý nghiêm“ ai ghe nhạc yêu nước!   Ôi! Có ngược đời không? Đúng ra, phải là 90 triệu đồng bào trong nước, và 4 triệu đồng bào hải ngoại, cùng cộng đồng quốc tế văn minh trên thế giới mới thật sự "xử lý nghiêm“ kẻ gian ác, kẻ phản bội dân tộc như kẻ phản bội tổ quốc như Lê Thanh Hải mới đúng chứ!? Đúng không!?   Hãy nhìn những kẻ phản bội dân tộc đấu tố người yêu nước: Nguyễn Văn Hải (Biệt hiệu Điếu cày), Tạ Phong Tần, Phan Thanh Hải (Biệt hiệu Anh Ba Sàigon). Chỉ vì yêu nước, ba vị này bị kết án 12 năm tù (24-09-2012). Nhạc sĩ trẻ Việt Khang (4 năm), nhạc sĩ Trần Vũ Anh Bình (6 năm tù) qua phiên tòa đấu tố 30-10-2012. Cảnh đấu tố đàn áp bất công có điêu ngoa lắm không?   “Ải Nam quan, đảo Hoàng sa nay không còn.“ Mẹ Việt Nam ơi! Những lời kêu gào thống thiết, kêu gọi lương tâm con cái cùng nguồn gốc, xuất thân từ CON RỒNG CHÁU TIÊN, xin đừng làm ngơ: “Hãy đứng lên cháu con Rồng tiên. Đừng thờ ơ, đừng làm ngơ, mà “triệu con tim cùng bước tới!“ Vì, “chúng ta là dòng giống LẠC HỒNG“. Vì thế: “Hãy biết nỗi đau, nỗi đau người dân! Hãy là ngọn gió đổi thay!“   Vâng! Chúng ta là dòng giống LẠC HỒNG, chúng ta là con cháu RỒNG TIÊN. Không phân biệt là ai. Dù là Công an Cộng sản, dù là binh lính quân đội nhân dân, dù là đảng viên Cộng sàn, dù là tu sĩ, cư sĩ, giáo dân, dù là ca sĩ hay nhạc sĩ, chúng ta đều là con Cháu Mẹ Âu Cơ, từ một mẹ sinh ra, với 4 ngàn năm văn hiến.   Chúng ta không đựợc phép hành xử với nhau như kẻ ăn lông ở lỗ. Chúng ta không được phép để kẻ phản bội dân tộc bán nước, rước voi dày mồ! Yêu nước là một lý do chính đáng và là nghĩa cử cao đẹp nhất cho tất cả những ai đã và đang sống trên đất Việt.   Chỉ kẻ phản bội dân tộc, không yêu thương chính giống nòi, không màng gì đến tình tự dân tộc, phải nhường chỗ cho tình đồng bào và tình yêu dân tộc quê hương ngự trị.   Ai nói: “Xướng ca vô loài“??! Những Nhạc sĩ và ca sĩ trong trung tâm ASIA đã và đang chứng minh ngược lại. Hãy nhìn gương anh Trúc Hồ, những ca sĩ Quốc Khanh, Đan nguyên, Nguyên Khang, Lâm Nhật Tiến, Mai Thanh Sơn, Nguyễn Hồng Nhung, Lâm Thúy Vân, Ý Phương, cùng ca đoàn Ngàn Khơi v.v.   Xin trả danh dự lại cho họ. Họ không phải là kẻ xướng ca vô loại, ngược lại họ đã và đang là những cổ loa, những trống đồng cổ, thúc giục, đánh động lương tâm chúng ta. Họ là những Ngôn sứ thời đại, dùng tiếng hát lời ca, bán nuớc miếng, mồ hôi, hơi thở của mình, như là dụng cụ hữu hiệu nhất, đấu tranh đòi hỏi cho CÔNG LÝ, mang lại thật sự hạnh phúc ấm no cho dân tộc tôi.   Họ là những anh hùng dân tộc. Họ là những ngôi sao sáng, những minh tinh nền âm nhạc hải ngoại, cho ta noi gương theo. Thật đáng khâm phục, ngưỡng mộ và tuyên dương! Tôi ngưỡng phục ngả mũ!!!   Lời ca tiếng hát của họ là những tiếng gào thét kêu gọi toàn dân hãy đoàn kết, xiết lòng như một, xua đuổi kẻ phản bội dân tộc, chấm dứt gây tội ác. Bạn đã nghe chưa? Bạn đã tỉnh thức chưa? Bạn còn thờ ơ? Bạn còn làm ngơ ư? Vậy, bạn hãy thức dậy, đừng ngủ nữa! Nếu bạn đã thức tỉnh, thì xin bạn cùng tôi, “triệu con tim, hãy cùng bước tới!!!“   Xin Thiên Chúa ban phép lành cho anh em!   http://www.youtube.com/watch?v=X75q92uM_1k&feature=youtu.be&noredirect=1
......

Những kinh nghiệm hữu ích cho đời sống.

1-Cánh gà và sự nguy hiểm của nó (bạn SinhĐo giới thiệu)   Các chị em phụ n ữ  hãy ngừng ăn cánh gà thường xuyên, và đây là một câu chuyện hoàn toàn có thật.    Một cô bạn của tôi gần đây đã phát hiện ra một u nang phát triển trong dạ con, và cô ấy đã phải đi phẫu thuật để cắt khối u đó. Cô ấy tưởng rằng mình sẽ hồi phục sau phẫu thuật, nhưng cô ấy đã nhầm. Chỉ vài tháng sau, hiện tượng cũ lại tái phát. Cô ấy đau khổ chạy tới gặp bác sỹ phụ khoa xin tư vấn. Trong quá trình tư vấn, bác sỹ đã hỏi một câu làm cô ấy rất bối rối. Ông ta hỏi rằng có phải cô ấy thường hay ăn  món cánh gà phải không. Và cô ấy trả lời là đúng, đồng thời thắc mắc tại sao  ông ấy biết được thói quen của mình.     Các bạn thấy đấy, sự thật là trong thời buổi hiện đại này, các con gà đã được tiêm hoóc môn tăng trưởng để đẩy nhanh sự phát triển, nhằm đáp ứng  các nhu cầu của xã hội.Nhu cầu này không có gì khác ngoài nhu cẩu vể thực phẩm.   Gà thường bị tiêm một mũi hoóc-môn vào cổ hoặc hai cánh. Vì vậy, ở các bộ phận này, liều lượng hoóc môn (steroid) tập trung cao nhất. Các hóc môn này  có tác dụng rất đáng sợ tới cơ thể và đẩy nhanh sự phát triển của gà. Điều nguy hiểm hơn là khi nó xuất hiện trong các hoóc môn của phụ nữ, nó sẽ làm cho cơ thể người phụ nữ có xu hướng phát triển các u nang trong dạ con/tử cung. Vì vậy, tôi khuyên mọi người hãy xem lại chê độ ăn uống của mình, và giảm việc thường xuyên ăn cánh gà đi. (Hiệp hội Y tế Singapore)  2-Làm mất mùi hôi khi ăn tỏi     Muốn loại  bỏ mùi  hôi khi ăn tỏi  thì nên ăn ít rau ngò tươi (fresh parsley) hay rau rau bạc hà (mint) hoặc uống một ly trà bạc hà.  Ăn c ác rau khác nhau như khoai tây nghiển, nấm và cà-rốt cũng  làm mất mùi tỏi. Cách nhanh nhất  là nhai kẹo chewing gum vì  trong kẹo này có chất xylitol làm bạn cảm thây miệng thơm và mát, ngoài ra trong chewing gum cũng còn có thành phần khác diệt vi khuẩn làm  hôi miệng.   Bạn cũng có thể uống môt tách trà, nước chanh tươi hay nhai một miểng chanh hoặc uống một ly rươu ( tốt nhát là rượu vodka) vì  trong rượu có  chất diệt vi khuẫn trong miệng. Bạn còn thể  đánh răng.   Mùi  tỏi  có thễ thoát ra từ các lỗ chân lông nên khi đi dạ tiệc bạn nên mang theo nước hoa hay nước cologne  3-  Làm mất mùi hôi cũa hành tây  Sau khi thái hành tây (onions) bạn hãy lấy nước chanh vắt hay miếng chanh tươi chà vào hai bàn tay rồi rửa tay bằng nước ấm(nhớ đừng dùng nước lạnh vì mùì hành tây không mất)   Khi thái hành tây muốn khỏi bị cay mắt thì hãy để hành trong freezer chừng 20 tới 30 phút trước khi thái   Ăn hành tây có hơi thở hôi, muốn loại  bỏ  phải đánh răng sau khi ăn. Hơi thở  có mùi hôi là  vì các hợp chất sulfur bay hơi đươc  phóng thích khi ta ăn hành tây. Các hợp chất bay hơi này không thoát qua được hệ tiêu hóa nên truyển thẵng vào máu.      4.Nên tập thở bụng ( bài của BS HONG NGOC do ban SinhĐo giới thiệu):   Trước kia, tôi cũng chỉ nghe để mà nghe chớ chẳng thực hành. Cho đến ngày tôi bị tai biến nặng,  phải nằm viện dài ngày, lúc đó tôi mới thử đem ra áp dụng. Quả có điều kỳ diệu! Nó làm cho tôi thảnh thơi hơn, ít nhọc mệt hơn và sức khỏe tốt hơn.   Phương pháp thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện thực ra không phải là cái gì hoàn toàn mới. Nó chỉ là một sự tổng hợp của khí công, thiền, yoga, dưỡng sinh... của Đông phương từ ngàn xưa, được nhìn bằng sinh lý học hô hấp hiện đại của một người thầy thuốc.   Dưới đây là bài vè 12 câu dạy thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện:Thót bụng thở ra Phình bụng thở vào Hai vai bất động Chân tay thả lỏng Êm chậm sâu đều Tập trung theo dõi Luồng ra luồng vào Bình thường qua mũi Khi gấp qua mồm Đứng ngồi hay nằm Ở đâu cũng được Lúc nào cũng được!  « Thót bụng thở ra » quan trọng hơn ta tưởng vì giúp làm sạch các hốc phổi, đáy phổi, nơi khí dơ dễ đọng lại. Phổi thực chất là một cái bơm, bơm khí vào ra "phình xẹp" vậy thôi. Để cho cái máy bơm đó làm việc tốt thì cần biết một chút về "cơ chế" của nó. Lồng ngực là cái xy-lanh (cylindre), còn pít-tông (piston) chính là cơ hoành - một bắp cơ lớn, nằm vắt ngang giữa bụng và ngực. Khi cơ hoành thụt lên thụt xuống (như cái bể lò rèn) thì khí được hút vào đẩy ra ở phổi. Cơ hoành nhích lên nhích xuống 1cm đã hút hoặc đẩy được 250ml không khí. Vậy mà cơ hoành có thể nhích lên xuống đến 7cm! Tóm lại, chính cơ hoành ở bụng mới là cơ hô hấp chính, đảm trách hơn 80% sự thông khí. Do đó, thở bụng là cách thở sinh lý nhất, tự nhiên nhất. Cho nên trong bài vè tập thở ta thấy nói "thót bụng", "phình bụng" - mà không hề nói đến ngực chút nào là vậy. Ngày nay, ở phương Tây, rất nhiều trung tâm dạy thiền, khí công, yoga... để chữa bệnh cũng chủ yếu là dạy cách thở bụng. Các phương pháp trị liệu nổi tiếng của các bác sĩ như Dean Ornish, Deepak Chopra v.v... căn bản cũng không ngoài cách... thở bụng. Phương pháp thở bụng không chỉ giúp để chữa một số bệnh tim mạch, hô hấp, tiêu hóa... mà còn làm cho tâm được an, giảm stress trong cuộc sống hiện tại. Nên cố gắng tiếp tục tập thở bụng. Phải chừng sáu tháng trở lên mới thành thói quen và thấy hiệu quả.  5- Làm sao biết có nguy cơ bị lên cơn đau tim (heart attack)   Dưới đây là chia sẻ kinh nghiệm của bạn Vu Ngoc Bich   a- thỉnh thoảng khi vận động, hay làm việc nặng...thấy nhói một cái ở vùng tim b- khả năng tình dục  tự nhiên giảm sút c- huyết áp tuột xuống còn  dưới 90/60 ( vì tim bị nghẽn động mạch không co thắt đủ mạnh để đẩy máu ra (khác với chứng ợ nóng (heart burn) do bao tử thì chỉ có đau mà thôi)   Muốn ngăn ngừa cơn đau tim nên tập thể dục, ăn uống kiêng khem và  uống Ecotrim 81mg 1viên /ngày quanh năm Nếu bị qua rồi thì nên  ăn gạo lức muối mè ít nhất 2 ngày /tuấn , cơ hội tái phát sẽ lâu hơn có thể tới 10 năm.   Điểu quan trọng nên nhớ là khi đang lái xe mà bị lên cơn đau tim  thì  trong khi ngổi chờ  xe cứu thương phải hít thở thật xâu 5 lần rồi ho mạnh  2 cái để điểu chỉnh nhịp tim  6- Hành đễ giải quyết tình trạng ứ nước tiểu. Dùng củ hành tươi sao nóng đắp lên rốn là một biện pháp khá lý tưởng để giải quyết tình trạng ứ nước tiểu do những nguyên nhân khác nhau gây ra (viêm tuyến tiền liệt, phì đại tuyến tiền liệt, lệch đĩa đệm cột sống, phụ nữ có thai hoặc sau khi đẻ bị bí tiểu).   Sau đây là một số hướng dẫn cụ thể: - Củ hành tươi một nnắm giã nát, chia thành 2 phần, dùng vải bọc lại, sao nóng, luân phiên đắp lên rốn (huyệt thần khuyết), có tác dụng chữa tiểu khó, bụng dưới trướng đau (theo sách Bản sự phương). -Hành trắng cả lá giã nát, thêêm mật, đắp lên ngoại thận (bộ phận sinh dục), tiểu tiện sẽ thông (Theo ÕBản thảo cương mục). - Ốc nhồi hoặc ốc vặn 4-5 con, hành sống 3-4 củ, có thêm chút băng phiến càng tốt. Ốc bóc bỏ vỏ, lấy thịt, trộn với hành giã nát, nặn thành hình cái bánh tròn, đặt lên trên rốn, lấy băng cố định lại, sau khi đắp một lúc là đi tiểu được. Khi tiểu tiện đã thông thì bỏ thuốc ra.  7- Dùng đồ plastic chúa đựng đồ ăn nước uống nên cẩn thận   Theo khuyến cáo của Đại học John Hopkins ban không nên: -          chạy microwave đồ ăn đựng trong hộp plastic -          để chai plastic đựng nước uống trong hộc đá (freezer) -          chạy microwave đồ ăn che phủ với plastic          Khi để chai plastic có chứa nuớc vào hộc đá tủ lạnh hay hâm microwave thức ăn có nhiểu chẩt béo đựng trong hộp plastic thì dioxin sẽ được phóng thích vào  nước và thức ăn gây nguy hại cho sức khoẻ vì dioxin là một hoá chất rất độc. Đậy đồ ăn bẳng plastic như plastic Saran cũng nguy hiễm tương tự khi chạy microwave   Tốt hơn hết nên dùng đổ đựng bằng thủy tinh như Corning Ware, Pyrex hay đồ gốm đễ hâm đồ ăn trong microwave, cũng như lấy giấy phủ lên đồ ăn thay cho plastic.  8- Ăn gỏi  cá sống có thể nhiểm khuẩn và nhiễm ký sinh trùng nhất là giun đầu gai gnathostoma   Vài năm trước đây Hội Dược Sĩ VN tại Hoa Kỳ  có đăng một bài nói về một ca nhiễm giun đầu gai ở một Việt kiều lúc về thăm quê hương. Trong thời gian ở VN, anh ta có nhậu với bạn bè món thịt rắn hổ mang, và đặc biệt là anh ta xơi sống nguyên tim rắn với hy vọng là sẽ được sung sức bằng 5 bằng 10 ngày thường.  Khi trở qua Hoa Kỳ, anh ta bắt đầu ngã bệnh và có dấu hiệu mệt mỏi yếu sức lạ thường lại thêm sốt, nổi mày đay ở chân, đau ở vùng gan, ớn lạnh về chiều. Kết quả xét nghiệm máu, cho thấy số bạch cầu eosinophils trong máu tăng cao 13.000. Các bác sĩ bên Mỹ mò mẫm chữa trị bằng kháng sinh, nhưng bệnh vẫn không thuyên giảm. Cuối cùng qua sự cố vấn của một nhà ký sinh trùng học, bác sĩ Nagami, thuộc The Centers for Disease Control & Prevention (CDC), bệnh đã được chẩn đoán chính xác : bệnh nhân đã bị nhiễm giun đầu gai Gnathostoma spinigerum.Thuốc Albenza (Albendazole) đã được sử dụng để trị dứt bệnh…   Gỏi cá sống là đặc sản của vùng duyên hải VN. Món gỏi cá sống tuy rất ngon nhưng nó vẫn là mối đe dọa đối với sức khỏe chúng ta vì  cá sống tại vùng Đông Nam Á, Nam Mỹ, Mexico, Peru và Ecuador có thể nhiễm khuẩn và ký sinh trùng mà đáng kể nhất là giun đầu gai Gnathostoma.   Giun trưởng thành (adult) sống trong bao tử chó và mèo. Trứng giun theo phân nhiễm vào nước mưa chảy xuống ao hồ sông rạch. Trứng nở ra ấu trùng (larvae) và bị một loại giáp xác (crustacea) thật nhỏ có tên là cyclop ăn vào. Cá, lươn, rắn, ếch nhái, gà vịt, và các loại thủy cầm (waterfowl) đương nhiên nuốt cyclop vào bụng và bị nhiễm giun đầu gai. Trong các loài vật vừa kể, ấu trùng giun sẽ định vị trong thịt. Khi chúng ta dùng cá sống, ấu trùng vào bụng, xuyên ruột và đi tứ tung trong cơ thể chúng ta. Giun có thể vào gan, vào mắt, di chuyển dưới da, hoặc đến định vị trong não hay trong tủy sống. Đây là bệnh Gnathostomosis.  Đi đến đâu, giun gây tình trạng viêm sưng đến đó. Tùy nơi giun định vị mà triệu chứng sẽ khác nhau. Ở mắt, sẽ làm giảm thị lực hoặc mù lòa, và gây ho hen nếu ở hệ hô hấp. Nguy hiểm nhất là nếu giun định vị trong hệ thần kinh trung ương và gây chứng viêm não tủy (encephalomyelitis), làm rối loạn cảm giác, liệt tứ chi và có thể chết.                                                                                                                                              Không dễ gì chẩn đoán bệnh giun đầu gai. Nếu biết rõ nơi định vị của nó, thì có thể làm sinh thiết (biopsy) để xét nghiệm. Người ta cũng có thể chẩn đoán bệnh qua xét nghiệm huyết thanh học (test ELISA)...  9- Đừng nên uống aspirine mỗi ngày nếu không cẩn thiết   Giáo sư Peter Weissberg giám đốc British Heart Foundation vừa cho biết “ những người không có triêu  chứng hay không được chẩn đoán có bệnh tim mạch thì không nên uống aspirin để phòng ngừa  đột quỵ hay cơn đau tim vì  nguy cơ bị xuất huyết nhiểu hơn là lợi ích . Tuy nhiên giáo sư Weissberg xác nhận là những bệnh nhân có triêu chứng về bệnh động mạch như đau thắt ngực (angina), lên cơn đau tim hay đột quỵ  có thể giảm nguy cơ có thêm vấn để  bằng cách uống aspirin với liểu luơng thấp mỗi ng ày.  10- Quế giúp hạ cholesterol và glucoz trong máu   Sự kiện bắt đầu từ những năm về trước thỉnh thoảng tôi cảm thấy mệt lả như không còn năng lượng đễ tiếp tục làm việc , tay chân bủn rủn , đầu choáng váng, nóng, đỗ mồ hôi . Các triệu chứng tạm thờì qua đi nếu uống một ít nước ngọt hoặc nước cốt tráí câỵ, một viên kẹo, thỏi chocolat. Kết quả thử máu cho thấy đường và mỡ trong máu cao hơn mức độ trung bình đến độ báo động .                    Thay đôỉ phương cách ăn uống theo tiết chế (diet) : giảm thiểu đường, chất béo động và thực vật, tập thể dục , đi bộ v.v… Dù vậy chỉ số đường và mỡ trong máu cũng chỉ giảm đi một phần nào thôi . Sau khi truy tầm các công trình khảo cứu liên quan cách phòng và trị “ Hai trong Bốn Cao” ( Cao Tuôỉ , Cao Huyết Áp, Cao Ðường và Cao Mỡ trong máu) mà không phải dùng các loaị tây dược đắt tiền mà một khi đã dùng rồì rất khó dừng lạị , tôi đã quyết định d ùng thữ quế bột mua ở cửa tiệm “Bulk Foods”. Sau hơn ba tháng điễm tâm buổỉ sáng với một chén cháo ‘oat meal’ hoặc cháo trắng có trộn vào khoảng nửa muỗng cà phê bột quế(ước chừng 4-5g), các triệu chứng kể trên giảm dần, các bữa ăn nhẹ thưa thớt hơn. Cuôí cùng bản kết quả xét nghiệm máu vớí các chỉ số đường glucose, triglyceride, cholesterol trong máu đều trụt giảm đáng kễ và đều nằm trong vòng chỉ số của một ngươì bình thường   Cần kiêng cữ hoặc giảm thiễu các loaị thức ăn có chỉ số đường (glycemic index) cao. Nấu cơm trộn một phần ba đậu xanh , tiếp tục tập thễ dục , đi bộ ít nhất nửa giờ mỗi ngày cho kết quả tốt giúp phòng trị tiễu đường loaị 2 nầỵ. Ðiều nên lưu ý, nếu bạn đang uống thuốc làm giảm đường hay mỡ máu dươí sự điều trị của bác sĩ thì nên tham khaỏ ý kiến bác sĩ trước khi dùng quế , mặc dù quế có rất ít phản ứng phụ .   Theo công trình nghiên cứu cuả nhóm các nhà dinh dưởng cầm đầu do Tiến Sĩ Alam Khan (Pakistan) thì quế có tác dụng gia tăng sự hấp thụ và tỗng hợp đường glucose trong máu và trong các tế bào khác ; đồng thờì quế làm gia tăng sự phốt- pho- hoá ( Phosphorylation) cuả cơ chế tiếp nhận insulin( Insulin receptor) bằng cách kích động tiến trình sinh hoá biến chế cùng xử dụng đuờng của các tế bào trong cơ thễ .                         Nhóm nghiên cứu khác do Tiến Sĩ. R. Anderson (Hoa kỳ) phụ trách đã phân định ra chất có tác dụng gia tăng sự biến dưỡng của glucose là methyl hydroxyl chalcone polymers .  
......

Katholische Kirche beeindruckend dynamisch

Bischof Fürst besucht Vietnam Viel Armut und ein lebendiger Glaube begegnen laut einem ersten Live-Bericht dem Bischof der Diözese Rottenburg-Stuttgart Gebhard Fürst auf seiner Pastoralreise durch Vietnam. Gemeinsam mit dem Leiter der Hauptabteilung Weltkirche, Domkapitular Heinz Detlef Stäps, und drei Mitarbeitern besucht er pastorale und diakonische Projekte, darunter eine Leprastation und eine Taubstummenschule. Bereits seit 1969 unterstützt die Diözese Rottenburg-Stuttgart die Katholiken in Vietnam finanziell. Seit der politischen Öffnung Vietnams Anfang der neunziger Jahre wachsen auch persönliche Beziehungen. Seither unterstützte die württembergische Diözese rund 400 Projekte in Vietnam mit 4,6 Millionen Euro. Das Land zwischen China im Norden sowie Laos und Kambodscha im Westen hat drei Erzbistümer und 23 Bistümer, von denen Bischof Fürst neun besucht. Wenige Kilometer von der Grenze zu China liegt die nordvietnamesische Diözese Lang Son. Sie ist die erste Station für Bischof Gebhard Fürst, Domkapitular Heinz-Detlef Stäps und ihre drei Begleiter auf der Pastoralreise nach Vietnam. Für ganze 5.300 Gläubige ist Bischof Joseph Dang Duc Ngan zuständig. In der Diözese herrscht weitgehend bittere Armut. Die Gläubigen leben verstreut von etwas Landwirtschaft; die Jüngeren verdingen sich oft als Tagelöhner, die für chinesische Firmen Waren über die Grenze tragen. „Haben sie etwas Geld, kaufen sie vielfach davon Alkohol oder andere Drogen, verlieren damit ihre Arbeitskraft, landen im Gefängnis oder in einem Umerziehungslager“, erklärt Bischof Joseph der Reisegruppe aus der Diözese Rottenburg-Stuttgart um Bischof Gebhard Fürst. Die Hauptlast liege auf den Frauen. „Sie arbeiten auf dem Feld, versorgen ein paar Tiere und passen auf, dass diese nicht gestohlen werden.“ Manche trauten sich nicht einmal von ihrem Gehöft aus Sorge um den kleinen Besitz und schlafen direkt neben ihrem Wasserbüffel. Aus Angst um das bisschen Hab und Gut kommen viele auch nicht zur Kirche. Für die derzeit sieben Diözesan- und acht Ordenspriester bedeutet das, ständig unterwegs zu sein zu den Gläubigen, manchmal sind es nur zwei im ganzen Dorf. Bei Hausbesuchen hören die Seelsorger die Sorgen und Nöte an, trösten, geben so gut wie möglich Rat. Bischof Joseph besucht jede seiner 20 Pfarreien alle zwei Monate. Gottesdienste dürfen nach staatlichen Vorgaben nur in genehmigten Kirchen und Kapellen stattfinden. Dass nur noch 0,3 Prozent der Gesamtbevölkerung katholisch sind, liegt an zwei großen Fluchtwellen. Im Krieg zwischen französischer Armee und Vietkong und anlässlich der offiziellen Teilung des Landes 1954 waren rund 600.000 Katholiken, samt dem überwiegend französischen Klerus, geflohen. Nach dem chinesisch-vietnamesischen Krieg 1979 flohen wieder Katholiken aus Angst vor Verfolgung in den südlichen Landesteil. In der insgesamt schwierigen Lage tue es gut, sagt der Bischof von Lang Son, wenn die katholische Weltkirche deutliche Zeichen der Solidarität setze und Hilfe leiste. Die Diözese Rottenburg-Stuttgart hat bisher die Katholiken von Lang Son mit 64.000 Euro unterstützt, vor allem mit Zuschüssen für Gebäude, Bau oder Sanierung. „Hier steht die Wiege Vietnams“, erklärte Bischof Cosma Hoang Van Dat den Gästen aus Deutschland. In seiner Diözese Bac Ninh, zwischen Hanoi und Langson, liegt das Zentrum des Konfuzianismus, der traditionsreichen asiatischen Weisheitslehre. Zur Diözese gehören 125.000 Gläubigen, was 1,4 Prozent der Gesamtbevölkerung von neun Millionen Menschen auf dem 24.600 Quadratmeter großen Gebiet entspricht. Vor der Teilung des Landes hatte die 1883 gegründete Diözese Bac Ninh 70.000 Katholiken und fast 90 Priester, vorwiegend spanische Dominikaner. Nur 30.000 Gläubige und 14 meist alte Priester blieben und zahlten dafür einen hohen Preis. Bischof Fürst und seine Begleiter zeigten sich beeindruckt von der Dynamik, die in der Diözese spürbar ist. Unter anderem ein Seminar für junge Männer, ein Pastoralzentrum für die religiöse Bildung und ein Zentrum für Mission und Evangelisierung lassen Bischof Cosma hoffen, dass die Diözese äußerlich und innerlich weiter wächst. Die Diözese Rottenburg-Stuttgart hat Bac Ninh bisher mit rund 190.000 Euro unterstützt, schwerpunktmäßig mit Beiträgen für den Bau von Kirchen. Bischof Cosma ist beliebt wegen seiner Verbundenheit mit den Gläubigen, wegen seiner ausstrahlenden Freude, seiner Bescheidenheit und nicht zuletzt wegen seines großen Herzens für die Armen und Kranken. So fördert er ein vom Staat unterhaltenes Dorf für Leprakranke und dessen Krankenstation „Kraftquelle“ unweit der Stadt Bac Ninh nach Kräften, sammelt Kleidung für die 100 meist alten und verstümmelten Menschen dort. Einen Engel nennen sie den Bischof. Beim Besuch dort erlebte die Gruppe aus Rottenburg eine solidarische Gemeinschaft. Seit 1980 betreut Schwester Xuan von der Gemeinschaft vom heiligen Herzen Jesu das Dorf. Ein Parteifunktionär hat das Lepradorf auf Dauer gesichert. Dank seiner Initiative steht die katholische Ordensfrau auf der Gehaltsliste der kommunistischen Regierung. Schwester Xuan erklärt den Teufelskreis der Krankheit: Die Armen leben in unhygienischen Verhältnissen, werden durch Tröpfcheninfektion krank, vertragen wegen Mangelernährung die Medikamente nicht und nehmen sie deswegen nicht ein. Damit schreitet die Krankheit voran, ein Teufelskreis der Verstümmelung. Schwester Xuan lindert die sozial ausgrenzenden Folgen des Aussatzes und, so weit möglich, die körperlichen. Die kranken Frauen und Männer halten Hühner, bewirtschaften nach Möglichkeit ein Gärtchen und kochen für sich selbst. Zwei junge Frauen, die Ordensschwestern werden wollen, fertigen Beinprothesen für die verstümmelten Menschen an. Schwester Xuan will auf Lebenszeit bei ihren Schützlingen bleiben, und auch danach. Einen Platz für ihr Grab hat sie sich im Lepradorf bereits ausgesucht. Pressemeldung drs/Cäcilia Branz http://www.drs.de/index.php?id=105&no_cache=1&tx_ttnews[tt_news]=24339&t...  
......

Luật sư Lê Công Định ra tù

Một trong những nhân vật bất đồng chính kiến nổi tiếng ở VN, Luật sư Lê Công Định, vừa được ra tù trước thời hạn. Trang Blog của nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh cho biết, „Sáng nay (6.2.2013) những người thân của LS Lê Công Định đã vào khám Chí Hòa Sài Gòn đón LS trở về nhà“. Thân nhân của LS Định, bà Đặng Ngọc Ánh, xác nhận với BBC ông đã về nhà lúc 10:00 sáng thứ Tư 6/2 trong tình trạng "sức khỏe tốt nhưng hơi gầy". Luật sư Lê Công Định, nguyên Phó Chủ nhiệm Đoàn luật sư Sài Gòn, một trí thức từng có nhiều bài viết cổ súy cho dân chủ tại Việt Nam, bị bắt vào lúc 11 giờ trưa Thứ Bảy, 13 tháng 6, năm 2009, tại nhà riêng ở Sài Gòn và bị kết án 5 năm tù kể từ năm 2009 theo điều 79 và 88 Bộ luật hình sự. Ngày 20/01/2010, Tòa sơ thẩm TP Sài Gòn đã tuyên án từ 5 năm tới 16 năm tù giam, thêm từ 3 tới 5 năm quản chế tại gia cho các bị cáo trên, trong đó ông Lê Công Định lãnh án 5 năm tù, cộng thêm 3 năm quản chế tại gia. Tòa phúc thẩm sau đó đã y án trên. Như vậy là Ông được thả ra trước thời hạn. Cùng bị bắt với Ls. Lê Công Ðịnh, là các ông Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, và Nguyễn Tiến Trung. Tất cả đều bị qui chụp cho tội “âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân” theo điều 79 của Luật Hình Sự Việt Nam. Trong phiên xử, tất cả họ bị buộc tội đã cấu kết với "các thế lực phản động" trong và ngoài nước nhằm lật đổ chế độ. Họ cũng bị buộc tội liên quan tới Đảng Dân chủ Việt Nam, vốn không được phép hoạt động trong nước. Ông Lê Công Định còn bị cáo buộc đã tham gia khóa huấn luyện Đấu tranh Bất bạo động do đảng Việt Tân tổ chức. Sau khi ông Lê Công Định bị bắt và giam giữ trong tù, Bộ Ngoại Giao và nhiều Dân Biểu Hoa Kỳ cùng nhiều tổ chức quốc tế đã kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam trả tự do cho ông. Thời gian vừa qua, từng có tin đồn Luật sư Lê Công Định được thả và Hoa Kỳ sẵn sàng chấp nhận cho ông tị nạn chính trị, nhưng điều đó đã không xảy ra. Ông Lê Công Định đã hành nghề lâu năm tại TP Sài Gòn. Trước kia, với tư cách luật sư của công ty YKVN, ông đã cùng đối tác là hãng luật White & Case của Mỹ bảo vệ phía Việt Nam trong vụ kiện cá basa tại Hoa Kỳ. Sau đó, ông tham gia bào chữa cho nhiều vụ việc bị cho là 'nhạy cảm', như bào chữa cho các luật sư bất đồng chính kiến Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân và cho blogger Điếu Cày. Ông Lê Công Định cũng được biết tới như một cây bút viết các bài bình luận thời sự, nhiều bài đã đăng trên BBCVietnamese.com. Tốt nghiệp Đại học Luật năm 1989, ông Định lấy bằng thạc sỹ luật tại Đại học Tulane University, Hoa Kỳ hồi 2000. Trước đó, ông có một thời gian tu nghiệp tại Pháp. Năm 2004, LS Lê Công Định cưới Nguyễn Thị Ngọc Khánh, Hoa hậu Việt Nam 1998.
......

Vietnam: Mit harter Hand gegen Andersdenkende.

In Vietnam am Montag sind 22 Aktivisten einer verbotenen religiösen Gruppierung für viele Jahre hinter Gitter geschickt worden. In einem der größten Prozesse seit Jahren wurden sie beschuldigt, den Sturz der KP geplant zu haben. Die kommunistische Führung Vietnams lässt keine Zweifel an ihrem Machtanspruch zu und geht seit Monaten massiv gegen oppositionelle Strömungen und Dissidenten vor. "Propaganda gegen den Staat", heißt es dann meist, oder wie jetzt: "Umsturzversuch". Eine obskure religiöse Gruppierung wurde in Phu Yen mit langen Gefängnisstrafen abgeurteilt. Die staatlichen Medien berichteten von angeblichen Plänen, die sozialistische Regierung zu stürzen. Die Anklage hatte den im Februar 2012 Verhafteten vorgeworfen, unter dem Deckmantel eines Reiseveranstalters für Ökotourismus politisch aktiv gewesen zu sein und die KP sowie die "Volksherrschaft" verunglimpft zu haben. Sie sollen auch Geld aus dem Ausland erhalten haben.  Der Anführer der von ihm im Jahr 2003 gegründeten und von den Behörden als reaktionär bezeichneten Gruppe, Phan Van Thu, erhielt eine lebenslange Gefängnisstrafe, wie ein Anwalt der Verurteilten mitteilte. Die anderen Männer wurden demnach zu Haftstrafen zwischen zehn und 17 Jahren verurteilt. Die in den 1960er Jahren gegründete Gruppe soll am Buddhismus orientiert sein. Sie war nach dem Sieg über die USA 1975 von den Kommunisten offiziell verboten worden. Nach Angaben der staatlichen Nachrichtenagentur AVI soll die Gruppierung im Zentrum und im Süden Vietnams etwa 300 Mitglieder haben.   Erst im Januar waren 14 mehrheitlich katholische Regierungskritiker zu Gefängnisstrafen zwischen drei und 13 Jahren verurteilt worden. Ihnen wurde ebenfalls ein Umsturzversuch vorgeworfen. (DW.de)
......

Bischof Fürst besucht Partnerdiözesen in Vietnam

  Verbunden mit Christen in Vietnam Bischof Fürst besucht Partnerdiözesen   Zu einer zweiwöchigen Pastoralreise bricht Bischof Gebhard Fürst am Sonntag nach Vietnam auf. Zur katholischen Kirche im Land am Mekong unterhält die Diözese Rottenburg-Stuttgart seit 1992 Beziehungen und fördert dort Projekte.  Das Land zwischen China im Norden sowie Laos und Kambodscha im Westen hat drei Erzbistümer und 23 Bistümer, von denen Bischof Fürst neun besucht. Dabei stehen pastorale und diakonische Projekte im Vordergrund, darunter eine Leprastation und eine Taubstummenschule. Der Bischof wird begleitet vom Leiter der Hauptabteilung Weltkirche, Domkapitular Detlef Stäps. Bereits 1969 unterstützte Rottenburg-Stuttgart die katholischen Christen in dem kommunistisch regierten Land zum ersten Mal finanziell. Mit der politischen Öffnung Vietnams (Doi-Moi-Politik) wurde Anfang der neunziger Jahre eine intensivere Projektförderung möglich. Am längsten und intensivsten - seit 1992 - bestehen die Beziehungen zur Diözese Vinh nahe der alten Kaiserstadt Hue. Seither unterstützte die württembergische Diözese in Vietnam rund 400 Projekte mit 4,6 Millionen Euro. Dazu gehören der Bau von Kirchen und Gemeindehäusern, Renovierungen, Bildungsarbeit sowie sozial-diakonische Aufgaben. Mit der Vietnamreise von Bischof Fürst handelt es sich um seine siebte Pastoralreise zu Partnerdiözese in Übersee.(Uwe Renz) http://www.drs.de/index.php?id=105&no_cache=1&tx_ttnews[tt_news]=24250&tx_ttnews[backPid]=27&cHash=917626513d Xem thêm tin từ nguồn: http://www.giaophanvinh.net/modules.php?name=News&op=viewst&sid=9020
......

Đại diện nhân sĩ trí thức trao Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992

Hồi 10h30’ sáng nay, thứ Hai 4-2-2013, một đoàn đại biểu gồm 16 nhân sĩ trí thức, đại diện cho 72 người đầu tiên trực tiếp ký tên và hàng ngàn đồng bào đã tham gia ký tên vào bản “Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992”, đã đến Địa điểm tiếp nhận ý kiến đóng góp của nhân dân tại 37 Hùng Vương, Hà Nội, để trao bản Kiến nghị cho Ủy ban. Thành phần Đoàn đại biểu gồm: 1- Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội 2- Phan Hồng Giang, TSKH ngành nghiên cứu văn học, Hà Nội 3- Lê Công Giàu, nguyên Phó Bí thư thường trực Đoàn TNCS HCM – TPHCM, TPHCM 4- Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ KH & CN, Hà Nội 5- Phạm Duy Hiển, nguyên Phó Viện trưởng Viện năng lượng nguyên tử Việt Nam, Hà Nội 6- Vũ Đức Khiển, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Quốc hội, Hà Nội (vắng mặt đột xuất). 7- Tương Lai, nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội 8- Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội 9- Hồ Uy Liêm, nguyên Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội KH & KTVN, Hà Nội 10- Nguyễn Đình Lộc, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Hà Nội (Trưởng đoàn) 11- Huỳnh Tấn Mẫm, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn, TPHCM 12- Nguyên Ngọc, Nhà văn, Hội An 13- Hoàng Xuân Phú, GS, Viện Toán học, Hà Nội 14- Nguyễn Minh Thuyết, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa-Giáo dục & Thanh thiếu niên-Nhi đồng Quốc hội, Hà Nội 15- Nguyễn Trung, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội 16-  Tô Nhuận Vỹ, Nhà văn, Huế. Trước đó, Đoàn đã thông báo mời một số báo chí tới tham dự, đưa tin. http://anhbasam.wordpress.com/
......

Phái Đoàn Ngoại Giao Cộng Hòa Liên Bang Đức Đến Gặp Gỡ Trao Đỗi Với Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ

Vào chiều ngày 14.12.2012, Phái đoàn Ngoại giao Cộng hòa Liên bang Đức đã đến Thanh Minh Thiền viện gặp gỡ, trao đổi với Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ. Cùng đi với ông Conrad Cappell, Tổng Lãnh Sự Đức tại Saigon, có ông Markus Löning, Đặc phái viên Nhân quyền của chính phủ Đức, và ông Felix Schwarz. Được biết ông Markus Löning công du Việt Nam từ 9 tới 14.12.2012 để tìm hiểu tình hình chính trị và nhân quyền. Sau cuộc gặp gỡ Đức Tăng Thống, ông Markus Löning đã mở cuộc họp báo vào lúc 17 giờ 15 tại Khách sạn Renaissance Riverside ở Saigon trước khi rời Việt Nam trở về Đức.   Ông Markus Löning trân trọng chào hỏi Đức Tăng Thống và cho biết lý do chính phủ Đức cử ông đi tìm hiểu vấn đề nhân quyền và tự do tôn giáo tại Việt Nam, nên đến đây gặp Đức Tăng Thống mong tìm hiểu về tôn giáo. Đặc biệt ông nghe nhiều nguồn thông tin cho biết GHPGVNTN đang bị mất tự do, và tình trạng bị quản chế của Đức Tăng Thống. Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ đã tỉ mỉ kể lại những khó khăn của Phật giáo từ thời Pháp thuộc cho đến ngày nay dưới chế độ Cộng sản. Đặc biệt từ năm 1975, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất là nạn nhân đầu tiên và chính yếu của chính quyền Cộng sản. Vì vậy mà đã rất sớm, từ ngày 2.11.1975, 12 Tăng Ni tự thiệu tập thể tại Cần Thơ để phản đối chính sách đàn áp nhân quyền và tôn giáo. Cho tới 30 năm sau, đã có tất cả là 22 Tăng, Ni, Phật tử tự thiêu trong cuộc vận động cho tự do tôn giáo, nhân quyền, dân chủ và phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN). Bàn tay của Đảng Cộng sản đã xen vào nội bộ Phật giáo khi họ cho thành lập năm 1981 một Giáo Hội Phật giáo Nhà nước, được gọi là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, nhằm tiêu diệt GHPGVNTN. Tất cả mọi tài sản, giáo sản, cơ sở giáo dục, văn hóa, từ thiện xã hội, y tế, đại học Phật giáo cũng như hệ thống Trung tiểu học Bồ Đề, chùa viện, v.v… đều bị nhà cầm quyền Cộng sản tịch thu ngay sau năm 1975, cho đến nay vẫn chưa trả lại. Trong hoàn cảnh bế tắc làm cho đất nước ngày càng suy sụp, Giáo hội đã phát động từ năm 1993 phong trào đòi hỏi bầu lại dưới quyền giám sát của LHQ một Quốc hội đại biểu cho mọi thành phần xã hội, đảng phái, tôn giáo, đòi hỏi dân chủ đa nguyên từ năm 2001. Vì Giáo hội biết rằng dân chủ là cơ bản để phát triển đất nước. Không có dân chủ, nhân quyền không được tôn trọng và tôn giáo không thể có tự do sinh hoạt để giải quyết các vấn nạn xã hội và tâm linh. Đức Tăng Thống đưa ra một ví dụ mà bản thân ngài phải gánh chịu. Đó là năm 1994 tại đồng bằng sông Cửu Long có bão lụt lớn, Giáo Hội tổ chức đi cứu trợ thì lại bị nhà cầm quyền bắt giam vì « cứu trợ trái phép », tuyên án 5 năm tù giam và 5 năm quản chế. Hiện nay tôi bị chỉ định sống nhờ tại Thanh Minh Thiền Viện với lệnh quản chế bằng miệng, chẳng có giấy tờ gì cả. Hàng ngày công an ngồi canh gát trước cổng Chùa. Ông Markus Löning lại hỏi : Chùa này sinh hoạt ra sao, bao nhiêu người sống ở đây, có ai đến lễ chùa và có bị khó khăn gì khi đến, và có ai đến thăm Ngài không ? Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ cho biết, chùa chỉ có Thầy trụ trì và tôi thôi. Họ sợ bị tôi ảnh hưởng nên chẳng cho ai đến ở. Phần tôi, thì bị cấm không cho làm lễ Phật hay thuyết giảng cho Phật tử, dù sống trong một ngôi chùa. Ngày thường thì rất vắng vẻ. Thỉnh thoảng có Phật tử đến lễ nhưng thấy công an theo dõi nên sợ hãi không ai dám đến nữa. Chỉ những ngày lễ lớn mới có đông Phật tử tham dự. Thi thoảng có vài vị sư trong Giáo hội đến thăm tôi cho biết chút tin tức bên ngoài, tôi hoàn toàn bị cô lập. Ông Markus Löning - HT Thích Quảng Độ - Tổng Lãnh Sự Đức tại Sài Gòn Ông Markus Löning ngạc nhiên hỏi : Vì sao người ta xem Ngài nguy hiểm như vậy ? Đức Tăng Thống đáp : Là vì tôi sống theo lòng từ bi, khoan dung của Đức Phật, tôi theo con đường của dân tộc, không chịu đồng hành với chủ nghĩa Tam Vô và chủ trương bạo động đấu tranh giai cấp của người Cộng sản, nên họ đàn áp, giam cầm tôi. Năm 2001 tôi công bố « Lời Kêu gọi cho Dân chủ Việt Nam » qua một chương trình thực hiện Tám điểm. Tôi kêu gọi thành lập ba đảng tại Việt Nam, một đảng khuynh tả, một đảng huynh hữu, và một đảng trung lập đại diện cho 3 khuynh hướng của người dân. Nếu Đảng Cộng sản nghe và thực hiện, thì họ sẽ không bị nhân dân và lịch sử phán đoán. Nhưng Đảng Cộng sản bỏ ngoài tai, vì chỉ muốn độc tài đảng trị để ôm giữ quyền lực và tánh mạng của họ. Ông Markus Löning hỏi : Vì sao họ lo sợ cho tánh mạng họ ? Đức Tăng Thống đáp : Vì họ có quá nhiều đặc quyền đặc lợi, từ trước đến giờ họ gây quá nhiều tội ác với dân tộc Việt nam, cho nên họ chẳng dám buông ra là thế. Trong tình trạng như ngày nay, tôi rất âu lo cho đất nước chúng tôi rơi vào tay Trung quốc một ngày không xa. Cộng sản trên thế giới không còn, nhưng ý đồ của Cộng sản việt Nam vẫn là thà mất nước chứ không thà mất đảng. Họ chẳng lo gì cho quyền lợi và hạnh phúc của người dân. Trái lại họ còn bán đất bán biển cho Trung quốc, cho Trung quốc khai thác Bô xít trên Tây nguyên gây đại nạn sinh thái và uy hiếp quân sự, cho thuê rừng đầu nguồn 50 năm. Công nhân Trung quốc vào lập Làng, một ngày kia sẽ trở thành quân đội xâm lăng… Đức Tăng Thống kêu gọi chính phủ Đức và nhân dân Đức đang ở vị thế kinh doanh, giúp đỡ nhà cầm quyền Cộng sản hãy giúp đỡ cho nhân dân Việt Nam sớm có nhân quyền, dân chủ và tự do tôn giáo. Ông Markus Löning tiết lộ rằng trong cuộc gặp gỡ chính phủ Việt Nam ông có nêu ra vấn đề nhân quyền và tôn giáo, và đặt vấn đề sao Việt Nam không theo gương Miến Điện, thì phía Việt Nam không trả lời lại có vẻ lúng túng. Khi chia tay, ông Markus Löning, Đặc phái viên Nhân quyền của chính phủ Đức, cầm tay Đức Tăng Thống mà nói rằng : Chúng tôi sẽ tường trình lên chính phủ cuộc gặp gỡ Ngài hôm nay, và sẽ thúc đẩy cho Nhân quyền tại Việt nam, cũng như kêu gọi Trung quốc và Việt Nam nên đàm phán vấn đề Biển đông theo luật của quốc tế. Đức Tăng Thống đã trao cho Phái đoàn Ngoại giao Cộng hòa Liên bang Đức hai tập tài liệu bằng tiếng Anh : « Memorandum on the situation of the Unified Buddhist Church of Vietnam”(Giác thư về tình hình GHPGVNTN), và “The Unified Buddhist Church of Vietnam, 30 Years of Peaceful Struggle for Religious Freedom, Human Rights and Democracy in Vietnam”, tóm gọm các mốc lớn về cuộc đấu tranh cho tự do tôn giáo, nhân quyền và dân chủ của GHPGVNTN từ sau năm 1975. http://www.queme.net/vie/index_detail.php?numb=1995
......

Thế Của Quốc Tịch Mỹ

Tiến sĩ Nguyễn quốc Quân thoát khỏi ngục tù CS, trở về Mỹ ngày 30/01/2013. Một người Việt được tự do là mừng cho một người. Một nhà đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN thoát khỏi ngục tù CS là một niềm vui lớn cho người Việt còn nghĩ đến vận mạng nước nhà đang nằm trong gọng kềm CS, cho công cuộc đấu tranh  và cho chánh nghĩa tự do, dân chủ, nhân quyền VN. Trường hợp Tiến sĩ Nguyễn quốc Quân, một người Mỹ gốc Việt, một công dân Hoa kỳ, một nhà tranh đấu cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN, được phóng thích một cách bất ngờ còn nói lên cái thế quốc tịch Mỹ của người Mỹ gốc Việt hiện chiếm hơn phân nửa dân số người Việt hải ngoại. Cái thế công dân Mỹ gốc Việt, cái uy  của quốc tịch Mỹ là lợi thế, lợi khí an toàn và hữu hiệu cho công cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN, ngay trong chế độ CSVN. Và người Mỹ gốc Việt vận dụng rất thành công. Cùng bị cáo buộc tội âm mưu lật đổ chánh quyền mà 14 đồng bào Công Giáo ở Thanh Hoá, công dân của chế độ CSVN bị CSVN kêu án tổng cộng 83 năm tù cộng với mấy chục năm quản chế. Còn Ts Nguyễn quốc Quân  công dân Mỹ bị cáo buộc tội khủng bố rồi sau đổi tội danh thành âm mưu lật đổ chánh quyền lại được phóng thích chỉ sau 9 tháng điều tra xét hỏi ở trại tạm giam. Với quan điểm lập trường  “địch và ta” của CSVN, theo tinh thần Nghị Quyết 36 của Bộ Chánh Trị CSVN, người như Ts Nguyễn quốc Quân là “lực lượng thù địch” số 1 của CSVN. Ts Quân là một người Mỹ gốc Việt  thuộc một đảng chánh trị có chủ trương đưa cán bộ về nước ”bám thắt lưng địch mà đánh”,  với chiến lược, chiến thuật tuy ôn hoà, bất bạo động, tuy dùng quyền lực mềm tự do, dân chủ, nhân quyền rất êm nhưng vô cùng thấm. Nó thấm tận tâm can tì phế thận của CSVN. CS sợ như thí sinh sợ phạm húy trường thi,  không dám nói tên mà nói trại ra là “diễn biến hoà bình”. CSVN  quá sợ nên rất thù đảng Việt Tân, chụp cho cái  mũ là “khủng bố”, dù Đảng Việt Tân là một chánh đảng có trụ sở ở Mỹ là quốc gia lãnh đạo cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu; nên chẳng con ma nào kể cả  con ma “khỉ đít đỏ” cũng không tin sự cáo buộc vô căn, vô lý này của CSVN. Cái thế công dân Mỹ đã làm cho CSVN rất bối rối, mất bình tĩnh, tiền hậu bất nhứt trong khi giải quyết vấn đề bắt bớ, giam cầm TS Quân. Công an CSVN ban đầu buộc tội khủng bố, rồi đổi tội danh âm mưu lật đổ chánh quyền. Rồi toà án CSVN công khai tuyên bố ngày giờ đăng đường xét xử rồi bất thần hoãn, lại hoãn vô hạn định, rồi bất ngờ phóng thích, cho trở về Mỹ ngay. Vì vấn đề mặt mũi, Đảng Nhà Nước CSVN lại làm một chuyện ruồi bu, kiến đậu nữa. “Báo đài” của Đảng Nhà Nước CSVN nói, đương sự “nhận tội” và nhà nước “khoan hồng”, nhưng  dấu đầu lòi đuôi nói “trục xuất” về Mỹ. Báo chí quốc tế, báo chí VN hải ngoại và truyển thông ngoài luồng của người dân Việt trong nước đều cười ngạo cái trò  hề rẻ tiền của CSVN. Lý trí và luận lý cho thấy nếu thực sự Ts Quân “nhận tội”, nhà nước “khoan hồng” thì hà cớ gì CSVN phải sợ mà trục xuất  TS ngay sau khi trả tự do. Tại sao CS không dùng Ts trong việc tuyên truyền cho chế độ là khoan hồng. Già sử TS Quân có yếu bóng vía “nhận tội”, thì hà cớ gì Ts lại chịu biệt giam 9 tháng, mà không nhận trước để được khoan hồng thả ra cho khoẻ thân. Ts Quân là một người già dặn kinh nghiệm CS, thuộc một chánh đảng dám xông vào bám thắc lưng địch mà đánh thì đâu có yếu bóng vía như vậy bao giờ. Người trí thức đấu tranh, người có đảng tịch cao như Ts Quân dám làm là dám chịu, sẵn sàng vào tù ra khám, kiên cường giữ khí tiết của một nhà cách mạng. Kể cả Bà Quân, một phụ nữ lúc nào cũng bình tĩnh, kiên cường khi lên Quốc Hội, Bộ Ngoại Giao, nhờ can thiệp và đòi công lý cho chồng, cũng như khi trả lời phỏng vấn với truyển thông quốc tế. Chính cái thế công dân Mỹ, chính cái uy của quốc tịch Mỹ, hay nói một cách khác chính chánh quyền Mỹ của dân, do dân, vì dân đã bảo vệ công dân Mỹ, đã can thiệp trực tiếp hay gián tiếp, đã áp lực công khai hay ngấm ngầm khiến CS VN phải thả Ts Quân. Ủy Ban Quốc Hội của Mỹ đã hơn một lần mở cuộc điều trần, chất vấn, khuyến cáo Thứ Trưởng Ngoại Giao, hỏi coi Toà Đại sứ, Tổng Lãnh sự Mỹ ở VN có đi thăm TS Quân, Bộ Ngoại Giao có cử người gặp phu nhân của TS Quân ở Mỹ chưa. Cả chục dân biểu hơn một lần chánh thức gởi văn thư cho Bộ Ngoại Giao, Phủ Tổng Thống yêu cầu can thiệp cho những nhà đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền, trong đó thường nhắc đến Ts Quân một cách quan tâm đặc biệt. Còn Toà Đại sứ hay Tổng Lãnh sự Mỹ ở VN hàng tháng có cử người vô tận khám viếng thăm Ts Quân. Mọi biến chuyển về sức khoẻ tinh thần và vật chất của Ts, nhà ngoại giao Mỹ đều có cho Bà Quân ở Mỹ biết. Sứ quán của Mỹ ở VN cũng có liên lạc với luật sư nhiệm cách bảo vệ cho Ts Quân khi ra toà. Sứ quán và nhân viên ngoại giao Mỹ làm việc hết sức chuyên nghiệp và tận tâm, không khoa trương mà rất hữu hiệu. Xem các cuộc phỏng vấn của các nhà báo trong vụ Ts Quân được phóng thích trở về Mỹ, cho thấy nhân viên ngoại giao Mỹ có liên quan trong vụ Ts Quân chỉ cho luật sư nhiệm cách biện hộ cho Ts Quân biết Ts Quân được trả tự do khi máy bay của Ts Quân rời khỏi không phận của VN. Và Bà Ts Quân cũng thế, ngoại giao Mỹ thông báo đúng lúc CSVN không còn có thể gây khó khăn gì cho Ts Quân nữa. Bà Quân được thông báo cụ thể giờ Ts Quân đổi máy bay ở Đài Loan để nói chuyện với chồng. Chánh quyền của dân, do dân vì dân Mỹ, cấp trung ương cũng theo dõi sát và công khai và chánh thức bày tỏ niềm vui khi công dân Mỹ trở về Mỹ. Xin lấy tin của Pháp ít chủ quan hơn trong chuyện của Mỹ. Tin  thông tấn xã Pháp AFP, từ Hà nội phát ngôn viên Toà Đại sứ Mỹ ở Hà Nội, Christopher Hodges, cho biết là phía Mỹ cảm thấy “khích lệ” trước việc Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân được phóng thích. Từ Washington DC, bà Victoria Nuland, phát ngôn viên bộ Ngoại giao Mỹ trong cuộc tiếp xúc với báo chí xác định đối với chính quyền Hoa Kỳ, “không có một ưu tiên nào cao hơn sự an toàn và an ninh của công dân Mỹ ở ngoại quốc”. Hoa Kỳ cảm thấy “hài lòng về việc công dân Mỹ Richard Nguyễn được trả tự do”, và đấy là một “tin vui”. Đúng là một tin hết sức vui đối với người Mỹ gốc Việt. Một nhà đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyển VN thoát khỏi ngục tù CS về với gia đình, cộng đồng, đoàn thể trong những ngày Tết cỗ truyển của dân tộc Việt./. Nguồn: Việt Báo
......

Mỹ dọn cỗ mời Tàu xơi

Chính sách đối ngoại dưới thời George W. Bush là một thảm hoạ và còn để lại nhiều di hại cho Hoa Kỳ. Hậu quả có thể được tóm gọn qua 6 chữ “Mỹ dọn cỗ mời Tàu xơi” trong khu vực Hồi Giáo ở Trung Đông và Nam Á. Hoa Kỳ tốn gần 1.5 ngàn tỷ USD và 8000 binh lính thiệt mạng trong hai cuộc chiến, nhưng khi các công ty Tây Phương vẫn còn ngần ngại về tình hình an ninh thì Hoa Lục đã nhảy vào ký các hợp đồng dầu hoả và khoáng sản khổng lồ tại Iraq [1] và Afghanistan [2]. Ở các thành phố lớn như Baghdad và Kabul lại tràn ngập tivi, tủ lạnh v.v… mua từ Trung Quốc. Gia đình Hoàng Tộc của Saudi Arabia đang tăng cường hợp tác với Bắc Kinh [3] vì 3 lý do: (1) sợ bị Mỹ bỏ rơi giống như cựu Tổng Thổng Mubarak của Ai Cập, (2) bực tức vì ảnh hưởng của Do Thái khiến Hoa Kỳ ngày càng thiên lệch (3) sản xuất dầu hoả tại Mỹ đang tăng nhanh nhờ vào khai thác đá phiến nên chính sách tại Trung Đông có thể sẽ thay đổi. Hoàng Gia cần tiền để xoa diụ dân chúng nên mở cánh cửa mời Bắc Kinh đến mua dầu và đầu tư xây dựng hạ tầng, cả hai việc làm hoàn toàn phù hợp với nhu cầu nhập và xuất cảng của Hoa Lục. Nhưng Trung Quốc rất khéo léo đi theo chính sách ngoại giao không những chỉ là nước đôi mà đến nước ba: dùng quyền phủ quyết tại Liên Hiệp Quốc để che chở cho Iran, đồng thời vẫn trao đổi mậu dịch và kỹ thuật với Do Thái; như vậy là cùng một lúc hợp tác với cả 3 nước thù địch gồm Saudi – Iran – Do Thái, đồng thời vẫn ký kết mua dầu với 3 quốc gia có trử lượng hàng đầu trên thế giới là Saudi – Iran – Iraq. Trong khi Hoa Lục đầu tư ồ ạt vào Phi Châu thì các công ty Tây Phương ngày càng gặp khó khăn nhất là từ sau vụ Pháp đem quân sang Mali, và quân khủng bố tấn công vào cơ sở sản xuất khí đốt tại Algeria khiến hàng chục con tin Âu-Mỹ bị sát hại. Chính sách ngoại giao của Bắc Kinh tại Afghanistan cũng vô cùng khéo léo để cùng một lúc thu lợi trên ba mặt. Hoa Lục công nhận cả hai chính quyền Kabul và Taliban để tạo tư thế bù đắp lổ trống khi NATO sẽ rút quân khỏi vào năm 2014. Bắc Kinh lại được sự hợp tác của Pakistan để chận đứng ảnh hưởng của Ấn Độ vào Afghanistan. Hoa Lục có thêm nhu cầu ổn định tại Trung Á để chận việc phiến loạn Hồi Giáo tràn vào lảnh thổ Tây-Môn-Nhĩ của Trung Quốc. Ít nhất trong ngắn và trung hạn Bắc Kinh đang có lợi thế và nhanh chóng phát triển ảnh hưởng tại Trung Đông và Nam Á, phần lớn nhờ vào chính sách ngoại giao độc đoán bắt đầu từ thời George W. Bush. Nhưng tiềm ẩn trong đó là mối lo tâm phúc: hai khu vực này là thùng thuốc nổ nên càng lộ mặt sẽ dễ bị vạ lây! Nga thua Mỹ chạy nhưng cả hai nước này ngày thêm tự lực về năng lượng, trong lúc Trung Quốc bắt buộc phải can dự vì nhu cầu năng lượng tăng nhanh. Cứ trong vài năm thể nào cũng có một cuộc khủng hoảng, nguồn cung cấp bị gián đọạn khiến giá dầu nhảy vọt thì Nga-Mỹ lời to (nhờ bán dầu) trong lúc Trung Quốc (cùng với Âu Châu, Nhật, Nam Hàn, v.v…) sẽ… than trời. Có người sẽ cho rằng Mỹ “cấy” sinh tử phù vào Trung Quốc. Người viết không nghĩ vậy, nhưng đôi khi hay không bằng hên!  
......

Xây dựng Hiến pháp mới

Việc nhân dân góp ý để xây dựng Hiến pháp 2013 đang được thực hiện. Ý định của lãnh đạo đảng và nhà nước là lấy ý kiến nhân dân trong ba tháng (từ đầu tháng 1 đến cuối tháng 3) dựa vào bản dự thảo đã được công bố. Bản tổng hợp ý kiến đóng góp của nhân dân sẽ được trình bày tại phiên họp Quốc hội vào giữa năm nay, sau đó bản dự thảo được sửa đổi bổ sung cuối cùng sẽ được Quốc hội xem xét và biểu quyết tại phiên họp trong tháng 10. Nhưng công việc không đơn giản như thế. Ngay sau khi bản dự thảo đầu tiên được công bố, đã có ý kiến khá gay go về quá trình xây dựng bản dự thảo cũng như nội dung của bản dự thảo này. Trước hết đã có ý kiến của hàng ngàn trí thức tiêu biểu yêu cầu kéo dài thêm thời gian lấy ý kiến của nhân dân, vì 3 tháng xem ra không thể đủ. Lý lẽ của ý kiến này là Hiến pháp cực kỳ hệ trọng, nhất là khi toàn dân mong muốn xây dựng một nhà nước pháp quyền thật sự, việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật trở nên nền tảng của cuộc sống toàn dân. Do đó, không thể làm hình thức, qua loa được. Một bộ phận không nhỏ trong nhân dân không hài lòng với bản dự thảo vừa công bố, vì tuy đề ra hàng trăm điều sửa đổi, nhưng lại hoàn toàn bỏ qua những thay đổi cơ bản cần thiết và cấp bách nhất. Trong những ý kiến này, có 2 đề nghị cực kỳ quan trọng rất khó lòng bác bỏ, đó là đổi tên gọi từ Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) thành Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) như trước đây; đồng thời có ý kiến yêu cầu đảng Cộng sản Việt Nam nên chọn cho mình một tên gọi khác thích hợp với thực tế và khoa học hơn. Hiện nay VN gần như là nước duy nhất còn mang danh xã hội chủ nghĩa (XHCN). Trung Quốc vẫn là nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Cuba nay là nước Cộng hòa Cuba. Libya đã từ bỏ danh xưng XHCN. Miến Điện cũng không còn tự gọi là một nước XHCN nữa. Hơn nữa hiện nay chưa ai chỉ ra được hình  thù chủ nghĩa xã hội (CNXH) và chủ nghĩa Cộng sản (CNCS) ở nước ta nó ra sao, mang những đặc điểm cụ thể gì, bao lâu nữa sẽ hình thành, qua mấy kế hoạch 5 năm, qua mấy chiến lược 10 năm. Trong Hiến pháp không thể ghi những khái niệm chung chung, mơ hồ, xa vời. Hơn nữa CNCS kiểu Mác-Lênin trong thực tế đã bị phá sản triệt để ở Liên Xô cũ và Đông Âu; vài nước còn theo chủ nghĩa này đang lâm vào  tình trạng khủng hoảng cả trên lý luận lẫn thực tiễn. CNCS đã bị lên án là một sai lầm khủng khiếp của lịch sử, là tội ác chống nhân loại, với hơn một trăm triệu nạn nhân được ghi rõ trên một tượng đài kỷ niệm ở thủ đô Washington của Hoa Kỳ. Trên khắp châu Âu, CNCS kiểu Mác-Lênin cũng bị cấm truyền bá và bị coi là tội ác lớn hơn cả tội ác của chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Vậy thì đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN)có nên giữ tên gọi như cũ, vẫn khẳng định trung thành với học thuyết Mác-Lênin, vẫn kiên định CNXH kiểu Mác-Lênin hay không? Lẽ phải, khoa học, uy tín của đảng, danh dự dân tộc, thể diện quốc gia đều yêu cầu phải sửa đổi. Có ý kiến nên tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý gọn, nhanh về vấn đề trên vì đã chin trong lý lẽ, trong dư luận rồi. Nếu đổi tên nước thành Nước VNDCCH thì sẽ có sự thay đổi tận gốc rễ từ chế độ độc đảng sang chế độ đa đảng, sẽ cần một đạo luật để sự chuyển đổi diễn ra trong luật pháp, trật tự, từ đó sẽ phải sửa rất  nhiều điều khoản cho đồng bộ. Hiến pháp hiện hành, nếu được sửa đổi một cách cơ bản, hoặc tốt hơn nữa là được thay đổi bằng một văn kiện hoàn toàn mới theo đúng mệnh lệnh của đất nước, ý nguyện của toàn dân, và yêu cầu của thời đại, sẽ mang lại một diện mạo mới mẻ cho đất nước. Sự chuyển đổi này có giá trị như một cuộc cách mạng dân chủ sâu sắc. Ngoài ra có mấy vấn đề hệ trọng khác cần được trao đổi, đối thoại rộng rãi trong dư luận. Đó là vấn đề sở hữu nhiều thành phần về ruộng đất như tại hầu hết các nước khác, từ đó khôi phục quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất vốn có từ xưa;  vấn đề tách rời ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp để có kiểm soát và cân bằng quyền lực;  vấn đề không coi sở hữu quốc doanh là chủ đạo trong nền kinh tế chung … Mới có vài tuần lễ bản dự thảo được đưa ra công luận, đã có phản ứng và hồi âm ngay. Đã có yêu cầu mạnh mẽ, dứt khoát chuyển thật sự sang một chế độ dân chủ đa nguyên. Trong số người đông đảo đã ghi tên đóng góp ý kiến, người ta thấy có những nhân vật rất nổi tiếng, mới cũng như cũ, thuộc cả hai giới nam nữ, từ mọi miền Bắc, Trung, Nam, thuộc mọi lứa tuổi, có cả người ngoài đảng CS và trong đảng. Lý lẽ của họ rất rõ ràng, lập luận công phu, Ban Lý luận Trung ương,  và 900 “lý lẽ viên” của Thành ủy Hà Nội khó lòng bác bỏ nổi. Lúc này chính là lúc Bộ Chính trị cần lắng nghe ý kiến và nguyện vọng của nhân dân hơn lúc nào hết. Bộ Chính trị đã bỏ qua quá nhiều thời cơ và lãng phí quá nhiều thời gian của đất nước. Hãy lắng nghe tiếng nói của nông dân bị mất ruộng đất, của các nhà kinh doanh nhỏ và vừa bị chèn ép, của tuổi trẻ nhiều ước mơ bị vùi dập. Trong khi đó, nạn tham nhũng  đang ngang nhiên hoành hành, xã hội băng hoại vì kỷ cương buông lỏng từ trên cao, y tế xuống cấp, giáo dục lạc hậu, đều liên quan đến tệ quan liêu, độc đoán, thiếu vắng dân chủ. Trong công cuộc sửa đổi Hiến pháp, tạo ra Hiến Pháp Dân chủ năm 2013, có thể nói trên thực tế đã hình thành 2 nhóm lãnh đạo đối lập nhau. Một bên là lãnh đạo của đảng CS mà đại diện chính là Bộ Chính trị hiện nay, có vẻ như không mặn mà với việc sửa đổi Hiến pháp, hài lòng với bản dự thảo hiện tại, gồm có hàng trăm thay đổi vụn vặt, thứ yếu, tránh né những thay đổi cơ bản cần thiết đã hoàn toàn chin muồi. Một bên là một số trí thức khá đông đảo, chất lượng cao, không ít người là cán bộ cao cấp của đảng và nhà nước, một số từng là cán bộ lãnh đạo, cùng thanh niên, phụ nữ, lao động, nông dân, nhà kinh doanh… có trình độ và tâm huyết, mong muốn một cuộc thay đổi đúng mức, theo hướng dân chủ đa nguyên, hòa nhập với thế giới dân chủ hiện đại, có lợi cho sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước. Đây là một cuộc đấu tranh ôn hòa, bằng lý lẽ, qua lập luận, tranh luận, thuyết phục nhau, qua hội họp, bài nói và bài viết trên các phương tiện thông tin đại chúng ngày càng mở rộng, lấy nhân dân cử tri cả nước làm trọng tài. Đây là dịp để nhân dân ta tập dượt thực thi quyền dân chủ của cử tri trong xã hội, với thái độ ôn hòa, xây dựng, bình đẳng tương kính trong một xã hội văn minh, có hàng ngàn năm văn hiến. Do có thể có những bất đồng gay gắt, cần đề phòng trước những thái độ nóng nảy, thành kiến, chụp mũ nhau, không lắng nghe rõ ý kiến của nhau, và nên luôn luôn lấy quyền lợi tối cao của nhân dân của đất nước làm trọng. Đất nước quê hương ta đã qua một thời kỳ chến tranh bi thảm, nay là một dịp quý hiếm để chung sức chung lòng tạo nên một đạo Luật Cơ bản làm nền tảng vững vàng cho một chế độ dân chủ đa nguyên mà nhiều nước đã thực hiện từ thế kỷ XVIII như Hoa Kỳ và Pháp, những gương sáng từng được ghi đậm nét trong bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 của nước  VNDCCH. Đảng CSVN đang lãnh đạo đất nước có đóng góp nhưng cũng có nhiều sai lầm trong trách nhiệm của mình, nay có phần trách nhiệm chủ yếu trong việc điều hành xây dựng bản hiến pháp mới năm nay. Quần chúng nhân dân đang thức tỉnh về nền dân chủ đa nguyên ưu việt đặt niềm tin trên vai tập thể trí thức dân tộc đã có sáng kiến đề ra những tuyên bố, kiến nghị, lời kêu gọi vừa qua. Lịch sử sẽ ghi nhận thái độ đúng đắn, trọng lẽ phải, vì nhân dân, thức thời tự nguyện rời bỏ vai trò độc quyền độc tôn lãnh đạo đất nước của Đảng CSVN, chủ động sát cánh cùng toàn dân xây dựng nền dân chủ đa nguyên ưu việt, một bước tiến mạnh mẽ lên phía trước của nền văn minh nhân loại. Bùi Tín (VOA)
......

Những nhà thiên văn biết bay

Có lẽ nhiều người trong chúng ta không bao giờ biết vị trí của dải Ngân Hà trên bầu trời, nhưng bọ hung thường xuyên nhìn lên "sông Ngân" để xác định phương hướng. Nếu thấy một đống chất thải, bọ hung thường gom "chiến lợi phẩm" thành viên tròn rồi lăn tới một vị trí an toàn để đánh chén. Chúng luôn lăn thức ăn theo đường thẳng, bởi nếu lăn theo đường cong, rất có thể chúng sẽ trở lại vị trí xuất phát, nơi những con bọ hung khác có thể cướp thành quả lao động của chúng. Marie Dacke, một nhà khoa học của Đại học Lund tại Thụy Điển, từng chứng minh rằng bọ hung có thể định hướng bằng cách xác định vị trí của mặt trăng, mặt trời. Tuy nhiên, bà sửng sốt khi thấy chúng vẫn định hướng tốt trong những đêm không trăng. Vì thế, bà đoán rằng chúng còn dựa vào một nguồn sáng khác trên trời để định hướng. Sau nhiều thử nghiệm trong một trung tâm nghiên cứu thiên văn ở Nam Phi, bà phát hiện bọ hung định hướng nhờ ánh sáng từ dải Ngân Hà. "Đương nhiên, bọ hung lăn cục phân theo mọi hướng, chứ không phải theo hướng song song hay vuông góc với dải Ngân Hà. Chúng chỉ coi dải Ngân Hà như một vật tham chiếu để xác định phương hướng mà thôi", Dacke phát biểu. Giới khoa học đã biết người, chim và hải cẩu có khả năng định hướng bằng cách xác định vị trí của các vì sao. Nhưng đây là lần đầu tiên chúng ta phát hiện ra rằng côn trùng cũng có khả năng tương tự. Theo dự đoán của Dacke, rất có thể những con bọ hung sở hữu mắt kép nên chúng có thể thấy rõ dải Ngân Hà trên bầu trời.
......

Thư gửi đảng Việt Tân

Thưa quý vị đảng Việt Tân! Khi nghe tin TS. Nguyễn Quốc Quân "bị" trục xuất về Mỹ [1], lẽ ra tôi nên có lời chúc mừng như thông lệ, sau gần cả năm TS. Quân phải hy sinh tự do và chấp nhận nhiều thiếu thốn trong nhà tù CS, tuy nhiên, suy cho kỹ chẳng có gì ngạc nhiên để chúc mừng, bởi việc này không nằm ngoài dự đoán của nhiều người quan sát. Giới cầm quyền VN, trước sau cũng phải trả tự do cho ông Quân mà thôi, bởi họ hiểu [2]: "Sẽ là một thảm họa cho Việt Nam nếu họ dám trừng phạt một công dân Hoa Kỳ bằng một bản án nặng nề chỉ vì ủng hộ nhân quyền trong hòa bình" - Linda Malone, một giáo sư tại Trường Luật William và Mary, người tư vấn cho luật sư bảo vệ Quan cho biết. "Họ sẽ phải chịu một mất mát hết sức lớn vào những gì mà họ từng nỗ lực để vươn lên". Lời bình luận của bà GS. Linda Malone làm tôi vừa cảm thấy vui vừa cảm thấy nhục và tủi. Vui đây là vui vì giới cầm quyền Việt Nam biết sợ... người giàu (!). Nhục đây là nhục khi đứng trước dân vừa giàu, vừa giỏi, vừa ... dữ :) giới cầm quyền Việt Nam biết phải hạ mình. Tủi đây là tủi cho tôi (và hàng triệu người trong nước) là người Việt Nam, nên "giá" ... quá bèo so với... người Mỹ!!! Tôi cảm thấy tiếc đứt ruột những đồng tiền thuế mà người Việt Nam trong nước đang đóng để nuôi cả bộ máy vừa ăn vừa phá cái đất nước còm cõi, đáng thương này! Thay vì chúc mừng, tôi muốn nói lời cám ơn đến cá nhân và gia đình TS. Nguyễn Quốc Quân nói riêng và đảng Việt Tân nói chung. Lý do cám ơn: Quý vị đã thay mặt những người dân cô thế trong nước "vỗ mặt ĐCSVN" [3] bằng hành động buộc họ phải trả tự do cho TS. Quân. Việc trả tự do cho TS. Quân, nói một cách chính xác: một thất bại thảm hại và được báo trước cho ĐCSVN. Nó là một thất bại tất yếu không tránh khỏi của họ. Ừ thôi! Bản chất của bọn gian hùng, lưu manh, lừa đảo, vô học thì đời nào cũng vậy, phải không thưa quý vị? Chắc quý vị cũng chẳng lấy gì làm băn khoăn về thói "cà cuống chết đến đít còn cay" qua giọng lưỡi "vì lý do nhân đạo" của mấy ông "đầy tớ"... "nhà tôi"! Nhân đây, tôi muốn bày tỏ lòng cảm kích của cá nhân tôi về tính kiên trì của TS. Nguyễn Quốc Quân và đảng Việt Tân với những chuyến đi về nhọc nhằn như thế này. Tôi cho rằng, những chuyến đi về này nên được tiếp tục thực hiện nhiều hơn, thường xuyên hơn từ nhiều đảng viên của quý vị, bởi nó đạt được hiệu quả quan trọng: - Tạo tính chính danh và quảng bá danh tiếng của Việt Tân cũng như của những tổ chức chính trị khác. Tính chính danh của quý vị càng cao, đồng nghĩa bộ mặt ngụy danh của CSVN càng bị lột trần trước mắt dân chúng và thế giới. - Thông qua nhiều chuyến đi về Việt Nam như đi chợ rồi bị bắt [*], bị tung lên báo, lên tivi là "khủng bố", âm mưu lật đổ", rồi cuối cùng buộc phải thả dù bất kỳ lý do nào v.v... vô hình chung giới cầm quyền VN tự phơi bày nỗi bất lực của họ. Thất bại của họ chính là thành công của quý vị. Song song đó, làm cho người dân trong và ngoài nước càng thấy hình ảnh "bắt cóc bỏ dĩa" ngày càng trở nên hài hước, mất tác dụng. Nó cũng tạo cảm giác "thuốc đã lờn" cho ngay cả những viên CAM hàng ngày đối diện với các trang báo tự do để rình rập mà suy ngẫm lại trước việc làm vô đạo của ĐCSVN mà cải tà quy chánh, quay về với nhân dân. - Một khi giới cầm quyền Việt Nam chẳng thể ngụy tạo hay vu khống gì thêm được nữa, bởi ngoài những trang sách, laptop mà không có một thứ công cụ nào liên quan đến bạo lực, thì điều 79, 88 càng trở thành trò hề thật thuyết phục đối với tất cả. Hình ảnh này càng làm nổi rõ tính bạc nhược, đê tiện và vô sỉ của giới cầm quyền Việt Nam đối với những tù nhân lương tâm. Lại một mùa xuân sắp tới! Nghĩ về hình ảnh TS. Nguyễn Quốc Quân quây quần ấm cúng bên gia đình, bạn hữu mà tôi rưng rưng nước mắt nhớ về các tù nhân lương tâm khác, sau cánh cửa sắt nặng nề và lạnh lùng, đang nằm chèo queo trên nền đất lạnh! Nhân dịp tết Nguyên Đán, kính chúc quý vị cùng gia quyến một năm mới an khang và tiếp tục dấn thân bằng những chương trình hành động thiết thực, hiệu quả để chung tay giải cứu người dân trong nước chúng ta và bảo vệ vẹn toàn lãnh thổ đất Mẹ, trước bọn giặc Tàu tham tàn thâm căn cố đế cùng những kẻ ngụy danh đang manh tâm chống lại dân tộc. _______________ [1] Trục xuất Nguyễn Quốc Quân khỏi Việt Nam (Dân Luận) [2] Sự chậm trễ của cuộc họp nhân quyền Mỹ-Việt cho thấy mối quan hệ giữa hai nước đang nhạt dần vì Hà Nội đàn áp các nhà đấu tranh (Dân Luận) [3] Nguyễn Ngọc Già - Vỗ mặt đảng Cộng sản Việt Nam! (Dân Luận) [*] Đố họ dám đánh đập, hành hung công dân nước khác. Ai cũng biết, những tên tham tàn, lưu manh chỉ giỏi đày ải và hiếp đáp dân trong nước mà thôi. Thế nên tác giả Đồng Phụng Việt mới gọi nó là "ác với dân", còn tôi thì gọi nó là "quân khôn nhà dại chợ".   Nguồn: http://danluan.org/tin-tuc/20130130/thu-gui-dang-viet-tan  
......

CSVN phóng thích Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân

VIỆT NAM CANH TÂN CÁCH MẠNG ĐẢNG THÔNG CÁO BÁO CHÍ   Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân đã được trả tự do   Sau nhiều lúng túng thể hiện qua việc phải hoãn phiên xử Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân vào ngày 22/01/2013 vừa qua, nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đã phải trả tự do vô điều kiện cho Ts Nguyễn Quốc Quân vào chiều ngày 30/01/2013 (giờ Việt Nam). Hiện thời Ts Nguyễn Quốc Quân đang trên đường trở về Hoa Kỳ và sẽ tới phi trường quốc tế Los Angeles vào lúc 19:25 cùng ngày. Ts Nguyễn Quốc Quân đã bị công an bắt giữ ngay lúc vừa đáp xuống phi trường Sài Gòn vào ngày 17/04/2012. Mặc dù CSVN đã cố gán ghép ông vào tội “khủng bố” rồi sau đó lại chuyển thành tội “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, nhưng thực chất chỉ là những cáo buộc hàm hồ, vô căn cứ. Sau nhiều tháng giam giữ trái phép Ts Nguyễn Quốc Quân, nhà cầm quyền CSVN đã cho thấy sự lúng túng và nhất là lo ngại trước những phản ứng mạnh mẽ từ dư luận sau vụ xử 14 Thanh Niên Yêu Nước tại Nghệ An đã xảy ra trước đó vào hai ngày 8 và 9/01/2013. Đuối lý và nhất là trước những áp lực nặng nề từ chính quyền Hoa Kỳ và quốc tế, cuối cùng nhà cầm quyền CSVN đã phải trả tự do vô điều kiện cho Ts Nguyễn Quốc Quân. Trước sự kiện này, Đảng Việt Tân xác nhận quan điểm như sau: Cực lực phản đối nhà cầm quyền CSVN đã giam giữ trái phép Ts Nguyễn Quốc Quân, đồng thời đã xuyên tạc đường lối và hoạt động của Đảng Việt Tân. Đảng Việt Tân chủ trương đấu tranh chấm dứt độc tài và xây dựng dân chủ bằng phương pháp bất bạo động. Trong tinh thần đó, mọi đảng viên Việt Tân sẽ tiếp tục sát cánh cùng đồng bào Việt Nam để giành lại nhân quyền, công lý và dân chủ cho đất nước. Đảng Việt Tân sẽ tiếp tục vận động mọi áp lực để tranh đấu cho sự tự do của tất cả mọi tù nhân lương tâm đang bị nhà cầm quyền CSVN giam giữ vì lý do chính trị. Sau cùng, Đảng Việt Tân xin chân thành cảm tạ chính quyền Hoa Kỳ và nhiều quốc gia trên thế giới, các tổ chức nhân quyền, cơ quan quốc tế, và nhất là sự hỗ trợ của đồng bào Việt Nam ở trong và ngoài nước đã nỗ lực góp sức tạo áp lực để Ts Nguyễn Quốc Quân được tự do. Ngày 30 tháng 1 năm 2013 Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng
......

Chế Độ Việt Cộng, Sụp Đổ Sớm Hơn Dự Kiến

Đồng bào Việt Nam, càng ngày càng nhận diện rõ bộ mặt thật “buôn dân bán nước” của Hồ Chí Minh (HCM) và đồng đảng của ông ta; nên độc đảng này đang/sẽ sụp đổ sớm hơn dự kiến và sự sụp đổ được tính bằng ngày, không còn tính bằng năm hay tháng. Việt Nam Cộng sản (Việt Cộng=VC), đã và đang răm rắp tuân theo sự chỉ đạo của Tàu là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc VN. Chính quyền Việt Nam Cộng sản, đã vâng lệnh quan thầy Trung cộng, đã chỉ thị công an thẳng tay đàn áp đồng bào VN, khi đồng bào tranh đấu chống quân Tàu xâm lấn trên đất liền và biển đảo của ta. Ngày xưa, trong thời bị Bắc thuộc, các Thái thú Tàu đã bóc lột dân ta tàn bạo và đến khi nước ta bị Pháp đô hộ, thực dân Pháp đã đày đoạ dân ta rất nhục nhằn. Vì vậy, nhân dân ta đã quật khởi, kiên cường đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi bờ cõi. Tuy nhiên, sự bóc lột và nhục nhằn ấy cũng chưa bằng lối cai trị quá tàn nhẫn của VC ngày nay. Vì sao tôi dám khẳng định như vậy?. Xin thưa: - Sự nhục nhằn của nhân dân ta, vào các thời ngoại bang đô hộ trước đây; chưa từng có hàng triệu người bỏ nơi chôn nhau cắt rốn đi tìm tự do. Nhưng sau hiệp định Genève (ngày 20-7-1954), hàng triệu người, từ miền Bắc di cư vào miền Nam Việt Nam để tìm đời sống tự do. Sau ngày 30-4-1975, cũng hàng triệu người Việt lại bỏ nước ra đi lánh nạn Cộng sản, chấp nhận mọi hung hiểm, chết chóc trên biển cả hãi hùng hay nơi rừng rú rậm rạp?! - Trên bốn ngàn năm lịch sử Việt Nam, chưa hề xảy ra cái quái thai: “Đấu tố - Cải cách ruộng đất”, hoặc “Vụ án - Nhân Văn Giai Phẩm”, chỉ có vào khoảng năm 1954, chính quyền Hà Nội lại bị nhà cầm quyền Bắc Kinh trực tiếp sai khiến, mới có cái quái thai này?!. Sau năm 1975, VC lại cướp đoạt hoặc trưng thu ruộng vườn của nhân nhân, mới có hiện tượng “Dân oan”, mà chữ “Dân oan” từ điển tiếng Việt chưa từng có trước đấy!. Chính sách chiếm đoạt ruộng vườn tạo nên một thùng thuốc nổ chậm cực lớn, sẽ nổ tan tành chế độ VC. Đấy là một “thế lực thù địch” chính VC tạo ra và VC sẽ nhận lấy hậu quả “gậy ông đập lưng ông” trong nay mai. - Trung cộng được đặc quyền khai thác bauxite Tây Nguyên, dự án ước tính khoảng 3,1 tỷ USD, chúng lại muốn xây dựng một tuyến đường sắt dài khoảng 270 km và một cảng biển trên nước ta, lấy cớ để vận tải sản phẩm?!. Gây nên quan ngại rất lớn về sự có mặt cả hàng ngàn người Tàu tại địa bàn Tây Nguyên, nơi có vị trí chiến lược quan trọng về an ninh và quốc phòng. Theo tiết lộ WikiLeaks: Vụ Bauxit Tây Nguyên, chính quyền Tàu đã mua đứt Nông Đức Mạnh 300 triệu USD, Nguyễn Tấn Dũng 150 triệu USD. Việc hối lộ này, đã đăng trên các báo: Tờ báo Aftenposten của Na Uy, Dân Làm Báo... Đồng thời, Báo Financial Times cho rằng: “Dự án Bauxit Tây Nguyên, nói lên tính phụ thuộc của Việt Nam đối với Trung Quốc, và dự án này là một món quà”?! Dự án Bauxit Tây Nguyên rất nguy hiểm về: An ninh, quốc phòng; kinh tế, xã hội; nhất là ô nhiễm nghiêm trọng môi trường sinh thái, ảnh hưởng đến đời sống nhân dân. Nhưng, hai ông Dũng và Mạnh chỉ cần lấy được tiền, họ xem tiền hối lộ trên đồng bào và tổ quốc?! Chính quyền VC chẳng những sợ sệt luồn cúi Tàu, mà còn xem người Tàu như đấng chí tôn (vua chúa) của mình, nên sợ “phạm huý” phải gọi tên bọn cướp biển Tàu đã/đang sát hại ngư dân VN là “tàu lạ”, dù VC biết chắc chắn tàu cướp biển này là của bọn “giặc Tàu”. Đúng là VC tự nguyện xem mình là thần dân của quân Tàu cướp nước?! Từ những hành động chính quyền VC như thế, nên VC được nổi tiếng: “Hèn với giặc, ác với dân” là vậy. Do đấy, mới có phong trào “người Việt yêu nước”, đã/đang chống lại hành vi sai trái của chính quyền VC, những nhân vật yêu nước nồng nàn, đã đấu tranh quyết liệt, phải trân trọng kể đến: Cha Lý, luật sư Cù Huy Hà Vũ, bà Lê Hiền Đức, bà Bùi Thị Minh Hằng, luật sư Lê Công Định... Đồng bào VN luôn kính trọng và biết ơn các vị này, họ vì quốc gia dân tộc mà phải chịu đoạ đày trước hành động trả thù vô lý và dã man của VC. Người xưa có câu: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (Dân quý nhất, đất nước thứ hai, vua nhẹ nhất). VC lại không hiểu được lý lẽ này, hay hiểu nhưng họ là kẻ bán nước, là hồn Tần Cối (1090-1155) tái sinh. Tần Cối làm quan Tể tướng nhà Tống, đã ngấm ngầm dâng nước Tống cho giặc Kim, vì thế sau này nước Tống bị nước Kim xâm lược. “Tần Cối tái sinh, buôn bán nước Đồng bào xông xáo, giữ gìn quê Quân Tàu rình rập, xâm cương thổ Ai chống, ai hàng, ai tái tê???!!!” Tôi tin rằng: “Hồn thiêng sông núi phù trì, nay đất nước đang bị hao hụt bởi ngoại xâm, với tinh thần bất khuất của dân tộc, toàn dân sẽ đồng lòng gìn giữ đất nước, sẽ lật đổ chính quyền Thái thú VC. Ngày ấy không xa, có lẽ chính quyền VC không thể tồn tại lâu hơn 3000 ngày nữa”. Chưa hết, ngày 4-9-1958, thủ tướng Tàu cộng là Chu Ân Lai, ra một bản tuyên bố vùng biển Đông gồm Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Tàu. Tuân thủ ý đồ của quan thầy vừa tuyên bố; ngày 14-9-1958, thủ tướng miền Bắc Việt Nam là Phạm Văn Đồng, với sự đồng loã chủ tịch nước là Hồ Chí Minh, gửi công hàm cho Chu Ân Lai, xác nhận chủ quyền của Tàu cộng theo bản tuyên bố của họ Chu. Trong khi ấy, quần đảo Hoàng Sa thuộc Đà Nẵng, quần đảo Trường Sa thuộc Khánh Hòa (quần đảo Trường Sa ở ngoài khơi của Khánh Hoà chạy dài đến Philippines. Năm 1933, HS thuộc tỉnh Bà Rịa. Năm 1956, Tổng thống VNCH ký sắc lệnh, đổi Bà Rịa thành tỉnh Phước Tuy), như vậy Hoàng-Trường Sa là của miền Nam VN (VNCH), ông Đồng dâng biển đảo thiếu yếu tố pháp lý. Quá trớ trêu, chúng ta sẽ gọi ông Đồng và ông Hồ là 2 kẻ ăn cắp hay 2 kẻ ăn trộn đảo của VNCH, xin đồng bào cho ý kiến?!. Do đấy, ngày 19-1-1974, Tàu cộng đem hải quân đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa và đến năm 1988, Tàu cộng lại đem hải quân đánh chiếm nhiều đảo của ta ở Trường Sa. Ngày 30-12-1999, gọi là phân định lại biên giới Việt-Trung, VC đã nhượng cho Tàu cộng khoảng 700 km vuông, thuộc đất của các tỉnh Hà Giang, Lạng Sơn... Ngày 25-12-2000, chính quyền VC, cắt nhượng tiếp vùng vịnh Bắc Bộ của VN cho Tàu cộng, khoảng 11,000 km vuông. Từ cổ chí kim, từ Á qua Âu, qua Mỹ, chưa bao giờ có “Kẻ bán nước, lại bắt giam người yêu nước”, ba bloggers yêu nước, thuộc Câu lạc bộ Nhà báo Tự do, tranh đấu chống quân Tàu xâm lấn VN, lại bị chính quyền bán nước VC, tuyên phạt tại cái gọi là toà án Sài Gòn ngày 24-9-2012: Nguyễn Văn Hải, tức Điếu Cày, 12 năm tù. Tạ Phong Tần, 10 năm tù và Phan Thanh Hải, 4 năm tù giam. Lại cũng “Kẻ bán nước, xét xử người yêu nước”, gọi là cái tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, trong hai ngày 8 và 9-1-2013, gọi là xét xử 14 thanh niên Công giáo: Hồ Đức Hòa, Đặng Xuân Diệu, Lê Sơn, cô Nguyễn Đặng Minh Mẫn, Nguyễn Đình Cương, Nguyễn Văn Duyệt, Nguyễn Văn Oai, Nông Hùng Anh, Nguyễn Xuân Anh, Hồ Văn Oanh, Thái Văn Dung, Trần Minh Nhật, Nguyễn Đặng Vĩnh Phúc và chị Đặng Ngọc Minh. Không thể khuất phục trước bọn Việt gian bán nước; lòng yêu nước kiên trung thôi thúc, những thanh niên yêu nước này đã dám đứng lên dõng dạc hô to: “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam và Đả đảo Trung Quốc xâm lược”. Chưa hết, lòng yêu nước nồng nàn còn sáng chói, Paul Minh Nhật đã nói khẳng khái: “Tôi không có tội, nên nhà cầm quyền Việt Nam muốn bỏ tù hay làm gì thì cứ tùy thích”. Đặng Xuân Diệu đã nói hùng hồn: “Tôi không làm bất cứ điều gì trái với lương tâm, nên dù nhà cầm quyền có dùng nhục hình và bản án nặng nề để hại Tôi, thì chính quyền đang dẫm đạp lên đạo lý tốt đẹp ngàn đời của dân tộc VN và đó là chuyện của họ, họ phải tự chịu trách nhiệm”. Đáng phục, những lời khẳng khái và hùng hồn ấy, như phảng phất lời son sắt của danh tướng Trần Bình Trọng đã mắng giặc: “Ta thà làm quỉ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc, ta đã bị bắt thì chỉ có chết thôi”, lời nói này, sau khi tướng Trần Bình Trọng bị giặc Nguyên (Tàu) bắt và dụ hàng vào năm 1285. Tất cả 14 người thanh niên yêu nước, đã bất khuất trong công cuộc đấu tranh chống quân Tàu xâm lược, mà lại bị VC cáo buộc “hoạt động lật đổ chính quyền”?!. Kết án tổng cộng 83 năm tù giam và 42 năm quản chế?! Chống Tàu xâm lược, vì sao VC ngạo ngược gọi là “hoạt động lật đổ chính quyền”, chính sự vu khống này sẽ “lộng giả thành chơn”, mà nhân dân ta sẽ hạ bệ chính quyền VC bán nước trong một ngày không xa. Có lẽ VC không học Sử Việt, nên không biết vua Trần Nhân Tông đã căn dặn: “Các ngươi chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ cho mình quyền nói một đàng làm một nẻo. Cho nên họa lâu đời của ta là họa Trung Hoa. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra nơi biên ải. Các việc trên khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn: Tức là họ không tôn trọng biên giới quy ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các ngươi phải nhớ lời Ta dặn: Một tấc đất của Tiền Nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác”. Nói tới: “Có lẽ VC không học Sử Việt”, thì tôi lại cảm thông cho ông Nguyễn Tấn Dũng, nghe nói Ba Dũng là con rơi, con rớt của ông Nguyễn Chí Thanh gì đấy, bị bơ vơ, đến năm 12 tuổi phải đi làm liên lạc viên, nên trách Ba Dũng không học Sử Việt là trách oan rồi! VC trước đây, vừa mưu mô quỷ quái, vừa lừa lọc và hung hãn, đồng bào có người lầm mà tin theo, có người sợ mà khuất phục. Nhưng ngày nay (2013); đồng bào đã nhận diện rõ bộ mặt giả dối và “buôn dân bán nước” của Hồ Chí Minh và đồng đảng của ông ta, nên dân không còn tin theo và sợ sệt VC nữa. VC lại quên câu nói: “ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh” hoặc: “tức nước vỡ bờ” là chuyện phải đến nay mai, vì người dân đã bị VC dồn đến đường cùng. Đại văn hào cũng là chính trị gia Nguyễn Trãi đã nói: “Đẩy thuyền đi là dân mà lật thuyền cũng là dân”. Vì vậy, cần xem xét kỹ lại hành động của VC, càng ngày VC càng đàn áp dân chúng thô bạo hơn, VC không nghĩ đến trường hợp người dân bị đè nén quá mức, giống như lò xo càng đè thì sức bật ngược càng mạnh. Do đấy, dự kiến rằng VC sẽ sụp đổ trong 3000 ngày là còn quá lâu. Nếu VC không thay đổi hoặc tiến đến đa nguyên đa đảng gấp, thì VC có thể không tồn tại được tới một nửa thời gian vừa dự kiến; vì “ý dân là ý trời”. Nhân đây, người viết cũng xin có vài lời tâm tình với Quân đội và Công an VN hiện nay. Người viết nói thật, đã ở tuổi nghỉ hưu, còn Công an và Quân đội đang phục vụ, có lẽ còn trẻ trung hơn, để xưng hô theo tuổi tác của người Việt; người viết xin gọi các người là chú (chú em) nhé. Về Quân đội có lẽ các chú đang “án binh bất động”, trong khi đất nước đang âm ỉ cháy ngầm chưa bùng phát, nhưng các ông: Đại tá Đào Văn Nghệ, đại tá Bùi Tín, tướng Trần Độ, tướng Nguyễn Trọng Vĩnh... đã quá bức xúc trước cảnh quân Tàu hung hăng, lấn chiếm bờ cõi của ta và xót xa chính quyền VC quá nhu nhược, nên đã thẳng thắn lên tiếng. Thành thật, tôi nghĩ rằng: “Mấy chú đã hiểu rõ hiện tình đất nước ta, đang bị quân Tàu rình rập xâm chiếm, mà chính quyền thì bán nước cầu vinh”. Nên tôi nhắc lại, để mấy chú nhớ, trong bài thơ “Viếng đền Kiếp Bạc”, hai câu luận, HCM viết: “Bác đưa một nước qua nô lệ Tôi dẫn năm châu đến đại đồng” Mấy chú đừng vội trách mắng HCM, tại sao lại hỗn láo với vị anh hùng khả kính Trần Hưng Đạo, mà phải thấy rõ việc họ Hồ có ý định làm nô lệ, thì cần suy nghĩ hơn: “Tôi dẫn năm châu đến đại đồng” là đại đồng nào vậy?! Nhập chung VN với Tàu chăng? Lúc đấy Tàu 1 tỉ dân, còn VN thì 50 triệu dân, tức là dân số VN chỉ bằng 1/20 dân số Tàu, có phải họ Hồ muốn nhờ Tàu đồng hoá dân Việt của mình không; bọn xâm lược Tàu hoan nghênh lắm đấy?! Còn nữa, những tên đàn em của HCM, vì ảnh hưởng tính nô lệ ấy, mà văn nô Tố Hữu khóc Stalin là một người Nga, mà cha mẹ không bằng, với lời lẽ kẻ nôbộc không kém: “Ông Stalin ơi, Ông Stalin ơi! Hỡi ơi, Ông mất! đất trời có không? Thương cha, thương mẹ, thương chồng Thương mình thương một, thương Ông thương mười”. Thôi, dù sao họ cũng đã qua đời rồi! Mấy chú ráng bỏ qua đi, hãy nhìn về hiện tại lo cho tương lai đất nước mình thì hơn. Người viết, xin kể mẩu chuyện khác để mấy chú thấy rõ lòng người mình rất độ lượng: Sau năm 1975, chính quyền VC bắt buộc treo ảnh của HCM, nơi cửa mỗi nhà dân ở miền Nam, nhiều người nhăn nhó khó chịu, vì ông Hồ mà con em miền Bắc “sinh Bắc tử Nam” cả triệu người, và quân lính miền Nam bị tử thương tới 250 ngàn người, nhưng có một anh trong xóm đã gượng cười, nói rằng: “Thì cứ treo hình ông Hồ trước cửa nhà, cứ nghĩ là nhà mình nay có kẻ ngồi tại cửa trông nhà thì có sao đâu?!”. Thế là bà con cười đùa và treo hình HCM, không còn ái ngại nữa. Có một thời gian, chính quyền lại ra lệnh đem hình HCM vào thờ ở chùa, ở nhà thờ, như Phật, như Chúa. Có một chùa nọ (vì nhạy cảm không thể nêu đích danh), chú tiểu nghĩ kẻ bán nước như HCM, không thể để hình nơi bàn thờ của chùa được, nên loay hoay không biết tính sao, đến hỏi thầy trụ trì. Vị hoà thượng hiền hoà ôn tồn bảo: “Con cứ để tượng ông Hồ, dưới chân tượng Phật, biết đâu ông Hồ nghe kinh kệ lâu ngày sẽ tiêu trừ bớt tội lỗi như núi của ông ta. Mô Phật, cầu ông ta sớm được siêu thoát, thì chùa mình cũng làm được việc thiện là độ kẻ ác qua bến mê!” Đấy, mấy chú Bộ đội và Công an, có thấy dân mình từ người lương đến người tu hành đều hiền hoà và dễ dãi cả, chỉ có độc đảng Cộng sản là đi ngược lại tình tự dân tộc. Tôi thì tin đại đa số mấy chú vẫn có lương tâm người Việt. Chỉ có một số chú Công an đã nóng nảy gây tội lỗi quá trầm trọng, như việc “bịt mắt cha Lý”, “lột hết quần áo cô Nguyễn Hoàng Vi”... Mấy chú Công an man rợ ấy, đã bị nhân dân thế giới lên án và nguyền rủa, mình là người Việt cũng cảm thấy bị xấu hổ lây! Ngoài ra, mong mấy chú ghi tâm: “Dân chi phụ mẫu”, mấy chú là con cháu từ nhân dân mà ra và đời sống của mấy chú là do nhân dân đã đóng thuế nuôi đấy, nhớ đừng có bội bạc với nhân dân đấy nhé.
......

Viết về chính trị

Viết để đánh động vào cảm xúc của người đọc, hoặc đa số người đọc, không khó. Trong lãnh vực văn chương, không khó. Trong lãnh vực chính trị, lại càng không khó.   Chính trị, nơi thường có những tranh chấp quyết liệt, thậm chí, đẫm máu nhất, oái oăm thay, lại thường là nơi người ta dễ đồng cảm với nhau nhất. Lý do dễ hiểu: chính trị tác động đến con người không phải chỉ với tư cách cá nhân mà còn với tư cách tập thể. Thứ nhất, tất cả các chính phủ đều chỉ đại diện cho một khối người nhất định nào đó. Không bao giờ có chính phủ của toàn dân. Những cách nói “chính phủ của toàn dân” bao giờ cũng là những lối mạo nhận, đầy giả dối. Những số phiếu bầu 100% hay ngay cả trên 90% cho một người hay một đảng phái nào đó chắc chắn là những số phiếu gian lận. Chính phủ, may lắm, chỉ là chính phủ của đa số. Chứ không phải là của toàn bộ. Của tất cả. Đã có đa số thì sẽ có thiểu số.  Hai bên sẽ tranh chấp với nhau, nhưng ít nhất trong từng bên, sẽ rất dễ có sự đồng cảm.   Thứ hai, bất cứ chính sách lớn nào của chính phủ, về các phương diện kinh tế và xã hội, cũng đều ít nhiều có tác dụng tích cực đối với nhóm người này và tác dụng tiêu cực đến một nhóm người khác. Hai nhóm này có thể tranh chấp với nhau; nhưng trong nội bộ từng nhóm thì lại thường dễ đồng cảm với nhau.   Một ví dụ đơn giản: Khi quyết định tăng thuế, rất hiếm khi chính phủ dám tăng thuế đồng loạt. Thường chỉ tăng thuế ở một mức thu nhập nào đó, nghĩa là, nhắm vào một tầng lớp xã hội nào đó. Ví dụ, có đảng chủ trương tăng thuế của giới tư bản, thật giàu và giảm bớt thuế cho giới trung lưu hoặc dưới trung lưu; ngược lại, cũng có đảng chủ trương tăng thuế giới trung lưu, cắt giảm trợ cấp xã hội của thành phần có thu nhập thấp và giảm hoặc không tăng thuế giới giàu có với lập luận: thành phần đại tư bản giàu có ấy đã đóng góp lớn lao trong lãnh vực nhân dụng, tạo công ăn việc làm cho cả hàng ngàn hay chục ngàn người khác.   Bất cứ chính sách thuế khoá nào, như vậy, cũng làm lợi cho một số người và ngược lại, làm thiệt một số người khác. Trong từng nhóm, những người có lợi và những người bị thiệt ấy, rất dễ có sự đồng cảm với nhau.   Ở các chế độ độc tài, nhất là độc tài ở giai đoạn cuối, sự đồng cảm càng dễ nảy nở: trừ một thiểu số được hưởng lợi từ độc tài, những nạn nhân của độc tài thường rất gần nhau ở hoàn cảnh cũng như ở tâm trạng.   Khi một tâm trạng được cả đám đông chia sẻ, viết để đánh động cảm xúc của họ là điều dễ dàng. Ví dụ, ở Việt Nam hiện nay, không mấy người không bất mãn trước sự độc tài, tham lam và tàn bạo của giới cầm quyền. Nắm bắt sự bất mãn ấy: không khó. Khích động được sự bất mãn ấy: cũng không khó. Xoáy sâu vào những bất mãn ấy, người cầm bút rất dễ nhận được đồng cảm hay ngay cả sự hoan nghênh.   Việc làm ấy, dĩ nhiên, không phải không có ích. Nó khiến mọi người tự giác hơn về tội ác của giới cầm quyền. Nó làm mọi người thấy gần gũi hơn với tư cách nạn nhân hay chứng nhân. Nó lột mặt nạ, toàn bộ mặt nạ, của những tên bạo chúa giả dối để không còn ai có thể bị ảo tưởng hay bị lừa bịp nữa.   Nhưng việc làm ấy không phải không có hại. Dân chúng đang quằn quại đau đớn và phẫn uất, gặp những bài viết đánh động vào cảm xúc của mình, rất dễ đồng cảm. Thấy sung sướng. Thấy hả hê. Thấy như được trả thù. Bao nhiêu u uất, u uẩn và phẫn nộ dường như được giải toả. Người ta bỗng thấy nhẹ nhõm hẳn. Và vì sự nhẹ nhõm ấy, người ta không thấy có nhu cầu hành động hay làm gì thêm để thay đổi tình thế.   Nói hại là vì vậy.   Tôi nghĩ, trong thời điểm hiện nay, cần hơn là những bài viết nhằm khai mở nhận thức. Nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay tham nhũng? Điều đó hầu như ai cũng biết. Nhưng tham nhũng đến độ nào? Quan hệ giữa tham nhũng và thể chế chính trị như thế nào? Tại sao hành động chống tham nhũng, để có hiệu quả, phải gắn liền với hành động chính trị? Trả lời các câu hỏi ấy, người ta không phải chỉ vuốt ve cảm xúc mà còn làm thay đổi nhận thức của người đọc.   Chỉ nhận thức không, không đủ tạo thành cách mạng. Chỉ cảm xúc không, cũng không đủ tạo thành cách mạng. Không phải chỉ nhờ việc nhận thức được bản chất của độc tài, người ta có thể sẵn sàng đổ xô xuống đường chống lại độc tài. Cũng không phải chỉ do bất mãn độc tài, người ta đã có thể sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình để đánh đổ độc tài.   Cách mạng bao giờ cũng là kết quả của cả hai, nhận thức và cảm xúc: khi cảm xúc được soi sáng thành nhận thức và khi nhận thức sâu sắc đến độ biến thành cảm xúc.
......

Vietnam: Neue Verhaftungswelle

28. Januar 2013 Leider erweist sich die Vietnam-Petition als bitter nötig. Nach Informationen verschiedener Medien in Deutschland (Der Spiegel) und Österreich (Der Standard) stehen erneut 22 Dissidenten in Phu Yen vor Gericht, denen im schlimmsten Fall die Todesstrafe droht. Ich danke Herrn Dr. Hong An Duong für den Hinweis und bitte alle, die es noch nicht getan haben, die Vietnam-Petition zu unterzeichnen. https://www.openpetition.de/petition/online/verbesserung-der-menschenrec... (Josef Bordat)  http://jobo72.wordpress.com/2013/01/28/vietnam-neue-verhaftungswelle/ Viet Nam Lại thêm đợt bắt bớ 28.01.2013 Thỉnh nguyện thư cho Việt Nam (Vietnam-Petition) chứng tỏ là hết sức cần thiết. Theo các cơ quan truyền thông như ở Đức (báo Der Spiegel) và ở Áo (báo Der Standard) lại có 22 nhà bất đồng chính kiến bị sử ở tòa án Phú Yên, họ có thể bị án tử hình nếu lãnh án nặng nhất.                                                                                                              Tôi kêu gọi ai chưa ký bản thỉnh nguyện cho Viet Nam (Vietnam-Petition) xin mời vào link dưới đây để ký tên:https://www.openpetition.de/petition/online/verbesserung-der-menschenrec...                                                                                                                                                                      (Josef Bordat)
......

Prozess in Vietnam

28. Januar 2013, 10:42 Uhr 22 Dissidenten droht die Todesstrafe http://www.spiegel.de/politik/ausland/vietnam-dissidenten-droht-todesstrafe-a-880026.html http://www.dw.de/quo-vadis-vietnam/a-16574254 Tòa án CS xét xử 22 thành viên của “Hội đồng công luật công án Bia Sơn”. Ngày 28.12013, Tòa án CS tỉnh Phú Yên đưa ra xét xử 22 thành viên của “Hội đồng công luật công án Bia Sơn” với tội danh gán ghép “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo điều 79, khoản 1, Bộ Luật Hình sự. 22 bị cáo này gồm các ông Phan Văn Thu (SN 1948), Từ Thiện Lương (SN 1950), Trần Quân (SN 1984), Lê Đức Động (SN 1983), Nguyễn Thái Bình (SN 1986), Lê Duy Lộc (SN 1956), Lê Phúc (SN 1951), Võ Thành Lê (SN 1955), Nguyễn Kỳ Lạc (SN 1951), Vương Tấn Sơn (SN 1953), Võ Ngọc Cư (SN 1951), Đoàn Đình Nam (SN 1951), Võ Tiết (SN 1952), Nguyễn Dinh (SN 1968), Đoàn Văn Cư (SN 1962), Phan Thanh Ý (SN 1948), Đỗ Thị Hồng (SN 1957), Trần Phi Dũng (SN 1966), Lê Trọng Cư (SN 1966), Phan Thanh Tường (SN 1987), Tạ Khu (SN 1947 ) và Lương Nhật Quang (SN 1987). Theo cáo trạng của CSVN thì từ năm 2003 đến tháng 2-2012, tại Khu du lịch sinh thái Đá Bia thuộc địa phận đèo Cả (xã Hòa Xuân Nam, huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên), ông Phan Văn Thu cùng với 21 bị cáo nêu trên đã thành lập một tổ chức với tên gọi “Hội đồng công luật công án Bia Sơn.”, mà cáo trạng cho là tổ chức chính trị. Cũng theo cáo trạng thì Tổ chức này thành lập 12 ban, 26 pháp hội và 4 nhóm chưa đặt tên pháp hội ở các địa phương như Phú Yên, Khánh Hòa, Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đắk Lắk, Thành phố Hồ Chí Minh, An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang với 293 người tham gia.  
......

Bên Thắng / Bên Thua & Những Bức Tường Lòng

“Người Nga có câu ngạn ngữ là nếu thiếu chó chăn, loài cừu không trở nên bầy đàn được. Cái khó của những cộng đồng người Việt hải ngoại là họ có dư loại chó này. Ðã thế, phần lớn, đều là… chó dại!” Khi còn bị phân chia bởi bức tường Bá Linh, dân Ðức hay kể câu chuyện hài này: Có một con chó chui tường từ Ðông sang Tây. Thấy khách lạ nên lũ chó bên Tây Ðức xúm xít và tíu tít hỏi thăm: - Bên ấy có hội bảo vệ súc vật không? - Có chứ. - Có bác sĩ thú y không? - Có luôn. - Có thẩm mỹ viện và nghĩa trang dành riêng cho chó không? - Có tuốt. - Thế thì việc gì đằng ấy phải vất vả chui tường sang đây? - Tại vì ở bển bị cấm được cho… sủa! Tháng 9 năm 1989, bức tường Bá Linh bị đập đổ. Ðông Ðức được giải phóng. Từ đây, người dân được quyền ăn nói tự do, và chó có quyền… được sủa. Sự thống nhất nước Ðức về thể chế, cũng như về nhân tâm, tuy không phải là một tiến trình toàn hảo nhưng có thể được coi như là ổn thỏa – ngoại trừ đối với một số người. Họ là những di dân đến từ Việt Nam, theo như tường thuật của Alisa Roth: “Người Việt vẫn đang là nhóm Á Châu lớn nhất tại thành phố Bá Linh. Những nguời được mệnh danh là Người Việt miền Tây là những người miền nam Việt Nam, hầu hết là thuyền nhân mà trong những năm tiếp theo chiến thắng 1975 của cộng sản, họ đã đổ đến những vùng bây giờ là Tây Ðức.” “Còn nguời Việt miền Ðông là những nguời đến Ðông Ðức vào thập niên 1960 và 1970 cùng với các công nhân xuất khẩu từ những quốc gia cộng sản đang phát triển tới làm việc trong các nhà máy…” “… Cái cộng đồng nhỏ bé này hãy còn duy trì sự chia cắt với hai thế giới, hai phương trời cách biệt. Những ý thức hệ – từng xé nát nước Ðức và nước Việt Nam ra làm đôi – hiện vẫn còn luân lưu mạnh mẽ tại nơi đây…” Nó “mạnh mẽ” tới độ khiến một người dân bản xứ phải thốt lên rằng: “Bức tường Bá Linh nằm trong đầu óc của người Việt miền Ðông với người Việt miền Tây còn cao hơn cả bức tường của người dân Ðức đối với người dân Ðức.” (“Berlin’s Divide Lingers For Vietnamese Expatriates Capital’s East – West Gap Reflects Cold War Past,” San Jose Mercury News, 12 Jul. 2002:A1/ Việt Mercury 12 Jul. 2002: 1 + 69. Trans. Nguyễn Bá Trạc”). Nói như thế, nghe đã phũ phàng nhưng (vẫn) chưa …hết ý! Trong cuốn Tổ Quốc Ăn Năn của Nguyễn Gia Kiểng – ấn bản 2001, Paris, nơi trang 70 – tác giả còn trích dẫn nhận xét của một người ngoại quốc khác về dân Việt, như thế này đây: “Ils ne s’aiment pas” (Chúng nó không ưa nhau đâu). Cha nội Parisien nào đó nói bậy bạ vậy mà… trúng phóc. Những phương tiện truyền thông và giao thông của thời hiện đại quả có làm cho trái đất nhỏ lại, và khiến cho loài người gần gũi với nhau hơn. Nhưng riêng với với dân Việt thì không. Nhất định là không. Người ngoài có vẻ “hơi” ngạc nhiên về thái độ “rất kém thân thiện” của dân Việt đối với nhau, trên bước đường lưu lạc. Họ sẽ ngạc nhiên chết (mẹ) luôn nếu biết rằng những “bức tường ô nhục” tương tự hiển hiện khắp chốn, kể cả ở Việt Nam, chứ chả riêng chi ở Berlin. Dù đất nước đã “thống nhất” hơn một phần tư thế kỷ, dân chúng giữa hai miền Nam/Bắc Việt Nam (rõ ràng) vẫn chưa gần nhau mấy. Đôi lúc, họ ăn ở cư xử với nhau cứ y như những kẻ phải sống trong một cuộc hôn nhân… cưỡng bách. Theo “truyền thống,” người Việt hay chia phe và họ thường nhìn nhau qua những “lỗ châu mai” từ những “pháo đài” của… phe mình. Họ hay gọi nhau là “tụi này” hay “tụi nọ” (tụi Công Giáo, tụi Phật Giáo, tụi Nam Kỳ, tụi Bắc Kỳ, tụi Trung Kỳ…). Gần đây, có thêm một “tụi mới” nữa – tụi thuộc… phe thắng cuộc! Và đó mới chỉ là những chuyện nhỏ, ở miền xuôi. Ở miền ngược, miền núi, hay còn gọi là miền cao, miền sơn cước (hoặc cao nguyên) thì còn nhiều chuyện… kỳ cục dữ nữa. Nơi đây, một phần dân tộc Việt vẫn chưa được nhìn nhận là người thường hay người Thượng. Họ bị coi là… “tụi mọi” và bị chính đồng bào mình (toa rập với cường quyền) cướp đoạt hết đất đai canh tác. Nghèo đói quá hoá “sảng” chăng? Khổ cực quá, cùng quẫn quá, bị chèn ép quá nên đâm ra gấu ó, cấu xé lẫn nhau chăng? Không hẳn đã thế đâu. Tại nước Ðức, ngay giữa một thành phố tự do và phú túc, “bức tường Bá Linh nằm trong đầu óc của người Việt miền Ðông với người Việt miền Tây (vẫn) còn cao hơn bức tường của người dân Ðức đối với người dân Ðức” mà. Hơn nữa, như đã thưa, những bức tường lòng (ô nhục) tương tự hiển hiện ở khắp nơi chứ đâu có riêng chi ở Berlin. Nơi đâu có người Việt quần tụ là tức khắc nẩy sinh những chuyện đố kỵ, chia cách, phân hoá, và đánh phá lẫn nhau túi bụi. Mỗi cộng đồng vẫn thường cần đến hơn một ban đại diện (dù tất cả những ban đại diện “dường như” không đại diện được cho bất cứ ai và cũng không mấy ai – thực sự- cần người đại diện). Tương tự, mỗi hội đoàn đều có tới hai hay ba ông (bà) chủ tịch, dù cả hội đoàn đều không mấy ai biết rõ là họ hội họp lại với nhau để làm gì. Mọi tổ chức (không chóng thì chầy) nếu không vỡ tan tành thì cũng bể thành vài mảnh! Người Nga có câu ngạn ngữ là nếu thiếu chó chăn, loài cừu không trở nên bầy đàn được. Cái khó của những cộng đồng người Việt hải ngoại là họ có dư loại chó này. Ðã thế, phần lớn, đều là … chó dại! “Sự kiện vô vàn phi lý, cực độ vô nghĩa, và bất lợi không lường này, đang diễn tiến kết thành hiện tượng phân hoá hỗn loạn, phân liệt khắc nghiệt, chia rẽ trầm trọng giữa những cá nhân, nhóm cá nhân, cộng đồng người Việt ” (Phan Nhật Nam, “Lời Khẩn Thiết Nhằm Chấm Dứt Hiện Tượng Phân Hoá“). Cũng theo tác giả bài báo vừa dẫn thì Cục Tình Báo Hải Ngoại, trực thuộc Ban Tổ Chức Trung Ương Ðảng Cộng Sản Hà Nội, là nguyên nhân gây ra những hiện tượng phân hoá tiêu cực kể trên. Những nhân viên của Cục Tình Báo Hải Ngoại e không tài ba đến thế. Chợ chiều rồi. Chúng nó (nếu có) cũng chỉ lo đánh quả mà thôi và chuẩn bị để chạy thôi. Thủ phạm không đến từ bên ngoài. Chúng phục sẵn trong “thâm tâm” của tất cả chúng ta. Khi còn nhỏ, tôi nhớ là đã đọc ở đâu đó – qua lời kể của Schopenhauer – một câu chuyện ngụ ngôn mà nội dung (đaị khái) như sau: Có một mùa Ðông lạnh đến độ muốn tồn tại muôn loài đều phải xích lại thật gần nhau để truyền cho nhau hơi ấm. Chỉ riêng có loài nhím vì lông quá nhiều, quá nhọn và không cách nào thu lại được nên đành… chờ chết! Dân Việt đang trải qua một mùa Ðông khắc nghiệt. Nếu chúng ta không vượt qua được những bức tường lòng hiện hữu, không xếp lại được những lông nhọn tua tủa tự mỗi người, và mọi phe nhóm đều nhất định “tử thủ” trong pháo đài của riêng mình thì (e) khó mà qua khỏi đuợc cơn quốc nạn này. Vấn đề không phải là mùa Ðông sẽ kéo dài vô tận mà vì đất nước (cũng như lòng người) sẽ bầm dập, te tua, tan nát, và tanh bành – sau đó. Nguồn : http://www.khoi8406hoaky.com/D_1-2_2-59_4-3653_5-20_6-1_17-1038_14-2_15-2/
......

Bản lên tiếng yêu cầu trả tự do cho 14 thanh niên yêu nước

  TỔNG SỐ CHỮ KÝ THU THẬP: 28480 chữ ký. http://thanhnienconggiao.blogspot.com.au/p/banlentieng.html Diễn tiến và kết quả luận tội, tuyên án của phiên tòa kéo dài 2 ngày, 8-9/1/2013, xét xử 14 thanh niên yêu nước tại toà án Vinh, Nghệ An của đảng Cộng Sản Việt Nam đã bị quốc tế lên án, nhân dân phẫn nộ. Những người bị mang ra kết án gồm có các anh chị: Hồ Đức Hòa, Nông Hùng Anh, Lê Văn Sơn, Đặng Ngọc Minh, Nguyễn Đặng Minh Mẫn, Nguyễn Đặng Vĩnh Phúc, Đặng Xuân Diệu, Nguyễn Văn Oai, Nguyễn Văn Duyệt, Hồ Văn Oanh, Thái Văn Dung, Nguyễn Đình Cương, Nguyễn Xuân Anh, Trần Minh Nhật. Họ đều là những công dân đầy nhiệt huyết, tận tâm phục vụ con người và xã hội, tràn đầy tình yêu đối với đất nước. Các thanh niên yêu nước này đã can đảm và hy sinh đời sống riêng tư vì mong muốn đất nước thoát khỏi vòng kềm tỏa, thao túng của Trung Quốc, dẫn đến việc mất chủ quyền, độc lập của đất nước. Hành động của họ phải được xiển dương và là mô phạm cho tuổi trẻ Việt Nam ngày hôm nay dấn thân cho Sự Thật, Công Lý và Hoà Bình. Chúng tôi ký tên dưới đây để: 1. Cực lực phản đối và phủ nhận bản án vừa được áp đặt đối với 14 thanh niên yêu nước này cũng như những bản án kết tội những người yêu nước khác; 2. Đòi hỏi các cơ quan nhà nước phải thực thi pháp luật nghiêm chỉnh, chấm dứt việc bắt giữ tuỳ tiện phi pháp, đi ngược lại với công pháp quốc tế và trái với hiến pháp cũng như pháp luật Việt Nam; 3. Yêu cầu nhà nước trả tự do cho những người yêu nước đang bị bắt giữ về những tội danh gán ghép vô lý dựa trên công cụ là điều luật 79 và 88 của Bộ Luật Hình Sự, hai điều luật mơ hồ này đã đi ngược lại tinh thần của hiến pháp Việt Nam; 4. Xiển dương sự đóng góp của các nhà yêu nước. Thể hiện sự đồng cảm với những người bị đàn áp, bắt bớ và kết tội oan sai. Đồng thời quan ngại sâu sắc về cái gọi là một nhà nước pháp quyền. Việt Nam, ngày 27 tháng 1 năm 2013 Đồng ký tên:   THÂN NHÂN CỦA 14 THANH NIÊN YÊU NƯỚC 1. Ông Nguyễn Văn Chức – bố của Nguyễn Văn Duyệt 2. Bà Trần Thị Liệu – Mẹ của Nguyễn Văn Oai 3. Bà Hồ Thị Truyền – Chị gái của Hồ Văn Oanh 4. Ông Hồ Đức Hiền – Bố của Hồ Đức Hòa 5. Ông Trần Khắc Hiển – Anh trai của Trần Minh Nhật 6. Bà Nguyễn Thị Hóa – Mẹ của Phêrô Nguyễn Đình Cương 7. Bà Đinh Thị Oanh – Vợ của Phêrô Nguyễn Xuân Anh 8. Ông Đặng Xuân Hà – Anh trai của Đặng Xuân Diệu 9. Ông Thái Văn Hòa – Anh trai của Thái Văn Dung 10. Ông Đỗ Văn Phẩm – Cậu của Paulus Lê Sơn   CÁC LINH MỤC GIÁO PHẬN VINH 11. Linh Mục Giuse Trần Văn Phúc – Linh Mục Quản Xứ Ngọc Long- huyện Yên Thành -Nghệ An, Giáo Phận Vinh 12. Linh Mục JB. Nguyễn Đình Thục – Linh Mục Quản Nhiệm Đồng Lam – huyện Anh Sơn-NA, Giáo Phận Vinh 13. Linh Mục Phêrô Nguyễn Ngọc Giao – Linh Mục Quản Xứ Lãng Điền, huyện Anh Sơn – NA, Giáo Phận Vinh 14. Linh Mục Giuse Nguyễn Xuân Phương – Linh Mục Quản Xứ Yên Lĩnh – Anh Sơn-NA, Giáo Phận Vinh 15. Linh Mục Fx. Nguyễn Văn Lượng – Linh Mục Quản Xứ Sơn La – Đô Lương-NA, Giáo Phận Vinh 16. Linh mục Phêrô Hoàng Biên Cương – Linh Mục Quản Hạt Phủ Quì, huyện Nghĩa Đàn, NA, Giáo Phận Vinh 17. Linh Mục GB Nguyễn Quyết Chiến – Linh Mục Quản Xứ Vĩnh Giang, Nghĩa Đàn, NA, Giáo Phận Vinh 18. Linh Mục Giuse Nguyễn Ngọc Ngữ – Linh Mục Quản Xứ Đồng Lèn, Nghĩa Đàn, NA, Giáo Phận Vinh 19. Linh Mục Pet Lê Đức Bắc – Linh Mục Quản Xứ Nghĩa Thành – Nghĩa Đàn, NA, Giáo Phận Vinh 20. Linh Mục JB Đinh Công Đoàn – Linh Mục Quản Xứ Song Ngọc -Quỳnh Lưu, NA, Giáo Phận Vinh 21. Linh Mục Antôn Nguyễn Văn Đính – Linh Mục Quản Hạt Thuận Nghĩa – Quỳnh Lưu, NA, Giáo Phận Vinh 22. Linh Mục Antôn Nguyễn Văn Thanh – Linh Mục Quản Xứ Cẩm Trường và Mành Sơn – Quỳnh Lưu, NA, Giáo Phận Vinh 23. Linh Mục Giuse Nguyễn Công Bình – Linh Mục Quản Xứ Thanh Đa – Quỳnh Thanh – Quỳnh Lưu, NA, Giáo Phận Vinh 24. Linh Mục Antôn Nguyễn Duy An – Linh Mục Quản Xứ Lộc Thủy và Phú Yên – Quỳnh Lưu, NA, Giáo Phận Vinh 25. Linh Mục Phêrô Nguyễn Văn Sơn – Linh Mục Quản Xứ Thuận Giang – Quỳnh Lưu, NA, Giáo Phận Vinh 26. Linh Mục Paul Nguyễn Xuân Tính – Linh Mục Quản Xứ Lập Thạch -Nghi Lộc, NA, Giáo Phận Vinh 27. Linh Mục Giuse Phan Sĩ Phương – Linh Mục Quản Hạt Cửa Lò – Thị xã Cửa Lò, NA, Giáo Phận Vinh 28. Linh Mục Antôn Trần Văn Niên – Linh Mục Quản Xứ Phù Long – Hưng Long – Hưng Nguyên, NA, Giáo Phận Vinh 29. Linh Mục Antôn Đặng Hữu Nam – Linh Mục Quản Xứ Bình Thuận, Nghi Lộc, NA, Giáo Phận Vinh 30. Linh Mục Giuse Nguyễn Anh Tuấn – Linh Mục Quản Xứ Kẻ Gai – Hưng Nguyên, NA, Giáo Phận Vinh 31. Linh Mục Luca Nguyễn Ngọc Nam – Linh Mục Quản Xứ Thượng Nậm – Nam Đàn, NA, Giáo Phận Vinh 32. Linh Mục JB Hoàng Xuân Lập – Linh Mục Quản Xứ Vạn Lộc – Nam Lộc – Nam Đàn, NA, Giáo Phận Vinh 33. Linh Mục Giuse Phạm Ngọc Quang – Linh Mục Quản Xứ Yên Lạc – Nam Lĩnh – Nam Đàn, NA, Giáo Phận Vinh 34. Linh Mục Giuse Nguyễn Đình Linh – Linh Mục Quản Xứ Phi Lộc – Diễn Quảng – Diễn Châu, NA, Giáo Phận Vinh 35. Linh Mục Phanxico X. Đinh Văn Minh – Linh Mục Quản Xứ Yên Hòa – Quỳnh Vinh – Quỳnh Lưu, NA, Giáo Phận Vinh 36. Linh Mục Giuse Nguyễn Đăng Điền – Linh Mục Quản Xứ Nghi Lộc – Diễn Hạnh – Diễn Châu, NA, Giáo Phận Vinh 37. Linh Mục Gioan Nguyễn Đức Quyến – Linh Mục Quản Xứ Yên Lý – Diễn Yên – Diễn Châu, NA, Giáo Phận Vinh 38. Linh Mục Phêrô Nguyễn Văn Hà – Linh Mục Quản Xứ Kẻ Dừa – Thọ Thành – Yên Thành, NA, Giáo Phận Vinh 39. Linh Mục Lu-y Nguyễn Văn Nga – Linh Mục Quản Xứ Kim Lâm – Can Lộc – Hà Tĩnh, Giáo Phận Vinh 40. Linh Mục Phanxicô X. Nguyễn Tất Đạt – Linh Mục Quản Xứ Làng Anh – Nghi Phong – Nghi Lộc, NA, Giáo Phận Vinh 41. Linh Mục Antôn Hoàng Trung Hoa – Linh Mục Quản Xứ Làng Nam – Nghi Trung – Nghi Lộc, NA, Giáo Phận Vinh   CÁC VỊ TU SĨ TÔN GIÁO KHẮP NƠI 42. Hòa Thượng Thích Không Tánh – Chùa Liên Trì, Sài Gòn – GHPGVNTN 43. Cụ Lê Quang Liêm – Hội Trưởng Giáo Hội Trung Ương PGHH Thuần Túy, Phú Nhuận Sài Gòn 44. Linh mục Phê-rô Nguyễn Hữu Giải – Tổng Giáo phận Huế 45. Linh mục Phê-rô Phan Văn Lợi – Giáo phận Bắc Ninh 46. Linh Mục Antôn Lê Ngọc Thanh – DCCT Sài Gòn 47. Mục Sư Nguyễn Mạnh Hùng – Quản Nhiệm Hội Thánh Mennonite Bình Tân (còn gọi là Hội Thánh Chuồng Bò), Sài Gòn 48. Mục Sư Thân Văn Trường, – Thủ Đức Sài Gòn 49. Mục sư Nguyễn Hoàng Hoa – Giáo Hội LuTheran Việt Nam 50. Mục Sư Hồ Hữu Hoàng – Giáo Hội LuTheran, Đồng Nai 51. Mục sư Nguyễn Trung Tôn – Thanh Hóa   MỘT SỐ NHÀ DÂN CHỦ 52. Cô Phạm Thanh Nghiên – Hải Phòng 53. Bà Dương Thị Tân – vợ Blogger Điếu Cày, Saigon 54. Kỹ sư Đỗ Nam Hải – Ban điều hành Khối 8406, Saigon 55. Ông Nguyễn Bắc Truyển – Sài Gòn 56. Ông Lê Thăng Long – Phong Trào Con Đường Việt Nam, Sài Gòn 57. Bà Lư Thị Thu Duyên – Boston, Hoa Kỳ, Ban điều hành Khối 8406 58. Bà Lư Thị Thu Trang – Saigon, Thành viên Khối 8406 59. Ông Trần Quốc Hiền – Thành viên Khối 8406, Bangkok Thái Lan 60. Ông Phạm Ngọc Thạch – Sài Gòn 61. Anh Lê Thanh Tùng – Sài Gòn 62. Anh Đinh Văn Minh – Sài Gòn 63. Chị Hoàng Thị Ngọc Oanh – Sài Gòn 64. Anh Nguyễn Vĩnh – Đồng Nai 65. Anh Trần Văn Túc – Đồng Nai 66. Nhà báo Trương Minh Đức – Sài Gòn 67. Cựu tù nhân Cổng Trời Antôn Lê Phiến – Xã Long Sơn – Anh Sơn – Nghệ An, Giáo Phận Vinh http://www.chuacuuthe.com/?p=46057   Để cuộc vận động đạt được kết quả tốt đẹp và tạo thành một áp lực lên nhà cầm quyền CSVN, gia đình 14 thanh niên yêu nước rất mong mỏi quý đồng bào, quý đoàn thể, đảng phái và các cơ quan truyền thông góp phần phổ biến rộng rãi Bản Lên Tiếng và vận động mọi người vào ký tên tại địa chỉ : http://thanhnienconggiao.blogspot.com.au/p/banlentieng.html    
......

Tản mạn về trí thức và thời cuộc

Trước nay, trước mỗi kỳ đại hội đảng CS, thiên hạ hay bàn chuyện ông này, ông kia có tư tưởng cải cách, có khả năng thay đổi thể chế để dân chủ hóa đất nước. Thế rồi hết kỳ này đến kỳ khác đất nước vẫn chìm trong độc tài - đàn áp. Giờ nghĩ lại mới thấy thời cuộc đã làm cho những ưu tư, hy vọng về vận mệnh đất nước vỡ tan. Cộng đồng yếu đuối mới cần cá nhân anh hùng Có một thời, giới trí thức trong nước đã hy vọng và hết lời ca ngợi Võ Văn Kiệt như là một chính khách có tư tưởng tiến bộ và gần đây nhất, một số người đặt hy vọng vào Nguyễn Bá Thanh. Chưa nói đến thiện chí thực sự của họ, một cá nhân và một số ít người trong vây cánh của ông ta quả thật quá yếu để tin cậy, bởi không một cá nhân nào trong các chế độ độc tài có khả năng thoát ra khỏi guồng máy cai trị để tiến hành thay đổi thể chế nếu nó đi ngược lại ý chí của tập đoàn (chưa kể đến việc tập đoàn này đang bị khống chế bởi một đàn anh ngoại bang), dù đó là một cựu lãnh đạo hay là một lãnh tụ đương quyền; và càng quá phiêu lưu để giao phó vận mệnh đất nước trong tay một vài người. Bởi con người vốn dĩ không thể tuyệt đối tin cậy, đặc biệt khi họ có quyền lực mà ít chịu trói buộc. Một “cứu tinh” rồi sẽ trở thành một tên tội đồ nếu xã hội dân sự rã rời. Cái tâm lý sai lầm cố hữu về xã hội và chính trị khiến chúng ta luôn ngộ nhận. Người ta cứ nghĩ mọi thứ có thể giải quyết bằng một đề án chính trị áp đặt từ trên xuống, và mọi đề án chính trị quốc gia có thể được giải quyết với một cá nhân. Nói đến đây chắc nhiều độc giả liên tưởng đến Gorbachov. Thật ra, trường hợp này không mâu thuẫn với quan điểm của người viết. Tình thế Nga Sô lúc đó buộc đảng CS phải đi đến chỗ sụp đổ. Ông Gorbachov chỉ là người tuyên bố một sự kiện không thể đảo ngược. Cuộc cách mạng Nhung, với sự nổi lên của những người hùng như Gorbachov và Yelsin, đã xảy đến với một nước Nga kiệt quệ sau chiến tranh Lạnh và hầu như không có xã hội dân sự sau thời kỳ CS. Điều đó chỉ mang lại danh tiếng cho các cá nhân này nhưng không đem đến một tương lai đáng mơ ước cho nước Nga. Bởi khi các lực lượng dân sự yếu đuối thì một người hùng có thể mang đất nước ra khỏi, dĩ nhiên có khả năng đưa đất nước trở lại chế độ độc tài. Như chúng ta có thể thấy, một ý chí đầy cảm tính đã khiến Yelsin chọn Putin - một kẻ cực đoan, chống phương Tây - làm người kế tục ông, đã đẩy nước Nga vào một chế độ dân chủ giả hiệu như hôm nay. Người dân Nga chẳng có đóng góp nào cho những cuộc chuyển mình lớn lao của nước họ. Và hậu quả là họ tiếp tục không có tiếng nói đáng kể nào trong các vấn đề đất nước. Đồng ý, cá nhân vượt trội luôn có vai trò không thể chối cãi trong phong trào xã hội vì khả năng gắn kết những sức mạnh sẵn có và phát huy hiệu quả vận động xã hội, như trong bài viết gần đây nhất của tôi về người lãnh đạo. Nhưng đặt tất cả mọi hy vọng và toàn toàn dựa giẫm vào một cá nhân không phải là tâm lý của một dân tộc trưởng thành. Bởi một dân tộc trưởng thành cần một lãnh đạo chứ không cần lãnh tụ. Chính trị là tất cả? Không thể phủ nhận chính trị là quan trọng, bởi nếu nó không quan trọng thì nó đã không tồn tại từ khi con người được tổ chức thành xã hội cho tới bây giờ. Nó quan trọng đến nỗi mọi nỗ lực gạt bỏ quyền lực chính trị (nhà nước) ra khỏi xã hội dù chỉ trên lý thuyết (chủ nghĩa Marx) cuối cùng đã đưa đến một “siêu nhà nước” trong thực tế. Thế nhưng, từ khi nhà nước xuất hiện, chúng ta nhận thấy toàn khối xã hội cơ bản được chia thành hai phía: người được/bị cai trị và người cai trị, xã hội và nhà nước, dân sự và chính trị. Hệ thống chính trị giúp xã hội được điều hành một cách văn minh, quy củ và giữ chức năng trọng tài cho mọi tranh chấp xã hội. Nhưng để giữ cho xã hội hài hòa, cân bằng, đảm bảo tự do cá nhân, tất yếu không thể để nhà nước lấn át xã hội. Thế nhưng, từ lịch sử bị cai trị chuyên quyền, người Việt Nam coi chính trị là cái gì đó vượt lên trên xã hội, tách khỏi xã hội và độc tôn. Nhưng, chính trị chỉ là một trong nhiều mảng hoạt động trong xã hội con người và tương tác trực tiếp với những cái còn lại. Nhà nước là một hệ thống nên/phải bị kiểm soát bởi sức mạnh dân sự. Khi nhận thức được rằng, ngoài quyền lực chính trị còn có quyền lực kinh tế và quyền lực dân sự, chúng ta sẽ không quá đề cao chính trị và coi nó là đáp án cho mọi vấn đề. Gần đây, tôi được hỏi rằng: khi tôi lên tiếng đấu tranh, tôi có mong cầu một vị trí chính trị trong tương lai? Dù vô tình hay hữu ý, cách suy nghĩ này xuất phát từ tâm lý coi quyền lực chính trị là độc tôn. Vấn đề không phải ở chỗ người ta cho rằng: những người dấn thân và lên tiếng nên có vị trí xứng đáng; mà vì người ta quá đề cao quyền lực chính trị. Tất nhiên những người can đảm và có thực tài nên được trọng dụng, nhưng tại sao không phải ở chỗ nào khác mà là trong hệ thống chính trị? Chỉ có nắm quyền lực chính trị mới là chỗ đứng thích đáng cho người tài đức? Không nơi đâu khác ngoài chính trị, nơi mà một cá nhân có thể trở nên hữu ích và tỏa sáng? Đến đây tôi nhớ đến một nhân vật rất nổi bật trong phong trào Otpor ở Serbia - Srdja Popovic. Sau khi chế độ Slobodan Milosevic sụp đổ, anh ta được bầu vào Quốc hội Serbia. Nhưng sau đó ít lâu, anh ta rời khỏi chính trường và thành lập một tổ chức phi chính phủ ở Belgrade. Sự ra đi ấy có thể được suy đoán với nhiều lý do nhưng không thể bỏ qua một lý do quan trọng – đó là sự trưởng thành trong tâm lý và nhận thức của giới trẻ Serbia: chính trị không là tất cả! Vì coi chính trị là tối cao và là cứu cánh, người Việt Nam vẫn chưa thể tìm thấy sức mạnh thực sự ở chính mình và ở cộng đồng quanh mình khi giải quyết các vấn đề quốc gia, mà luôn trông ngóng vào một chính khách “vĩ đại” làm thay tất cả cho mình. Nhưng làm sao cá nhân nào đó lại thực hiện tốt khát vọng của chúng ta hơn là chính chúng ta? Thực ra, tình trạng chính trị chỉ là biểu hiện của năng lực dân sự. Không thể có chính trị tốt nếu quần chúng chỉ là những con người bạc nhược. Quả thật, không phải ngoài chính trị ra, không còn “đất dụng võ” cho những người tài năng mà vì chúng ta chưa mở rộng tâm trí và cả tâm lý để nhìn thấy một nơi như thế. Hình như đối với chúng ta, tất cả những gì đáng vinh danh và mong ước đều nằm ở chính trị bởi từ trước đến nay, chúng ta chưa hề được sống trong một không gian khác, một không gian đối trọng với quyền lực chính trị. Chính nơi ấy, một cá nhân không chỉ tỏa sáng mà còn tỏa sáng độc lập, không bị không chế và cũng không cần dựa giẫm vào hào quang chính trị. Sức mạnh dân sự yếu kém, trí thức bị khinh miệt Tâm lý dựa giẫm và giao phó đưa đến hai hệ lụy nghiêm trọng. Thứ nhất, sự tuân phục và phụ thuộc vào quyền lực chính trị khiến cho cả xã hội, đặc biệt là giới trí thức, không nhận thức được vị trí quan trọng của mình trong việc giải quyết các vấn nạn xã hội. Điều này tạo điều kiện cho chế độ độc tài cai trị tùy tiện và vô thời hạn. Thứ hai, nếu một nguyên nhân nào đó khiến chế độ độc tài sụp đổ, thì sự yếu kém của các thế lực dân sự sẽ khiến đất nước gặp rất nhiều trở ngại trong việc xây dựng dân chủ, mà trường hợp xấu nhất có thể xảy ra là, sự xuất hiện một chế độ độc tài mới. Người dân ít học lơ là chuyện xã hội thì đã rõ; giới trung lưu trí thức thì làm ngơ, hoặc có quan tâm nhưng im tiếng, hoặc dựa vào quyền lực chính trị để tiến thân. Sự dựa giẫm vào chính trị tỏ ra đặc biệt nguy hiểm, khi địa vị và sự vinh quang của giới trí thức trong xã hội được ban phát bởi Nhà nước thì không thể nào có suy nghĩ và hành động độc lập hay đối kháng. Cuộc cách mạng Pháp đẫm máu đã không mang lại tự do thực sự cho người Pháp cũng bởi trước đó, giới trung lưu và quý tộc Pháp chỉ là một tập đoàn người tập trung quanh vương miện vua Pháp, ca ngợi và hưởng lợi từ đó. Hiện nay, Việt Nam không có giới trung lưu theo đúng tinh thần: mãnh mẽ, độc lập và có năng lực đối kháng với nhà nước. Không ngẫu nhiên và vô lý khi cả Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh và những người CS nói chung khinh miệt trí thức. Bởi vì đối với họ, trí thức vừa có quá nhiều chữ để có thể bị lừa gạt lâu dài, nhưng cũng quá nhu nhược để là những đối thủ xứng tầm với họ.Tại sao trung lưu trí thức trong các xã hội tự do là lực lượng tiên phong cho các giá trị dân chủ tiến bộ, còn thân phận trí thức Việt Nam lại rẻ rúng như thế? Phải chăng khi còn mang tâm lý xem chính trị là tất cả, các công dân chưa thể thoát khỏi thân phận thần dân? Phải chăng khi trí thức chưa nhận thấy vai trò to lớn của mình là đảm đương và lãnh đạo khối dân sự, kiềm chế khối chính trị; mà chỉ bám vào chính trị để “vinh thân phì gia” thì chính trị sẽ còn kiêu ngạo và mặc sức tung hoành? Phải chăng khi khối hoạt động dân sự vẫn yếu đuối, và trí thức chỉ là người đi bên lề mọi quyết định quan trọng của quốc gia; thì trí thức - trung lưu vẫn bị coi thường và con đường đi đến Tự do của dân tộc sẽ vô vàn khó khăn? Thay lời kết Đất nước đang đối mặt với những bế tắc và khủng hoảng. Kinh tế đang kiệt quệ. Đảng CSVN đang mạnh tay đàn áp đối kháng để giành ưu thế thời gian cho một cuộc đào thoát lớn của họ. Vận mệnh nước nhà sẽ giao vào tay ai nếu không đặt lên vai mọi tầng lớp dân chúng, đặc biệt là tầng lớp trung lưu trí thức? Đây chính là cơ hội để giới trí thức dành lại trọng trách, khẳng định vai trò và mở rộng tầm vóc của mình. Vị trí cao quý nhất cho những người trí thức không nhất thiết phải là trong một thế lực chính trị mà là trong xã hội dân sự đang nhen nhóm hình thành. Người trí thức phải nhận lấy vai trò và vinh quang của một thế lực dân sự có khả năng kìm chế quyền lực chính trị. Còn gì quan trọng và vinh dự hơn vai trò kiểm soát nhà nước? Còn gì nổi bật hơn vị thế “lương đống” cho toàn khối dân sự? Còn gì đáng mong ước hơn tư cách độc lập và không bị ràng buộc bởi bất cứ thế lực chính trị nào để chỉ hành động vì quyền lợi quốc gia? Để rồi từ đó, bắt đầu một giai đoạn lịch sử hoàn toàn mới cho Việt Nam, trí thức giờ đây không còn chịu thân phận bề tôi mà mạnh mẽ sánh ngang với quyền lực chính trị, để thực hiện những nhiệm vụ mà lịch sử và quốc gia giao phó. Trút bỏ được sự ràng buộc với chính trị và tâm lý e dè đối với quyền lực chính trị, tầng lớp trí thức Việt Nam sẽ là Hercules, có sức mạnh nâng đỡ cả dân tộc. Huỳnh Thục Vy Buôn Hồ ngày 23 tháng 1 năm 2013 Nguồn Facebook Jane Hoang    
......

Vài nét về Hiến pháp Mỹ

Cách đây 230 năm, năm 1783, cuộc chiến tranh giành độc lập của nhân dân 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ giành được thắng lợi – đây là thành công đầu tiên trong sự nghiệp giải phóng dân tộc của toàn thể loài người bị áp bức trong thời đại tư bản chủ nghĩa!Một Hiến pháp có trước… nhà nước Điều “lạ kỳ” là sau thắng lợi đó, những nhà cách mạng Mỹ không thành lập một chính quyền cho tương xứng với công lao của những người đã khai sinh ra nền độc lập; hầu như họ không quan tâm đến việc ai sẽ giữ chiếc ghế nào, “ăn chia” ra sao chiếc bánh lợi quyền béo bở mà phải mất bao xương máu, suốt 10 năm trời mới giành được (17.12.1773-4.9.1783): Cách hành xử của những nhà cách mạng Mỹ chưa hề có tiền lệ – ai về nhà nấy, sau khi đã làm trọn bổn phận công dân, không cần biết đến chuyện nên (phải?) khen thưởng ai, như thế nào đối với sự “có công với cách mạng”! Ý định đó của sự ấu trĩ của lòng tốt nhanh chóng bị thực tế tàn nhẫn của xã hội sau chiến tranh giày xéo, tình trạng vô chính phủ nhanh chóng xảy ra, tiểu bang nào cũng muốn giành cho mình sự độc quyền cao nhất, có lợi nhất, khiến cho 13 tiểu bang gây ra bao cảnh huynh đệ tương tàn, và “nước” Mỹ, theo cách nhận xét của George Washington, “giống như một lâu đài được xây bằng cát”. Muốn khắc phục tình trạng đó, giải pháp duy nhất là phải thành lập một chính quyền, đây là điều mà đến năm 1787, hầu như ai cũng biết. Nhưng, chính quyền đó sẽ ra sao? Nó giống với mô hình Pháp hay Anh? Những bậc tiên tổ của nhà nước Mỹ tương lai giật mình bởi họ đoan quyết rằng phải thành lập một mô hình nhà nước hoàn toàn mới, không giống với bất kỳ ai; và, quan trọng nhất, nó phải là nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân. Sáu chữ đó là sáu chữ vàng bởi nó trở thành nền tảng, cội nguồn, nguyên tắc bao trùm mọi nguyên tắc trong suốt quá trình soạn thảo Hiến pháp (HP). G. Washington, nguyên là Tổng Tư lệnh quân Cách mạng trước đây, được mời giữ ghế chủ tọa Hội nghị Lập Hiến. 55 con người trẻ tuổi (đa số dưới 40 tuổi, riêng A. Hamilton, vào năm 1787, chỉ mới 30 tuổi; J. Madison mới 36 tuổi – họ được coi là những cha đẻ của HP Mỹ) chính là các tinh hoa chính trị được tập hợp từ các tiểu bang, về sau được ca ngợi đó là những người tinh anh nhất, “gần như là thánh thần” của nhân loại vào cuối thế kỷ 18. Những gì lịch sử ca ngợi về tài năng của 55 người đó không hề quá lời: Chẳng hạn, Benjamin Franklin (1706-1790) là một người đa tài: thợ in, chủ tòa báo, thẩm phán, Chủ tịch Hội Triết học Mỹ, thống đốc tiểu bang, nhà ngoại giao, thương gia giàu có, người thành lập Đại học Pensylvania, người phát minh ra cột chống sét, ống thông tiểu, đàn harmonica, kính hai tròng, công ty cứu hỏa tư nhân và, ông nói thành thạo 5 ngoại ngữ… Tài năng, nhân cách và tầm nhìn vĩ đại đã được cộng hưởng để làm ra bản HP đầu tiên trong lịch sử loài người mà hầu như, không có bất kỳ một lỗi văn bản lớn nào! 55 “cha đẻ” của nhà nước Mỹ, trong đó nổi bật nhất là Alexander Hamilton (hình của ông được khắc trên tờ 10 USD), James Madison (người có hình trên tờ 50 USD) và Benjamin Franklin (trên tờ 100 USD)… Ngày 25.5.1787, Hội nghị Lập pháp được khai mạc tại Philadelphia– “thành phố của tình huynh đệ”. Gần bốn tháng ròng rã, những cuộc tranh luận quyết liệt đã nổ ra và tận cho đến lúc đặt bút ký (17.9), nhiều đại biểu vẫn còn chất chứa những bất đồng. Bản dự thảo và những bất đồng đó còn được 5 triệu người dân xem xét kỹ lưỡng trước khi được Quốc hội chính thức thông qua vào năm 1789. Nhìn chung, HP Mỹ đã được làm ra trên cơ sở những định hướng tìm tới sự hoàn hảo có thể; được cụ thể hóa thành nhiều nguyên tắc do nhiều đại biểu đề xuất, được A. Hamilton và J. Madison diễn đạt phần nào qua những bài báo rồi tập hợp thành tác phẩm Liên bang thư tập (The Federalist Papers).Những nguyên tắc lập phápChúng ta muốn tạo dựng một nền tảng (HP) sẽ trường tồn qua mọi thời đại, vậy thì, phải dự liệu đủ những thay đổi mà các thời đại đó sẽ tạo ra. Nguyên tắc này khẳng định rõ những điều không bao giờ thay đổi như quyền tư hữu là thiêng liêng và bất khả xâm phạm; quyền sống, quyền tự do và quyền kiếm tìm hạnh phúc như Tuyên ngôn Độc lập đã chỉ ra; quyền người dân ủy nhiệm cho chính quyền, nhân dân có quyền bầu lên và bãi nhiệm chính quyền đó… Tất nhiên, có rất nhiều điều sẽ thay đổi nên HP dự liệu các khoản bổ sung – Tu Chính Án (Amendment, TCA), chẳng hạn, TCA 22, thông qua năm 1951, quy định tổng thống không được làm quá hai nhiệm kỳ.Việc thành lập một chính quyền thích hợp phải do chính người dân lựa chọn thông qua sự biểu quyết rộng rãi nhất. Không một ai có quyền áp đặt mô hình nhà nước không tương thích với mong muốn và lợi ích của người dân. Sau rất nhiều tranh cãi, nhân dân Mỹ đã chọn mô hình nhà nước tam quyền phân lập; theo đó, một trong ba cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, luôn bị hai cơ quan kia giám sát.Xu hướng sửa đổi HP để mưu đồ quyền lực nhiều hơn cho một vài cá nhân là xu hướng lạm quyền của mọi quyền lực; vì thế, phải thiết lập một cơ chế sao cho có thể ngăn ngừa mọi ý đồ thao túng và sửa đổi HP. Theo nguyên tắc này, quyền tham gia của mọi công dân là tối hậu chỉ khi nào có trên 2/3 thượng nghị sĩ hoặc thống đốc bang yêu cầu thì việc xem xét sửa đổi HP mới được đặt ra. Quy định này có nghĩa là, nếu muốn xóa bỏ quyền được trang bị vũ khí, phải có ít nhất 67 TNS hoặc 34 thống đốc bang yêu cầu.Xu hướng lạm quyền và lộng quyền là thuộc tính tất nhiên của con người, vì thế, phải thiết lập cơ chế sao cho đủ khả năng để ngăn chặn mọi ý đồ lạm quyền đó. Ngoài cơ cấu tam quyền phân lập, HP Mỹ còn định rõ cơ chế các thành viên của Tòa án Tối cao, các thẩm phán của tòa án khu vực trong toàn liên bang, được giữ quyền trọn đời, nếu không xin nghỉ hưu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo (tâm thần, bệnh suy giảm trí nhớ…). Như vậy, tòa án sẽ không phải chịu bất kỳ áp lực nào từ phía chính quyền hoặc cử tri!Đảng phái là cội nguồn của chủ nghĩa bè phái và chủ nghĩa bè phái, đến lượt nó, chủ nghĩa bè phái là cội nguồn làm vẩn đục HP. Vì thế, cơ cấu tổ chức chính quyền không cho phép bất kỳ đảng phái nào có thể can thiệp vào bộ máy một cách trực tiếp. Mỗi đảng phái, trước HP, chỉ là một tổ chức công dân, chịu sự điều chỉnh, giới hạn của luật pháp.Đa số người dân là thờ ơ với chính trị, vì thế, phải thiết lập cơ chế sao cho hạn chế đến mức thấp nhất sự vô trách nhiệm của người dân đối với việc bầu ra chức vụ lãnh đạo cao nhất. Nguyên tắc này khẳng định cách bầu cử, theo đó, tổng thống sẽ được quyết định bởi số đại cử tri tương đương với số lượng nghị sĩ của mỗi tiểu bang.Các tiểu bang lớn luôn có xu hướng chèn ép các tiểu bang nhỏ hơn, vì thế, cơ chế tổ chức nhà nước phải hạn chế đến mức thấp nhất sự chèn ép này. Đây là lý do để các tiểu bang dù lớn hay nhỏ đều có hai thượng nghị sĩ trong thượng viện. Bất kỳ một đạo luật nào dù Hạ viện đã thông qua (nơi các bang lớn có lợi thế) đều phải được Thượng viện chuẩn y, và ngược lại.Các cơ quan tư pháp dễ bị mua chuộc và lạm dụng, vì thế, phải có thiết chế cho người dân được quyền giám sát, quyết định trực tiếp đến các phán quyết tối thượng của tòa án. Nguyên tắc này đề ra cơ chế thành lập bồi thẩm đoàn (The Jury), do người dân bầu ra. Các viên chức của ba cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp không được tham gia vào bồi thẩm đoàn. Phán quyết của bồi thẩm đoàn về có tội hay không, mức án, là tối thượng.Việc thay đổi hay ban hành các điều luật mới luôn ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của người dân. Do đó, phải thiết lập cơ chế để hạn chế đến mức thấp nhất sự ban hành hay thay đổi một đạo luật, ngăn chặn mọi xu hướng tắc trách khi ban hành các văn bản luật pháp. Nguyên tắc này bảo đảm sai sót ít nhất (hầu như chưa xảy ra, cho đến thời điểm này) về việc ban hành đạo luật mới. Khi một đạo luật được khởi xướng ở Thượng viện chẳng hạn, nó sẽ được trình cho Tiểu ban Tư pháp xem xét, sau đó trình lên Thượng viện. Nếu được thông qua, sẽ tiếp tục được chuyển sang Tiểu ban Tư pháp Hạ viện, rồi toàn thể Hạ viện; cuối cùng mới được trình lên tổng thống. Đạo luật được thông qua, sẽ mang tên người đề xuất – vừa để vinh danh vừa để tăng tính trách nhiệm của dự luật. Nếu tổng thống phủ quyết, trình tự sẽ được làm lại từ đầu.Quân đội, cảnh sát là công cụ của chính quyền nên phải tuân thủ các mệnh lệnh của chính quyền. Và, để ngăn ngừa sự lộng quyền, độc tài hóa, các quân nhân và cảnh sát đang tại ngũ không được phép tham gia vào cơ quan lập pháp. Nguyên tắc này mặc nhiên khẳng định rằng quân đội hay cảnh sát nếu họ vào thượng viện hay hạ viện, không có quyền phản kháng chính quyền, không có quyền được luận “tội” chính quyền, tức là không bảo đảm được năng lực tác chiến, vì khi luận “tội”, họ đang chống lại chính quyền. Quân nhân hay viên chức cảnh sát, muốn vào nghị viện, phải ra khỏi quân ngũ… Trên đây là vài khái lược về sự hình thành và các nguyên tắc lập pháp của nhà nước Mỹ – nhà nước hiện đại đầu tiên trong lịch sử loài người – một mô hình nhà nước chưa thể tìm thấy sự đối sánh nào khả dĩ hiệu quả hơn. Đó cũng là mô hình nhà nước chưa hề có tiền lệ với bản HP cho đến nay là độc nhất vô nhị, trường tồn, bất chấp sự thay đổi về thời gian và không gian. Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang chuẩn bị bước qua một thời khắc trọng đại bằng việc lấy ý kiến toàn dân để sửa đổi Hiến pháp 1992. Rất mong mỏi rằng việc lấy ý kiến đó không phải là chuyện hình thức, bởi một sự thật giản dị: Nếu ngay cả HP cũng chỉ là bàn để cho vui thì không có cái gì trên đời này có thể được coi trọng! Một bản Hiến pháp khoa học, nhân văn, phù hợp ý nguyện của toàn dân, xu thế của mọi thời đại, chắc chắn là nguyên tắc, điều kiện đầu tiên cho sự phát triển vững bền… Không phải ngẫu nhiên mà Lời Tuyên thệ của Tổng thống Mỹ chỉ có một ý ngắn gọn là BẢO VỆ HIẾN PHÁP. Một khi HP được soạn thảo hoàn chỉnh thì mọi cố gắng của công dân – kể cả TT, chỉ duy nhất một vấn đề là bảo vệ để thực thi đúng như HP đặt ra, không cần bất kỳ một sự thêm, bớt nào bởi những thêm hay bớt đó đều làm vẩn đục HP! Huế, 24.1.2013H. V. T.http://www.boxitvn.net/bai/44649            
......

Quan Nhất Thời Dân Vạn Đại

Mong muốn sự ổn định và an toàn cho bản thân là tâm lý chung của con người. Nhưng không phải vì vậy mà chúng ta ngại sự thay đổi, nhất là lại theo chiều hướng tiến bộ. Khi cái cũ đã trở nên lạc hậu thì tất phải cải sửa để tạo nên cái mới tốt đẹp và tiến bộ hơn. Không nên vì sợ sự thay đổi mà có kiểu lý luận ngược với quy luật. Ví như có mụ dì ghẻ, thấy cô gái con chồng lớn lên ngày càng xinh đẹp. Phần vì ghen ghét, phần vì không muốn cô gái có hạnh phúc, mụ tỉ tê – “Con ơn, đừng có lấy chồng làm gì, vừa phải mang nặng đẻ đau lại chịu nhiều đau khổ vì chồng con ạ…”. Tuy mụ ta nói vậy nhưng con gái lớn lên thì phải lấy chồng, rồi sinh con đẻ cái để tiếp nối đời sau, đó là một quy luật tự nhiên của cuộc sống, làm sao có thể ngăn được?… Xã hội con người cũng vậy, khi một chế độ nhà nước đã trở nên lỗi thời thì phải thay đổi để tiến tới mô hình nhà nước tiến bộ và bền vững hơn. Người ta vẫn thường gọi đó là cách mạng xã hội. Các cuộc cách mạng là một nhu cầu và thuộc tính của xã hội, giống như con người khi thấy đói thì ăn, thấy lạnh thì mặc ấm vậy. Những kẻ cầm quyền, mặc dù biết được sự sụp đổ tất yếu của chế độ thối nát hiện thời, nhưng để bảo vệ quyền lợi mà chúng thường có kiểu lý luận ngược đời như mụ dì ghẻ nói trên. Họ đã quên rằng: sự thay đổi là tất yếu, cách mạng là một quy luật. Nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay, dựa vào tâm lý sợ hãi của dân chúng, mà nhồi nhét cho họ tư tưởng ngại thay đổi. Họ làm như kiểu, nếu thay đổi chế độ thì tất cả công ăn việc làm hiện nay của người dân sẽ mất hết, tất cả sẽ đói khổ và thất nghiệp. Vì thế mà nhân dân cần bảo vệ chế độ độc tài Cộng Sản, còn nhà nước thì thẳng tay đàn áp những ai có tư tưởng thay đổi và cách mạng. Ngoài thành phần đặc quyền đặc lợi, còn người dân thì chẳng ai tin vào điều đó. Họ đã quá khổ thì còn mong gì duy trì chế độ bất công hiện thời? Sự thay đổi nay là mong muốn và ước mơ của toàn thể người dân rồi. Tôi có hai anh bạn, một anh làm nghề sửa xe máy, một anh làm giò. Cả hai người này cũng chẳng ai tin vào kiểu lý luận của nhà nước, nói chung là họ không sợ sự thay đổi. Một hôm tôi hỏi vui anh sửa xe máy: - Nếu chế độ Cộng Sản sụp đổ, anh có sợ mất nghề sửa xe máy không? Anh bỉu môi: - Thì tôi lại làm nghề sửa ô tô, càng sướng hơn chứ sao? Tôi mỉm cười thú vị. Quả đúng như thế thật, nghề nghiệp thì còn đó chứ mất đi đâu được, mà lại còn tốt hơn nữa chứ. Có đâu như nhà nước rêu rao? Lúc đó xã hội tốt đẹp hơn, cán bộ ít tham nhũng và cửa quyền thì đời sống của dân sẽ nâng cao. Lo gì họ không có xe tốt xe đẹp để mang đến cho mình sửa. Quả câu trả lời của anh cũng thật lắng đọng. Người dân nước mình thường vậy, họ không có kiểu lý luận như mình, nhưng nói câu nào cũng chí lý. Đó một phần vì họ thông minh, phần vì bị áp bức nhiều nên sợ cũng đã quen, cho nên thường nói kiểu ẩn ý rồi tuỳ người nghe hiểu vậy. Anh bạn thứ hai thì làm giò để mang ra chợ bán. Vợ chồng anh chí thú làm ăn nên kinh tế cũng khá giả, mỗi ngày anh tiêu thụ cũng hết cả tạ giò. Anh này có tư tưởng tự do nên thường phê phán chính quyền, công khai bày tỏ sự ủng hộ đối với những người hoạt động dân chủ. Anh lại là người Công giáo nên bị chính quyền để ý dữ lắm. Có hẳn cả một tay công an nằm vùng để mà theo dõi anh (hẳn mọi người vẫn biết ở ViệtNamcó an ninh tôn giáo?). Vì bị theo dõi chặt nên nhiều khi anh không tránh được bực dọc. Cũng không thể tránh cái bóng của mình được mãi, một lần tôi tình cờ được chứng kiến cuộc đối đầu của anh với tay công an nọ. Có thể nói đây là một cuộc đối đầu mang tính lịch sử, một bên đại diện cho chính quyền Cộng sản bảo thủ, một bên đại diện cho tư tưởng dân chủ tiến bộ. Hôm ấy sau khi ăn sáng xong, anh ghé vào quán nước bên cạnh. Đang ngồi nhẩn nhơ thì thấy một người có dáng quen quen cũng ghé vào ngồi cạnh, sau khi châm điếu thuốc hút hắn hất hàm hỏi anh: - Lâu nay anh có hay liên lạc với mấy tay phản động không? Vốn đã ghét cái bóng bất đắc dĩ này, lại nghe hỏi vậy, anh bạn tôi nóng tiết quay sang nhìn thẳng vào mặt tay công an mà nói lớn: - Mày nói ai là phản động? Thoáng bất ngờ vì bị phản ứng dữ dội, hắn đỏ mặt nói: - Thì…mấy tay hôm nọ rải truyền đơn chống chính quyền đó… Nghe hắn nói vậy, anh tiếp: - Bạn của tôi toàn là người tốt, chẳng có ai là phản động cả, kẻ nào phản động thì tự biết lấy!… Hắn không lý luận với anh nữa, mà quay sang khuyên giải: - Dù sao tôi cũng khuyên anh không nên đi lại với những thành phần như vậy, không để bọn phản động lôi kéo. Mà anh thử nghĩ xem, nếu thay đổi chế độ thì anh còn được yên ổn làm ăn như thế này không?… Lần này vì không nhịn được cái kiểu lý luận của tay công an nọ, anh đứng dậy chỉ thẳng vào mặt hắn nói lớn: - Nếu chế độ này thay đổi, thì tao làm giò vẫn hoàn làm giò, mày công an vẫn làm công an. Chỉ khác có điều là lúc ấy mày không đi theo dõi và bắt những người như tao nữa. Mà mày sẽ đi bắt bọn cướp của giết người, bọn tham nhũng… Thấy không lý luận được với anh, tay an ninh nọ vội lên xe máy cút thẳng. Tôi thì thấy cảm phục anh bội phần, vì anh đã nói được điều mà nhiều người không dám nói. Quả thực như vậy, cha ông ta có câu : «Quan nhất thời – Dân vạn đại». Vả lại «Đẩy thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân» mà. Lại nữa «Hết quan hoàn dân», liệu kẻ nào còn dám nghênh ngang? Chỉ có dân là vạn đại, xưa cũng như nay, lịch sử đã mấy ngàn năm chứng minh như vậy rồi. Minh Vănhttp://www.vietthuc.org/2013/01/26/quan-nhat-thoi-dan-van-dai/
......

Người Việt "kỷ niệm" 30 năm hội nhập

Với một chiếc thuyền Vincent Nguyễn Văn Rị cùng với gia đình đã chạy trốn chế độ cộng sản và được đánh dấu là một nước Việt Nam độc tài. Khoảng 100 người tỵ nạn khác cũng đã quyết định chọn lựa thái độ như Văn Rị trong thời điểm này. Họ trôi dạt nhiều ngày trên biển cả, những người được gọi là "thuyền nhân" đến giờ phút cuối cùng đã được con tàu "Cap Anamur" của Tiến sĩ Rupert Neudeck và vợ là Christel cứu vớt. Biến cố này xảy ra 30 năm trước đây. Kể từ đó, Văn Rị cùng với gia đình sống và làm việc tại Moenchengladbach và là tình nguyện viên xã hội. Ông ta quyên góp trong cộng đồng Việt Nam (ghi chú thêm, đúng hơn Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn!), trong đó ông là chủ tịch, không những chỉ cho người nghèo khổ ở Việt Nam, mà còn cho cả dự án "Mũ Sắt Xanh" (Gruenehelme) và Misereor. Văn Rị là người Đức gốc Việt đầu tiên được vinh danh và ban khen vì công việc thiện nguyện xã hội trong thành phố với Huân Chương Thập Tự Sắt Liên Bang Đức (Deutsches Bundesverdienstkreuz). "Nhưng nếu không có sự giúp đỡ của Christel và Rupert Neudeck" thì tất cả những điều này sẽ không có thể xảy ra được!. Vì vậy, ông Văn Rị nhấn mạnh là tôi muốn cảm ơn Quý vị về tất cả". Sự cám ơn của ông cũng dành cho Giáo xứ "Heilig Geist" và Linh Mục Chánh Xứ John van der Vorst. Bởi vì tại đây người Việt tổ chức ba lần Thánh Lễ trong một năm để quyên góp, trong đó có sự quyên góp giúp cho trẻ em "Kinderhilfe  Bethlehem".  Vào ngày thứ Bảy, 23 Tháng hai 2013, từ 18 giờ đến 24 giờ, Hội người Việt tỵ nạn cộng sản tại Moenchengladbach mời tham dự Lễ Mừng Năm Mới (Neujahrsfest) tổ chức tại Hội trường Mehrzweckhalle Neuwerk. Một mặt người Việt đón mừng "Năm Con Rắn" (das Jahr der Schlange, ghi chú thêm: Năm Quý Tỵ 2013) và thứ đến họ (ý tác giả bài phỏng vấn muốn nói là người Việt tỵ nạn!) muốn cảm ơn dân chúng thành phố Moenchengladbach (được gọi là Gladbacher) đã hỗ trợ, giúp đỡ họ trong suốt hơn 30 năm qua! * © Lê-Ngọc Châu (Munich_25-01-2013) Phỏng dịch theo SIBR_ Báo Rheinische Post- Thứ Năm 24-01-2013
......

Đọc “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức

Huy Đức, tên thật là Trương Huy San, sinh năm 1962 tại Hà Tĩnh, năm nay 51 tuổi. Khi những chiếc xe tăng đầu tiên của quân đội Cộng sản Bắc Việt xô sập cổng Dinh Độc Lập tại Sài gòn và chấm dứt cuộc nội chiến ông mới lên 13, một tuổi còn quá nhỏ để hiểu ý nghĩa lịch sử của nó. Ông nhập ngũ năm 17 tuổi và trở thành sĩ quan, công tác một thời gian tại chiến trường Cambodia, trước khi trở về làm báo. Năm 2005,  ông được chính quyền Hà Nội gởi đi tu nghiệp tại Maryland, Hoa Kỳ. Năm 2006 về nước, tiếp tục làm báo. Năm 2012 ông lại được gởi qua đại học Harvard, một đại học nổi tiếng tại Hoa Kỳ để nghiên cứu về “phân tích chính trị”.  Gởi học viên đi tu nghiệp tại các nước tư bản là một phần trong chương trình đào tạo chính quy các nhà lãnh đạo tương lai tại Trung quốc khi thế giới bước vào kỷ nguyên “toàn cầu hóa” (1). Ông Huy Đức đang ở Hoa Kỳ khi cho xuất bản bộ sách “Bên Thắng Cuộc”             Theo tác giả, khi có cơ hội tiếp cận với miền Nam, ông –cũng như bà Dương Thu Hương – nhận thấy miền Nam không giống gì với những điều đảng Cộng sản Việt Nam đã dạy dỗ ông. Từ năm 1980, vừa làm báo ông vừa để tâm thu thập tài liệu để viết một tài liệu về cuộc chiến Việt Nam để tự trả lời các thắc mắc của chính mình đối với các hiện tượng chính trị và xã hội trước mắt. Và công việc biên soạn này trở thành một thúc bách khi tình hình khối Cộng sản quốc tế biến chuyển một cách căn bản .             Tại Liên bang Xô viết, Gorbachev đề ra chương trình cởi mở chính trị “glasnost” và cải tổ hành chánh “perestroika” đưa đến sự sụp đổ của Đông Âu. Năm 1986 tại Đại Hội 6, đảng Cộng sản Việt Nam quyết định “đổi mới”. Và cuối thập niên 1980  Liên bang Xô viết sụp đổ, đảng Cộng sản Liên xô bị giải tán.             Huy Đức có cơ hội và được phép sưu tầm tài liệu cũng như tiếp xúc và phỏng vấn các nhân vật chính yếu của chế  độ cho thấy anh được khuyến khích và giúp đỡ. Một luồng tư tưởng mới hay một sáng kiến ở sau lưng dự án?             Bộ sách “Bên Thắng Cuộc” hoàn tất năm 2012 được Huy Đức trình bày thành 2 cuốn. Cuốn I “Bên thắng Cuộc: Giải phóng”, cuốn II “Bên Thắng Cuộc: Quyền bính”. Hai cuốn sách gộp lại dày 1000 trang cỡ chữ 11, gồm 22 Chương, 195 Danh Mục Tác phẩm và 52 Hồi ký, Bản thảo truyền tay trong nước được dùng để tham khảo, với 1262 mục chú thích . Phần chú thích (Cuốn I 82 trang, cuốn II 66 trang) tổng cộng 148 trang là một phần không thể tách rời với bộ sách. Tác giả để riêng ra để cho phần trình bày có tính liên tục.             Bộ sách của Huy Đức là một tác phẩm đồ sộ. Đồ sộ ở bề dày của nó đã đành, nó còn “đồ sộ” ở chỗ tác giả  của nó là một người Cộng sản nhưng không viết để ca ngợi chiến thắng và tuyên truyền cho tính vô địch của chủ thuyết Mác- Lê Nin.             Cuốn sách là một tài liệu lịch sử mặc dù tác giả không trình bày dưới lăng kính của một nhà viết sử. Tác giả đóng vai một bác sĩ giải phẫu mổ xẻ một cơ thể, trình ra những sự kiện lịch sử có chứng liệu. Trong đó những nhân vật lịch sử suy nghĩ, hành xử và thao tác trước thực tế khách quan.             Cuốn sách trình bày một cuộc sống lịch sử có tính nhân sinh sống động. Qua đó người đọc đôi khi thấy quy luật của cuộc sống át hẵn quy luật lịch sử. Ông Võ Văn Kiệt, ông Đỗ Mười, ông Lê Duẫn …, ông Nguyễn  Văn Thiệu, ông Kissinger … , ông Võ Nguyên Giáp , ông Văn Tiến Dũng …  tuy vẫn còn là những Thủ tướng, những Tổng Bí thư, Tổng thống, Cố vấn chính tri. …, những ông Tướng … nhưng chính yếu dưới ngòi bút của Huy Đức là những con người bằng xương bằng thịt lấy những quyết định lịch sử của mình liên quan đến cái sống và cái chết của hằng trăm ngàn người khác như một con người trước thực tế sinh động và hạn chế của nó.             Những ai quan tâm đến những biến chuyển của lịch sử diễn ra trên đất nước chúng ta trong 60 năm qua tìm thấy qua bộ sách “Bên Thắng Cuộc” một bức tranh hậu trường trọn vẹn bên phe xã hội chủ nghĩa. Tác giả gạn lọc và trình bày một bức tranh nối kết  sự kiện này với sự kiện khác một cách nhân quả (causal). Đối với các nhà nghiên cứu, cuốn sách cung cấp những sử liệu về người và việc từ trước đến nay không có sẵn  sàng như vậy.             Cuốn “Bên Thắng Cuộc” là một cuốn sách nói về những cay đắng của người thắng cuộc. Thắng xong mới thấy mình mới là kẻ bại trận. Cuốn sách cũng chứa đựng những oái oăm của cuộc sống . Chỉ riêng mối tình của Lê Duẫn với bà Nguyễn Thụy Nga người vợ thứ do Đảng cưới cho ông tại Cà Mâu năm 1948 trong thời gian chống Pháp đã có đủ chất liệu cho một thiên tình sử. Ông Duẫn có những ngày hạnh phúc với bà Nga khi ông còn lãnh đạo phong trào Cộng sản ở miền Nam trước Hiệp Định Geneve năm 1954. Năm 1957 khi ông được điều ra Bắc trở thành Bí thư thứ nhất của đảng với quyền uy chính trị chỉ sau ông Hồ Chí Minh ông đã không bảo vệ nổi bà Nga trước lối sống công thức giữa một thủ đô vừa lấy lại trong tay người Pháp và áp lực của người con gái lớn của bà vợ cả. Bà Nga được gởi đi học và sống một mình ở Trung quốc 5 năm, sau đó trở lại miền Nam tham gia cuộc đấu tranh chống chính quyền miền Nam. Vợ ông Võ Văn Kiệt, bà Trần Kim Anh và hai con nhỏ bị bom chết năm 1966 trên đường di chuyển từ Bến Cát đến căn cứ Củ Chi ông Kiệt gặp khó khăn trong đời sống gia đình cho mãi đến năm 1984 khi cưới bà Phan Lương Cầm, con ghẻ tướng Phan Tử Lăng và vẫn không yên với dư luận vì bà Cầm quá mới! Tách chúng ra khỏi cuốn sách đó là những mối tình rất con người. Nó bị cọ xác và đầy đọa bởi chiến tranh, phân ly, ghen tuông, quyền lực và phong tục tập quán.             Tôi còn nhớ một bi kịch xẩy ra tại trại cải tạo Lam sơn, trong tỉnh  Khánh hòa khi tôi đang bị giam tại đó cuối năm 1975 giữa một cán bộ Cộng sản và một Trung úy quân đội Việt Nam Cộng Hòa trẻ tuổi. Trong một buổi lên lớp khi người cán bộ xỉ vả học viên là phản bội tổ quốc, viên Trung úy đứng lên nói, anh không phản bội ai cả. Anh nói: “Nếu Mẹ tôi sinh tôi ra trên vĩ tuyến 17 thì bây giờ tôi cũng đang đứng chỗ của anh và có thể đang mắng nhiếc anh là phản quốc.” (2)              Trong thời gian sau cuộc cách mạng tháng 8/1945, người Pháp trở lại, nhưng một số vùng như Thanh-Nghệ -Tỉnh, Bình Định-Phú Yên, Cà Mâu -Đồng Tháp vẫn nằm trong vòng kiểm soát của phe kháng chiến do đảng Cộng sản lãnh đạo, và nhiều thanh niên vì điều kiện địa lý này đã ở bên này hay bên kia và có khi anh em một nhà biến thành kẻ thù bắn giết nhau. Bên thắng hay bên thua chỉ là ngẫu nhiên của lịch sử và may mắn hay rủi ro của từng số phận. Cái còn lại là cái tâm.             Nhưng có cái tâm tốt chưa chắc vượt ra khỏi nghịch cảnh. Sau năm 1975 ông Võ Văn Kiệt giữ chức vụ lãnh đạo tại Sài gòn- Gia Định ông cũng phải ngăn sông cấm chợ để cho dân Sài gòn nằm trên vựa lúa mà đói. Guồng máy buộc ông làm vậy nếu ông không muốn bị kết án là phản cách mạng, phản bội nguyên tắc kinh tế tập trung xã hội chủ nghĩa! Nhưng ít nhất ông Kiệt còn trăn trở tìm lối thoát ra khỏi cái gông tự tròng vào cổ mình của đảng.  Bên cạnh còn biết bao kẻ tầm thường tin tưởng tuyệt đối chủ thuyết Mác Xít: Đỗ Mười, Võ Chí Công, Đào Duy Tùng, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh … Thật khó mà định giá những nhân vật như Hồ Chí Minh, Lê Duẫn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng. Lê Đức Thọ … để biết họ muốn gì. Họ là những tay “ma nớp” quyền lực như một thú vui trong khung cảnh lịch sử mà họ đang sống?             Huy Đức vẽ con người rất con người và các sử gia nếu muốn  nghiên cứu các lãnh tụ Cộng sản Việt Nam thì bộ sách của Huy Đức là một nguồn tài liệu phong phú muôn màu muôn vẻ.             Nhưng nét nổi bật nhất của bộ sách là đường nét ngây ngô của bộ máy Đảng. Cải cách ruộng đất, cải tạo tư sản, ngăn sông cấm chợ, sở hữu công của tư liệu sản xuất, đất đai thuộc về toàn dân là những nhát búa đảng Cộng sản tự đập vào chân mình.                  Bộ sách “Bên Thắng Cuộc” cho thấy trong thập niên 1980 đảng Cộng sản Việt Nam đã vùng vẫy để thoát hiểm trước cơn giông tố đang làm lung lay tận gốc phong trào cộng sản thế giới. Gorbachev tại Liên xô. Đặng Tiểu Bình ở Trung quốc với “mèo trắng mèo đen mèo nào cũng tốt miễn là bắt được chuột”. Thắng cuộc, nhưng Việt Nam phải “đổi mới” để tồn tại. Nhưng “đổi mới” mà không có chính sách. Chỉ có những bước mò mẫm trong sương mù của “kinh tế thị trường” không định hướng,  ngoại trừ “định hướng xã hội chủ nghĩa” để níu kéo lĩnh vực quốc doanh cứu đảng.             Kết quả duy nhất của sự đổi  mới mà vẫn duy trì chế độ độc đảng là làm cho dân “có gạo ăn” nhưng không xây dựng được tiềm năng của quốc gia. Chính sách của quốc gia dựa vào trí tuệ giới hạn nếu không muốn nói là kém cỏi của “Bác”, của anh “Ba”, anh “Sáu”, anh “Mười” … một cách rất là tùy tiện.             Bộ sách của Huy Đức có một nét đặc thù là không những bày ra cái yếu kém của chủ nghĩa Mác, mà còn bày ra cái yếu kém của người Việt Nam. Người Việt Nam thông minh, nhưng thiếu cái nhìn lớn và vọng ngoại. Dân khổ triền miên vì vậy.             Nhìn bộ sách đồ sộ của Huy Đức khó mà nghĩ một cách đơn giản rằng đó là thành quả của một cá nhân. Anh Huy Đức dù xông xáo cũng khó tiếp cận với tài liệu nhất là tiếp cận phỏng vấn các nhân vật đang nắm quyền lực mà thói quen sinh hoạt của đảng là mật, cái gì cũng là mật.             Năm 1967 bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ Robert McNamara trong khi điều hành cuộc chiến Việt Nam nhận ra sự phi lý của cuộc chiến mà quốc gia và cá nhân ông đang vướng vào, ông kín đáo cho lập một Ủy ban nghiên cứu các biến chuyển từ năm 1945 dẫn đến cuộc chiến tranh. Tài liệu nghiên cứu được gọi là “Hồ sơ của Lầu Năm Góc” (The Pentagon Papers). Bộ sách của Huy Đức có nét tương tự của Pentagon Papers. Phải chăng mục đích của bộ sách là thu thập dữ kiện một cách khách quan để tìm ra nguyên ủy của các mâu thuẫn ngự trị trên đất nước Việt Nam? Cái khác bề ngoài phải chăng là công việc truy tìm này được giao phó cho Huy Đức như một nghiên cứu cá nhân?             Bộ sách của Huy Đức phanh phui ra các dữ kiện tự nhiên từ việc này dẫn đến việc khác cho thấy tại sao chúng ta là nạn nhân. Nạn nhân của hoàn cảnh lịch sử, nạn nhân của các tranh chấp quốc tế, và trên hết là nạn nhân của chính tầm nhìn kém cỏi của chúng ta.             Nếu tài liệu “The Pentagon Papers” đã giúp cho nhân dân Hoa Kỳ  vượt qua “Hội chứng Việt Nam” để nhanh chóng hóa giải căng thẳng và sự chia rẽ trong xã hội do cuộc chiến Việt Nam gây ra thì bộ sách “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức cũng có thể là một liều thuốc hóa giải sự chia rẽ dân tộc Việt Nam giữa người thắng kẻ thua.             Câu hỏi then chốt là chúng ta đã sẵn sàng để hòa giải với nhau chưa?             Trong phần kết thúc cuốn sách tác giả kết luận: “Giá như không phải là ý thức hệ mà tự do và hạnh phúc của nhân dân là nền tảng hình thành chính sách của đảng Cộng sản Việt Nam, đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và lãnh đạo, thì người dân đã tránh được chuyên chính vô sản, tránh được cải cách ruộng đất, cải tạo tư sản, tránh được “Nhân Văn Giai Phẩm, tránh được biết bao cuộc binh đạo xung đột trong nội bộ gia đình”.             Và giờ đây đảng Cộng sảnViệt Nam vẫn còn duy trì Điều 4 Hiến pháp nắm trọn quyền lãnh đạo đất nước, đảng vẫn chưa trả quyền tự do ngôn luận cho dân, đảng vẫn còn ràng buộc với ý thức hệ Mác xít chưa chịu trả quyền tư hữu và quyền sở hữu đất đai lại cho dân thì rõ là chưa có cơ hội hòa giải dân tộc .             Nhưng con đường thiên lý nào cũng phải bắt đầu bằng dặm đầu tiên. Bộ sách “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức là bước bắt đầu và là một  bước tích cực của quá trình hoà giải dân tộc.   Trần Bình Nam Jan 23, 2013binhnam@sbcglobal.netwww.tranbinhnam.com  Chú thích:  (1)  Theo The Life of the Party: The Post Democratic Future Begins in China của Eric X. Li – “Foreign Affairs” Jan-Feb. 2013(2)  Cán bộ trại đã phạt nhốt viên Trung úy vào thùng sắt, loại connex quân đội Mỹ dùng chuyên chở quân dụng.
......

THƯ GỞI CÁC BẠN ĐẤU TRANH DÂN CHỦ-NHÂN QUYỀN TRONG NƯỚC

Tôi là người đấu tranh cho tự do dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam, đã từng bị kết án 4 năm tù giam và cũng mới mãn hạn tù. Hiện đang sống tại Việt Nam và tiếp tục lựa chon con đường đấu tranh cho một Việt Nam tự do. Tôi viết lại những gì mà tôi đã đi qua trong 4 năm để các bạn đang đấu tranh cho tự do Việt Nam thêm thông tin và kinh nghiệm khi phải đối mặt với công an trong quá trình bị khởi tố tạm giữ, tạm giam và khi bị đưa đi trại giam ‘’cải tạo” của nhà nước Việt Nam. Việc đối mặt với từng giai đoạn ấy hết sức khó khăn, đấu trí, đấu lý và sức bền của lòng can đảm mỗi cá nhân đã dấn thân vào con đường này. Bạn đang đấu tranh bí mật. Bạn đang làm việc trong bí mật. Đó cũng là một việc rất tốt cho bạn và cho những người hợp tác làm việc chung với bạn. Điều quan trọng là giữ cho mình và cho người. Các bạn đấu tranh trong âm thầm thì ít người biết đến nhưng tôi cho rằng, nó cũng rất hiệu quả. Mục đích cuối cùng của chúng ta là Việt Nam tự do Để có được như vậy thì có rất nhiều con đường khác nhau và khả năng đóng góp cũng khác nhau để đến đích .Đấu tranh bí mật thì các bạn không bị theo dõi và việc viết bài hay kết nối thêm bạn bè vào quá trình nhóm nhỏ rất tốt. Ở trạng thái đấu tranh bí mật này thì các bạn ít đối mặt với công an, thế nhưng các bạn phải có thêm kinh nghiệm của những người đi trước, làm sao các bạn tránh được những cạm bẫy của an ninh mật vụ, đang giăng ra chờ đón những người hoạt động đòi tự do dân chủ nhân quyền mắc vào. Công an có thể kéo những mẻ lưới để đưa cả nhóm các bạn vào tù. Đấu tranh bí mật các bạn cần tiếp xúc với những người đã từng bị bắt để thêm kinh nghiệm phòng ngừa và thường xuyên liên lạc với họ để thêm chỉ dẫn khi cần thiết bằng con đường email hoặc trực tiếp qua chat ’’voise’. Bạn nên có thêm kiến thức về an ninh điện tử để phòng tránh bị an ninh mạng đột nhập vào máy tính, đánh cắp thông tin trong máy tính của bạn và cài gián điệp mạng (virus) trong máy tính nhằm thu thập thông tin hàng ngày của bạn. Hiện nay an ninh Việt Nam đã phát triển hơn trước và cũng tinh vi hơn trước. Trước kia để theo dõi ai đó thì họ có thể đóng giả người này người kia để tiếp cận bạn hoặc đến dình mò nhà bạn nhưng ngày nay không cần làm như vậy. An ninh mạng có thể làm hết việc đó thông qua nghe lén điện thoại, định vị bạn đang ở đâu trên bản đồ [kể cả trường hợp bạn tắt máy], rồi việc theo dõi qua internet, việc an ninh có thể cài gián điệp máy tính bằng cách gửi cho bạn một bức thư và vô tình bạn tò mò đọc thư đó chưa xong, thì phần mền gián điệp đó đã ở trong máy của bạn rồi. Sau đó bạn liên lạc với ai và làm gì….. an ninh mạng đều biết hết và họ sẽ lên kế hoạch bắt và điều tra bạn. Mặc dù thông tin nghe lén và thông tin lấy được trong máy tính của bạn không đưa ra làm căn cứ hoặc bằng chứng buộc tội, nếu họ đưa ra vấn đề đó thì chính họ đã vi phạm pháp luật về đời tư,-một trong những vấn đề của nhân quyền. Thế nhưng họ nghe lén và theo dõi qua máy tính của bạn để nắm bắt được những kế hoạch của bạn để từ đó triển khai giăng lưới bắt bạn. Bạn hoạt động công khai. Hoạt động công khai là bạn phải đối mặt trực diện với công an,công an thì vô cùng gian dối. Lúc đầu có thể ngăn chặn bạn dù việc ngăn chặn đó là vi phạm nhân quyền được qui đinh tại điều 68 hiến pháp 1992. Công an có thể bằng nhiều thủ đoạn để đạt mục đích kể cả bắt chấp luật pháp. Tôi khẳng định tất cả công an việt nam không làm theo luật pháp mà làm theo mệnh lệch cấp trên, dù mệnh lệch đó vi phạm pháp luật. Vì thế câu hỏi ở đây là công an làm theo ‘’luật hay lệnh’’ thì họ sẽ nói là làm theo lệnh của cấp trên, vậy cấp trên là ai?...... đến ông bộ trưởng bộ công an… rồi mệnh lệch của bộ chính trị … rồi chỉ thị của lãnh đạo đảng nhà nước và tóm lại tất cả làm theo lệnh của cấp trên. Vậy còn những qui định của luật ra sao? Lẽ thường thì mọi công an phải làm theo luật, nếu cấp trên của mình ra lệnh mà mệnh lệnh đó vi hiến thì nhất định không làm.[Điều này chỉ có ở các quốc gia dân chủ] Khi mà bạn bị công an triệu tập [hoặc giấy mời] thì bao giờ buổi đầu tiên làm việc thì công an cũng ve vãn bạn như rất thân tình và tình cảm đầy trách nhiệm với bạn và với quốc gia. Đó là màn chào hỏi đầu tiên, sau đó rồi có thể mời ăn, mời uống để nhằm mục đích đánh vào tình cảm của bạn. Bạn thấy họ tử tế, tốt bụng. Sau lần mở màn đó là làm việc lấy lời khai [biên bản làm việc]. Ở giai đoạn này bạn hay bị mắc lỗi những câu hỏi của công an đang dần đưa bạn vào những vi phạm pháp luật, nếu bạn không dứt khoát những gì bạn thuộc về quan điểm bằng những câu trả lời cứng dắn thì sẽ bị họ dần cho bạn vào vòng lao lý. Bạn nên nhớ rằng trong tình huống đó bạn có thể phát huy ‘’quyền im lặng’’, ’’không có nghĩa vụ trả lời’’ và yêu cầu công an đưa ra những bằng chứng hoặc chứng cứ. Sau đó mới trả lời và việc trả lời cũng lên rất dứt khoát với công an ghi biên bản là ’’trả lời câu nào thì được ghi câu đó’’ nếu nghi trong biên bản mà không đúng với trả lời thì bạn sẽ không ký vào biên bản đó khi kết thúc. Nếu biên bản kết thúc mà không có chữ ký của bạn thì biên bản đó coi như không có giá trị pháp lý. Mặt khác bạn lưu ý rằng bạn đang là công dân ’’đối với nhân dân thì phải kính trọng và lễ phép’’. Bạn không chấp nhận làm việc thiếu tôn trọng bạn vì ’’không ai có tội khi tòa án chưa tuyên’’. Trên thực tế thì 100% những bản án liên quan đến nhân quyền ở Việt Nam đều không có tội nhưng phải chịu tội vì bị cưỡng chế. Trong quá trình làm việc ở giai đoạn này bạn nhất quyết không nhu nhược với bản thân và với công an. Nếu bạn nhu nhược và khiếp sợ công an thì họ sẽ lấn tới và những trả lời [lời khai] của bạn sẽ là bằng chứng buộc tội bạn. Trong quá trình này bạn càng ít nói càng tốt vì nếu bạn càng nói sẽ càng làm cho bạn sơ hở, vì theo kinh nghiệm cho thấy nếu bạn nói 100 câu thì cũng có thể một câu hở [sơ suất]. Bạn trả lời với họ phải bình tĩnh và suy nghĩ về nhưng câu trả lời của mình. Bạn nên tìm hiểu thêm luật pháp liên quan lĩnh vực nhân quyền và luật tố tụng hình sự để khi bạn làm việc với công an bạn có lý luận. Bạn nên trao đổi thông tin với những người có kinh nghiệm trong việc này để được tư vấn trước khi bạn đi làm việc với công an. Sau những lần đi làm việc về, bạn nên tiếp tục trao đổi với những người có kinh nghiệm để được tư vấn tiếp cho buổi làm việc sau. Bạn bị khởi tố bắt tạm giữ. Các án an ninh thường ban đầu họ đều ra lệnh tạm giữ 9 ngày [3 lệnh]. Ở trong gia đoạn này hết sức quan trọng đối với bạn, bạn có thể được trả tự do về nhà nếu bạn thực hiện tốt nhưng nội dung sau. Tạm giữ có nghĩa là họ chưa có đầy đủ bằng chứng để buộc tội bạn. Họ bắt bạn chẳng qua thông qua một ai đó đã khai ra bạn và rồi họ ra lệnh khởi tố vụ án và bắt tạm giữ, tạm giam để điều tra. Nếu trong quá trình tạm giữ 9 ngày đó bạn giữ được lập trường ‘’im lặng’’ hoặc ‘’ không có nghĩa vụ trả lời ‘’ khi chưa đưa ra vật chứng và lời khai của nhân chứng khác đã khai ra bạn. Nếu có một nhân chứng bạn cũng có thể từ chối lời khai của nhân chứng đó hoặc một bị can khác. Trong 9 ngày tạm giữ này là thời gian điều tra sơ bộ ban đầu để rồi công an mới đề nghị viện kiểm sát ra quyết định tạm giam bạn hay trả tự do. Nếu có đủ bằng chứng và lời khai của bạn phù hợp với lời tố cáo hoặc một bị can khác đã khai ra bạn thì nhất định bạn sẽ có lệnh tạm giam 3 tháng hoặc 4 tháng . Vì thế bạn nhất định phải kiên cường vượt qua gia đoạn này. Bạn cũng không được ký bất kỳ văn bản nào của cơ quan công an trong thời gian tạm giữ. Nếu bạn mà nhu nhược với bản thân trong 9 ngày này bằng việc bạn thừa nhận tất cả nhưng gì ghi trong biên bản làm việc đó thì bạn sẽ bị tạm giam, mà tạm giam thì khả năng bạn sẽ có án tù. Trong thời gian này công an sẽ làm việc với bạn liên tục để tìm ra bằng chứng rồi ra quyết định tạm giam. Công an cũng sẽ tung ra hết những ‘’ nghiệp vụ’’ nhiều thủ đoạn khác nhau, có thể đến cả việc biệt giam và làm cho bạn khủng hoảng tinh thần và đưa tình cảm gia đình vào làm việc…… rồi ‘’nhận đi để được hưởng khoan hồng của đảng và nhà nước’’ rồi để sau này ‘’ có tình tiết giảm nhẹ tội’’ v v…v v… Có những công an trong quá trình điều tra nói với bị can: ‘’mày không có tội gì nặng đâu, mày còn trẻ chú không muốn bỏ tù mày vì thế khai hết ra đi, khai xong thì về, xong lúc nào thì về lúc đó, bố mẹ mày đang ở nhà khóc …mong mày về, con bạn người yêu mày nó nói mày không về nó đi yêu thằng khác….Đấy mày thấy không bao nhiêu người mong mày về, vậy khai đi, khai xong rồi về…’’ cứ như vậy để lừa con trẻ và những người tin vào lời nói đó. Khi khai xong vụ này thì công an lại nói tiếp, ‘’còn mấy vụ trước nữa chưa khai, khai đi….’’ và cứ thế ra nhiều hành vi trước đó nhiều tháng và nhiều năm. Khi khai ra quá nhiều vụ rồi thì công an nói: ’’mày nhiều tội như thế này thì chú không giúp được, việc này chú về đề nghị với cấp trên xem có giúp gì cho cháu không……’’ Sau đó là có kết luận điều tra và chuyển sang viện kiểm sát để đề nghị truy tố ra tòa và nhận án. Đó là những cách mà công an Việt Nam hay lừa cung. Minh Chinh [Tiếp phần sau sẽ kể về câu chuyện tạm giam,có an tù và đi trại giam ] Mong mọi người đọc được thư này phổ biến cho nhiều người cùng biết Cựu tù nhân chính trị tại Việt Namhttps://www.facebook.com/minh.chinh.94
......

Câu chuyện nhỏ của tôi

Viết sau những ngày mới ra tù. Tôi xin được phép kể vài mẩu chuyện nhỏ về việc nhà cầm quyền Việt Nam thực thi sứ mệnh bảo vệ nhân quyền cho một công dân như tôi: Kết tội: Tôi bị bắt với một lý do rất… cười: tọa kháng tại nhà với biểu ngữ (được phía Cơ quan An ninh điều tra kết luận rằng mang nội dung xấu): “Trường Sa - Hoàng Sa là của Việt Nam. Phản đối công hàm bán nước ngày 14/9/1958 của Phạm VănĐồng”. Hơn 16 tháng sau ra tòa, tôi nhận bản án 4 năm tù giam, thêm 3 năm quản chế về cái gọi là tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” mà không hề dính dáng đến việc “tọa kháng”, hành vi trực tiếp được nhà cầm quyền làm lý cớ bắt bỏ tù. Hai chứng nhân “quan trọng” được đưa từ Thanh Hóa vào làm công cụ buộc tội bị cáo. Ông Nhiểm, ông Kính trông tội nghiệp với bộ mặt méo mó, khắc khổ ngồi lọt thỏm, bị bao vây giữa vô vàn những mật vụ dưới hàng ghế dự khán, thay vì ở vị trí dành cho người làm chứng theo quy định một phiên tòa: “Nếu thời gian quay trở lại hoặc có cơ hội khác, tôi vẫn sẽ giúp đỡ họ - những ngư dân Thanh Hóa - dù tôi biết trước có thể những con người này sẽ quay lại kết tội tôi. Họ buộc phải làm thế. Và tôi sẵn sàng tha thứ cho họ.” Tôi đã nói những lời này trước tòa dành cho những ngư dân Thanh Hóa tôi đã gặp và giúp đỡ hồi cuối tháng hai năm 2008. Trong khuôn khổ bài viết ngắn này, tôi sẽ không tường thuật lại chuyến đi Thanh Hóa cùng Ngô Quỳnh. Bạn đọc nào quan tâm và muốn tìm hiểu sự thật, xin tìm đọc bài viết “Uất ức - biển ta ơi!”tôi viết năm 2008. Tôi tin rằng, nếu ai còn là người Việt Nam thì không thể không đau xót trước việc đồng bào mình bị bắt giết ngay trên lãnh hải của Tổ Quốc mình, cũng như không thể phủ nhận Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam. Chỉ vì vạch trần và tố cáo một sự thật bị Đảng và Nhà nước giấu nhẹm, chỉ vì đòi quyền lợi chính đáng cho những nạn nhân, ngư dân Thanh Hóa mà tôi và Ngô Quỳnh đã bị tước mất tự do - dù là một thứ tự do đang hấp hối. Biệt giam: Những ngày đầu, tôi bị giam chung với các nữ tù hình sự khác. Trong cuộc vật lộn mưu sinh, trở thành đủ lọai tội phạm (họ vẫn thường tự hào rằng phải rất bản lĩnh mới dám thách thức pháp luật) thì sự xuất hiện của một cô gái nhỏ bé bị gán tội “chống Nhà Nước…” là điều ngoài sức tưởng tượng. Từ ngạc nhiên, tò mò rồi thiện cảm, chúng tôi trở nên gần gũi với nhau. Được vài hôm, những ánh mắt thân thiện, cảm mến biến mất. Thay vào đó là thái độ dè dặt, lảng tránh pha chút sợ sệt. Chính sách cô lập bắt đầu có hiệu quả! Sắp đến giờ cơm chiều. Tiếng ổ khóa vang lên chát chúa. Tiếp đó là giọng nói lạnh tanh của quản giáo: “Phạm Thanh Nghiên chuẩn bị nội vụ!”. Mọi ánh mắt đổ dồn về phía tôi, lo lắng, thương cảm, hoảng hốt: “Chết rồi, bị đi ép cung rồi”, “chị ơi! Biệt giam rồi. ”, “khổ thân, người bé như cái kẹo, chịu sao nổi cháu ơi”. Mỗi người góp một tí, từ chai mắm, gói lạc, ít bột canh, cuộn băng vệ sinh… tất cả được đùm vào một túi ni-lông, ấn vội vào tay tôi. Tôi không đủ thời gian đùn đẩy. Nhận cũng tốt. Đây sẽ là vốn liếng giúp tôi “cầm cự”, chờ đợi đến lúc nhận được quà tiếp tế từ gia đình. Tôi không sợ biệt giam, không sợ bị ép cung. Tôi sợ những ánh mắt thương cảm của họ. Những tình cảm rất con người mà vì một sức ép đáng sợ nào đó, họ đã buộc phải thủ tiêu đi. Tôi bước ra cửa, không ngoái lại nhìn. Sau lưng, vài giọt nước mắt lặng lẽ rơi. Nhà tù, thì ra vẫn còn chỗ cho tình thương yêu và lòng nhân ái. Dẫn tôi đi là người cán bộ tên C. Sau này tôi được nghe nhiều chuyện về ông ta, chủ yếu thành tích làm giầu bất chính và đánh tù. Tôi cắp túi quần áo, chân đất đi trên những con hẻm nhếch nhác vì mưa phùn, qua những dãy nhà giam lạnh ngắt và cũ kỹ. Trong những bức tường lặng câm kia là những sự chờ đợi và tuyệt vọng. Chờ đợi để được phán xử không theo cách của con người, rồi hiến mình cho sự khổ ải và hao mòn trong các trại cải tạo. Khu giam giữ mới có khoảng sân khá rộng. Sau khi làm các thủ tục cần thiết, C giao tôi cho đồng nghiệp. Tôi đi theo K, cảm giác như đang bị nuốt vào một đường hầm. Lần đầu tiên kể từ khi bị bắt, tôi mới thực sự thấy hết cái âm u của chốn ngục tù. Chỉ khi dừng lại, tôi mới biết mình đang đứng trước một cánh cửa. Cửa mở, hai đồng tử của tôi giãn ra: đây là nơi dành cho con người ư? Cái gọi là buồng giam rộng chừng 6m2. Hai bệ xi-măng đối diện nhau (chừa một lối đi hẹp ở giữa, tù quen gọi là “xa lộ”) dùng làm chỗ nằm. Từ cửa đến chân bệ nằm còn khoảng trống nho nhỏ để đồ ăn. Trong buồng không có nhà vệ sinh nên phải dùng bô. Chỗ để bô cách chỗ để đồ ăn chừng 3 bước chân. Một trong hai bệ nằm có gắn cố định một cùm sắt, dùng để cùm chân những người tù bị kỷ luật hoặc tử tù chờ ngày thi hành án. Tôi vào sau L vài ngày, đương nhiên phải nằm chung với cái cùm. L thường mắng tôi vì tội hay cho chân vào cùm. Bảo tôi không chịu kiêng kỵ, có ngày bị cùm thật cũng nên. Hàng ngày tôi đi bộ dọc trên “xa lộ”, coi như tập thể dục. Đoạn đường ngắn mấy bước chân, đi vài vòng phải nghỉ một lần để khỏi chóng mặt. Mỗi ngày hai lần: sáng và chiều, công an mở cửa cho tù nhân ra ngoài làm vệ sinh cá nhân và lấy cơm. Mỗi lần chừng 20 đến 30 phút. Hầu như ngày nào tôi cũng phải đi cung nên mọi việc, từ giặt giũ, đổ bô, lấy cơm, rửa bát… L phải kiêm hết. Có hôm, chưa làm vệ sinh xong, điều tra viên đã đứng đợi ngoài cửa. Chắc chỉ có tù nhân lương tâm chúng tôi mới phải trải qua tình trạng ngồi bệ xí trong sự chờ đợi và thúc giục của cả cai tù lẫn điều tra viên mà thôi. Gần 4 tháng biệt giam, tôi phải đi cung hàng chục lần, chưa kể thời gian ở buồng chung hơn một năm. Chuyện này xin được kể trong một dịp khác. L có tật xấu, đi ngoài vô tội vạ, không theo giờ giấc. Nhiều hôm cứ đóng cửa buồng cô nàng mới đi, mỗi lần như thế lại chữa ngượng: “Em luyện mãi mà không được, cứ nhìn thấy công an là nó lại thụt vào. Hình như c*t sợ công an chị ạ”. Hai cái bô chứa đầy “sản phẩm” của L. Mùi xú uế bốc lên nồng nặc. Đã thế, cô nàng còn lên lớp tôi: “Chị phải uống thật nhiều nước mới tốt cho sức khỏe, người đâu mà gầy đét, trông chán lắm”. Tôi bảo: “Có hai cái ngai vàng, mày ngự cả hai, chị uống nhiều nước thì chứa vào đâu?”. Cô nàng nhe hàm răng ám khói thuốc cười trừ. Nhìn L, tôi thấm thía hai câu thơ (được cho là của ông Hồ): “Cửa tù khi mở không đau bụng, đau bụng thì không mở cửa tù”. Cánh cửa sắt, may quá có sáu lỗ thông hơi (to bằng quả trứng chim cút) - thứ duy nhất làm chúng tôi tạm quên mình đang ở trong một cái hộp. Hàng ngày được ra ngoài, tôi thường vãi cơm ra sân để dụ lũ chim sẻ đến. Qua sáu cái lỗ thông hơi quý giá đó, tôi và L luân phiên nhau chiêm ngưỡng, ngắm nghía chúng. L ước: “Giá biết bay như chúng, em sẽ bay về ôm hôn thằng Cu cho thật đã”. Rồi như tiếc rẻ “Nhưng làm con chim bay được thì lại không lắc, không phê được. Làm người như em, tuy tù tội nhưng được biết mùi đời. Sướng thân! Như chị thì thiệt, chả biết đếch gì. Chán chết”. Tôi không thích tranh cãi với L những lúc như thế. Lũ chim vô tâm, chúng nhặt nhạnh những hạt cơm cuối cùng rồi bay đi, mặc kệ tôi ngẩn ngơ. Không có cách nào gọi chúng lại. Tôi tủi thân, đâm ra giận chúng, hôm sau không vãi cơm cho chúng nữa. Theo thói quen, lũ chim bay đến ngơ ngác, tìm kiếm rồi bỏ đi. Tôi buồn! Từ đó không dám tự trừng phạt mình nữa.  Một lần đi cung: Một vật gì giống như con rắn nằm lù lù giữa sân. Vừa nhận ra thứ đó dành cho mình, một luồng hơi lạnh chạy dọc sống lưng. Sau cái rùng mình, mặt tôi nóng ran, hai thái dương giật liên tục. Không thể để cơn phẫn nộ được dịp bung ra. Tôi sẽ luồn chân vào đó. Phải nếm trải hết mọi cay đắng của người tù. Tôi đứng im, ngoan ngoãn cho K xiềng chân mình. Nét ái ngại lộ rõ trên gương mặt anh ta: “Chị Nghiên đi chậm thôi, sẽ đỡ đau”. Tôi hít một hơi thở sâu chờ K mở cửa. Ánh mắt tôi đập vào ánh mắt người điều tra viên. Dù cố tỏ ra tự nhiên, nhưng tôi biết anh ta chứ không phải tôi đang bị chi phối bởi cái xiềng chân. Tôi không đi chậm như lời khuyên của K. Bị thôi thúc bởi lòng kiêu hãnh, tôi bước thật nhanh bất chấp hai vòng xích đập vào mắt cá chân đau điếng. Tôi không cho phép anh ta có cơ hội thấy tôi trong bộ dạng chậm chạp và đáng thương. Chỉ thể hiện ở bước đi thôi chưa đủ, tôi bông phèng: - Này anh, giúp tôi một việc được không? - Việc gì chị? - Nhờ anh đăng ký với kỷ lục ghi-nét, công nhận tôi là người phụ nữ có cái lắc chân to và độc nhất thế giới nhé? Bị bất ngờ, anh ta im lặng. Sau một hồi, tính háo thắng trỗi dậy, anh ta trả đũa: - Nếu bây giờ tôi bắc thang cho chị trèo tường về, chị có về không? - Sao nghiệp vụ anh kém thế? - Gì cơ? - Tôi bảo nghiệp vụ anh kém vì anh đi điều tra tôi mà không hiểu gì về tôi. Này nhé, tôi vào đây một cách đường hoàng thì cũng đường hoàng rời khỏi đây. Không phải các anh tùy tiện bắt rồi thả vô tội vạ là được. Có lẽ anh ta thấy tiếc về câu hỏi vừa rồi. Một cán bộ trực trại và một điều tra viên khác đã chầu sẵn ở buồng hỏi cung. Chờ tôi ngồi xuống, trực trại rướn người qua mặt tôi, kéo thanh sắt vốn được bắt vít cố định nơi tay vịn, khóa lại. Động tác rất dứt khoát với vẻ mặt rất nghiêm trọng. Chắc đấy là thứ công cụ được phát minh ra để bảo vệ các nhân viên điều tra khi hỏi cung những tên tội phạm thuộc diện đặc biệt nguy hiểm. Thế ra, tôi được liệt vào loại “đặc biệt nguy hiểm” cơ đấy. Tôi quan sát việc liên quan đến mình như một kẻ thực sự bị thuần phục. Xong việc, viên trực trại lui về đứng phía sau tôi (chắc sẵn sàng tung đòn cứu đồng đội nếu đối tượng manh động). Hai điều tra viên đặt hồ sơ lên bàn:   - Chúng ta bắt đầu làm việc! Tôi lơ đễnh nhìn lên trần nhà. - Chúng ta làm việc thôi chị Nghiên. - Anh bảo gì cơ? Vẻ ngoan ngoãn lúc đầu của tôi khiến họ không chuẩn bị tâm lý đối phó cho sự phản công. - Chúng ta vào việc… - Làm gì có chuyện ấy. Các anh nghĩ tôi sẽ làm việc với các anh trong tình trạng này sao? - Đây là quy định của… - Là quy định của các anh thôi. Nguyên tắc của tôi là không làm việc với các anh trong tình trạng này. Hai điều tra viên nhìn tôi chằm chằm. Tôi tiếp tục nhìn lên trần nhà, lưng dựa ra sau, các ngón tay gõ gõ vào thanh sắt chắn ngang trước mặt, chân đung đưa khiến cái xiềng cọ xuống nền nhà phát ra thứ âm thanh khô khốc, nghe đến sốt ruột. Cuối cùng, một trong hai người điều tra viên phải ra hiệu cho trực trại mở xiềng chân và thanh sắt chắn ngang ra.  Tôi thôi nhìn lên trần nhà: - Đây sẽ là lần đầu và cũng là lần cuối tôi cho phép các anh làm thế. Nếu việc này còn tái diễn thì các anh sẽ chỉ nhận được một thứ duy nhất từ tôi, đó là sự im lặng. Mong các anh nhớ cho. Trở về buồng giam, tôi mệt mỏi nằm vật xuống. Nhìn L với đôi mắt đỏ hoe, tôi đâm cáu. Cô nàng mặc cho tôi mắng mỏ, cứ sấn vào xoa xoa bóp bóp chỗ đau cho tôi. Tôi hắt hủi cô nàng để khỏi phải thương hại mình. Tôi nghĩ đến chú Nghĩa, đến Ngô Quỳnh và các anh em khác bị bắt cùng đợt với tôi. Không biết họ bị đối xử ra sao? Nhưng tôi tin, dù ở trong hoàn cảnh nào thì những người anh em ấy (sẽ không cáu gắt bạn tù vô lối như tôi) mà sẽ ngạo nghễ và nở nụ cười nhân ái vì nhà tù là sự lựa chọn “bất khả kháng”, là cánh cửa duy nhất để đến với tự do.
......

Ý kiến về việc ĐGH Benedicto 16 tiếp TBT Nguyễn Phú Trọng

Vào ngày thứ Ba, 22 tháng 1, Đức Giáo Hoàng Benedicto 16 đã tiếp kiến Tổng Bí Thư Đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng tại Vatican. Đức Giáo hoàng Benedict XVI (phải) tiếp Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng tại Vatican hôm 22-01-2013.  Thành công ngoại giao? Hiền Vy có cuộc nói chuyện nhanh với LM Nguyễn Văn Khải, người đang du học tại Rome, trước hết LM Khải cho biết ý kiến của ông về buổi gặp gỡ của Đức Giáo Hoàng và Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng: LM Nguyễn Văn Khải: Ở Việt Nam những năm gần đây thực quyền của chức Tổng Bí thư Đảng cộng sản bị suy giảm. Trong số ba nhân vật chủ chốt nắm giữ các chức vụ Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và Thủ tướng, thì bản thân ông Nguyễn Phú Trọng, về phương diện cá nhân, cũng không phải là người thể hiện được vai trò lãnh đạo nổi bật hơn Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang. Trên phương diện ngoại giao quốc tế thì vị thế Tổng Bí thư ngày càng mờ nhạt. Năm ngoái ông đã có một chuyến công du không thành công tại Mỹ Latin. Sau nữa, trong bộ máy nhà nước Việt Nam, chức vụ Thủ tướng và Chủ tịch nước đều đã gặp Đức Giáo Hoàng, nên bây giờ họ muốn Tổng Bí thư còn lại cũng gặp nốt. Đối với các nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam thì những chuyện thế này là quan trọng. Trong chiều hướng đấy, tôi nghĩ cuộc gặp lần này giữa Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI và ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là do phía Việt Nam đề nghị rồi Tòa Thánh đã chấp thuận và Đức Giáo Hoàng đã chiếu cố tiếp ông Tổng Bí thư và đoàn tùy tùng. Có lẽ Đức Giáo hoàng tiếp ông không phải với tư cách là người đứng đầu một đảng phái, mà với tư cách của một nguyên thủ quốc gia theo thực tế tổ chức của chế độ cộng sản. Hiền Vy: Cuộc gặp gỡ giữa Đức Giáo Hoàng và Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng có lợi gì cho phong trào Dân Chủ tại VN không? Thưa LM. LM Nguyễn Văn Khải: Nếu mà nói là lợi cho phong trào dân chủ ở Việt Nam thì tôi nghĩ là không. Chắc chắn là không. Những năm gần đây Vatican cố gắng chứng tỏ với nhà nước Việt Nam là Giáo Hội không can dự vào chuyện tranh đấu của các đảng phải chính trị, các phong trào dân chủ ở Việt Nam. Bởi thế tôi nghĩ có lẽ không có chuyện Đức Giáo Hoàng lấy vấn đề dân chủ mà áp lực với nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam trong những cuộc gặp thế này. Đối với nhà cầm quyền cộng sản VN thì ngược lại. Hiện tại họ đang bị kết án nặng nề vì những hành vi vi phạm nhân quyền. Trong bối cảnh đó cuộc gặp của ông Tổng Bí Thư với Đức Giáo Hoàng, một cách mặc nhiên, được coi như là một lá bài nhằm che bớt đi bộ mặt xấu xa nhem nhuốc của một chế độ hà khắc, khiến nhiều người lầm tưởng nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam có thiện cảm với Công giáo và có thiện chí bảo vệ nhân quyền. Bởi vậy, tôi nghĩ cuộc gặp gỡ giữa Đức Giáo hoàng và ông Tổng Bí thư lần này chả có lợi gì cho phong trào dân chủ ở Việt Nam. Ngược lại, chế độ sẽ lại lợi dụng những “thành công” ngoại giao kiểu này để gia tăng đàn áp những cá nhân và tổ chức ở Việt Nam đang đòi dân chủ, và họ phớt lờ những đòi hỏi tôn trọng nhân quyền từ cộng đồng quốc tế. Đấy là thực tế đã thể hiện trong những năm gần đây. Thiện chí của Vatican Hiền Vy: Nhà nước VN và Vatican chưa thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ thì sự gặp gỡ này có bình thường không? LM Nguyễn Văn Khải: Thế nào là bình thường và thế nào không bình thường? Nếu lấy việc thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ giữa hai quốc gia làm tiêu chí phán đoán cho cuộc tiếp kiến này là bình thường hay không bình thường thì theo tôi cũng không chuẩn. Bởi vì chả có gì ngăn cản một vị giáo hoàng, với tư cách là người đứng đầu quốc gia Vatican gặp một nguyên thủ quốc gia khác, dù hai bên đã hay chưa thiết lập quan hệ ngoại giao với nhau. Trước đây Đức Giáo hoàng Gioan Phaolo II cũng đã tiếp ông Tổng Bí thứ Đảng Cộng sản Liên Xô Gorbachov vào ngày 1 tháng 12 năm 1989, khi ấy hai bên cũng chưa thiết lập quan hệ ngoại giao với nhau. Cuộc gặp gỡ lần này theo tôi hiểu có lẽ diễn ra trong bối cảnh quan hệ ngoại giao giữa hai bên đã “tiến thêm một bước” như nhiều người thường nói. Cụ thể ấy là việc đầu năm 2011 nhà nước Việt Nam chấp thuận cho Vatican có một vị đại diện không thường trú tại Việt Nam và cuối năm 2012 chấp thuận cho Giáo hội Việt Nam tổ chức hội nghị của Liên Hội đồng các giám mục châu Á. Tuy nhiên, nhiều người khác lại thấy là không bình thường, vì thời gian gần đây nhà nước cộng sản Việt Nam đàn áp người công giáo dữ dội hơn trước, tình trạng vi phạm nhân quyền nói chung và vi phạm tự do tôn giáo nói riêng diễn ra trắng trợn và thường xuyên hơn trước. Hơn nữa, nghị định tôn giáo mới ban hành thì siết chặt quyền tự do tôn giáo nhiều hơn trước. Song ngay cả điều này nữa, thì cũng không thể nào ngăn cản cuộc tiếp kiến. Theo tôi hiểu cuộc gặp lần này cũng như các lần trước diễn tả thiện chí muốn đối thoại và kiên trì đối thoại của Tòa Thánh Vatican với nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam. HiềnVy: Là một người đang du học tại Rome, xin LM cho biết với sự đàn áp giáo dân tại VN và cuộc gặp gỡ này có sự liên quan gì không? LM Nguyễn Văn Khải: Tình hình chính trị, xã hội, tôn giáo ở Việt Nam phức tạp và rối ren như mớ bòng bong. Không thể gắn kết các cuộc gặp gỡ song phương giữa Tòa Thánh và nhà nước CS Việt Nam với các vụ đàn áp giáo dân. Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận một thực tế là sau một cuộc gặp gỡ với Đức Giáo Hoàng hoặc sau một thỏa thuận công khai nào đó giữa Tòa Thánh và nhà nước Việt Nam được ông bố, thì thường xảy ra những vụ đàn áp dưới hình thức nào đó liên quan đến giáo dân. Thí dụ: Năm 2007, sau khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng gặp Đức Giáo Hoàng thì ngày 29 tháng 1 xảy ra vụ công an phá tượng Đức Mẹ Sầu Bi ở giáo xứ Đồng Đinh, Ninh Bình. Sau khi ông Nguyễn Minh Triết gặp Đức Giáo Hoàng cuối năm 2009, thì đầu năm 2010 xảy ra vụ phá thánh giá ở giáo xứ Đồng Chiêm, Hà Nội và giáo dân ở đây bị đàn áp dài ngày. Năm 2011 sau khi nhà cầm quyền đồng ý cho vị đại diện ngoại giao không thường trú đến Việt Nam, thì họ tiến hành bắt bớ hàng loạt các thanh niên công giáo nhiệt thành, rồi tấn công giáo xứ Mỹ Lộc ở Hà Tĩnh và giáo điểm Con Cuông ở Nghệ An. Cuối tháng 11 năm 2012 nhà nước cho tổ chức Hội nghị các Giám mục châu Á ở Xuân Lộc, thì sau đó diễn ra các vụ xử án các giáo dân Công giáo với những bản án nặng nề quá sức tưởng tượng. Trong các cuộc làm việc chung giữa Tòa Thánh và Việt Nam thì Tòa Thánh luôn muốn bảo đảm cho người công giáo được có quyền công dân đầy đủ và Giáo hội Công giáo được bình đẳng với các tổ chức xã hội khác. Thế nhưng đó là điều khó có thể thực hiện. Bởi vì nếu nhà nước Việt Nam đáp ứng đầy đủ những đề nghị của Tòa Thánh đối với Giáo hội Công giáo Việt Nam thì họ cũng phải đáp ứng những mong muốn tương tự của các tôn giáo khác ở Việt Nam. Chưa kể rằng nhà nước Việt Nam từ trước tới nay, ở mọi cấp độ và môi trường, họ luôn giữ thái độ căm thù cố hữu với Công giáo và trong thực tế hành xử thì nhà nước Cộng sản luôn có ý kiềm chế và tiêu diệt Công giáo, bất chấp thiện chí của giáo hội Công giáo trên phương diện cá nhân cũng như trên phương diện tập thể. Bởi vậy, vượt ra ngoài mong muốn của Tòa Thánh, về mặt đối ngoại nhà cầm quyền CSVN có thể lợi dụng các cuộc gặp gỡ với Đức Giáo Hoàng và các cuộc làm việc song phương nhằm đánh bóng mình trước con mắt quốc tế, trong khi lại gia tăng sức ép và sự kiểm soát trên các cộng đồng giáo dân, và hơn nữa sẵn sàng đàn áp giáo dân vì những lý do vô lý. Bất chấp những thỏa thuận không căn bản đạt được giữa Tòa Thánh và Việt Nam thì căn bản Việt Nam vẫn không có tự do tôn giáo, giáo dân và Giáo hội Công giáo Việt Nam căn bản vẫn bị phân biệt đối xử, thậm chí bị đàn áp. Từ năm 1988 đến nay, chưa khi nào tôi thấy nhà nước Việt Nam đàn áp Công giáo và tấn công giáo dân một cách trắng trợn và dã man như 5 năm vừa qua. Hiền Vy: Xin cảm ơn Linh Mục đã dành cho RFA buổi phỏng vấn này. http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/meeting-pope-16-n-ng-phu-trong-hv...
......

Hàng trăm trí thức VN kêu gọi chấm dứt chế độ độc đảng

Gần 500 nhà trí thức tại Việt Nam đã ký thỉnh nguyện thư trên mạng kêu gọi chấm dứt chế độ độc đảng và tôn trọng thật sự các quyền căn bản của con người. Thỉnh nguyện thư này, phát họa một bản hiến pháp khác, được phổ biến trên nhiều trang blog nổi tiếng hôm thứ Ba, 22.1.2013 để đáp ứng việc đảng CSVN yêu cầu dân chúng góp ý về những khoản tu chính hiến pháp. Bản kiến nghị nêu ra 7 điểm chính cần phải sửa đổi từ quyền con người, sở hữu đất đai, tổ chức nhà nước, lực lượng vũ trang, trưng cầu dân ý, thời hạn góp ý sửa Hiến Pháp. Những gì được đề nghị sửa đổi đều dựa trên tính phổ quát của quyền con người như tuyên ngôn quốc tế nhân quyền và Công ước quốc tế về Các Quyền Dân Sự và Chính Trị mà chế độ Hà Nội đặt bút ký cam kết tôn trọng nhưng không thực hiện trong thực tế. Những người ký kiến nghị cho rằng nhiều điều khoản trong dự thảo Hiến Pháp mới chỉ nhằm giới hạn các quyền của công dân “để đàn áp các công dân thực thi quyền tự do như đã diễn ra trong thực tế trong những năm qua ở nước ta.” Các quyền công dân trong dự thảo sửa đổi vẫn có cái đuôi “theo sự quy định của pháp luật” chỉ là dùng Bộ Luật Hình Sự cho quyền chế độ quyền đàn áp nhân dân, vi phạm nhân quyền. Ký tên vào bản kiến nghị, ngoài những trí thức nổi tiếng trong nước như Nguyễn Quang A, Nguyễn Huệ Chi, Tương Lai, Lê Ðăng Doanh, Nguyễn Xuân Diện, Phạm Duy Hiển, Chu Hảo, Nguyên Ngọc, Hoàng Tụy, v.v... người ta còn thấy có cả một số đảng viên đảng CSVN từng nắm những chức vụ quan trọng như cựu bộ trưởng Tư Pháp Nguyễn Ðình Lộc, Tống Văn Công, nguyên tổng biên tập báo Lao Ðộng, Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban Nghiên Cứu của ông Thủ Tướng Phan Văn Khải, Hoàng Xuân Phú, viện trưởng Viện Toán Học ở Hà Nội, Nguyễn Minh Thuyết, nguyên đại biểu Quốc Hội, Nguyễn Trung, nguyên trợ lý của ông Thủ Tướng Võ Văn Kiệt, v.v... Nguyên Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc, cho biết bản hiến pháp như đề nghị trong thỉnh nguyện thư là tốt hơn văn kiện hiện giờ; và điều tốt nhất là Việt Nam phải có hệ thống đa đảng trong lúc này. Bản Hiến pháp đề nghị trong thỉnh nguyện thư cũng kêu gọi đổi tên nước thành Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thay vì Cộng hòa XHCNVN, đồng thời thực hiện tam quyền phân lập giữa hành pháp, lập pháp và tư pháp. Mặc dù nhà cầm quyền cho biết sẽ tiếp thu ý kiến của công chúng về đề nghị tu chính hiến pháp, nhưng những vấn đề như bầu cử đa đảng, quyền tư hữu đất đai của người dân bị loại khỏi tiến trình tham khảo ý kiến. Nói khác, điều 4 của bản Hiếp Pháp 1992 dành độc quyền cai trị cho đảng CSVN vẫn được giữ lại và chỉ sửa chữa râu ria mà thôi. Không mấy ai tin rằng khi bản Hiến Pháp được sửa đổi năm nay sẽ đem đến thay đổi thật sự. Theo: http://www.boxitvn.net/bai/44588
......

Nhân quyền và chủ quyền quốc gia – cần một nhận thức mới ?

Nhân loại văn minh ngày càng trở nên một cộng đồng gắn kết, sự liên hệ giữa các chính phủ và các quốc gia ngày càng chặt chẽ. Chính quyền của các quốc gia ngày càng chấp nhận đối thoại cũng như chấp nhận sự phê bình về việc bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền (đôi khi được gọi là hồ sơ nhân quyền) của mình từ người dân trong nước cũng như cộng đồng quốc tế.     Với các quốc gia, chủ quyền (sovereignty) thường được hiểu theo hai nghĩa tương đối khác nhau. Thứ nhất, chủ quyền giữ vị trí độc lập của một quốc gia với một quốc gia khác, mỗi quốc gia có quyền tài phán quốc gia độc lập trong phạm vi địa lý của mình. Thứ hai, chủ quyền hàm ý trong mỗi quốc gia có một chủ thể (thường là nhân dân hay nghị viện) có quyền chính trị pháp lý tối cao.   Tôn trọng chủ quyền không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác là một nguyên tắc cơ bản co bản của luật quốc tế hiện đại mà đã được ghi nhận trong Hiến chương Liên hợp quốc. Trước đây, chủ quyền quốc gia thường được hiểu theo nghĩa hẹp (chủ quyền tuyệt đối), trong đó các quốc gia không được can thiệp vào công việc được coi là  “vấn đề nội bộ” của quốc gia, đặc biệt là vấn đề nhân quyền. Tuy nhiên, xu hướng chung của luật pháp quốc tế hiện đại ngày nay là thay thế khái niệm chủ quyền quốc gia tuyệt đối bằng khái niệm chủ quyền quốc gia hạn chế, trong đó có sự mở rộng chi phối của cộng đồng quốc tế đối với một số vấn đề vốn trước đây được coi là nội bộ của quốc gia trong đó có vấn đề nhân quyền-  một vấn đề cực kì quan trọng và nhạy cảm.      Sự thay đổi cách nhìn nhận này, theo quan điểm cá nhân là kết quả của sự phát triển không ngừng của luật nhân quyền quốc tế và phong trào đấu tranh vì nhân quyền toàn cầu. Những phát triển đó đưa đến một nhận thức mới của nhân loại và buộc chính phủ các nước, trong đó có cả chính phủ Việt Nam đã đến lúc phải thay đổi nhận thức và cách thức “đối xử” với công dân của mình. Bởi lẽ, vấn đề này không còn chỉ thuộc về vấn đề “nội bộ quốc gia” mà đã trở thành vấn đề chung của cộng đồng quốc tế (international public domain). Điều này cũng có nghĩa là việc phê phán các chính phủ trong những vấn đề nhân quyền, dù xuất phát từ bất kì một chủ thể nào như quốc gia khác, tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ hay cá nhân trong và ngoài nước là đều không phải là hành động can thiệp vào công việc nội bộ của các nước liên quan. Chính quyền của các quốc gia ngày nay phải chấp nhận đối thoại và chấp nhận sự phê phán của công luận trong và ngoài nước vì có như thế thì nhân quyền mới được đảm bảo và chủ quyền mới được vững mạnh.       Dĩ nhiên các sự phê bình, chỉ trích hồ sơ nhân quyền của một quốc gia bởi bất kì chủ thể nào cần mang tính xây dựng, công bằng, khách quan và không mang động cơ phi dân chủ. Điều này sẽ gia tăng mục đích cao đẹp của công cuộc đấu tranh vì nhân quyền của thế giới nói chung. Hà Nội, ngày 22 tháng Giêng năm 2013. http://luatcuasuthat.blogspot.de/2013/01/nhan-quyen-va-chu-quyen-quoc-gi...
......

Hy vọng có thêm hai Huy Đức nữa

Có cuốn Quyền Bính trong tay, đọc khoảng 50 trang đầu, tôi đành phone vào hãng cáo bệnh, ngồi nhà đọc một mạch cho đến trang cuối cùng. Việc mổ xẻ các nhân vật và sự kiện trong đó cần nhiều thời gian và công sức. Bài viết này chỉ là những cảm nhận ban đầu. Câu cuối cùng của Lời mở đầu trong Quyền Bính viết: “Hệ thống chính trị trải qua nhiều thế hệ, càng về sau lại càng ít có khả năng khắc phục sai lầm.” Phải chăng đây là một luận đề, mà tác giả đã dùng phần còn lại của cuốn sách để chứng minh. Đại Hội Câu chuyện thường bắt đầu từ Đại hội Đảng. Đại hội đẻ ra Bộ chính trị và Tổng bí thư. Bộ chính trị và Tổng bí thư lại đẻ ra chính sách. Trong chuỗi mắt xích này, quyền bính được sử dụng triệt để nhằm thao túng chính trường ở những cung bậc khác nhau.   Trước Đại hội VI, Lê Duẩn chết, Lê Đức Thọ muốn giành lấy vị trí này. Nhưng Lê Duẩn chỉ đích danh Trường Chinh thay mình. Ông Thọ đã sử dụng quyền bính tuyệt đối của trưởng ban nhân sự Đại hôi để giành ghế. Không được, ông rút lá bài cuối cùng: không ăn được thì đạp đổ. Trường Chinh đã bị ông Thọ ép phải rút lui chỉ vài giờ trước khi Đại hội VI khai mạc. Ở một hoàn cảnh khác, quyền bính được sử dụng thành bản án để tiêu diệt đối phương. Vụ Sáu Sứ là một điển hình. Phần vì ghen tức với uy tín của Võ Nguyên Giáp và Trần Văn Trà, phần vì sợ hai ông này trở lại chính trường, hai tướng Lê Đức Anh và Đoàn Khuê dùng Vũ Chính cùng con rể Nguyễn Chí Vịnh ở tồng cục II dựng lên vụ “âm mưu lật đổ” do tướng Giáp cầm đầu. May mắn cho tướng Giáp, vụ án được giao cho thứ trưởng công an Võ Viết Thanh là một người tử tế. Ông Thanh lật án, không theo ý kiến chỉ đạo. Lập tức Võ Viết Thanh bị trả đũa. Sự nghiệp chính trị của ông Thanh chấm dứt, thanh danh cá nhân và gia đình bị bôi nhọ. Ông Thanh tâm sự “Trong cặp tôi lúc đó có một khẩu súng, tôi đã định kéo khóa rút súng ra bắn chết cả ba ông rồi tự sát.” (Ba ông là Đoàn Khuê, tổng tham mưu trưởng, Võ chí Công, chủ tịch nước, và Nguyễn Đức Tâm, trưởng ban tổ chức trung ương) Từ Đại hội Đảng VI năm 1986 đến Đại hội XI năm 2011 là 25 năm với 6 kỳ Đại hội. Càng về sau, Đại hội càng lộn xộn. Cứ trước Đại hội, là có nhiều kỳ án, nhiều tin đồn úp úp mở mở làm xôn xao chính trường. Đại hội sau nhiều án hơn Đại hội trước và mức độ khốc liệt của nó cũng tăng. Những cảnh hạ bệ, thanh toán nhau rất ngoạn mục được trình bày một cách bình tĩnh, rõ ràng và đầy sức thuyết phục. Nhân Sự Nếu Đại hội Đảng là mẹ, thì Bộ chính trị là con. Trong Bộ chính trị thì Tổng bí thư là con trưởng, các ủy viên là những đứa con thứ. Mẹ mang bệnh di truyền từ trong nhiễm sắc thể, thì lũ con làm sao tránh khỏi căn bệnh trầm kha. Trường Chinh được mô tả như là kiến trúc sư của Đổi mới. Ông đoạn tuyệt với quan liêu bao cấp. Ông tập hợp những trợ lý giỏi, tận tụy và nhiệt thành với công việc, mang lại chút hy vọng vào những năm cuối thập kỷ 80. Nhưng âu cũng là số phận. Ông phải “tự” rút. Dân tộc lại trở về với cảnh lầm than. Nguyễn Văn Linh, kế vị Trường Chinh, bộc lộ ra là một con người thủ đoạn, hẹp hòi, thù vặt, thành kiến, và bảo thủ. Bạn đọc khá dễ dàng tìm được câu trả lời tại sao ông Linh đã trở thành một sát thủ lạnh lùng với Trần Xuân Bách. Ông Đồng và ông Thọ đưa ông Linh vào ghế Tổng bí thư. Ông Bách phản đối vì ông Linh chẳng có trình độ gì. Khi ông Linh đã thành Tổng bí thư rồi, ông Bách vẫn coi thường ông Linh ra mặt. Cuộc chiến Linh – Bách bắt đầu như vậy. Rồi ông Linh đánh hơi được là ông Bách sẽ thay mình vào giữa nhiệm kỳ. Thế là ông Linh liên minh với cánh bảo thủ giáo điều Bắc kỳ. Những ngón đòn hiểm nhất được tung ra diệt Trần Xuân Bách không tiếc thương để trừ hậu họa. Ông Linh còn lập ra nhiều kỳ án để vặt lông bẻ cánh, thậm chí còn muốn cắt tiết Võ Văn Kiệt. Bề ngoài ông Linh lại đóng vai cấp tiến làm mọi người cứ tưởng ông Linh là cánh đổi mới cùng phe với ông Kiệt từ miền Nam ra. Cuộc đọ sức Linh – Kiêt đầy kịch tính và kéo dài đến những năm khi ông Linh đã về hưu. Đến đời Tổng bí thư Lê Khả Phiêu, di sản đồ sộ của ông để lại cho đất nước là hoán chuyển cán bộ. Những đồng hương Thanh Hóa của ông được cơ cấu, còn những ai không cùng cánh bị đẩy ra. Tới Tổng bí thư Nông Đức Mạnh thì phó ban tổ chức Trung ương cũng phải thốt lên: “Tôi thật xấu hổ vì Đảng ta có một tổng bí thư như vậy”. Thủ tướng Phan Văn Khải nhận định: “Ông Mạnh trình độ yếu lại thiếu bản lĩnh nên gần như không tác dụng gì”. Chính ông Mạnh cũng tự nhận: “Em biết thân phận em rồi, người dân tộc chỉ có thể làm đến thế.” Ông Mạnh tự biết khả năng của mình, nhưng người ta cứ giao cho ông chức Tổng bí thư. Ông Mạnh đã trở thành ông bình vôi không hơn không kém. Quyền bính càng dễ bị khuynh loát bởi những bóng ma sau hậu trường. Nhóm Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Văn Hưởng, Lê Hồng Anh ra đời trong hoàn cảnh này. Trong Quyền Bính tác giả có dẫn lời Nguyễn Văn An, ủy viên Bộ chính trị, trưởng ban tổ chức Trung ương: “Ngay từ Đại hội VI chọn ông Nguyễn Văn Linh đã không đúng, Ông ấy không phải là người đổi mới. Ông Linh chọn ông Đỗ Mười cũng không đúng. Ông Mười chọn Lê Khả Phiêu cũng không đúng. Đến khi chọn Nông Đức Mạnh thì sai” “Không đúng” đồng nghĩa với “Sai”. Nhưng ông An phải dùng từ sai để nhấn mạnh căn bệnh đã vào giai đọan cuối. Nếu mang tài năng và đạo đức của các Tổng bí thư biểu diễn trên đồ thị, thì đó là đồ thị của một hàm số nghịch. Thời gian càng tăng thì đạo đức và tài năng của các vị càng giảm. Đối Ngoại Tổng bí thư và Bộ chính trị làm ra và điểu hành chính sách. Vậy, bạn đọc tự đoán ra kết quả. Những nhân sự bệnh hoạn trên không thể sinh ra những chính sách đúng, tất nhiên càng không thể điều hành quốc gia hội nhập vào quỹ đạo của nhân loại. Nhận thức của cán bộ cao cấp cũng rất thảm hại. Ông Nguyễn Đức Bình tuyên bố “Toàn cầu chỉ mang lại đói nghèo” còn Nguyễn Phú Trọng thì bảo “đó là diễn biến hòa bình”. Khi Bill Cliton đến thăm Việt Nam, vô tình hay cố ý, mà thời gian ông đặt chân đến Hà Nội và Sài Gòn đều vào lúc nửa đêm. Bộ chính trị chỉ đạo không ai được cười khi tiếp Bill Cliton. Quyền Bính mô tả: Một trợ lý nhắc Thủ tướng: “Người ta đã sang tận đây, tiếc gì anh không nở một nụ cười với họ”. Thủ tướng Phan Văn Khải trả lời: “Không được đâu mày ơi, Bộ chính trị đã thống nhất là không được cười”. Khi Bill Clinton đến thăm Đại học Quốc gia Hà Nội, sinh viên được quy định khi nào thì được đứng lên, khi nào thì được vỗ tay. Đón nguyên thủ vào lúc nửa đêm và nền ngoại giao cấm cười ra đời ở xứ ta. Cũng không biết nên cười hay mếu khi đọc những dòng này trong Quyền Bính. Đường lối ngoại giao với Trung Quốc được thể hiện qua cuộc gặp của Lê Khả Phiêu với Giang Trạch Dân. Cuộc gặp diễn ra không theo nghi thức của Đảng hay Nhà nước một cách công khai, mà lén lút, khuất tất theo đường tình báo. Chuyến đi gồm bốn vị Lê Khả Phiểu, Trần Đình Hoan, Nguyễn Mạnh Cầm và Nguyễn Chí Vịnh. Nhưng phút chót, Trung Quốc lại ngăn không cho ông Cầm và ông Hoan vào phòng họp, chỉ riêng ông Phiêu và Vịnh được vào. Ông Phiêu thú nhận đã thoả thuận đàm phán song phương vấn đề biển đảo với Trung Quốc. Chuyện mất đất, mất biển với Trung Quốc là có thiệt. Quyển Bính đã trình bày ngọn nguồn của câu chuyện. Nếu không mất đất, tại sao Đảng lại phải giấu dân? Tại sao lại không công khai nội dung và kết quả đã ký? Khi biết Việt Nam sắp ký Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ, các ủy viên Bộ chính trị nhận được bức điện tối mật từ Tổng cục II: “Trung Quốc sẽ phản ứng rất xấu nếu ký với Mỹ”. Đọc đến đây, thú thật tôi phải chửi thề vì quá đau lòng trước những cơ hội đã mất. Tao buôn bán với Mỹ thì mặc mẹ tao, hề hấn gì đến mày mà mày phải phản ứng xấu. Mày lấy tư cách gì mà chúi mũi vào ống khóa nhà tao. Mày phản ứng xấu thì làm đéo gì được tao. Tôi cũng đắng cay tự hỏi: Ai là người để Trung Quốc làm việc đó? Sao các ngài phải sợ cái thằng hàng xóm to xác mà thối bụng đến vậy? Hèn quá. Nhục quá. Đối Nội Về đường lối kinh tế và đối nội, Quyền Bính trích dẫn lời ông Đào Duy Tùng: “Kinh tế phải phục tùng chính trị”. Một mệnh lệnh tuyệt cú mèo, xứng tầm ủy viên Bộ chính trị. Ở Việt Nam chưa hề có đổi mới chính trị, thì làm sao có đổi mới kinh tế. Công cuộc “Đổi mới”của Đảng từ năm 1986 thực ra chỉ nửa vời, nếu không nói là giả tạo, hay nói cho chính xác là một thằng xây nhưng chín thằng phá. Một nhóm nhỏ người giàu lên là do chộp giựt. Xã hội chưa hình thành một tầng lớp trung lưu thực sự và bền vững. Sức lao động và sự sáng tạo chưa được giải phóng. Vòng kim cô về chủ nghĩa xã hội vẫn đang siết chặt trên đầu. Chệch đường lối thì không vào tù cũng thân bại danh liệt. Khác phe cánh thì không bị cưỡng chế cũng bị thanh tra. Thiết tưởng, không cần phải bàn thêm gì nữa. Hậu quả đã nhãn tiền. Nền kinh tế và xã hội Việt Nam hôm nay đang là đêm hôm trước của ngày phá sản. Nụ Cười và Nước Mắt Bên cạnh những câu chuyện khô khan về đường lối đối kinh tế, Quyển Bính, thảng hoặc, mang lại cho bạn đọc những nụ cười. Ông Lê Duẩn bảo các chị phụ nữ rằng sao các chị nghe vậy mà không “vả vào miệng” những người nói. Tôi khoái lối nói dân dã của ông, y chang như mấy bà ngoài chợ Đồng Xuân. Ông Đỗ Mười tiếp các nhà báo trong khi quên cài khóa cửa quần. Ông Đoàn Khuê thì vén áo cho Đỗ Mười sờ bụng rồi khoe rằng khối ung thư trong bụng đã tan, ông đủ sức khoẻ đảm nhiệm Chủ tịch nước. Lối xưng hô suồng sã “Mày, Tao” của các vị Tổng, Thủ, Chủ, cũng mang lại nụ cười tủm tỉm. Rồi người đọc cũng bắt gặp câu chuyện cảm động về số phận của đứa con rơi lưu lạc Phan Thanh Nam. Bà Hồ Thị Minh, 20 tuổi, con gái miền Nam, nhan sắc mặn mòi, từng làm chủ bút một tờ báo, từng dự hội nghị bên Pháp, biết nhiều ngoại ngữ, được gởi ra Bắc để giúp việc cho Bác Hồ. Chưa kịp giúp Bác, vì Bác đã trên 60 tuổi, thì gặp Võ Văn Kiệt đi dự Đại hội Đảng II, năm 1951. Hai tâm hồn Nam bộ phóng khoáng mà cô đơn giữa núi rừng Việt Bắc hoang vu gặp nhau, kết quả là thằng con Phan Thanh Nam ra đời. Hơn năm sau, ông Kiệt phải về Nam. Trung ương Đảng giao thằng con trai ông Kiệt cho ông Cái ở Tổng cục Lương thực. Tổng cục Lương thực nhưng có lẽ vì thiếu lương thực không nuôi nổi cháu bé sơ sinh, thằng bé phải nằm lại bơ vơ bên bờ suối. Người làng Tăng Xá, xã Tuy Lập, huyện Cẩm Khê, Phú Thọ lượm được mang về. Bà Trần Kim Anh, vợ chính thức của ông Kiệt, và hai đứa con thơ, trúng bom, cùng chết mất tích trên sông Sài Gòn (lưu ý rằng bà Kim Anh là con gái một địa chủ ở miền Tây, không là Đảng viên, không nằm vùng, không tham gia vào bất kỳ hoạt động nào của chồng, không có chính kiến chính trị). Võ Dũng con trai duy nhất còn lại cùa ông Kiệt và bà Anh, đi tập kết nghe tin mẹ và em chết, quyết về Nam để trả thù cho mẹ, chưa kịp trả thù, thì hy sinh khi đang bò qua hàng rào kẽm gai trinh sát. Cũng khoảng thời gian đó, Phan Thanh Nam, vượt Trường sơn vào Nam tìm người cha ruột. Gia đình ông Kiệt gần như xoá sổ. Bạn đọc nhận ra sự khốc liêt và tàn bạo của chiến tranh. Cái giá phải trả của mỗi gia đình Việt Nam nói chung, và gia đình ông Kiệt nói riêng là quá đắt. Chúng ta có quyền chất vấn ai đã đưa đẩy chúng ta đến cảnh nhồi da sáo thịt này. Có cần thiết một cuộc chiến huynh đệ tương tàn như vậy hay không. Có con đường nào để thống nhất Việt Nam mà không cần đến súng đạn hay không. Người đọc cũng bắt gặp cảnh các đồng chí đối xử với nhau rất nhẫn tâm qua hình ảnh bà Trần Thị Đức Thịnh, vợ ông Bách. Khi ông Bách thất sủng, bà Thịnh bị đẩy ra vỉa hè giữ xe gắn máy. Bà phải trùm khăn để không ai thấy mặt, đi rửa chén, áp tải xe chở sắt qua đêm để lấy tiền nuôi chồng con. Trung ương đã quỵt tiền lương của ông Bách. Cay đắng thay là ông Bách lại không biết, cứ tưởng vợ vẫn được Đảng trọng dụng, và Trung ương vẫn trả lương cho mình. Hy Vọng Quyền Bính giống nhữ một cỗ máy CT scan. Nó chỉ cung cấp những lát cắt hình ảnh của khối u trong cơ thể. Để nhận biết những hình ảnh này là tế bào dữ hay lành, tùy thuộc vào kiến thức và kinh nghiệm người đọc. Tác giả Huy Đức đã không làm thay cho chúng ta việc đó. Hình như đó là dụng ý. Anh không “định hướng” bạn đọc như báo chí của Đảng đang làm. Chữ “Hết” ở trang cuối của Quyền Bính đã hiện ra, nhưng tôi vẫn không tin vào mắt mình. Cảm ơn Huy Đức đã cho chúng ta một cơ hội ôn lại và suy ngẫm về những biến cố đã xảy ra trong đời mình. Cảm ơn anh về sự lao động nghiêm túc, kiên cường và công phu. Anh là người mở đường cho sự thực trở về, bất chấp sự che đậy, ngụy tạo của những người nắm quyền bính. Nhà báo lão thành Bùi Tín nói Bên Thắng Cuộc đã đưa ra 1/3 sự thực. Nếu vậy, Việt Nam cần thêm hai người như Huy Đức nữa, thì sự thực sẽ được trả về đúng vị trí của nó. Chúng ta có quyền hy vọng. 19 tháng Giêng 2013 Theo Đàn Chim Việt  
......

Từ "Diễn Biến Hòa Bình" đến "Tự Diễn Biến" -- Nỗi lo đau đáu của CSVN

Kể từ ngày cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam (30-4-1975) và áp đặt chế độ cai trị bạo tàn trên toàn thể đất nước (68 năm tại miền Bắc và 38 năm tại miền Nam), chế độ Cộng sản Việt Nam (CSVN) đã luôn lo lắng cảnh báo về Diễn Biến Hòa Bình (DBHB) – nguy cơ mà chế độ cho là do thế lực thù địch Hoa Kỳ xúi giục các thế lực “phản động” xóa bỏ Xã Hội Chủ Nghĩa tại Việt Nam. Nỗi lo sợ này đột nhiên tụt xuống hạng 2 so với một nguy cơ mới bùng phát trầm trọng hơn nhiều, có vẻ đang diễn tiến ở cấp số nhân trong những ngày tháng gần đây, đó là Tự Diễn Biến (TDB). TDB là gì mà ghê gớm tới độ khiến CSVN phải quên ăn mất ngủ? Đơn giản: TDB là cuộc cách mạng “thức tỉnh” của chính những người đang nằm trong guồng máy chế độ, chính xác hơn là những đảng viên đã từng hỗ trợ và giúp củng cố chế độ đương quyền. Họ không chỉ lặng lẽ rút đi những sự ủng hộ hay trả lại thẻ đảng. Họ can trường lên tiếng vạch ra những sai trái của chế độ, và kêu gọi người khác cùng lên tiếng, cùng hành động, cùng tranh đấu chống tiêu cực, cùng bỏ đảng. Và ... cùng tranh đấu cho nền Dân Chủ của đất nước. Chưa kể đến hiện tượng Quan Làm Báo và những sự lên tiếng mạnh mẽ của những đảng viên CS cao cấp đã về hưu như Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, ông Nguyễn Trung, giáo sư Tương Lai, ..., chỉ tính từ tháng cuối năm 2012 và tháng đầu năm 2013 đã liên tục có những hiện tượng chưa từng xảy ra trong nội bộ đảng CSVN như sau:  1. Nguyễn Chí Đức - Ý tưởng về CLB Huynh Đệ Lầm Đường Lạc Lối   Ngày 1-12-2012: Nhà yêu nước trẻ Nguyễn Chí Đức đã chia sẻ với đồng bào khắp nơi “Ý tưởng về CLB Huynh Đệ Lầm Đường Lạc Lối” (đoạn trích bên dưới). Anh là một cựu đảng viên ĐCSVN, một người đã nhận ra bản chất thật của lãnh đạo đảng và công an khi anh tham dự cuộc biểu tình phản đối xâm lược ngày 17-7-2011. Anh Nguyễn Chí Đức bị công an khênh và quẳng lên xe như thú vật để chở về đồn công an vì tội biểu tình yêu nước Anh Nguyễn Chí Đức bị công an đạp vào mặt khi biểu tình chống Trung Quốc xâm lược ngày 17-7-2011 tại Hà nội Nguyễn Chí Đức - “...Nếu ai có nhu cầu cần giúp đỡ, chia sẻ những kinh nghiệm làm sao ra khỏi ĐCSVN không bị hụt hẫng, bị gia đình - thân hữu ở cơ quan (ví dụ: quân đội, công an, tuyên giáo) xa lánh thì hãy nhanh chóng liên lạc với tôi. Nói một cách khác chúng ta “bắt sóng” để tìm đến nhau, cùng sinh hoạt trong một mái ấm CLB “Bạn giúp Bạn” nhằm vượt qua những trắc trở trong cuộc sống phải đối mặt sau khi ra khỏi ĐCSVN và sự dằn vặt về tư tưởng bấy lâu nay hay những biểu hiện khó khăn khác...” (Lưu ý: ở đây tôi không tính đến những thể loại đảng viên ra khỏi ĐCSVN vì tham nhũng, phản nước-hại dân, chạy quyền-chạy chức, tham ô-hủ hóa...) Các anh, các chị, các bạn của tôi ơi! Nếu mọi người không thực lòng tin tưởng vào chủ thuyết Cộng Sản mà vẫn phải nói/viết/giơ tay ủng hộ những chỉ thị, nghị quyết của ĐCSVN thì khổ tâm, đau đớn trong tâm can làm sao. Còn nếu như chúng ta không cảm thấy chán chường thì chúng ta hoặc là người bàng quan, vô cảm hoặc chúng ta quá giỏi nhẫn nhục chung qui cũng chỉ vì miếng ăn, vật chất tầm thường. Hoặc giả nếu bạn cảm thấy còn có những thần tượng, anh hùng khác mà bạn ngưỡng mộ hơn Hồ Chí Minh và muốn đi theo lý tưởng của thần tượng đó nhưng không dám phát biểu, bày tỏ thái độ công khai thì bạn cũng đang lừa dối chính mình. Không gì đau khổ hơn bằng việc cả cuộc đời phải sống trong sự dối trá với lương tâm của mình. Đối với cá nhân tôi điều đó là không thể và không bao giờ lặp lại sai lầm một lần nữa. Trong khuôn khổ bài viết này tôi không thể giải bày hết tâm tư cùng các bạn cũng như trình bày một kế hoạch dài hơi, có qui củ cho những người tạm gọi đã từng “lầm đường, lạc lối” như chúng ta. Vả lại khiến cho độc giả phải bận tâm vào chuyện mà họ đã rất rầu lòng trong cuộc sống vì họ tuy không phải là đảng viên của ĐCSVN nhưng đâu đó trong số họ lại phải chịu oan trái, tai bay-vạ gió do đảng này đã gây ra dù trực tiếp hay gián tiếp.   Xin chân thành cảm ơn mọi người đã quan tâm.Mọi chi tiết xin liên lạc: Họ tên: Nguyễn Chí Đức Địa chỉ: F503 nhà A1 ngõ 1 phố Khâm Thiên – Hà Nội Facebook: www.facebook.com/donghailongvuong Email: donghailongvuong@gmail.com Một số bài viết trên blog: donghailongvuong.wordpress.com Kính đề nghị mọi người là bạn bè, thân hữu hay có ai quí mến tôi xin không thêm nick này trên Facebook trong danh sách bạn bè và tôi sẽ không trả lời bất kì tin nhắn nào nếu như không phải là cựu/đương đảng viên của ĐCSVN. Chủ ý của tôi nhằm dành riêng cho những con người “lầm đường lạc lối” còn đang băn khoăn, lưỡng lự trở về với Chính Nghĩa Quốc Gia hay đơn giản hơn trở thành 1 người Tự Do Tư Tưởng. Xin mọi người tiếp tay nhằm chia sẻ thông tin cho tôi biết để tìm gặp những trường hợp dưới 60 tuổi ở ngoài đời đã từ bỏ ĐCSVN công khai hoặc âm thầm vì lý do nào đó không truy cập Internet hay ẩn danh. Một lần nữa xin chân thành cảm ơn mọi người đã bớt chút thời gian đọc bài này! ——————————————————————-Chú thích ngoài lề bài viết: Trong bài viết này và những bài viết cũ của tôi rất thường lặp cụm từ ĐCSVN vì tôi không muốn viết tắt như rất nhiều người cẩu thả hay có chủ ý để rồi mặc nhiên thành một danh từ “độc quyền” ưu ái như: Đảng, Đảng Ta. Điều này nhằm phân biệt và tạo sự công bình về mặt từ ngữ cho các đảng phái trong quá khứ và tương lai trong sinh hoạt chính trị tại Việt Nam.http://donghailongvuong.wordpress.com/2012/12/01/y-tuong-ve-clb-huynh-de-lam-duong-lac-loi/  2. Phát biểu của bà Dương Thu Hương về Việt Nam ngày nay Bà Dương Thu Hương (Đại biểu Quốc Hội CSVN) đã có một bài Góp ý Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 11 rất thẳng thắn và can đảm phê bình mạnh mẽ những khuyết điểm toàn diện của ĐCSVN (xem link đính kèm). Bài phát biểu trong một buổi hội thảo từ năm 2010 nhưng mãi đến ngày 3-12- 2012 mới được tung ra ngoài. Bà Dương Thu Hương – Nguyên Phó Thống Đốc Ngân hàng Nhà nước: Hội thảo Góp ý Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 11, Do Hội Khoa học Kinh tế và Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế – Xã hội Quốc gia thuộc Bộ Khoa học – Đầu tư tổ chức. Với sự tham dự của nhiều trí thức, đảng viên cao cấp, đại diện Văn phòng Trung ương Đảng, Hội đồng Lý luận Trung ương.   Bài phát biểu cùa bà Dương Thu Hương (không phải nữ văn sĩ Dương Thu Hương) vỏn vẹn chưa đến 30 phút nhưng đã tường trình rất đầy đủ về mọi khía cạnh tiêu cực, sai trái của các chính sách do ĐCSVN lãnh đạo.http://www.youtube.com/watch?v=ml9T5EhFqDghttp://www.youtube.com/watch?v=_6YHMQQHtB4 3. Đại tá CSVN Trần Đăng Thanh bị thu âm toàn bộ buổi nói chuyện “mật” và chuyển ra ngoài (đăng trên basamnews ngày 19/12/2012). Ai là kẻ làm chuyện này? rõ ràng là các vị "phản động" từ trong lòng đảng.  Trong những ngày cuối năm 2012 này, một nhân vật bình thường của Việt Nam bỗng trở nên nổi tiếng/tai tiếng. Bài phát giảng được thu âm của ông Trần Đăng Thanh về chính trị và quốc phòng cho lãnh đạo các trường đại học ở Hà Nội không những trở thành một chủ đề nóng được người Việt trong và ngoài nước đem ra bình luận khắp nơi, mà còn được Asia Times đưa tin với tựa đề giật gân “các bí mật quốc gia bị tiết lộ ở Việt Nam”. Theo giới thiệu trong băng ghi âm, người giảng/báo cáo là “Đại tá, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Nhà giáo Ưu tú” Trần Đăng Thanh thuộc Học viện Chính trị của Bộ Quốc phòng. Người nghe là các lãnh đạo đảng ủy khối, lãnh đạo đảng, tuyên giáo, công tác chính trị, quản lý sinh viên, đoàn, hội thanh niên các trường đại học - cao đẳng Hà Nội. Nội dung chính của bài giảng là về tình hình Biển Đông và chính sách của nhà nước CSVN về Biển Đông. Theo ông Thanh “mặc dù Trung Quốc “đã từng xâm lược chúng ta nhưng ta cũng không được quên họ đã từng nhường cơm xẻ áo cho chúng ta. Ta không thể là người vong ơn bội nghĩa.” Ngược lại, Phó Giáo sư Thanh, người không biết tiếng Anh, cho rằng nước “Mỹ chưa hề, chưa từng và không bao giờ tốt thật sự với chúng ta cả. Để thay đổi Việt Nam, Mỹ cần phải dựa vào kinh tế và chất xám của thế hệ trẻ Việt Nam được học tập và đào tạo tại Mỹ và phương Tây […] Cho nên một trong 9 mũi tiến công là người Mỹ đang thực hiện diễn biến hòa bình trên lĩnh vực giáo dục đào tạo của chúng ta.”  (VOA) 4. Báo Tuổi Trẻ phê bình "Tòa xử công khai nhưng… kín!"   Hôm 16/1/2013, báo Tuổi Trẻ của chế độ CSVN đã đưa ra bài viết có tựa như vậy, phê bình thẳng thắn những hiện tượng bất công, sai trái tại các phiên tòa như sau: “... hiện tượng một phụ nữ với gương mặt khắc khổ chen vào xin bảo vệ cho vào xem xét xử cháu ruột nhưng chỉ nhận được những cái lắc đầu. Bà bị đẩy ra ngoài mặc dù đã hết lời năn nỉ rằng bà đã đi mấy trăm cây số giữa trời lạnh buốt từ 3g sáng mới tới được đây." “Trong tòa án, trước cửa phòng xử 104B, một người đàn ông đứng xin hai công an cho vào trong xem xét xử nhưng cũng chỉ nhận được những cái lắc đầu. Năn nỉ mãi không được, người đàn ông văng tục, chửi bới ầm ĩ cả dãy hành lang. Khi đó lực lượng công an mới cho ông vào phòng." Hình ảnh thường thấy hằng ngày ở cổng TAND TP Hà Nội: người dân chờ đợi, năn nỉ bảo vệ cho vào tòa - Ảnh: Tâm Lụa báo Tuổi Trẻ trong nước “Vi phạm pháp luật ngay tòa án" “Qua được cổng bảo vệ chưa xong, trước cửa phòng xét xử luôn có nhiều công an đứng canh gác để kiểm tra giấy tờ của người đến xem xét xử... Việc không cho người dân vào tòa xem xét xử không những vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, mà còn làm nảy sinh tiêu cực. Theo phản ảnh của một số người dân, ai có tiền cho lực lượng bảo vệ ở cổng TAND TP Hà Nội sẽ được vào tòa...” 5. Nữ nghệ sĩ Kim Chi từ chối lời khen của Ba Dũng (ngày 9-1-2013) “Tôi không muốn trong nhà tôi có chữ ký của một kẻ đang làm nghèo đất nước, làm khổ nhân dân. Với tôi, đó là một điều rất tổn thương vì cảm giác của mình bị xúc phạm."“...Được các đồng nghiệp có tâm, có tài khen ngợi mới thật là điều vinh dự,” bà viết trong lá thư gửi Hội Điện ảnh.  ‘Làm khổ dân là có tội’ Bà Kim Chi cho rằng một số việc thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng điều hành đang bị 'thế giới phản đối' Khi được hỏi liệu bà có sợ bị ảnh hưởng tới bản thân khi đưa ra lá thư này, bà Kim Chi nói, thậm chí cả khi người ta tạo ra những tai nạn để bà "chết" đi nữa, thì điều đó cũng không đáng sợ vì “tôi sống ngay thẳng, sống cho tử tế”. "Là người có chức, có quyền thì lại càng phải sống ngay thẳng, mẫu mực, chứ làm khổ dân là người có tội." (Kim Chi)  6. Hai nhà văn từ chối bằng khen của Hội Nhà văn VN Việc nhà văn Y Ban và mới đây là nhà văn Phạm Ngọc Cảnh Nam, gửi thư ngỏ đến Ban Chấp hành (BCH) Hội Nhà văn Việt Nam (18-1-2013), từ chối nhận bằng khen của hội  đã gây chấn động dư luận.   Kết quả giải thưởng công bố trên trang web chính thức của hội cho thấy, trong lĩnh vực văn xuôi có một tác phẩm đoạt giải thưởng; tác phẩm của Y Ban và Phạm Ngọc Cảnh Nam được nhận Bằng khen. Nhà văn Y Ban nói rằng bà từ chối nhận bằng khen, cũng như tuyên bố từ bỏ vị trí Ủy viên Hội đồng văn xuôi, vì "Ban giám khảo không đủ tâm, đủ tầm bỏ phiếu cho tác phẩm", và "việc tôi ngồi ở ghế Ủy viên Hội đồng văn xuôi không thể mang lại lợi ích nào cho các nhà văn". Theo bà Y Ban, cách thức bỏ phiếu cho tác phẩm vào chung khảo của hội đồng văn xuôi thiếu chuyên nghiệp, không có trách nhiệm với lá phiếu: Có người bỏ phiếu… qua điện thoại, nhờ nói lại; có người bỏ phiếu dù chưa kịp đọc tác phẩm; có người thì xin bỏ phiếu sau… Có hai phiếu trắng, tức là giám khảo không tỏ rõ quan điểm, nhận định về tác phẩm. THƯ NGỎ GỬI HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM   Tôi Phạm Ngọc Cảnh Nam, người vừa được HNV VN công bố  tặng bằng khen năm 2012 cho cuốn tiểu thuyết “Thế Kỷ Bị Mất” của tôi. Tôi xin giành quyền được từ chối bằng khen nầy của HNV . Lý do đơn giản, mà ai cũng thấy là giải thưởng đã không được xét đúng theo tiêu chí văn chương. Và, cũng là để cho sự trung thực còn có chỗ trú ngụ trong ngôi đền thiêng liêng của nó là Văn Học.   Phạm Ngọc Cảnh Nam  7. "Bên Thắng Cuộc" của Huy Đức “Cuốn sách của tôi bắt đầu từ ngày 30-4-1975, ngày nhiều người tin là miền Bắc đã giải phóng miền Nam. Nhiều người thận trọng nhìn lại suốt hơn ba mươi năm, giật mình với cảm giác bên được giải phóng hóa ra lại là miền Bắc" – Huy Đức   “Bên thắng cuộc” là cuốn sách đang gây sôi nổi cho cư dân mạng cả trong và ngoài nuớc. Quyển sách được viết bởi nhà báo Huy Đức, người nổi tiếng với trang blog Osin với những bài chính luận độc đáo có số người đọc rất cao. Sau ba năm mài miệt, “Bên thắng cuộc” chính thức ra đời vào ngày 12 tháng 12 -2012 với hai cách: sách in do chính tác giả xuất bản và sách điện tử do Amazon phát hành. Có lẽ đây là lần đầu tiên một nhà văn Việt Nam có lượng sách bán trên hệ thống Amazon qua hình thức sách điện tử. Sự đột phá này có ý nghĩa quan trọng cho những ngòi viết đang bị cho là có vấn đề tại Việt Nam, từ nay họ có thể lập ra kế hoạch cho cuốn sách sắp tới phát hành một cách rộng khắp nhưng lại không hề bị lưỡi kéo kiểm duyệt gây rắc rối. Huy Đức là nguời đầu tiên và chắc chắn không phải là cuối cùng tận dụng lợi thế khoa học kỹ thuật này.   8. Báo Thanh Niên vinh danh người lính Cộng Hòa bảo vệ Hoàng Sa Nhiều thanh niên Hà Nội tổ chức thắp nến tri ân những người lính đã ngã xuống bảo vệ Hoàng Sa trước quân Trung Quốc ngày 19/1/1974. RFI 20-1-2013   Tinh thần dũng cảm của hải quân Việt Nam Cộng Hòa chống Trung Quốc xâm lược được nhật báo Thanh Niên vinh danh nhân ngày 19/01 kỷ niệm 39 năm trận hải chiến bảo vệ lãnh thổ.Các trang « dân báo » và « blog » tường thuật các sinh hoạt ghi dấu sự kiện được xem là « mối hận dân tộc », thả nến tưởng niệm cố trung tá Ngụy Văn Thà và 74 tử sĩ.Phải chăng đảng Cộng sản Việt Nam bắt đầu chấp nhận sự thật lịch sử ?   Nhân dịp 40 năm trận hải chiến Hoàng Sa 17/19 tháng 01 năm 1974 nhật báo Thanh Niên đã dành một bài báo dài với nhiều chi tiết để nhắc lại trận chiến lịch sử chống Trung Quốc xâm lăng. Thật ra, cách nay 4 năm, nhân dịp 35 năm trận hải chiến, báo Tuổi Trẻ cũng đã kể lại trận đánh bi hùng bất cân xứng này qua hồi ức của Thượng sĩ Lữ Công Bảy, một hạ sĩ quan trên tuần dương hạm H-4 Trần Khánh Dư do Trung tá Vũ Hữu San chỉ huy.   Vào thời điểm 2009, trong bối cảnh ngư dân Việt Nam liên tục bị Trung Quốc trấn áp, các bài báo nhắc đến chủ quyền lãnh hải vẫn gọi người lính miền nam là “quân đội Sài Gòn”. Cho đến hôm nay, những công dân Việt Nam có hành động chống Trung Quốc xâm lược lần lược theo nhau vào tù với những tội danh ngụy tạo như trốn thuế hay âm mưu lật đổ chính quyền. Những hành động xâm lấn của Trung Quốc được gọi là của “nước lạ”.   Tuy nhiên, trong bài “Quyết liệt vì Hoàng Sa” trên báo Thanh Niên 19/01/2013, thì từ cách trình bày sự kiện đến từ ngữ đã khác hẳn. Thanh Niên khẳng định Trung Quốc có hành động “phi nghĩa phi pháp” tại Hoàng Sa và đã gặp sự  “kháng cự mãnh liệt của người Việt Nam”, các “chiến hạm và quân nhân VNCH chiến đấu quyết liệt” và trong cuộc hải chiến ấy “74 chiến sĩ quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã tử trận”. Tên tuổi các cấp chỉ huy được nhắc nhở một cách trân trọng.   Báo Thanh Niên còn nhấn mạnh đến động thái ngoại giao của chính quyền Việt Nam Cộng hòa khi nhắc lại việc: “Tổng trưởng Ngoại giao Vương Văn Bắc bác bỏ luận điệu ngang ngược của Trung Quốc… xâm phạm lãnh thổ VNCH”. Tác giả bài viết công nhận các quân nhân hải quân miền Nam đã “kiên cường nổ súng vào kẻ xâm lược trước một kẻ thù mạnh hơn và tính hình chính trị chung có nhiều diễn biến bất lợi”. Theo hồi ký của Tư lệnh Vùng Một Duyên hải của VNCH, Phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, quân lực miền Nam lúc đó phải căng lực lượng ra đối phó với bộ binh miền Bắc.   Trong ngày 19/01/2013, trên các blog “lề trái” tràn ngập những bài văn, bài thơ về trận chiến Hoàng Sa. Các tác giả chia sẻ “niềm đau dân tộc” và “lòng ngưỡng mộ các anh hùng VNCH”. Một nhóm Tuổi trẻ yêu nước, tự giới thiệu sinh sau trận Hoàng Sa, tổ chức lễ “thả nến” tưởng niệm “74 chiến sĩ Vị Quốc Vong Thân" và cố Trung tá Ngụy Văn Thà. Nhiều bài thơ tỏ lòng quý mến với bà quả phụ Huỳnh Thị Sinh được phổ biến. Liệu động thái của cơ quan Đoàn Thanh niên cộng sản Việt Nam là tín hiệu chính quyền hiện nay bắt đầu thấy cần phải đoàn kết “nội lực” để chống Trung Quốc xâm lăng hay đây chỉ là hành động “phá rào” của một nhóm nhà báo dũng cảm có cùng ưu tư với đại đa số đồng bào?   Blogger Nguyễn Tường Thụy nhận định: “39 năm qua, người ta đi tìm nguyên nhân của việc mất Hoàng Sa… mà điều thuyết phục nhất có lẽ là bởi công hàm của ông Phạm Văn Đồng năm 1956 và… chính sách ngoai giao của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (CSVN)”. Nhà báo độc lập kết luận : "Nỗi hận này không bao giờ quên và các nhà lãnh đạo hôm nay cũng nên học người xưa…” Trần Diệu Chân DienDanCTM  
......

MÓN QUÀ XUÂN

Không phải tình cờ mà nhân dịp Cộng đồng Người Việt tại Toronto và vùng phụ cận đang nô nức đón mừng Xuân Quý Tỵ 2013, thì bà Judy A. Sgro, dân biểu liên bang Canada, đơn vị York West thuộc Toronto, cựu bộ trưởng Bộ di trú (Minister of Citizenship and Immigration) thời thủ tướng Paul Martin, gởi cho Thủ tướng Stephen Harper một lá thư, được Văn phòng bà Dân biểu dịch qua Việt ngữ và chuyển bản sao cho các cử tri gốc Việt tại đơn vị York West, nguyên văn như sau: Thưa Thủ tướng,   Năm nào tôi cũng dự một buổi lễ đặc biệt ở Nathan Phillips Square tại Toronto do Cộng đồng người Việt tại Toronto tổ chức.  Buổi lễ rất đặc biệt nầy là để tưởng niệm và tri ân những người đã tận tụy phục vụ quốc gia.  Buổi lễ làm nổi bật những nét đa dạng điển hình cho xã hội độc đáo của chúng ta.  Nhưng điều quan trọng hơn là nó giúp chúng ta biểu dương những đặc tính ưu tú và mục tiêu cao cả đã giúp chúng ta đoàn kết để cùng nhau xây dựng một cuộc sống tốt đẹp cho mai sau.   Tuy buổi lễ nầy có những ý nghĩa cao đẹp như vậy, nhưng năm nào cái biểu tượng cho các ý tưởng đó, đáng lẽ phải được trân trọng dùng trong buổi lễ, vẫn chưa được công nhận.  Biểu tượng đó chính là hiệu kỳ trước đây của vua Thành Thái và cũng đã được làm quốc kỳ của Nam Việt Nam.   Như Thủ tướng biết, khi chuẩn bị các tài liệu và vật trưng bầy chính thức, đại diện chính phủ Ca-na-đa chỉ được phép dùng các lá cờ và biểu tượng đã được công nhận.  Điều mà nhiều người cảm thấy không ổn là trong số các tài liệu và vật trưng bầy đó có cả cờ và biểu tượng của các quốc gia có guồng máy cai trị không tôn trọng các giá trị của chế độ dân chủ.  Tuần trước, một nhóm cử tri trong khu bầu cử của tôi bày tỏ sự quan tâm là Ca-na-đa chưa chính thức công nhận biểu tượng quan trọng là lá cờ Việt Nam tự do.  Vì không được công nhận nên những người muốn trương lá cờ Việt Nam tự do không được làm như vậy và các thành phố như Toronto cũng không được trương lá cờ nầy tại Nathan Phillips Square.  Vấn đề nầy có tầm quan trọng cao hơn cả việc chính trị, vì vậy tôi mong rằng chính phủ do Thủ tướng lãnh đạo sẽ thực hiện một công việc chính đáng là công nhận lá cờ Việt Nam Tự do là một biểu tượng xứng đáng với tầm quan trọng của lá cờ.   Nhân danh là đại biểu cho vùng York West, tôi mong rằng Thủ tướng sẽ chỉ thị cho các viên chức chính quyền giải quyết thích đáng vấn đề nầy.  Chúng ta hãy cùng Cộng đồng người Việt chính thức công nhận cuộc tranh đấu cho tự do dân chủ tại quê hương họ.   Kính thư, Ký tên Judy A. Sgro.   Trước hết, xin cảm ơn Dân biểu Judy A. Sgro về những hoạt động của Bà cho nhân quyền Việt Nam.  Bà Judy A. Sgro là một trong hai dân biểu Liên bang Canada đã viết thư cho thủ tướng CS Việt Nam, lên tiếng về tình hình dân quyền tại Việt Nam.  (Người thứ hai là Dân biểu Wayne Marston, đơn vị Hamilton East, Ontario).  Trong thư  đề ngày 20-12-2012, can thiệp cho bà Trần Thị Thúy bị nhà cẩm quyền CS Việt Nam bắt giam trái phép từ tháng 5-2011, bà Judy A. Sgro lên án những vi phạm trầm trọng của nhà cầm quyền Việt Nam về nhân quyền căn bản của công dân và nói rằng bà Trần Thị Thúy, nhà hoạt động đấu tranh cho quyền lợi người dân, bị giam cầm trái phép, bị đưa ra xét xử trong một phiên tòa không minh bạch và bất công tại Bến Tre và bị ngược đãi trong tù. (Trà Mi, VOA ng ày 19-12-2012.)   Nay nhân dịp đầu năm, lá thư của bà Judy A. Sgro gởi cho Thủ tướng Stepen Harper đề nghị Canada công nhận lá Cờ vàng ba sọc đỏ là một món MÓN QUÀ XUÂN thật nhiều ý nghĩa, đúng lúc và nhất là đúng nguyện vọng mà bà Dân biểu Judy A. Sgro đã tặng cho Cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản tại Toronto nói riêng và Canada nói chung.   Quang cảnh Hội Tết Quý Tỵ của CĐNV tại Toronto - Canada có sự hiện diện của Thủ tướng Canada Stephen Harper. Đúng lúc vì theo phong tục cổ truyền Việt Nam, vào dịp Tết nguyên đán âm lịch, người Việt thường tặng quà mừng tuổi lẫn nhau, kèm theo lời chúc mừng năm mới thật ấm áp tốt đẹp.  Lá thư bà dân biểu Judy A. Sgro gởi cho Thủ tướng Harper đúng vào dịp năm mới Quý tỵ 2013 sắp đến, là MÓN QUÀ XUÂN quý giá, mừng tuổi Cộng đồng Người Việt Hải ngoại, sưởi ấm lòng người tha hương trong thời tiết giá lạnh của mùa đông Canada năm nay.   Đúng nguyện vọng vì khi ra đi tỵ nạn, người Việt mất tất cả, chỉ giữ trong tim hình ảnh gia đình, bà con, quê hương yêu dấu và nhất là biểu tượng thiêng liêng của tổ quốc là lá cờ vàng ba sọc đỏ.  Chẳng những bà Dân biểu Judy A. Sgro nhận ra điều nầy như bà đã viết, mà có thể nói tất cả người Canada, kể cả các chính khách hay thủ tướng Canada cũng đều nhận biết điều nầy.  Ngày 19-01-2013 vừa qua, Thủ tướng Stephen Harper đến tham dự Hội chợ Tết của Cộng đồng người Việt Toronto thấy rõ điều nầy.  Ông đã được những người cầm cờ Cờ vàng đón mừng, đã cùng toàn thể hội trường chào lá Cờ vàng và một bộ trưởng của ông, ông Jason Kenny, bộ trưởng Bộ di trú, đi bên cạnh Thủ tướng mang trên cổ chiếc khăn quàng là lá Cờ vàng.    Điều quý giá đáng nhấn mạnh ở đây là bà Dân biểu Judy A. Sgro, với tinh thần trách nhiệm của một dân cử, đã tinh tế nhận ra nhu cầu truyền thống thiêng liêng của ngưòi Canada gốc Việt chẳng những trong đơn vị của bà mà cả toàn thể Cộng đồng Người Việt trên đất nước Canada, là đã đến lúc Canada nên thừa nhận lá Cờ vàng, biểu tượng của Cộng đồng người Việt ở Canada, vì thực tế cho thấy Cộng đồng người Việt ở Canada hiện nay rất lớn mạnh tuy chỉ hình thành từ sau năm 1975.   Vì chưa có số liệu thống kê mới, xin tạm dùng thống kê năm 2006 do Statistique Canada cung cấp. (Vào Google.com.vn, chữ  khóa “Người Canada gốc Việt”, hoặc Lâm Văn Bé, “Những biến động dân số Việt Nam”, Tạp chí Truyền Thông, số 37-38, Mùa hè-thu, Montréal, 2010, tr. 156.)  Theo thống kê nầy, năm 2006 (nghĩa là cách đây 7 năm), Canada có 180,130 người gốc Việt, trong đó 96% tập trung ở 4 tỉnh bang: Ontario (83,330), Québec (33,815) British Columbia (30835), Alberta (25,170).   Người Việt tại Canada cần cù, chăm chỉ làm ăn, cố gắng giáo dục con cái, làm nhiệm vụ đóng thuế đầy đủ, tôn trọng pháp luật nhà nước và ít vi phạm pháp luật.  Lợi tức trung bình hàng năm của người Canada gốc Việt sau khi trừ thuế khoảng 26,650$, tỷ lệ sống dưới mức độ nghèo (tiêu chuẩn của Canada) là 18%, tỷ lệ thất nghiệp 8,3%.  Tỷ lệ người Canada gốc Việt tốt nghiệp đại học khá cao so với cả toàn dân Canada nói chung.  Riêng năm 2005, đã có 2135 ngưòi Việt tốt nghiệp các ngành y học và có bằng tiến sĩ các ngành khác. (Lâm Văn Bé, bđd.)   Khi di tản ra nước ngoài lánh nạn cộng sản, người Việt dù định cư bất cứ ở đâu đều mang trong tim mình hình ảnh lá Cờ vàng ba sọc đỏ và đều chọn Cờ vàng ba sọc đỏ làm biểu tượng (emblem) cho truyền thống của cộng đồng mình.  Trong tất cả các buổi lễ, dù lớn hay nhỏ, từ Lễ Kỷ niệm Ngày Quốc hận đến một buổi picnic trong các công viên, người Việt đều có chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa, nay là biểu tượng của Cộng đồng Việt Nam tại Hải ngoại.  (Một điều thật dễ thương là để hưóng dẫn đồng hương Việt đến các địa điểm hành lễ, hội họp, mít-tinh hay cắm trại, lá Cờ vàng được treo dọc đường để chỉ hướng đi cho đồng hương.)   Dù Việt Nam Cộng Hòa đã sụp đổ năm 1975, không còn nữa, nhưng lá cờ nầy đã có từ trước khi thành lập chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và trở thành biểu tượng của người Việt qua bao thời đại. Theo truyền truyết, cờ vàng đã được mô tả trong cuộc chiến đấu chống quân xâm lược Trung Hoa của nữ anh hùng Triệu Thị Trinh tức Triệu Ẩu vào thế kỷ thứ 3.  “Đầu voi phất ngọn cơ vàng, / Sơn thôn mấy cõi, chiến trường xông pha.” (Đại Nam quốc sử diễn ca, câu 399-400.)  Đến thời cận đại, lá cờ Long tinh thời vua Khải Định cũng dựa trên nền tảng màu vàng.  Năm 1945, Pháp bị Nhật đảo chánh, vua Bảo Đại tuyên bố độc lập, mời học giả Trần Trọng Kim làm thủ tướng. Thủ tướng Trần Trọng Kim chọn quốc kỳ nền vàng, trên có ba sọc đỏ theo hình quẻ ly, trong kinh Dịch, gồm ba hào (vạch ngang): hào dương dưới cùng (một vạch ngang), hào âm ở giữa (một vạch đứt ở giữa), và hào dương trên cùng (một vạch ngang).  Nếu lá cờ năm 1945 của ông Trần Trọng Kim thừa tiếp lá cờ long tinh của hoàng gia, thì lá cờ hình thành năm 1948 thời chính phủ Nguyễn Văn Xuân, nền vàng giống như cờ của Trần Trọng Kim, nhưng thay vì quẻ ly, nay đổi lại ba sọc đỏ bằng nhau chạy dài theo chiều ngang của lá cờ, lại thừa tiếp truyền thống lá cờ của Trần Trọng Kim, chẳng những về hình thức, màu sắc, mà cả về lý tưởng chính trị.  Quốc hội Việt Nam Cộng Hòa thời tổng thống Ngô Đình Diệm đã mở cuộc thi vẽ quốc kỳ mới, có tất cả 350 mẫu cờ được đề nghị, nhưng cuối cùng,  ngày 17-10-1956, Quốc hội tuyên bố không chọn được mẫu quốc kỳ nào đẹp và ý nghĩa hơn, nên quyết định giữ nguyên Cờ vàng ba sọc đỏ làm biểu tượng quốc gia.       Như thế, rõ ràng lá Cờ vàng ba sọc đỏ là lá cờ của toàn dân Việt Nam từ Bắc xuống Nam, đã có trước khi đất nước Việt Nam bị chia hai và có trước khi chính thể Việt Nam Cộng Hòa ra đời, xứng đáng là biểu tượng thiêng liêng của Cộng đồng người Việt trên thế giới và tại Canada.   Tháng 11-2006, nhân đến Hà Nội tham dự Hội nghị Thượng đỉnh APEC, thủ tướng Stephen Harper tuyên bố với báo chí như sau: “Canada muốn phát triển giao thương với thế giới.  Nhưng tôi không tin rằng người Canada chúng tôi muốn bán khoán các giá trị Dân chủ, Tự do và Nhân quyền để lấy đồng đô la.” (Đàn ChimViệt Online.net 19-11-2006.)   Chẳng những người Canada gốc Việt mà hầu hết người Canada nói chung, đều rất trân trọng lới phát biểu của thủ tướng Harper vì truyền thống văn hóa và chính trị Canada là tôn trọng nhân quyền, tôn trọng tự do dân chủ và không bao giờ bán khoán các giá trị tinh thần và nhân bản nầy để lấy dollar   Việc chính phủ Canada bang giao, trao đổi buôn bán với các nước ngoài là việc của chính phủ Canada.  Người Canada gốc Việt cũng như toàn thể công dân Canada chỉ quan tâm rằng việc buôn bán đó đừng gây thiệt hại đến quyền lợi vật chất và tinh thần của người Canada và không đi ngược lại truyền thống văn hóa và chính trị Canada.   Nguời Canada gốc Việt lo toan theo đời sống hàng ngày của mình tại Canada, tuân thủ những luật lệ Canada, không chú ý đến việc ngoại thương của chính phủ Canada với chế độ cộng sản Việt Nam nếu việc nầy không thiệt hại đến quyền lợi của người dân Canada nói chung.    Trên pháp lý, trong quá khứ chúng tôi là công dân Việt Nam Cộng Hòa chứ không phải là công dân của cộng sản Việt Nam; trong hiện tại chúng tôi là công dân Canada gốc Việt.  Chúng tôi tự ý ra đi khỏi Việt Nam vì chúng tôi không chấp nhận chế độ cộng sản.  Chúng tôi không phải là người của chế độ cộng sản ra đi.  Chúng tôi không dính líu gì đến chế độ Hà Nội ở Việt Nam, chúng tôi không chấp nhận bất cứ biểu tượng nào của cộng sản Việt Nam.  Biểu tượng tinh thần của cộng đồng chúng tôi không liên quan gì đến chế độ cộng sản Việt Nam hiện nay trong nước.    Xin đừng viện cớ rằng chúng tôi là người Canada gốc Việt để buộc chúng tôi phải nhận biểu tượng của chế độ cộng sản Việt Nam làm biểu tượng của chúng tôi và từ chối biểu tượng riêng của chúng tôi.  Xin hãy chú ý rằng chúng tôi là công dân Canada, chúng tôi chu toàn nhiệm vụ công dân Canada, chúng tôi đóng thuế theo đúng quy định của chính phủ Canada như tất cả các công dân khác, chúng tôi có quyền được hưởng tất cả những quyền tự do như các công dân khác, chúng tôi được tự do tôn giáo, tự do văn hóa, tự do chính trị, vậy chúng tôi cũng có quyền tự do chọn lựa biểu tượng của cộng đồng chúng tôi.   Bà Dân biểu Judy A. Sgro nói đúng.  Xin cảm ơn bà Dân biểu.  Đã đến lúc chính phủ Canada nên thừa nhận biểu tượng của Cộng đồng người Canada gốc Việt, Cờ vàng ba sọc đỏ.  Bà dân biểu Judy A. Sgro đã thân tặng người Canada gốc Việt một MÓN QUÀ XUÂN thật ý nghĩa, đúng thời, đúng nguyện vọng của Cộng đồng người Canada gốc Việt.    Cộng đồng người Việt ở Toronto nói riêng và trên toàn Canada nói chung, quý vị dân cử gốc Việt cấp tỉnh bang hay toàn liên bang, hãy cùng nhau lên tiếng bày tỏ nguyện vọng tha thiết của Cộng đồng chúng ta là chúng ta mong muốn Thủ tướng Stephen Harper và chính phủ Canada hãy thừa nhận biểu tượng cao cả và thiêng liêng của Cộng đồng người Việt chúng ta, như lời đề nghị của bà Dân biểu Judy A. Sgro gởi Thủ tướng Harper.  Cuối cùng đến lượt chính phủ Canada.  Trong bài diễn văn ứng khẩu tại Hội chợ Tết Toronto chiều 19-01-2013 vừa qua, Thủ tướng Stephen Harper cũng như vị bộ trưởng Bộ di trú Jason Kenny đều nhắc đến vấn đề nhân quyền ở Việt Nam và ca tụng sự lớn mạnh của Cộng đồng người Việt trong xã hội Canada.  Các ngài chần chờ gì nữa về đề nghị của Dân biểu Judy A. Sgro?   TRẦN GIA PHỤNG (Toronto, 20-01-2013)
......

Công An Tuyên Truyền của Đảng CSVN Đánh Lộn Trực Tuyến Với Bloggers

Sau khi sách nhiễu và ngục tù đã không làm những người sử dụng mạng cá nhân (blogger) bất đồng chính kiến yên lặng, chính quyền CSVN đã bắt đầu đào tạo những công an tuyên truyền để xâm nhập vào những diễn đàn trực tuyến và ca ngợi chế độ. Một người sử dụng mạng cá nhân tranh đấu cho dân chủ tại Hà Nội nói rằng: “những lý lẽ ưa chuộng của họ là: ‘câm miệng lại và tin tưởng chính quyền’. Họ không tham dự vào cuộc tranh luận căn cứ vào lý trí mà chỉ chú trọng vào việc đánh phá cá nhân và loan truyền những ngụy biện độc hại.” Bà này nói tiếp với điều kiện được dấu tên: “Nếu tôi viết bất cứ điều gì gây chú ý, họ lập tức nhẩy vào để ‘hướng dẫn công chúng’.” Ông Hồ Quang Lợi, người cầm đầu cơ quan tuyên truyền tuần vừa rồi nói rằng thành phố Hà Nội có một đội ngũ gồm 900 cán bộ “tranh luận trên mạng” hay “uốn nắn công luận” [ở Việt Nam dân chúng gọi họ là công an mạng – viết tắt là CAM]. Những người này được giao phó trách nhiệm tuyên truyền cho đảng. Những lời bình luận này của Ông Lợi là sự thừa nhận đầu tiên rằng chế độ cộng sản Việt Nam đã sử dụng những cán bộ điều khiển trên mạng theo kiểu Trung Quốc. Ông Lợi nói rằng những toán chuyên viên đã thiết lập 18 trang mạng và 400 khoản trực tuyến để theo dõi và điều khiển những cuộc thảo luận trực tuyến về mọi vấn đề từ chánh sách ngoại giao đến quyền lợi đất đai. Một câu bình luận tiêu biểu bênh vực chính phủ trên một diễn đàn trực tuyến viết như sau: “Không nghe những lời chống phá nhà nước của những bọn phản động ở nước ngoài. Bọn chúng được chế độ cũ thuê mướn để tuyên truyền và xúi dục bất ổn xã hội.” Một lời bình luận khác, than phiền về một thế hệ trẻ “vô ơn”, nói rằng: “Nếu những thế hệ trước đã mất niềm tin vào nhà nước như các anh bây giờ, liệu các anh có nghĩ rằng các anh có thể ngồi đây dùng Facebook được không?” Những người sử dụng mạng cá nhân tiếp súc với AFP nói rằng họ không có thể ước đoán quy mô của chương trình bình luận trực tuyến của nhà nước hoặc chương trình này mở rộng khắp toàn quốc hay không. Biếm họa (QuanLamBao): Công an mạng Ông Lợi chỉ nói về chính quyền Hà Nội dùng công an mạng và không cho biết rõ 900 cán bộ này có phải là những nhân viên được trả lương hay không. Nhưng một mẩu tin phổ biến vào ngày 26-12-2012 trên trang mạng chính thức của chánh quyền của thành phố HCM ở miền Nam đề cập đến vấn đề trả trợ cấp cho “nhà báo chuyên về quan điểm xã hội” – một mỹ từ khác để gọi những người bình luận trực tuyến của nhà nước. Ông Phil Robertson thuộc Human Rights Watch nói với AFP vào hôm thứ Ba rằng: “Thực là vô cùng mỉa mai rằng những chính quyền độc tài như Việt Nam lại rèn luyện những đội quân vi tính để phổ biến những thông điệp thiên vị nhà nước.” Ông Robertson nói thêm: “Chính quyền Việt Nam không thấy mâu thuẫn trong việc dùng sách nhiễu, kiểm duyệt, và bức tường lửa để thử và đàn áp những dư luận chống đối.” Tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới gán cho Việt Nam nhãn hiệu “kẻ thù của Internet.” Quốc gia này đã bắt giam hàng chục người dùng mạng cá nhân, bao gồm 15 nhà hoạt động riêng từ đầu năm 2013. Việc chống án bởi ba người dùng mạng cá nhân nổi tiếng, gồm cả một trường hợp được Tổng Thống Barack Obama nêu tên, đã bị bác bỏ vào tháng 12. Facebook thỉnh thoảng bị chặn lại và những lãnh tụ tối cao của chế độ cộng sản đả kích thường xuyên sự bất đồng chinh kiến trực tuyến. Ông Carl Thayer, một chuyên viên về Việt Nam nói: “Chính quyền Việt Nam đã lỡ để ông thần lọt ra ngoài chai rồi. Họ khuyến khích sự nối kết truyền thông (và bây giờ) họ lại muốn đàn áp những cái mà không thể bị đàn áp được.” Những người dùng mạng cá nhân đồng ý rằng những cố gắng của nhà nước, kể cả đội ngũ công an mạng, không có hiệu quả. Một người dùng mạng cá nhân thứ hai ở Hà Nội nói với AFP với điều kiện dấu tên rằng: “Họ có thể nghĩ rằng họ thành công trong việc hướng dẫn dư luận, nhưng tôi nghĩ họ hoàn toàn sai. Dân không ngu xuẩn.” Bà này nói tiếp: “Sự bất mãn với nhà nước lan tràn khắp nơi, nhưng chiến tranh trong nhiều thập niên vừa qua làm dân chúng mất mong muốn đối đầu với chính quyền. Họ không muốn bị lôi thôi vì bầy tỏ quan điểm của mình một cách công khai. Nhưng trong thâm tâm, không ai vui vẻ cả.” AFP – Vietnam’s propaganda agents battle bloggers online HANOI (AFP) – After harassment and prison failed to silence Vietnam’s dissident bloggers, the communist government started building an army of propaganda agents to infiltrate chatrooms and sing the regime’s praises. “Their favourite arguments are: ‘shut up and trust the government’. They don’t engage in rational debate. They go in for personal attacks and spreading poisonous fallacies,” said one Hanoi-based pro-democracy blogger. “If I write anything that attracts attention, they will jump in to ‘guide the public’,” she told AFP on condition of anonymity. Hanoi’s head of propaganda Ho Quang Loi said last week that the city has a 900-strong team of “internet polemicists” or “public opinion shapers” who are tasked with spreading the party line. His comments were the first official admission that the communist regime employs a Chinese-style system of Internet moderators to control news and manipulate opinion. The “teams of experts” have set up some 18 websites and 400 online accounts to monitor and direct online discussions on everything from foreign policy to land rights, Loi said. A typical pro-government comment on one online forum read: “Don’t listen to the anti-nation words of overseas reactionaries. They were hired by the former regime to spread propaganda and instigate social disorder.” If “previous generations had lost trust in the government as you have now, do you think you would sit here Facebooking?” another comment said, bemoaning the “ungrateful” younger generation. Bloggers contacted by AFP said they could not estimate the scale of the government Internet commentator program or whether it was nationwide, but said it certainly appeared to have expanded over the last couple of years. Loi was talking only about the Hanoi city authorities’ use of Internet agents and did not make clear whether the 900 people were paid employees. But a 26 December post on the official website of southern Ho Chi Minh City authorities mentions paying subsidies to “stringers for social opinion” — another euphemism for pro-government Internet commentators. “It’s incredibly ironic that rights-repressing governments such as Vietnam forge groups of cyber troopers to get their pro-government message out,” Human Rights Watch’s Phil Robertson told AFP on Tuesday. Yet they “see no contradiction in using harassment, censorship and firewalls to try and keep opposing opinions repressed,” he added. Vietnam, branded an “enemy of the Internet” by Reporters Without Borders, has jailed dozens of bloggers, including 15 activists since the start of 2013 alone. Appeals by three high-profile bloggers, including one whose case has been raised by US President Barack Obama, were rejected in December. Facebook is sporadically blocked and the communist regime’s top leaders have repeatedly lashed out over online dissent. “They let the genie out of the bottle. They promoted interconnectivity (and now) they’re trying to suppress what can’t be suppressed,” said Vietnam expert Carl Thayer. The bloggers agree the government’s efforts, including their cyber troopers, are futile. “They may think that they have been successful in orienting public opinions, but I think they are completely wrong. People are not stupid,” a second Hanoi-based blogger told AFP on condition of anonymity. Dissatisfaction with the government is widespread but decades of war and fighting have sapped people’s desire for confrontation, she added. “They don’t want to get into trouble by expressing their opinions publicly now. But in their hearts, no one is happy.” Source: Vietnam’s Propaganda Agents Battle Bloggers OnlineAssociated Press, Hà Nội, 19-1-2013
......

Chủ tịch Châu Âu nhắc Tổng bí thư Việt Nam về vụ xử blogger

Chủ tịch Hội đồng châu Âu và Ủy ban châu Âu mới lên tiếng về tình trạng nhân quyền ở Việt Nam trong các buổi tiếp xúc với Tổng bí thư Việt Nam Nguyễn Phú Trọng ở Brussels, Bỉ. Bà Maja Kocijancic, nữ phát ngôn viên của người phụ trách chính sách đối ngoại của Liên hiệp châu Âu Catherine Ashton, đã cho VOA Việt Ngữ biết như vậy về chuyến công du châu Âu của ông Trọng mà bà coi là ‘rất quan trọng’. Bà Kocijancic cũng cho hay rằng Tổng bí thư Việt Nam đã gặp hầu như tất cả các nhân vật quan trọng nhất của EU, và hai bên đã bày tỏ cam kết tăng cường quan hệ. Bà Kocijancic nói: "Đôi bên cam kết mở rộng và tăng cường quan hệ giữa EU và Việt Nam trên cơ sở các thỏa hiệp về đối tác và hợp tác cũng như thỏa thuận về thương mại tự do trong tương lai." Cả hai vị chủ tịch của Hội đồng châu Âu và Ủy ban châu Âu đều nêu lên vấn đề này. Cụ thể, họ đã nêu lên trường hợp các blogger mới đây bị tuyên các án tù dài hạn trong tháng trước, mà EU cũng đã ra tuyên bố công khai... Phát ngôn viên Maja Kocijancic. Ông Trọng tới Liên hiệp châu Âu theo lời mời của Chủ tịch Hội đồng châu Âu Herman Van Rompuy khi ông tới thăm Việt Nam hồi cuối tháng Mười năm 2012. Theo nữ phát ngôn viên Kocijancic, ngoài việc trao đổi các vấn đề kinh tế, hai bên cũng thảo luận các vấn đề còn khác biệt mà Liên hiệp châu Âu vẫn còn quan ngại, và nhân quyền là một trong các vấn đề lớn nằm trong chương trình nghị sự. Bà Kocijancic nói: "Cả hai vị chủ tịch của Hội đồng châu Âu và Ủy ban châu Âu đều nêu lên vấn đề này. Cụ thể, họ đã nêu lên trường hợp các blogger mới đây bị tuyên các án tù dài hạn trong tháng trước, mà EU cũng đã ra tuyên bố công khai." Việt Nam mới đây đã kết án 14 người Công giáo và Tin lành được cho là các nhà hoạt động và các blogger ôn hòa. Phát ngôn viên Maja Kocijancic.   ​​Được biết, tháp tùng ông Trọng trong chuyến công du châu Âu từ ngày 17 tới 24/1 còn có một phái đoàn hùng hậu bao gồm nhiều giới chức cấp cao trong Đảng. Ngoài EU ở Bỉ, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam còn tới Italia và Anh. Tin cho hay, đây là lần đầu tiên ông Trọng tới Tây Âu trên cương vị Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam. Bà Kocijancic cho biết nhân quyền là một yếu tố quan trọng trong mối quan hệ giữa EU và Việt Nam nên phía châu Âu sẽ ‘nhất quyết và thường xuyên nêu lên vấn đề này’. Bà Kocijancic nói: "Chúng tôi ủng hộ việc thúc đẩy nhân quyền và pháp quyền ở Việt Nam. Chúng tôi tin rằng đó là các lực đẩy quan trọng trong quá trình phát triển đất nước. Chúng tôi tin rằng việc đạt tiến bộ trong các vấn đề này là điều quan trọng. Việt Nam và EU đã thiết lập và tiến hành hai vòng đối thoại về nhân quyền trong năm ngoái.  Vấn đề này cũng là một phần không thể tách rời trong mối quan hệ hợp tác giữa đôi bên." Đó cũng chính là những điều Chủ tịch Hội đồng châu Âu Herman Van Rompuy đã nhấn mạnh trong cuộc họp báo với Chủ tịch Trương Tấn Sang khi ông thăm Việt Nam hồi cuối năm 2012. Tin cho hay, hôm 22/1, Đức Giáo hoàng Benedict XVI đã tiếp đón ông Nguyễn Phú Trọng tại Vatican. Cuộc gặp này được coi là một động thái gây ngạc nhiên vì Đức Giáo hoàng thường tiếp nguyên thủ quốc gia, thay vì một người đứng đầu một đảng phái chính trị. Ngoài ra,Việt Nam và Vatican chưa thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ.     http://www.voatiengviet.com/content/chu-tich-chau-au-nhac-tong-bi-thu-vi...
......

Pages