2013

Ủy ban kiện các thủy điện

Đã có tổng kết đợt mưa lũ vừa rồi: ít nhất 29 người chết, mất tích, trong đó có những cái chết rất thương tâm như câu chuyện hai cô giáo còn rất trẻ-mới 22 tuổi-đi dạy thì bịnước cuốn chết. Chưa kể hàng vạn người trắng tay, màn trời chiếu đất, cơ nghiệp cả đời tiêu tan chỉ trong một đêm. Nguyên nhân của những đau thương trên là do trời: ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đời, gây mưa. Trời làm thì không thể tránh hay kiện cáo được.   Cũng như những tên trộm lợi dụng đêm tối để gây án rồi tẩu thoát, các thủy điện đã lợi dụng “cơ trời” để gây tội: 15 thủy điện đã đồng loạt xả lũ. Bao nhiêu nước do trời mưa, bao nhiêu nước do thủy điện xả lũ, không ai biết. Vì không thể biết nên các chủ nhà máy thủy điện dễ chối tội và vô can. Điều cay đắng, đây không phải là lần đầu tiên. Năm nào người dân Miền Trung nghèo khó cũng bị đại nạn này. Thủy điện xả lũ đã thành đại họa cho dân miền trung. Như án tử hình treo lơ lửng trên đầu họ.   Mỗi lần gây ra tai họa, cộng đồng lại dậy sóng chỉ trích các thủy điện, thậm chí là các cấp chính quyền có liên quan, nhưng rồi mọi việc lại đâu vào đó. Vì sao vậy? Vì cái ác không bị phán xét và trứng phạt thích đáng. Tội ác nếu không được phán xét, trừng phạt thích đáng thì nó sẽ không bao giờ dừng lại. Có một thực tế, chúng ta không thể van xin lòng tốt của kẻ khác. Chúng ta cần lôi chúng ta tòa để công lý được thực thi. Dù bị thiệt hại nặng nề, tính mạng, tài sản bị đe dọa nhưng từng người dân nghèo, thấp cổ bé họng không thể kiện cáo được. Họ bị hạn chế về tiền bạc, thời gian cũng như kiến thức về luật pháp.   Trước thực trạng trên, tôi có ý định lập một ủy ban để tiến hành kiện các chủ nhà máy thủy điện ra tòa. Rất mong nhận được sự ủng hộ của mọi người. Nguyễn Văn Thạnh Tel: 0984.973.376thanhipi@gmail.com     Nguồn: Blog Huỳnh Ngọc Chênh  
......

Ông Nguyễn Văn Rị được chính quyền Đức Nordrhein-Westfalen trao tặng Huân chương

Staatsministerin Prof. Dr. Maria Böhmer MdB chúc mừng Ông Nguyễn Văn Rị được ân thưởng Huân chương „Dấn thân cho con người“ (Verdienstorden des Landes Nordrhein-Westfalen). Kính thưa Ông Nguyễn Văn Rị, Tôi xin được nồng nhiệt chúc mừng ông nhận giải „Dấn thân cho con người“ của tiểu bang Nordrhein-Westfalen vào ngày 07 tháng 11 năm 2013. Cách đây hơn 30 năm, là một thuyền nhân ông đã từ Việt Nam đến Đức Quốc và đã tìm thấy ở Mönchengladbach một quê hương. Ông là gương sáng cho rất nhiều người; những người này đã đến Đức trong những trường hợp tương tự như ông, thường thì họ đã gặp nhiều khó khăn và nguy hiểm hơn, để được sống trong tự do và an toàn. Đường đời của ông chứng minh rằng: Với quyết tâm, đam mê và chăm chỉ thì sẽ thành công trên đất nước chúng ta. Kinh nghiệm này ông đã truyền đạt lại cho các con. Tất cả 7 người con đã có được một viễn ảnh tốt đẹp hơn cả sự hy vọng của ông. Đó thật là một niềm hãnh diện. Sự dấn thân không mệt mỏi và bất vụ lợi của ông để cùng đồng hương hội nhập vào nước Đức và những công tác thiện nguyện cho giáo hội công giáo là những thí dụ điển hình cho nhiều người khác.  Hôm nay tôi  xin đuợc chân thành cám ơn ông về những việc làm này. Cá nhân tôi xin kính chúc ông cùng gia quyến mọi sự tốt đẹp và hy vọng rằng ông vẫn luôn thành công trong những công việc thiện nguyện. Kính chào thân ái, Prof. Dr. Maria Böhmer Ngọc - Hòa chuyển ngữ Stellvertretende Ministerpräsidentin Sylvia Löhrmann verleiht den Verdienstorden des Landes Nordrhein-Westfalen an Nguyen Van-Ri     http://www.ttdq.de/node/937#overlay=node/937/edit ****  Ông Nguyễn Văn Rị được Huân chương Công trạng của chính quyền Đức Nordrhein-Westfalen - Tại thủ phủ Düsseldorf ngày 07/11/2013 vừa qua, bà Bộ trưởng Sylvia Löhrmann, đại diện cho nữ Thủ hiến Hannelore Kraft đã trao tặng Huân chương Công trạng cho 7 công dân của tiểu bang Nordrhein-Westfalen để vinh danh thành tích đóng góp của họ cho xã hội, trong số 7 người này có ông Nguyễn Văn Rị, một thuyền nhân đến Đức định cư đã lâu. Bà Löhrmann nói những giá trị được vinh danh của 7 công dân này không phải là được quy định “từ trên xuống” mà phải do chính đương sự sống thực với những giá trị đó. Hướng đến 7 người được trao tặng huân chương, bà Löhrmann tuyên bố: phẩm giá con người, công bình, đoàn kết, vị tha và can đảm xã hội dân sự không phải là những từ trống rỗng mà đã được quý vị bổ sung trọn vẹn bằng hành động. Về ông Nguyễn Văn Rị, bà Löhrmann phát biểu: “đầu thập niên 1980, ông Nguyễn Văn Rị đã vượt biên trên một con tàu nhỏ dài 13 thước, rộng 2 thước với 100 người khác, được tàu Cap Anamur cứu và đưa về Đức, gia đình ông sống tại Mönchengladbach. Và cũng từ đó ông trở thành điểm tựa đầu tiên cho người tị nạn… Từ năm 1983 , ông đã tham gia vào một cách đặc biệt đối với người Công giáo Việt Nam tại Đức. Kể từ tháng Tư năm 2012, Nguyễn Văn Rị là Uỷ viên trong ban chấp hành của Liên Hội Người Việt Tị Nạn tại Đức. Trong nhiều năm, ông cũng hỗ trợ “Ủy ban Cap Anamur” và hội “Mũ Xanh” có nhiều dự án xây dựng trong những khu vực có xung đột trên thế giới”….   Ông Nguyễn Văn Rị được Huân chương Công trạng của Nordrhein-Westfalen   “… Từ năm 2004 đến 2012, ông là chủ tịch của Hiệp hội Bác ái Vinh Sơn của người Việt Công Giáo trong Giáo phận Aachen giúp đỡ vật chất và tinh thần cho người khốn khó. Trên toàn thế giới, tổ chức này có hơn một triệu thành viên. Với sự nhiệt tình không mệt mỏi Nguyễn Văn Rị thu thập lạc quyên ở các chợ trời và lễ hội giáo xứ để đóng góp chủ yếu là dự án viện trợ nước ngoài. Truờng hợp một đứa trẻ ở Việt Nam có một khối u sáu ký trong bụng đã khiến ông Nguyễn Văn Rị không thể ngủ yên. Ông lạc quyên trong giáo xứ của ông và gửi về Việt Nam để giúp cho đứa trẻ cơ hội giải phẫu. Ca phẫu thuật đã thành công và cứu được mạng sống của đứa trẻ – đây chỉ là một thí dụ trong nhiều đóng góp của ông”, bà Löhrmann ca ngợi. Ông Rị kính mến, Diễn Đàn Việt Nam 21 chúc mừng ông được vinh danh xứng đáng, đồng thời cũng là một vinh dự chung cho người Việt tại Đức. Chúc ông luôn vui khỏe và nhiều nghị lực tiếp tục các công tác xã hội như cho đến nay. TS Dương Hồng-Ân  
......

Việt Nam vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc: vui hay buồn?

Hãy cứ hình dung một tên Chánh tổng trọc phú nhờ chạy chọt với đủ mặt quan trên vừa được cái hàm cửu phẩm, mặt tươi hơn hớn, đi khắp tỉnh nhà bông dua me xừ các cụ, ra mặt mình cũng là dân chơi có chút vốn liếng về “dân quyền dân sinh” đây. Trong khi đó thì “đồng dân thượng hạ” trong những thôn ấp mà hắn là chủ thu tô đang đói rã họng vì bị vắt kiệt sức, bị bịt mồm bịt miệng không cho kêu van, và ngày ngày bị mấy tên dân phòng hàng tổng vác gậy đến từng nhà đe nẹt, lôi hàng chục người ra đình làng gông lại đánh cho nát đít, để đòi lại ruộng và đất ở cho con cái dâu rể hắn chia lô bán chác với giá cắt cổ, mà một đám doanh nhân ở đâu trên tỉnh lâu nay đang phất lên với những mánh mung bất chính sẵn sàng kéo về thầu tất. Và mỗi khi ngài Tổng từ trên trên tổng cắp ô vác ba toong đến làng, hễ nghe thằng dân nào mở miệng nói lên hai chữ "dân quyền" thì ngài vác ngay ba toong chỉ vào mặt kẻ lớn lối ấy mà nói: "Quân thoái hóa! Dân quyền là dành để mua vui cho các quan chức hàng tỉnh, chứ đâu phải cho chúng bay! Ông thì... thì... lôi cổ ra cho bàn dân "đấu" cho một mẻ để cho mà biết cái "dân quyền" của dân An Nam là như thế nào bây giờ" (Trích Việc làng tân truyện). Ngày 12/11/2013 vừa qua, Việt Nam được bầu làm thành viên của Hội đồng Nhân quyền (HĐNQ) Liên Hiệp Quốc (LHQ) với một tỷ lệ rất cao. Thực tình mà nói, căn cứ vào cơ cấu của HĐNQ cũng như các ứng viên cho kỳ này, giới đấu tranh trong và ngoài nước không lấy làm ngạc nhiên lắm, nhưng dù gì đi chăng nữa đây cũng là một “tin không vui” cho chúng ta, những người yêu chuộng và tôn trọng những giá trị phổ quát của nhân loại. Tuy nhiên, sau những xúc động ban đầu, chúng ta hãy bình tâm xem xét mọi khía cạnh của vấn đề - nhưng từ nhãn quan của 184 nước đã bỏ phiếu cho VN để thấy rằng họ không hoàn toàn “bị lừa bịp” và cũng để thấy rằng con đường chúng ta đang lựa chọn cho dù còn nhiều chông gai nhưng vẫn có những cơ hội, những hy vọng nhất định. Vài nét về các định chế nhân quyền LHQ Ít được nhắc đến như HĐBA, nhưng Hội đồng Kinh tế xã hội (viết tắt là ECOSOC) là một cơ cấu cực kỳ quan trọng của LHQ. ECOSOC có nhiệm vụ về các vấn đề liên quan đến kinh tế và xã hội toàn cầu. Năm 1946, ECOSOC đã thành lập Ủy ban Nhân quyền (UBNQ) có nhiệm vụ kiểm soát việc tôn trọng các điều khoản đã ghi trong Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của LHQ. UBNQ gồm 53 thành viên chia thành: châu Âu: 15, châu Phi: 15: châu Mỹ: 11, châu Á: 12. UBNQ nhóm họp hàng năm vào tháng 3, khóa họp kéo dài 6 tuần tại trụ sở ở Genève. Trong khóa họp này, ngoài 3000 đại diện các nước thành viên còn có sự hiện diện của 200 tổ chức phi chính phủ. Đây là điểm hết sức quan trọng, vì qua đó UBNQ muốn lắng nghe tiếng nói khác với các tiếng nói "chính thống". Khác với HĐBA, các quyết nghị của UBNQ không mang tính ràng buộc nhưng vị thế của UBNQ quan trọng ở chỗ là nó liên quan đến một vấn đề vồ cùng nhạy cảm với tất cả các quốc gia, cho dù đó là thành viên hay không của HĐBA, cho dù đó là một cường quốc hay một nước kém phát triển, cho dù đó là một quốc gia trong thời chiến hay thời bình. Đó là vấn đề nhân quyền. Mà nhân quyền (đối tượng của UBNQ) khác chiến tranh (đối tượng của HĐBA) ở chỗ đó là những khái niệm trừu tượng hơn, do con người đặt ra và diễn giải tùy tiện. Chính vì thế nên UBNQ thường xuyên là diễn đàn cực kỳ căng thẳng. Một trong những phiên họp gay go nhất đã xảy ra vào năm 2001 tại Durban (Nam Phi). Chủ đề của phiên họp là bàn về nạn kỳ thị. Tuy nhiên kỳ thị ở đây phải được hiểu theo nghĩa rộng chứ không đơn thuần là kỳ thị về màu da, về chủng tộc và hơn nữa, vì mang tên là UBNQ nên chắc chắn nội dung cũng sẽ đi đến hoặc xoay quanh vấn đề nhân quyền. Chính vì hiểu theo nghĩa rộng ấy nên phạm vi ảnh hưởng của nó lan tỏa khắp năm châu và đặc biệt là như vấn đề Tây Tạng và Pháp Luân Công. Ngay trước ngày khai mạc, "đánh hơi" thấy mũi dùi hướng vào mình, Trung Quốc đã tích cực "đi đêm", vận động hành lang để một mặt triệt tiêu tất cả các hướng tấn công đến từ các hiệp hội như Ân xá Quốc tế, Quan sát Nhân quyền (Human Rights Watch), đồng thời xúi giục các nước Phi châu cũng nằm trong danh sách bị cáo, các nước Ả Rập nhằm làm "chìm xuồng" vấn đề Tây Tạng. Hội nghị Durban được khai mạc trong một không khí cực kỳ căng thẳng. Mặc dù chủ đề của hội nghị đặt trọng tâm vào vấn đề kỳ thị, và mở rộng sang các quyền con người, nhưng các nước trong khối Ả Rập đã biến diễn đàn thành một tòa án kết tội Israel. Nhiều quan sát viên, và kể cả bà Mary Robinson cũng chán nản, bất lực trước tình trạng bát nháo và thô bạo của một số quốc gia Ả Rập và Phi Châu. Nhiều ngày sau, với sự kiên trì và mềm mỏng của ban chủ tọa cũng như của Liên hiệp Âu châu, Hội nghị cũng dần tiến đến việc thông qua một số nội dung quan trọng. Đến lúc này Trung Quốc tung ra một đòn mới: kết hợp với các nước như Burundi, Cuba, Indonesia, Nigeria, Qatar, Myanmar, Sudan, Việt Nam thành một khối được các quan sát viên gọi là "like-minded", tạm dịch là "cùng hội cùng thuyền" hay nói toạc ra là "một băng đảng" vì các nước trên đang nằm trên danh sách đen của UBNQ. Nhóm này chiếm một trọng lượng đáng kể nên thao túng hoàn toàn hội nghị, đồng thời dựa trên một nguyên tắc là không được xâm hại đến chủ quyền quốc gia nhằm triệt tiêu mọi mũi dùi nhắm vào họ. Và cuối cùng Durban đã không đạt được mục tiêu ban đầu của mình. Sau thất bại này, bà Mary Robinson từ chức. Đúng ra là bà ta đã thấy sự vô hiệu quả của UBNQ trước sự thao túng của một số quốc gia thành viên, nhưng bà Robinson cố gằng thuyết phục những nước còn lại đưa ra một văn bản đánh dấu cho Hội nghị Durban. Sự thao túng của nhóm các nước "băng đảng" lên đến đỉnh điểm khi họ đi đêm để loại Mỹ ra khỏi UBNQ trong nhiệm kỳ 2002 và bầu chủ tịch mới là... Libye của Gaddafi. Xướng ngôn viên của đài truyền hình A2 của Pháp trong bản tin 20 giờ đã thốt lên: "Xin quý thính giả nghe rõ, đây không phải là một trò đùa, nhưng Libye vừa được bầu vào ghế chủ tịch UBNQ LHQ...". Hội đồng Nhân quyền và cuộc họp 12/11/2013 Được đưa ra từ năm 2006 để thay thế UBNQ làm việc kém hiệu quả, tuy nhiên HĐNQ vẫn duy trì cơ cấu cũ là phân phối số ghế thành viên theo vùng địa dư. Tổng cộng có 5 vùng lãnh thổ chia nhau 47 ghế. Riêng vùng châu Á Thái Bình Dương có 23 ghế. Nhiệm kỳ là 3 năm nhưng hàng năm sẽ bầu lại 1/3 để đảm bảo tính thời sự. Năm 2013 châu Á sẽ bầu lại 4 thành viên. Các ứng viên sẽ được bầu từ Đại Hội đồng LHQ bao gồm 192 nước. Ngay từ khi các nước nộp đơn ứng viên, nhiều tiếng nói đã nổi lên khi biết đó chính là những nước vi phạm nhân quyền trầm trọng nhất. Trong vùng Á châu là Trung Quốc, Ả Rập Saudi và Việt Nam. Bà Peggy Hicks của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW) đã than thở "Với sự hiện diện của Nga, Trung Quốc, Ả Rập, Saudi, những người bảo vệ nhân quyền sẽ có nhiều việc phải làm cho năm tới". Liên đoàn Quốc tế vì Nhân quyền (FIDH) gồm 178 tổ chức bảo vệ nhân quyền trên thế giới tỏ ra hoài nghi về khả năng cải thiện nhân quyền của Việt Nam trong thời gian tới sau khi Hà Nội có được ghế tại Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc. Bà Julie Gromellon, đại diện Liên đoàn Quốc tế vì Nhân quyền (FIDH) nói: “Việt Nam đã không chứng tỏ những cam kết cải thiện nhân quyền trước khi trở thành thành viên của Hội đồng. Cho nên, chúng tôi không nghĩ rằng một khi được ghế rồi thì họ sẽ cải thiện. Thậm chí, thành tích nhân quyền của Hà Nội còn có thể sẽ tệ đi”. Còn Ông Robertson thuộc Human Rights Watch (HRW) nói: "Chúng tôi hết sức quan ngại khi một nước vi phạm nhân quyền tồi tệ với chiến dịch leo thang đàn áp những người bất đồng chính kiến và các nhà hoạt động như Việt Nam lại được chọn vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc". Những diễn biến sau đó chứng tỏ lời thẩm định của các Tổ chức phi chính phủ (NGO) là có lý: lần lượt Iran được bầu vào Hội đồng về Nữ quyền (CSW), Syrie được bầu vào Hội Đồng Nữ quyền của UNESCO và Ả Rập Saudi được bầu vào Hội đồng Bảo an LHQ. Đến cận ngày bầu cử mọi việc đã rõ mười. Trong vùng châu Á Thái Bình Dương, chỉ có 4 ứng viên cho… 4 ghế. Sau khi kết quả được công bố, Tổng giám đốc của UN Watch (UNW), một tổ chức phi chính phủ đấu tranh trong lãnh vực nhân quyền đã phải thốt lên: “Đây là một ngày đen tối cho nhân quyền, những kẻ đúng ra phải đứng trước vành móng ngựa thì nay lại chễm chệ trên ghế quan tòa (…) Danh sách ô nhục này gồm Nga, Trung Quốc, Ả Rập Saudi, Cuba, Algerie, Tchad và Việt Nam”. Nhưng NGO và những người đấu tranh cho nhân quyền quả đã không sai khi cho rằng “ngày hôm nay, nhiều nước gia nhập nó không phải vì họ có thành tích tốt về nhân quyền nhưng lại là những nước vi phạm nhiều nhất. Họ vào chỉ để với mục đích biện hộ cho những thành tích bất hảo của họ”. Và kết quả cuộc bỏ phiếu ngày 12/11 đã xác định một điều rằng “Một nước được bầu vào HĐNQ không có nghĩa là họ thực sự tôn trọng nhân quyền”. Thiết nghĩ đây là câu trả lời rõ ràng nhất cho những khoe khoang của Hà Nội rằng “đã thành công trong việc tạo được một uy tín lớn trên diễn đàn quốc tế. Điều này cũng thể hiện sự tín nhiệm và ủng hộ của các quốc gia trên thế giới dành cho Việt Nam”. Tuy nhiên, một thắc mắc không thể không đặt ra là tại sao những “tên đồ tể của nhân quyền” này lại được Đại Hội Đồng LHQ thông qua với một số phiếu cao như vậy? VN được bầu với tỉ lệ 184/192 (vì bầu kín nên không biết 8 nước phản đối hay bỏ phiếu trắng là ai). Ai cũng rõ là các nước trong “danh sách ô nhục” này đã bỏ rất nhiều thời gian và công sức để “đi đêm” trước ngày bỏ phiếu nhưng không lẽ Trung Quốc và Nga lại có thể thao túng và mua chuộc cả thế giới? Muốn trả lời câu hỏi này chúng ta phải lui về thời điểm 12 năm trước, khi hội nghị Durban kết thúc. Phú quý sinh lễ nghĩa. Việc Libye được bầu vào chức chủ tịch UBNQ hoặc các nước như Trung Quốc, Bahrein, Cuba, Zimbabwe, Sudan và Việt Nam được bầu làm thành viên của UBNQ vào năm 2001 bỗng nhiên tạo cho cộng đồng thế giới tiếp cận với một suy nghĩ mới, một phương cách hoạt động mới. Một mặt họ tìm cách khai tử UBNQ và đến năm 2006 cho ra đời Hội đồng Nhân quyền (HĐNQ) với những mục đích hữu hiệu hóa chức năng của định chế này. Nhưng điều quan trọng hơn cả là họ điều chỉnh nguyên tắc hoạt động. Kể từ giờ họ tránh tình trạng đối nghịch giữa các thành viên và tìm cách “lôi kéo” các nước “băng đảng” tham gia sâu vào HĐNQ vì theo họ, các nước vi phạm nhân quyền luôn luôn phải chứng tỏ mình không hề vi phạm nhân quyền (bằng cách này hay bằng cách khác) tham gia vào các diễn đàn kiểu HĐNQ để thao túng; nhưng việc này lại tạo ra nhiều phản ứng tích cực khác: - Trước tiên, với tư cách là thành viên, họ khó có quyền từ chối các thanh tra nhân quyền trên lãnh thổ của họ như đã từng làm trong quá khứ, đây là trường hợp của Nga, Trung Quốc, Ả Rập Saudi, Algerie và Việt Nam (cũng lại những khuôn mặt cũ !). 18 chuyên gia của HĐNQ sẽ hoạt động độc lập, khách quan và không chịu bất kỳ sức ép của bất kỳ cơ quan hoặc của chính phủ nào. Một cái khác giữa UBNQ và HĐNQ là định kỳ các thành viên phải tường trình về tình trạng nhân quyền trong nước của mình. - Sau nữa, với tư cách là thành viên HĐNQ, khi ban hành hoặc kiểm soát các nước khác họ cũng phải ít nhiều e ngại lời chỉ trích của các nước này. Điều này có khả thi hay không cũng chưa ai biết được vì chẳng ai có thể tiên đoán hoặc đo lường phản ứng của các nhóm “băng đảng”. Nhưng khi quyết định dùng “biện pháp mềm” có lẽ cộng đồng thế giới cũng đã nhìn thấy từ các ảnh hưởng tích cực khi thu nhận Trung Quốc, Nga, Việt Nam và các nước độc tài vào Tổ chức Thương mại Thế giới khiến cho các nước này suốt ngày phải “đuổi theo chỉ tiêu tăng trưởng”, đồng nghĩa với việc xa rời cái ý thức hệ độc tài và lỗi thời. - Tuy nhiên điều quan trọng là cơ cấu HĐNQ không có quyền phủ quyết và nếu nhìn vào thành phần 47 nước thành viên thì các nước trong nhóm “băng đảng” vẫn chiếm thiểu số. Bà Peggy Hicks, HRW cũng bày tỏ lạc quan "với việc không có quyền phủ quyết, chúng ta sẽ đạt được nhiều tiến bộ cụ thể”. Với những ràng buộc này, liệu HĐNQ có thành công hơn UBNQ trong sứ mạng của mình? Liệu định chế này, với những biện pháp “dỗ ngọt” này có thành công trong việc cải thiện được tình trạng đối nghịch hoặc “cải tà quy chánh” được những nước trong “danh sách ô nhục”? Con đường còn lắm gian truân nhưng có lẽ nó tuỳ thuộc vào nạn nhân chứ không vào các người cầm quyền. Và cũng chính vì lẽ đó, việc Việt Nam được bầu vào HĐNQ sẽ đặt cho những người yêu chuộng tự do những thách thức và những cơ hội mới, đó là chúng ta phải nỗ lực hơn nữa để cả thế giới thấy khát vọng chính đáng của mình đang bị một chế độ và là thành viên của HĐNQ đàn áp. Những động thái của nhà cầm quyền VN sẽ bị săm soi kỹ hơn và kể từ đây "nhất cử nhất động" của họ cũng được thế giới chú ý kỹ hơn. Phản ứng mạnh mẽ của các tổ chức phi chính phủ như HRW, Phóng viên Không biên giới (RSF), UNW, Freedom House, FIDH… về việc các nước vi phạm nhân quyền trầm trọng như Nga, Trung Quốc, Ả Rập Saudi, Việt Nam, Cuba, Venezuela… cũng đang “hứa hẹn” cho các nước “băng đảng” một tương lai khá “bận rộn”. Ước mong rằng đảng CSVN nhìn ra được mặt tốt của vấn đề, biết xem đó là một cơ hội chứng tỏ mình thực sự là một quốc gia tiến bộ, vĩnh viễn rời bỏ cái băng đảng chuyên quậy phá ngày xưa, hội nhập thực sự và toàn diện vào cộng đồng thế giới văn minh. Từ bỏ thái độ cao ngạo độc tôn của mình để lắng nghe nguyện vọng của toàn dân. Đây sẽ là cách tốt đẹp và hữu hiệu nhất để xây dựng một nước Việt Nam thật sự tự do, dân chủ. Sài Gòn, 14/11/2013 P.M.H. Tác giả gửi trực tiếp cho BVN Nguồn: boxitvn.blogspot.de  
......

Hải Yến & Cơn Bão Phạm Pháp Công Khai

“Lộ ra những căn nhà tốc mái Lộ ra những đời người trống trải Lộ ra tàu thuyền chưa kịp trục vớt Lộ ra cái màu bờn bợt da người Rồi phải lộ ra thôi không thể gì dấu được Nhưng tôi đã bật khóc Khi lộ ra trẻ con Những đứa trẻ đói ăn Tóc quăn tiền sử Ngây ngô và tư lự Hồn nhiên và già nua Những đứa trẻ không phải thời của chúng ta Từ một thuở hồng hoang đi ngược lại Hoàn toàn lộ thiên Dưới những căn nhà đổ sập Hoàn toàn lộ thiên Dưới những ngôi trường mái tốc Bão không làm ra những đứa trẻ ấy Bão chỉ làm lộ ra” (Đông Trình) ** Với sức gió kinh khiếp của đất trời thịnh nộ, cơn bão khủng Haiyan đã định hướng nhắm đường đổ bộ vào miền Trung. Chưa chi đã có kẻ vượt mặt cơ quan khí tượng mà thêm mắm dặm muối cả miền hư cấu để giật tít là cơn bão lịch sử! Chỉ thiếu lời chào tạm biệt thường ngày của VTV: Chúc quý vị một mùa bão lũ lịch sử với nhiều niềm vui… Còn khán thính giả thì chỉ mong sao cho nàng Hải Yến quạu quọ cau có này sắp chạm đất liền là lập tức quày quả quảy mông đổi hướng trở ra biển cả, như phần lớn đường đi các cơn bão vùng Bắc bán cầu đánh võng từ Đông Nam vòng lên Đông Bắc, cho đỡ khổ dân đen lộ khố của một vùng đất vốn đã nghèo nhất nước. Mấy ngày trước, cơn bão án oan (cũng tầm lịch sử) đã phủ chụp dư luận cả nước, cuốn trôi hết cả mớ cặn lòng tin còn sót đọng của người dân đối với quyển sổ hưu và đám nhà nước lưu manh này. Chuỗi tin siêu bão pháp luật tăng cấp từng ngày, cao điểm là ngày 7-11-2013: “ND- Ngày 7-11, UBND thành phố Hà Nội tổ chức mít-tinh chào mừng ‘Ngày Pháp luật nước CHXHCN Việt Nam 9-11’… Việc tổ chức ‘Ngày Pháp luật’ năm nay trở thành đợt sinh hoạt chính trị pháp lý sâu rộng, nhằm phát huy ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật của cán bộ, công chức và nhân dân Thủ đô. Nhân dịp này, UBND thành phố tổng kết Cuộc thi ‘Tìm hiểu Luật Xử lý vi phạm hành chính’ năm 2013. Cuộc thi có 212.727 bài dự thi. Ban Tổ chức trao giải nhất cho đội Công an thành phố Hà Nội”. … “TTXVN- Ngày 7-11, tại trụ sở chính của Liên hợp quốc ở TP Niu Oóc (Mỹ), Ðại sứ, Trưởng Phái đoàn đại diện thường trực nước ta tại LHQ Lê Hoài Trung thay mặt Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam ký ‘Công ước của LHQ về chống tra tấn và trừng phạt hoặc đối xử tàn nhẫn, vô nhân đạo hoặc làm mất phẩm giá khác’…”. … “(Ngày 7-11)… So sánh với quốc tế, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Nguyễn Đình Quyền cho rằng, cơ quan điều tra Việt Nam là một trong những cơ quan giỏi nhất thế giới, phá án rất nhanh”. * Ngay trong dịp tổ chức trọng thị và an toàn Ngày Pháp Luật 2013, với thành tích ký tên vào bản Công Ước LHQ Về Chống Tra Tấn, và với khả năng giật giải Giỏi Nhất Việt Nam (xử lý tốt) và Giỏi Nhất Thế Giới (phá án nhanh), nhà nước CHXHCNVN đã hồn nhiên đơn giản hủy bỏ bản án oan 10 năm tù cũ của công dân Nguyễn Thanh Chấn, do bởi sự sám hối và đích thân đầu thú của người tự nhận là hung thủ. Mười năm trước, chính xác là ba nghìn sáu trăm tám mươi sáu cái thiên thu ngoài đời, ông Nguyễn Thanh Chấn bị bắt khẩn cấp và bị kết án khẩn cấp về tội giết người, nhờ tài phá án nhanh của “cơ quan chức năng” (là CA Bắc Giang) đã kịp thời vào cuộc, cho dù là không một ai có thể trưng ra được một người chứng/vật chứng nào trong phiên tòa chớp nhoáng. Bản án hoàn toàn dựa trên cung chứng. Thành tích vang dội này, đặc biệt là điều tra viên đầy nghiệp vụ ép cung Đào Văn Biên, đã được tuyên dương rầm rộ bởi Bộ trưởng Bộ Công an (tại tờ trình số 1358/TTr-BCA-X11) và được Trưởng ban Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương (tại tờ trình số 917/TTr-BTĐKT) đề nghị khen thưởng và sau đó được Thủ tướng cấp Bằng khen (tại Quyết định số 919/QĐ-TTg) vì đã lập thành tích xuất sắc “trong sự nghiệp bảo vệ chủ nghĩa xã hội”. Ông Chấn bị thách án tử hình, song vì có “nhân thân tốt” (là con của liệt sĩ có bằng Tổ quốc ghi công), nên được ưu tiên giảm phát, nhằm đề cao tính nhân đạo của nhà nước đã khoan hồng hạ giá bản án tại tòa xuống mức… chung thân. Loại án dựa tuyền vào cung chứng đưa tới hệ quả thảm khốc là mạng người mong manh chực đứt hơi trên tài năng tra tấn lấy giấy khen của công an. Rõ là máu xương của thân phụ ông Chấn, dù đã anh dũng hy sinh cho một dàn lãnh đạo dập dìu thi đua dìm đất nước xuống hàng lụn bại để tự mình trở thành trọc phú, nhưng cũng không hoàn toàn vô ích, vì dẫu sao cũng đã góp phần cứu được người con khỏi án dựa cột cắc bùm tại chỗ. Nếu không thì đã chẳng có cuộc liên hoan trùng nhật với Ngày Pháp Luật năm nay nhằm ăn mừng thành tích Giỏi Nhất Thế Giới của cái cơ quan chức năng (tận lực bức cung cho ra tội và tra tấn đến khi nhận tội) cực kỳ vinh quang kia.* “Nhờ ơn đảng, nhờ ơn nhà nước mà … tôi được giải oan”. Lời phát biểu đầu tiên của ông Chấn ngay khi ra tù là thiết tha như thế. Một số người vội nghĩ đến cái Hội chứng Stockholm, còn gọi là hội chứng “Bị bắt giữ-Rồi kết thân”, là một hiện tượng tâm lý trong đó đám con tin thể hiện sự đồng cảm/cảm thông và có những cảm xúc tích cực đối với những kẻ bắt cóc họ, đôi khi lên cao đến điểm bảo vệ các mẹ mìn đó. Một số người không dấu nỗi bực dọc về cái sự thành khẩn biết ơn kẻ hành hạ mình một cách rất đỗi ngờ nghệch/ngốc nghếch như thế. Song, như đã từng nghe qua đâu đó một nhân sinh quan rất sến là …đời không đơn giản, cho nên, lại có nhiều người khác nhất định rằng… muốn đểu hơn ông Chấn cũng khó lòng làm nổi! Cứ cái kiểu tưng tửng ơn đảng/ơn nhà nước đó, ông Chấn đã lấy cái ngây ngô ra mà nhắc nhớ cho rất nhiều người về loại tác giả chuyên ngành tiểu thuyết hư cấu cuộc đời người khác bằng thực tiễn gông cùm tù ngục theo trường phái “kết oan được khen & giải oan được thưởng”. Ông Chấn đã nhắc nhớ cho rất nhiều người về hàng triệu nạn nhân đã “cảm ơn đồng chí Stalin giúp tôi thấy cái tội tày đình của bản thân”, ngay sau những trận đánh đẹp các màn thẩm tra mớm cung và ép cung của KGB ở xứ bầu bạn quốc tế. Ông Chấn đã nhắc nhớ cho rất nhiều người về lời cảm ơn của Phổ Nghi nói với Mao Trạch Đông, trong bữa cơm Tết Nhâm Dần 1962 tại Di Niên Đường của nhị vị “nguyên thủ khai quốc và hoàng đế cuối cùng”. Trong hồi ký sau này, Phổ Nghi đã viết: “Chúng tôi đã được ngồi ăn cơm, chụp ảnh với vị Chủ tịch vĩ đại của chúng ta. Đây là một ngày hạnh phúc và vinh dự nhất trong cuộc đời mà tôi sẽ không bao giờ quên. Đó cũng là bữa cơm tiếp cho tôi sức mạnh và sự cổ vũ để tôi tiếp tục sống”. Ông Chấn đã nhắc nhớ cho rất nhiều người về hàng vạn nạn nhân đã “ơn đảng/ơn bác” vạch ra muôn vàn tội lỗi cả đời chưa từng nghĩ đến hay biết đến, giờ mới được nghe ra (đến sáng lòng) từ các đội cải cách cùng giai cấp bần nông, và được thấy ra (đến sáng mắt) dưới ánh đuốc bập bùng của những cuộc đấu tố đầu đình.* Ông Chấn và cơn bão án oan lịch sử đã để lộ ra một Hệ Thống Tư Pháp Sẵn Sàng Phạm Pháp: Trước tiên là lời thú nhận của Trịnh Hồng Dương, nguyên Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao, đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa IX và khóa X, huân chương Độc lập hạng nhì, huân chương Lao động hạng nhất, huân chương Kháng chiến hạng ba, cùng một huân chương Công lý thượng hạng ngoại hạng để đời: “Luật của ta xử thế nào cũng được”. Xử sống là sống. Xử chết là chết. Thường là dở sống dở chết. Với tiến trình luận tội chính yếu là chỉ thị và không cần bất cứ yếu tố nào khác, kể cả lương tâm kẻ xử hay dư luận thế giới. Và như thế là “không có gì bất thường!”, theo lời bình của đại tá Nguyễn Văn Chức, Chánh Văn phòng kiêm nhiệm Phát ngôn viên của CA tỉnh Bắc Giang. Luật của ta, từ ngả ba đầu đường kách mệnh, đã trở thành vũ khí trả thù của đảng nhắm vào bất cứ ai lọt vào tầm ngắm của đảng, thông qua những cặp mắt cú cùng bầu máu lạnh của lãnh đạo và những “người thi hành công vụ”. Luật của ta, từ thuở “cách mạng thành công”, đã trở thành phương tiện gìn giữ ổn định xã hội hầu phục vụ cho sinh mệnh chính trị của lãnh đạo, và có chức năng chính là biến mọi công dân thành hình sự có tiền án. Luật của ta, từ bấy tới nay, vẫn mang tính đại trà và linh động tùy chọn: - “Nghi can” có thể bị bắt cóc tại nhà, tại sở, tại sân bay, tại khách sạn…; bị ép xe trên đường, bị ép xuồng trên sông…; bị xiết cổ/cặp hông/quặt tay/khiêng ngửa/xốc ngược/đạp mặt/chích thuốc/quăng xe/bịt mắt… - “Nghi can” có thể bị “mất tích” bằng bao bố nhận sông hoặc nhiều hình thái khác; bị gậy quật gãy cổ ngay tại lề đường; bị đạn chỉ thiên thủng đùi xuyên xương chậu; bị súng cướp cò thủng bụng dưới; bị ngã xe vỡ sọ; bị tạt a-xít; bị chận xe nện đá vào đầu giữa lộ; hoặc bị đánh “cho mất khả năng đàn ông luôn”… - “Nghi can” có thể tự ý kết liễu mạng sống của chính mình, ngay tại đồn công an, bằng thắt lưng, bằng áo xé, bằng cả dây cột giày…; hoặc tự đánh vào người cho nứt sọ/bể phổi/nát gan/gãy bẹ sườn/dập lá lách… Trong nhiều trường hợp, việc khám nghiệm thi thể bởi pháp y là điều không cần thiết. Trong mọi trường hợp, nạn nhân đều được cơ quan chức năng tuyên bố đã chết đúng quy trình. - “Nghi can” có thể ngắn gọn gật đầu cung khai đúng theo kịch bản mớm ý của các tác giả tiểu thuyết hình sự giỏi nhất nước, để sống sót; để ngẫm nghĩ về các định nghĩa mới của các con người mới, về các từ giải phóng mặt bằng/cưỡng chế thu hồi đất đai…; để nghe báo chí trong luồng ra tay diễn giải các kịch bản hình sự đính kèm theo những “đề nghị mức án thật nặng để giáo dục quần chúng”…; và để đợi ngày ra tòa. - Trước ngày xử, nhiều gia đình “nghi can”, bấy giờ tự động biến thành “bị can”, chỉ được báo tin không đầy 24 giờ (như tại Mỹ Yên); có gia đình không hề hay biết (là do lỗi của nhân viên phát thư!). Ngay cả luật sư cũng không được thông báo, và chỉ được gặp thân chủ vài chục phút ngay trước giờ xử… - Trong ngày xử “công khai”, phòng xử thường chật cứng công an chìm/nổi/“nhân dân tự phát”… chỉ chừa đủ chỗ cho một người thân của “nghi can” vào dự, hoặc hoàn toàn hết chỗ càng tốt. Tất nhiên, mọi phương tiện ghi âm/ghi hình đều bị cấm tiệt. - Trong ngày xử “công khai”, các đòi hỏi của luật sư để đối chất về các luận cứ buộc tội và giá trị của các tang chứng v.v… có được phát biểu hay không, hoặc dài ngắn ra sao, là hoàn toàn tùy thuộc vào tình trạng vui buồn tại chỗ của chánh án. - Trong ngày xử “công khai”, không một nhân dân nào được phép lai vãng, không những trước sân tòa, mà cả khu vực quanh tòa. Tòa án trở thành một pháo đài đầy ngựa sắt/bảng cấm/dây chăng/xe buýt/vòi rồng… Tất nhiên, toàn bộ khu vực sẽ …bỗng nhiên mất sóng. - Trong ngày xử “công khai”, khu vực quanh tòa sẽ đặc kín công an/băng đỏ/áo xanh/côn đồ… có khi lên đến số nghìn, gấp mươi lần số người thả bộ quanh tòa hóng chuyện hoặc đám đông cầm bảng “con/em/anh/chị/bạn tôi vô tội”, đương nhiên trở thành vùng bẫy để quát nạt, đánh đập, tịch thu máy ảnh/iPad/ iPhone và bắt thêm những “nghi can” khác, về tội công khai theo dõi phiên tòa, tức là coi như …công khai phản động.* Ông Chấn và cơn bão án oan lịch sử đã để lộ ra không chỉ cái tỷ lệ giải oan tròm trèm một phần chín mươi triệu. Nó để lộ cả cái định hướng quật ngã đối thủ từng ban giấy khen cho công an Bắc Giang về thành tích bắt oan nạn nhân cho đầy chỉ tiêu. Chứ không thì kể cũng khó hiểu về thời điểm ra đầu thú của hung thủ (chưa biết thiệt giả), sau 10 năm lẩn trốn thành công và không có một chỉ dấu nào đe dọa là sẽ bị đưa ra ánh sáng ngoài đường hầm. Nhất là khi chính phủ đang chạy đua lập những thành tích khác để vào hội đồng nhân quyền LHQ, để gia nhập TPP, để mua vũ khí tối tân, hoặc chỉ đơn giản là chứng tỏ là “có một số cải tiến cụ thể thấy được về nhân quyền”! * Ông Chấn và cơn bão án oan lịch sử đã để lộ ra không chỉ các kỹ thuật bức cung của công an, xuống đến mức chi tiết vượt hẳn ra ngoài sức tưởng tượng có thể có của một bộ phận không nhỏ nhân dân. Có thể ra ngoài cả sức tưởng tượng của Hội Đồng NQ/LHQ, có khi là của cả các cựu nhân viên Nazi hay KGB còn sống tới nay. Nó để lộ ra cả cái cán cân công lý có buộc sẵn một bên cái công trạng (con liệt sĩ được giảm án tử, kẻ “thi hành công vụ” giết người lãnh án treo…).* Ông Chấn và cơn bão án oan lịch sử đã để lộ ra nỗi sợ hãi cao độ của triều đình, thông qua những trận đánh hợp lực của “ba bộ đồng tình bóp nát nhân dân”: Bộ chính trị, Bộ công an và Bộ tư pháp; thông qua mọi biện pháp sử dụng xuyên suốt quá trình áp dụng luật; thông qua phản ứng đối phó tùy tiện và đầy mâu thuẫn đối với nhân dân theo nhịp độ ngày càng nhặt… Lý do? Nhân dân đã nắm rõ nguyên tắc sống còn của nhà cầm quyền: 1) Mọi chế độ độc tài càng hành xử thô bạo và tùy tiện thì càng rõ là họ rất yếu và rất mực lo sợ độ dài của những ngày tàn; và 2) Qua những chỉ dấu chín muồi đó, người dân càng biết đâu là những hành động hiệu quả và đâu là điểm cần dồn sức.* Ông Chấn và cơn bão án oan lịch sử đã để lộ ra những câu hỏi sinh tử khác: - Liệu là còn bao nhiêu nghìn ông Chấn khác hiện ở trong tù và bao nhiêu vạn ông Chấn khác sắp vào tù? - Còn hàng ngàn vụ án oan mới, đang diễn ra và sắp diễn ra, thì sao? - Chừng nào mới hết những lời khai trước tòa thường khiến chánh án mắc bệnh điếc tai: “Người ta xui (nhận tội), chứ em không làm”. - Chừng nào mới hết những trường hợp bị bắt tù 32 năm không ra tòa như cụ ông Tôn Thất Tần? - Chừng nào mới hết tình cảnh công dân vào tù không bởi vi phạm điều luật nào, mà bởi sắc luật 003 do Hồ Chí Minh ký 2 năm trước khi chết, như trường hợp người tù xuyên thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu? - Bao giờ thì những người lương thiện lãnh án tù vì lòng yêu nước được thả? - Vợ con của những người tù oan phải chạy hàng nghìn cửa, đến lúc nào mới được ngó tới? - Đặc biệt các nạn nhân đã, đang, và sẽ tiếp tục chết trong đồn công an thì ai sẽ giải oan cho họ? - Sau những án oan chung thân và tử hình, liệu là lãnh đạo tối cao của đảng sẽ dùng những chiêu thức nào khác để lấy sinh mạng nhân dân ra mà đấu đá lẫn nhau? - Đến khi nào người ta mới thôi nhắc nhở chủ tịch nước rằng “đừng quên anh là con nhà luật!”? - Khi nào thì tới phiên bản thân mình hoặc người thân của mình nhận lãnh án oan? - Khi nào mới dứt chuyện thiếu niên VN tự tử để tự minh oan với bạn bè/hàng xóm vì bị CA bắt giữ và làm nhục? - Do đâu mà mỗi người dân Việt trở thành con tin của một hệ thống tội ác có tổ chức? - Bằng cách nào giải quyết tình trạng công khai phạm pháp của bộ công an và bộ tư pháp để đánh đổi sinh mạng nhân dân lấy thành tích và giấy khen? - Cách nào để tách rời ngành tư pháp ra khỏi lưới dây giật của lãnh đạo đảng, và giới luật sư không còn là những cây kiểng bonsai trang trí sân tòa? - Cốt lõi án oan ở đâu và làm sao để chấm dứt tận gốc thảm họa “tập đoàn phạm pháp bỏ tù từng người lương thiện” này?* Ông Chấn và cơn bão án oan lịch sử đã để lộ ra một câu trả lời rốt ráo: Không có cách nào khác ngoài việc dẹp bỏ chế độ độc tài hiện nay để xây dựng một thể chế pháp quyền do chính dân làm chủ. 11-11-2013 – Lạy tạ Ơn Trên: cơn bão Hải Yến đã đổi hướng quay ra biển rong chơi. Nhân dân đã có thể tập trung vào việc chống trả cơn bão con tin và tù oan còn lại ở Ba Đình kia. Nguồn: Blogger Đinh Tấn Lực.
......

Cải cách Trung Quốc có tác động VN?

Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc tiếp tục đứng trước câu hỏi về cải tổ Một cuộc họp đặc biệt, Hội nghị trung ương 3 khóa 18 của đảng Cộng sản Trung Quốc, đang được tổ chức từ ngày 9 đến 12/11/2013, nhằm đưa ra “những cải cách sâu sắc, toàn diện”.   “Những sai trái trong hệ thống và cơ chế phải bị loại bỏ” - như một nội dung trong thông báo sau phiên họp do Tổng bí thư Tập Cận Bình chủ trì, cho thấy Trung Quốc đang muốn thực hiện mục tiêu chưa có tiền lệ tính từ thời Cách mạng Văn hóa đến nay.   Những lĩnh vực sẽ phải cải cách mạnh mẽ, gồm thủ tục hành chính, các ngành công nghiệp độc quyền, đất đai, hệ thống thuế và tài chính, quản lý tài sản nhà nước, chính sách mở cửa và cải cách. Theo đó, chính phủ sẽ sử dụng các công cụ thuế và tài chính để giám sát thị trường ở tầm vĩ mô.   Điểm trùng hợp là hội nghị trung ương 3 của Trung Quốc diễn ra cùng thời gian với kỳ họp quốc hội cuối năm 2013 tại Việt Nam. Nội tình Đảng cộng sản và Quốc hội Việt Nam có lẽ cũng đang diễn ra “những cải cách chưa từng có”, kể từ thời điểm ban hành hiến pháp 1992 đến nay. Trong suốt nửa đầu năm 2013, lần đầu tiên chính thể được xem là “toàn trị” ở quốc gia này buộc phải chấp nhận một kiến nghị chưa từng có của gần 15.000 công dân về bãi bỏ chế độ độc đảng cùng một số nội dung liên quan đến tính độc quyền trong các lĩnh vực then chốt. Tuy nhiên cho tới nay, điều được hy vọng về một cuộc cải cách chưa từng có ở Việt Nam lại đang được Ban thường vụ quốc hội hứa hẹn sẽ chưa từng có một thay đổi đáng kể nào, từ điều 4 Hiến pháp về chế độ “đảng lãnh đạo toàn diện” đến các tranh cãi về tên nước, lực lượng vũ trang, tổ chức nhà nước, sở hữu đất đai, kinh tế quốc doanh và độc quyền doanh nghiệp nhà nước… 'Đặc quyền đặc lợi' "Sự đổi thay này không xảy ra vào các nhiệm kỳ chấp chính của những đời tổng bí thứ trước đây như Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào, mà lại xảy ra có phần đột ngột trong khẩu khí “diệt cả ruồi lẫn hổ” của tổng bí thư mới là Tập Cận Bình" Một phác thảo của Hội nghị trung ương 3 tại Trung Quốc đáng được chú ý: Trong lĩnh vực công nghiệp độc quyền, nhà nước sẽ dỡ bỏ kiểm soát đối với việc nhập khẩu dầu khí. Ngành công nghiệp viễn thông sẽ được tái tổ chức nhằm khuyến khích cạnh tranh. Đầu tư vào ngành đường sắt sẽ được đa dạng hóa, ngành điện và hệ thống giá điện sẽ được cải cách. Sau mấy thập niên đóng kín, một số ngành kinh tế “mũi nhọn” như đường sắt, viễn thông, dầu khí và cả ngân hàng đang có cơ may được trút bớt gánh nặng độc quyền sang các thành phần kinh tế khác. Nhưng đáng chú ý hơn, sự đổi thay này không xảy ra vào các nhiệm kỳ chấp chính của những đời tổng bí thứ trước đây như Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào, mà lại xảy ra có phần đột ngột trong khẩu khí “diệt cả ruồi lẫn hổ” của tổng bí thư mới là Tập Cận Bình. Mới vào giữa năm nay, nguyên bộ trưởng đường sắt Lưu Chí Quân của Trung Quốc đã bị kết án tử hình vì tội nhận hối lộ và lạm quyền. Từ tháng 6/2013, Trung Quốc đã hai lần phải giảm quyền trong phê duyệt dự án. Khoảng 310 loại phí do chính quyền địa phương lập nên đã bị xóa bỏ… Trong khi đó, ở Việt Nam vẫn chưa có bất cứ tín hiệu nào về công cuộc xóa bỏ nạn độc quyền và đặc lợi. Sau những phát hiện đột biến vào năm 2011, Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam cùng với Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã bị báo chí và dư luận người dân xem là một trong những thủ phạm đẩy nền kinh tế vào tình trạng tiêu điều do đầu tư trái ngành cùng số lỗ trên 40.000 tỷ đồng, kéo theo các chiến dịch tăng giá xăng dầu không ngừng nghỉ nhằm trút lỗ lên đầu 90 triệu dân chúng, gần 4 triệu đảng viên, 2 triệu công chức và toàn bộ lực lượng vũ trang. Cũng cho tới nay, tấm lưng còng người dân Việt Nam vẫn phải “cõng” đến 432 loại phí - một trong những biểu tả đậm đà nhất nhằm hoàn chỉnh “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. “Nguồn gốc tội ác” Tác giả cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn chưa có cải tổ gì đáng kể về đường lối cầm quyền thời gian qua Một cải cách dự kiến khác cũng rất đáng lưu tâm của Trung Quốc là điều chỉnh cơ chế sở hữu đất đai. Từ nhiều năm qua, tình trạng thu nhập của chính quyền địa phương phụ thuộc tiền bán đất chính là một trong những nguyên nhân gây ra quá nhiều tranh chấp giữa chính quyền và người dân. Khiếu kiện và biểu tình đất đai cũng là một vấn nạn ở Trung Quốc trong nhiều năm qua. Mỗi năm, quốc gia đông dân nhất thế giới này lại xảy ra đến hàng trăm ngàn cuộc khiếu kiện, so với hàng chục ngàn ở Việt Nam. Lần này, ban soạn thảo kế hoạch cho Hội nghị trung ương 3 Trung Quốc đã đề xuất cho phép đất sở hữu tập thể và đất sở hữu nhà nước được gia nhập thị trường đất phi nông nghiệp. Theo đó, nông dân có quyền sở hữu tập thể trong việc bán đất và được đền bù thỏa đáng dựa trên tiêu chuẩn thị trường. Chính quyền địa phương sẽ không còn được mua đất của dân với giá quá thấp rồi bán lại cho các công ty xây dựng hoặc doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh với giá cao hơn nhiều. Cải cách trong lĩnh vực này được đề xuất tiến hành trong 3 giai đoạn: 2013-2014, 2015-2017 và 2018-2020.   Nếu chế độ sở hữu đất đai được mở rộng sang hình thức tập thể ở Trung Quốc, đó sẽ là cơ hội cho chính thể của quốc gia này được gia cố hơn trong con mắt dân chúng. Nhưng ở Việt Nam, sau vụ người nông dân Đoàn Văn Vươn năm 2012, dường như những người cầm quyền vẫn chưa rút ra được một bài học sắc giá nào về lòng dân và câu chuyện nước nâng thuyền nhưng cũng sẽ lật thuyền. Trên toàn quốc vẫn diễn ra không ngớt các cuộc thu hồi đất bất công và dẫn tới những cuộc cưỡng chế thô bạo, đôi khi làm chết dân. Người ta có thể chứng kiến nhan nhản tình trạng này trong mấy năm qua ở Bắc Giang, Nam Định, Hưng Yên, Bắc Ninh, cả Dương Nội thuộc ngoại thành Hà Nội, hoặc Thủ Thiêm ở TP.HCM… Nguồn cơn được nhiều người dân xem là “nguồn gốc tội ác” mà đã gây ra nạn cường hào ác bá cướp bóc đất đai chính là chế độ sở hữu đất đai toàn dân, mà cho đến nay vẫn không được thay đổi, bất chấp quá nhiều kiến nghị của các nhóm trí thức, nhân dân trong nước và ở hải ngoại. Cải cách hay là chết? "Theo giới quan sát, Bộ chính trị Bắc Kinh đang phải đối mặt với nguy cơ sụp đổ, và tương lai đó sẽ không kéo dài quá lâu, từ 7-10 năm tới." Dù vậy, não trạng của những người trong đảng vẫn hầu như chưa thoát khỏi “bóng đè” của “sở hữu đất đai toàn dân.”   Bất chấp việc quyền định đoạt và mua bán phải thuộc về người dân, cho tới nay Ủy ban thường vụ quốc hội vẫn thay mặt cho “tuyệt đại đa số cử tri” để thể hiện chỉ đạo của tổng bí thư về “Cương lĩnh đảng quan trọng hơn hiến pháp”, tức nhiều khả năng sẽ không có bất kỳ thay đổi nào về chế độ sở hữu đất đai trong hiến pháp mới.   Thậm chí, vấn nạn mà dân oan kêu gào khắp nơi về việc thu hồi đất đối với “các dự án kinh tế - xã hội” vẫn đang được duy trì một cách đầy nghi ngờ. Gần đây, những tờ báo trong nước đã phải hé lộ về những vụ “lobby” chính sách nào đó của các nhóm lợi ích bất động sản kết hợp với các nhóm thân hữu chính trị.   Chính đảng cầm quyền ở Trung Quốc sẽ không thể tồn tại nếu không tự thay đổi. Sự thay đổi ấy sẽ phải thể hiện bằng một cuộc cải cách, nếu không đủ xứng đáng làm nên một cuộc cách mạng toàn diện thì tối thiểu cũng phải giúp cho chế độ độc đảng có lý do để kéo dài thêm một thời gian nữa. Theo giới quan sát, Bộ chính trị Bắc Kinh đang phải đối mặt với nguy cơ sụp đổ, và tương lai đó sẽ không kéo dài quá lâu, từ 7-10 năm tới.   Được xem là người bạn “môi hở răng lạnh” và gắn bó với những người đang muốn khuếch trương chủ thuyết “Nhân nghĩa lễ trí tín” của Khổng Tử, đảng cầm quyền ở Việt Nam sẽ phải tự tìm ra một lối thoát cho mình để không phải rước lấy nỗi căm phẫn hồi tố vẫn đang trên đà trào dâng dữ dội của đại đa số dân chúng. “Cải cách hay là chết!” - một số quan chức Việt Nam đã thốt lên bức cảm thầm kín ấy bên ngoài hành lang, ngay sau khi kết thúc những cuộc họp chi bộ và thảo luận nghị trường đầy tính khoa trương và giáo điều. Nguồn: bbc.co.uk/vietnamese
......

Verdienstorden des Landes Nordrhein-Westfalen an Nguyen Van-Ri

Stellvertretende Ministerpräsidentin Sylvia Löhrmann verleiht den Verdienstorden des Landes Nordrhein-Westfalen an Nguyen Van-Ri Die Landesregierung von Nordrhein-Westfalen teilt mit: Ministerin Sylvia Löhrmann hat in Vertretung von Ministerpräsidentin Hannelore Kraft sieben Bürgerinnen und Bürger mit dem Verdienstorden des Landes Nordrhein-Westfalen ausgezeichnet. Im Rahmen einer Feierstunde im Präsidentenschlösschen der Bezirksregierung Düsseldorf übergab die Ministerin diese besondere Auszeichnung und würdigte den Einsatz und die Leistungen aller Ordensträgerinnen und Ordensträger. „Es sind ganz besondere Menschen, die wir hier auszeichnen. Menschen, die Vorbilder sind, weil sie sich für andere einsetzen und weil sie anderen helfen“, so Ministerin Löhrmann. Sie sei davon überzeugt, dass die Werte, für die die geehrten Frauen und Männer stehen, nicht „von oben“ verordnet werden könnten, sondern vorgelebt werden müssten. An die Ausgezeichneten gewandt sagte Sylvia Löhrmann: „Für Sie sind Menschenwürde, Gerechtigkeit, Solidarität, Toleranz und Zivilcourage keine bloßen Worte – Sie erfüllen sie mit Leben.“ Die stellvertretende Ministerpräsidentin hob das außerordentliche Engagement der sieben Bürgerinnen und Bürger für die Allgemeinheit hervor: „Jede und jeder von Ihnen sorgt dafür, dass unsere Gesellschaft nicht nur funktioniert, sondern dass unser Land lebens- und liebenswert ist und bleibt. Ich danke Ihnen von Herzen und wünsche mir, dass Ihr Engagement auch andere motiviert, sich für die Gesellschaft einzusetzen.“   Staatskanzlei Nordrhein-Westfalen / Foto:Ralph SondermannVan Ri Nguyen aus Mönchengladbach Der Verdienstorden des Landes ist im März 1986 aus Anlass des 40. Geburtstages des Landes Nordrhein-Westfalen gestiftet worden. Er wird an Bürgerinnen und Bürger als Anerkennung ihrer außerordentlichen Verdienste für die Allgemeinheit verliehen. Die Zahl der Landesorden ist auf 2.500 begrenzt. In den 27 Jahren seines Bestehens sind bisher knapp 1.500 Frauen und Männer mit dem Verdienstorden des Landes Nordrhein-Westfalen ausgezeichnet worden. Die Ministerin überreichte die Orden an: Heinz Fennekold, Dortmund Philomena Franz, Bergisch Gladbach Staatsminister a. D. Dr. Axel Horstmann, Herford Van Ri Nguyen, Mönchengladbach Professor Dr. Walter Schmitz-Valckenberg, Köln Marga Spiegel, Münster Werner Stump, Kerpen        Die Laudatio im Wortlaut: Staatskanzlei Nordrhein-Westfalen / Foto:Ralph Sondermann     Ministerin Sylvia Löhrmann hat in Vertretung von Ministerpräsidentin Hannelore Kraft sieben Bürgerinnen und Bürger mit dem Verdienstorden des Landes Nordrhein-Westfalen ausgezeichnet. Herr Van Ri Nguyen aus Mönchengladbach Uns alle erschüttern die Bilder der afrikanischen Bootsflüchtlinge der letzten Wochen. Doch bei Van Ri Nguyen müssen die Berichte über die vielen verzweifelten Menschen in den Fischerbooten Erinnerungen wecken, die niemand, der sie durchlebt hat, je vergessen wird – eine traumatische Erfahrung. Anfang der 1980er Jahre flüchtete Van Ri Nguyen mit seiner Familie in einem kleinen Boot, 13 Meter lang, zweieinhalb Meter breit, mit 101 Menschen besetzt, aus Vietnam. Die Flüchtlinge wurden vom deutschen Schiff „Cap Anamur“ gerettet und nach Deutschland gebracht. Seitdem lebt Van Ri Nguyen mit seiner Familie in Mönchengladbach. Und: Seitdem engagiert er sich für seine Mitmenschen. Man sagt über Van Ri Nguyen, er sei zu einer Anlaufstelle vietnamesischer Exilanten geworden, von der rege Gebrauch gemacht wird. Übrigens wurde dank einer Gemeinschaftsaktion geretteter Flüchtlinge unter Anleitung von Van Ri Nguyen das damalige Fluchtboot gesichert und instandgesetzt, so dass es auch weiterhin als Symbol der Freundschaft zu Deutschland stehen kann. Von 1983 an engagierte er sich in besonderer Weise für vietnamesische Katholiken in Deutschland. Seit April 2012 ist Van Ri Nguyen Mitglied des Exekutivkomitees des Bundesverbandes der vietnamesischen Flüchtlinge in Deutschland. Seit vielen Jahren setzt er sich auch für das „Cap Anamur Komitee“ und die „Grünhelme e.V.“ ein, die weltweit Bauprojekte in Krisengebieten errichten. Bis heute bleibt die reibungslose Integration seiner vietnamesischen Landsleute in die deutsche Gesellschaft das Hauptanliegen Van Ri Nguyens. Gleichzeitig ist er darum bemüht, die vietnamesische Identität zu erhalten. Dabei bringt er seine Lebensgeschichte und seine Erfahrungen aus dem eigenen Integrationsprozess mit ein. Bei der Organisation und Durchführung unzähliger Feste und Veranstaltungen versteht es Van Ri Nguyen wie kein anderer, Deutsche und Vietnamesen zusammenzubringen und dabei den interkulturellen Gedankenaustausch zu fördern. Neben all seinem Engagement für die Freundschaft und das interkulturelle Zusammenleben setzt sich Van Ri Nguyen für arme und hilfsbedürftige Menschen in Vietnam und in anderen Schwellen- und Entwicklungsländern ein. Von 2004 bis 2012 war er Vorsitzender der „St. Vincent de Paul Conférence“ der vietnamesischen katholischen Mission im Bistum Aachen, die sich um Menschen in materieller, leiblicher und seelischer Not kümmert. Weltweit hat die Organisation mehr als eine Million Mitglieder. Mit unermüdlichem Elan sammelt Van Ri Nguyen auf Flohmärkten und Pfarrfesten Spenden, die überwiegend Hilfsprojekten im Ausland zugutekommen. So wurde Van Ri Nguyen beispielsweise auf ein Kind in Vietnam aufmerksam, das einen sechs Kilogramm schweren Tumor im Bauch hatte. Van Ri Nguyen ließ dieses Schicksal nicht ruhen. Er sammelte Geld in seiner Gemeinde und schickte es nach Vietnam, um eine Operation zu ermöglichen. Der Eingriff glückte, das Leben des Kindes konnte gerettet werden - nur ein Beispiel seines vielfältigen Engagements. Lieber Herr Nguyen, nehmen Sie von mir den Verdienstorden des Landes Nordrhein-Westfalen entgegen, als Zeichen meiner Anerkennung Ihrer Verdienste für die Menschen in unserem Land und für die unmittelbare Unterstützung so vieler bedürftiger Mitmenschen in Entwicklungsländern. http://www.nrw.de/mediathek/bildergalerie/verleihung-des-verdienstordens...
......

Nguy đâu cứu đấy - Nguy đấy cứu đâu? - Cứu đâu nguy đấy!

Câu phán của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng với hàng ngũ đảng viên ở cuối Hội nghị Trung ương Đảng 8, “Dựng nước đi đôi với giữ nước, giữ nước từ khi nước chưa nguy”, để lại trong đầu người nghe nhiều câu hỏi. (Bác Tổng Lú cứ hay làm thế. Nói những câu nghe lạ mà "kêu", nhưng sau đó dù cố gắng cũng ít ai hiểu được bác muốn nói gì.) Trước hết, bác và các đồng chí của bác không hề dựng nên đất nước này nên nửa câu đầu "dựng nước ĐI ĐÔI với giữ nước" bác đang muốn nói với ai? Không lẽ bác đang nhắn gởi tổ tiên, cha ông đã khai sáng ra đất nước Việt Nam? Tổ tiên đều đã khuất và các ngài có cần lời nhắn nhủ của bác Tổng không? Thế là người nghe "bó tay" ngay về nửa câu đầu, chỉ còn nửa câu sau: "giữ nước từ khi nước chưa nguy". Vừa nghe đến đây, trong lòng nhiều người Việt Nam đã bật ngay lên câu hỏi "nước nguy chưa?" hay "phải đến thế nào mới đủ gọi là nguy?" Ngay tại cửa phòng họp hội nghị Thành Đô năm 1990, chính miệng ủy viên Bộ Chính trị kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch đã đau đớn thốt lên: "Thời kỳ Bắc thuộc mới đã bắt đầu". Lời tiên đoán đã thành hiện thực. Đến ngày hôm nay, Bắc Kinh đã lấy nhiều phần đất biên giới phía Bắc mà 13 năm sau lãnh đạo đảng CSVN vẫn không dám tiết lộ các bản đồ; lấy một vùng biển rộng lớn trong vùng vịnh Bắc Bộ; chiếm vĩnh viễn quần đảo Hoàng Sa; chiếm nhiều đảo thuộc quần đảo Trường Sa; biến nhiều vùng biển xưa nay của Việt Nam thành "vùng tranh chấp" rồi thành "vùng khai thác chung"; chiếm gần trọn biển Đông làm lãnh hải của Tàu và thẳng tay bắn, giết, cướp, đánh, đâm đắm thuyền ngư dân Việt; mở hàng trăm khu biệt lập dọc theo biên giới, trên nóc nhà Đông Dương, và giữa các tỉnh thành; mở sẵn nhiều con đường lớn xuyên biên giới, nối kết các khu biệt lập bằng xe tải vận chuyển "hàng hóa kín" ngày đêm; ... Đối với đại khối dân tộc Việt thì tình hình đã nguy lắm rồi! Nhưng riêng bác Tổng Lú thì ngay cả khi đang ngồi ghế Chủ tịch Quốc hội, giữa lúc hải quân Tàu bắn giết hàng loạt ngư dân Việt, bác vẫn khẳng định: "Tình hình Biển Đông không có gì mới" và cấm đưa chuyện đó vào nghị trình. Và đến giờ phút này bác vẫn bảo: "nước chưa nguy". Bác không chỉ nói bằng lời mà còn có hành động cụ thể, từ việc ký kết cho mở thêm các khu biệt lập, cho xây thêm Viện Khổng Tử, cho các hãng xưởng Tàu trúng thêm nữa và hầu hết các hợp đồng xây dựng lớn trên đất Việt để họ lại có lý cớ mở thêm các khu "công nhân" mới. (Trong lúc lao động Việt vẫn long đong xin việc ở nước ngoài). Tóm tắt là bác Tổng rất an nhàn tự tại với tình hình "nước chưa nguy". Và cách "giữ nước từ khi nước chưa nguy" của bác Tổng là mời thêm Bắc Kinh vào đất Việt, mời nắm thêm các lãnh vực mà họ còn chưa nắm chặt lắm. Nhưng nếu với tâm trạng như thế thì bác Tổng đặt thành vấn đề và Ban Tuyên Giáo chỉ thị cho báo đài đăng lời bác về "nguy" để làm gì? Ngẫm nghĩ mãi và đặt mình vào bối cảnh bác Tổng đang nhắn nhủ đảng viên cấp cao ở cuối Hội nghị Trung ương đảng, người ta mới chợt nghĩ ra ý của bác ấy phải là: "Dựng chế độ đi đôi với giữ chế độ". Và như thế mới giải thích được ý nghĩa và nhu cầu của nửa câu sau: "Giữ chế độ từ khi chế độ chưa nguy". Rõ ràng đây là lời cảnh báo khi bác Tổng nhìn sang Bắc Phi, Libya, Syria, và nước láng giềng Miến Điện. Nói nôm na là chế độ sắp tới mức nguy rồi đấy, đừng để nước đến chân mới nhẩy. Bác Tổng chỉ đồng hóa "chế độ" với "nước" vì thói quen xưa nay và vì không muốn "các thế lực thù địch" biết rõ quá là bác đang lo lắng. Điều gì khiến bác, và hiển nhiên các lãnh tụ khác quanh bác, lo lắng về chế độ đến thế? Phải chăng vì nền kinh tế thị trường theo “định hướng xã hội chủ nghĩa” (do chính bác đặt tên) đã lụn bại đến hết thuốc chữa vì ngân sách cạn kiệt và tham nhũng đã vào đến gan ruột, óc não chứ không phải ghẻ ngoài da như bác trấn an quần chúng đảng viên. Thế giới đã không còn tin tưởng để đầu tư làm ăn lâu dài tại Việt Nam. Hiện nay các hệ thống làm ăn có gốc rễ từ Bộ Chính trị chỉ còn trông cậy vào con đường "cạp đất mà ăn", tức cưỡng chế hết khu này đến vùng khác cho các "quỹ đất". Tập thể dân oan đang lan nhanh khắp mọi miền đất nước và lan đến đủ loại thành phần trong xã hội. Mức độ uất ức cũng tăng nhanh và cao như những tòa nhà đang xây trên đất vừa chiếm đoạt. Phải chăng vì ngày càng đông đảng viên đi theo tiếng gọi lương tâm của "diễn biến hòa bình". Họ bảo nhau rời bỏ đảng nếu còn muốn giữ chút đạo đức với dân và chút danh dự với con cháu. Bên cạnh đó, ngày càng đông hàng ngũ trí thức cả trong và ngoài cơ chế lên tiếng kêu gọi bỏ điều 4 hiến pháp, đòi đa nguyên đa đảng và tiến dần đến thể chế dân chủ vì đó là con đường duy nhất ở đầu thế kỷ 21 để đưa đất nước ra khỏi lạc hậu, bất công và đói nghèo. Họ liệt kê hàng loạt dữ kiện từ khắp thế giới và từ lịch sử cận đại của Việt Nam. Cả hệ thống lý luận của đảng không biết cãi lại thế nào ngoài biện pháp lôi điều luật 74, 79, 88, 258 ra dùng để bịt miệng. Phải chăng vì các trò bạo hành của công an với sự trợ lực của vòng rào côn đồ, các đòn hù dọa bằng "các phiên tòa vài giờ để đọc các bản án vài năm", các thủ thuật bao vây kinh tế, bôi nhọ tên tuổi, dán nhãn khủng bố, ... đều mất nhanh tác dụng tạo sợ hãi. Sự liên kết của người Việt từ khắp 3 miền, từ trong ra tới ngoài nước, từ đời thật đến mạng ảo, và với ra cả công luận quốc tế đang nhanh chóng hóa giải các phương tiện mà chế độ đã đầu tư nhiều tiền bạc, công sức xây dựng trong nhiều thập kỷ qua. Phải chăng vì 800 báo đài và đội quân 80.000 dư luận viên dưới sự điều động của ngành công an mạng đã trở nên vô dụng trước mạng lưới dân báo. Mạng lưới này không chỉ bao gồm những cư dân mạng mà còn có cả hàng triệu người dân và nhiều đảng viên với chiếc máy điện thoại lưu động nhỏ gọn trong tay, sẵn sàng chụp hình những cán bộ ác ôn cướp nhà cướp đất, những cảnh công an đánh dân đòi tiền, những tội ác của những kẻ xả lũ không báo trước, và thu âm từ những câu nói vô giáo dục của các cán bộ phòng tiếp dân đến các bài giảng trơ trẽn của các quan chức lớn cho nội bộ đảng viên. Và còn nhiều lý do để lo lắng khác nữa, nhưng các mối lo đó đều hướng về cùng một cốt lõi. Đó là sự kiện đã trở thành hiển nhiên: hiện nay sự an toàn và nguy hiểm của đảng, của chế độ ngược chiều 180 độ với sự an toàn và nguy hiểm của đất nước, của dân tộc. Suốt từ hội nghị Thành Đô, lãnh đạo đảng càng dựa sâu vào lòng Bắc Kinh để giữ an toàn cho chế độ thì đất nước càng mất thêm chủ quyền và càng bị đẩy đến bờ vực hiểm nguy của đồng hóa rồi đô hộ. Khi lãnh đạo đảng càng ban phát cơ hội tham nhũng cho hàng ngũ cán bộ, công an để thêm nhiều kẻ trung thành bảo vệ chế độ thì càng đông người dân bị đẩy vào cảnh trắng tay, khốn cùng, và ngay cả chết thảm trong đồn công an, trên bàn mổ bệnh viện, dưới các khối nước xả lũ, hay trôi theo sông trên đường tới trường. Khi lãnh đạo đảng càng "giải quyết dứt khoát" (như lời Nguyễn Chí Vịnh) lòng yêu nước của thanh niên Việt Nam để tăng sự an toàn cho chế độ thì dân khí quốc gia càng bạc nhược trong nhiều năm trước mặt. Và còn nhiều những đau xót ngược chiều khác nữa. Nhưng đất nước và dân tộc càng bị đẩy vào tình trạng nguy kịch thì lãnh đạo đảng càng khó biện minh cho khả năng điều hành và bản chất guồng máy cai trị độc tài của họ, càng khó giữ lại tập thể những đảng viên còn lương tâm, và càng khó chận đứng sự phẫn nộ gia tăng liên tục trong quần chúng. Cả 3 yếu tố này đã lần lượt lật sập hết chế độ độc tài quân chủ này đến chế độ độc tài cộng sản khác trên khắp thế giới. Các biện pháp an toàn ngắn hạn cho chế độ đều trở thành cái nguy dài hạn cho chính họ. Do đó, có thể nói chắc rằng: nếu tiếp tục con đường dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác-Lê, sinh mạng của cả đất nước lẫn đảng CSVN đều trở nên "chỉ mành treo chuông". Liệu còn có ai trong guồng máy nghiên cứu chính trị, tư tưởng của đảng có thể mách nước cho bác Tổng Lú không? Chỉ có con đường dân chủ mới trả lời được câu hỏi "Nguy đấy Cứu đâu?" và mới tránh được cái vòng lẩn quẩn "Cứu đâu Nguy đấy!"
......

Phản đối VN và một số quốc gia khác ứng cử vào Hội Đồng Nhân Quyền LHQ

Phản đối việc các nước Algeria, Trung Quốc, Cuba, Jordan, Nga, Saudi Arabia và Việt Nam ứng cử vào Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc Kiến Nghị Chung gởi Đại Sứ Hoa Kỳ Samantha Power và Cao Ủy Đối Ngoại Liên Hiệp Âu Châu Catherine Ashton Thưa quý vị, Chúng tôi ký tên dưới đây là những dân biểu quốc hội, những nhà đấu tranh cho nhân quyền và những tổ chức phi chính phủ, kêu gọi quý vị hãy công khai phản đối tư cách ứng viên của các nước Algeria, Trung Quốc, Cuba, Jordan, Nga, Saudi Arabia, Việt Nam vào Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, trong cuộc tuyển cử vào tháng 11 năm 2013. Chúng tôi kêu gọi quý vị có hành động để hủy bỏ những ứng viên rõ ràng là không xứng đáng này, có nguy cơ đe dọa tới uy tín của Hội Đồng - và của toàn thể Liên Hiệp Quốc. Theo Nghị Quyết 60/251 của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, ứng viên vào Hội Đồng Nhân Quyền phải là những quốc gia "duy trì được tiêu chuẩn cao nhất trong việc cổ súy và bảo vệ nhân quyền." Tuy nhiên, ai cũng biết rằng, các nước Algeria, Trung Quốc, Cuba, Jordan, Nga, Saudi Arabia và Việt Nam đều không hội đủ những tiêu chuẩn căn bản của thành viên Hội Đồng. Những nước này đều có hồ sơ xấu, nếu không nói là cực kỳ tồi tệ, trong việc bảo vệ nhân quyền trong nước, và trong việc cổ động cho nhân quyền tại Liên Hiệp Quốc. Thay vì trao cho những chính phủ phi dân chủ này tầm ảnh hưởng lên những quyết định quan trọng về nhân quyền, chúng tôi kêu gọi quý vị hãy đưa ra nghị quyết tại Liên Hiệp Quốc, buộc những quốc gia này phải chịu trách nhiệm, và lên án những vi phạm nhân quyền thô bạo và có hệ thống. Im lặng là đồng lõa. Vì lợi ích của hàng triệu triệu người trên thế giới đang cần một hội đồng nhân quyền quốc tế đáng tin cậy và hữu hiệu, xin đừng lặng im. Trân trọng, Edward McMillan-Scott, MEP European Parliament Vice-President for Human Rights & Democracy Baroness Deech Member of the British House of Lords Academic, lawyer, bioethicist, former Principal of St Anne’s College, Oxford Honourable Irwin Cotler, MP Member of Canadian Parliament, Liberal Party Critic for Rights & Freedoms, International Justice Former Justice Minister & Attorney General Dr. Mantas Adoménas, MP Lithuania Michael Danby, MP Australia Emanuelis Zingeris, MP President of the Parliamentary Forum for Democracy, Lithuania Matyas Eörsi Secretary General of the Parliamentary Forum for Democracy, former MP, Hungary Egidijus Vareikis, MP Lithuania Bi-khim Hsiao Member of the Legislative Yuan, Taiwan Hans van Baalen Member of the European Parliament United Nations Watch Hillel Neuer, Executive Director Switzerland Human Rights Foundation Thor Halvorssen, President Initiatives for China Yang Jianli, President Council for a Community of Democracies Robert LaGamma, President The Gulf Institute Ali AlAhmed Mothers and Women against Repression Sylvia Iriondo, President M.A.R. Por Cuba Viet Tan Do Hoang Diem, Chairman Cuban Democratic Directorate John Suarez, International Secretary United Towns Agency for North South Cooperation Simonne Piazzini, Secretaire Generale Associated Country Women of the World Sharon Hatten, UN Committee Chair Consumers Protection Association Lehlohonolo Chefa Lesotho Gram Bharati Samiti (GBS) Bhawani Shanker Kusum, Executive Director India Christian Coalition Charles Mwape, President Zambia TicinoTibet Tashi Albertini, President Gender Empowerment and Development (GeED) Tilder Kumichii, Programme Coordinator Cameroon Consorcio desarrollo y Justicia Carlos E . Tinoco Venezuela Nguồn: UN Watch
......

Wo landen die acht Millionen Vietnam-Euro aus Luxemburg?

Tám triệu Euro Luxemburg gửi qua Việt Nam đâu rồi? Hoffentlich nicht im Portemonnaie von Lokalfürsten! Mong chúng không lọt vào túi tiền của các lãnh chúa địa phương! Weit über 100 Millionen Euro hat Luxemburg nach Vietnam geschickt! Und jetzt wandern wieder acht Millionen dorthin! Doch selbst wer genau nachliest, versteht nicht, in was da investiert wird! Denn die Summen verstecken sich hinter Phrasen wie „Finanzierung der Systeme im Dienste der sozio-ökonomischen Einkünfte“! Das kann alles bedeuten. Aber auch nichts! Von 2002 bis 2010 hat Luxemburg schon massiv geblecht! 82 Millionen Euro! Für die Entwicklung des Landes. Dann wurden noch mal 42 Millionen Euro bereitgestellt. Für die folgenden fünf Jahre! Luxemburg đã chuyển hơn 100 triệu Euro qua Việt Nam! Nay lại còn chuyển thêm 8 triệu nữa! Ngay cả những ai đọc kỹ lại cũng không hiểu số tiền này được đầu tư chỗ nào! Vì các khoản tiền này được cất lén trong các cụm từ (mơ hồ) như „ Nguồn tài chánh phục vụ cho các thu nhập có tính cách xã hội kinh tế“! Ai muốn hiểu gì thì hiểu, hiểu sao cũng được! Từ 2002 đến 2010 Luxemburg đã trả những khoản tiền khổng lồ! 82 triệu Euro! Để mở mang đất nước. Rồi bây giờ còn cung cấp thêm 42 triệu Euro nữa cho 5 năm sắp tới! Aber Luxemburg durfte nie allein entscheiden, was mit dem Geld passiert! Die kommunistische Regierung hat darauf bestanden, dass Luxemburgs Entwicklungshilfe in ihren Fünfjahresplan passt. Jetzt fließen noch mal acht Millionen an den Pazifik. Für die Verbesserung von Kapazitäten der Verwaltung. Was immer das auch heißt! Noch ein Thema: Milderung der Armut auf lokalem Niveau. Der einzige verständliche Punkt der neuen Geld-Tranche. Das Geld soll in drei Küstenkommunen ankommen. Doch Luxemburg muss aufpassen! Geld, das in die „Finanzierung der Systeme im Dienste der sozio-ökonomischen Einkünfte“ fließt, kann schnell verschwinden! Es wäre nicht das erste Mal, dass Entwicklungshilfe im Säckel einiger lokaler Bosse verschwindet! Luxemburg không bao giờ được phép đơn thương quyết định xử dụng số tiền này làm gi!                                                                              Chính phủ cộng sản khẳng định tiền viện trợ của Luxemburg được dùng cho kế hoạch ngũ niên của họ.                                                            Bây giờ lại thêm tám triệu Euro trôi qua hướng Thái Bình Dương (ngụ ý là qua Việt Nam) để cải tiến công xuất hành chánh. Lại muốn hiểu sao thì hiểu.                                                                 Thêm một đề tài: Giảm nghèo ở cấp địa phương, điểm độc nhất có thể hiểu được trong vụ chuyển tiền. Số tiền được trao cho cho 3 vùng ven biển. Luxemburg nên cẩn thận! Tiền dùng cho „ Nguồn tài chánh phục vụ cho các thu nhập có tính cách xã hội kinh tế“ có thể biến mất rất nhanh! Không phải đây là lần đầu tiên tiền viện trợ viện trợ biến mất trong kho bạc của một số quan lớn địa phương!                                                ( phần trong ngoặc kép dùng để giải thích ý của tác giả bài báo) http://www.luxprivat.lu/News/Wo-landen-die-acht-Millionen-Vietnam-Euro-a...  
......

Chức sắc tôn giáo phản đối NĐ 92 vi phạm quyền tín ngưỡng

Ngày 04.10.2013, các chức sắc tôn giáo tại Việt Nam đưa ra một bản lên tiếng về pháp lệnh tôn giáo năm 2004 và nghị định áp dụng pháp lệnh năm 2012. Bản lên tiếng cho rằng do chủ trương quyền lực toàn trị độc tài, đảng và chế độ Cộng sản luôn coi tôn giáo là kẻ thù, kẻ thù số một, cần phải tiêu diệt. Để thực hiện việc này, nhà cầm quyền Cộng sản dùng bạo lực vũ khí và bạo lực hành chánh. Bạo lực hành chánh hiện thời được thể hiện qua Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo số 21 do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày năm 2004 và Nghị định áp dụng Pháp lệnh số 92 ban hành năm 2012 nhằm siết chặt hơn trong việc kiểm soát các giáo hội. Cả hai văn kiện pháp lý này muốn khống chế, kềm tỏa 5 phương diện hay 5 yếu tố của tôn giáo là quy chế pháp lý, nhân sự, hoạt động, tài sản và quan hệ quốc tế. Không công nhận tư cách pháp nhân, nhà cầm quyền chỉ cho các tôn giáo và các tổ chức thuộc tôn giáo phải xin công nhận để được hoạt động với những điều kiện rất khắt khe. Nhiều Giáo hội như Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Phật giáo Hòa Hảo Thuần túy, Cao Đài Bảo thủ Chơn truyền và nhiều Hệ phái Tin lành như Mennonite hoặc Lutheran Việt Nam bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, do đó bị bách hại dữ dội. Trong lúc đó, nhà cầm quyền lại nặn ra nhiều giáo hội quốc doanh hoặc tổ chức quốc doanh để thay thế hay lũng đoạn các Giáo hội chính truyền hòng lừa gạt nhân dân và quốc tế, dùng đạo chống lại đạo. Từ những phân tích trên, Các Chức sắc Tôn giáo Việt Nam tuyên bố không chấp nhận pháp lệnh nói trên, và đòi hỏi nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam phải bãi bỏ pháp lệnh này, cùng thả mọi chức sắc, tu sĩ, tín đồ đang bị cầm tù vì đã đấu tranh cho tự do tôn giáo hay dân chủ nhân quyền; trả lại mọi tài sản tinh thần là tự do và độc lập cho mọi tôn giáo; trả lại mọi tài sản vật chất là đất đai, cơ sở cho mọi Giáo hội. http://www.youtube.com/watch?v=sOqrIva8TZg  
......

Quảng Ngãi: Giấc mơ hiệu ứng đám đông dân chúng

Lời hứa Trong một hành động hy hữu tính từ cuộc “nổi dậy” của nông dân Thái Bình vào năm 1997, chính quyền tỉnh Quảng Ngãi đã quyết định thỏa mãn gần như toàn bộ yêu sách của ngư dân huyện Tư Nghĩa thuộc địa phương này. Chính quyền địa phương bị tố cáo triển khai dự án nạo vét, cho doanh nghiệp nước ngoài khai thác cát ở khu vực Cửa Đại sông Trà Khúc gây sạt lở nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến n cư và sinh kế của dân. Một quan chức huyện Tư Nghĩa đã chính thức thông báo sẽ hỗ trợ 125 tàu cá của ngư dân xã Nghĩa An và Nghĩa Phú bị ảnh hưởng với tổng số tiền hơn 2,5 tỉ đồng. Riêng 583 ngư dân đi trên các tàu cá không ra khơi được vì luồng lạch bị bồi lấp, mỗi ngư dân được hỗ trợ 2 triệu đồng. Đáng ngạc nhiên là giữ lời hứa của mình, chỉ sau 4 ngày từ thời điểm cuộc biểu tình của ngư dân nổ ra, chính quyền địa phương bắt đầu chi trả tiền hỗ trợ cho các chủ tàu cá và ngư dân. Chiếc tàu đánh cá đầu tiên trong tổng số trên 200 tàu ngư dân bị mắc kẹt cũng đã ra tới biển sau nhiều ngày bị ngáng đường do nạn bồi lấp cửa sông - hậu quả của việc nạo vét, tận thu cát nhiễm mặn của hai doanh nghiệp khai thác cát tại đây. Có thể ghi nhận, đây là lần hiếm hoi một chính quyền địa phương ở Việt Nam không nuốt lời. Từ chức Một bài tường thuật của báo Thanh Niên cho biết “vụ Quảng Ngãi” bắt đầu từ chuyện hút cát để khai thông cửa biển và tận thu số cát nhiễm mặn tại sông Trà Khúc. Theo giấy phép mà tỉnh Quảng Ngãi cấp cho hai doanh nghiệp khai thác cát tại cửa sông này, sẽ có khoảng 40 triệu mét khối cát được “tận thu” để xuất khẩu. Cửa sông Trà Khúc cũng sẽ được khơi thông, tạo điều kiện để tàu bè của ngư dân ra vào dễ dàng. Thế nhưng, mới khai thác khoảng 3 triệu mét khối, mối an nguy của làng chài nơi cuối sông Trà bắt đầu xuất hiện. Hàng chục ao tôm của nông dân bị sóng đánh sập, cuốn luôn ra biển. Sóng cũng đã lan đến làng chài Nghĩa An, những cây dương giữ làng có tuổi đời 30-40 năm bắt đầu bật gốc. Hàng trăm tàu thuyền không những không được ra vào thông suốt như lời hứa của doanh nghiệp mà còn bị mắc kẹt do cửa sông Trà Khúc đã bị bít hẳn. Dân đã phản ảnh với tỉnh về thực trạng nguy hại này. Lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi đã tiến hành kiểm tra thực tế và ra quyết định tạm đình chỉ việc khai thác cát từ giữa tháng 9/2013, đồng thời yêu cầu các doanh nghiệp nhanh chóng khắc phục sự cố. Sự việc cứ tưởng như thế là đã ổn thì đùng một cái, nơi cửa biển cuối sông Trà lại xuất hiện những chiếc sà lan cùng con tàu vận tải đầy khả nghi. Một mất mười ngờ, dân Nghĩa An cho rằng các doanh nghiệp đã bội tín, tiếp tục hút cát. Họ tập hợp nhau kéo lên huyện Tư Nghĩa để phản đối, gây tắc nghẽn quốc lộ 1A trong nhiều giờ liền. Đích thân bí thư tỉnh ủy Quảng Ngãi là Võ Văn Thưởng đã phải cấp tốc đến hiện trường để giải thích, thuyết phục đám đông. Cuộc đối thoại của lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi với hàng ngàn người dân Nghĩa An ngay sáng hôm sau ngày xảy ra sự cố đã dẫn tới những cam kết của chính quyền với dân. Theo đó, sau 4 ngày, cửa sông Trà sẽ được khơi thông; tiến hành đền bù thiệt hại cho ngư dân do tàu không ra khơi được; yêu cầu doanh nghiệp phải khẩn trương xây bờ kè để chống tái sạt lở; và điều cuối cùng, tỉnh sẽ chấm dứt “tận thu cát nhiễm mặn” nếu như việc nạo vét cửa sông tiếp tục đe dọa làng chài… Thậm chí, chủ tịch tỉnh này còn cam kết “sẽ từ chức” nếu không thực hiện đúng lời hứa.Thanh Niên cũng là tờ báo thường dành thiện cảm đặc biệt cho ông Võ Văn Thưởng. Cả tờ báo này và ông Thưởng đều có liên quan rất thân thuộc đến hệ thống trung ương Đoàn - vốn được xem là “cánh tay mặt của Đảng”. Một ngàn! So với quá nhiều hứa hẹn của giới quan chức chính phủ, các bộ ngành được trình diễn trong các kỳ họp quốc hội, họp tổng kết ngành hay họp báo, hiển nhiên tỉnh ủy và chính quyền Quảng Ngãi đã tạo ra một nét dị biệt bằng vào chức trách “đày tớ” mới đây. Lời hứa của họ còn được người dân cho rằng có thể “nghiệm thu” được, lồng trong bối cảnh nhiễu nhương quan trường và mị dân quan chức quá phổ cập như hiện nay. Câu hỏi còn lại là liệu sự thành tâm của nhà chức trách Quảng Ngãi đã đủ chín để dẫn tới kết quả được xem là khả quan cho bà con ngư dân? Hay còn nguyên do nào khác?Tất nhiên, không thể phủ nhận vài cố gắng của Bí thư Võ Văn Thưởng trong nhiệm vụ “an dân”, sau quá nhiều ví dụ xa dân của chính quyền tỉnh này. Là một tỉnh thuộc diện nghèo của quốc gia, Quảng Ngãi cho đến nay vẫn chưa tự nhấc mình khỏi danh sách nguy hiểm về mặt bằng thu nhập và mặt bằng dân trí. Địa phương này cũng là nơi mà những nguồn tài nguyên còn sót lại vẫn tiếp tục bị khai thác ồ ạt đến mức cạn kiệt, là một trong những địa phương mà giới quan sát bình luận “ăn cả thịt của mình”. Đời sống ngày càng khốn khó, hố phân cách thu nhập ngày càng làm cho người dân khó kế sinh nhai và phát sinh bất mãn. Bất mãn sinh ra phản ứng, phản ứng lại bột phát biểu tình. Vụ biểu tình của ngư dân huyện Tư Nghĩa khá giống với những cuộc biểu tình do quá bức bối trong các năm 2010, 2011, 2012 và 2013 của nông dân mất đất ở Bắc Giang, Nam Định, Hưng Yên, Bắc Ninh, Dương Nội… Tuy nhiên, dấu ấn nổi bật của đám đông Tư Nghĩa là số lượng người biểu tình. Nếu các cuộc tuần hành của nông dân mất đất thông thường chỉ tập hợp được vài ba trăm đến nửa ngàn người, thì con sóng làm tắc nghẽn quốc lộ 1A ở Quảng Ngãi vừa qua đã lên đến hàng ngàn. Rõ ràng, cuộc biểu tình mang tính quy nạp đó còn vượt hơn nhiều so với điều thường bị xem là “tụ tập đông người” ở Việt Nam. Thậm chí người dân còn bắt giữ 3 công nhân. Nhưng vì sao đã không xảy ra hành động trấn áp, cô lập hoặc đàn áp của lực lượng cảnh sát Quảng Ngãi - một hiện tượng rất thường thấy ở đất nước của vô số điều luật 258? Có một mối liên hệ không thể bỏ qua giữa đám đông ở Quảng Ngãi với đám đông biểu tình đòi trả tự do của giáo dân tại Hà Nội vào đầu tháng 10/2013, bên phiên tòa xử án luật sư Lê Quốc Quân. Cuộc biểu tình rất quy củ, ôn hòa nhưng không thiếu quyết tâm của người công giáo đã làm cho chính quyền và công an Hà Nội bất lực. Thay cho hành động cô lập, cách ly và bắt bớ như đối với những cuộc biểu tình chống Trung Quốc hoặc với dân oan mất đất, cảnh sát Hà Nội đã im lặng giữ trật tự không kém thua không khí nghiêm túc của giáo đoàn. Tuy nhiên, đến phiên tòa xử án Đinh Nhật Uy ở Long An vào cuối tháng 10/2013, tình thế đã khác hẳn. Chỉ vài chục biểu tình viên - một con số không đủ lớn để một lực lượng công an cùng dân phòng gấp vài chục lần có thể dễ dàng trấn áp. Và trấn áp đã thực sự xảy ra. Dù chỉ câu lưu những người bị bắt giữ trong ít tiếng đồng hồ, song hành động tay chân và dùi cui của giới thi hành công vụ lại trở nên nổi tiếng nhất. Cú ra tay dễ dãi của chính quyền Long An cho phép người biểu tình rút ra một bài học thấm thía: bất cứ cuộc biểu dương nào dưới một trăm người cũng đều có thể bị giải tỏa một cách dễ dàng. Những tiền lệ tiếp nối Dù từ năm 1992 đến nay, hiến pháp Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chưa bao giờ được làm rõ nghĩa hơn bởi Luật biểu tình, và đến giờ cũng chưa một cơ quan nào thành tâm nhận ra cần cung cấp thứ quyền tối thiểu đó cho người dân, song suy thoái kinh tế cùng các nhóm lợi ích lộng hành bất chấp vẫn là chất xúc tác mạnh mẽ nhất tạo ra nhiều cuộc biểu tình không theo công thức. Xã hội Việt Nam đang ở vào giai đoạn mà sức mạnh đám đông được khởi nguồn từ con số, dù chỉ là con số mang tính ô hợp. Khi số người biểu tình chạm mốc một ngàn người hoặc hơn, chính quyền buộc phải e ngại. Những phương án phòng chống biểu tình, bạo động được thiết kế và tập dượt kỹ lưỡng trước đó sẽ khó có tác dụng, cũng chẳng mấy ai đủ can đảm để đưa chế độ cưỡng bức vào thực thi. Trước đám đông và đặc biệt là một đám đông có yêu sách chính đáng và có sức chịu đựng bền vững, ý chí trấn áp của chính quyền trở nên mệt mỏi hơn. Hiệu ứng đám đông cũng đã bắt đầu lan tỏa, từ nông thôn miền Bắc vào miền Trung và bắt đầu có tác dụng đối với bà con ngư dân Quảng Ngãi. Tiền lệ lại tạo ra tiền lệ. Không thể cho rằng những cuộc tuần hành và biểu tình của nông dân và giáo dân ở các vùng nông thôn miền Bắc, đặc biệt là cuộc biểu dương lực lượng của giáo dân Mỹ Yên ở Nghệ An vào tháng 9/2013, đã không có tác động gì đến nhận thức và phương pháp hành động của đám đông biểu tình ở Quảng Ngãi. Trong tình thế quá khó xử như thế, điều dễ hiểu là chính quyền một số địa phương không muốn để xảy ra xung đột và đổ máu, đặc biệt trong bối cảnh xã hội đang tiềm ẩn nhiều ngòi nổ luôn có thể bùng phát, còn hoàn cảnh đối ngoại cũng không cho phép các chính quyền địa phương dùng luật rừng để qua mặt Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị. Nhưng trên tất cả các chính quyền địa phương, giới lãnh đạo trung ương không muốn dính dáng vào bất cứ trách nhiệm nào đối với các cuộc biểu tình đông người, nhất là khi chuyện biểu tình sẽ làm xấu hình ảnh của Nhà nước Việt Nam trong con mắt cộng đồng quốc tế, trong đó giấc mơ một cái ghế của Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc vẫn chưa hoàn toàn tan biến. Có lẽ đó là một trong những lý do chính để với tư cách là một nhân sự cấp cao của trung ương được “biệt phái về cơ sở”, Bí thư Quảng Ngãi Võ Văn Thưởng đã lần đầu tiên thể hiện một hành động chỉ đạo có ý nghĩa rất tình cảm cho dân chúng và có thể cho cả chính ông. Riêng với những nhân tố được xem là sáng giá như ông Thưởng, thời gian về cơ sở thường chỉ 2-3 năm. Chỉ vài năm nữa là đến đại hội 12 của Đảng. Vụ Quảng Ngãi chính là cơ hội sáng giá không kém để những người như ông thể hiện sự cống hiến cho nhân dân - nếu quả có cái tâm, hoặc tạo nên tiếng vang trong lòng cấp trên để tiếp tục chinh phục vị thế chính trị cao hơn. Hoặc cả hai… Sự đan xen phức hợp về tâm lý trong não trạng từ chính thể trung ương xuống các cấp chính quyền địa phương như thế, vô hình trung, sẽ khiến cho tiền lệ về những đám đông biểu tình trở nên dày đặc hơn và còn có thể hiệu quả trong thời gian tới. Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả. Nguồn: voatiengviet.com
......

Khi người cộng sản mất phương hướng

Trong bài viết “Ba nguồn gốc và ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác”, Lênin viết: “Trái lại, tất cả thiên tài của Mác chính là ở chỗ đã giải đáp được những vấn đề mà tư tưởng tiên tiến của nhân loại đã nêu ra. Học thuyết của ông ra đời thành sự thừa kế thẳng và trực tiếp học thuyết của các đại biểu xuất sắc nhất cho triết học, chính trị kinh tế học và chủ nghĩa xã hội. Học thuyết của Mác là học thuyết vạn năng vì nó chính xác, nó hoàn bị và chặt chẽ; nó cung cấp cho người ta một thế giới quan hoàn chỉnh, không thoả hiệp với bất cứ một sự mê tín nào, một thế lực phản động nào, một hành vi nào bảo vệ áp bức của giai cấp tư sản.”(Giáo dục", số 3, tháng Ba, 1913).   Đúng 100 năm sau, Chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ còn là mớ kinh sách vẫn được dùng để tụng niệm tại một vài nước châu Á. Khi mà các đệ tử môn phái này đang rã rời, buồn ngủ, mơ màng những bữa tiệc linh đình và tìm cách hưởng thụ những món tư bản khổng lồ cướp được nhờ địa vị thống trị của mình, dưới cái nhãn mác cách mạng và ô che của cái Học thuyết Mác – Lênin “vĩ đại” danh cho giai cấp vô sản kia. Những thực tế đang diễn ra, đã chứng minh rằng những điều Lênin đã viết kia, đã ca tụng và lăng xê trên, chỉ là những món bánh vẽ và là sản phẩm của những sự hoang tưởng dưới sự kiểm chứng của lịch sử. Họ đã phần nào thành công trong một giai đoạn lịch sử, đã ru ngủ cả chục triệu, thậm chí là hàng trăm triệu người. Nhưng họ đã thất bại trong một quá trình lịch sử, cái lý thuyết huyễn hoặc đó đã nhanh chóng bộc lộ những vô lý và tự hủy. Có thể nói, sự thất bại của Chủ Nghĩa Cộng sản không phải ở chỗ thực hành, mà ngay cả phần lý thuyết cũng đã được thực tế chứng minh là: hão huyền và ảo tưởng. Việt Nam là một trong ba địa chỉ hiếm hoi còn lại trên thế giới đang tiếp tục bám víu vào thứ hỗn mang này. Hai phần ba thế kỷ bám trụ, đi theo, sáng tạo, kiên định… đủ cả mọi ngôn từ và tốn máu xương hàng triệu người, từng phần lãnh thổ đất nước thì thực tế xã hội hôm nay đã chứng minh được điều gì? Thực tế của “Ba cuộc cách mạng” Thay cho “một nền sản xuất có năng suất cao hơn hẳn so với nền sản xuất TBCN” thì năng suất lao động của “phương thức sản xuất XHCN” đã trở thành chuyện hài hước nếu đem so sánh. Thay cho mối quan hệ sản xuất tiên tiến, thì phương thức này đã đẻ ra một mối quan hệ sản xuất sử dụng 30% số người làm việc và 30% số công chức sáng cắp ô đi, tối cắp về. Đó là những kết luận của quan chức, báo chí Việt Nam tại Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam hôm nay. Thay cho mối quan hệ sản xuất lấy giai cấp công nhân làm trọng tâm, mọi thành phần được hưởng thụ thành quả lao động xã hội, thì sản phẩm xã hội tập trung vào một đám tư bản đỏ là đảng viên Cộng sản. Chức năng của đám này là bòn rút, tích lũy, phá phách sản phẩm xã hội và là giặc nội xâm của đất nước. Với mối quan hệ, trình độ sản xuất và năng suất lao động đó, thì đời sống vật chất mà được nâng cao để dần tiến tới “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” là chuyện điên rồ. Ngoài ra, cuộc cách mạng về khoa học kỹ thuật được coi là “then chốt” thì kết quả thảm hại thay. Cả đất nước không tìm nổi một cơ sở sản xuất chiếc đinh ốc đảm bảo tiêu chuẩn quốc tế để có thể đảm đương vai trò đại lý sản xuất cho một hãng tư bản con con. Mọi thành quả kỹ thuật của “Phe Xã hội Chủ nghĩa” đều là sự học mót hoặc ăn cắp của “bọn tư bản giãy chết”.  Có lẽ, cần phân tích sâu sắc hơn về cuộc cách mạng thứ 3: Cuộc cách mạng Tư tưởng và văn hóa - Một cuộc phá hủy nền văn hóa lâu đời và niền tin tôn giáo Khi đảng cộng sản hò hét “Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên Chủ nghĩa Xã hội (CNXH), bằng ba cuộc Cách mạng” thì cả nước rùng mình bởi những trận càn vào tâm linh, tôn giáo, văn hóa cội nguồn. Đặc biệt nhất là trong ba cuộc cách mạng, cuộc “Cách mạng Tư tưởng và văn hóa” có chiều sâu nhất đánh vào tâm tư, suy nghĩ, lối sống, đạo đức và tín ngưỡng tôn giáo của dân tộc. Mở đầu là cuộc Cải cách ruộng đất, một chiến dịch làm tan rã quan hệ sản xuất và nền văn hóa ngàn đời của dân tộc Việt Nam. Bên cạnh việc chiếm đoạt công cụ sản xuất, tài sản ruộng vườn của “giai cấp địa chủ”, chiến dịch này còn làm băng hoại những nét văn hóa truyền thống mà để có nó, người dân Việt phải mất hàng ngàn năm chắt lọc và xây dựng. Cuộc “cải cách” đó thực hiện phương châm “Trí, phú, địa, hào đào tận gốc, trốc tận rễ”, nghĩa là mọi thành phần ưu tú của dân tộc đều sẽ bị tiêu diệt. Bên cạnh việc một tầng lớp người dân bị mất tài sản, thì tư duy cướp tập thể, cướp trắng thành quả lao động bao đời, tư duy bất chấp sự công bằng xã hội xóa bỏ sự lương thiện của con người được công khai du nhập, khuyến khích dưới cái tên mỹ miều: Cách mạng vô sản. Tiếp đến là cuộc cách mạng vào văn hóa, văn học, báo chí… những công cụ trên mặt trận tư tưởng. Vụ Nhân Văn giai phẩm, hàng loạt tác phẩm bị lên án, thủ tiêu, hàng loạt tác giả bị cầm tù, đày đọa, thậm chí là tù đày đến chết. Thế rồi, hàng loạt chùa chiền, miếu mạo, nhà thờ, thánh thất bị triệt hạ không thương tiếc. Khi đó, Đức Chúa, Đức Phật, Thánh, Thần… đều được xếp vào thành phần phản động. Một cuộc “cách mạng vô sản” được thực thi nhằm trục xuất Chúa Trời ra khỏi vũ trụ, trục xuất tư hữu ra khỏi xã hội, trục xuất thần thánh ra khỏi đời sống và trục xuất linh hồn ra khỏi con người. Tất cả để phục vụ một cuộc “cách mạng văn hóa và tư tưởng”. Điển hình, là những phe nhóm cộng sản vô thần được đưa vào chùa chiền, lập căn cứ, nhen nhóm các lực lượng vũ trang, chém giết… những hành động hoàn toàn đi ngược lại với chùa chiền là nơi tu tâm phát đức. Còn những chùa chiền khác không có tác dụng cho những việc đó thì bị đập bỏ không thương tiếc.   Điển hình là những thánh thất, nhà thờ, đền Thánh... nếu không được sử dụng cho cuộc bạo lực cách mạng, nếu không bị đập bỏ, thì hạn chế đến mức tối đa dẫn tới tự tiêu diệt. Tiến hành chiếm, cướp, lấn lướt và chèn ép đến mức có thể nhằm trục xuất khỏi đời sống xã hội. Đặc biệt, thay vì những nơi tôn nghiêm, thờ tự, nêu cao tình yêu thương, nhà cầm quyền Cộng sản dùng Nhà thờ, thánh thất làm “Nơi ghi dấu tích tội ác”. Hậu quả là gì? Một đất nước kiệt quệ, một xã hội hỗn loạn và băng hoại, không có trật tự, con người xử sự với nhau như dã thú. Đạo đức xã hội suy đồi, những hiện tượng con đánh cha, trò đánh thầy, con chửi bố mẹ… là chuyện cực hiếm trong văn hóa đất nước trở thành chuyện thường ngày. Một xã hội ích kỷ và vô cảm, tệ nạn và đồi trụy được hình thành và dẫn đầu bởi chính cái gọi là “Đội ngũ ưu tú của giai cấp công nhân và dân tộc”. Năm 1977, Liên Xô – được coi là thành trì của phe XHCN - tuyên bố đã hoàn thành giai đoạn xây dựng Chủ Nghĩa xã hội để bắt đầu xây dựng Chủ Nghĩa Cộng sản. Thế mà chỉ 12 năm sau, cả thành trì xây dựng bao công sức máu xương kia đổ cái rụp không thể nào chống đỡ. Sau mấy chục năm khẳng định con đường quá độ đi lên Chủ Nghĩa xã hội mà “đảng và bác đã chọn” hộ dân tộc Việt Nam là con đường hiện thực, duy nhất đúng đắn, dần dần các lãnh đạo cộng sản mới thừa nhận sự u mê và hão huyền mơ hồ khi đặt niềm tin vào đó. Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh còn mơ hồ theo kiểu “năm ăn năm thua” rằng: “Chủ nghĩa xã hội sẽ dần dần sáng tỏ”. Còn mới đây Tổng bí thư Đảng Cộng sản ngao ngán thổ lộ: “Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa”. Nghĩa là, cứ đi hết thế kỷ này theo con đường quá độ và yên chí là chưa có cái Chủ nghĩa xã hội, còn khi đến đó, nó là cái gì thì sẽ biết. Nếu là quả núi thì leo lên ngồi, nhỡ không may là hố sâu, thì cả dân tộc cứ xuống đó mà lặn. Niềm tin yếu ớt vào “ngày mai tươi sáng của Chủ nghĩa xã hội” đã nhanh chóng rơi rớt ngay chính từ những người lãnh đạo, từ chính những đảng viên cộng sản. Hàng loạt cán bộ cộng sản cao cấp đến cấp thấp, những người đã tự nhận, được tôn xưng là người cộng sản gộc đã từ bỏ tư tưởng của mình cách này cách khác, bằng hình thức này hoặc hình thức khác, khi thì cá nhân, khi thì tập thể, khi thì một nhóm, khi cả hệ thống. Điều này rất dễ thấy. Với thể chế đảng lãnh đạo tuyệt đối, luôn nghĩ thay, định hướng thay, lựa chọn thay cho người dân, do vậy khi hàng ngũ đảng viên, lãnh đạo mất phương hướng, thiếu niềm tin, thì xã hội cũng khủng hoảng niềm tin là điều không lạ. Vì vậy, nó tạo nên sự thất vọng ở ngay chính những thành phần cộng sản, tạo nên sự hoang mang và đó là cơ hội cho thói mê tín, dị đoan phát triển. Bên cạnh đó, chủ nghĩa thực dụng, dối trá cũng được dịp bùng nổ ở mọi tầm cao thấp. Những chiếc phao cứu sinh vội vàng chắp vá Chính sự hỗn mang đó đã tạo ra một thứ tôn giáo hổ lốn theo ý những người cộng sản. Trước hết, đảng khẩn cấp sáng tác ra cái gọi là Tư tưởng Đạo đức Hồ Chí Minh, một sản phẩm mới được sáng tác vội vàng lấp vào chỗ trống khi phe cộng sản sụp đổ và người ta thấy những giòi bọ nhung nhúc trong nội tạng của nó. Môn đạo đức tư tưởng Hồ Chí Minh như một món ăn mới được chế biến tốn kém nhưng bởi những đầu bếp tồi. Không đủ sức thay thế món bánh vẽ ngọt ngào về Chủ nghĩa Cộng sản mà người ta vẫn được ru ngủ, được xài miễn phí bấy lâu nay. Do vậy, đảng tiếp tục chi tiền dân cho việc lũng đoạn tôn giáo hoặc sáng tác các tôn giáo mới. Đó là thứ tôn giáo phục vụ sự tồn tại và cai trị của đảng bằng bất cứ giá nào. Đó là thứ tôn giáo “Đoàn kết Công giáo”, là thứ Phật giáo “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội” dần dần bị hủ hóa miễn là đảng nắm được thứ tôn giáo đó từ gốc đến ngọn. Đó cũng là các thứ tà đạo như tà đạo Hồ Chí Minh, các chùa chiền khổng lồ, các loại ngoại cảm, bói tướng, thầy pháp, đồng bóng, vàng mã… những thứ mà đã một thời là kẻ thù của Chủ nghĩa Cộng sản. Người ta không cần e ngại đảng có trăm tay, nghìn mắt khi người ta đốt vàng mã hàng trăm triệu đồng. Người ta không sợ hãi khi “gọi hồn” chính ông Hồ Chí Minh – ông tổ Cộng sản vô thần ở Việt Nam lên để mà truy hỏi… Người ta cũng không ngại dùng “nhà ngoại cảm” để gọi hồn Hà Huy Tập, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Văn Cừ, Phùng Chí Kiên, thậm chí là cả Trần Phú. Thậm chí, ngay cả khi người ta đúc tượng Thánh Gióng, họ còn đúc cả tim cho tượng Thánh Gióng và tượng con ngựa. Điều đặc biệt hài hước, là ý tưởng này lại xuất phát từ Thủ tướng Chính phủ, một người đã tự hào là đi theo đảng tận 51 năm nay. Nếu như, những người cộng sản hôm nay còn có niềm tin vào Chủ nghĩa Mác – Lenin, thì những hành động này, là sự phỉ báng công khai cái lý tưởng Cộng sản, cái mà cả đời ông Hồ Chí Minh, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ, Trần Phú, Lê Hồng Phong, Phùng Chí Kiên, Võ Nguyên Giáp… đã theo đuổi. Nếu như Các Mác, người đã dành cả đời hoạt động, chiến đấu cho cái “Công”, để rồi khi chết, lại phải chui vào một nghĩa địa “Tư” để nằm, thì những người Cộng sản Việt Nam đã phấn đấu cả đời để chứng minh cho Chủ nghĩa Cộng sản không thần thánh, mà quỷ và linh hồn… đã phải cậy nhờ ma quỷ, thần thánh và linh hồn để tìm lại thân xác mục nát của mình. Và khi sử dụng những biện pháp này, nghĩa là người ta đã phủ nhận công khai những gì họ nói, rằng Chủ nghĩa Mác – Lenin luôn là sợi chỉ đỏ, là nền tảng tư tưởng của Đảng cộng sản. Hoặc nói cách khác, họ ngang nhiên coi đảng cộng sản mà họ là thành viên chẳng có ký lô giá trị nào trong thực tế. Thế nhưng, từ chỗ không tin thần thánh, ma quỷ theo chủ thuyết cộng sản, đến chỗ khủng hoảng và vơ váo bất cứ thần thánh nào, miễn giúp họ thực hiện được giấc mơ thực dụng về vật chất và thăng quan tiến chức bằng mọi giá để thỏa mãn nhu cầu đó, họ đã làm băng hoại các tôn giáo để phục vụ mục đích của họ. Đó là những thể hiện sinh động tình trạng mất phương hướng của người Cộng sản Việt Nam hôm nay. Hà Nội, ngày 31/10/2013 J.B Nguyễn Hữu Vinh Nguồn: Blog Nguyễn Hữu Vinh
......

Một lá cờ mới cho nước Việt Nam khi đổi mới cả hệ thống chính trị.

Chúng tôi nhận được bài sau đây từ một độc giả gởi đến. Dù đồng ý với các đề nghị trong bài hay không chúng tôi vẫn nghĩ đây là một trong những việc cần suy nghĩ từ bây giờ để chuẩn bị cho giai đoạn hậu độc tài. Xin giới thiệu đến quí bạn đọc khắp nơi trong tinh thần này. (BBT) Đã đến lúc nghĩ đến việc này. Nhiều người đã nghĩ đến. Chúng tôi một nhóm thanh niên du sinh gốc Việt đang học ở Hoa Kỳ, Canada và Pháp cũng xin góp một ý kiến. Tên gọi chính thức nước ta nên là Nước Cộng hòa Việt Nam, như tên gọi Nước Cộng hòa Pháp và nhiều nước Cộng hòa khác có lẽ là thích hợp. Chúng tôi phác họa lá Quốc Kỳ Việt Nam, lá cờ Nước Cộng hòa Việt Nam  có  3 giải ngang,  trên màu xanh dương,  giữa màu vàng,  dưới cũng  màu xanh dương. Màu vàng ở giữa lớn bằng 2 giải xanh dương trên và giải dưới cộng lại. Màu xanh dương trên tiêu biểu cho không phận, màu xanh dương dưới tiêu biểu cho vùng biển, đều màu xanh nhẹ an bình trong lành. Màu vàng ở giữa tiêu biểu cho đất nước,  mang màu vàng truyền thống của dân tộc, với ý nghĩa tiềm năng đất đai giàu có phì nhiêu, nhân lực quý, cả cộng đồng đoàn kết phấn đấu cho phát triển trong hòa bình Ngàn Năm Bền Vững. Ở giữa là một đóa hoa sen trắng, vẽ cách điệu, tiêu biểu cho nền văn hóa dân tộc cao quý, luôn coi trọng giá trị tinh thần Minh Triết trong sáng, thăng hoa. Đóa hoa sen nên vẽ cách điệu giản đơn, dễ vẽ. Cờ nước Cộng hòa Canada cũng có chiếc lá phong giản đơn, đẹp, gọn, đặc sắc. Chúng tôi gưỉ đến các báo mạng ý kiến này nhờ phổ biến rộng và mong sẽ tiếp nhận được những ý kiến phản hồi của đồng bào thân yêu, nhất  là các bạn trẻ trong cả nước.  (kèm theo hình vẽ phác họa của lá cờ). Chúng tôi nghĩ cả 2 lá cờ, cờ đỏ sao vàng cũng như cờ vàng có sọc ngang đỏ, từng được dùng trên hai miền đất nước ta, cả 2 đều từng được quốc tế công nhận, đều cần được lưu giữ trân trọng, vì đều có những người Việt yêu nước chiến đấu hy sinh dưới những lá cờ ấy. Tên gọi mới, lá cờ mới sẽ có thể đi cùng việc đổi tên Thủ đô Hà Nội là Thăng Long, xin tùy đồng bào cả nước quyết định trong một cuộc Trưng cầu dân ý. Ngày 1/11/2013. Nhóm du sinh Việt Nam « Học Để Xây Nước Việt »
......

Định mệnh xoắn lấy hai gia đình Ngô Đình Diệm và Võ Nguyên Giáp

Bố của ông Võ Nguyên Giáp là cụ Võ Nghiễm chịu nhiều ơn của gia đình cụ Ngô Đình Khả, bố của ông Ngô Đình Diệm. Ít ai để ý là cháu ruột của ông Võ Nguyên Giáp (kêu ông Giáp bằng chú) là đương kim giám mục Công giáo ở Nha Trang, là giám mục Giuse Võ Đức Minh. Thân phụ của giám mục Võ Đức Minh là anh ruột của ông Võ Nguyên Giáp, bố mẹ của giám mục Võ Đức Minh đều theo Công giáo và cư ngụ ở miền Nam sau 1954. Không rõ là giám mục Võ Đức Minh có về Hà nội viếng tang chú mình là ông Võ Nguyên Giáp vừa qua hay không? http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/GiaoHoiVN/SinhHoat&TinTuc/36GiamMucT... Cô ruột của giám mục Giuse Võ Đức Minh là vợ của trung tướng VNCH là ông Nguyễn Ngọc Lễ. Bà theo Công giáo và sống tại miền Nam trước 1975, qua đời tại Mỹ (bà và chồng rời Việt Nam trong biến cố 30/4/1975). Bà cô ruột này là em gái của ông Giáp lẫn bố của giám mục Giuse Võ Đức Minh. GM Võ Đức Minh Kể ra thì gia đình ông Võ Nguyên Giáp chịu ơn gia đình ông Ngô Đình Diệm nhiều. Bố ông Giáp là cụ Võ Nghiễm khi bị Pháp bắt trong tù thì được ông Ngô Đình Cẩn (em trai út của cụ Diệm) giúp thăm nuôi, khi cụ Võ Nghiễm qua đời thì cũng do ông Ngô Đình Cẩn đứng ra lo việc an táng. Lúc cụ Võ Nghiễm còn sống thì được gia đình cụ Ngô Đình Khả mua ruộng vườn giao cho ông Võ Nghiễm trông coi , canh tác và nộp tô.  Nếu tổng thống Ngô Đình Diệm có cháu ruột (kêu bằng cậu) làm đến chức hồng y bên Công giáo là hồng y Nguyễn Văn Thuận, thì ông Võ Nguyên Giáp cũng có cháu ruột (kêu bằng chú) làm tới chức giám mục bên Công giáo là giám mục Võ Đức Minh (đang ở Nha Trang) đã nói bên trên.- Ông Giáp và ông Diệm đều có tuổi xấp xỉ nhau, đều ở cùng làng cùng huyện tại Quảng Bình. Cả 2 đều nắm chức vụ cao phía Cộng sản và phía Quốc gia Cộng hòa.  Chuyện éo le là giám mục Giuse Võ Đức Minh (cháu ông Giáp) cũng chính là người qua Vatican để làm chứng việc phong thánh cho hồng y Nguyễn Văn Thuận (cháu ông Diệm) ngày 5/7/2013 vừa qua." Nguyệt Đồng Xoài Nguồn: http://www.vietwebradio.net/2013/11/inh-menh-xoan-lay-hai-gia-inh-ngo-in...
......

Sức lay động của "Dậy mà đi!"

Có lẽ những chàng trai cô gái say sưa hát bài "Dậy mà đi" để chào đón Đinh Nhật Uy buộc phải được trả tự do tại Tòa án Long An hôm 29.10.2013 không biết và cũng không cần biết rằng bài đó ra đời từ trong nhà tù thực dân năm 1941, khi đất nước còn nằm trong xiềng xích nô lệ. Bài thơ làm trong nhà tù thuở ấy tự nhắc nhở: "Ai chiến thắng mà không hề chiến bại Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần? Huống đường đi còn lắm bước gian truân Đây chưa phải trận sau cùng chiến đấu"! GS Tương Lai Thế rồi một phần tư thế kỷ sau, lời thơ được biến tấu thành ca từ của một bài hát cùng tên với điệp khúc "Dậy mà đi, dậy mà đi, hỡi đồng bào ơi" ra đời trong phong trào đấu tranh chống chế độ Sài Gòn của sinh viên và thanh niên Miền Nam những năm 1966- 67. Để rồi hôm nay, lớp trẻ cháy bỏng khát vọng tự do, dân chủ lại đang hát vang khúc ca đòi bẻ gãy những xiềng xích mới.   Lịch sử đang đi những bước oái oăm!   Câu hát năm nao bỗng như một lời tiên tri "Đây chưa phải trận sau cùng chiến đấu". Nếu cứ cho đó là một câu "tiên tri" thì câu "tiên tri" ấy đang biến thành lời giục giã cho cuôc chiến đấu mới "Ai nên khôn không khốn một lần" rồi trào dâng thành một làn sóng dập dồn: "Hát cho dân tôi nghe, tiếng hát tung cờ ngày nào. Hát cho đêm thiên thu... Hát âm u trong đêm, muôn cánh tay đang dậy lên...". Thế rồi, "tiếng hát tung cờ ngày nào" giờ đây vang lên để vạch mặt những kẻ nhân danh lá cờ ấy để tròng một thứ xiềng xích mới lên cuộc sống của đất nước. Xiềng xích ấy đang đè nặng lên tâm tư của cả một dân tộc vốn hiểu rõ chân lý‎ không có gì quý‎ hơn độc lập tự do. Những kẻ nhân danh lá cờ ấy đang đặt những gông cùm mới lên cuộc sống của tuổi trẻ yêu nước không cam chịu cúi đầu trước bọn xâm lược phương Bắc thực thi chủ nghĩa bành trướng Đại Hán. Những kẻ đang cúi đầu trước bọn xâm lược lại đang đang cắm chính lá cờ ấy trên nóc nhà tù, trại giam nhan nhản khắp cả nước để uy hiếp, trấn áp những người yêu nước, bóp chết khát vọng dân chủ, tự do và quyền con người, nhằm củng cố cho một chế độ toàn trị phản dân chủ, phản tiến hóa đang bị lung lay từ chân móng. Lá cờ ấy đang bị hoen ố bởi những hành động đáng xấu hổ mà chế độ toàn trị phản dân chủ này đang gây ra cho cả dân tộc, xúc phạm đến anh linh những thế hệ Việt Nam đã nằm xuống để bảo vệ mảnh đất thiêng của tổ quốc mà vì điều thiêng liêng ấy, cả núi xương, sông máu đã phải đổ ra. Sức lay động của tiếng hát "Dậy mà đi" khởi nguồn từ đó.     Bài hát "Dậy Mà Đi" của các blogger tham gia phiên tòa Đinh Nhật Uy http://www.youtube.com/watch?v=9338gJhe0Qk   Tiếng hát đón chào Đinh Nhật Uy, từ tòa án Long An bước ra là để tuyên bố trước toàn thế giới một chuyện đáng xấu hổ: Việt Nam có lẽ là nước đầu tiên một công dân bị bỏ tù vì đã sử dụng Facebook, một trong những thành tựu văn minh mà loài người có được từ cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, trước hết là công nghệ thông tin! Đương nhiên Viện Kiểm sát và Tòa án tỉnh Long An gắng gượng viện dẫn bằng được những điều khoản này nọ để ghép “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” theo khoản 1 Điều 258, BLHS cho Đinh Nhât Uy. Luật sư Hà Huy Sơn đã bác bỏ tất cả những điều đó và đòi "trả tự do ngay tại phiên tòa cho ông Đinh Nhật Uy". Thật ra, với Tòa án của một chế độ toàn trị quen với những bản án "bỏ túi" thì lời lẽ và luận cứ của luật sư chỉ là vật trang sức rẻ tiền, họ bỏ ngoài tai. Họ không thể tuyên Đinh Nhật Uy vô tội và do đó phải được trắng án, phải được bồi thường. Bước đi oái oăm của lịch sử đang dẫm lên vết nhơ này. Chúng ta muốn xây dựng một nước "đàng hoàng hơn, to đẹp hơn", nhưng chế độ toàn trị phản dân chủ này đang làm ngược lại mong muốn đó. Nó đang phản bội lại lý tưởng cao đẹp của những người từng "dậy mà đi" trên con đường giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Vì vậy mà hôm nay, tuổi trẻ lại đang phải "hát âm u trong đêm, muôn cánh tay đang dậy lên...". Bản án dành cho Đinh Nhật Uy rồi cũng sẽ là bản án dành cho những người có lương tri, lương năng đang và sẽ sử dụng những thành tựu của văn minh để làm cho cuộc sống văn minh hơn, đàng hoàng hơn, tươi đẹp hơn. Họ, trước hết và chủ yếu là một thế hệ mới của những người đấu tranh cho dân chủ mà internet là công cụ rất tiện ích và có tiềm năng rất lớn. Họ lại là những người rất trẻ, đủ lòng dũng cảm và trí sáng tạo để thể hiện khát vọng của họ. Họ dùng blog và mạng lưới xã hội để trao đổi thông tin và bày tỏ tình cảm, ý nghĩ của mình, điều mà chế độ toàn trị rất kiêng kỵ! Kiêng kỵ như người ta đã từng kiêng kỵ "xã hội dân sự dân sự”. Một nhà nước pháp quyền đàng hoàng sẽ không thể kết tội Đinh Nhật Uy. Bởi, nếu vậy thì rồi, 32 triệu người sử dung internet [nếu đúng như người ta loan báo để đánh bóng thành tích] đều có nguy cơ bị Điều 258 của Bộ Luật Hình sự cho vào tù bất cứ lúc nào. Nhưng không thể không dằn mặt và răn đe một trào lưu đang như những dòng suối nhỏ đổ ra sông lớn mà sức cuộn chảy của nó không một bờ bao, một con đê nào ngăn chặn nổi. Thêm vào đó, dòng sông đang xuôi về biển cả, sóng đại dương đang tiếp sức cho tốc độ bứt phá của dòng sông cuộc sống. Dư luận quốc tế đang là một sức ép hiện thực mà nhà nước toàn trị này phải tính toán. Đó là sức cộng hưởng của phong trào dân chủ trong nước từ bản Tuyên bố thực thi quyền chính trị và dân sự của giới trí thức nhân sĩ trong và ngoài nước, kết hợp với những sáng kiến của giới trẻ trong đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền cùng với những bàn chân nổi giận của người nông dân mất đất rầm rập xuống đường, tạo thành một nội lực to lớn để được tiếp sức của cộng đồng quốc tế, bao gồm chính giới có mối quan hệ nhà nước với nước ta, giới đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền thế giới và mạng lưới truyền thông quốc tế thường xuyên theo sát diễn biến tình hình ở Việt Nam. Bước đi oái oăm của lịch sử cũng đang thể hiện ở thế giằng co chưa ngã ngủ từ đối nội cho đến đối ngoại mà cái sức cộng hưởng nói trên đang in đậm dấu ấn. Dấu ấn ấy hiện rõ trong ứng xử của người cầm quyền trong thế "tiến thoái lưỡng nan", "đi thì cũng dở, ở không xong" trước bao áp lực vì đang "nhả chẳng ra cho, nuốt chẳng vào" những lợi ích phe nhóm khi mà những lợi ích ấy lại được đặt lên trên lợi ích của tổ quốc, lên trước lợi ích và khát vọng của toàn dân. Từ một sự kiện vụ án Đinh Nhật Uy, khởi đầu cho việc xử lý mạng lưới internet đầy bất trắc đối với một chế độ toàn trị trước một xã hội đang tỉnh thức, gây nên sự ngột ngạt trong đời sống của mọi tầng lớp nhân dân đang đối diện với bao khó khăn về kinh tế và an toàn xã hội. Không hiểu điều này có nằm trong cái mà ông Tổng bí thư nọ cảm thấy "ngột ngạt” khi ông nói với cử tri quận Ba Đình ngày 27.9.2013 không, chứ ngay từ đầu thế kỷ XX thì các cụ ta trong phong trào "Duy tân" đã thốt lên rằng: "Văn minh là thế giới nào. Mà ta chìm đắm trong hào dã man"! Xin nhớ cho là tòa án của chế độ thực dân đã tửng xử vụ án "Đồng Nọc Nạn", rồi chính quyền Sài Gòn trước 75 đã không thể không nể trọng các luật sư biện hộ và đấu tranh cho công lý. Và hồi ấy, "ma tà", "lính kín", "sen đầm" chưa phải tổ chức một bộ máy côn đồ du thủ du thực đông đến vậy để huy động vào việc đàn áp dân chúng. Bọn côn đồ này đánh người nhân danh công an, trước mắt công an, được công an khuyến khích, cổ vũ mà chuyện đánh đập dã man gây thương tích công dân Lưu Trọng Kiệt hay chuyện hành hung bloger Lâm Bùi trước cửa Tòa án Long An hôm rồi chỉ là một trong vô vàn những ví dụ! Nhưng bạo lực chỉ có thể là cách giải khát bằng thuốc độc. Bạo lực không khuất phục được tuổi trẻ, ngược lại, đang đổ thêm dầu vào lửa, ngọn lửa của sự phẫn nộ và ý chí đấu tranh. Cũng chính vì vậy, sức lan tỏa của bài hát "Dậy mà đi" các bạn trẻ đang hát kia đang thổi một làn sinh khí vào đời sống ngột ngạt mà xã hội đang phải chịu đựng. Xin được phép trích ra đây những lời gan ruột của bloger Lâm Bùi, người bị hành hung để chứng minh cho điều ấy: "Cái đau này không phải vì là thể xác, mà là ở tâm hồn... đau vì nhà cầm quyền thay vì lắng nghe dân, tôn trọng dân, thì luôn dùng quyền lực, dùng bạo quyền để trấn áp người dân. Coi lợi ích đảng phái phe nhóm lớn hơn Dân Tộc, lớn hơn Tổ Quốc... và coi dân là kẻ thù, là thù địch. Sau phiên tòa, dù rằng Đinh Nhật Uy được hưởng án treo, được phóng thích tại tòa, nhưng đó vẫn là một bản án, một bản án bất công và Uy đã phải bị giam cầm oan uổng hơn 4 tháng trời. Đảng vẫn muốn cai trị bằng quyền lực để phục vụ cho mình, bằng sự dối trá để đầu độc người dân, bằng những điều luật mà mỗi người dân, mỗi người như chúng ta đây, khi muốn thể hiện cái Quyền Con Người chính đáng của mình... thì bất cứ lúc nào cũng có thể trở thành những Điếu Cày, Tạ Phong Tần, Trần Vũ Anh Bình, Việt Khang, Nhật Uy, Nguyên Kha... và nhiều... tại sao? Hãy lên tiếng, và hãy cứ lên tiếng, vì chúng ta là con người... chúng ta không phải là những con cừu. Chúng ta không kêu gọi lật đổ hay tranh giành, chúng ta chỉ muốn họ thay đổi, hãy xóa bỏ những điều luật không đúng, sai trái, hãy tôn trọng quyền con người của mỗi người công dân... hãy thay đổi cả chúng ta và cả họ... hãy thay đổi... thay đổi vì Việt Nam cho Việt Nam." Đẹp biết bao, cao cả biết bao ý chí của tuổi trẻ, nguồn sinh lực bất tận của dân tộc! Chính họ chứ không phải ai khác đang thúc đẩy lịch sử đi tới, đang góp phần viết nên những trang sử mới của cuộc đấu tranh cho dân chủ và tự do, tiếp tục sứ mệnh của cha anh từng đổ máu cho sự nghiệp giành độc lập của tổ quốc. Vì, họ hiểu rằng, độc lập mà không có dân chủ và tự do, không có nhân quyền thì độc lập chẳng có ý nghĩa gì cả. T.L Nguồn:Blog Quê Choa
......

Vì Nước bỏ đảng – Vì đảng bỏ Nước!?

Có thể chúng ta sẽ không cùng quan điểm khi nhận xét về nhân cách cá nhân họ. Tuy nhiên không thể nào không công nhận, họ là những người Cộng Sản yêu nước chân chính nhất hiện nay khi họ tự tách ra, vượt lên trên 3 triệu “đồng chí” của họ, gạt bỏ mọi “vinh hoa phú quí” để như vắt máu từ trong trái tim mình nhỏ từng giọt hòa theo dòng lịch sử dân tộc.   Dù đau như đoạn trường bởi nhiều lý do khác nhau nhưng cuối cùng vì văn minh tự do dân chủ, vì lẽ phải công bằng, vì tương lai tiền đồ dân tộc vì vận nước thôi thúc, khẳng khái từ bỏ đảng CS độc tài lạc hậu - Họ là ai?   Nhiều lắm, một thời là tinh hoa của chế độ CSVN như các ông bà: Dương Quỳnh Hoa - Nguyễn Hộ - Trần Xuân Bách - Trần Độ - Hoàng Minh Chính - Vi Đức Hồi - Bùi Tín - Nguyễn Minh Cần - Nguyễn Mạnh Tường - Dương Thu Hương – Lê Hồng Hà - Phạm Đình Trọng - Trần Mạnh Hảo - Huỳnh Nhật Hải - Huỳnh Nhật Tấn. v. v…   Không quá lời khi nói, họ vì đất nước mà dứt khoát từ bỏ “đảng” để: “vắt từ trong trái tim mình, từng giọt máu hòa theo dòng lịch sử dân tộc” Những giọt máu viết thành lời của họ (những người yêu nước ấy) công khai quang minh chính trực để các “đồng chí CS” một thời của họ phải cúi đầu nghiệm suy:   Bác Sĩ Dương Quỳnh Hoa Bác Sĩ Dương Quỳnh Hoa bộ trưởng Y Tế Mặt Trận GPMN, từ bỏ đảng CSVN năm 1979. Bà công khai phát biểu: “Ngày nay, khi quyền lực nằm an toàn trong tay rồi, đảng đã xem nhân dân như là một kẽ thù tiềm ẩn”. Nhận định về ngày bức tường Bá Linh sụp đổ, Bà nói: “Đây là ngày tàn của một ảo tưởng vĩ đại”   Ông Nguyễn Hộ Ông Nguyễn Hộ: UV/thường vụ thành ủy TP/Hồ Chí Minh, CT/MT/Tổ Quốc TP/Hồ Chí Minh - UV/TW/MTTQ/Việt Nam, ông từ bỏ Đảng CS năm 1991 sau hơn 53 năm. Ông từng được trao giải thưởng Hellman-Hammett của Tổ chức quốc tế Nhân quyền.   “…Đảng cộng sản Việt Nam phát động chống đa nguyên, đa đảng là chống lại sự nghiệp dân chủ tự do của dân tộc Việt Nam, chống lại văn minh tiến bộ của đất nước, kiềm hãm dân tộc Việt Nam mãi trong mê muội tối tăm, mù quáng. Không phải vì dân tộc, vì đất nước mà chính là vì sợ mất vai trò lãnh đạo và đặc quyền, đặc lợi của cá nhân, một nhóm người lãnh đạo, mà Đảng cộng sản Việt Nam đã chà đạp thô bạo Hiến Pháp của nước CHXHCN Việt nam, biến nó thành một thứ trang trí, không có giá trị thực tiễn trong việc bảo vệ dân chủ tự do và lợi ích của công dân; mặt khác nó che đậy khéo léo bản chất độc tài phản dân chủ của Đảng CSVN... ”[1]   Trung tướng Trần Độ Trung tướng Trần Độ: Phó Chính ủy - Phó Bí thư Quân ủy MTGPMN-Phó CT/QH khóa 7, ủy viên Hội đồng Nhà nước (1989-1992) - Ông chấp nhận khai trừ đảng ngày 4 tháng 1 năm 1999 để được tự do viết theo nhận xét của mình trong “Nhật ký Rồng Rắn”: “…Đảng nói những lời rất hay, làm ra Hiến pháp và luật pháp, nhưng bộ máy của đảng đều làm ngược lại Hiến pháp và luật pháp, bất chấp đạo lý. Đảng tuyên truyền khẩu hiệu “sống theo Pháp luật” thì đảng lại là người sống ngoài vòng pháp luật và sống trên pháp luật trắng trợn nhất. Và đảng cũng chỉ đạo các cơ quan nhà nước làm như vậy. Xã hội ta ở trong tình trạng như vô pháp luật hiện nay, người đầu tiên gây ra tình trạng đó chính là đảng.   Đảng dùng mọi thủ đoạn lừa bịp, dối trá, ngụy biện để nhằm một mục đích duy nhất là duy trì và giữ vững bộ máy cai trị mà họ gọi là “sự lãnh đạo của đảng”. Do đó, trong thực tế bộ máy này là bộ máy phá dân chủ, phản dân chủ một cách trắng trợn, tinh vi và tàn bạo nhất”.   Ông Lê Hồng Hà: Ông Lê Hồng Hà: Cựu đại tá Chánh văn phòng Bộ Công an dưới thời Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn, ông đã bị khai trừ khỏi đảng (Vụ án xét lại chống Đảng thập niên 1990). bị kết án, vào tù một thời gian. “…Đảng hiện nay chỉ còn là vai trò kìm hãm xã hội, nhưng ĐCSVN vẫn cố tô vẽ cho thực trạng hiện nay những điều không có thực, vẫn tự khoe khoang, huyênh hoang rằng nhờ mình thì đất nước mới có nhiều điều tiến bộ nhưng thực tế đã cho thấy Việt Nam dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN tụt hậu về nhiều mặt so với các nước trong khu vực. Xây dựng và phát triển đất nước mà lại theo chủ nghĩa Marx-Lenin thì sai hoàn toàn. Chủ nghĩa Marx-Lenin là một học thuyết đấu tranh giai cấp bằng bạo quyền, là một học thuyết “phản” phát triển. Trong tình hình hiện nay của đất nước thì cái Đảng này không thể đổi mới được. Chỉ có dân mới có thể tạo ra đổi mới. Nếu cái Đảng này có làm được cái gì tiến bộ thì cũng phải dựa vào sức ép của dân. Nhân dân sẽ là người bắt Đảng phải thay đổi - Tôi không kêu gọi thủ tiêu “anh” nhưng “anh” muốn tồn tại thì phải thực hiện đa nguyên, đa đảng, dân chủ, để mà tồn tại”. [2]   Ông Vi Đức Hồi:   Ông Vi Đức Hồi: Giám đốc trường Đảng Hữu Lũng, Tỉnh Lạng Sơn, năm 2007 ông bị khai trừ, vì các bài viết phê phán đảng, ông được Human Rights Watch trao giải Hellman/Hammett năm 2009. Ông bị CSVN tuyên án tám năm tù giam vì tội tuyên truyền chống nhà nước. “…Quân đội là của nhân dân, từ nhân dân mà ra, do nhân dân nuôi dưỡng. Ở các nước dân chủ, văn minh, quân đội chỉ làm nhiệm vụ theo quy định của hiến pháp và pháp luật, nhà nước trực tiếp quản lý, điều hành quân đội. Quân đội không thể là công cụ của bất cứ một đảng phái nào, nhiệm vụ thiêng liêng nhất của quân đội là bảo vệ nhân dân, toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc.   Một lực lượng hùng hậu, được trang bị các phương tiện và vũ khí tối tân, được chăm lo bằng những đồng tiền thuế của nhân dân đóng góp mà nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu lại là để bảo vệ cho sự tồn tại sống còn của một cái “đảng”, thì quả là kỳ lạ…”   Đại tá, nhà văn Phạm Đình Trọng   Đại tá, nhà văn Phạm Đình Trọng: “Tôi là Phạm Đình Trọng, nhà văn, là đảng viên Cộng sản tôi tự thấy đảng Cộng sản không còn phù hợp với lý tưởng thẩm mĩ và giá trị nhân văn mà tôi theo đuổi nên tôi tự rút ra khỏi đảng.” [3] “... Cải cách ruộng đất lấy danh nghĩa là đánh đổ tầng lớp bóc lột ở nông thôn nhưng những gì diễn ra đã chứng tỏ rằng đó là cuộc phát động gây hận thù ngay trong lòng dân tộc. Lấy bạo lực chuyên chính vô sản đánh vào giá trị văn hóa, đánh vào đạo lý gia đình, đánh vào văn hóa làng quê, đánh cả vào tín ngưỡng tâm linh, những nền tảng của văn hóa dân tộc. Cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh đã phá sạch cơ sở vật chất của nền sản xuất công nghiệp tư nhân vừa hình thành, biến những người chủ giỏi tính toán làm ăn, biết gây dựng cơ đồ thành trắng tay, thành người làm thuê bằng cơ bắp. Sử dụng cơ bắp XHCN làm thuê làm cho nền kinh tế miền Bắc thụt lùi hàng trăm năm. Tiếp tục cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh ở miền Nam đã đưa kinh tế cả nước xuống vực thẳm, đưa dân tộc Việt Nam thông minh, tài giỏi tới nghèo khổ, hèn mọn. Dòng người bỏ nước ra đi kéo dài trong nhiều năm…”   Ông Huỳnh Nhật Hải (trái) và ông Huỳnh Nhật Tấn   Ông Huỳnh Nhật Hải và ông Huỳnh Nhật Tấn: Hai anh em, ông Huỳnh Nhật Hải sinh năm 1943, ông Huỳnh Nhật Tấn sinh năm 1946, là những người, vào cuối năm 1988, đã cùng nhau ly khai, ra khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam đồng thời từ bỏ luôn những chức vụ quan trọng đang đảm nhiệm đầy quyền lực, quyền lợi – (ông Huỳnh Nhật Hải là PCT/UBND/TP Đà Lạt kiêm Thành ủy viên và ông Huỳnh Nhật Tấn là Phó Giám đốc Trường Đảng tỉnh Lâm Đồng kiêm Tỉnh ủy viên dự khuyết). Cả hai ông Huỳnh Nhật Hải, Huỳnh Nhật Tấn có chung quan niệm để cùng chia sẻ với đồng bào công luận: “Anh em chúng tôi trước khi quyết định từ bỏ đảng đã nói với nhau là: chúng ta đi làm cách mạng không phải để góp phần xây dựng nên một nhà nước chuyên chính độc tài toàn trị như thế này.” [4] Các quyền tự do dân chủ của người dân, càng ngày chúng tôi càng thấy thực tế lại tồi tệ và khó khăn hơn rất nhiều so với thời Việt Nam Cộng Hòa. Ví dụ như khi hoạt động trước 1975, chúng tôi đã từng cho một số viên chức chính quyền miền Nam đọc cả cương lĩnh của Mặt trận GPMN nhưng những người đó không coi chúng tôi là thù địch, họ coi việc khác biệt quan điểm là chuyện hết sức bình thường. Nhưng sau năm 1975 mọi thứ không như thế nữa, tất cả mọi hoạt động, kể cả trong tư tưởng, mà khác với quan điểm của ĐCSVN thì đều không được chấp nhận. Báo chí tư nhân, biểu tình, bãi công, bãi thị đã hoàn toàn bị cấm ngặt mặc dù những bất công, nhu cầu lên tiếng của xã hội hết sức bức bối. Có thể nói điều lớn nhất để chúng tôi nhận thức lại ĐCSVN là sự độc tài toàn trị dựa trên bạo lực và không tôn trọng những quyền căn bản của người dân. Với câu hỏi: Nếu được sống lại thời tuổi trẻ một lần nữa, các ông có tiếp tục ủng hộ và đi theo Việt Minh, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam hay ĐCSVN? Ông Huỳnh Nhật Hải: Không, không bao giờ. Đó là một số tiêu biểu những tấm gương người CS “vì nước, bỏ đảng”. Ngược lại, khi mà: “Liên Xô, đế chế hùng mạnh hàng đầu thế giới, lãnh đạo CS quốc tế và toàn khối CS Đông Âu cũng như các quốc gia XHCN vệ tinh, 90% những chế độ một thời theo CS trên toàn thế giới ấy, đã tự nguyện từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, vứt bỏ tư tưởng Mac, đạp đổ tượng đài Lê Nin để đưa quốc gia hội nhập với trào lưu tiến hóa dân chủ hay đa nguyên văn minh của nhân loại, cụ thể như thế giới hiện nay, mà đảng CSVN và nhất là 14 cái “da mặt dày” trong “bộ cai trị”CSVN đã chứng kiến xuyên suốt hơn 20 năm qua…” thì mới đây 23/10/2013…. Tại nghị trường QH - Trong phiên thảo luận tại tổ về dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, Ông Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu: "Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa.”!? (khi thiên hạ đang chôn lấp nó??)   Không biết trong nhóm 14 khuôn mặt “dày da” này có ma nào trả lời được câu hỏi của ngài TBT: "Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa. ”!? – Khi quá khứ CSVN đã lấy 4 triệu sinh mạng nhân dân mình làm nhiên liệu đổ vào cỗ máy XHCN chạy suốt 70 năm qua nhưng hiện tại chỉ mới thấy cái nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin đặt lên số phận 500. 000 ngàn thanh niên con em xuất khẩu xin tư bản trước khi “giãy chết” hãy vui lòng bóc lột trả bằng ngoại tệ để CSVN lấy đó định hướng kinh tế thị trường kiểu tư bản mà quá độ lên CNXH!?. Một thứ chủ nghĩa ảo vọng hiện nay như là một món ăn ôi thiu mà thiên hạ đã nôn thốc nôn tháo ra ngoài khi lỡ ăn vào, nhưng CSVN vẫn cứ bịp bợm tri hô là món ngon của đầu bếp Hồ… Chí Minh chế biến bắt cả dân tộc nuốt vào!?. Hơn ai hết 14 khuôn mặt này đều biết tỏng tòng tong CNXH là ảo vọng là không thể có thật trên cõi đời này nhưng vì quyền lợi nhóm màu mỡ vì bã vinh hoa phú quí nên câu kết lừa dân, dối lòng, duy trì độc tài bạo quyền lạc hậu của đảng CS mà bỏ qua vận mệnh của đất nước. Họ, những kẻ hèn mọn “vì đảng, bỏ nước” nhân cách hoàn toàn khác biệt với các đồng chí của họ nói trên “vì nước, bỏ đảng”. Lịch sử vốn dĩ như lăng kính tinh khiết, không có trái tim nên rất lạnh lùng công minh khi phản chiếu phán xét: Ai? Vì Nước bỏ đảng và Ai? Vì đảng bỏ Nước!? Cả dân tộc sẽ vinh danh, nguyền rủa hay trừng phạt, thời điểm ấy không còn xa lắm, khi CS/XHCN như ánh tà dương hiu hắt hấp hối cuối ngày trên toàn thế giới. Hoàng Thanh Trúc Nguồn: danlambaovn.blogspot.com
......

'Cậu Thủy' và 'Cậu Hồ'

Hằng ngày, tôi vẫn vào các tờ báo mạng ở trong nước, từ lề phải đến lề trái, để đọc tin. Có điều, hầu như chưa bao giờ tôi mở các bản tin về những chuyện như “tâm linh” hay “ngoại cảm”. Với tôi, chúng đều thuộc loại nhảm nhí, không đáng mất thì giờ: vô ích, hơn nữa, còn có thể gây cảm giác bức bối khó chịu: vô duyên. Vậy mà, tình cờ, sáng nay, một người bạn lại hỏi tôi về “Cậu Thủy”. Tôi ngơ ngác, không biết gì cả. Anh mới kể vắn tắt về các “thành tích” của “cậu”. Thấy thú vị, về nhà, tôi vào internet để… làm quen với “cậu”.Ngân hàng Chính sách Xã hội cũng đã nhờ 'cậu Thủy' tìm kiếm hài cốt và mồ mả của các liệt sĩ. “Cậu” tên thật là Nguyễn Văn Thúy, quê ở thị trấn Chờ, Yên Phong, Bắc Ninh, sinh năm 1959, năm nay 54 tuổi. Trước, “cậu” làm công an; sau, không biết vì lý do gì, “cậu” về làm dân. Quen thói cũ, làm dân, “cậu” cũng không chịu sống một cách lương thiện: Cậu tàng trữ vũ khí quân dụng và lừa đảo hết người này đến người khác. “Cậu” và vợ “cậu” bị bắt và ở tù hơn 10 năm. Được thả về, mấy năm sau, “cậu” bỗng nổi tiếng là một nhà ngoại cảm xuất sắc và càng ngày càng giàu. Cái giàu của “cậu” có thể nhìn thấy ngay ở ngôi nhà “cậu” ở: Nhà ba tầng, xây theo kiểu biệt thự, trên nóc có hai con rồng chầu; trước cổng, có hai bức tượng sư tử bằng đá trắng lớn sừng sững rất uy nghi. Trong nhà, nghe nói, các vật dụng đều thuộc loại đắt tiền. Tiền ấy từ đâu ra? Trước hết là từ khách hàng của cậu, những người muốn tìm hài cốt hoặc mồ mả của thân nhân. Suốt mấy chục năm chiến tranh, số người chết mà không tìm thấy xác hoặc xác bị vùi vội vã đâu đó trong rừng hoặc trên đồng hoang khá nhiều. Sau chiến tranh, một số người bị tù hoặc bị cải tạo chết và bị lấp dối giá đâu đó dưới lớp đất nông cũng không ít. Thân nhân những kẻ bất hạnh ấy không ngừng tìm kiếm. Cách tìm kiếm được báo chí trong nước quảng cáo nhiều nhất là nhờ các nhà ngoại cảm, trong đó, có “Cậu Thủy”. Nghe nói khách hàng của “cậu” đông đến độ, lúc nào cũng nườm nượp; nhiều người, muốn gặp cậu, phải ăn chực nằm chờ trước nhà “cậu” cả đến mấy ngày trời. Khi gặp, “cậu” yêu cầu ghi tên người chết muốn tìm để “cậu” gọi âm binh tìm kiếm hoặc nhờ “Mẫu” chỉ giúp.  Sau khi đã được “âm binh” báo cáo, “cậu” cho thuê xe chở gia đình khách hàng đi tìm mộ. Toàn bộ chi phí xe cộ và tài xế cho chuyến đi, khách hàng phải trả, khoảng năm bảy chục triệu. Cuối cùng, sau khi tìm được mộ thân nhân rồi, khách lại phải “hậu tạ” cho “cậu” một số tiền nữa. Nói chung, theo dư luận, muốn đến gặp “cậu”, người ta phải chuẩn bị ít nhất là 150 triệu đồng! Thứ hai, một số cơ quan nhà nước cũng nhờ “cậu”, trong đó, được đề cập đến nhiều nhất là Ngân hàng Chính sách Xã hội. Cơ quan này đã nhờ “cậu Thủy” tìm kiếm hài cốt và mồ mả của các liệt sĩ. Dĩ nhiên là “cậu” làm được ngay. Tổng cộng, “cậu” tìm được 105 bộ hài cốt; mỗi bộ, được trả 75 triệu đồng; như vậy, “cậu” bỏ túi cả thảy được 7.9 tỉ đồng (khoảng gần 400.000 đô la). Các hài cốt được “cậu” tìm, sau đó, được mang về cải táng trong Nghĩa trang liệt sĩ các tỉnh một cách long trọng để mọi người thấy rõ là đảng và chính phủ không hề quên ơn những người con đã hy sinh thân mình cho… cách mạng! Nhưng mới đây, một số nhà báo, sau nhiều năm âm thầm điều tra, đã tiết lộ một sự thật khủng khiếp: những cái gọi là hài cốt ấy chỉ là xương heo hay xương bò mà “cậu” Thủy đã thuê người chôn sẵn. Chưa hết. “Cậu” còn khôn ngoan chôn theo một số bình tông (“bidon”, bình đựng nước) có khắc tên nguệch ngoạc cũng như một số đôi dép cao su. Có điều phần lớn các bình tông cũng như dép cao su ấy còn khá mới. Nhưng không sao. Ngân hàng Chính sách Xã hội vẫn nhắm mắt trả tiền cho “cậu”. Miễn là có cái xương nào đó mang về cải táng trong Nghĩa trang liệt sĩ để thân nhân của họ an tâm và đồng bào khắp nơi đến thắp nhang kính vái! Trước những sự thật được vạch trần không thể chối cãi được đó, ngày 28 tháng 10 vừa qua, công an đã đến còng tay “cậu Thủy”. Những ngày sau đó, báo chí khắp nơi nhao nhao chửi bới “cậu” là nhà ngoại cảm dỏm (ý là có những “nhà ngoại cảm” thật?). Riêng tôi, đọc, tôi lại thấy thương “cậu”. Đương nhiên là “cậu” có lỗi, trước hết và chủ yếu là có lỗi với thân nhân những người đã chết. Những người ấy chắc phải thương bố/mẹ/chồng/vợ/con của mình lắm nên trong bao nhiêu năm không ngừng tìm kiếm; đến khi cầm được bộ xương heo/bò ngỡ là hài cốt của người thân, hẳn họ mừng rỡ vô cùng. Đến lúc nhận ra được sự thật, không biết họ sẽ đau đớn đến độ nào? Nhưng dù vậy, tôi vẫn thương “Cậu Thủy” vì, nghĩ cho cùng, tội của “cậu” cũng chả có gì đặc biệt. Ở Việt Nam, trong thế kỷ 20 vừa qua, có một “nhà ngoại cảm” khác lừa dối nhiều người và nhận được nhiều tiền thưởng bất chính hơn “cậu Thủy” nhiều: Đó là “Cậu Hồ”. “Cậu Hồ” cũng có tài sai khiến rất nhiều âm binh. “Cậu” cũng có “Mẫu” chỉ vẽ từng đường đi nước bước. “Cậu” cũng đem nhiều xương heo, xương bò, xương chó… ra lừa dân chúng để mọi người tin đó là thánh tích hay xá lợi của các bậc thần linh rồi sì sụp cúi lạy. “Cậu Thủy” chỉ làm 105 bộ hài cốt liệt sĩ giả; “cậu Hồ” chế tạo không những hài cốt liệt sĩ giả mà cả hài cốt quốc tổ giả và thần thánh giả; không những chỉ quy tập trong các nghĩa trang mà còn dựng sừng sững trong các cung điện, lâu đài, dinh này phủ nọ hết sức lộng lẫy và nguy nga. Nhiều bộ xương đến bây giờ vẫn còn ngọ nguậy và phóng uế tùm lum. “Cậu Thủy” chỉ lừa được một dùm người trong có sáu năm; “Cậu Hồ” thì lừa được cả thiên hạ trong gần một thế kỷ. “Cậu” nào cũng dỏm. Nhưng nghĩ cho cùng, so với “cậu Hồ”, “cậu Thủy” chỉ là một thằng nhóc khôn lỏi. Có gì mà phải làm ầm ĩ chứ? Thôi, tha cho “cậu” ấy đi mấy bạn công an ạ. Đồng môn và đồng chí với nhau cả mà. Nguyễn Hưng Quốc Nguồn:voatiengviet.com
......

Yêu cầu “thay đổi” không chỉ là đòi hỏi từ thực tiễn cuộc sống mà còn là mệnh lệnh của dân tộc!

Hiện trạng kinh tế-xã hội Việt Nam Nhận định từ bên trong: Hiện trạng kinh tế Việt Nam đã được đưa ra mổ xẻ tại một cuộc hội thảo khoa học với tên gọi ‘Nhìn lại nửa chặng đường phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011 - 2015 và những điều chỉnh chiến lược’ hôm 23/9. Trong khi một số chuyên gia và quan chức Chính phủ cho rằng kinh tế Việt Nam bị ảnh hưởng chính từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, thì ông Khoan lại không đồng tình với ý kiến đó. Cựu Phó Thủ tướng được trích lời nói rằng ông không tin khủng hoảng kinh tế là nguyên nhân chủ yếu vì ‘nhiều quốc gia cũng bị ảnh hưởng nhưng đâu đến nỗi như Việt Nam’. Ông Khoan cho rằng ‘sai lầm chủ quan dẫn tới bất ổn vĩ mô mới là nguyên nhân chính’. Tiến sỹ Trần Đình Thiên tán đồng quan điểm này[1]. Đánh giá từ bên ngoài (Nhóm tác giả thuộc Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright): Luận điểm chính xuyên suốt báo cáo này có thể diễn đạt ngắn gọn như sau: thể chế yếu kém chính là nguyên nhân sâu xa đã dẫn tới những bất ổn của nền kinh tế và nguy cơ suy thoái kinh tế hiện nay. Các nguy cơ về kinh tế, chính trị và xã hội ngày nay đều có thể lý giải được bởi những cuộc cải cách thể chế bị trì hoãn hoặc chưa được tiến hành triệt để trong quá khứ.”[2]   Theo tôi, những ý kiến xác đáng nêu trên đã vẽ ra bức tranh toàn cảnh không thể xám hơn của thực trạng kinh tế-xã hội Việt Nam những năm qua và sẽ còn u ám hơn trong những năm tới, nếu không có những bước thay đổi đột phá. ‘Thay đổi’ như thế nào? Theo tôi, bản dự thảo báo cáo của nhóm Fulbright đã đi sâu vào phân tích các khía cạnh chuyên môn về tài chính - tiền tệ và quản trị hành chính công với những đề xuất tháo gỡ các nút thắt một cách cụ thể, xác đáng và đầy tâm huyết. Với hiện trạng kinh tế Việt Nam, tôi nhìn nhận vấn đề một cách trực diện và đơn giản hơn. Trong cuốn BCG bàn về chiến lược [3], tác giả bài viết ‘Một nửa lãng quên,’ Luc de Brabandere có kể một câu chuyện: Ở quê, tôi có một chú chó rất thích được nhảy qua hàng rào trong vườn để trốn sang vườn nhà hàng xóm. Thế là một ngày kia tôi quyết định dỡ bỏ hàng rào kẽm gai xấu xí, vì nó đã không còn làm nhiệm vụ của mình. Thử tưởng tượng tôi ngạc nhiên đến mức nào khi hôm sau tôi thấy chú chó của mình vẫn tiếp tục nhảy đúng chỗ thường lệ trên hàng rào cũ, và vẫn mang bộ mặt hài lòng rất láu. Nhưng trước khi bạn cười nó, hãy bỏ chút thời gian suy nghĩ. Có thể chính nó đang cười chúng ta – những người không thể thoát ra chiếc hộp mà chúng ta đã dựng nên cho mình, cứ ngồi ru rú bên cái hàng rào đã bị dỡ bỏ từ lâu, và tự bó hẹp mình trong những bức tường tưởng tượng (tr. 479). Qua câu chuyện trên tác giả ám chỉ cái cách chúng ta nhìn nhận vấn đề mới là quan trọng. Khi vượt khỏi những rào cản vô hình hạn hẹp, tầm nhìn mới bao quát và sự đánh giá sẽ khách quan hơn. Ví von một cách hình tượng, tôi hình dung thực trạng nền kinh tế Việt Nam giống như hình ảnh một chàng thanh niên đang trong độ tuổi sung sức nhưng buộc phải mặc quá lâu chiếc áo của thời niên thiếu. Chiếc áo (thể chế XHCN) đã quá cũ kỹ và chật chội này khiến cho tư duy bị ‘đóng khung’, trói buộc sự vận động nhịp nhàng của cơ thể (nền kinh tế), khiến cho trái tim (ngân hàng trung ương) bị loạn nhịp và hệ tuần hoàn (hệ thống tín dụng ngân hàng) lưu thông bị ứ đọng, phân phối bị lệch pha; từ đó dẫn đến cơ thể phát triển không đồng bộ, suy kiệt về thể lực. Như vậy, cách giải quyết rốt ráo và giản đơn nhất mà ai cũng biết là chỉ cần thay cái áo mới có độ co giãn phù hợp với cơ thể đang phát triển, mọi việc sẽ trở về trạng thái phối hợp nhịp nhàng, theo qui luật tự nhiên, khi tư duy được giải phóng. Tất nhiên, sự đời không hề đơn giản như ta hình dung. Thay đổi tư duy một người đã khó, thay đổi một thể chế gắn liền với ý thức hệ bị giam hãm bởi những thành công trong quá khứ, đã tồn tại gần bẩy thập kỷ qua thì quả là điều cực kỳ khó khăn. 68 năm có thể là khoảng thời gian còn ngắn để thay đổi một hệ tư tưởng, nhưng chỉ có vài ngày trước và sau đám tang của một vị Tướng huyền thoại của dân tộc – qua những tình cảm quí mến của nhân dân cả nước dành cho ông, cộng với một vài câu chuyện lịch sử liên quan đến cuộc đời đầy thăng trầm của vị Tướng tài ba này hé mở, giới lãnh đạo cao cấp chắc đã cảm nhận được thời điểm lịch sử cần phải thay đổi, không phải vì những toan tính riêng tư mà đó là vì vận mệnh dân tộc! Mỗi một dân tộc đều có những ánh hào quang trong quá khứ đủ lớn để tự hào và có cả những sai lầm nghiêm trọng mang đầy toan tính cá nhân, nhóm lợi ích của một vài lãnh đạo cấp cao, đủ để kéo lùi sự phát triển của cả một dân tộc qua vài thập kỷ. Như một lẽ thường tình, chúng ta mặc nhiên phải chấp nhận. Đó là những ‘chi phí lịch sử’ mà dân tộc nào, ít nhiều cũng đã phải trả giá. Nhưng khi áp lực tích lũy đủ lớn, từ nội tại chủ quan bên trong và cả điều kiện khách quan từ bên ngoài, nhu cầu cần phải thay đổi đã hiện ra quá rõ ràng đến mức toàn thể nhân dân và tổ chức đều nhận thấy, sẽ là ‘có tội lớn’ (với đất nước, với những người đã hy sinh xương máu vì độc lập dân tộc) nếu những ‘sai lầm cá nhân’ trên lại lặp lại. Qua sự kiện trên, tôi tin rằng nhân dân Việt Nam đã có thừa sức mạnh đoàn kết để tự thay đổi hoàn cảnh thực tại, nếu như các cấp lãnh đạo và những vị đại biểu của nhân dân không đủ dũng khí thừa nhận nó. Vì đây là mệnh lệnh của dân tộc, vì tương lai của đất nước – cũng là tương lai của các thế hệ con cháu chúng ta. Vấn đề còn lại quan trọng không kém là, trong tương lai gần, đất nước Việt Nam phải thay đổi như thế nào để có thể sánh vai với các quốc gia tiên tiến trong khu vực. Tôi cho rằng cần phải thay đổi một cách toàn diện, triệt để những vấn đề cốt lõi sau: Triển khai mục đích * Hiến pháp & thể chế Trong cơ chế thị trường, mục tiêu thỏa mãn nhu cầu khách hàng là cái đích ngắm mà hầu hết các công ty, tập đoàn đều phải hướng tới nhằm đạt kết quả cao về tăng trưởng và lợi nhuận. Ở tầm vĩ mô, với xu thế toàn cầu hóa ngày một lan rộng khắp các châu lục, hầu hết các quốc gia tiên tiến đều xem trọng dân chủ hóa là con đường phát triển bền vững mà họ cần phải thiết lập. Trong xu thế đó, Việt Nam đang từng bước hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới, tôi cho rằng mô hình dân chủ nghị viện là phù hợp nhất với bối cảnh lịch sử hiện nay của đất nước. Về cơ bản, chế độ nghị viện và chế độ tổng thống đều được xác lập trên nền tảng dân chủ lập hiến. Nhưng so về mức độ tản quyền của hệ thống nghị viện đang được đa số các quốc gia áp dụng, hệ thống tổng thống dễ tạo điều kiện dẫn đến sự chuyên quyền, độc tài vì tất cả quyền hành pháp tập trung trong tay của một cá nhân. Trong số các quốc gia theo chế độ tổng thống, chỉ có Hoa kỳ là nước áp dụng tương đối thành công vì thiết lập được nguyên tắc tam quyền phân lập triệt để, cộng với một hệ thống tư pháp độc lập, mang tính chuyên trách cao và một nền dân chủ cơ sở lâu đời. Xét về tương quan lực lượng giữa các đảng phái/ tổ chức chính trị hiện thời, với lợi thế về hệ thống bộ máy, tổ chức, con người sẵn có từ cấp cơ sở tới trung ương của đảng cầm quyền, một kịch bản mang tính dung hòa có lợi nhất cho đại cục là: thông qua hệ thống bầu cử tự do, đảng đương quyền thu được tỉ lệ số phiếu bầu quá bán (chiếm đa số tuyệt đối) hoặc cao hơn (chiếm đa số tương đối) để tiếp tục nắm quyền lãnh đạo chi phối, số phiếu còn lại thuộc về các đảng đối lập (lý tưởng là hai, với tỉ lệ phiếu trúng cử của đảng đối lập thứ ba tối thiểu không ít hơn 15%). Một khi nhân dân được trao quyền làm chủ trực tiếp thông qua bỏ phiếu, chế độ này với vai trò lập pháp có tầm ảnh hưởng quan trọng của quốc hội, sẽ buộc các đảng liên minh cầm quyền từng bước tinh gọn bộ máy, sàng lọc nhân sự và chấp pháp theo hướng hiệu quả, mang lại lợi ích tốt nhất có thể cho nhân dân, trong nhiệm kỳ đương quyền của mình. Về bản dự thảo Hiến pháp 1992 đang được quốc hội thảo luận và sắp được thông qua (bước cuối cùng là trưng cầu dân ý?), với cá nhân tôi, cho đến thời điểm này, Hiến pháp 1946 được xem là bản hiến pháp dân chủ, mang tính phân quyền cao, lời văn cô động, súc tích, ngắn gọn và dễ hiểu nhất với quảng đại quần chúng. Tất nhiên, sẽ giữ lại những nội dung cơ bản của nó và sửa đổi, bổ sung thêm một số điều cho phù hợp với chế độ nghị viện. Để đảm bảo cơ chế kiểm soát chéo giữa các nhánh quyền lực, cần thiết phải bổ sung một số điều khoản quan trọng liên quan đến Hội đồng bảo hiến, một tổ chức độc lập trực thuộc nhánh tư pháp, nhằm kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật (trước và sau khi có hiệu lực) do quốc hội ban hành. * Thiết kế tổ chức kết hợp tập quyền và phân quyền Trong cuốn Tư duy lại tương lai của nhiều tác giả, do Rowan Gibson biên tập, có bàn về tập quyền và phân quyền trong thiết kế tổ chức: Vấn đề có tính chiến lược cho các tổ chức ở thế kỷ 21 là làm thế nào để cân bằng các hoạt động của mình: đặt cái gì vào phần hạt nhân và cái gì cho phần không gian xung quanh (nguyên tắc ‘Bánh cam vòng’). Chẳng hạn, một tổ chức cần phải nhỏ vừa đủ về nhân lực và linh hoạt, nhưng đồng thời trong một số lĩnh vực nó cần phải đủ lớn để tạo sự bứt phá, thay đổi có lợi. Trong việc điều hành vĩ mô của chính phủ luôn phải có một trung tâm mạnh để quán xuyến mọi việc nhưng vẫn dành một không gian đáng kể cho các quyết định của địa phương. Báo cáo dự thảo của nhóm tác giả Fulbright có đề xuất cụ thể hơn: “Xây dựng Luật chính quyền địa phương là một cơ hội rất phù hợp để thảo luận về cơ cấu địa phương và mối quan hệ giữa chính quyền địa phương với Chính quyền trung ương. Cần thảo luận để thiết lập các thiết chế quản lý kinh tế cấp vùng có đủ thẩm quyền để quản lý và điều tiết hiệu quả hơn các nguồn lực kinh tế… Ngoài ra, dưới cấp vùng, các đô thị và làng xã cần được tự quản theo nguyên tắc tự quản địa phương được quy định trong Hiến pháp với những thẩm quyền và ngân sách được phân tách rạch ròi với chính quyền trung ương.” Trong bài tiểu luận Trung tâm lợi nhuận và phân quyền quản lý (BCG bàn về chiến lược), tác giả Henderson có nhấn mạnh: “Triết lý tiềm ẩn là quyền lực và trách nhiệm phải đi song hành, và nhất thiết phải được chia sẻ cho nhiều người. Sự cân bằng hoàn hảo giữa tập quyền và phân quyền do đó phải mang lại hiệu quả thay vì cực đoan.” Theo tôi, nếu bộ máy quản trị nhà nước tạo cơ chế phân quyền (phân công, phân nhiệm đi kèm với phân bổ nguồn lực) rõ ràng & minh bạch thì tính chủ động, sáng tạo & trách nhiệm của cấp dưới và địa phương sẽ được nâng cao. Khi đó việc đầu tư dàn trải theo phong trào, cơ chế xin-cho sẽ bị triệt tiêu; ngược lại, sự cạnh tranh giữa các tỉnh, vùng miền sẽ kích hoạt việc khai thác tốt hơn lợi thế đặc thù của từng địa phương. Chính quyền trung ương lúc này sẽ ‘rảnh tay’ để định hướng, điều tiết và xử lý những vấn đề thuộc tầm vĩ mô. Thiết kế bộ máy hành chính công tinh gọn là một chuyện, việc điều hành, xử lý sự cố lại là chuyện khác, nó liên quan đến động cơ, năng lực và kỹ năng của con người – cá nhân lãnh đạo. Ở cấp quốc gia, nhân dân cả nước bầu cho các đảng theo kiểu bầu đại diện theo tỉ lệ. Ở cấp địa phương, tôi đề nghị, để tăng tính tự chịu trách nhiệm và năng lực cá nhân lãnh đạo, nên trao quyền cho nhân dân địa phương bầu trực tiếp các vị trí Xã trưởng, Đô trưởng và Tỉnh trưởng theo hình thức bầu cử theo đa số tương đối (ứng cử viên chiếm đa số phiếu trong một khu vực xác định sẽ là người chiến thắng). Còn vị trí Trưởng vùng và Quận trưởng thì do các tỉnh/ thành phố và các xã chọn ra, từ những người cùng cấp đương nhiệm (hoặc đã nghỉ hưu nhưng vẫn còn đủ sức khỏe và có uy tín) đảm nhiệm luân phiên hoặc theo chu kỳ, ngắn hạn hay trung hạn. Bởi lẽ, nhân dân chỉ muốn và chỉ có thể đặt niềm tin vào một cá nhân nào đó – đủ năng lực và đủ sức thuyết phục - chứ khó có thể đặt trọn kỳ vọng vào nguyên cả một ‘hội đồng’. (Tất nhiên, kèm theo đó là những điều khoản ràng buộc và bãi miễn trong trường hợp cần thiết). Các ứng viên này (nên) được phép vận động quyên góp tài lực (có giới hạn, và đặt trong tầm kiểm soát của cấp có thẩm quyền) trong quá trình vận động tranh cử tự do, đi kèm với ‘chương trình hành động’ để thuyết phục cử tri khu vực bầu chọn. Những cá nhân nói trên là nguồn lực dự trữ, bổ sung cho hàng ngũ lãnh đạo cấp quốc gia trong trường hợp cần thiết, nếu họ chứng tỏ được năng lực lãnh đạo, điều hành và được nhân dân tin tưởng. * Xác định lợi thế cạnh tranh và mô hình tăng trưởng Trong cuốn Tư duy đột phá, tác giả Shozo Hibino nhận định tình hình kinh tế thế giới một cách khái quát: “Nhìn lại lịch sử phát triển kinh tế thế giới, chúng ta thấy Anh từng dẫn đầu về kinh tế đến đầu những năm 1900 nhờ vào nguồn tài nguyên thiên nhiên và tài chính mạnh. Mỹ dẫn đầu suốt những năm 1970 nhờ có nguồn tài nguyên và kỹ năng con người. Từ những năm 1980 đến nay, Nhật dẫn đầu, phần lớn nhờ kỹ năng con người mạnh. Tuy nhiên, hiện tại và trong tương lai, ba yếu tố đầu (tài nguyên thiên nhiên, tài chính, và công nghệ) hầu như đều có sẵn cho mọi người ở khắp mọi nơi trên thế giới. Vì vậy, yếu tố riêng biệt tạo ra sự khác biệt trong tương lai chính là kỹ năng con người.” Theo ý kiến một số chuyên gia và các nhà kinh tế có tên tuổi trong và ngoài nước, Việt Nam nên chú trọng vào hai lĩnh vực có lợi thế tương đối là công nghệ thông tin và nông nghiệp. Tôi hoàn toàn đồng ý với nhận định trên, tuy nhiên cần phải nhấn mạnh thêm là, lợi thế tiềm ẩn to lớn của Việt Nam chính là nguồn nhân lực chưa được khai thác đúng mức. Đúng như nhận xét của ông Lý Quang Diệu viết trong cuốn sách One man’s View of the world (NXB SPH Singapore, 2013) [4]: Người Việt là giống người năng động và tài giỏi ở Đông Nam Á. Học sinh đến Singapore theo dạng học bổng Asean rất nghiêm tục học hành và đậu thứ hạng cao nhất. Với giống người thông minh như vậy, quả thật là đáng tiếc là họ lại thiếu tiềm năng. Hy vọng rằng sau khi hết lớp người trải qua cuộc chiến, giới trẻ sẽ kế nhiệm, họ sẽ thấy Thái Lan đã thành công ra sao và họ sẽ bị thuyết phục bởi mức độ quan trọng của thị trường tự do. Du học sinh Việt Nam, không chỉ ở Singapore mà hầu hết tại các nước tiên tiến trên thế giới, đa phần đều nằm ở top 3-5 trong bảng xếp loại sinh viên/học sinh của các trường ở các nước sở tại, nếu không tính đến số học sinh xuất sắc ưu tú mà báo chí đã nêu trong thời gian qua. Vậy thì, chúng ta cần phải xem lại môi trường và phương pháp, hiệu quả đầu tư trong giáo dục tại Việt Nam có những khiếm khuyết cơ bản nào cần phải thay đổi để nền giáo dục nước nhà tiến tiệm cận với trình độ của thế giới. Một khi đã xác định được lợi thế cạnh tranh trong tương lai của thế kỷ 21 chính là nguồn nhân lực chất lượng cao thì mô hình tăng trưởng của quốc gia cũng phải tập trung, ưu tiên phát triển thế mạnh này: cạnh tranh dựa trên năng lực (yếu tố con người), trong đó tư duy sáng tạo là một kỹ năng mang tính đột phá trong hầu hết các lĩnh vực, đặt biệt là công nghệ thông tin, công nghệ cao và công nghệ sinh học. Xác định mục tiêu * XH cạnh tranh, đa dạng hóa: động lực của phát triển Giám đốc Viện Kinh tế thế giới ở Hamburg, Thomas Straubhaar, có viết trong cuốn Chúng ta đã giàu lên như thế nào: Cạnh tranh thúc đẩy tiến hóa: “Adam Smith, cha đẻ của học thuyết kinh tế hiện đại, coi tác động tiến hóa của cạnh tranh là một vấn đề trọng tâm. Smith nhận thấy cấu trúc ganh đua trên thị trường cạnh tranh là một sức mạnh hết sức năng động, nó như một cỗ máy khổng lồ thúc đẩy cả xã hội vươn lên… Đối với toàn xã hội thì sự để ngỏ kết quả của cạnh tranh lại chính là động lực cơ bản thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế.” Có tác giả (lời của một tiến sĩ người Việt đang làm việc tại Nhật Bản?) đã viết: Một xã hội thiếu sự cạnh tranh, phản biện là một xã hội chết lâm sàng [chỗ này có thể tác giả lầm, nội dung ý kiến này là của GS Ngô Bảo Châu – BVN]. Để dễ hình dung, chúng ta hãy quan sát sự khác nhau giữa hai giải bóng đá (hoặc các giải tranh tài những môn thể thao khác) ở cấp quốc gia, một bên là giải phong trào và một là giải chuyên nghiệp. Hai kết quả đem lại sẽ cho ta câu trả lời xác đáng. Đó là sự khác biệt giữa cạnh tranh và thi đua. Cạnh tranh cần sự nỗ lực và mang tính cách mạng; còn thi đua cần sự hứng khởi, chỉ đem lại giá trị tương đối về mặt tinh thần. Trong một thế giới đa dạng, đầy khác biệt, và biến động khó lường ngày nay, nếu không tạo được môi trường cạnh tranh đủ mạnh trên mọi lĩnh vực, phương diện (kèm theo sự điều chỉnh linh hoạt, liên tục) thì các công ty, tổ chức hay quốc gia luôn là kẻ theo sau thị trường, luôn phải bám đuổi các nước khác. Kẻ đi sau thì ít khi có ‘lợi thế’. Chắc chắn là như vậy. * Chính phủ ‘tinh hoa’: động cơ thúc đẩy và định hướng phát triển Phần này thì chính phủ Singapore là một ví dụ điển hình để các nước phải học hỏi. Tôi chỉ xin trích dẫn những câu nói nổi tiếng của ông mà không cần bình luận gì thêm. “Theo Lý Quang Diệu, ngay cả nền dân chủ tốt nhất cũng khó mà cạnh tranh với một chính phủ gồm những cá nhân tinh hoa thực sự có tài, không tham nhũng và có động lực làm việc mạnh mẽ.”[5] “Rất cần thiết phải bồi dưỡng một thế hệ ở trên đỉnh của xã hội, sao cho thế hệ ấy có đủ phẩm chất cần thiết để dẫn dắt và đem lại cho người dân cảm hứng và động lực để đi tới thành công. Nói tóm lại, chính là tầng lớp tinh hoa… Tất cả những người có tiềm năng phát triển rực rỡ phải được như vậy. Đó chính là mũi nhọn trong xã hội, những con người để gửi gắm tốc độ tiến bộ của chúng ta.”[6] Có thể đúc kết lại vấn đề “bộ máy” & “con người” bằng những câu sau trong bài viết của John S. Clarkeson (Nhạc Jazz hay nhạc giao hưởng trong cuốn The BCG on strategy): “Tổ chức chiến thắng trong tương lai sẽ tương tự một tập hợp những nhạc công jazz hơn là một dàn nhạc giao hưởng… Thực tế sẽ không còn những bản nhạc soạn sẵn nữa. Sự phân biệt giữa nhà soạn nhạc/ người chỉ huy dàn nhạc/ nhạc công biểu diễn đang mờ dần. Nhà lãnh đạo là những người chung quanh chúng ta.” * Nền giáo dục tiên tiến: nguồn lực cho ‘chiến lược cạnh tranh dựa trên năng lực’ Chúng ta đã biết rằng lợi thế cạnh tranh trong tương lai, thế kỷ 21 – thế kỷ của nền kinh tế tri thức, chính là nguồn nhân lực - kỹ năng con người, và đây cũng là lợi thế kỳ vọng của Việt Nam, theo ý kiến cá nhân tôi. Để có được ‘sản phẩm’ nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho ‘chiến lược cạnh tranh dựa trên năng lực’, chắc chắn nền giáo dục của chúng ta buộc phải tiếp cận (hoặc mô phỏng, tiếp thu có chắt lọc) những nội dung, phương pháp và giáo trình của các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới. (Vì một số nước trên thế giới đang triển khai thí điểm các chương trình giáo dục mở với một số giáo trình trực tuyến miễn phí, hoặc có thu phí tượng trưng, cho nên việc tiếp cận nó không phải là khó khăn. Hơn nữa, chúng ta còn có đội ngũ đông đảo các nhà khoa học, giáo sư, du học sinh hiện đang công tác, học tập trên khắp thế giới, những người sẽ là cầu nối hữu hiệu để chúng ta nhanh chóng tiếp cận). Vấn đề quan trọng khác là, chúng ta xác định rõ mục tiêu của nó là gì, phải đổi mới, cải cách nền giáo dục với ‘độ mở’ như thế nào trước khi triển khai những bước tiếp theo. Tôi được biết Chính phủ và Bộ Giáo dục – Đào tạo đang trong quá trình thảo luận và tiếp thu những góp ý cho bản dự thảo Đề án Đổi mới Giáo dục 2013. Tôi không dám ‘múa rìu qua mắt thợ’ nên không muốn bàn sâu hơn. Chỉ có điều, nói gì thì nói, tôi nghĩ mục đích cuối cùng của một nền giáo dục tiên tiến là phải tạo ra được những ‘sản phẩm’ – con người phát triển toàn diện. Sau khi đọc qua cuốn Trí óc, trái tim và khí phách: Tư duy lãnh đạo thế kỷ 21 của các tác giả David L. Dotlich, Peter C. Cairo, & Stephen H. Rhinesmith và liên tưởng tới bài viết trước đây của tôi lạm bàn về thực trạng nền giáo dục nước ta, tôi thấy có những điểm tương đồng về mục tiêu giáo dục. Tôi cho rằng ‘sản phẩm’ cuối cùng của một nền giáo dục, nói chung, phải đạt được tối thiểu ba mục tiêu về con người: Trí – Thể - Mỹ (Trí là phải biết cách tiếp thu và ứng dụng những kiến thức đã học; Mỹ là phải biết cảm thụ và yêu mến cái đẹp (nói chung) trong cuộc sống; và Thể là phải có một nền tảng sức khỏe tốt, tinh thần mạnh mẽ, tự do, phóng khoáng). Tác giả cuốn sách trên viết rằng: “Để làm lãnh đạo trong môi trường kinh doanh ngày nay, bạn cần phải sử dụng trí óc, biểu lộ bằng trái tim và hành động bằng khí phách… Xuyên suốt cuốn sách này, chúng tôi đã đề cập đến các nhà lãnh đạo tổng thể (toàn diện hay chín chắn) và sự cần thiết phát triển con người toàn vẹn. Các nhà lãnh đạo chín chắn thường thể hiện trí óc, trái tim và khí phách (Head, Heart, and Guts) một cách tự nhiên” (Chương 1 & 14, trang 31 & 341). Cả ba phẩm chất nói trên (Trí – Thể - Mỹ) nếu được rèn luyện, phát triển trong môi trường tốt sẽ đáp ứng được các tố chất của một nhà lãnh đạo toàn diện (Head – Guts – Heart) – nhà lãnh đạo chín chắn – cho thế kỷ 21. Kết quả đem lại? Shozo Hibino đã đúc kết 7 nguyên tắc tư duy đột phá của ông bằng ba từ: “Mục đích -> Mục tiêu -> Kết quả,” chính là “quy tắc ngón tay cái” đơn giản mà hiệu quả. Mục đích và sự triển khai mục đích mở ra cơ hội sáng tạo trong quá trình xác định vấn đề thực tế. Mục tiêu xác định hệ quy chiếu cho sự ra đời của các giải pháp sáng tạo. Kết quả cho bạn cơ chế để giữ khoảng cách gần với mục tiêu của bạn trong khi thực hiện các thay đổi. (Ch 11. Sức mạnh của sự kết hợp 7 nguyên tắc của Tư duy đột phá) Tôi xin tóm lược bài viết của mình bằng ‘qui trình’ sau: Cuối cùng, tôi muốn nhắn gởi tới quí vị đại biểu của nhân dân Việt Nam đang trong quá trình nghị sự những vấn đề quan trọng của đất nước, rằng: Quí vị có thể thận trọng, cân nhắc khi bàn đến những chính sách quan trọng của quốc gia, nhưng hãy biết quyết đoán khi đưa ra những biểu quyết hệ trọng có ảnh hưởng đến vận mệnh dân tộc. Bác Hồ đã từng nói [7]: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong.” Hãy cố gắng để lại những ‘di sản’ tốt đẹp nhất có thể vì tương lai tươi sáng của dân tộc Việt. Chúng tôi tin ở quí vị! T.N.T. Tác giả trực tiếp gửi cho BVN Tham khảo: (1): Việt Nam ngày càng tụt hậu so với các nước trong khu vực?’ Nguồn VnExpress, chinhphu.vn, VOA’s interview (2): Khơi thông những nút thắt thể chế để phục hồi tăng trưởng, Dự thảo báo cáo của nhóm tác giả thuộc Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, Trường Quản lý Nhà nước Harvard Kennedy School. (3): BCG (The Boston Consulting Group) là hãng tư vấn chiến lược danh tiếng bậc nhất thế giới hiện nay, được sáng lập bởi Bruce D. Henderson – một nhà tư tưởng vĩ đại và một nhà lãnh đạo truyền cảm hứng. Phần lớn các bài tiểu luận viết trong cuốn sách này là “quan điểm” được tập hợp và xuất bản bởi Boston Consulting Group cho khách hàng của họ. (4): Theo Diễn đàn Xã hội Dân sự, http://diendanxahoidansu.wordpress.com/2013/09/25/viet-nam-bi-nhot-trong... (5): Cuốn Đối thoại với Lý Quang Diệu: Cách thức xây dựng một quốc gia, của GS Tom Plate. (6): Cuốn Lý Quang Diệu: Bộ máy quốc gia cần gì? Trích bài phỏng vấn của các tác giả Graham Allison, Robert D. Blackwill và Ali Wyne trong cuốn Lee Kuan Yew: The Grand Master’s Insights on China) (7): Câu này nguyên không phải của Hồ Chí Minh. Có thuyết nói là nguyên của nhà thơ Thanh Tịnh, lấy từ bài thơ Dân no thì lính cũng no, 1948 của ông, có thuyết nói rằng câu này trong báo cáo của Đảng bộ tỉnh ủy tỉnh Quảng Bình gửi ra, được Hồ Chí Minh đọc và từ đó nhiều người dân và cán bộ miền Bắc cho rằng đây là câu nói của Hồ Chí Minh. (Nguồn: Wikipedia) Nguồn: boxitvn.blogspot.de
......

Tuyên chiến với dân tộc

Quốc hội Việt Nam đang họp một phiên họp được coi là dài nhất - 33 ngày - và quan trọng bậc nhất, vì sẽ thông qua bản Hiến pháp mới và Luật đất đai (sửa đổi), hàng chục năm mới có một lần.   Xem ra Bộ Chính trị Trung ương đảng CS và Ban Thường vụ Quốc hội quyết tâm thúc ép gần 500 đại biểu Quốc hội thông qua với tỷ lệ cao các văn kiện cơ bản trên đây, sau khi Ban Chấp hành Trung ương đảng (Khóa XI) vừa họp lần thứ 8 đã thông qua một cách khá là trôi chảy, dễ dàng. Họ vẫn quen một lỗi nghĩ đơn giản, coi ý đảng là ý trời. Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng công khai nói rõ Hiến pháp mới được dự thảo là văn kiện bám chặt theo cương lĩnh của đảng CS đã được Đại hội đảng XI vạch rõ thêm. Có nghĩa là đảng đứng trên nhân dân, quyền lực đất nước này trước hết nằm trong tay đảng CS. Điều đó cũng có nghĩa là Tổng bí thư ra lệnh cho tuyệt đại đa số đảng viên CS trong gần 500 đại biểu Quốc hội - chiếm hơn 90 % đại biểu - phải bỏ phiếu thông qua các văn kiện sẽ được đưa ra, theo đúng kỷ luật của đảng, không được thắc mắc, trì hoãn, đặt lại vấn đề gì nữa hết. Nếp nghĩ của Bộ Chính trị rất dễ hiểu. Vì xưa nay Quốc hội đã có bao giờ dám bác bỏ những văn kiện cơ bản do đảng đưa ra. Cái điều khoản trong Hiến pháp coi Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất chỉ là một vòng trang sức hào nhoáng tròng vào cổ các đại biểu. Chuyện Quốc hội từng trì hoãn chủ trương làm xe lửa cao tốc đã được dự định chỉ là một chi tiết nhỏ, một trục trặc tạm thời. Trong Bộ Chính trị, trong Ban Chấp hành Trung ương, có ai lo ngại rằng việc thông qua Hiến pháp mới và Luật đất đai (sửa đổi) kỳ này sẽ gặp trở ngại, khó khăn, hay vấp váp không? Không, họ đầy tự tin. Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng còn nói rõ là 2 văn kiện này đã được Ban Thường trực Quốc hội hoàn thiện sau khi đã tiếp nhận hơn 20 triệu ý kiến đóng góp của công dân cả nước, do đó không thể thảo luận kéo dài thêm nữa. Tôi vừa đọc lại toàn «Bản dự thảo Hiến pháp cuối cùng đã được hoàn thiện» được phổ biến trong Quốc hội, tôi không khỏi giật mình, kinh hãi về thái độ tự tin thái quá của Bộ Chính trị, về thái độ khinh thường dân chúng, khinh miệt trí thức của nhóm lãnh đạo cao nhất của đảng CS, về thái độ mù quáng đến liều lĩnh của họ. Tôi băn khoăn tự hỏi, họ mê hay tỉnh? Họ khôn hay dại? Mù quáng, liều lĩnh, Bộ Chính trị và Ban Thường trực Quốc hội vẫn cho ghi nhiều lần «chủ nghĩa Mác – Lênin » vào Hiến pháp mới, vẫn giữ «điều 4» về vai trò lãnh đạo toàn trị của đảng Cộng sản, vẫn «quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội», vẫn «lấy kinh tế quốc doanh làm chủ đạo cho nền kinh tế», và vẫn coi «đất đai và mọi tài nguyên là thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý». Đây chính là 5 điều phi lý, mơ hồ, sai lầm tệ hại nhất, rõ ràng nhất, 5 xiềng xích giam hãm xã hội ta trong thân phận nô lệ, 5 cản trở đất nước ta phát triển và hôi nhập với thế giới văn minh. Đó chính là thông điệp cô đọng của 14.785 công dân, đa số là trí thức có trí tuệ và tâm huyết, tinh hoa của dân tộc, công khai, minh bạch bác bỏ cả 5 điều phi lý trên đây với lập luận chặt chẽ, đầy tính thuyết phục, liên quan trực tiếp đến bản dự thảo Hiến pháp mới và Luật đất đai (sửa đổi) trong bản kiến nghị công khai được giao tận tay ban biên tập Dự thảo. Ban Tuyên huấn Trung ương đã huy động hàng mấy chục tuyên truyền viên nói theo công thức giáo điều, nói lấy được, nhưng không có một ai bác bỏ được lập luận của tập thể trí thức trên đây, chỉ phơi bầy sự nghèo nàn về lý lẽ, sự xa rời thực tế và căn bệnh tối tăm về kiến thức khi họ bị lòng tham và quyền lực khống chế. Dứt khoát việc thông qua dự thảo Hiến pháp mới và Luật đất đai (sửa đổi) sẽ không thuận buồm xuôi gió, trái lại nó sẽ vấp phải sự phủ định mạnh mẽ của toàn xã hội do một tập thể trí thức tự tin, gan góc dẫn đầu một cách không thể khoan nhượng nữa. Bởi vì Bộ Chính trị và Ban Thường trực Quốc hội đã hoàn toàn đuối lý về cả 5 vấn đề then chốt trên đây, đã quá chủ quan, tin theo nền nếp cũ, đã dám khiêu khích lương tri dân tộc, dám thách đố sự thật và lẽ phải, dám ngang nhiên nhắm mắt trước yêu cầu cấp bách của toàn dân là phải đổi mới hệ thống chính trị theo hướng từ bỏ độc đoán, chuyên quyền, xây dựng hệ thống dân chủ pháp trị đang thiếu vắng một cách tệ hại và nguy hiểm. Trên thực tế, Bộ Chính trị và Ban Thường trực Quốc hội đã tuyên chiến với cả khối trí thức dân tộc đã thức tỉnh tự lãnh trách nhiệm lịch sử trước toàn dân, thúc đẩy đà chuyển biến đi lên của đất nước, nhằm hòa nhập với thế giới dân chủ văn minh. Điều họ không muốn nhận ra là khối trí thức - dân chủ rất trẻ về tư duy chính trị hiện không còn là đàn cừu để họ chăn dắt, dạy dỗ, dẫn đường nữa. Thế lực này luôn được bổ sung lực lượng trẻ khỏe về kiến thức, dồi dào về sáng kiến, gan góc khi dấn thân, xiết chặt hàng ngũ chiến hữu trong đấu tranh, có một dự án chính trị rất rõ ràng là: giữ trọn vẹn nền độc lập, chống bành trướng, thực hiện đầy đủ các quyền tự do của công dân, xây dựng xã hội dân sự năng động, trên nền tảng pháp luật công minh cho mọi người, từ bỏ dứt khoát, không thương tiếc chủ nghĩa Mác – Lênin cổ lỗ, chế độ CS không tưởn, chủ nghĩa xã hội mờ ảo, việc nuông chiều sở hữu quốc doanh hư hỏng. Sự liên kết, liên minh giữa trí thức với nông dân và quần chúng các tôn giáo luôn đề cao thiện tâm chống cái ác bất kỳ từ đâu, sẽ làm cho cuộc đấu tranh thêm quyết liệt và sâu rộng. Thêm nữa việc các học giả, trí thức, giáo sư, tiến sĩ, sinh viên ưu tú có mặt trong số 14.785 ngôi sao trí tuệ và tâm huyết dân tộc có thừa kiến thức khoa học, lập luận lô-gích biện chứng để đánh đổ và chôn vùi 5 cột trụ lý sự cùn thô vụng của giới cầm quyền hiện tại. Chênh lệch giữa 2 bên khác biệt hẳn nhau như ánh sáng và bóng tối, như ngày và đêm, như khoa học và tà giáo, như sự ngay thật với dối trá, như lòng yêu nước với dã tâm bán nước, như lòng xót xa thương dân với cú đạp giầy vào mặt dân vậy. Nếu tổ chức tranh cãi công khai trước truyền hình trong nước, một em sinh viên trẻ như Huỳnh Thục Vy, Đỗ Thị Minh Hạnh hay Nguyễn Phương Uyên ở phía bên này có thể dễ dàng dồn Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng và cả Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương Đinh Thế Huynh ở phía cường quyền vào tình thế ấp úng, lúng túng, ngậm hột thị cho mà xem. Thế lực cai trị đất nước ta đã phơi bày hết dã tâm của họ. Họ đã khinh miệt bác bỏ hết mọi ý kiến tâm huyết đầy trách nhiệm của của nhân dân, coi cả 14.785 công dân yêu nước chỉ bằng con số không, họ vẫn định ép gần trăm triệu dân ta phải nuốt 5 món ăn siu thối chết người đã bị đông đảo loài người loại bỏ dứt khóat. Tuy nhiên, thời kỳ tan rã của phong trào Cộng sản thực tiễn, giai đoạn mạt vận của học thuyết Mác - Lênin từng cổ súy bạo lực, chiến tranh, máu đổ đầu rơi, và tình trạng suy thoái toàn diện của đảng CS Việt Nam không có cách gì cứu vãn nổi. Nguồn: Blog / Bùi Tín / VOA
......

Vụ án Đinh Nhật Uy làm nổi bật thế hệ mới của những nhà tranh đấu ở Việt Nam

HÀ NỘI — Blogger Đinh Nhật Uy đã bị tòa án Việt Nam xét là can tội “lợi dụng quyền tự do dân chủ” vì đã dùng trang mạng xã hội Facebook để vận động cho việc trả tự do cho em trai là một người chỉ trích chính phủ đang bị bỏ tù. Theo tường thuật của thông tín viên Marianne Brown của đài VOA ở Hà Nội, đây là vụ xử mới nhất liên quan tới một thế hệ mới của những người tranh đấu đặt căn cứ trên internet. Ông Đinh Nhật Uy, 30 tuổi, đã bị đưa ra tòa xét xử hôm thứ ba vì đã đăng tải thông tin trên trang Facebook để ủng hộ người em trai của ông đang thọ án tù 4 năm về tội phát tán truyền đơn chống chính phủ. Ông Hà Huy Sơn, luật sư của ông Uy, nói rằng sau một phiên xử ngắn tòa án đã ra phán quyết cho rằng thân chủ của ông phạm tội dùng trang mạng xã hội này để chỉ trích chính phủ. Ðây là một trong những vụ án đầu tiên ở Việt Nam mà trang Facebook có vị trí trung tâm đối với những gì mà ông ấy (Ðinh Nhật Uy) bị truy tố."   Phil Robertson, Human Rights Watch. "Theo văn bản khởi tố được đăng lại trên trang blog chính trị Dân Luận, những thông tin trên trang Facebook của Đinh Nhật Uy có những nội dung ngụy tạo, vu khống và xâm phạm lợi ích của nhà nước, tổ chức và công dân." Ông Phil Robertson, phó Giám đốc bộ phận Á châu của tổ chức nhân quyền Human Rights Watch, nói rằng lệnh khởi tố ông Đinh Nhật Uy có tính chất khác thường vì nó đặt trọng tâm vào việc ông sử dụng trang mạng xã hội Face book. "Ngay cả trong trường hợp có những vụ án khác ở Việt Nam dính líu tới những người đã đăng tải thông tin trên Facebook, tôi vẫn cho rằng đây là một trong những vụ án đầu tiên ở Việt Nam mà trang Facebook có vị trí trung tâm đối với những gì mà ông ấy bị truy tố." Vụ án này làm nổi bật một thế hệ mới của những nhà tranh đấu ở Việt Nam, là nước có 32 triệu người sử dụng internet trong khối dân khoảng 90 triệu người.   Hơn 70% công dân mạng ở Việt Nam sử dụng Facebook và mặc dù có đôi lúc bị ngăn chặn bởi một số các công ty cung cấp dịch vụ internet, trang mạng xã hội này đã trở thành một diễn đàn rất sinh động cho những người viết blog chính trị ở Việt Nam. Hiện nay có một thế hệ mới của những nhà hoạt động internet. Họ là những người rất trẻ, rất can đảm. Họ dùng blog và mạng lưới xã hội để trao đổi thông tin và bày tỏ tình cảm, ý nghĩ của mình. Nhà hoạt động Vũ Sỹ Hoàng. Ông Vũ Sỹ Hoàng, một nhà hoạt động ở Sài Gòn, là một trong số hàng ngàn người tham dự lễ thắp nến cầu nguyện tại một nhà thờ ở Sài Gòn hôm chủ nhật để bày tỏ sự ủng hộ đối với Đinh Nhật Uy và gia đình. Ông Hoàng cho biết cảm nghĩ như sau. "Tôi nghĩ rằng hiện nay có một thế hệ mới của những nhà hoạt động, những nhà hoạt động internet. Họ là những người rất trẻ, rất can đảm. Họ dùng blog và mạng lưới xã hội để trao đổi thông tin và bày tỏ tình cảm, ý nghĩ của mình." Tuy hầu hết các nhân vật tranh đấu chính trị sử dụng truyền thông xã hội, các nhà quan sát nói rằng thế hệ trẻ hơn, lớn lên trong một hoàn cảnh kinh tế khá hơn, có cách tiếp cận riêng trong việc thảo luận về đề tài cải cách chính trị. Ở Việt Nam trước đây, thảo luận về cải cách là lãnh vực riêng của các nhà trí thức. Nhưng giờ đây, theo giáo sư Jonathan London của Đại học Thành phố Hồng Kông, internet đang mở rộng cuộc thảo luận tới một khối người đông đảo hơn. "Chúng ta đang thấy sự du nhập hoặc đa dạng hóa của những mô thức bày tỏ quan điểm chính trị. Và dĩ nhiên sức hấp dẫn của truyền thông xã hội ở Việt Nam là nó mang lại cho người dân Việt Nam một điều gì đó rất đặc biệt. Đó là tự do diễn đạt, là ngôn luận chính trị không qua trung gian. Đó là một việc thật sự mới mẻ ở Việt Nam và dĩ nhiên nó làm cho người ta cảm thấy phấn khởi." Điều mà chúng ta đang chứng kiến là cuộc tranh đấu để thấy được những gì làm nên quyền tự do ngôn luận ở Việt Nam... Jonathan London, Ðại học thành phố Hong Kong. Trong lúc các blogger chính trị tìm cách truyền bá thông tin và gây ảnh hưởng lên hàng triệu người sử dụng internet, chính quyền ở đây đang chật vật để tìm hiểu và quản lý diễn đàn mới của cuộc thảo luận chính trị. Giáo sư London cho rằng vụ xử Đinh Nhật Uy nêu bật mối căng thẳng đó. "Một mặt, những người Việt Nam thuộc mọi thành phần đang đang ứng phó với một cuộc bàn thảo không ngừng thay đổi về xã hội và chính trị. Tôi nghĩ rằng đó là một quá trình mà tự bản thân nó là quá trình rất thú vị và phức tạp. Và mặt khác, đây là một vấn đề chính trị. Điều mà chúng ta đang chứng kiến là cuộc tranh đấu để thấy được những gì làm nên quyền tự do ngôn luận ở Việt Nam." Ông Phil Robertson của tổ chức Human Rights Watch cho biết ông tin là cáo trạng nhắm vào ông Đinh Nhật Uy có mục đích hăm dọa để những nhân vật tranh đấu và gia đình của họ không đi theo con đường của ông. Nhiều người trong gia đình của các nhân vật bất đồng chính kiến đã sử dụng mạng internet để tranh thủ sự ủng hộ cho cuộc vận động của họ. Chúng tôi làm việc này cho tương lai. Tôi có một đứa con trai và tôi nghĩ về nó rất nhiều. Cho nên tôi nghĩ rằng điều mà tôi đang làm là làm cho nó... Nguyễn Trí Dũng, con trai blogger Ðiếu Cày. Ông Nguyễn Trí Dũng, con trai của blogger Điếu Cày đang bị bỏ tù, cũng dùng trang Facebook của mình để vận động cho cha ông được thả. Ông nói rằng ông có thể bị bắt vì Điều 258 nhưng ông sẵn sàng chấp nhận hậu quả. "Tôi không biết Kha và Uy nghĩ gì, nhưng tôi nghĩ rằng chúng tôi làm việc này cho tương lai. Tôi có một đứa con trai và tôi nghĩ về nó rất nhiều. Cho nên tôi nghĩ rằng điều mà tôi đang làm là làm cho nó và mẹ tôi hiểu được điều đó." Theo Human Rights Watch, 61 nhà hoạt động và bất đồng chính kiến ở Việt Nam đã bị tòa án Việt Nam kết tội trong năm nay, tăng đáng kể so với con số khoảng 40 người của cả năm 2012. Ông Robertson cho biết ông lo ngại là vụ xử Đinh Nhật Uy chứng tỏ xu hướng này sẽ tiếp tục. Nguồn: voatiengviet.com  
......

Phỏng vấn TS Nguyễn Quốc Quân – Không có nỗi sợ nào nhỏ hơn nỗi sợ nào

Phạm Thị Hoài: Thưa ông Nguyễn Quốc Quân, những chuyển động gần đây nhất tại Việt Nam cho thấy nhu cầu hình thành các tổ chức chính trị và xã hội dân sự ngoài vòng kiểm soát của Đảng Cộng sản đã được công khai phát biểu. Ông đánh giá thế nào về khả năng và lộ trình hiện thực hóa nhu cầu ấy?   Nhà văn Phạm Thị Hoài   Nguyễn Quốc Quân: Nói đến “lộ trình hiện thực hoá” này, tôi cho rằng đoàn lữ hành đã đi được đoạn đường quan trọng đầu tiên. Đó là việc lực lượng dân chủ đã có nhận diện khá giống nhau về 1) thực trạng, 2) nguyên nhân chính, 3) nhu cầu, và 4) phương cách giải quyết. Tóm tắt là, thực trạng: đời sống đầy bất công, tụt hậu trong hầu hết mọi lãnh vực, tham nhũng và các “lỗi hệ thống” không thể tự chữa, mất tự do và nhân phẩm…; nguyên nhân chính: thể chế độc tài toàn trị; nhu cầu: tháo gỡ độc tài, xây dựng xã hội dân sự và tiến tới thể chế dân chủ tự do; phương cách giải quyết: áp dụng đấu tranh bất bạo động để nong xích và xây lực. Trong diễn trình này, sự tiến triển đang tăng tốc rất nhanh. Nhanh hơn dự kiến của cá nhân tôi. Chỉ vài năm trước thôi, khái niệm xã hội dân sự còn khá xa lạ; phương thức đấu tranh bất bạo động (ĐTBBĐ) còn gặp khá nhiều ngờ vực về mức khả thi của nó; v.v… Nhưng sự lớn mạnh của cộng đồng mạng tại Việt Nam, những biến chuyển tại Bắc Phi và phản ứng của thế giới tiếp sau đó, tôi nghĩ đã góp phần thuyết phục rất nhiều. Ngày nay, hầu như chẳng còn ai đề nghị cách giải quyết nào khác ngoài con đường đấu tranh bất bạo động và phát triển xã hội dân sự để tiến dần đến tự do và đưa đất nước đi lên. Về mặt thực tiễn, bà con chúng ta cũng đang áp dụng rất sáng tạo các chiến thuật ĐTBBĐ, từ chụp hình và quảng bá nhanh các hình ảnh công an đàn áp, chụp hình các cá nhân có hành động côn đồ, đến các hành động bất tuân dân sự ôn hòa như biểu tình ngồi, nằm giữa đường, mang hàng trăm các tấm giấy lớn mà công an không giật xé hết được, cùng nhảy lên xe buýt để bị bắt như các đồng đội khác, thoải mái đi học phương xa và trước khi về chụp tấm ảnh “Free Us Now” chuẩn bị gửi lên mạng nếu bị bắt thật, v.v… Đây chính là các nỗ lực nong xích, nong rộng vòng xích kềm kẹp của nhà cầm quyền, để tiến dần đến việc đòi hỏi các quyền căn bản của con người mà cả thế giới công nhận và Hà Nội đã ký kết, và ở cuối giai đoạn đó mới có thể xuất hiện các tổ chức xã hội và chính trị độc lập. Chắc chắn những người cầm quyền độc tài không tự nhiên cho phép hình thành các tổ chức này. Chúng ta phải tranh đấu mới tiến tới lằn mức đó được. Phạm Thị Hoài: Trước đây và hiện nay cũng đã có một số đảng và tổ chức chính trị đối lập hoặc độc lập ra đời ở Việt Nam. Số phận và tình trạng của những tổ chức ấy hiện nay như thế nào, chắc chắn ông có theo dõi?   Nguyễn Quốc Quân: Vâng, chúng tôi có theo dõi rất kỹ. Các nhân sự chủ chốt bị trù dập rất nặng nề! Và chính Đảng Việt Tân cũng là một trong những tổ chức chính trị bị tấn công rất nặng nề và liên tục đó. Nhưng qua những cảnh trấn áp đó tôi càng biết ơn những người đã hy sinh, đã dám chấp nhận cái giá phải trả ở vai trò những người đi đầu đối diện với bạo quyền. Tôi muốn nói đến những vị khởi đi từ trong lòng chế độ, sớm nhìn thấy đại hoạ của đất nước như các ông Nguyễn Hộ, Trần Độ, Hoàng Minh Chính…, kéo dài đến các vị muốn tìm lại nhân phẩm cho dân tộc như linh mục Nguyễn Văn Lý, Vi Đức Hồi, Điếu Cày, và nhiều anh chị em trẻ của ngày hôm nay. Tôi cũng nhớ các nỗ lực từ bên ngoài, đã về để nối kết và tiếp sức với người dân trong nước như các ông Trần Văn Bá, Võ Đại Tôn, Hoàng Cơ Minh, v.v… Dĩ nhiên tôi vô cùng kính phục các vị ấy, với lòng biết ơn vô hạn trước những tấm lòng sẵn sàng làm những viên gạch lót đường, sẵn sàng hy sinh nong rộng vòng xích kiềm toả của chế độ độc tài. Nhờ đó, các nỗ lực tiếp sau mới có thể mạnh bước trên con đường rộng hơn, tuy vẫn không kém phần gay go. Vì vậy, sau những hy sinh đó, tôi nghĩ rằng chúng ta càng phải tiến tới để những hy sinh của những con người cao quí đó không bị uổng phí. Dĩ nhiên, cách làm của chúng ta càng lúc càng phải hiệu quả hơn. Chúng ta đang có nhiều bài học kinh nghiệm quí báu từ các dân tộc khác vừa mới đi qua tình cảnh y như dân tộc chúng ta. Với đủ khiêm tốn, chúng ta có thể học nhiều ở họ để tiết kiệm xương máu và thời gian cho dân tộc mình. Tôi rất vui mừng được thấy các hoạt động của ông Lê Hiếu Đằng, nhóm Tuyên bố 258, Diễn đàn Xã hội Dân sự, … Phạm Thị Hoài: Còn bản thân Việt Tân? Tổ chức của ông thực sự có được ảnh hưởng tới mức nào ở Việt Nam? Nguyễn Quốc Quân: Về mức ảnh hưởng của Việt Tân ở Việt Nam thực sự đến đâu thì chắc để tùy sự nhận định của chị cũng như bà con mình. Riêng tôi thì chỉ muốn bộc bạch một suy nghĩ như thế này. Khoa học đã phát hiện sự vỗ cánh của một con bướm nhỏ bé đã có thể góp phần tạo nên một cơn lốc! Nhà khí tượng học Edward Lorenz đã gọi đó là “Hiệu ứng cánh bướm”. Tôi rất tin tưởng khi mỗi người, mỗi nhóm, mỗi tổ chức, miệt mài vỗ đôi cánh của mình bằng lòng nhiệt thành và khả năng đang có, thì TẤT CẢ đều có giá trị và ảnh hưởng tương tác lên nhau. Bằng tấm lòng nhiệt thành ấy, Việt Tân đã và đang tiếp tục vỗ đôi cánh của mình để hoà nhịp với bà con trong và ngoài nước. Phạm Thị Hoài: Một mặt, cái tên Việt Tân khiến không ít người e ngại, không chỉ vì cáo buộc “khủng bố” từ phía chính quyền. Mặt khác, chính việc có tương đối nhiều nhà hoạt động dân chủ trong nước bị bắt và kết án vì được cho là đảng viên Việt Tân lại có vẻ như một sự quảng cáo ngoài ý muốn của chính quyền cho tổ chức của ông. Sự thực nằm ở đâu? Nguyễn Quốc Quân: Hiển nhiên nhà cầm quyền Việt Nam không ngồi yên nhìn bệ quyền lực độc tài của họ tan rã dần. Nhưng nếu tấn công lực lượng dân chủ, họ sẽ mắc phải cái vấn nạn tiến thoái lưỡng nan, như mọi chế độ độc tài khác. Tạm lấy Việt Tân làm thí dụ: Nếu không nhắc tới Việt Tân, họ khó có thể báo động nội bộ để đề phòng và đối phó với phương thức gia tăng sức lực toàn dân để toàn dân cùng đứng lên tháo gỡ độc tài mà chúng tôi cổ xúy trong mấy thập niên qua, tức loại đấu tranh toàn dân – toàn diện. Các chế độ độc tài coi thường ĐTBBĐ cứ lần lượt ra đi. Giới lãnh đạo Việt Nam biết rõ điều này. Còn nếu nhắc tới Việt Tân để báo động nội bộ, hù dọa bà con nhằm cô lập và làm cho các hoạt động của Việt Tân khó khăn hơn, thì cùng lúc họ cũng đang thú nhận là rất lo âu về mức độ hữu hiệu của phương pháp đấu tranh này. Chính nhà cầm quyền làm người dân thêm ước muốn tìm hiểu về cái bí quyết có thể biến những người dân tay không đứng đối diện ngang hàng với những kẻ đeo đầy vũ khí. Tóm lại, theo tôi, Việt Tân tạo ảnh hưởng cỡ nào không quan trọng. Sự kiện phương thức ĐTBBĐ được chấp nhận để tháo gỡ độc tài và đưa đất nước chúng ta đi lên ngang tầm với nhân loại mới là điều quan trọng. Và đó thực sự là tâm nguyện của tất cả anh chị em Việt Tân. Phạm Thị Hoài: Song Việt Tân cũng bị dị nghị rằng vô trách nhiệm và phô trương thanh thế khi tổ chức một số hoạt động dẫn đến những án tù nặng cho người tham gia. Nguyễn Quốc Quân: Thưa chị, đây là một hiểu lầm đáng buồn vì nó tạo khoảng cách giữa những người cùng chí hướng với nhau, mà đó cũng là điều chế độ độc tài rất mong muốn. Theo nhận thức bình thường của chúng ta, đặc biệt của những người đang sống trong các thể chế dân chủ, thì mục tiêu lớn nhất của mọi đảng phái chính trị là nắm quyền. Và để đạt được điều đó thì người dân phải biết đến đảng mình, tức là phải tìm mọi cách để phô trương thanh thế. Đảng phái nào càng khao khát cầm quyền sẽ càng dễ chấp nhận những thủ thuật hèn kém, quỉ quyệt, hay dùng chính đảng viên để trả giá hi sinh, v.v… Tôi có thể hãnh diện để nói rất thành thật rằng Đảng Việt Tân có quan niệm khác hẳn. Ngay từ những ngày đầu mới thành lập, mục tiêu tối hậu của Việt Tân là CANH TÂN ĐẤT NƯỚC. Điều này đã được ghi rõ trong cương lĩnh và được duy trì trong hành động suốt hơn 30 năm qua. Đối với chúng tôi, đứng trong hay ngoài chính quyền không là mục tiêu mà cũng chẳng là vấn đề. Có khác chăng là cách thức làm việc vì phương tiện để canh tân đất nước ở hai vị trí đó có khác nhau mà thôi. Một truyền thống khác nữa của Việt Tân là LÃNH ĐẠO LUÔN ĐI ĐẦU. Các chiến hữu lãnh đạo của chúng tôi ở cấp nào thì luôn là những người lãnh nhận những công việc nhiều rủi ro nhất ở cấp đó. Cá nhân tôi cũng nằm trong nguyên tắc này. Chính người trưởng nhóm của tôi cũng đã đi trước tôi một bước ở những công tác rủi ro. Trong vô số những công việc suốt 3 thập niên qua, dù anh chị em chúng tôi cố gắng đến đâu đi nữa vẫn có những lần bị trắc trở. Có vụ việc công luận biết, nhưng cũng có những vụ việc bà con không biết. Và dĩ nhiên, đối với các việc làm thành công, nếu giữ kín được thì chúng tôi phải giữ kín. Lý do rất đơn giản là để có thể tiếp tục thực hiện. Do đó, trong một vài vụ bị trắc trở, tôi biết một số anh chị em đã tự đấm ngực trách mình, mà còn phải nghe những dị nghị rằng “vô trách nhiệm hay phô trương thanh thế” thì thực sự là họ đau lòng lắm! Phạm Thị Hoài: Các khóa huấn luyện đấu tranh bất bạo động do Việt Tân tổ chức thường bị chính quyền tính sổ nặng nề, vì sao không đơn giản tổ chức các khóa này trên mạng? Nguyễn Quốc Quân: Về các khóa học trên mạng, phải nói rằng đây là cách làm dễ nhất, ít tốn kém tiền bạc và thời giờ nhất. Cách học này chính là những bước đầu tiên mà chúng tôi thực hiện. Nhưng nó chỉ có thể đạt tới một số kết quả giới hạn nào đó thôi. Trong một số trường hợp, chúng tôi bắt buộc phải bổ sung thêm các cách huấn luyện khác. Kinh nghiệm của các dân tộc khác, và trong thời gian gần đây chúng ta thấy một số tổ chức khác của người Việt cũng đi đến cùng một kết luận như vậy về nhu cầu huấn luyện trực diện với nhau. Và việc này chúng tôi đã thực hiện trong nhiều năm qua với nhiều cá nhân và nhiều nhóm khác nhau. Và sau hết, cũng cần nhấn mạnh đây là các quyền của con người – quyền tìm kiếm kiến thức và thông tin – mà nhà cầm quyền Hà Nội đã ký kết với thế giới. Tôi nghĩ rằng khi có những trắc trở ngoài ý muốn, chúng ta càng phải vạch trần hành động vi phạm nhân quyền của Hà Nội trước thế giới và càng tranh đấu cho các nạn nhân, thay vì trách ngược. Tương tự như khi có vụ cướp giật, chúng ta cần giúp chặn bắt kẻ cướp chứ không thể đứng trách là các nạn nhân đã giữ đồ đạc của mình quá hớ hênh. Phạm Thị Hoài: Bắt bớ và tù đày là những điều hiển nhiên trong hoạt động chính trị đối lập hoặc độc lập trong một thể chế như Việt Nam. Ông cũng từng bị ngồi tù hai lần, mỗi lần nhiều tháng, tại Việt Nam. Song cũng có lời nhận định rằng là một công dân Hoa Kỳ, ông có thể ít nhiều “yên tâm” bước vào tù vì có thể tin chắc rằng cánh cửa tù sẽ mở ra một ngày không xa, trong khi các nhà hoạt động sống trong nước không thể có được “bảo hiểm” này. Phần lớn các đảng viên Việt Tân sống ở hải ngoại về nước hoạt động cũng thường chỉ phải trải qua một thời gian giam giữ tương đối ngắn, trước khi bị trục xuất. Làm thế nào để thuyết phục những người trong nước, khi vạch xuất phát của họ được kẻ sẵn bằng một mầu hoàn toàn khác? Nguyễn Quốc Quân: Hiện nay đảng viên Việt Tân có người ở ngoài nước, có người ở trong nước và chúng tôi đều biết sự khác biệt này. Đó là lý do tôi vô cùng trân quí các chiến hữu quốc nội của tôi và luôn thấy là các đóng góp của tôi, kể cả thời gian ở tù, không đáng là gì so với những anh chị em trong nước đang đối diện với phiền toái và hiểm nguy hàng ngày. Chúng ta biết rõ rằng công an và an ninh cộng sản Việt Nam là bậc thầy của những hành động ám sát, khủng bố, thủ tiêu, giết chóc… nên phải hiểu rằng họ sẽ không từ hành động bạo lực nào để bảo vệ chế độ của họ. Năm 2007 khi họ bắt nguội tôi ở Tây Ninh sát biên giới Cam Bốt, trong phòng điều tra họ doạ: “Anh đừng có nói linh tinh, chúng tôi thả anh qua biên giới cho người khác đập đầu chết bây giờ”. Tôi thoáng rùng mình khi nhớ đến Lê Trí Tuệ, nhưng kịp trấn tĩnh lại vì nhớ rằng họ chưa kịp khai thác gì mình. Cho nên sau này khi công tác tại Việt Nam tôi cố giảm thiểu cơ hội bị những “tai nạn có sắp xếp” trong bóng tối. Tôi tin rằng các anh em dân chủ có “quốc tịch nước ngoài” cũng nhận thức rõ cái giới hạn của lợi thế đó. Khi nhập dòng đấu tranh, dù trong hay ngoài nước, mỗi người đều tìm cách tận dụng cái lợi thế của riêng mình. Nhưng một khi đã vào cuộc thì không có nỗi sợ nào nhỏ hơn nỗi sợ nào đâu. Vấn đề là nỗ lực vượt qua nỗi sợ của mình thôi. Đặc biệt khi nhìn đồng đội phải gánh quá nặng và quá gian nan, mỗi người dễ gác nỗi sợ của mình qua bên hơn, để giữ bình tĩnh và có những quyết định sáng suốt hơn. Một điều đáng mừng trong thời gian qua là càng ngày tù đày càng chỉ là nỗi lo thôi chứ ít còn là nỗi sợ. Có vị xem vào tù là “giấc ngủ trưa” và đã hành xử đúng như vậy. Thái độ khi bước ra khỏi tù không thua gì, và còn có phần mạnh hơn, ngày bước vào tù. Tinh thần ấy lan toả đến lực lượng dân chủ nói chung và đến rất nhiều các bạn trẻ gần đây như Phương Uyên, Nguyên Kha, Quốc Uy, Châu Văn Thi, Bùi Tuấn Lâm, Trần Hoài Bảo, … Chính các bạn ấy đủ trưởng thành và đảm lược để tự chủ quyết định sau khi đã cân nhắc lợi hại cho chính mình. Với tinh thần cùng đến với nhau, họ tự xác định vạch mức xuất phát cũng như mức đến – Không cần ai thuyết phục. Và đó mới là tia hy vọng cho đất nước chúng ta. Chúng ta vẫn thường nói lịch sử Việt Nam luôn xuất hiện những hào kiệt trong những lúc đen tối nhất. Nay các hào kiệt đang đứng, đang đi, đang sống ngay giữa chúng ta đó. Những người có bề ngoài bình thường nhưng với trái tim và khí phách bên trong rất phi thường. Phạm Thị Hoài: Tuy nhiên có những trách cứ rằng việc Việt Tân công khai ủng hộ một số nhà hoạt động dân chủ trong nước là gây hiểu lầm bất lợi cho họ, và chính họ cũng luôn nhấn mạnh rằng mình là những cá nhân độc lập không ở trong một đảng phái, tổ chức chính trị nào. Nguyễn Quốc Quân: Việc chị nêu là có, nhưng còn hai vế nữa mà có lẽ công luận chưa biết tới. Đó là chúng tôi cũng nhận được một số trách cứ với đại ý: có vẻ như Việt Tân chỉ quan tâm đến người của mình mà ít lên tiếng hay vận động cho những người của các tổ chức khác hay những người hoạt động độc lập trong lực lượng dân chủ. Có lời trách còn đi xa hơn nữa về “trách nhiệm phải lên tiếng” của Việt Tân. Sau hết, chúng tôi cũng nhận được sự dặn dò trước của một số nhà hoạt động là cứ vận động cho họ, bất kể các tuyên bố công khai của các vị ấy. Vì vậy, trong mỗi lần Việt Tân công khai lên tiếng ủng hộ ai, đặc biệt là các vị đang bị xách nhiễu, giam cầm, chúng tôi phải đắn đo nhiều, dựa trên ba yếu tố: 1) ước nguyện của nhà hoạt động ấy nếu chúng tôi có sự dặn dò từ trước; 2) ước nguyện của gia đình nhà hoạt động ấy nếu họ đang ở trong tù; 3) nhu cầu vận động ngay lúc đó có đòi hỏi phải lên tiếng ủng hộ công khai không. Nhưng quan trọng hơn nữa, theo tôi nghĩ, chúng ta cần tránh rơi vào cái bẫy mà chế độ độc tài toàn trị rất muốn. Đó là tạo khoảng cách tối đa giữa các lực lượng đối kháng để muôn năm trường trị. Cứ mỗi lần họ bảo “vì có hội ABC ủng hộ nên họ đánh” thì các nhà hoạt động lại tránh ABC ra; rồi thì sau một thời gian tránh mãi, chúng ta sẽ chỉ còn những cá nhân rời rạc, không kết hợp với nhau được để đủ sức gỡ bỏ xiềng xích độc tài. Chúng ta cũng thấy rõ là Việt Tân chỉ bị dùng làm cái cớ cho mục tiêu trên mà thôi. Trong nhiều vụ việc gần đây, dù không dính dáng gì đến Việt Tân, các nhà hoạt động vẫn bị bắt đó thôi. Sau hết, trong ĐTBBĐ, chúng ta cần bắt đầu hành xử các quyền đương nhiên của mình dù những người cầm quyền có chấp nhận hay không. Và lại còn phải nhấn mạnh những quyền ấy hơn nữa khi nhà cầm quyền ra những đòn phép để người dân tự rút quyền của mình lại. Họ càng ra các đòn phép về mặt nào thì chúng ta càng biết các hoạt động của chúng ta về mặt đó đang “đánh đúng chỗ” và đang làm họ lo âu. Phạm Thị Hoài: Dị nghị, bất hòa, chia rẽ, hữu danh vô thực…, có lẽ còn phải thêm vào danh sách nhược điểm này nhiều đặc tính tiêu cực khác của các đảng phái và tổ chức chính trị Việt Nam ở hải ngoại. Ông đã có gần 30 năm hoạt động chính trị ở hải ngoại. Nếu không phải là những lời lạc quan chung chung, ông có thể thực sự nói gì về năng lực và tương lai của những đảng phái này? Nguyễn Quốc Quân: Thưa chị, Việt Tân có nguyên tắc cho mọi thành viên là chỉ góp phần xây dựng sự đoàn kết chung trong lực lượng dân chủ, chứ không làm sứt mẻ sự đoàn kết đó, đặc biệt là không phê bình các tổ chức khác. Do đó, tôi xin phép không vi phạm nguyên tắc này. Tôi chỉ xin trình bày một suy nghĩ là mọi tổ chức, kể cả Việt Tân, nói cho cùng đều chỉ là phương tiện để các thành viên đạt đến một mục tiêu chung nào đó. Nếu phương tiện nào không còn đáp ứng mục tiêu của các thành viên nữa thì tiến trình chọn lọc tự nhiên sẽ xảy ra thôi. Và các tổ chức mới, đáp ứng đúng nhu cầu hơn, sẽ xuất hiện. Do đó, việc đồng bào chúng ta muốn đứng lên giải quyết chuyện đất nước mới quan trọng. Khi đã có mục tiêu chung, ước muốn chung đó ở mức nóng bỏng lên rồi, thì chính đồng bào chúng ta sẽ chọn phương tiện nào hữu hiệu nhất cho riêng mình để tiến tới. Bà con mình đang mỗi ngày một đông chọn lựa bước tới cái Đúng, cái Tốt, cái Thiện thay vì chọn chùn chân khi thấy cái Sai, cái Xấu, cái Ác… Chúng tôi cũng tin rằng sẽ tới lúc tất cả các đảng phái đều thấy nhu cầu liên minh phối hợp với nhau thực sự, trong tinh thần đối tác bình đẳng chia nhau gánh vác những đòi hỏi vô cùng to lớn của công cuộc đấu tranh cho dân chủ và canh tân đất nước. Phạm Thị Hoài: Những người trực tiếp điều hành một tổ chức chính trị không thể chỉ làm công việc này vào Chủ nhật. Họ buộc phải là những người hoạt động chuyên nghiệp, toàn thời gian. Ban lãnh đạo Việt Tân và bản thân ông có là những người hoạt động chính trị chuyên nghiệp như vậy không? Nguyễn Quốc Quân: Đúng như chị nhận định là những người trực tiếp điều hành một tổ chức chính trị cần hoạt động chuyên nghiệp và toàn thời gian. Do điều kiện eo hẹp về tài chính và một số giới hạn khác trong cuộc sống, việc hoạt động toàn thời của một đảng viên không những là một quyết định gay go của chính mình mà còn cần đến sự hỗ trợ tinh thần và hi sinh của những người thân trong gia đình nữa. Việt Tân có bao nhiêu người như vậy? Xin thưa là chưa đủ để đáp ứng hết các nhu cầu. Nhưng đó chưa phải là điều quan trọng tôi muốn được chia sẻ ở đây. Nếu nói yếu tố “chuyên nghiệp” như là sự chuyên tâm học hỏi kinh nghiệm về trách vụ được giao, và nói yếu tố “toàn thời” như là số lượng 40 giờ một tuần dành cho công việc ấy; thì ở trong cũng như ngoài nước, Đảng Việt Tân may mắn có một tập thể không ít các anh chị em, cùng chung một lý tưởng và quyết tâm như thế. Họ vắt ra những mẩu thời gian và phương tiện xen kẽ với công việc kiếm sống, góp nhặt thì giờ quí giá của gia đình, giảm bớt những sinh hoạt giải trí khác để góp sức với đồng đội trong tổ chức. Và đặc biệt, những con người toàn tâm toàn ý cho việc chung như vậy không chỉ có trong các tổ chức chính trị. Nếu nhìn kỹ hơn ta sẽ bắt gặp ở một số vị hoạt động trong cơ chế cộng đồng, trong các trường dạy Việt ngữ, trong môi trường truyền thông, văn hoá, xã hội… hoàn toàn thiện nguyện. Động lực duy nhất khiến chúng ta cứ tiếp tục hoài như vậy là nhu cầu được làm điều Đúng, điều Đẹp, điều Ưa Thích. Tôi tin tưởng ở tính hướng thiện của con người là nhờ quí vị ấy. Và vì thế tôi có quyền lạc quan về giai đoạn canh tân Việt Nam sau này. Phạm Thị Hoài: Một tổ chức chính trị đương nhiên là cần kinh phí hoạt động, cần rất nhiều. Kinh nghiệm của ông trong lãnh vực này như thế nào? Nguyễn Quốc Quân: Nhận xét của chị rất chính xác, mọi loại hoạt động đều phải có chi phí, từ tiền in ấn, điện thoại, máy móc, đến những vé xe đò, xe lửa, máy bay, đến việc giúp đỡ gia đình các nhà tranh đấu đang bị giam cầm, v.v… thậm chí cả đến tiền hối lộ để vượt qua một số rào cản. Chính vì thế, công an và an ninh Việt Nam luôn tìm mọi cách để khống chế và bao vây kinh tế gia đình các nhà bất đồng chính kiến trong nước và xuyên tạc các nỗ lực kinh tài chân chính của các tổ chức chính trị. Việt Tân, cũng như các tổ chức chính trị khác, phải tự mình lo các chi phí cần thiết tối thiểu để có thể chủ động trong các sinh hoạt căn bản và trường kỳ. Để đáp ứng nhu cầu ấy, ngoài các cơ sở kinh doanh và đầu tư độc lập của tổ chức, các đảng viên Việt Tân tùy theo hoàn cảnh riêng đã và đang cống hiến trí tuệ, thì giờ, công sức, cũng như tài chính để góp chi phí trong sinh hoạt địa phương và quốc nội. Chúng ta lại còn có khối người Việt nặng lòng với quê hương đang sống trên khắp thế giới. Sự tự lập này rất cần thiết để giữ được độc lập trong những quyết định tốt nhất cho đất nước. Ngoài ra, chúng ta còn có nhiều tổ chức nhân quyền đang rất quan tâm đến tình trạng chà đạp nhân quyền tại Việt Nam và sẵn lòng giúp chúng ta một số phương tiện. Tôi tin là khi dân tộc Việt Nam sẵn sàng cho một cuộc đổi thay bằng một cuộc tranh đấu ôn hòa trên đường phố như tại Ai Cập, hay tại các cuộc cách mạng màu, thế giới sẽ nhập cuộc cùng với chúng ta. Xu hướng của nhân loại đã rất rõ. Phạm Thị Hoài: Về lâu dài, mỗi chính đảng hay tổ chức chính trị muốn tham gia vào tiến trình chuyển hóa xã hội buộc phải có đội ngũ chuyên gia của mình về các lĩnh vực thiết yếu trong xã hội. Ông có thể khoe chút ít về đội ngũ ấy của Việt Tân không? Nguyễn Quốc Quân: Điều làm tôi tạm yên lòng là anh chị em Việt Tân có mặt trong đủ loại ngành nghề, đủ loại tầm mức, và đủ mọi lứa tuổi; nhất là lứa tuổi từ 20 đến 40, trội cả về chất lẫn lượng. Nhưng chúng tôi cũng biết rất rõ là dù với lực lượng gấp nhiều lần hiện nay, Việt Tân vẫn không bao giờ nghĩ một mình Việt Tân có thể chuyển hóa cả xã hội. Rộng hơn nữa, không một giai cấp nào hay ngay cả một mình chính phủ (dân chủ trong tương lai) có thể giải quyết vấn đề của đất nước sau bao năm bị tàn phá tan hoang trong mọi lãnh vực. Để băng bó lại đất nước về mọi mặt và đưa đất nước đi lên, TOÀN THỂ DÂN TỘC trong nước và trên khắp thế giới phải góp phần. Việt Tân dù lúc đó nằm trong hay ngoài chính quyền sẽ chọn lãnh vực mà chúng tôi có thể đóng góp hữu hiệu nhất. Chọn lựa này vừa dựa trên nhu cầu đất nước vừa dựa trên sức lực thực tế của Việt Tân vào lúc đó. Cám ơn chị cho cơ hội khoe nhưng xin khất cho đến ngày đất nước mình cất cánh đã. Và lúc đó có lẽ chúng ta chỉ có một niềm tự hào chung là đội ngũ chuyên gia Việt Nam hùng hậu cả trong lẫn ngoài nước đã đổ hết tài năng ra để đưa đất nước bắt kịp với thế giới trong thời gian kỷ lục. Phạm Thị Hoài: So với các đảng phái và tổ chức chính trị ở hải ngoại, sự hiện diện của Việt Tân trên truyền thông hiện đại là tương đối mạnh. Song, xin lỗi ông, xếp hạng truy cập website chính thức của Việt Tân cũng như Đài Chân trời Mới cho thấy tầm ảnh hưởng của những cơ quan ngôn luận này khá khiêm tốn. Các trang mạng xã hội của Việt Tân cũng vậy. Tôi có cảm giác rằng thay vì thực sự dùng Internet như một vũ khí, các nhà hoạt động chính trị chỉ nói về cái vũ khí ấy. Nguyễn Quốc Quân: Chà, câu này nghe thì cũng rát thật đấy nhé, nhưng đó cũng lại là điều khá đặc thù mà tôi vẫn quí nơi chị Hoài. Phần đáp lại dễ nhất của tôi là tự nhận Việt Tân còn yếu về mặt này. Anh chị em đã cố gắng nhiều nhưng chắc chắn là còn phải học hỏi nhiều hơn nữa các cách để vượt qua những khó khăn sau đây: Như chị biết, tất cả các trang liên hệ đến Việt Tân đều bị chặn ở trong nước. Đại khối bà con chúng ta trong nước phải vượt qua nhiều khó khăn về tiền bạc, thời giờ, kiếm người hướng dẫn, v.v… mới tiếp cận được với môi trường Internet. Nay lại còn phải học thêm cách vượt tường lửa, giấu IP, v.v… Bên cạnh đó là những hù dọa tâm lý của công an. Để đối phó với một nhà cầm quyền mà tổ chức Phóng viên Không Biên giới và nhiều tổ chức nhân quyền khác liệt vào loại “Kẻ thù của Internet”, chúng tôi đã cố gắng cập nhật liên tục các cách vượt rào tại trang NoFireWall.blogspot.com và dùng một số phương tiện Internet khác để chuyển tải đến các tụ điểm không minh danh Việt Tân hầu có thể với tay đến đồng bào mà ít bị ngăn chặn hơn. Dĩ nhiên tôi không liệt kê ra đây. Và sau hết, bên cạnh các phương tiện “high-tech” đang nổi trội, chúng tôi cũng không xem thường một số cách khác mà mình gọi nôm na là “low-tech”. Phạm Thị Hoài: Ông có cho rằng trong tình thế hiện tại, không thể nhấc Đảng Cộng sản ra khỏi một giải pháp chính trị cho Việt Nam? Nguyễn Quốc Quân: Tôi cho rằng mọi chế độ độc tài khi còn nắm quyền, dù là trong những tháng chót, đều cố tạo cho người dân có ấn tượng như thế. Tôi nghĩ là nhấc được, nếu dân tộc chúng ta muốn. Điều đã khá rõ là ai cũng thấy thể chế độc tài dìm đất nước chúng ta trong lạc hậu. Các lớp sơn bề ngoài nay không còn che mắt được mấy ai nữa. Dứt khoát độc tài phải bị tháo gỡ. Nếu Đảng CSVN không chấp nhận điều đó thì họ phải bị loại bỏ khỏi bất cứ giải pháp chính trị nào cho đất nước. Còn nếu họ chấp nhận nằm trong pháp luật của một thể chế dân chủ và để tùy người dân chọn lựa bộ phận lãnh đạo, thì họ có thể tồn tại được chứ, như các đảng cộng sản tại Âu châu thôi. Nhưng quan trọng là Đảng CSVN phải ngưng các hành động bạo hành càng ngày càng tệ hại đối với người dân. Mức độ nhẫn nại và chịu đựng của dân tộc có giới hạn. Nếu họ cứ tiếp tục xem dân là kẻ thù như hiện nay thì sẽ đến lúc dân tộc dứt khoát coi họ là kẻ thù. Điều này đã thấy tại nhiều chế độ độc tài, gần đây nhất là Libya và Syria. Phạm Thị Hoài: Ông có một tấm gương nào không? Nguyễn Quốc Quân: Có đôi lúc, thoáng nghĩ tấm gương của mình là Mẹ Theresa, Đức Phật Thích Ca, hay Nguyễn Thái Học… Nhưng rõ là không phải, tôi vẫn cảm thấy rung động và hạnh phúc hơn rất nhiều khi được gần gũi trực tiếp hoặc gián tiếp với những tấm gương đời thường xung quanh, đặc biệt là những anh chị em đang dấn thân trong nước vì tương lai của dân tộc mình. Những hành động phi thường của họ đã làm cuộc đời đẹp và có ý nghĩa hơn. Với tôi, việc phi thường ở đây là việc vượt thắng giới hạn của chính mình để thực hiện một việc công ích, mà tầm vóc công việc có thể cũng rất bình thường. Và những tấm gương này không xa lạ gì lắm đâu, tôi không chỉ nhớ tên mà còn có thể hình dung từng khuôn mặt và một số giọng nói nữa. Tôi thường xuyên lấy họ làm động lực và đích nhắm để cố gắng phấn đấu những lúc mệt mỏi. Phạm Thị Hoài: Cảm ơn ông Nguyễn Quốc Quân đã trả lời phỏng vấn. © 2013 pro&contra Nguồn: http://www.procontra.asia/
......

RSF: Việt Nam tận dụng mọi cách đàn áp quyền tự do ngôn luận

Một tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế có trụ sở tại Pháp tố cáo Việt Nam đang tận dụng mọi cách thức có thể để đàn áp các tiếng nói bất đồng quan điểm với nhà nước qua việc dùng điều luật 258 để truy tố một thanh niên dùng Facebook kêu gọi công lý cho người thân. Bà Nguyễn thị Kim Lien mẹ của Đinh Nhật Uy (phải) và Đinh Nguyen Kha Blogger Đinh Nhật Uy sắp bị đưa ra xử tại Tòa án Nhân dân Tỉnh Long An vào ngày 29/10. Anh bị cáo buộc ‘lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích nhà nước’ vì đăng tải lên Facebook cá nhân ý kiến và các hình ảnh chống Trung Quốc xâm lấn Biển Đông, phản đối bản án 4 năm tù của em trai về tội danh ‘tuyên truyền chống nhà nước’ trong vụ xử hai sinh viên chống Trung Quốc, Đinh Nguyên Kha-Nguyễn Phương Uyên được quốc tế lưu ý.   Tổ chức Phóng viên Không Biên giới RSF nói với VOA Việt ngữ việc truy tố Đinh Nhật Uy cho thấy mức độ đàn áp khốc liệt các quyền tự do căn bản của con người tại Việt Nam bao gồm quyền tự do bày tỏ quan điểm và quyền tự do internet. Ông Benjamin Ismail, Giám đốc phụ trách ban Á Châu-Thái Bình Dương thuộc Tổ chức Phóng viên Không Biên giới: “Khi một người dùng mạng xã hội Facebook để đòi công lý và kêu gọi phóng thích cho em trai của mình mà bị nhà cầm quyền bắt và truy tố điều này chứng tỏ sự đàn áp ngày càng nặng tay của Hà Nội và mức độ không chấp nhận chỉ trích của nhà cầm quyền Việt Nam đã lên tới đỉnh điểm.” Mẹ của blogger Đinh Nhật Uy đã gửi thư mời tất cả mọi người cùng các cơ quan ngoại giao, nhân quyền, và truyền thông quốc tế đến tham dự phiên tòa tại Long An vào thứ ba tuần tới để mục kích sở thị phiên xử mà nhà nước gọi là ‘công khai’. Trong số các bên được mời có đài VOA và sáng lập viên trang Facebook, ông Mark Zuckerberg, với tư cách người có trách nhiệm-nghĩa vụ liên quan. Cáo trạng nói Đinh Nhật Uy nói bôi nhọ nhà nước bằng các bình luận đăng trên Facebook được nhiều người thích và chia sẻ cũng phê phán phiên tòa xử Đinh Nguyên Kha là bất công trong các cuộc phỏng vấn với báo đài nước ngoài, trong đó có đài VOA.  Ông Benjamin Ismail nói thật đáng tiếc RSF không thể tham dự phiên tòa của Uy theo lời mời của gia đình vì nhà nước Việt Nam không hoan nghênh sự hiện diện của tổ chức bảo vệ nhân quyền này. Tuy nhiên, ông Ismail cho rằng sáng lập viên Zuckerberg của Facebook nên dự phiên xử của Uy để thấy rằng trong khi trang mạng xã hội toàn cầu do chính ông lập ra giúp mọi người trên thế giới chia sẻ thông tin và biểu đạt quyền tự do ngôn luận thì cũng có nhiều người bị biến thành những nạn nhân bị tù tội chỉ vì sử dụng Facebook tại một số quốc gia như Việt Nam. RSF nói điều luật 258 là một hình thức khác của sự bóp nghẹt quyền tự do tư tưởng tại Việt Nam sau các điều luật đã bị phê phán nặng nề như 88 (tuyên truyền chống nhà nước) hay 79 (âm mưu lật đổ chính quyền). Tổ chức Phóng viên Không Biên giới kêu gọi Việt Nam hủy bỏ tất cả các điều luật mà họ mô tả là vi phạm nhân quyền và bị thế giới lên án này. VOA
......

Lạm dụng luật pháp

Vào khoảng 20h ngày thứ năm, 18/7/2013, 69 blogger và facebooker (gọi chung là blogger) Việt Nam đã đồng loạt công bố trên mạng bản Tuyên bố của mạng lưới blogger Việt Nam. Tựa đề và nội dung chính của Tuyên bố này là yêu cầu “Việt Nam phải sửa đổi pháp luật để chứng minh cam kết tranh cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc”.   Đây là lần đầu tiên giới blogger chính trị ở Việt Nam có một hành động tập thể nhằm nói lên quan điểm chung của họ về việc Chính phủ Việt Nam ứng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc (và nghiễm nhiên gạt người dân ra ngoài trong quá trình thể hiện thành tích và chạy đua vào chiếc ghế đó). Nhà nước với “bề dày” lạm dụng luật Thực ra, nếu có thể được bày tỏ ý kiến một cách công khai, có tổ chức và thẳng thắn hơn, các blogger có quyền nói rằng: Nhà nước Việt Nam phải chấm dứt việc lạm dụng luật pháp cho mục đích “quản lý” mà thực chất là để có lợi cho mình và gây thiệt hại cho người dân, cho xã hội. “Để thuận tiện cho hoạt động quản lý” là cái tư duy ăn sâu bám rễ đằng sau việc Nhà nước Việt Nam sử dụng hệ thống luật pháp và các văn bản dưới luật một cách tùy tiện, thỏa thích trong hàng chục năm qua, kể từ ngày thành lập chính quyền (năm 1945). Tuy nhiên, nếu chỉ giới hạn trong hai năm 2012 và 2013 thôi thì chúng ta cũng đã chứng kiến thứ công cụ luật pháp ấy thể hiện sức mạnh của nó trong hàng loạt chính sách ích kỷ và vô tâm của chính quyền: Nghị định quản lý Internet cấm việc công dân phát biểu “vi phạm thuần phong mỹ tục” trên mạng; Thông tư về áp dụng mẫu chứng minh thư nhân dân mới có cả tên cha mẹ; Nghị định về xử phạt xe không chính chủ; cùng hàng chục quyết định tăng giá xăng dầu rất thoải mái của Bộ Tài chính. Một bộ luật tối quan trọng của bất cứ nền luật pháp nào là Bộ luật Hình sự cũng bao gồm rất nhiều điều khoản chứng tỏ sự lạm quyền, hà khắc tới mức vô lý của Nhà nước. Điều 79, “Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, không gì khác là sự đàn áp quyền lập hội và hoạt động đảng phái, tham gia chính trị. Điều 88, “Tội tuyên truyền chống Nhà nước”, và Điều 258, “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”, tiêu diệt tự do ngôn luận, cấm công dân được “nói xấu” nhà nước hay là nói những điều Nhà nước không thích nghe. Lạm dụng luật pháp – điểm chung của các chế độ độc tài Cần nói thêm rằng không phải chỉ chính quyền Việt Nam mới nghĩ ra việc lạm dụng luật pháp để có thể trục lợi, hoặc dành phần lợi cho mình (gọi là “tạo thuận lợi cho công tác quản lý, điều hành”) và đẩy khó khăn, thiệt thòi về phía người dân. Sử dụng luật pháp làm công cụ trấn áp, vẽ ra luật để xiết dân, là đặc điểm chung của mọi chế độ độc tài, toàn trị. Liên Xô từng luật hóa việc đàn áp đối lập chính trị bằng Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 1927, theo đó, chính quyền có thể bắt giữ tất cả những công dân bị tình nghi là “có hoạt động phản cách mạng”, “kẻ thù của giai cấp công nhân”. Cũng nước Nga, năm 2012, chính quyền đã đưa ra một đạo luật tai tiếng nhằm vào các tổ chức phi chính phủ, kể cả tổ chức quốc tế như Ân xá Quốc tế, Giám sát Nhân quyền, và Minh bạch Quốc tế. Hàng trăm tổ chức ở Nga bị thanh tra, lục soát, thu giữ tài liệu. Luật “nhân viên nước ngoài” này của Nga bị coi như một đạo luật vi phạm nhân quyền và phá hoại xã hội dân sự. Quyền lực nào cũng tha hóa nếu không bị kiểm soát. Nhà nước nào cũng lạm dụng luật pháp, nhưng chế độ càng độc tài thì càng lạm dụng luật pháp nhiều hơn. Ở Việt Nam, cho đến nay, rất nhiều người, trong đó có những người ủng hộ dân chủ-tự do-nhân quyền, vẫn quan niệm rằng “gì thì gì, phải sống và làm việc theo đúng hiến pháp và pháp luật đã”, “chấp hành trước, đấu tranh thay đổi sau”. Quan điểm đó nghe có vẻ rất hợp lý, chỉ có điều người ta chưa trả lời được câu hỏi: Vậy nếu nhà nước cố ý tận dụng luật pháp làm công cụ để xâm phạm tự do của công dân, vi phạm nhân quyền, thì sao? Vẫn cứ phải chấp hành (không biết đến bao giờ)? Không có cơ chế bảo hiến, không có tòa án độc lập, không có quốc hội đại diện thực sự, người dân Việt Nam còn biết làm gì để bảo vệ tự do của họ trước Nhà nước? Đây là lý do đưa đến câu cửa miệng của nhiều người: “Thì làm thế nào được, luật pháp trong tay chúng nó, luật là của chúng nó mà”. Trong lúc chưa thể có một sức ép nào đó buộc chính quyền phải xem xét lại hệ thống luật pháp, đặc biệt là những đạo luật quan trọng như Bộ luật Hình sự, thì việc vận động để xóa bỏ những điều khoản vi hiến như Điều 258 có thể được xem như một bước khởi đầu. Luật pháp, theo đúng nghĩa, là để bảo vệ tự do của người dân chứ không phải để bảo vệ quyền lợi của chính quyền. Nguồn: phamdoantrang.com Abusing Laws At 8 p.m. Thursday, July 18, 2013, 69 Vietnamese bloggers and facebookers (referred to as “bloggers”) released a statement, calling the government to “amend law todemonstrate Human Rights Council candidacy commitment.” This is the first collective action by political bloggers in Vietnam who voice their opinions about Vietnam’s running for its membership in the United Nations Human Rights Council for the 2014-2016 tenure and, during the process, ignoring the role of its people. Much experience in abusing laws If they were able to openly express their opinions in an organized and straightforward way, the signers must have said that the Vietnamese State must stop abusing laws for the sake of “management”, which actually aims to benefit the State at the expense of the people. “To facilitate public management” is a deep-rooted mindset accounting for the fact that Vietnamese Government has used its system of laws, regulations and fiats at its discretion and out of its interest for dozens of years since the making of the nation in 1945. In the two recent years alone, Vietnam has seen many repressive laws manifested in a series of irrelevant, government-oriented policies: an Internet-controlling decree preventing Internet users from “violating fine customs and traditions” (but what is a fine custom and/or tradition?); a circular on the application of a new ID card form requiring the bearer to submit their parents’ names (what if I were an illegitimate child wanting to protect his privacy?); a decree on fining any citizen who fails to prove the ownership of their vehicle (does it mean I shall have to bring loads of documents with me whenever I go out?); and dozens of discretionary decisions by the Ministry of Finance to increase fuel prices despite skyrocketing inflation. A crucial code of any legal system, the Penal Code, includes a range of repressive provisions. Article 79, “Carrying out activities aimed at overthrowing the people’s administration”, is nothing more than the suppression of the right to association and political participation. Article 88, “Conducting propaganda against the State”, and Article 258, “Abusing democratic freedoms to infringe upon the interests of the State”, inhibit freedom of speech in banning people to express any idea against the government or anything the government dislikes. A common feature of dictatorships It must be said that the Vietnamese Government is not alone in using laws for its benefits, even to seek rents literally (or “to create favorable conditions for management activities” in its euphemistic words) although that may mean “to put people at a disadvantage.” Using legislations as a tool of repression is likely a common feature of all dictatorships and totalitarian regimes. The Soviet Union, for example, legalized repression of political opposition with Article 58 of the 1927 Russian SFSR Penal Code, according to which any suspect of counter revolutionary activities and enemy of workers is subject to detention. 85 years later, the Russian authorities issued a notorious legal policy targeting non-government organizations, including international ones such as Amnesty International, Human Right Watch, and Transparency International. Hundreds of NGOs were audited and raided, their documents confiscated. Russian “foreign agent” law is criticized for violating human rights and undermining civil society organizations. Power always becomes corrupt if it goes without a check-and-balance system. Every state tends to abuse laws; the more dictatorial it is, the more abusive of laws it becomes. In Vietnam, until recently, many people, including those favor liberal democracy, keep opining that “no matter what you do, you must first and foremost obey the law.” Although their opinions seem right, those people fail to answer one question, “So what if the state deliberately uses law as a tool to violate citizens’ rights? Would we obey those laws still?” Without judicial review, an independent judiciary system or a truly representative legislature, what can the Vietnamese do to protect their freedom rights against their repressive state? This leads to a popular slip, “Then what can we do? Law is in their hands; law is theirs.” While the Vietnamese government is still free from any pressure to conduct judicial review, especially to revise such important law as the Penal Code, an effort to urge it to abrogate unconstitutional provisions, including Article 258, can be deemed as one of the first steps. Law, in its true sense, is created to protect the people’s liberty, not to protect the State’s interest.
......

5 NĂM TỚI MIẾN ĐIỆN SẼ Ở ĐÂU?

Theo thông tin Reuter công bố hôm qua, dẫn lời của chủ tịch quốc hội Miến Điện - Shwe Mann - rằng, tổng thống Thein Sein quyết định không ra tranh cử nhiệm kỳ tới vào 2015. Đồng thời ông Shwe Mann cũng cho biết quốc hội quyết định sửa đổi hiến pháp, để mở đường cho bà Aung Kyi ra tranh cử tổng thống. Trong một bài viết cách đây 18 tháng của tôi - Chuyện Đông, chuyện Tây và chuyện nước Việt, tôi có viết, cùng năm 1990 ở Việt Nam và Miến Điện có hai sự cỡi trói lớn. Miến Điện cỡi trói về chính trị để làm nền tảng cho kinh tế bắt đầu mở cửa 2 năm qua. Họ giữ được văn hóa, tài nguyên còn nguyên vẹn. Trong khi đó, Việt Nam cỡi trói kinh tế, mà không thay đổi thể chế chính trị đơn nguyên tập quyền. Và Việt Nam đã có những phát triển rõ nét, nhưng phải trả giá bằng cách đổi tài nguyên, môi trường, văn hóa để có kinh tế tư bản hoang dã hôm nay. Trong khi Miến Điện từng bước thoát Trung Hoa, thì Việt Nam ngược lại trói mình vào Trung Hoa đúng cái mốc 100 tuổi của cụ Hồ. Trước khi rút lui khỏi chính trường ông tổng thống Thein Sein ở Miến Điện làm 3 việc lớn: dời đô từ Rangoon sang Naypyidaw; Cỡi bỏ mọi đàn áp phe đối lập, thả tù nhân chính trị và đưa xã hội Miến Điện trở thành một xã hội dân chủ thực sự bằng hành động cho hoạt động tự do báo chí tư nhân, cũng như sửa đổi hiến pháp theo tinh thần đa nguyên tản quyền. Cũng thì rút khỏi chính trường, nhưng ông cố tổng bí thư Nguyễn Văn Linh ở Việt Nam đã kịp thời mang bầu đoàn thê tử sang Trung Hoa ký kết ràng buộc Hội nghị Thành Đô 1990. Hiến pháp nước Việt đưa thêm điều 4 độc tôn cai trị cho đảng cộng sản ở Việt Nam. Tước hết mọi quyền tự do dân chủ ở Việt Nam bằng nghị định và nghị quyết của đảng cầm quyền. Cho nên hôm nay con chiên của đảng cầm quyền trở thành mọt nước sâu dân, văn hóa suy đồi, kinh tế sụp đổ, chính trị hỗn man, và đang chờ ngày diệt vong. Cho tới nay, thế giới kinh ngạc về sự chuyển đổi của Miến Điện. Cuộc chuyển đổi này được ví còn hơn cả những cuộc cách mạng nhung diễn ra ở Đông Âu. Hầu hết các nhà nghiên cứu đều tập trung nghiên cứu vấn đề của Miến Điện, để làm ra một mô hình cho các quốc gia đơn nguyên, tập quyền và chậm phát triển. Hàng loạt Workshop ở Liên Hiệp Quốc dành cho những sinh viên ưu tú toàn cầu hằng năm đưa Miến Điện ra để cho nghị trình Model United Nations cho các lãnh đạo tương lai. Một câu hỏi đặt ra là, với một nền văn hóa phương Đông, thì cái gì làm nên một Miến Điện có được cuộc cách mạng xã hội êm thắm để thoát ra khỏi chế độ quân quản tập quyền, và thoát được Trung Hoa? Có những kết luận rút ra rất xác đáng làm tất cả mọi người có lương tri phải suy nghĩ, rằng để có một Miến Điện chuyển đổi tốt đẹp như hôm nay cần có những điều kiện tiên quyết sau: Thứ nhất là về kinh tế Miến Điện phải đi đến cùng cực như những năm cuối thập niên 2000s. Chính nó là động lực bắt buộc lãnh đạo độc tài quân phiệt của Miến Điện buộc lòng phải chuyển đổi. Thứ hai là về chính trị, trên nền tảng một chế độ chính trị tập quyền quân quản, nhưng Miến Điện vẫn giữ hình thái đa nguyên chính trị trong suốt từ sau 1975 đến nay. Nó giúp cho các đảng phái chính trị vẫn tồn tại, dù bị đàn áp, nhưng càng đàn áp càng tạo uy tín cho họ. Thứ ba là, vấn đề con người then chốt. Nếu bên đảng phái đối lập có một quý bà thép đầy trí tuệ và hàn lâm Aung Kyi được sự trợ giúp hết mực của chồng, đã can đảm đứng ra trước lằn tên mũi đạn để tạo nên một đối trọng, thì bên nhóm tập đoàn độc tài quân phiệt cũng có một Than Shwe quyết định dời đô và cho phép đa nguyên chính trị, sau đó một Thein Sein tiếp bước, để chuyển xã hội Miến Điện đi từ tập quyền quân phiệt sang một xã hội dân sự văn minh dân chủ. Cuối cùng là, vấn đề góp sức từ bên ngoài. Hành động cấm vận của Hoa Kỳ và phương Tây, rồi sau đó xóa cấm vận nhanh chóng đã giúp góp phần rất lớn để có một thay đổi tư duy của tầng lớp lãnh đạo tập quyền quân phiệt ở Miến Điện. Sự chuyển đổi của Miến Điện buộc lòng các lãnh đạo lớn thế giới phải thân chinh đến thăm để nắm bắt thời cơ làm ăn, quan hệ, trong đó có tổng thống Hoa Kỳ, thủ tướng Anh, chủ tịch Liên minh Châu Âu, và kể cả chủ tịch Trung Hoa, mặc dù, Miến Điện đã thoát ra khỏi Trung Hoa bằng hành động từ chối dự án 2,5 tỷ đô la cho hệ thống dẫn dầu xuyên vịnh Bengan qua Miến Điện về Vân Nam. Nhìn lại Miến Điện ta thấy, vấn đề cốt lõi cho chuyển đổi của đất nước này là vấn đề bên trong nội tại đất nước là chính yếu. Sự góp sức của bên ngoài chỉ là chất xúc tác cho một dây chuyền phản ứng đang diễn ra. Và yếu tố con người đủ khả năng độc thâu tóm quyền hành chịu chuyển đổi tư duy. Dĩ nhiên Phật giáo là quốc giáo cũng đóng vai trò không nhỏ cho hành động vị tha, gác bỏ quá khứ nhìn về tương lai của các phe đảng chính trị cũng góp phần quan trọng cho chuyển đổi, khi bà Aung Kyi tuyên bố, miễn truy cứu tội lỗi của chính quyền Than Shwe. Với một nền chính trị đi đúng quy luật khoa học xã hội về mặt triết học, các quy luật mâu thuẫn, đối lập và phát triển đang giúp đất nước Miến Điện nở hoa từng ngày. Một nền chính trị động và bền vững, nhân bản hiện nay của Miến Điện sẽ là nền tảng tốt cho kinh tế Miến Điện không bao lâu nữa sẽ vượt ra khỏi đói nghèo, và thịnh vượng, ở một quốc gia mà nó đã từng là số 1 khu vực Đông Nam châu Á chỉ sau Nhật Bản ở Châu Á vào 2 thập niên 1960 và 1970s. Có người cho rằng phải 10 năm nữa Miến Điện sẽ bắt kịp kinh tế Việt Nam, nhưng qua theo dõi, tôi cho rằng, chỉ 5 năm tới thôi Miến Điện có thể đứng vào hàng ngũ phía trên của 11 quốc gia Asean. BS Hồ Hải  26/10/2013 bshohai.blogspot.de
......

Nơi diễn tập của dân chủ

Để đàn áp những người tranh đấu cho dân chủ và chủ quyền quốc gia hiện nay, nhà cầm quyền Việt Nam phải đối diện với rất nhiều nghịch lý.   Trước, cách đây mấy chục năm, biện pháp trấn áp những người phản kháng, nhất là dưới hình thức biểu tình, có lẽ rất dễ dàng: Một, công an cứ nhào đến lấy dùi cui nện vào đầu, vào vai, vào ngực, vào bất cứ chỗ nào trên thân thể những kẻ cứng đầu hay những “tên phản động”. Không có ai trong số những người yêu nước hay bất đồng chính kiến có thể khỏe hơn công an và có khả năng chịu đòn lâu dài nên việc giải tán các đám biểu tình thường rất nhanh chóng. Hai, kín đáo hơn, cứ đến thẳng nhà từng người, còng tay và đẩy thẳng vào nhà tù, cho nhịn đói dài dài là bao nhiêu nhiệt huyết sẽ nguội tắt hết ngay. Có điều, cả hai biện pháp trên đều khó áp dụng được trong hoàn cảnh hiện nay. Thứ nhất, với phương tiện truyền thông đại chúng bây giờ, tất cả các biện pháp trấn áp thô bạo ấy đều rất dễ dàng được ghi lại và phát tán khắp nơi trong một thời gian rất ngắn. Thứ hai, sau khi nhiều hiệp ước quốc tế đã được ký kết, Việt Nam chịu khá nhiều áp lực từ bên ngoài, một trong những áp lực ấy là phải tôn trọng nhân quyền. Thứ ba, một phần liên quan đến lý do thứ hai vừa kể, một phần như là hệ quả của xu hướng toàn cầu hóa, Việt Nam dù muốn hay không cũng buộc phải tỏ vẻ “văn minh” để bảo vệ các quyền lợi kinh tế và chính trị của mình. Họ không thể bất chấp dư luận bên ngoài được. Cuối cùng, chính quyền chỉ còn hai biện pháp chính: Thứ nhất, tạo áp lực lên từng cá nhân bất đồng chính kiến. Phổ biến nhất là áp lực tình cảm. Công an, cán bộ địa phương đến rỉ tai thuyết phục hoặc đe dọa ông bà, bố mẹ, vợ hoặc chồng, con cái, hoặc bà con để mọi người dùng tình cảm khuyên can những người bất đồng chính kiến, vì gia đình, từ bỏ con đường tranh đấu cho tự do, dân chủ và chủ quyền quốc gia. Với một số người, cách này khá hữu hiệu: Người ta có thể cứng cáp trước bạo lực nhưng lại dễ mềm lòng trước nước mắt của bà, của mẹ, của vợ hay của con cái. Cuối cùng, không ít người đành bỏ cuộc. Không làm áp lực trên tình cảm được thì người ta tạo áp lực về kinh tế bằng cách xúi (hoặc ra lệnh) chủ đuổi việc. Nghe kể, một số luật sư can đảm lên tiếng phản đối chính quyền hoặc đứng ra biện hộ cho những người tranh đấu cho dân chủ thì bị công an thay phiên nhau đứng trước cửa khuyên can khách hàng đừng vào văn phòng luật của họ với lời dọa dẫm: “Luật sư ấy phản động, nhờ ông/bà ấy cãi thì tội và hình phạt sẽ nặng thêm, nguy hiểm lắm!” Thế là bao nhiêu thân chủ đều giạt ra hết. Văn phòng luật sư vắng hoe. Càng ngày càng vắng hoe. Thứ hai, nếu những biện pháp tạo áp lực về tình cảm cũng như về kinh tế ở trên không thành công, người ta dùng biện pháp khác: lôi ra tòa để xử. Mục tiêu của các phiên tòa ấy nhằm: một, trừng phạt những người dám chống đối lại chính quyền; hai, đe dọa những người còn lại; và ba, chứng tỏ với thế giới là Việt Nam là một nhà nước pháp quyền, nghĩa là, dân chủ. Thế nhưng biện pháp trấn áp qua hình thức xét xử công khai như vậy gần đây rõ ràng là thất bại thảm hại. Thất bại rõ nhất là nó biến chính quyền Việt Nam thành lố bịch. Không thể tìm ra lý do chính đáng để kết tội những người yêu nước và yêu dân chủ, chỉ muốn thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân của mình, chính quyền đành phải sử dụng những cáo buộc hết sức nhảm nhí như trốn thuế hay hủ hóa. Trong một đất nước cứ ra ngõ là gặp đĩ vậy mà công an lại xúm vào làm lớn chuyện về hai cái “bao cao su đã qua sử dụng” của Cù Huy Hà Vũ, nghe, ai cũng thấy buồn cười. Cũng trong một đất nước hầu như mọi người ít nhiều đều trốn thuế, cán bộ càng làm lớn và càng giàu càng trốn thuế nhiều, việc mấy người làm ăn cò con như Điếu Cày Nguyễn Văn Hải và luật sư Lê Quốc Quân bị bắt và phải ra toà về tội trốn thuế, nghe, ai cũng thấy lố bịch. Thất bại trầm trọng hơn là ở điểm khác: Một mặt, nhà cầm quyền muốn dùng tòa án để chứng minh nền pháp quyền của mình trước thế giới, mặt khác, trong việc tiến hành các phiên xử, người ta lại không thể giấu giếm được bàn tay lông lá của những kẻ cầm quyền, cuối cùng, các quan tòa biến thành những con rối, chỉ đọc những bản án đã được ai đó viết sẵn từ trên đưa xuống. Mà việc viết các bản án ấy lại thay đổi tùy theo các cuộc trao đổi chính trị với các cường quốc. Cùng một tội trạng giống nhau, khi cần làm cao, người ta tuyên án thật nặng, khi phải nhún nhường, người ta tha bổng hoặc cho án treo. Những điều ấy làm cho mọi người trên thế giới thấy rõ: chính quyền lấy mạng sống của dân chúng nước mình ra ngã giá với ngoại quốc. Một cách cò kè hết sức dã man. Nhưng thất bại nhất là ở điểm này: Xét xử là để răn đe, nhưng dường như chả có ai sợ cả. Người bị kết tội, ngay cả một thiếu nữ trẻ măng như Nguyễn Phương Uyên, cũng không sợ.  Những người chung quanh cũng không sợ. Theo dõi các phiên toà mấy năm qua, tôi thấy có một hiện tượng đáng chú ý: bất chấp những sự cấm cản của chính quyền, số người đến tham dự trước các tòa án càng lúc càng đông. Công an đánh dẹp lần này, lần sau họ lại tụ tập. Phiên tòa xét xử Nguyễn Phương Uyên ở tận Long An, nhiều người từ Hà Nội, Sài Gòn cũng như từ nhiều địa phương khác, cũng lặn lội đến nơi để bày tỏ sự ủng hộ đối với em. Phiên tòa xét xử Lê Quốc Quân cũng vậy. Nhiều người tận miền Trung hoặc miền Nam cũng có mặt. Cuối cùng, mỗi phiên tòa lại trở thành một cơ hội để dân chúng nhìn thấy rõ hơn bản chất độc tài của chế độ. Là một cuộc tập hợp của lực lượng dân chủ. Là một diễn tập của dân chủ. Nguồn: Blog / Nguyễn Hưng Quốc
......

Kẻ nhốt người hóa ra cũng bị nhốt

Nhà chính trị lão thành Lý Quang Diệu, được coi là cha đẻ của nước Singapore hiện đại, một thời được mời làm cố vấn cho các nhà lãnh đạo Việt Nam khi bắt đầu đổi mới và hội nhập vào cuối thế kỷ trước. Ông vừa ra mắt cuốn sách One man’s view of the world (Nhìn thế giới của một con người). Ông Lý Quang Diệu nhận định rằng 'lãnh đạo Việt Nam bị ý thức hệ cầm tù' Cuốn sách có một đoạn ngắn nói đến Việt Nam. Ngắn nhưng rất bổ ích, rất đáng để những người lãnh đạo của Việt Nam tham khảo, cũng như rất đáng để mỗi ủy viên Trung ương đảng CS, mỗi đại biểu Quốc hội cùng mọi người Việt Nam suy ngẫm. Chúng ta còn nhớ từ đầu năm 2011, nhân đại hội đảng CS VN lần thứ XI, «Ông già Lý» – như dân Singapore thường ông Lý Quang Diệu một các thân mật – đã trả lời phỏng vấn trên báo Straits Times tỏ ý nản lòng, thất vọng về Việt Nam, khi ông cho rằng những góp ý của ông ở Hà Nội những năm xưa đã không được lắng nghe và thực hiện. Hồi đó ông giới thiệu cho ông Võ Văn Kiệt và các đồng sự rằng muốn chống tham nhũng có hiệu quả, phải có 3 điều: pháp luật rất nghiêm (để không ai dám tham nhũng), tiền lương viên chức tạm đủ cho họ và gia đình (để không ai cần tham nhũng để sống) và dư luận xã hội trong sáng lên án mạnh tệ tham nhũng (để không ai nỡ tham nhũng do tự trọng). Nhưng VN đã không làm được cả 3 điều ấy, để cho quốc nạn nội xâm ấy trở thành một căn bệnh trầm kha đe dọa sự tồn vong của chế độ độc đảng, làm nhân dân căm giận, vì bất công xã hội là một điều rất đáng sợ, một nhân tố nguy hiểm cho mọi chế độ. Qua quyển sách mới này, Ông Già Lý nói rõ thêm quan điểm của ông về Việt Nam. Ông nản chí, ông không góp ý kiến xây dựng gì nữa. Ông mất tin tưởng vào những người lãnh đạo hiện nay. Ông nói thẳng ra rằng họ đã không còn có khả năng đổi mới bản thân, đổi mới tư duy chính trị cho kịp thời đại. Ông có nhận xét thâm thúy «Họ là những kẻ bị cầm tù trong một ý thức hệ cũ» (imprisoned in an old ideology). Ông Lý thú nhận:«Tôi không còn lạc quan như những lần đầu thăm nước này trong những năm 90. Giờ đây tôi tin rằng những người lãnh đạo VN kỳ cựu không thể khai phá với cái tư duy xã hội chủ nghĩa cố hữu». Ông khẳng định: « Những vị lãnh đạo lão thành cách mạng này làm cho Việt Nam trì trệ». Ông nhấn thêm rằng «chỉ khi nào các vị này không còn thì Việt Nam mới có thể đột phá theo hướng hiện đại hóa». Đọc đến đây tôi bỗng như nghe thấy tiếng kêu của em Nguyễn Phương Uyên :«Đảng Cộng sản, đi chết đi». Tự đáy lòng em, đây không phải lời chửi rủa, mà là lời cầu mong, vì đảng không còn gì là động lực, đã hiển nhiên biến thành một chướng ngại ngăn chặn còn đường xây dựng một nước VN dân chủ hiện đại, phát triển, hội nhập, với thành quả được chia chung cho toàn dân thụ hưởng. Ông Lý nhận định: «Ở VN, các nguyên lão thăng tiến trong hệ thống đảng nhờ chiến tranh hiện giữ các vị trí trong chính quyền, thăng quan không phải giỏi giang trong quản lý kinh tế hay trong quản trị kinh doanh. Họ thăng tiến vì đã đào hầm, từ ngoài Bắc và trong Nam trong 30 năm dài, họ có ý chí nhưng thiếu tiềm năng ». Và ông chỉ ra nguyên nhân cốt lõi của tình trạng này: «Vì họ bị ý thức hệ cũ cầm tù ». Quả thật, họ bị cầm tù, và họ đã nhốt theo cả dân tộc. Tôi muốn góp thêm một ý: Họ tự nhốt mình vào nhà tù ý thức hệ Mác xít - Lê nin nít, Cộng sản, Xã hội chủ nghĩa của họ. Có ai bắt họ đưa vào nhà tù như họ đang làm với những chiến sỹ dũng cảm đòi tự do cho nhân dân đâu, như họ đã bỏ tù Cù Huy Hà Vũ, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Đinh Nguyên Kha, Nguyễn Phương Uyên, Lê Quốc Quân… Đã có bao nhiêu người CS trót lầm lỡ chọn sai ý thức hệ Mác xít – Lê nin nít đã nhận ra sai lầm để đoạn tuyệt với nó. Đó là Gorbachev, là Havel, là Trần Độ, là hàng chục triệu đảng viên CS khắp các lục địa nhận ra sai lầm, đưa hàng trăm đảng CS của mình vào các nghĩa địa chính trị chỉ trong hơn 20 năm nay. Gần đây là Hoàng Minh Chính, Phạm Quế Dương, Phạm Đình Trọng, là Lê Hiếu Đằng… và hàng ngàn, hàng vạn đảng viên CS nhạt đảng, chán đảng, bỏ sinh hoạt, bỏ đảng, nghĩ đến thành lập đảng khác có bản chất dân tộc, có gốc gác từ nhân dân, lương thiện, trong sạch, tự mình giải phóng khỏi nhà tù ý thức hệ. Mong rằng Bộ Chính trị và Trung ương đảng CS, các đại biểu Quốc hội trong đó 90 % là đảng viên Cộng sản, sớm nhận ra thân phận tự nhốt mình trong nhà tù ý thức hệ cổ hủ trong hơn 80 năm qua để tự giải thoát, từ đó giải thoát cả dân tộc khỏi thân phận tôi đòi, nô lệ cho một học thuyết đã phá sản triệt để, đã bị coi là sai lầm lịch sử lớn nhất, là tội ác đẫm máu nhất của Thế kỷ XX. Bùi Tín
......

Thăm Và Chúc Mừng Sinh Nhật Lần Thứ 28 Của Thanh Niên Yêu Nước Paulus Lê Sơn 20/10/1985

Trong tâm tình trân trọng và yêu mến, các gia đình thanh niên yêu nước và Nguyễn Xuân Anh (tù nhân lương tâm mới mãn hạn tù) đã bắt đầu xuất phát từ Nghệ An vào lúc 7h30 ngày 20/10/2013, ra xứ Trung Hà- xã Hoàng Trung-Hoàng Hóa-Thanh Hóa để thăm và chúc mừng sinh nhật thanh niên yêu nước, cựu học viên của Viện truyền thông Chúa Cứu Thế anh Paulus Lê Sơn và thắp nén hương cầu nguyện cho người Mẹ quá cố của anh.   Khoảng 11h30 phút đoàn đã đến nơi. Ra đón mọi người là ông Ngoại của Paulus Lê Sơn, Ông nay 76 tuổi, ông đã dẫn đoàn đến nhà Paulus Lê Sơn, khi Ông ngoại mở cổng nhà của Lê Sơn, chúng tôi cảm nhận được một bầu không khí thật ảm đảm, hoang sơ. Nhà chỉ có hai mẹ con, Mẹ đã mất, người con duy nhất lại trong chốn lao tù. Cảnh tượng một căn nhà hoang đang hiện ra trước mắt làm mọi người trong đoàn ai nấy lòng nặng trĩu không khỏi chạnh lòng thương cảm. Thay mặt người con đã mất, người cháu đang bị kết án tù bất công, Ông đã đón nhận bó hoa tươi thay cho bao lời muốn nói. Xúc động trước sự quan tâm, thăm viếng và yêu quí của các gia đình thanh niên yêu nước, Ông đã không thể cầm nổi những giọt nước mắt, nghẹn ngào nói không nên lời khi Ông thay mặt gia đình nói lời cám ơn mọi người. Tù nhân lương tâm Nguyễn Xuân Anh đã tâm sự: “tôi đã gặp Paulus Lê Sơn trong lúc ngồi cùng xe trong ngày xử phúc ngày 23-5-2013”. Sơn nói: “khi anh ra trước thì anh cố gắng đến thắp nén hương cho mẹ của em nhé” và hôm nay Xuân Anh mới có dịp thắp nén hương trước bàn thờ của Mẹ. Cũng xin được nhắc lại, anh Paulus Lê Sơn bị kết án oan sai 4 năm tù giam và 5 năm quả chế cùng với những TNYN khác trong phiên xử phúc thẩm tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An ngày 23/5/2013. Sau bữa cơm thân mật và chia sẻ cùng với gia đình, đoàn đã trở về và trong tình liên đới hiệp thông.   Nguồn: thanhnienconggiao.blogspot.com
......

Vĩnh Biệt Tiến Sỹ Walter Wallmann: Ân Nhân Của Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản Cuối Thập Niên 1970

"Menschen, die wir lieben, bleiben fuer immer, denn Sie hinterlassen Ihre Spuren in unseren Herzen." Phóng dịch: Những người chúng ta yêu mến, khi ra đi luôn để lại những dấu ấn trong trái tim mỗi người! * * * Những biến cố, khủng hoảng trên Chính trường, những thăng trầm của Quốc Gia Dân Tộc, những Nội Lực, Hoài Bảo mà suốt cuộc đời đã tận tụy dâng hiến cho Quê Hương, đã hủy hoại khối óc của Tiến Sỹ Walter Wallmann qua căn bịnh trầm kha Parkinson. Sau những năm tháng dài chịu đựng những đớn đau trăn trở trên chiếc xe lăn, Tiến sỹ Luật khoa Walter Wallmann đã giã từ gia đình, bạn bè thân hữu và đồng chí Đảng Liên Hiệp Dân Chủ Thiên Chúa Giáo (CDU) vĩnh viễn ra đi ngày 21.09.2013, tại Viện Dưỡng Lão Bornheim Frankfurt/Main, hưởng thọ 81 tuổi. Tang Lễ đã được Hội đồng Quản trị Thành phố Frankfurt/Main và gia đình tổ chức đơn giản, trang nghiêm và công khai (oeffentlich) tại Nghĩa trang chính của Thành phố lúc 11 giờ sáng, thứ Bảy 05.10.2013. Thể theo đề nghị của Ông Boris Rhein, Tổng trưởng Nội Vụ Tiểu Bang Hessen, Thủ phủ Tiểu Bang và nhiều công sở khắp nơi trên nước Đức đã treo Cờ Rũ trong ngày này để tưởng nhớ đến Ông. Nước Đức đã mất đi một Công dân ưu tú, một Nhà Dân Chủ nhìn xa hiểu rộng và một người Đức đầy lòng nhân ái... Ông ra đi đã để lại dương trần người vợ thủy chung, người bạn đời đã chia xẽ với Ông những vui buồn, thăng trầm từ lúc hai Ông Bà còn là Sinh Viên Luật Khoa dưới mái trưòng đại học, Bà Magarete Wallmann còn là người cố vấn tối cao của Ông mọi hành xử trong gia đình và ngoài xã hội... Người con trai độc nhất của Ông cũng cùng tên Tiến Sỹ Luật khoa Walter Wallmann, President của Rechnungshof Hessen, dâu và ba cháu nội. Tiến sỹ Walter Wallmann sinh ngày 24.09.1932 tại thành phố Uelzen Đức Quốc, tốt nghiệp và trình luận án Tiến Sĩ Luật khoa Đại học Marburg, đã từng giữ những chức vụ: - Chánh án Tòa Án Kassel, Fulda - Tỉnh bộ trưởng Đảng CDU Frankfurt/Main - Tỉnh trưởng Tỉnh Frankfurt/Main (Oberbuergermeister von Frankfurt/Main) - Bộ trưởng Liên Bang đầu tiên của Nước Đức về Môi trường, Bảo vệ Thiên nhiên và An toàn Hạt Nhân (Bundesminister fuer Umwelt, Naturschutz und Reaktorsicherheit) - Thống Đốc Tiểu Bang Hessen (Hessischer Ministerpraesident) - Công Dân Danh Dự của Thành phố Frankfurt am Main, và rất nhiều chức vụ quan trọng khác... Ngoài Nhiệt tình và Trí tuệ mà Tiến sỹ Wallmann đã cống hiến cho Tổ Quốc Ông, Nước Cộng Hòa Liên Bang Đức, Ông còn là một vị Đại Ân Nhân với tấm lòng Nhân Ái của Người Việt Nam Tỵ Nạn cs tại Tiểu bang Hessen. Vào khoảng 1978 khi làn sóng người dân Miền Nam Việt Nam liều chết rời nơi chôn nhau cắt rốn, lìa bỏ Quê Hương Việt Nam, vượt biển, vượt biên ra đi lánh nạn CS, mỗi ngày một gia tăng, hàng trăm ngàn người đã đau đớn nằm xuống trong tủi hờn, tuyệt vọng trên biển cả mênh mông, hoặc trong núi rừng sâu thẵm. Biến cố thương tâm, Hành trình tìm Tự Do đầy kinh hoàng, hiễm nguy này đã làm rúng động lương tâm nhân loạị. Dr. Walter Wallmann (* 24. September 1932; † 21. September 2013). Tiến sỹ Wallmann vào thời đó là Tỉnh trưởng Tỉnh Frankfurt/Main đã bộc lộ với báo chí: "Khi tôi ngồi trước máy truyền hình xem đoạn phim thời sự về lòng cam đảm của những Thuyền nhân Việt Nam, lòng tôi xót xa vô cùng, tôi nghĩ rằng tôi phải làm một việc gì để chia xẻ với những người đáng thương này". Sau đó Tiến Sỹ Wallmann đã viết thư lên Chính phủ Liên Bang, Chính quyền Tiểu Bang Hessen, ráo riết vận động với bạn bè thân hữu, đảng CDU và kêu gọi quần chúng Đức mở tấm lòng nhân đạo, và có kế hoạch cứu giúp số phận những Thuyền nhân Việt Nam, những người đang sống sau hàng rào kẽm gai trong các trại tỵ nạn Đông Nam Á với nỗi lo lắng tột cùng về một tương lai mù mịt. Tấm lòng Từ bi, Bác ái của Tiến Sỹ Wallmann đã thuyết phục được Chính phủ và Dân chúng Đức. Báo chí thời đó cho biết một ngân sách đặc biệt được chính quyền Tiểu bang Hessen dành cho người Tỵ nạn với tên "VN Boatpeople". Liền sau đó Ông biệt phái một vị đại diện của Văn phòng Tỉnh trưởng Frankfurt/M bay qua tận trại Tỵ Nạn Hồng Kông để an ủi thăm hỏi và lên danh sách cứu vớt nhân đạo những Thuyền nhân Việt Nam, đặc biệt những gia đình đông con.. Trung tuần tháng Hai năm 1979 những Đóa Hoa Nhân Ái đã nở rộ trên vùng trời Frankfurt/Main, dân chúng Đức xúc động trong niềm hân hoan chào đón 200 người Việt tỵ nạn (boat people) đầu tiên đến được Bến Bờ Tự Do. Tuy không cùng chung huyết thống, nhưng họ đã tận tình chia xẻ với những người xa lạ, gầy còm, ốm yếu xanh xao đến từ một đất nước xa xôi bằng một tấm lòng Yêu Thương trong Tình Nhân Loại. Từ nhân duyên khởi đầu của Tiến Sỹ Wallmann, vị Tỉnh trưởng giàu lòng nhân ái này, mà Người Việt Tỵ Nạn cuối thập niên 70 ngày nay đã có được một đời sống hạnh phúc, an lành, là những công dân gương mẫu trên Quê Hương mới sau khi trải qua mọi hoàn cảnh gian nan, hiểm nguy, mất mát: Vượt biển, Vượt biên, Đoàn Tụ Gia đình, v.v... và Tiểu Bang Hessen được đề cao là một Tiểu bang nhân đạo nhất đã dành mọi sự dễ dãi cứu giúp cho Người Việt Nam Tỵ Nạn. Sáng ngày 05.10.2013 bầu trời Frankfurt âm u, những cơn gió thổi qua làn mưa bay bay trong cái lạnh se sắt của một ngày chớm vào Đông. Trước khi ra đi nhà tôi nhắc rằng: "Nếu thật tình thương và nhớ ơn Dr. Wallmann nên tạm gác những việc đời để cầu nguyện cho Ông được siêu thoát!". Trên đoạn đường dài trong cơn mưa gió đến Frankfurt am Main chúng tôi yên lặng cầu nguyện và đọc bài Kinh Vãng Sanh Quyết Định Chơn Ngôn... Khi tôi đến Nghĩa trang Frankfurt/Main khoảng 10 giờ, cứ ngỡ là chưa có ai, nhưng trước cửa nghĩa trang những đoàn xe Cảnh Sát đã đậu kín, lực lượng đông đảo Nhân Viên Công Lực đang làm nhiệm vụ kiểm soát chặt chẽ khu Nghĩa trang rộng lớn, tôi lo sợ không biết mình có được vào trong Nhà Quàn hay không? Tôi nhìn quanh hy vọng tìm được một người đồng hương, nhưng không gặp, có lẽ hãy còn sớm nên chưa ai đến. Tôi hỏi thăm, một viên cảnh sát chỉ dẫn tôi vào. Trong căn phòng rộng lớn Quan tài của Tiến Sỹ Wallmann đã được trang trọng đặt ngay chính giữa tự bao giờ. Trước quan tài là một bàn nhỏ phủ một khăn nhung màu xanh đậm bên trên gắn 7 Huy chương cao qúy mà Chính phủ Đức đã ân thưởng cho Ông, hai bên Quan tài có 6 Cảnh Sát Viên với đồng phục xanh đậm, mũ trắng đứng gác trong tư thế nghiêm trang bất động, ngồi hai bên cạnh để chờ phiên thay ca gác là 6 viên cảnh sát, chiếc mũ trằng được đặt trên đùi, lưng thẳng hướng về phía trước. Trước mặt Quan tài là hai vòng hoa của vợ và con cháu Ông với dòng chữ tiếc thương trên giải khăn màu vàng nhạt, bên cạnh cái gíá đặt hình Tiến Sỹ Wallmann là vòng hoa với giải cờ Đức của Nữ Thủ Tướng Dr. Angela Merkel gởi đến phúng điếu, đàng sau là những vòng hoa của những Chính phủ tiểu bang, mỗi vòng hoa kèm theo huy hiệu, và vòng hoa của Cộng Đồng Việt Nam Tỵ Nạn do gia dình Ông Bà Thái Gia Tuấn, một thuyền nhân trại tỵ nạn Hồng Kông năm xưa, thay mặt đồng hương gởi đến phúng điếu với giòng chữ Thương Tiếc và Tri Ân. Qua ánh nến lung linh trong căn phòng tĩnh lặng di ảnh của Người Qúa Cố với nét mặt hiền hòa đã làm lòng tôi se thắt, chạnh lòng nhớ về qúa khứ, cứ tường chừng như nghe đâu đây tiếng thét kinh hoàng hiện trên khuôn mặt đau đớn của người thiếu phụ Việt Nam nhỏ bé khi bị bọn hải tặc Thái Lan hãm hiếp và hùng hổ bắt mang đi, hính ảnh người chồng bị đánh ngất đầy máu me vì muốn cứu vợ, nhưng vẫn cố gắng dùng xác thân mình để che chở con con thơ, tôi thấy như trên những hoang đảo cô đơn, trong hoàn cảnh đói khát khốn cùng, khi người phải ăn thịt người qua dòng nước mắt để được tồn sinh, tôi thấy nụ cười rạng rở trên khuôn mặt gầy còm xanh xao vì kiệt sức của đồng bào tôi khi được vớt lên boong tàu, đến - Miền Đất Hứa-, tôi thấy niềm vui, niềm tự hào của con cháu những thế hệ tiếp nối trong ngày lễ ra trường, đã làm hãnh diện Dân Tộc Việt Nam, thấy những cụ gìa Việt Nam khi tuổi về chiều, sống trên Quê người được chăm sóc bảo trợ trong tình nhân ái. Trong niềm xúc động lẫn tri ân, không ngần ngại tôi đã qùy xuống lạy Linh cửu Tiến Sỹ Wallmann, mà tưởng chửng như mình đang đảnh lễ một Vị Bồ Tát đã ra đi, sau khi hoàn thành tâm nguyện thị hiện ở cõi Đời này để cứu khổ chúng sinh... Những khách mời đến dự Tang lễ dần dần ngồi vào ghế, đã được ban tổ chức đặt sẵn tờ chương trình và một thiệp màu trắng có in huy hiệu của thành phố Frankfurt và tên khách mời. Tôi không phải là khách được mời, đang phân vân, không biết mình ngồi đâu, đứng đâu, định trở ra đứng ngoài sân, đúng lúc đó một nhân viên thành phố chỉ một chiếc nghế duy nhất còn trống, không có bảng tên, ở hàng đầu phía bên hông tay mặt của Quan tài mời tôi ngồi. Tôi ngồi xuống mà lòng ngạc nhiên trong niềm xúc động khi nghĩ rằng: có phải chăng Tiến Sỹ Wallmann đã sắp đặt và cho phép tôi ngồi đây để tiễn đưa Ông ra đi lần cuối?. Khoảng 10 giờ 50 có tiềng còi vang vào Nhà quàn yên tĩnh, sau đó gia đình Tiến Sỹ Wallmann gồm vợ con trai dâu cùng ba cháu nội và các nhân vật cao cấp của chính phủ lặng lẽ bước vào và cúi đầu kính cẩn tưởng niệm trước Linh quan của Người Quá Cố. Ngồi hàng đầu tôi có dịp nhận ra nhiều quan khách là nhân vật nổi tiếng của Nước Đức về mọi lãnh vực mà bấy lâu nay tôi chỉ thấy trên TV hoặc đọc trên báo chí. Đúng 11 giờ tiếng đàn Organ (Orgel) trổi lên tấu khúc Prludium in c-Moll BWV 546 của Nhạc sỹ Đức tài danh Johann Sebastian Bach mà lúc sinh tiền Tiến sỹ Wallmann ưa thích. Prưpstin Gabriele Scherle thay mặt gia đình cám ơn Quan khách và kể vắn tắt về cơn bịnh và sự ra đi của Tiến Sỹ Wallmann. Tỉnh trưởng Frankfurt/Main Ông Peter Feldmann, Thống Đốc tiểu bang Hessen Volker Bouffier và cựu Tỉnh trưởng Tiến Sỹ Petra Roth thay phiên nhau lên đọc điếu văn, họ nhắc đến những kỷ niệm một thời gắn bó chính trị qua những thăng trầm của Đất Nước, ca ngợi công đức của Tiến Sỹ Wallmann cả cuộc đời đã cống hiến cho Dân tộc Đức những điều phúc lợi, quang vinh. Đặc biệt Bà Tiến Sỹ Petra Roth, Cựu Tỉnh trưởng Frankfurt/Main vinh danh Tiến Sỹ Wallmann đã có công lao lớn trong việc xây dựng Viện Bảo Tàng, tái thiết khu nhà Ga Frankfurt/Main, Hý Viện Alter Oper, ngoài ra công lao lớn nhất là Ông Bà Wallmann đã góp phần xóa bỏ những biến cố lịch sử đen tối ngày xưa và đã nối nhịp cầu ngoại giao giữa hai Dân tộc Đức và Do Thái, giúp đở và tạo điều kiện thuận lợi cho sự hội nhập của những sắc dân Thổ Nhĩ kỳ, Ý, Tây Ban Nha... và đã nỗ lực vận động trong viêc thâu nhận nhân đạo những Thuyền nhân Việt Nam và những Người Việt Tỵ Nạn sau này… Bà kể thêm rằng Tiến Sỹ Wallmann đã tình nguyện làm cha đở đầu cho một em bé trai Việt Nam được sanh ra trong những ngày đầu tiên trên Quê hương mới, ông đã đặt tên cháu là Frank ….. Quan khách đã lắng lòng nghe với niềm cảm phục lẫn ngậm ngùi... Sau lời phúng điếu của các Chính khách, tang lễ được cử hành trang nghiêm qua nghi thức Tôn giáo. Cuối cùng toàn thể khách tham dự cùng hòa ca bài Thánh ca "Nun danket all Gott". Bài hát chấm dứt, quan tài của Tiến Sỹ Wallmann được từ từ đưa ra khỏi phòng đến nơi an nghỉ cuối cùng, theo sau quan tài chỉ có thành viên trong gia đình và vài vị đại diện chính phủ Đức. Trong phòng căn phòng tĩnh lặng vang lên tiếng khàn khàn trong xúc động của một cụ gìa: "Tschues Walter", tiếng thì thầm cầu nguyện, có những bàn tay đưa lên từ biệt... Tôi xúc động cúi đầu chào và hướng về di ảnh của Ông nói lời cảm tạ: "Danke schoen, Dr. Wallmann!". Ngoài trời mưa vẫn rơi, những cơn gió lạnh se thắt thổi về như buồn rầu từ biệt nhà chính khách nhân hậu. Khoảng hơn 30 phút nghi thức an táng ở mộ phần đã hoàn mãn, đoàn người trở vào, gia đình Tiến Sỹ Wallmann ân cần bắt tay từng người cảm tạ. Con trai Ông thay mặt gia đình cám ơn Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn đã gởi vòng hoa phúng điếu. Tôi theo đoàn người ra về trong cơn mưa mà bùi ngùi với cõi lòng nặng trĩu. Vĩnh biệt Tiến Sỹ Wallmann, người công dân ưu tú của Dân Tộc Đức! Vĩnh biệt Tiến Sỹ Wallmann, Vị Bồ Tát với tấm lòng nhân ái, từ bi. * © Nguyên Ngọc Phạm Thị Bích Thủy (Ffm, Oktober 2013)
......

Viện Khổng Tử hay cuộc xâm lăng văn hóa Trung Quốc ?

Trong bản tuyên bố chung Việt Nam- Trung Quốc nhân chuyến viếng thăm của Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường tại Hà Nội giữa tháng 10 vừa qua, hai quốc gia đã thông báo « nhất trí » thành lập Viện Khổng tử ở Việt Nam.   Thật ra, Viện Khổng tử đã được Trung Quốc thành lập ở rất nhiều nước khác trên thế giới. Việc thành lập Viện Khổng tử ở Việt Nam đã được chính phủ Hà Nội quyết định từ năm 2009, nhưng thông báo chính thức về việc thành lập viện này đã một lần nữa gây lo ngại cho giới nhân sĩ trí thức Việt Nam về nguy cơ xâm lăng văn hóa của Trung Quốc, trong bối cảnh mà phim ảnh Trung Quốc từ nhiều năm qua tràn ngập các đài truyền hình Việt Nam và văn hóa Trung Quốc chi phối ngày càng nhiều đời sống của người dân Việt Nam, đặc biệt là trong kiến trúc đền chùa. Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ, tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện, cán bộ Viện Nghiên cứu Hán Nôm ở Hà Nội nêu lên những nguy cơ tiềm ẩn từ Viện Khổng tử sẽ được thành lập ở Việt Nam : RFI : Xin kính chào tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện. Thưa ông, những nước như Pháp hay Đức cũng đã có những trung tâm văn hóa ở Việt Nam như Alliance Française hay Viện Goethe. Nhưng vì sao việc thành lập Viện Khổng tử của Trung Quốc lại gây lo ngại như vậy ? TS Nguyễn Xuân Diện : Việc thành lập Viện Khổng tử ở Việt Nam không phải chỉ mới được đặt ra trong chuyến viếng thăm của thủ tướng Lý Khắc Cường, mà từ năm 2009, ông Tập Cận Bình, khi ấy là phó chủ tịch Trung Quốc, khi đi thăm Việt Nam đã thúc giục Việt Nam thành lập Viện Khổng tử để tăng cường hợp tác văn hóa, giáo dục. Theo tôi biết, trên thế giới hiện đã có hơn 40 nước có tổng cộng hàng trăm Học viện Khổng tử. Riêng Thái Lan thì đã có 13 Học viện Khổng tử. Việt Nam và Trung Quốc là hai nước có nét tương đồng nhau về mặt văn hóa và gần đây là người ta có nhắc đến tương đồng về chính trị, nhưng đến bây giờ mới xúc tiến mạnh việc thành lập Viện Khổng tử ở Việt Nam. Theo tôi biết, học viện này sẽ được đặt trong Đại học Hà Nội (Đại học Ngoại ngữ cũ). Từ khi nhận được tin này, những nhà nghiên cứu, những nhân sĩ, trí thức rất là lo lắng. Lo lắng nhiều hơn là vui mừng. Nhiều nước đã đặt các học viện, các trung tâm văn hóa ở Việt Nam, nhưng những học viện, những trung tâm đó không gây lo ngại nhiều như Học viện Khổng tử này. Lý do là vì trong người dân Việt Nam luôn thường trực một tinh thần phản kháng, một sự tự đề kháng đối với văn hóa Trung Quốc, mặc dù là tư tưởng của Khổng tử, các thiết chế, mô hình Nhà nước theo kiểu Nho giáo của Khổng tử đã có mặt trên đất nước Việt Nam từ rất lâu rồi. Chúng tôi rất lo lắng bởi vì Viện Khổng tử này chắc chắn không phải được lập nên để tuyên truyền về giáo lý, tinh thần triết học hay cuộc đời và sự nghiệp của Khổng tử, cũng như về Nho học : Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, Tam Tòng Tứ Đức ... RFI : Theo ông biết thì Viện Khổng tử của Trung Quốc ở Việt Nam sẽ hoạt động như thế nào ? Thực chất đây sẽ là một trung tâm văn hóa và ngôn ngữ, nhằm giới thiệu, quảng bá về văn hóa Trung Quốc : thi ca, âm nhạc, ẩm thực, trà đạo..., và sẽ có những giao lưu văn hóa giữa các nghệ sĩ Việt Nam và Trung Quốc. Đằng sau đó luôn là những hoạt động tư vấn về du học, tức là kéo thanh niên Việt Nam đến Trung Quốc du học ngày càng nhiều. Đây cũng sẽ là trung tâm dạy Trung văn, tức là tiếng Hoa. Đó là những hoạt động bề nổi, còn đằng sau nó chắc chắn sẽ là những hoạt động tuyên truyền sâu rộng hơn nữa về mặt văn hóa và tư tưởng về một nước Trung Hoa hiện đại. Chính vì vậy nhiều nhà quan sát cho rằng việc thành lập Viện Khổng tử chính một sự thể hiện quyền lực mềm của Trung Quốc, hoặc có người gay gắt hơn thì nói rằng đấy là bước đầu đặt cơ sở cho việc bành trướng văn hóa. Điều này thật đáng lo ngại, bởi vì sức ép và sự tuyên truyền văn hóa của văn hóa Trung Quốc hiện đại lên Việt Nam hiện nay rất là mạnh mẽ. Nhân dân đã không được những người làm công tác văn hóa dẫn dắt, cho nên, họ có sự sùng bái văn hóa Trung Quốc rất là quá đáng. Ví dụ ngôi chùa đạt nhiều kỷ lục ở Việt Nam và Đông Nam Á là chùa Bái Đính ở Ninh Bình. Ngôi chùa ấy chẳng có dáng dấp gì mang bản sắc Việt Nam, mà thực chất là một ngôi chùa Tàu, mà hàng năm lại thu hút hàng triệu du khách. Các phim ảnh Trung Quốc thì chiếu tràn lan trên các kênh truyền hình trung ương và địa phương. Rồi thì việc dựng các tượng sư tử Trung Quốc ở các đình chùa, đền miếu, cũng như ở trụ sở các tổng công ty. Rồi thì hàng hóa, đèn lồng Trung Quốc cũng tràn lan. Chính những điều đó khiến người ta lo rằng là với Viện Khổng tử, Trung Quốc coi như đã đặt một bàn chân xâm lăng văn hóa đối với Việt Nam. Chưa bao giờ sức mạnh văn hóa Việt Nam suy yếu nhiều như hiện nay. Khi nào mà chúng ta không chống lại được xâm lăng về văn hóa, thì chúng ta sẽ không còn gì là nền tảng của nước Việt Nam nữa và sẽ bị đồng hóa. Đây sẽ là một điều vô cùng nguy hiểm. Xâm lăng về văn hóa còn nguy hiểm hơn là xâm lăng về quân sự. Cho nên tôi thấy rất lo ngại. RFI : Nhưng trong sự xâm lăng văn hóa này phải chăng cũng có sự tiếp tay của các lãnh đạo văn hóa, đã cho chiếu quá nhiều phim ảnh Trung Quốc trên truyền hình quốc gia, đến mức giới trẻ Việt Nam bây giờ thuộc sử Tàu hơn là sử Việt ? Đúng là bây giờ trẻ con cấp 1, cấp 2, cấp 3 thuộc sử Tàu hơn là sử Việt. Văn hóa Trung Quốc ảnh hưởng rất nhiều đến ngôn ngữ thường ngày của các em. Sóng truyền hình Trung Quốc tràn lan như vậy. Không những thế các bộ phim của cũng thế. Chúng ta thấy rằng là năm 2010, phim kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, tức là phim Đường tới thành Thăng Long, từ kịch bản, đạo diễn, cho đến diễn viên và vai quần chúng, cũng như bối cảnh, hậu kỳ, trang phục đều là do người Trung Quốc làm. Bộ phim mang tính phản văn hóa như vậy cho nên các nhà nghiên cứu, các học giả đã yêu cầu không được chiếu bộ phim đó trong đại lễ 1000 năm Thăng Long. Về sau người ta mới phát hiện bộ phim đó không chỉ mang tính phản văn hóa, mà còn phản quốc, vì những nội dung lịch sử đã bị bóp méo và làm sai lạc. Chúng tôi lo ngại vì giới lãnh đạo văn hóa Việt Nam hiện nay hiễu một cách rất là ấu trĩ và vô cùng hạn chế về văn hóa Trung Quốc. Vì vậy, họ không phát động được trong cán bộ, công chức trên toàn quốc về việc phải có một sự đề kháng như thế nào đối với văn hóa Trung Quốc. Hậu quả là vào những dịp Tết trong những năm gần đây, có khi cả thành phố, thị trấn thắp toàn đèn lồng Trung Quốc. Hà Nội gần đây đã phải phát động việc dẹp bỏ các tượng đá sư tử ở các đền chùa. Như vậy tức là họ cũng đã thấy được một phần rồi, nhưng những cái mà họ thấy được, nhưng so với những cái mà những người lãnh đạo cần phải có là chưa tương xứng. Chính vì vậy, những người tha thiết với truyền thống, với văn hóa Việt Nam đang rất là lo lắng. RFI : Thưa tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện, để cưỡng lại sự xâm lăng về văn hóa đó, liệu chúng ta có thể phát động một chiến dịch giống như chiến dịch kêu gọi người Việt dùng hàng Việt, để tẩy chay hàng Trung Quốc, cho dù chúng ta vẫn tiếp nhận những cái hay, cái đẹp của văn hóa Trung Quốc ? TS Nguyễn Xuân Diện : Cách đây vài năm Bộ Chính trị đã phát động phong trào người Việt dùng hàng Việt. Lúc ấy báo chí cũng làm rùm beng một vài sự hưởng ứng đó. Nhưng bây giờ chuyện ấy đã chìm đi rồi. Người ta cũng không nghĩ đến chuyện giữ gìn những phong trào đó hay phát động một lần nữa. Nhưng trong nhân dân, nhất là trong giới trẻ đã ngấm ngầm một phong trào muốn tẩy chay hàng hóa Trung Quốc, trước hết là hàng thực phẩm và thuốc chữa bệnh, nhưng đó cũng chỉ là những phong trào tự phát, chứ không phải là được phát động sâu rộng, được truyền thông Nhà nước cổ vũ, khuyến khích. Tôi nghĩ rằng nên khơi dậy một tinh thần dân tộc và một tinh thần bài Hoa đúng mức. Bài Hoa đây không phải là bác bỏ hết những gì có nguồn gốc từ Trung Quốc, một nền văn minh lớn của nhân loại. Nằm cạnh một nền văn minh lớn như thế, Việt Nam cần tiếp thu, thừa hưởng những giá trị văn hóa, những tác phẩm lớn của Trung Quốc mà đã mang tầm mức nhân loại. Nhưng bên cạnh đó, chúng ta cũng cần phải giới thiệu trong dân chúng, nhất là cho lớp trẻ, những nét đẹp của văn hóa Việt Nam, những giá trị thẩm mỹ thuần Việt, những tác phẩm văn học, mỹ thuật Việt Nam, những văn hóa chùa, làng... Muốn đem lại một sự đề kháng đối với sự xâm lăng văn hóa của bên ngoài, thì trước hết cần phải khơi dậy, giáo dục sự hiểu biết cho lớp trẻ về văn hóa của cha ông. Trong mạnh, thì ngoài mới không xâm lăng vào được. Khi người ta yêu quý những nét văn hóa đẹp đó, thì người ta mới dốc sức gìn giữ nó, tạo nên một lớp áo giáp bảo vệ trước sự xâm lăng từ bên ngoài. Mặc dù Việt Nam đã bị Trung Quốc đô hộ cả ngàn năm, liên miên bị Trung Quốc xâm lược như vậy, mặc dù người Trung Quốc đã truyền chữ Hán vào Việt Nam, thiết lập chế độ cai trị, áp đặt văn hóa lễ nghi, nhưng đã không thể đồng hóa Việt Nam. Lý do là vì văn hóa Việt Nam trong mấy nghìn năm qua được dựa trên một nền tảng vững bền của văn hóa Việt gốc ở Đông Nam Á, mà điểm son mà văn hóa làng, chống lại được sự xâm lăng về mặt văn hóa, giữ được những giá trị văn hóa và chính những giá trị văn hóa đó trở lại làm nên sức mạnh của dân tộc, đánh thắng được những trận lừng lẫy trong lịch sử. RFI : Xin cám ơn tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện. Nguồn: RFI
......

Thạc sỹ thất nghiệp - Vì đâu nên nỗi?

Việt Nam cam kết đặt giáo dục là ưu tiên hàng đầu của phát triển Trong giai đoạn khó khăn của nền kinh tế, tình trạng thất nghiệp gia tăng là điều tất yếu. Điều này thể hiện rõ tính cung cầu lao động trong nền kinh tế thị trường. Không riêng gì tại Việt Nam, mà nhiều quốc gia trên thế giới cũng gia tăng nạn thất nghiệp do khủng hoảng kinh tế toàn cầu trong thời gian qua. Báo chí đã nói rất nhiều về tình trạng lao động chất lượng cao bị thất nghiệp, hoặc phải nhận những công việc không tương xứng với bằng cấp được đào tạo. Chẳng hạn như hàng nghìn cử nhân thất nghiệp ở Nghệ An, gần 25.000 sinh viên ra trường thất nghiệp ở Thanh Hóa, cả nghìn cử nhân làm công nhân tại một doanh nghiệp ở Đà Nẵng,... Không chỉ cử nhân thất nghiệp, mà cả thạc sỹ cũng thất nghiệp. Nhiều bài báo đã nêu lên những trường hợp thạc sỹ thất nghiệp đi bán sim điện thoại, ở nhà nội trợ, thậm chí đi phụ xe để lấy tiền xin việc hoặc đi làm công nhân thời vụ. Đâu là nguyên nhân của vấn đề này? Theo Luật giáo dục, mục tiêu của đào tạo thạc sỹ là “giúp học viên nắm vững lý thuyết, có trình độ cao về thực hành, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và có năng lực phát hiện, giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo” (điều 39). Đồng thời, yêu cầu chất lượng thạc sỹ được đào tạo phải “nâng cao những kiến thức đã học ở trình độ đại học; tăng cường kiến thức liên ngành; có đủ năng lực thực hiện công tác chuyên môn và nghiên cứu khoa học trong chuyên ngành của mình” (điều 40). "Cũng không tránh khỏi sự háo danh về bằng cấp như dân gian vẫn thường nói “nghèo cũng cố cho con học đại học”. Chính họ, tự dồn mình vào con đường tự ti và bế tắc" Thế nhưng, những trường hợp thạc sỹ thất nghiệp được báo chí nêu ra hình như không đúng với mục tiêu và chất lượng đào tạo. Các ‘thạc sỹ thất nghiệp’ này đều cùng lý do không xin được việc sau khi tốt nghiệp đại học nên học tiếp để hy vọng bằng thạc sỹ sẽ xin việc dễ hơn. Đây cũng là lý do của phần lớn những người đi học cao học ngay sau khi tốt nghiệp. Rõ ràng, mục tiêu đào tạo thạc sỹ là tạo ra lực lượng lao động có chuyên môn sâu về chuyên ngành, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo trong chuyên môn và có khả năng nghiên cứu khoa học. Thế nhưng, hầu hết lý do học cao học là để dễ xin việc như nói ở trên cho thấy, mục tiêu đi học của những người này không đồng nhất với mục tiêu của đào tạo thạc sỹ. Vì thế, không thấy những người này khẳng định một cách thẳng thắn về năng lực chuyên môn lẫn khả năng sáng tạo và nghiên cứu khoa học để phủ nhận việc loại hồ sơ của họ là bất hợp lý ngoài việc khẳng định họ có bằng thạc sỹ. Thêm nữa, hầu hết chỉ thấy các thạc sỹ này nộp đơn xin việc vào các vị trí công chức, viên chức của các cơ quan nhà nước. Rõ ràng, các vị trí công chức hành chính lẫn chuyên môn ở từ cấp xã/phường đến cấp sở không cần bằng thạc sỹ. Cũng như các vị trí viên chức trong các trường tiểu học và phổ thông, các đơn vị hành chính sự nghiệp cũng không cần đến bằng thạc sỹ. Có một điều bất nhẫn là hầu hết những ‘thạc sỹ thất nghiệp’ được báo chí nêu trên đều có gia cảnh khó khăn, gia đình phải vay mượn tiền để cho họ đi học. Và khi học xong, không tìm được việc làm thì nợ lại chồng nợ. 'Cao học làm gì?' Tác giả đặt câu hỏi về mục đích của việc theo học cao học của giới trẻ Không biết sự thật mà báo chí nêu đến đâu, nhưng nếu thực sự là như vậy thì những gia đình này, những ‘thạc sỹ’ này đều có cái nhìn thiển cận về bằng cấp và công việc. Cũng không tránh khỏi sự háo danh về bằng cấp như dân gian vẫn thường nói “nghèo cũng cố cho con học đại học”. Chính họ, tự dồn mình vào con đường tự ti và bế tắc. Vậy, họ cố gắng lấy bằng thạc sỹ để làm gì nếu không có mục tiêu làm việc tại các cơ quan nghiên cứu, hoặc giảng dạy sau phổ thông? Họ vay tiền để đi học làm gì nếu ra trường không xin được công việc đúng với chuyên môn và bằng cấp? Họ học cao, nhưng tư duy và trình độ có thực sự cao? Bằng cấp có tương xứng với năng lực? Như đã nêu ở trên, không thấy các ‘thạc sỹ thất nghiệp’ này khẳng định có đủ năng lực chuyên môn lẫn kiến thức liên ngành, có đủ năng lực làm việc độc lập và nghiên cứu khoa học. Vì vậy, dư luận hoàn toàn có thể đặt ra câu hỏi: Bằng thạc sỹ của họ có tương xứng với năng lực thực sự của họ hay không? Mỗi chuyên ngành học đều có những đặc thù về nghề nghiệp, và một người có trình độ cao sẽ khai thác được đặc thù đó trong quá trình tìm kiếm công việc lẫn tạo ra thu nhập của mình bằng đúng chuyên môn đã được đào tạo. Đơn cử trường hợp cô thạc sỹ văn chương mà báo chí nêu trong thời gian qua phải xin đi làm công nhân thời vụ. Một thạc sỹ văn chương loại giỏi hoàn toàn có đủ khả năng làm việc độc lập bằng chuyên môn như có thể đi dạy hợp đồng tại các trường phổ thông, ĐH, CĐ hoặc cộng tác với các báo, tạp chí chuyên ngành để viết bài nghiên cứu, bài báo, thậm chí viết bài đưa tin. Thực tế trong xã hội đã cho thấy những công việc như vậy không quá khó nếu họ có năng lực thật sự tương ứng với bằng cấp. Hiện tại, không ít các sinh viên đã làm những việc như vậy khi còn đang ngồi trong giảng đường. Vậy, tại sao một thạc sỹ văn chương loại giỏi không làm được như vậy mà phải đi làm công nhân thời vụ? Rõ ràng, chỉ có thế là kiến thức thực sự của họ không tương xứng với tấm bằng. Sẽ có người đặt câu hỏi rằng, không phải ai cũng viết bài chuyên môn, viết báo được, hoặc xin đi dạy hợp đồng cũng không dễ. Nhưng xin thưa, điều này hoàn toàn không khó khăn đối với một thạc sỹ văn chương loại giỏi. Nếu không làm được điều này, chỉ có thể là năng lực của họ không xứng đáng với tấm bằng, hoặc có vấn đề trong quá trình đào tạo và cấp bằng của các trường đại học. Trên đây chỉ phân tích một trường hợp cụ thể. Các ngành nghề khác cũng có tính chất tương tự, nghĩa là mỗi ngành đều có một đặc thù riêng trong xã hội, và người có chuyên môn không khó để kiếm việc nếu giỏi thật sự. Tất nhiên, cũng không loại trừ một số lĩnh vực hẹp, và sẽ có những người giỏi khó kiếm việc. Nhưng là khó chứ không phải không thể. 'Việc làm nhà nước?' "Hầu hết các thạc sỹ đều muốn vào làm việc trong khu vực nhà nước... Phải chăng khu vực ngoài nhà nước không có chỗ cho năng lực và bằng cấp của họ?" Nhu cầu lao động chất lượng cao là cần thiết trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội. Nhu cầu này cần thiết cho cả nền kinh tế quốc dân, nghĩa là cần thiết cho cả các tổ chức, doanh nghiệp khu vực tư nhân chứ không chỉ dành riêng cho khu vực nhà nước. Trong tiến trình cải cách đất nước theo hướng hội nhập và phát triển ở Việt Nam. Khu vực nhà nước sẽ thu hẹp lại ở lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước. Các doanh nghiệp nhà nước, các đơn vị sự nghiệp có thu sẽ chuyển sang cổ phần hóa có vốn nhà nước hoặc tư nhân hóa toàn bộ. Những lĩnh vực công như giáo dục, y tế, khoa học công nghệ cũng không nằm ngoài xu hướng này. Hiện tại, lao động chất lượng cao của nước ta chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội. Chất lượng đầu ra của các trường đại học, cao đẳng chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế. Rõ ràng, các trường này cũng như những người học phải xác định rõ đào tạo như thế nào và học cái gì để đáp ứng yêu cầu đó. Như vậy, có thể thấy nếu một người được đào tạo đảm bảo chất lượng, có đầy đủ kiến thức chuyên ngành và tư duy tương xứng với bằng cấp, thì không khó kiếm một công việc, kể cả khi tỷ lệ thất nghiệp gia tăng như trong thời gian qua. Thế nhưng, hầu hết các thạc sỹ đều muốn vào làm việc trong khu vực nhà nước như đã nêu ở trên. Phải chăng khu vực ngoài nhà nước không có chỗ cho năng lực và bằng cấp của họ? Nhiều người có bằng cấp ở VN làm các công việc khác với chuyên môn được đào tạo, theo tác giả Có thể thấy, hầu hết các ‘thạc sỹ thất nghiệp’ được báo chí đề cập đều không phải thuộc các lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ. Và rõ ràng cơ chế tuyển dụng lao động ở khu vực ngoài nhà nước rất sòng phẳng, minh bạch, không cần tiền “bôi trơn”, không quá quan tâm đến bằng cấp, cũng như mức thu nhập sẽ cao hơn nhiều khu vực nhà nước. Vậy tại sao họ lại cố gắng vào nhà nước, trong khi biết rõ cơ chế làm việc của phần lớn các đơn vị, cơ quan nhà nước còn nhiều bất cập trong phân công lao động, vẫn còn hiện tượng ưu tiên con ông cháu cha, vẫn còn hiện tượng bỏ tiền để “chạy việc”. Thậm chí, để hoàn thành giấc mơ đó, có thạc sỹ chấp nhận đi làm phụ xe để dành tiền đi xin việc. Rõ ràng, có một sự mâu thuẫn đối với các thạc sỹ này, họ muốn nhận được công việc tương xứng với bằng cấp, nhưng lại không thể hiện được năng lực làm việc tương ứng. Trong khi, khu vực ngoài nhà nước hoàn toàn có thể cho họ cơ hội thể hiện điều đó. Phải chăng, họ chỉ dám nộp đơn xin việc vào cơ quan nhà nước vì chỉ dựa được vào tấm bằng? Vấn đề ‘thạc sỹ thất nghiệp’ sẽ còn nhận được nhiều đánh giá, nhận định khác nhau trong xã hội. Và người viết cũng chỉ đề cập các quan điểm trên theo thực tế chung chứ không phải đúng hết với mọi đối tượng, mọi nghành nghề trong xã hội. Tuy nhiên, có thể thấy rõ sự bất cập trong công tác đào tạo lao động chất lượng cao và nhu cầu của xã hội. Đồng thời, không thể không nói đến chất lượng và định hướng của công tác đào tạo. Tiên trách kỷ, hậu trách nhân. Trước hết, các thạc sỹ này nên tự nhìn nhận và đánh giá năng lực của mình, trước khi đổ lỗi cho cho nguyên nhân khách quan từ cơ chế, chính sách của nhà nước. Bài viết phản ánh quan điểm riêng và lối hành văn của tác giả, người đang sinh sống ở Hà Nội. Nguồn: bbc.co.uk/vietnamese
......

Tương lai đã bị đánh cắp của Thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay

Tương lai của thể hệ trẻ là tương lai đất nước, ai cũng quan tâm, tôi cũng vậy, vô cùng quan tâm, dù chỉ là một công dân vô danh. Gần đây có hai câu chuyện khiến tôi nhìn lại vấn đề này từ hai góc độ tuy hai mà một đó: tương lai đất nước và tương lai của thế hệ trẻ (8x và 9x hiện nay). Và tôi đã đi đến cùng một kết luận, vô cùng bi quan. Góc độ thứ nhất, tương lai đất nước phụ thuộc vào tầm nhìn, tài năng, đức độ của các nhà lãnh đạo lãnh đạo đất nước hiện nay, từ cấp cao nhất đến thấp. Ở nước ta, đó là các cán bộ đảng cộng sản VN. Về vấn đề này, cái nhìn khách quan và sắc sảo nhất từ ngoài vào có lẽ là của ông Lý Quang Diệu, cựu Thủ tướng khai quốc Singapore. Ông đã nói đại ý: Người Việt giỏi và thông minh hàng đầu Đông Nam Á, đáng lẽ họ phải là nước giàu mạnh từ lâu rồi, nhưng lãnh đạo của họ bị kìm kẹp trong ý thức hệ (cộng sản) và những người hiện là lãnh đạo chỉ nhờ (đã) giỏi đánh nhau (trong chiến tranh) nên đất nước không lên được. Bao giờ lớp người này về hưu hết, thế hệ trẻ giỏi giang sẽ lên, Việt Nam sẽ phát triển. Nhiều người Việt trầm trồ tâm đắc vì câu nói “tiên tri” này của ông Lý, và tràn trề hy vọng về tương lai của Việt Nam, nhất là khi cái ông “đánh nhau giỏi nhất” và sống dai nhất cuối cùng cũng đã ra đi rồi. Tôi thì không nghĩ thế. Thứ nhất, theo tôi, đây chỉ là câu nói “có cơ sở - có chê - có khen - có tiên tri - có trí tuệ” của nhà một nhà ngoại giao và lãnh đạo lão luyện và đẳng cấp. Đẳng cấp ở chỗ là nó không bao giờ sai mà không cần nói hết sự thật (mất lòng) mà vẫn được (người bị phê – người Việt) tung hô ca ngợi. Ông Hồ là số ít CSVN thỉnh thoảng nói được những câu như thế, đủ làm cả nhiều triệu dân Việt đê mê triền miên suốt vài thế hệ nay. Nhưng câu của ông Lý chỉ đúng với những năm 80-90 của thế kỷ trước, khi lãnh đạo Việt Nam chủ yếu là các tướng lĩnh công thần. Hơn ai hết ông Lý hiểu rằng thế hệ lãnh đạo Việt Nam hiện nay là thế hệ con cháu của ông, như chính con trai ông – Lý Hiển Long – đang đĩnh đạc làm Thủ tướng Singapore vậy. Họ thông minh và tài giỏi – như ông khen, đa số họ cũng được cả đời đi học (khi đất nước chiến tranh) và có bằng cấp chẳng kém gì con trai ông, mà có khi còn làm thầy con trai ông được (về số lượng bằng cấp)… Con trai ông phải chứng tỏ (và đã chứng tỏ được) tài năng trí đức từ một sĩ quan quèn để lên Thủ tướng, còn các nhà lãnh đạo Việt Nam cũng phải “hạ biết bao đối thủ” để lên cao như hiện nay, nhưng tại sao Singapore thì đã hóa rồng từ lâu, còn Việt Nam vẫn … là giun? (Việt Nam đang thua Singapore khoảng … 130 năm chứ mấy!)   Thứ hai, là người Việt cùng trong thế hệ của những người đang cầm quyền ở Việt hiện nay, và cũng được đào tạo, dạy bảo như họ, tôi biết họ không hề bị kìm kẹp bởi ý thức hệ như ông Lý nghĩ đâu, họ chỉ giả vờ theo ý thức hệ đó để có quyền và cầm quyền mà thôi. Vì họ biết, qua cha ông họ, cầm quyền sẽ mang cho cá nhân và gia đình họ tất cả mọi thứ họ muốn: giàu sang, an nhàn, danh tiếng, hạnh phúc – tức là sống trên đầu dân chúng, mà không phải chịu trách nhiệm gì cả về đất nước, xã hội. Đất nước, xã hội (mà họ đang cầm quyền) sẽ đi đến đâu, họ không thực sự quan tâm. Điều duy nhất họ thực sự quan tâm là họ sẽ cầm quyền được bao lâu và họ sẽ truyền quyền lực đó cho con cháu như thế nào? Thế cho nên, như thế hệ trước của những người lãnh đạo đất nước Việt Nam (cùng thời ông Lý), thế hệ này (cùng thời con trai ông), hay thế hệ sau sẽ lên (con cháu họ) đều không quan tâm đến việc đất nước Việt Nam có đi lên hay không, mà họ chỉ quan tâm một điều: họ có nắm vững quyền hành trong tay hay không… là điều có lẽ ông Lý không thể hiểu được. Vì, dù ông Lý cũng quan tâm điều đó cho đảng Nhân dân Hành động của ông, nhưng ông quan còn quan tâm một điều khác hơn hết: đó là sự Thịnh vượng của cả Quốc gia Singapore. Có thể thế hệ sau, cháu nội ông Lý cũng vẫn sẽ được làm Thủ tưởng Singapore và đảo quốc nhỏ bé của ông vẫn là điểm sáng chói trên bản đồ thế giới mà tôi luôn ngưỡng mộ, thì đó là nhờ ba điều: ông và con trai ông sẽ giúp (dạy dỗ và trau dồi) hậu duệ mình phát triển, bản thân cháu ông sẽ phải nỗ lực để xứng đáng và chứng tỏ tài năng đức trí để được đa số nhân dân Singapore tin cậy và bầu vào chức vụ đó, và thứ ba – quan trọng nhất – là nhờ thế hệ ông và con trai ông đã đặt nền móng cho một thể chế mà việc bầu bán công bằng như thế đã, đang và sẽ xảy ra. Còn ở Việt Nam thì sao? Những người lãnh đạo đất nước và mọi cấp chính quyền không cần cả ba điều trên mà chỉ cần hai điều khác là đủ tiến thân: được cha ông mình dọn chỗ cho và diệt tất cả những người khác giỏi và tốt hơn họ, để giữ chỗ.   Với cách chọn người như thế, có thể thấy rõ điều ông Lý nói về sự thông minh tài giỏi nói chung của người Việt không hề được khai thác để từ đó tuyển chọn lãnh đạo đất nước, mà còn bị làm kiệt quệ đi với chính sách ngu dân của đảng cộng sản. Nên đất nước Việt Nam cứ đi xuống mãi là lẽ tất nhiên. Và điều này dẫn đến vế thứ hai mà tôi nói đến ở đầu bài về tương lai nước Việt Nam: Liệu thế hệ trẻ của Việt Nam có cơ hội đóng góp tài năng (mà khi đi du học khắp nơi trên thế giới họ luôn đã và đang chứng tỏ), như ý của ông Lý Quang Diệu? Thế hệ trẻ Việt Nam có tương lai trên đất Việt Nam không? Câu trả lời của tôi, thật đau xót, lại là: Không. Không, nếu chế độ cộng sản này vẫn cầm quyền, vì họ vẫn “chọn người” lãnh đạo cách thoái hóa giống nòi như họ đã và đang làm, thậm chí còn theo cách càng ngày càng đê tiện hơn. Để chứng mình cho điều này ở góc độ thứ hai tôi xin kể hai câu chuyện mình biết trực tiếp, như sau. Thứ nhất, câu chuyện chúng tôi. Thế hệ tôi 5x, ông và cha đều “vô tư theo cách mạng đến cùng” nên được học hành đầy đủ và khá “đủ điều kiện” để tiến thân tốt đẹp trong chế độ này. Chúng tôi cứ nghĩ chỉ cần mình phấn đấu và đóng góp hết mình, chứng tỏ tài năng và đạo đức xứng đáng thì sẽ được trọng dụng. Thực tế lại không phải thế. Chỉ những ai có lớp cha chú “dọn chỗ” và “bảo lãnh” thì mới được thăng tiến. Số khác đi lên bằng thủ đoạn và hai đầu gối thì bao giờ và ở đâu cũng có thì tôi không nói đến. Những người đó thường không phải nhóm xứng đáng làm lãnh đạo, thường không đủ tài năng và đạo đức, vì không có sự tuyển chọn, cạnh tranh. Ví dụ, tôi không có cơ hội cạnh tranh bình đẳng, vì ông nội và ông ngoại tôi đều hy sinh từ thời kháng Pháp, còn cha tôi – cán bộ tiểu đoàn 307 phục viên ngay từ 1954 sau khi tập kết, nên không thể và cũng không chấp nhận làm việc “dọn đường” cho tôi. Tôi cũng và càng không muốn thế. Các “bạn” tôi (do có người “dọn đường”) nay rất nhiều người làm to khắp nơi, và tôi thấy việc chúng nó quan tâm nhất sau “kiếm ăn” (tham nhũng) là dọn đường cho đám con cháu ngoi lên, cũng theo “nguyên tắc” như chúng nó đã đi lên: phải có người trên bảo lãnh (thực chất là lo lót và đấu tranh ngoan cường giữ chỗ, mua chỗ) và phải mua đủ bằng cấp để làm đúng thủ tục. Những chuyện này, là bạn bè, chúng nó tâm sự hết: đã lo cho đứa này đứa kia vào chỗ này chỗ kia như thế nào, hết bao nhiêu, và tương lai chúng sẽ lên chức này chức kia ra sao… Tất cả mọi chuyện như thi công chức, tuyển chọn công khai… là đều hình thức và giả dối hết. Trong tất cả các ngành, các cơ quan nhà nước, người ta chỉ nhận người “nhà”, người “của sếp”, người được “gửi gắm chéo”. Gửi gắm chéo là: tôi gửi con tôi cho cơ quan anh và nhận con anh vào cơ quan tôi với điều kiện cơ hội thăng chức và được nâng đỡ tương đương – có đi có lại. Có lẽ trên 90% cán bộ cơ quan và doanh nghiệp nhà nước và cả các lực lượng vũ trang là các dạng “tuyển chọn” như thế nên năng lực, tinh thần và đạo đức làm việc của họ có giới hạn nghiêm trọng. Hơn thế nữa, và nguy hiểm nhất, họ bịt hết, chiếm hết mọi con đường, cơ hội tiến thân, mọi vị trí cống hiến cho đất nước của những người trong đại đa số những người cùng thế hệ có năng lực, tinh thần và đạo đức làm việc tốt hơn họ. Như vậy, các thế hệ gần tôi, người giỏi cũng không có cơ hội tham gia lãnh đạo, dù dân tộc ta là… khá giỏi. (Nói thêm: con tôi hai đứa đã tự đi học nước ngoài, một đứa ở lại, một về nước tự xin việc công ty nước ngoài. Vì tôi đã dạy và khuyên các con phải tự lo hoàn toàn, không có ai dọn chỗ. Cậu con trai út cũng sẽ thế). Cho đến gần đây tôi vẫn chỉ nghĩ và coi những hiện tượng ”con ông cháu cha”, chọn người, dùng người kém như trên chỉ là một vấn nạn đạo đức chung tràn lan của xã hội hiện nay mà thể chế cộng sản này (có muốn nhưng?) không ngăn được do “lỗi cơ chế”, chỉ tạo điều kiện cho nó phát triển thêm. Tôi không ngờ… còn tệ hơn thế! Câu chuyện thứ hai: các học trò của tôi, thế hệ 8x và 9x. Tôi thường hay được mời giảng dạy, đào tạo, nói chuyện cho thế hệ trẻ bởi các trường đại học, cao đẳng, các trung tâm đào tạo về các đề tài khởi nghiệp, lập nghiệp của các bạn trẻ. Và sau đó, tôi thường làm tư vấn (tất cả đều miễn phí) cho các bạn trẻ để giúp họ khởi nghiệp kinh doanh thành công trong cái xã hội… không thành công này (đang thua xa tất cả các nước xung quanh mà ngày xưa không có đảng thì mình hơn họ!). Tôi dậy họ những cái tôi nghĩ họ cần mà nhà trường XHCN không dậy, để họ khởi nghiệp, để họ vào đời. Học trò của tôi (đã trên cả chục ngàn người học) đa số là thế hệ 8x, 9x rất trong sáng, giỏi giang, đầy nhiệt huyết, đã học xong đại học cao đẳng, nhưng… không thấy có đường đi, không có cơ hội tiến thân, không thấy tương lai, không xin được việc làm sau khi học hay không muốn làm cho nhà nước… Nguyên tắc dạy học của tôi là: tin vào thế hệ trẻ hơn họ tự tin vào chính họ, nói những điều mình làm và làm những điều mình nói, căm ghét (không chấp nhận) tham nhũng và giả dối. Tôi viết một cuốn sách “Là Doanh nhân” để dậy các em hiểu, tự hào và tự tin là doanh nhân đích thực, không làm “ranh nhân”, làm sân sau rửa tiền cho tham nhũng… Một hôm, một bạn trẻ 8x, học trò cưng của tôi tâm sự: “Thầy ạ, ba em là cán bộ đang tại chức ở quê em (phó chủ tịch huyện), mấy năm nay em theo thầy lập nghiệp ở TP HCM rất thành công (cậu bé học vài lớp tôi giảng xong đã lập công ty, kinh doanh mới ba năm, rất phát triển, doanh thu vài chục tỷ đồng, có vài chục nhân viên, kỹ sư…), nhưng ba em cứ muốn em về làm việc trong ủy ban huyện, vì ba nói có chính sách nhà nước khi ba về hưu thì em sẽ được thay ba làm ít nhất đến chức… phó chủ tịch huyện, nhưng em không chịu…”. Trước đó cậu bé cũng từng tự kể cho tôi, ông phó chủ tịch huyện (ba cậu) nghi rằng các lớp học của tôi là “phản động” nên mới lung lạc con trai ông và đám trẻ ham kinh doanh như thế, và đã cử lính theo học các lớp của tôi để ghi âm mang về điều tra, nhưng… không có cơ sở gì đem công an đến bắt tôi! Tôi rất thương cậu học trò quá giỏi và ngoan đó vì cậu bé đang bị giằng xé giữa thầy và cha và con đường tương lai cậu phải chọn đi… Mấy tháng nay, cậu bé đó ít gọi điện thăm tôi. Lần cuối cùng, cậu nói ba cậu sẽ giúp cậu lấy mấy hợp đồng xây dựng lớn theo dự án của nhà nước ở tỉnh nhà, huyện nhà… Tôi đã vội hỏi lại: “Nhưng em đang kinh doanh rất tốt ở đây (TP HCM) cơ mà?”. “Vâng, nhưng em vẫn chỉ là con tép riu thôi…”. Đã từng đưa cậu đến các Hội chợ Quốc tế ở nước ngoài, tôi hiểu giấc mơ của em. Tôi bàng hoàng hiểu ra, cậu học trò của mình đã đi thẳng đến và phải đưa ra một quyết định lớn mà tôi cũng đã phải trải qua hơn chục năm trước: Chấp nhận là con tép riu trên thị trường nhưng được sống là mình trong sạch hay lớn thành “đại gia” nhờ tham nhũng, rửa tiền cùng và cho cán bộ nhà nước, rút tiền nhà nước… Tôi vớt vát: “Em ơi, đồng tiền đó có sạch đâu em… Em làm một việc như thế nào thì em sẽ có thể làm mọi việc như thế đó – trong sạch hay không…”. Nhưng, thêm vào cái chức phó chủ tịch huyện được chế độ cho “kế thừa” cha đang vẫy gọi cậu nữa, cậu bé đã im lặng… Hơn chục năm trước, tôi khoảng bốn chục, đã qua “tam thập nhi lập” từ lâu, còn cậu học trò của tôi hôm nay còn chưa tới ba mươi… Cậu phải lựa chọn: một “hợp đồng của ba” sẽ cho cậu doanh thu bằng cả mấy năm ở Sài gòn này, và chức vụ phó chủ tịch huyện như ba nói là “cầm chắc”, cùng cái xe Zace ba mới mua cho chỉ để chạy ở nhà… Hơn hai tháng nay cậu bé không gọi điện, không đến thăm nữa. Chắc cậu đang về quê? Công ty đã giao lại cho bạn, cũng là học trò của tôi, điều hành tiếp… Khỏi phải nói tôi buồn đau thế nào! Như thấy chính con trai mình dây vào tham nhũng! Sau đó, tôi mới tìm cách kiểm tra lại với các “bạn bè” quan chức của tôi về chính sách “thừa kế” chức vụ cho con cái của chính quyền cộng sản này thì được hiểu là: chính sách đó là chính sách ưu tiên con em cán bộ trong bộ đảng và chính quyền, đã được thực hiện công khai nhiều năm nay ở tất cả các địa phương và trung ương, để giữ trung thành và gắn bó của cán bộ với chế độ và “xây dựng” thế hệ cán bộ trẻ! Không còn nghi ngờ gì nữa, chế độ này đã chiếm hoàn toàn quyền lực tương lai vào tay con cháu họ, bằng chính sách, chế độ, tiêu chuẩn hẳn hoi. Trong tất cả mọi ngành, kể cả các lực lượng vũ trang! Chỉ một vài học trò trong hàng nghìn học trò tôi dạy đang kinh doanh để hướng tới tương lai đích thực của họ có “cơ hội” đó. Cả thế hệ trẻ còn lại, họ đâu có cơ hội nào để thành công trong một xã hội như thế này, kể cả trong kinh doanh lẫn trong sự nghiệp chính trị? Vì thế, sau vụ đó, tôi không nhận lời dạy hay mở lớp đi dạy các bạn trẻ khởi nghiệp nữa, họ đâu có Tương lai bình đẳng trong xã hội này!? Tương lai của họ đã bị đảng cộng sản đánh cắp! Có lẽ Thế hệ trẻ cần học những điều khác để giành lấy Tương lai của mình vốn đã và sẽ bị đảng cộng sản đánh cắp hèn hạ cho con cháu họ, cùng là giành lại Tương lai cho cả đất nước này. P.C.T. Nguồn: boxitvn.blogspot.com
......

Viết Cho Một Người Sắp Đi Xa

:“…Hầu như những người dấn thân cho dân chủ đều nghèo, họ nghèo vì họ lương thiện, nhất là với một xã hội đảo điên như bây giờ. Sự quan tâm của dư luận Việt Nam, trong cũng như ngoài nước đều mang tính nhất thời và sau đó là quên lãng…” Thầy giáo Đinh Đăng Định Những ngày qua, cả nước Việt Nam đều tập trung mọi sự quan tâm và theo dõi đám tang cụ Võ Nguyên Giáp. Điều đó cũng đúng, vì cụ đã là một “huyền thoại”. Càng đặc biệt hơn khi cụ là một “huyền thoại cộng sản”. Chính quyền Việt Nam đã khai thác tối đa sự kiện này và phong trào dân chủ cũng vậy. Người ta nhắc lại sự kiện cụ Giáp can ngăn sáp nhập Hà Tây vào Hà Nội, cụ cũng can ngăn việc phá bỏ hội trường Ba Đình và nhất là việc cụ ba lần viết thư lên lãnh đạo cao nhất của đảng can ngăn chuyện khai thác Bô-xít ở Tây Nguyên. Thực ra thì từ sau năm 1975 thì vai trò của cụ trên chính trường coi như đã chấm dứt mà đỉnh điểm của nó là nhiệm vụ “Chủ tịch Ủy ban quốc gia dân số và sinh đẻ có kế hoạch” mà đảng phân công cho cụ. Đám tang của cụ thật là đặc biệt với thật nhiều cảm xúc. Thương tiếc, bùi ngùi, cảm thông, chia sẻ… là những tình cảm mà đa số người dân Việt nam dành cho cụ. Trong dòng người lũ lượt kéo đến viếng cụ chắc chắn sẽ có những người đến để chia tay cụ đồng thời chia tay luôn cả một quá khứ, một quá khứ và dĩ vãng hào hùng, bi tráng nhưng cũng đầy máu và nước mắt. Họ muốn chia tay một người “cộng sản” cuối cùng. Dù công lao của cụ có được ca ngợi hay tung hô đến đâu đi nữa thì có một sự thật phũ phàng là chính cụ đã góp phần không nhỏ tạo nên chế độ này và cùng với nó là những bất hạnh và khổ đau đổ lên đầu người dân Việt Nam suốt hơn nửa thế kỷ qua và vẫn đang còn tiếp diễn. Tuy nhiên, dù có nhiều ý kiến khác nhau nhưng mọi người đều đồng ý với nhau rằng sẽ không bao giờ còn một đám tang như vậy nữa dành cho bất cứ một vị cộng sản lãnh đạo nào của Việt Nam trong tương lai. Bài viết này không phải viết về cụ mà về một người khác, dù chỉ là một người rất đỗi bình thường và không phải ai cũng biết đến nhưng lại rất đáng để quan tâm và ngưỡng mộ. Người này cũng có nhiều điểm giống cụ Giáp, ông từng là một sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam, sau khi rời quân ngũ ông làm một thầy giáo. Ông không dạy Sử như cụ mà ông dạy Hóa, chính vì dạy Hóa nên ông hiểu được những hậu quả nghiêm trọng do việc khai thác bô-xít gây ra. Ông đã đi từng nhà và nói rõ cho mọi người ở xung quanh ông hiểu rõ vấn đề nghiêm trọng đó. Ông cũng hiểu rằng những vấn đề quan trọng liên quan đến vận mệnh của dân tộc chỉ có thể giải quyết được khi đất nước có dân chủ và vì vậy ông đã kêu gọi và cỗ vũ cho một nước Việt Nam dân chủ và đa nguyên… Chính vì những việc làm cao cả đó mà ông, thầy giáo Đinh Đăng Định, giáo viên dạy môn Hóa của trường PTTH Lê Quý Đôn tỉnh Đắk Nông đã bị kết án 6 năm tù giam trong phiên sơ thẩm ngày 9/8/2012 với tội danh “Tuyên truyền chống phá nhà nước XHCN” theo điều 88 Bộ Luật Hình Sự. Và trong phiên phúc thẩm xảy ra ngày 21/11/2012, tại tòa án tỉnh Đăk Nông ông bị tuyên y án 6 năm tù giam. Bất chấp mọi phản đối của các tổ chức nhân quyền và dư luận nhân dân Việt Nam. Chính quyền Việt Nam đã không khuất phục được ông, nếu ông chịu nhận tội phần nào thì bản án của ông chắc chắn sẽ được giảm đáng kể, tuy nhiên bệnh tật đã không buông tha ông. Sau khi chuyển từ trại giam đến bệnh viện 30/4, quận 5, Sài Gòn trực thuộc Tổng cục Hậu cần – Kỹ thuật, Bộ Công an để điều trị thì ông đã được các bác sĩ phẫu thuật lấy khối u trong dạ dày và sau đó được chẩn đoán là bị ung thư dạ dày. Hiện tại sức khỏe của ông rất yếu và vợ của ông là bà Đặng Thị Dinh (Số điện thoại liên lạc: 0904643576) đã gửi đơn lên Chủ tịch nước và Bộ trưởng công an xin cho ông miễn chấp hành án về nhà chữa bệnh nhưng đến giờ vẫn chưa có hồi âm. Như chúng ta đều biết, một khi bị bệnh ung thư đã di căn là đồng nghĩa với bản án tử hình đã được tuyên. Sớm thì vài ba tháng, muộn thì đôi ba năm là hết. Không hiểu còn chần chừ gì nữa mà chính quyền chưa chịu tha cho ông? Dù không ai muốn điều đó xảy ra, nhất là những người thân của ông, nhưng điều đó rồi sẽ xảy ra trong một tương lai gần. Ông Võ Nguyên Giáp mất đi mang theo cả thời đại của mình, một thời đại u mê và lầm lạc. Thầy Đinh Đăng Định rồi cũng ra đi nhưng sự ra đi đó đã từng góp phần vào việc mở ra một thời đại mới cho cả một dân tộc: Thời đại của tự do và dân chủ thật sự. Người thân của thầy có thể tự hào rằng bản thân thầy đã có những đóng góp rất cụ thể và thiết thực cho sự hồi sinh của đất nước. Các con của thầy có quyền hãnh diện và tin vào một tương lai tươi sáng hơn, xứng đáng hơn. Điều trăn trở của người viết là làm sao để những người yêu nước như thầy Định không còn cô đơn, khi chấp nhận dấn thân cho dân chủ, cho đất nước. Dù rằng khi dấn thân thầy không đòi hỏi bất cứ ở ai và bất cứ điều gì dành riêng cho thầy, nhưng giá như thầy được quan tâm nhiều hơn thì hiệu quả có lẽ sẽ tốt hơn, nhất là khi gia đình của thầy không có gì là khá giả. Hầu như những người dấn thân cho dân chủ đều nghèo, họ nghèo vì họ lương thiện, nhất là với một xã hội đảo điên như bây giờ. Sự quan tâm của dư luận Việt Nam, trong cũng như ngoài nước đều mang tính nhất thời và sau đó là quên lãng. Những người lên tiếng cho dân chủ đều bị chính quyền tìm mọi cách triệt đường sinh sống, ví dụ trường hợp của Lê Thị Công Nhân. Hiện hai vợ chồng cô phải nuôi vịt để sống dù rằng Quyền, chồng cô từng là một kỹ sư. Sự kiên trì là đặc tính của một tổ chức và của những cá nhân tham gia vào tổ chức. Vì vậy dù muốn hay không thì chỉ có những tổ chức mới có thể quan tâm thường xuyên và đầy đủ đến các thành viên của mình. Điều này đúng với mọi tổ chức lớn nhỏ trong xã hội và càng đúng hơn với một tổ chức chính trị đang tranh đấu. Sự lấn cấn ở đây là một tổ chức chính trị đứng đắn và lương thiện thì lại cũng …nghèo. Việc kêu gọi ủng hộ tài chính của tổ chức thường rất thận trọng và hạn chế vì sợ hiểu lầm và bị chính quyền lợi dụng để công kích. Nhưng nếu không kêu gọi thì sẽ không có ai tự nguyện đóng góp cho các tổ chức. Thường thì các cá nhân người Việt ở hải ngoại muốn và quen với cách là trực tiếp gửi tiền về cho những người tranh đấu trong nước mà họ ngưỡng mộ và quan tâm thay vì đóng góp cho một tổ chức chính trị đứng đắn để qua đó tăng cường sự liên đới và hợp tác giữa những người đấu tranh nghiêm túc. Đấy là chưa kể đến việc những người “chống cộng” ở hải ngoại muốn thông qua việc ủng hộ để gây tiếng vang và rồi thay vì giúp cho phong trào dân chủ trong nước phát triển họ lại kéo lùi tiến trình dân chủ trong nước vốn đang chuyển động rất tiệm tiến. Ở đây chúng ta cần phân biệt rõ ràng giữa những người “chống cộng” và những người “đấu tranh vì dân chủ”, trong tài liệu Cẩm nang Dân Chủ Đa Nguyên-Phần VI - Vì sao phải đấu tranh? Có đoạn viết về những người “chống cộng” ở hải ngoại như sau: “Họ chống cộng chứ không đấu tranh vì dân chủ. Họ cũng chụp mũ, cũng độc đoán, cũng giáo điều, cũng bất dung, cũng trấn áp những người không cùng chính kiến. Nếu nắm được chính quyền thì họ cũng sẽ độc tài như cộng sản, chỉ khác một điều là họ sẽ không thi hành chủ nghĩa Marx-Lenin. Nhưng ngày nay đảng cộng sản cũng đã từ bỏ đường lối Marx-Lenin và chỉ còn là một chế độ độc tài trơ trụi. Nếu thành thực với chính mình thì một số rất đông các tổ chức chống cộng trước đây phải ủng hộ chế độ hiện nay vì đó chính là chế độ họ đang vô tình mong ước”. Cũng trong một bài viết mới của tác giả trẻ Huỳnh Thục Vy “Suy nghĩ về xã hội dân sự”, cô cũng cho rằng cần “phân biệt rõ giữa xã hội dân sự và đảng phái chính trị”. Đấu tranh chính trị để thay đổi thể chế tồi dở, thay đổi cơ chế lạc hậu bằng một thể chế mới, cơ chế mới phù hợp với sự phát triển của xã hội…là công việc chính của các tổ chức chính trị. Cũng theo cô thì “các hoạt động đảng phái là cần thiết và chỉ tốt đẹp nếu nó mang đúng tên của mình”, và đây cũng là điều mà Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên luôn cổ vũ. Chúng ta cần có một thái độ rõ ràng và dứt khoát với đúng tên gọi và bản chất của nó. Ở đây cũng cần minh định lại một điều rằng, một tổ chức chính trị dân chủ đứng đắn đấu tranh là để thay đổi triết lý điều hành đất nước, thay đổi cơ chế đang kìm hãm đất nước chứ không nhằm chống lại bất cứ ai, hay loại bỏ một ai. Chúng tôi không đánh đồng chủ nghĩa cộng sản với những người cộng sản. Chúng tôi kiên quyết loại bỏ chủ nghĩa cộng sản chứ không tiêu diệt những người cộng sản. Người cộng sản cũng là những con người, nếu tháo vòng kim cô Mác-Lê trên đầu họ thì họ cũng sẽ trở thành những người bình thường. Người dân Việt Nam yêu nước và quan tâm đến tiền đồ của dân tộc cần hiểu rõ một vấn đề quan trọng nữa: Đấu tranh chính trị luôn là đấu tranh giữa những tổ chức chính trị với nhau chứ không phải là giữa các cá nhân. Muốn Việt Nam có dân chủ thì mọi người cần ủng hộ cho một tổ chức chính trị đứng đắn và lương thiện, giúp tổ chức đó có sức mạnh để qui tụ nhân tâm. Dân chủ sẽ đến với Việt Nam khi phong trào đối lập có được một tập hợp hùng mạnh, bao gồm mọi thành phần dân chúng. Muốn có được một tổ chức chính trị có tầm vóc như vậy thì người dân Việt Nam phải ủng hộ nó, ít ra cũng là về mặt tài chính, nhất là từ đồng bào hải ngoại như cộng đồng người Việt ở Mỹ, Úc… Chúng ta thường nghe và thấy rằng người dân Việt Nam, nhất là ở nông thôn họ rất thờ ơ với việc đấu tranh hay ủng hộ cho dân chủ, điều đó cũng không có gì là khó hiểu, nhân dân muôn đời nay vẫn vậy, họ biết hết nhưng họ im lặng. Họ chỉ ủng hộ và hành động khi nào họ thấy được sự chiến thắng của phong trào đối lập là không thể đảo ngược. Trí thức Việt Nam phải tạo được niềm tin của dân chúng bằng cách đoàn kết lại, tập hợp lại với nhau trong một tổ chức chung, với một ý chí chung, trên những đồng thuận chung cho một tương lai chung, của cả dân tộc. Việt Hoàng Nguồn: ethongluan.org
......

Cần chuẩn bị khi Đảng Cộng Sản chịu thua

Năm 1989 nhân lọai chứng kiến đảng Cộng sản Liên Xô với trên 20 triệu đảng viên, với một lực lượng quân đội và an ninh lên đến chục triệu người và với một guồng máy tuyên truyền từng tạo ảnh hưởng từ Tây sang Á đã sụp đổ hòan tòan trong một thời gian rất ngắn. Đảng cũng chịu thua!!! Tình trạng dẫn đến sụp đổ của chế độ cộng sản Việt Nam đã được chính Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng thú nhận. Khai mạc Hội Nghị 4, ngày 26-12-2011, ông Trọng cho biết:“Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là công việc rất khó, rất phức tạp ... khó nhưng không thể không làm vì nó liên quan đến sinh mệnh của Đảng và sự tồn vong của chế độ.” Khi đảng này càng chỉnh đốn thì tình trạng tham nhũng càng bộc lộ. Xin dẫn chứng vài lời thú nhận của tầng lớp cầm quyền để thấy đảng Cộng sản đã hòan tòan bất lực trước tệ nạn tham nhũng: Ông Trương Tấn Sang ví tham nhũng như “bầy sâu”, còn bà Nguyễn Thị Doan nêu rõ chúng "…ăn của dân không từ một cái gì”. Nguyễn Phú trọng thú nhận "Bây giờ ra khỏi nhà, cái gì cũng phải tiền, không tiền không trôi. Tham nhũng lớn cũng có, tham nhũng nhỏ cũng có, như ngứa ghẻ, rất khó chịu". Ngày 18-9-2013, trong cuộc họp Uỷ Ban Tư Vấn Quốc hội, Nguyễn Sinh Hùng cho biết “Không tham nhũng lấy tiền đâu mà chạy chức?”, rồi ông đặt câu hỏi: “Có tham nhũng trong lực lượng chống tham nhũng không?”. Nguyễn Phú Trọng chính thức trả lời là "có tham nhũng trong lực lượng chống tham nhũng." Sau Hội Nghị 8, khi tiếp xúc cử tri Trương Tấn Sang cho biết “Vai trò của những cơ quan kiểm tra, thanh tra, điều tra là cực kỳ quan trọng. Nếu những cơ quan này tìm không ra thì Đảng cũng chịu thua thôi!!!”. Tham nhũng gắn liền với quyền lực vì thế càng nắm được quyền lực khả năng tham nhũng càng tăng cao. Khi đã nắm được quyền lực không ai tự ý rời bỏ. Chả thế dù biết tham nhũng là ghẻ ngứa, là sâu bọ, là hại dân hại nước, là “Đảng cũng chịu thua”, Nghị Quyết Hội Nghị 8 vẫn tiếp tục kiên định giữ Điều 4 Hiến Pháp độc quyền đảng trị. Tình Trạng Bắc Hàn và Trung Cộng Không Mấy Tốt Đẹp Ngày 19-09-2013 Viện Nghiên Cứu Chiến Lược RAND Corp, một tổ chức chuyên nghiên cứu và cố vấn chiến lược cho chính phủ Hoa Kỳ đã công bố phúc trình khuyến cáo Hoa Kỳ, Nam Hàn và các nước Đồng Minh phải chuẩn bị cho sự sụp đổ của Bắc Hàn. Sự kiện này có thể dẫn đến chiến tranh, nguy hại khủng khiếp so với những gì đã diễn ra tại Đông Âu. Ngày 12-10-2013 vừa qua, Bắc Hàn ra Thông Cáo yêu cầu Hoa Kỳ phải chấm dứt cuộc tập trận với Nam Hàn và cảnh cáo tấn công Hoa Kỳ bằng một cuộc “chiến tranh tổng lực”. Ngày 20-09-2013, tạp chí nổi tiếng Financial times cũng cho đăng bài “Đảng Cộng sản còn tồn tại ở Trung Quốc được bao lâu nữa?”. Nhà báo Jamil Anderlini vạch rõ các điều kiện cần và đủ để nếu đảng Cộng sản Trung Hoa không chấp nhận cải cách chính trị thì cách mạng xã hội sẽ bùng nổ. Mục tiêu chiến lược của Hoa Kỳ là thực hiện tự do dân chủ tòan cầu. Để thực hiện mục tiêu này chiến lược và chiến thuật áp dụng tại mỗi khu vực, mỗi quốc gia và ở mỗi thời điểm có phần khác nhau. Gần đây Hoa Kỳ công khai công bố chiến lược xoay trục về Á Châu. Một chiến lược được đánh giá là bao vây Trung Quốc chuyển hóa nước này và các quốc gia đang bị cộng sản cai trị thành các quốc gia dân chủ. Xét cho cùng chuyển biến chính trị là điều không thể tránh khỏi. Chuyển biến lúc nào và chuyển biến ra sao là điều chúng ta cần quan tâm và chuẩn bị. Con Đường Miến Điện Ôn Hòa Đến nay đảng Cộng sản luôn tìm mọi cách tiêu diệt mọi tiếng nói bất đồng trong hay ngòai đảng Cộng sản. Bởi thế, Việt Nam không thể có được một Tổng thống như ông Thein Sein hay một lãnh đạo dân chủ như bà Aung San Suu Kyi. Mặt khác nhà cầm quyền Miến Điện còn phải đối đầu với những lực lượng sắc tộc đối kháng có quân đội và lãnh thổ riêng. Không có những nhân vật lãnh đạo và hòan cảnh như thế Việt Nam khó có thể có được thay đổi ôn hòa như đã xẩy ra tại Miến Điện. Con Đường Bạo Lực Cộng Sản Việt Nam Trong tình trạng khủng hỏang tòan diện dẫn đến sụp đổ thay vì chấp nhận chuyển đổi ôn hòa, đảng Cộng sản đã chọn con đường bạo lực. Bế mạc Hội nghị 8, Nguyễn Phú Trọng tuyên bố phải: “…có kế sách ngăn ngừa, loại bỏ các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa…khắc phục tình trạng sơ hở, mất cảnh giác; phòng, chống có hiệu quả các nguy cơ chiến tranh, xung đột trên các hướng; không để xảy ra bạo loạn, khủng bố, hình thành tổ chức chính trị đối lập…” Tuyên bố như trên chỉ xác định đảng Cộng sản sẽ tiếp tục con đường đàn áp dân oan mất đất, đàn áp tín đồ tôn giáo đòi tự do tôn giáo, đàn áp người yêu nước, yêu dân chủ, đàn áp mọi bất đồng. Như trường hợp Mỹ Yên thay vì chọn phương cách đối thọai ôn hòa, cộng sản đã thẳng tay đàn áp giáo dân, rồi cho diễn tập chống khủng bố ngay tại địa phương. Đương nhiên tức nước vỡ bờ, bạo lực sẽ tạo thêm bất ổn chính trị, dẫn đến nổi dậy của tòan dân. Chiến tranh cũng có thể xẩy ra giữa các phe nhóm trong đảng đang công khai tranh giành quyền lực và quyền lợi, hay do các biến động tại Bắc Hàn và Biển Đông dẫn đến chiến tranh khu vực Á Châu. Mọi biến động đương nhiên sẽ ảnh hưởng đến tình hình chính trị tại Trung Quốc. Vì thế cũng có thể xẩy ra trường hợp Trung cộng mang quân đánh chiếm một phần phía Bắc Việt Nam. Điều may mắn là chính đảng Cộng sản Trung Quốc cũng đang lâm vào khủng hỏang tòan diện dẫn đến sụp đổ. Trường hợp Trung Quốc sụp đổ trước sẽ dẫn đến sụp đổ dây chuyền của cộng sản Việt Nam. Cộng Sản Lợi Dụng Cái Chết Của Võ Nguyên Giáp Bế mạc Hội Nghị 8, Nguyễn Phú Trọng cho biết phải "Vận dụng nhuần nhuyễn bài học dựng nước và giữ nước của ông cha". Tuần qua cái chết của Võ Nguyên Giáp một người cộng sản mang nhiều huyền thọai đã được tận tình khai thác. Sự rầm rộ khai thác lại bộc lộ sự bất lực và bế tắc của những người hiện đang cầm quyền. Không lâu cái chết của ông Giáp sẽ đi vào quên lãng để mọi người phải đối đầu với thực tế đang xảy ra hằng ngày. Chuẩn Bị Cho Chuyển Biến Chính Trị Nói tóm lại nhiều yếu tố cho thấy đảng Cộng sản sẽ sụp đổ, có thể sụp đổ bất cứ lúc nào và sự việc xẩy ra vô cùng nhanh chóng. Điều quan trọng là chúng ta làm  gì để chuẩn bị cho việc ấy xảy ra sớm hơn và ít nguy hại cho đất nước. Hơn 7 năm về trước Khối 8406 đã tiên phong phát động phong trào công khai và ôn hòa đấu tranh đòi tự do dân chủ. Đến nay việc đấu tranh đã chuyển sang một bước mới, với sự hình thành và phát triển của nhiều nhóm, nhiều tổ chức dân sự: Liên Tôn, Nhóm 72, Nhóm Công Dân Tự Do, Nhóm Tuyên bố 258, Câu lạc bộ No-U. Mặc dù các tổ chức dân sự không nhằm mục tiêu tham gia một chính quyền dân chủ hậu cộng sản. Các tổ chức Xã hội Dân sẽ đóng góp rất nhiều cho việc hình thành một hiến pháp tự do, làm hậu thuẫn cho các chính đảng dân chủ và là nguồn cung cấp những nhân sự lãnh đạo cho một Việt Nam tự do. Các chính đảng dân chủ trong thời gian qua cũng đang phục hồi, phát triển và tìm cách liên kết hành động. Trong số các đảng chính trị có Đảng Dân Chủ Xã Hội do Đức Hùynh Phú Sổ sáng lập ngày 21-9-1946, có 1 hậu thuẫn rộng rãi của bảy triệu tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo. Chính vì thế trong diễn văn bế mạc Hội Nghị 8 Nguyễn Phú Trọng đã phải chính thức tuyên bố không để hình thành các tổ chức đối lập. Hải Ngọai giữ vai trò yểm trợ từ việc ngọai vận, đến truyền thông, từ vật chất đến tinh thần. Khi đảng Cộng sản gia tăng đàn áp nhân quyền thì chúng ta cũng cần gia tăng việc ngọai vận để buộc đảng Cộng sản phải tôn trọng những gì họ đã ký kết với Quốc Tế. Nói đến truyền thông, cũng cần nhắc đến sự đóng góp của Đài Phát Thanh Âu Châu Tự Do đã phá vỡ bức tường sắt Đông Âu. Hiện nay chúng ta có được Đài Á Châu Tự Do, chương trình Việt Ngữ đang vận động chính phủ Hoa Kỳ để tăng số giờ phát thanh từ 2 giờ lên 5 giờ mỗi ngày. Một việc làm cần được hổ trợ vì truyền thanh giúp những việc xẩy ra nhanh hơn và tốt hơn. Không riêng Đài Á Châu Tự Do, chúng ta cần hổ trợ tất cả các đài phát thanh hướng về Việt Nam, các diễn đàn mạng tự do. Truyền Thông là mặt mạnh nhất hải ngọai chúng ta có được. Việc nước là việc chung, vì thế mỗi người trong chúng ta cần sửa sọan để chủ động thực hiện những việc làm tốt nhất trong hòan cảnh, điều kiện và khả năng của mình. Muốn hành động có kết quả mỗi người, mỗi tổ chức cần hiểu, cần chấp nhận, cần tôn trọng và cần bảo vệ sự khác biệt của nhau. Những yếu tố trên vừa là nguyên tắc căn bản của dân chủ và cũng là điều kiện để chúng ta có thể liên kết hành động buộc đảng Cộng sản phải chịu thua. Nguyễn Quang Duy Melbourne, Úc Đại Lợi 16-10-2013  
......

Tiếng lắc của chùm chìa khoá

Tôi theo dòng Moskva Xuống công viên Gorky Lắng nghe ngọn gió đổi thay Một đêm hè tháng tám…   …Thế giới thu nhỏ lại Có bao giờ bạn nghĩ rằng Chúng ta có thể thật gần nhau, như anh em(Wind Of Change - Klaus Meine) Tiếng huýt gió mở đầu bài hát Wind Of Change của Klaus Meine, ca sĩ chính của ban nhạc rock Scorpions cho chúng ta cái cảm giác như anh là một trong những người lính đang đi dọc dòng sông Moskva để xuống công viên Gorky. Nơi anh có thể nghe thấy những người trẻ đang nói chuyện với nhau về giấc mơ tương lai. Nơi mà cơn gió đổi thay đang thổi thẳng vào khuôn mặt của thời gian. Wind Of Change được Meine sáng tác và hát vào năm 1990 để kỷ niệm ngày bức tường Berlin sụp đổ. Là một trong những bài hát đã đem đến cho Meine niềm kính trọng của thế giới về những đóng góp của anh cho âm nhạc và nhân quyền. Và rồi đúng như cái cảm nhận của Meine, gió tự do đã thổi về Moskva và Liên Xô đã sụp đổ sau đó một năm.   Cái thời huy hoàng, cực thịnh của đảng cộng sản ngày nào đến đó là chấm dứt. Hàng loạt những quốc gia cộng sản đã lần lượt sụp đổ, các quốc gia ở Đông Âu đã bắt tay xây dựng lại đất nước của họ từ hai thập niên trước. Phải chăng đây là lúc mà những con dân Việt Nam phải đứng lên nhận trách nhiệm của chính mình cho tổ quốc và các thế hệ tương lai. Chủ nghĩa CS đã ngự trị ở Liên Xô và sụp đổ sau bảy mươi năm, tính ra nó cũng ngự trị ở Việt Nam ngót nghét gần bảy mươi năm rồi. Liệu diễn đàn mang tên “Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự” vừa được một số nhân sĩ, trí thức trong và ngoài nước tuyên bố thành lập có làm thành “ngọn gió đổi thay” cho Việt Nam? Câu trả lời là: Tại sao không!? Hai thập niên trước, không một ai có thể đồn đoán rằng cuộc cách mạng ở Đông Âu có thể làm sụp đổ một cách nhanh chóng thành trì của khối Cộng sản Xô Viết. Còn tại Tiệp Khắc, tin từ chức của Tổng Bí Thư Jakes và toàn bộ hàng ngũ lãnh đạo của đảng cộng sản Tiệp xảy ra quá chóng vánh. Đến nỗi lời tiên đoán của giáo sư Timothy Garton Ash, chuyên gia lịch sử Trung Âu trở thành như tiên tri. Timothy đoán rằng tốc độ sụp đổ của các chế độ cộng sản tại Đông Âu sẽ diễn ra như sau: “tại Ba Lan mất mười năm; Đông Đức mất mười tuần; và Tiệp Khắc mất mười ngày.” Người dân Tiệp lúc đó không hề biết rằng sự có mặt của họ trong đoàn biểu tình, một hành động nho nhỏ của từng con người, có thể đem lại tự do cho đất nước Tiệp Khắc nhanh chóng đến như vậy. Cho đến tận ngày hôm nay, không ai biết mặt một trong những người hùng đã làm nên chiến thắng của cuộc cách mạng Nhung: người đầu tiên đã rút chùm chìa khóa và lắc lên giữa quảng trường Wenceslas. Tiếng chìa khoá được đáp lại bằng âm vang của 300.000 chùm chìa khoá của những người đang hiện diện trong đoàn biểu tình. Âm vang reo vui của những chiếc chìa khoá này đã đưa nhà văn kiêm nhà biên kịch Vaclav Havel vào vị trí dẫn đầu cuộc cách mạng. Và chính ông - người sau này trở thành vị tổng thống đầu tiên của nước Tiệp Khắc dân chủ - đã lèo lái cuộc cách mạng như đạo diễn một vở kịch, với những màn kịch đầy bất ngờ, thú vị và xúc động đến rơi lệ. Con người không thể sống mãi với sự lừa dối và khủng bố. Tôi tin là ở thời điểm này, toàn thể nhân dân Việt Nam đang thực sự mong muốn một đổi thay tốt đẹp cho đất nước mình. Tôi muốn nói đến cái ước muốn của tất cả mọi người dân Việt đang quan tâm đến vận mệnh của đất nước. Xin nhấn mạnh “Tất Cả”. Kể cả những đảng viên cộng sản, những người đang làm việc trong bộ máy cầm quyền. Nếu nhân dân Tiệp Khắc đã cùng nhau đứng lên để thoát khỏi ách độc tài cộng sản và đặc biệt là thoát ách thống trị của người Nga; thì theo tôi, nhân dân Việt Nam không chỉ đứng lên để bảo vệ tổ quốc trước sự xâm lược của Tàu Cộng, họ còn đứng lên để tự cởi bỏ cái ách sợ hãi, mà bộ máy cầm quyền tuy đã rệu rã vẫn còn cố sức kềm toả người dân. Thái độ của các thanh niên yêu nước, của cô sinh viên 20 tuổi Nguyễn Phương Uyên ở trước phiên toà là một điển hình. Cách hành xử vững vàng cương quyết của các em làm tôi nhớ đến tâm sự của nhạc sĩ người Tiệp Ondrej Soukup. Anh có mặt trong hầu hết các buổi xuống đường trong cuộc cách mạng Nhung, anh kể lại: “Mỗi ngày trôi qua là một ngày mà người dân Tiệp cảm thấy mình mạnh mẽ hơn, và đứng thẳng lưng hơn. Người Tiệp chúng tôi thấy mình đường hoàng hơn. Chúng tôi đã quá hèn mọn. Nhưng giờ chúng tôi bắt đầu cảm thấy tự hào. Quả là một cảm giác phi thường.” Đấu tranh cho điều Đúng không chỉ đem lại phúc lợi cho tha nhân, nó đem lại ý nghĩa cho cuộc sống và danh dự cho chính mình. Hơn nửa thế kỷ qua, những nhà văn, nhà báo phải sống với một nền báo chí vô cảm, xoay lưng lại với nỗi đau của đồng bào. Những người từ trước đến giờ vẫn giữ thái độ im lặng, đã không im lặng nữa. Và rõ ràng bạo lực, tù đày vẫn còn đó, vẫn sừng sững trước mặt, nhưng dường như nó đang phải cúi đầu trước sự góp mặt càng ngày càng đông của những nhà báo, những blogger Việt Nam. Hãy nghe anh Nguyễn Lân Thắng khẳng định: “Ngày càng có nhiều nhóm hoạt động dân sự hình thành thông qua mạng xã hội. Nhà nước điên cuồng tấn công các blogger bằng triệu tập, thẩm vấn, và nhà tù… nhưng họ gần như bối rối, bất lực trước sự phát triển ồ ạt của truyền thông xã hội… Những gì đang xảy ra ở Việt Nam 3 năm qua nhanh hơn 30 năm trước gộp lại… Nhất định chúng tôi, người dân Việt Nam sẽ chiến thắng.” Góp mặt trong Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự (XHDS), nhà báo Lê Phú Khải viết: “thực tế tồn tại của đất nước càng ngày nó càng làm cho nhà văn nhà báo hiểu ra và thấy được con đường dân tộc đi phải là con đường tiến bộ, dân chủ chứ không còn cách nào khác” Đúng như nhà báo Lê Phú Khải đã nói, con đường dân tộc đi phải là con đường tiến bộ, dân chủ chứ không có cách nào khác. Diễn Đàn XHDS đang là một tiếp nối, là một mốc điểm; nhưng để được sống còn, Diễn Đàn XHDS phải được tiến hành một cách thực tiễn và linh động. Nó không thể chỉ dừng lại ở trên Mạng Ảo mà phải được thể hiện bằng hành động. Nó phải trở thành biểu tượng của sự hợp lực. Nó phải xuống tới đường phố, xuống từng xóm nhà, xuống từng chung cư sinh viên, .... Cuộc cách mạng Nhung ở Tiệp Khắc cũng bắt đầu bằng một diễn đàn như thế; được gọi tên là Diễn Đàn Dân Sự (Civic Forum). Với mục đích cao nhất là loại bỏ chủ nghĩa độc tài toàn trị, Havel và Civic Forum đã khéo léo đoàn kết được nhiều thành phần. Tuy có quan điểm từ đồng thuận đến hoàn toàn đối nghịch nhau, nhưng họ đã đứng vào cùng một chiến tuyến để dành chiến thắng cho đất nước Tiệp Khắc thân yêu của họ. Tôi tin vào nỗ lực của các nhân sĩ, trí thức trong Diễn Đàn XHDS và tin vào tấm lòng thiết tha đối với tiền đồ tổ quốc của mỗi người dân Việt Nam. Thời điểm đã đến, và kết quả sẽ không khác được, dân chủ chắc chắn sẽ có mặt tại Việt Nam. Người Tiệp bảo rằng tiếng lắc chìa khoá của họ gửi đến Tổng Bí Thư Jakes và các ông trùm cộng sản Tiệp Khắc thông điệp: “Đến giờ rồi! Đi thôi các ông ơi!”. Để bảo vệ tổ quốc, để mọi người dân Việt Nam được sống và bắt tay vào xây dựng một thể chế dân chủ tốt đẹp cho quê hương, mỗi chúng ta hãy cùng xuống đường với Nguyễn Lân thắng, Lê Phú Khải, Nguyễn Quang Thuận,… và hãy lắc chùm chìa khoá của chính mình./. Nguồn: Viettan.org
......

"VỤN VẶT" THƯỜNG NGÀY

  1. Phải đến khi bị bắt, qua nhiều tháng điều tra, người ta mới rụt rè đưa ra một con số khiến nhiều người choáng váng: Dương Chí Dũng dùng tiền tham nhũng để mua nhà cho bồ và con ngoài giá thú. Số tiền “nhỏ” thôi: 1,6 triệu đô la. Quả thật là nhỏ so với tài sản của ông ta. Vì, Dương Chí Dũng không thể hy sinh toàn bộ gia tài cho cô bồ. Chắc chắn những gì ông ta có phải nhiều hơn thế…Cũng trong cuộc điều tra này, hé lộ em trai ông là Dương Tự Trọng, người tổ chức cho Dương Chí Dũng chạy trốn có 2 con riêng. Ông Trọng đã dùng quyền lực của mình, làm chứng minh thư giả để làm giấy khai sinh cho hai con riêng. Ngoài ra, ông Trọng còn bảo kê cho Đồng Xuân Phong (đang có lệnh truy nã) và Dũng “Bắc kạn”, một giang hồ khét tiếng có 2 tiền án. Hai tội phạm này đã giúp Trọng đưa anh trai đi trốn. Quyền lực nào, khiên che nào khiến ông Trọng có thể đạp lên luật pháp như vậy?   Từ lâu dư luận nói nhiều về các quan tham và mối quan hệ giữa một bộ phận công an và tội phạm hình sự, thì đây là một minh chứng…Mọi chuyện chỉ được đưa ra ánh sáng khi chính cơ quan công an tiến hành điều tra, xác minh. Và không dễ gì những vụ việc như thế này được điều tra bắt nguồn từ dư luận quần chúng...Mà dư luận thì vốn nhiều, vốn ồn ào nghẹt thở từ nhiều năm qua…Nhiều người chống tham nhũng đã phải chịu những oan trái, thua thiệt, thậm chí tù đày. Rồi đây, chắc chắn sẽ có những “dư luận” được bóc trần, nhất là khi có sự “chỉ đạo” từ trên xuống…Và, những quan tham hạ cánh an toàn, không bị lộ diện sẽ còn nhiều hơn… 2. Cơ quan cảnh sát điều tra xác định ụ nổi 83M sau khi được bán với giá 2,3 triệu USD đã được kê lên thành 9 triệu USD, trong quá trình thuê tàu vận chuyển VN, sửa chữa…đã tăng lên gần 20 triệu USD. Đến thời điểm tháng 5.2012, Vinalines báo cáo cho biết tổng chi phí cho chiếc ụ nổi này đã lên tới số tiền 525 tỉ đồng. Nếu đem số tiền này chia cho 450.000 đồng/ tháng (tạm tính) mà nhà nước hỗ trợ cho trẻ em miền núi nghèo để khuyến khích trẻ đến trường học thì sẽ giúp được bao nhiêu trẻ? Ở miền núi, trẻ em nghèo như là đương nhiên…Nhiều trẻ hiện còn bám trường để học chữ vì còn được miếng ăn, được nhận quà của các tổ chức từ thiện...Và cuộc sống của các em không có cách gì so sánh với sự xa xỉ của người giàu dưới thành phố, nhất là quan chức tham nhũng. Và đừng nghĩ việc tham nhũng quá dễ dàng của Dương Chí Dũng không liên quan gì đến cái chết của ba mẹ con chị Nga ở Bình Phước quấn chăn tự thiêu vì cuộc sống quá khó khăn, bế tắc vừa qua… 3. Đang lúc kinh tế suy sụp, cuộc sống của người dân lao đao, khốn khổ thì một dự án khủng như trận cuồng phong thổi thốc vào nỗi tức giận của dân chúng: Tổng cục đường bộ xây dựng dự án trục đường tâm linh từ Hà Nội đi Bái Đính với tổng dự toán lên đến 4300 tỷ đồng. Họ nói đây là nhu cầu của 6,5 triệu dân Hà Nội…Đến giờ chùa Bái Đính chưa phải là nơi hội tụ tâm linh của những Phật tử thuần thành. Không phải 6,5 triệu dân Hà Nội đều là Phật tử. Càng không thể là nhu cầu tâm linh xa hoa mà chính quyền “quan tâm” đáp ứng…(http://songmoi.vn/kinh-te-kinh-doanh/muon-tieu-tien-o-%E2%80%9Ctruc-duon...) NO-U mong muốn xây đập tràn qua con suối nhỏ này cho Háng Đề Sủa Nếu ai đã lên miền núi thì biết đường xá những vùng sâu xa khốn khổ như thế nào…Mùa lũ nào cũng có những cái chết thương tâm của người dân và các thầy cô giáo vùng cao. Mới đây nhóm từ thiện No-U khảo sát để xây một đập tràn cho điểm trường Háng Đề Sủa (Mù Cang Chải) mà hễ mùa lũ đến, học trò đều phải nghỉ học vì không thể vượt qua con suối nhỏ đến trường. Tổng dự toán cho đập tràn và 2 lớp học tổng cộng hết 185 triệu đồng. Tất nhiên số tiền này quyên góp từ những người hảo tâm…Hỏi: với 4300 tỷ đồng kia sẽ xây được bao nhiêu cây cầu, con đường thiết thực cho người dân? Lớp học cắm bản Hồ Nhì Pá Mới hay, một chính quyền không lo xây dựng trục đường lòng tin đến với người dân thì dù có xây bao nhiêu trục đường “tâm linh” cũng không tạo được chút công đức nào… Một cây cầu khác để vào Háng Đề Sủa mong được ai đó giúp xây dựng...Vào mùa lũ sẽ bị chia cắt với bên ngoài Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nói: “Đây là tôn giáo giản dị của tôi. Không cần thiết phải có những đền chùa; không cần những triết lý phức tạp. Chỉ cần trí tuệ chúng ta hằng có. Trái tim chúng ta là ngôi chùa; lòng tốt chính là triết lý”. Đừng nhân danh Đạo Phật để che đậy những toan tính, mưu đồ… Đừng nhân danh lý tưởng để đè số phận đất nước dưới quyền lợi của cá nhân của một "bộ phận không nhỏ"… Nguồn: Bloger buudoan.com
......

Khi Công An Trở Thành Người Bị Trói

Xã hội Việt Nam năm 2013 đang trở thành chứng nhân cho sự thừa kế quy luật nhân quả của vài chục năm trước, với tâm điểm thuộc về những người mặc sắc phục và mang trên mình sứ mạng “bạn của dân”. Không còn quá hiếm hoi hiện tượng người dân phản ứng mạnh mẽ với đối tượng được xem là “người thi hành công vụ”. Vụ dân chúng bắt giữ và trói nghiến 5 sĩ quan và chiến sĩ cảnh sát vào tháng 10/2013 là một dấu chỉ điển hình cho kịch tính buổi giao thời. Kịch tính trên xảy ra ở tình Hòa Bình, một trong những địa phương cộm cán về tình trạng khai thác vàng bừa bãi và nạn đầu gấu lộng hành, đã được báo chí trong nước phản ánh rất nhiều lần trong rất nhiều năm qua, nhưng vẫn chỉ chứng nhận tình hình bị mất kiểm soát hơn. Nguyên nhân dẫn đến vụ bạo hành đối với công an hầu như được dắt dây từ tâm thế bất mãn tích tụ quá lâu, nỗi kìm nén không thể giải tỏa của người dân đối với cách hành xử thiếu công bằng và vô tâm của chính quyền địa phương. Trong nhận thức giờ đây của người dân địa phương, hầu như trong các động tác can thiệp của chính quyền và lực lượng công an đều hiện lên bóng dáng những kẻ bảo kê cho nhóm lợi ích. Sau quá nhiều thất vọng cùng niềm tin bị đổ vỡ, sự thể tất yếu phải dẫn đến điều mà báo Đảng thường gọi là “bị giảm sút ý chí cách mạng”. Sống còn Sau 38 năm kể từ đỉnh vinh quang của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, xã hội Việt Nam đã liên tục xuống dốc về mọi mặt, kết tụ thành một cuộc khủng hoảng toàn diện và sâu sắc, để giờ đây đang lao nhanh vào một dấu chuyển khác của nhân dân: cách mạng hành vi tự phát. Cách đây không lâu, người ta cũng chứng kiến cuộc cách mạng tự phát đó xuất thần tại quê hương của phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh. Điểm khởi đầu có tính bùng nổ của sự kiện công giáo Mỹ Yên tại Nghệ An chính là việc giáo dân bắt giữ một số nhân viên an ninh mặc thường phục. Những người giấu thẻ ngành trong cốp xe máy đã tự cho mình quyền chặn và khám xét chiếc ô tô chở giáo dân đến dự phiên tòa xử 14 thanh niên công giáo và tin lành, lập tức kích hoạt vô số uẩn ức bị dồn nén lâu ngày trong cơ thể các con chiên thiên chúa. Nghệ An lại rất gần với Hà Tĩnh. Người ta cũng chưa thể quên một vụ phản ứng quyết liệt chưa từng thấy của người dân đối với chính quyền địa phương vào tháng 4/2011 tại huyện Kỳ Anh của ở Hà Tĩnh. Vụ việc bắt nguồn từ chuyện một doanh nghiệp có vốn đầu tư của Đài Loan có tên là Formosa, được sự bảo trợ của nhiều cấp từ trung ương đến địa phương, đã tiến hành dự án cảng nước sâu mà do đó làm ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên lẫn môi trường sinh sống của người dân địa phương. Đã có nhiều vụ đụng độ giữa công an và dân Sau nhiều lần đơn thư khiếu nại của người dân địa phương không được giải quyết thỏa đáng, khi Formosa sử dụng thủ đoạn dùng chính quyền và cảnh sát để dập tắt làn sóng phản đối của người dân nhằm giải phóng mặt bằng thi công, hàng trăm giáo dân xã Kỳ Lợi đã bất ngờ bắt giữ 5 cán bộ và nhân viên công an – những người đang “thi hành công vụ” tại hiện trường. Sự việc hy hữu này chỉ được giải quyết tạm ổn thỏa sau khi chính quyền thương lượng với giáo dân thất bại và các quan chức chính quyền phải dựa vào sự can thiệp của Tòa giáo phận Vinh để thả người – một chuyện tréo ngoe đến khó tin. Trong nhiều năm qua, “những người thi hành công vụ” đã làm nên một trang sử đặc sắc về hình ảnh “công an là bạn của dân”, liên quan đến không ít cái chết và bị chấn thương nặng nề của những người dân bị công an bắt giam tại đồn. Nếu vào thời gian trước, báo chí nhà nước còn e ngại khi đưa tin về những vụ việc luôn được coi là “nhạy cảm” như vậy, thì trong vài năm gần đây, nỗi bức xúc đã trở thành tinh thần phẫn uất về nạn cường quyền không có giới hạn, kiến việc loan tin và mổ xẻ trên báo chí nhà nước đã trở thành một hiện tượng truyền thông và cũng là món ăn đắng ngắt của ngành công an từ cấp trung ương đến địa phương. Khi nổ ra vụ việc cưỡng chế gia đình Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng mà giám đốc công an Hải Phòng Đỗ Hữu Ca đắc ý bình phẩm là “trận đánh đẹp”, phiên tòa xử các quan chức “ăn đất” ở Tiên Lãng cũng đánh dấu độ phẫn uất trong lòng nông dân đã lên đến cao độ. Từ nhiều địa phương, dân oan đất đai hướng về Tiên Lãng với tinh thần hiệp thông với những người đồng cảnh ngộ. Trước tinh thần sẻ chia dào dạt và tràn tính kích nổ ấy, những sắc phục công an lại như chọn cách nhảy sang phía bên kia của chiến tuyến. Không thể nói khác hơn là tâm trạng oán hận và thù địch đối với ngành công an đang dâng cao ở Việt Nam, tại nhiều địa phương và đặc biệt tập trung vào giai tầng nông dân phải chịu thiệt thòi nhất về quyền mưu sinh. Dự án Ecopark ở huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên là một ví dụ rất sống còn. Ở nơi đây, người dân tin chắc rằng lực lượng công an đã trở thành công cụ của giới chủ đầu tư lắm tiền và lắm tham vọng cướp đất. Cũng bởi thế, cuộc xung đột mang tính đối đầu giữa nông dân với nhóm lợi ích đã mau chóng biến thành cuộc đối kháng giữa dân oan với lực lượng mặc sắc phục. “Tử vì đạo ” Một vụ công an bắn đạn cao su khiến dân bị thương ở tỉnh Vĩnh Long Có rất nhiều dấu hiệu cho thấy nông thôn Việt Nam đang tái hiện quang cảnh của làng Ô Khảm ở Quảng Đông của Trung Quốc vào cuối năm 2011. Được châm ngòi từ âm mưu cưỡng chế nhằm chiếm đoạt đất của nông dân, công an địa phương đã bắt giữ nhóm cầm đầu khiếu kiện của nông dân và gây ra cái chết của một trong những người này ngay tại đồn công an. Ngay sau đó, dân làng Ô Khảm đả phản ứng dữ dội bằng cách đóng cổng làng, tống cổ các quan chức chính quyền ra khỏi khu vực. Về thực chất, đây là giai đoạn đầu tiên của một cuộc khởi nghĩa nông dân với quy mô nhỏ. Cuộc khởi nghĩa này lẽ ra đã lan rộng và kéo theo sự đồng thuận của nhiều địa phương lân cận khác, nhưng Bắc Kinh đã tỏ ra khôn ngoan khi tiến hành xử lý những viên chức chính quyền sai phạm và còn để cho dân làng Ô Khảm được bầu cử tự do, chọn lựa người đứng đầu cho mình. Cho đến năm 2013, chính cựu bộ trưởng Bộ công an và nguyên ủy viên Bộ chính trị Trung Quốc - ông Chu Vĩnh Khang - đã bị điều tra và đang có nhiều khả năng phải đối mặt với vòng tố tụng hình sự vì những hành vi cấu kết đậm đặc của ông ta với các nhóm lợi ích. Nhưng ở Việt Nam lại hầu như chưa có tiền lệ như thế. Bất chấp rất nhiều sai phạm đã trở thành hệ thống xảy ra trong ngành công an, bất chấp chuyện ăn hối lộ của cảnh sát giao thông đã trở thành một trong những sẹo lồi gớm ghiếc nhất làm xấu xí dung nhan chế độ, vẫn không có bất kỳ một chiến dịch làm sạch nào được làm đến nơi đến chốn. Trong khi giới quan chức nhà nước luôn kêu gào nhân dân phải có niềm tin với chế độ, giới báo chí đảng vẫn hàng ngày thở không ngớt về điều được coi là “thái độ phấn khởi” của người dân, thực tế lại đang diễn biến ngược chiều chưa từng thấy. Các vụ việc người dân công khai phản ứng với cảnh sát ngoài đường phố trở nên dày dạn và quyết tâm hơn. Vài ba trường hợp còn mang dấu ấn “tử vì đạo”. Vào tháng 9/2013, một nông dân ở Thái Bình là Đặng Ngọc Viết đã dùng súng ngắn giết chết vài cán bộ quản lý quỹ đất của chính quyền tỉnh này. Nhưng dù vụ Đặng Ngọc Viết gây chấn động trong dư luận và chắc hẳn phải làm cho nhà cầm quyền ngao ngán không ít về vị thế chính trị bị thách thức đến tận giường ngủ, chỉ vài tuần sau đó vẫn xảy ra hàng loạt vụ cưỡng chế đất đai vô lối ở Văn Giang ở Hưng Yên và Trịnh Nguyễn tại Bắc Ninh. Không chỉ hiện diện công an trong các vụ cưỡng chế này, côn đồ cũng là một thực thể đang hiện tồn tại các vùng nông thôn Việt Nam. Trong tâm não của rất nhiều dân oan, côn đồ với công an đang hóa thân làm một. Sự hóa thân của cái xấu càng không thể khiến cho tình hình bớt tồi tệ hơn. Phản ứng của người dân đối với công an đang manh nha tự phát và tiến dần vào xu hướng đối đầu bất chấp. Nhưng về phía mình, ngành công an nhiều địa phương vẫn như mắc nghẹn trong tâm thế bế tắc về não trạng và hành vi. Một trong những minh chứng rõ ràng nhất cho kết luận này là sau vụ giáo xứ Mỹ Yên, tiêu chí của công an vẫn chỉ là “ngăn chặn” cùng “sẵn sàng trấn áp” mà không một chút gần gũi hơn với đồng loại. Đường cùng của dân chúng lại rất thường là lối cùng của chế độ. Đánh giặc! Vụ dân trói công an mới đây ở Hòa Bình chỉ là một trong những giọt nước đầu tiên tràn ly, biểu tả cho một phong trào có tên “Hồi tố” xuất phát từ dân chúng. Kế tiếp dân chúng, giờ đây các công an viên lại trở thành nạn nhân của phần hậu quả xã hội và chính trị mà họ đã đóng góp “một phần không nhỏ”. Hòa Bình lại rất gần với Ninh Bình – một địa phương mà vào giữa năm 2013 đã nổ ra “trận đánh đẹp” với nạn côn đồ hành dân. “Thông báo với toàn thể nhân dân! Hiện nay đang có một đám người lạ mặt, đầu trọc, xăm trổ đầy mình, có hành vi côn đồ, dùng kiếm, dùng dùi cui, đuổi đánh, dọa đâm, chém, giết dân lành. Mọi người, ai có cuốc, xẻng, gậy gộc ra ứng cứu. Giặc đang càn quấy dân làng, mọi người tập trung mau để đánh giặc! Loa, loa, loa…” – tiếng kêu gọi hệt như lời hiệu triệu cứu quốc thống thiết của ông trưởng thôn Đồng Quân gào vào loa phóng thanh, đã làm cho xóm núi heo khuất ở vùng Ninh Bình bùng lên ký ức rạo rực của những năm tháng tiêu thổ kháng chiến, cùng nỗi giận bất chấp giới hạn pháp luật đối với đám cướp cạn giữa ban ngày ban mặt. Nguồn: bbc.co.uk/vietnamese/
......

Einladung zu Lesung und Gespräch zum Thema: „Ich wollte frei sein“

Die Mauer, die Stasi, die Revolution Unser Gast: Vera Lengsfeld Bürgerrechtlerin in der ehemaligen DDR, ehemalige Bundestagsabgeordnete und Trägerin des Bundesverdienstkreuzes Stasi-Tochter, Dissidentin, Politikerin: Drei Leben sind es, die Vera Lengsfeld in sich vereint. Als Tochter eines Stasi-Offiziers wird sie ganz im Sinne des SED-Regimes erzogen. Doch früh schleichen sich bei ihr Zweifel am System ein. Alsjunge Erwachsene zieht sie die Konsequenz und engagiert sich in der Bürgerrechtsbewegung, wofür sie mitBerufsverbot, Verhaftung und letztlich Ausweisung bestraft wird. Nach dem Fall der Mauer kehrt die Dissidentin Lengsfeld in ihre Heimat zurück und startet ihre Karriere als Politikerin und Verfechterin freiheitlicher Demokratie Umso schmerzlicher trifft sie die Nachricht, dass ausgerechnet ihr Ehemann sie jahrelang bespitzelt haben soll. Eine Biografie voller Brüche – und doch geradlinig. Vera Lengsfeld wurde 1952 in Thüringen geboren und war seit den 1970er Jahren aktiv in der Opposition gegen das SED-Regime. Nach ihrer Tätigkeit an der Akademie der Wissenschaften der DDR, während derer das erste Parteiverfahren gegen sie geführt wurde, war sie 1981 Mitbegründerin eines der ersten halblegalen Oppositionskreise der DDR, des Pankower Friedenskreises. Infolge des zweiten Parteiverfahrens 1983 wurde sie aus der SED ausgeschlossen und mit Berufs- und Reiseverbot belegt. 1988 wurde sie verhaftet, verurteilt und ausgewiesen. Am Morgen des 9. November 1989 kehrte Lengsfeld zurück in die DDR und war abends beim Mauerfall an der Bornholmer Straße dabei. Sie wurde Mitglied der ersten und letzten frei gewählten Volkskammer der DDR sowie später, 1990 bis 2005, des Deutschen Bundestages. 1990 erhielt sie den Aachener Friedenspreis, 2008 wurde ihr das Bundesverdienstkreuz verliehen. Dienstag, 19. November 2013, 19.30 Uhr Kurhaus Dhonau, BollAnt`s im Park, Bad Sobernheim Im Anschluss an die Veranstaltung kann das Buch von Vera Lengsfeld käuflich erworben und von ihr signiert werden. Anschließend laden wir zum Umtrunk ein! Begrüßung und Einführung: Karl-Heinz B. van Lier, Landesbeauftragter der KAS für Rheinland-PfalzTagungsleitung: Marita Ellenbürger, wissenschaftlich - pädagogische Mitarbeiterin Eigenbeitrag: € 4,- Teilnahme nur nach vorheriger Anmeldung schriftlich, per Mail oder Fax möglich. Bitte haben Sie Verständnis, dass die Plätze in der Reihenfolge des Eingangs vergeben werden müssen! Post: Weißliliengasse 5 / 55116 Mainz / Tel. 06131-2016930 / Fax 06131-2016939 / E-Mail: kas-mainz@kas.de
......

Toàn bộ lãnh thổ Việt Nam đã an bài trong tay TQ

Tôi có ông bạn học hiện làm cấp tướng trong hải quân VN, trong một buổi nhậu bạn bè với nhau cách đây gần năm ở HN, tôi hỏi hắn: “Nếu bây giờ TQ tấn công trên biển, quân của cậu chống được bao lâu?” Hắn cười: “Chắc là chưa đến ba ngày?!” Tôi ngạc nhiên: “Sao chết nhanh vậy?” Hắn lại cười: “Không phải chết, mà là chạy. Thời đại này ai dại gì chết cho ai?!” “Đấy là cậu nói về lính hay sĩ quan các cậu?” “Cả hai, nhưng sĩ quan chạy trước rồi lính mới chạy. Lính không dám chạy trước, chỉ trốn thôi. Sĩ quan mới chạy!” Tôi thắc mắc: “Tại sao thế? Sĩ quan tinh thần cao hơn và phải làm gương cho lính cơ mà?” “Ừ, nhưng sĩ quan lại biết mình toàn nói dối và thấy cấp trên cũng toàn nói dối, và ai cũng biết chết thì mình chịu, thắng thì là chiến công của sếp, tội gì chết thế!” Chúng tôi cười xòa, coi đó là câu chuyện cười nói cho vui, vì ông bạn trong Bộ tổng tư lệnh ở HN, nó đâu có phải ra trận. Nhưng nó cũng không cần phải mua vui với tôi, nó nói có phần nhiều là thật. Thế nên tôi không quên được. Một bữa khác cách nay khoảng nửa năm, trong chuyến xe đêm từ Sài gòn đi Nha Trang, tôi nằm cạnh anh lính trẻ trả phép ra Cam Ranh. Tôi hỏi chuyện ăn ở sinh hoạt của lính nghĩa vụ ngoài đó, cậu thật thà: “Cháu mới đi mấy tháng, nhờ có người quen chạy cho nên không phải đi vùng xa hay đảo, chỉ ra Cam Ranh thôi, được về phép đều đặn, nếu biết quà cáp cho sĩ quan còn được kéo dài phép…” “Thế sĩ quan có về phép thường xuyên không?” “Sĩ quan của bọn cháu toàn sĩ quan chuyên nghiệp, gia đình họ ở Cam Ranh và Nha Trang luôn, họ đâu cần về phép, và họ có thể về nhà bất cứ lúc nào họ muốn, họ sướng lắm!” Thế họ có ăn chung với các cháu không?” “Không, họ có tiêu chuẩn riêng cao gấp mấy lần lính bọn cháu! Họ ăn ở riêng.” “Thế tiêu chuẩn lính bọn cháu thế nào?” “Chúng cháu được 35 ngàn đồng ngày. Thế là cao đấy chú ạ, vì chúng cháu gần Ban chỉ huy Vùng. Mấy thằng bạn cháu đóng quân ở xa kêu khổ lắm, chỉ có 28 ngàn đồng ngày thôi…” “Sao lại 28 ngàn thôi?!” Tôi xót xa nhẩm tính: lính của mình (công nhân và kỹ sư của tôi) ở công trường cảng Vân Phong này được ăn 80 nghìn đồng/ngày mấy năm nay, vừa tăng lên 100 nghìn ngày do giá cả lên, mà tôi vẫn thương chúng khổ, gầy và đen, bắt chúng cố ăn, và lo chúng bỏ về Sài gòn, thế mà chiến sĩ của ta… Tôi lại đi lạc đề muốn nói rồi. Ý của tôi là, chỉ chuyện ăn ở thôi thì lính của ta cũng thiếu sức chiến đấu rồi, chưa nói đến tinh thần chiến đấu và niềm tin vào cấp trên. Giờ nói về chủ đề chính, đó là bảo vệ lãnh thổ. Xin kể câu chuyện thứ ba. Cách đây mấy tháng, chúng tôi tổ chức một đoàn “du lịch- thám hiểm” ra điểm Cực Đông trên đất liền của đất nước với mục đích: sống 1 ngày gần với Hoàng Sa Trường sa nhất (về kinh tuyến). Trên đường ra đó rất khó khăn, chúng tôi không ngờ cả một khu bán đảo rộng lớn bờ biển dài mấy chục cây số không có dân cư (đã bị đuổi đi hết) và chỉ có một đồn biên phòng gần ra đến Cực Đông đã bị bỏ hoang do chuyển vào gần quốc lộ 1 hơn, trong khi đường lớn do các “dự án lớn” của Vinalines làm đến nới cũng bỏ hoang không bóng người. Hỏi ra mới biết đó là tình trạng của hàng loạt đồn biên phòng ven biển và trên các đảo khu vực bắc và nam Vân Phong (thuộc Khánh Hòa và Tuy hòa): họ đã rút hết vào sống trong dân và để quản dân, không quản bở biển nữa. Hàng trăm cây số ven biển không có ai canh giữ, nhưng đã có sẵn đường lớn nhập vào quốc lộ 1… Ngày xưa họ ở đó là để bắt người vượt biên thôi… Biên phòng VN không quay súng ra biển mà quay súng vào dân! Câu chuyện thứ tư. Đơn vị chúng tôi tham gia rất nhiều công trình lớn dọc biển miền Trung, lắp ráp các thiết bị kỹ thuật hiện đại (rất ít khi là đồ TQ). Từ Dung Quất đến Vũng Áng, Vân Phong… Nhưng ở đâu chúng tôi cũng thấy các đơn vị TQ đấu thầu và thắng thầu thi công phần các cầu cảng. Họ chỉ quan tâm và bỏ mọi giá để nhận phần việc đó dù rất nhiều đơn vị VN làm được, nhưng các nhà thầu VN phải lè lưỡi bỏ ra cho họ vì giá của họ quá thấp… Sau đó họ luôn quây kín cả một vùng biển và bờ biển lớn người khác không được vào để họ thi công trong suốt nhiêu năm trời. Và họ thường là đơn vị làm kéo dài các dự án lớn nhưng không ai làm gì được. Khi họ thi công xong chúng tôi mới lên lắp thiết bị và không ai biết bên dưới và bên trong những khối bê tông cầu cảng lớn đó có những gì. Chúng tôi thường đùa nhau: ngày đầu tiên TQ đánh VN họ sẽ cho nổ tung tất cả những cầu cảng trị giá vài chục đến vài trăm triệu đôla này (có thể cặp mạn những con tàu lớn đến 150.000-300.000dwt)… hoặc họ sẽ khống chế chúng để làm điểm đổ quân tuyệt vời cho họ, ở Dung Quất, Vân Phong, Vũng Áng và nhiều nơi nữa phía Bắc và Nam, nhất là Kiên Giang cũng sắn sàng… Câu chuyên thứ năm. Tôi về quê ngoại Quảng Ninh, ra Hạ Long gặp mấy thằng bạn cũ, trong đó có thằng đại gia chuyên san đất lấp biển bán nền, giầu không để đâu hết tiền, luôn khoe có đội xe máy húc ủi đào đông như quân nguyên, đã phá không biết bao đồi núi, lấp biết bao bờ vịnh san hô và sú vẹt để bán trên giấy, từ Quảng yên đến Hải Hà… Gặp nó tôi bảo: - “Tội phá hoại môi trường Vịnh Hạ Long và Bái Tử Long của mày phải đem ra bắn!” - Nó cười khẩy: “Bắn tao hơi khó! Mày phải bắn hết các bí thư và chủ tịch, phó chủ tịch tỉnh và các huyện thị Quảng Ninh này đi đã!” Rồi nó quàng vai người ngồi cạnh: “A, cả thằng này nữa, giám đốc Sở tài nguyên Môi trường mà…” Tôi nhăn mặt nghĩ: Đúng thật, nếu muốn bảo vệ môi trường Vịnh Hạ Long và Bái Tử long mà tôi yêu quí, tôi sẽ phải bắn gần hết các bạn học cũ của mình, vì chúng nó làm quan chức kín cả cái tỉnh quê ngoại của tôi rồi… Tôi phán tiếp: “Mày còn một tội lớn nữa! Mày đem xe máy lên Tiên Yên, Ba Chẽ (hai huyện núi biên giới) làm đường từ biên giới xuống cho bọn Ba Tàu sau này tấn công mình lần nữa. Lần trước nó tấn công không có đường xuống, tự vệ dân quan còn cản được. Lần này chỉ mấy giờ là xe nó chạy đến Hạ Long này, lại có cầu bãi chấy rồi, Công chúng mày to quá!” Thằng đại gia xẹp hẳn xuống lẩm bẩm: “Đéo mẹ bọn Tàu! Chúng nó còn không chịu trả tiền công cho tao nữa! Đau quá!” (Đó là nó chửi mấy công ty Đài loan thuê rừng 50 năm rồi thuê nó làm đường lên “trồng rừng”. Đường làm xong lên các đỉnh núi biên giới, không trả tiền và rừng tất nhiên cũng không…). Và câu chuyện cuối cùng. Tôi đưa con trai lên Tây Nguyên chơi, mới đây thôi, để nó biết Tây Nguyên là thế nào. Một số đoạn đi qua đường Hồ Chí Minh mới làm lớn mà vô cùng hoang vắng, thằng bé rất ngạc nhiên hỏi: “Bố, sao mình làm đường lớn đẹp dài mà không có người đi thì làm gì vậy?” Tôi thở dài chua chát “Bố chịu!” Chả lẽ nói ra ý nghĩ thật của mình: “Bố sợ rằng người ta làm đường để sau này TQ đánh VN sẽ dễ chiếm và không chế Tây Nguyên và rồi cả đất nước này?” Sau chuyến đi Tây Nguyên về, tôi đùa với con trai: “Con ơi, hãy học tiếng Anh giỏi để du học rồi ở lại đó luôn, như chị con vậy đó. Bằng không, hãy học tiếng Tàu! Nước mình sắp thay quốc ngữ rồi!” Vâng, ý của tôi là thế đó. Người Việt nam, chính quyền Việt Nam hiện nay đã chuẩn bị sẵn sàng địa thế và mọi cửa ngõ Lãnh thổ quốc gia để TQ tràn vào dễ dàng nhất. Tinh thần quân đội và sức chiến đấu thì rất bạc nhược rồi, cảnh giác thì… chĩa súng vào dân rồi. Các chiến sĩ Trung Hoa cứ yên tâm mà đến! Đất nước này dường như đã có chỉ đạo bàn giao nhẹ nhàng để sát nhập vào TQ? Chỉ còn một điều: Liệu dân Việt ta có chịu thế hay không? Phan Châu Thành Nguồn: danluan.wordpress.com
......

Chuyển trại tù - Hành vi cần phải lên án.

Trên khắp đất nước Việt Nam này từ vùng núi sâu phía Bắc đến tận mũi Cà Mau đâu đâu cũng có trại tù. Gọi là trại cải tạo hay gọi là nơi thi hành, chấp hành án phạt tù hay gọi gì đi nữa thì chung quy vẫn là trại tù. Thường thì các tù nhân phía Bắc thì giam ở phía Bắc. Thậm chí là tù nhân phía Đông Bắc có trại giam như Hoành Bồ ở tỉnh Quảng Ninh. Tù nhân phía Tây Bắc có trại Yên Hạ của tỉnh Sơn La, Quyết Tiến của Yên Bái. Tù nhân bắc trung bộ có Thanh Phong, Thanh Cẩm, Kỳ Sơn, Thanh Chương ở Thanh Hóa, Nghệ An. Trong Nam thì có những trại tù trong Nam. Tù nhân ở gần đâu thì chấp hành án gần khu vực đó, khoảng 300 cây số đổ lại là nhiều.Nếu không căn cứ vào nơi cư trú của phạm nhân, thì người ta căn cứ phạm nhân đó bị kết án tù tại tòa thành phố nào thì đưa đi chấp hành án ở khu vực quanh đó. Nên đôi khi có người miền Bắc nhưng bị kết án bởi tòa miền Nam thụ án trong Nam hay ngược lại. Trường hợp này không nhiều. Người ta làm vậy một phần vì khi xét giảm án, hồ sơ của phạm nhân sẽ được tòa khu vực đó xem xét, nên việc tòa nào xử tòa đó xem tiện lợi hơn. Quản giáo cũng thường là người địa phương tỉnh  hay lân cận. Sở dĩ như vậy là tính nhân đạo của pháp luật, tạo điều kiện cho người nhà đi thăm gặp tù nhân dễ dàng. Cán bộ địa phương thổ ngữ, phong tục am hiểu cũng dễ thấu tâm tư của phạm nhân để nắm bắt giáo dục. Phạm nhân không bi di chuyển xa quá để khác biệt về thổ nhưỡng ảnh hưởng đến sức khỏe, cũng như tâm lý tình cảm, không bị khó khăn khi gia đình đi thăm gặp động viên, tiếp tế. Mặc dù khi kết án tù một số người, nhà nước Việt Nam nói rằng ở VN không có tù chính trị, không có tù lương tâm bất đồng chính kiến, mà chỉ có những người vi phạm luật hình sự của nhà nước CHXHCNVN. Nhưng ngay từ khi xét xử đã có những phân biệt như xử công khai mà ngăn cản người đến dự, thậm chí là hạn chế cả thân nhân ruột thịt như anh , em, mẹ... Nhưng sự phân biệt chưa dừng hẳn ở lúc xử, khi phạm nhân bị kết án rồi lại bị đưa đi thi hành án ở những nơi rất xa xôi, khác biệt hẳn về vùng miền. Gây khó khăn cho gia đình thăm nuôi cũng như gây những bất cập cho người thi hành án phạt tù. Gần đây những người bất đồng chính kiến ở Việt Nam khi bị tòa án cấp thành phố nào đó xử, lúc đầu được giam giữ như thông lệ. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau đó họ bị chuyển đi xa hàng ngàn cây số như trường bloge  Nguyễn Văn Hải bị chuyển từ Nam ra Bắc, trường hợp nhà đấu tranh cho quyền lợi công nhân Đỗ Thị Minh Hạnh, Mai Thị Dung cũng bị chuyển trại tù từ Nam ra Bắc. Và ngược lại nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa ở Hải Phòng lại bị chuyển tít vào miền Trung. Tuy rằng nhà nước VN nói không có chuyện phân biệt đối xử với những người bất đồng chính kiến, tù nhân chính trị nhưng trong pháp lệnh thi hành án của nước CHXHCNVN lại phân ra làm 3 loại trại giam. Trong đó những người bị kết tội xâm hại an ninh quốc gia bị xếp hạng tù ở trại giam loại 1 ( điều 11 PLTHAPT) cùng với loại tù hình sự tái phạm nguy hiểm hay tù có mức án từ 20 năm đến chung thân. Điều đó có nghĩa là dù người phạm tội XPANQG có bị tù lần đầu tiên, nhân thân tốt, mức án vài năm đi nữa thì cũng bị nhốt chung với những loại tù hình sự nguy hiểm. Loại tái phạm nguy hiểm hay loại đang lãnh mức án 20 năm đến chung thân. (Trại tù loại 1 theo cách gọi của tù hình sự là trại '' trung ương '' để chỉ sự hà khắc mà ngay cả những anh chị giang hồ cũng phải sợ hãi.) Việc di chuyển tù nhân từ trại giam này đến một trai giam khác để chấp hành án phạt tù là rất hạn chế. Nếu chuyển đi vùng miền khác thì càng đặc biệt hơn, phải có lệnh cúa những cơ quan có thẩm quyền. Tức là phải vào dạng đặc biệt có lý do mới chuyển nơi chấp hành án phạt tù. Bởi chuyển tù nhân đi xa sẽ là khó khăn cho quá trình tâm lý, sức khỏe của phạm nhân. Bởi thế điều 16 của PLTHAPT đã được nhấn mạnh - Việc chuyển người từ trại giam này đến trại giam khác Chỉ Được thực hiện theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền hay quy định pháp luật. Căn cứ theo thông lệ vùng miền, tòa án thụ lý hồ sơ xét giảm. Căn cứ vào điều 11 , điều 16 PLTHAPT. Cho thấy việc phân loại xếp hạng để đưa vào trại giam loại 1 với các tù nhân tội XPANQG,việc chuyển trại giam đi nơi rất xa nơi cư trú  hay nơi xét xử trong các trường hợp của Nguyễn Văn Hải, Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Xuân Nghĩa, Mai Thị Dung là có dấu hiệu phân biệt đối xử giữa các tù nhân . Các gia đình có thân nhân trên có quyền đề nghị đến Bộ Công An, V26 Cục quản lý trại giam đề đòi hỏi làm rõ lý do chuyển trại đối với thân nhân họ và cơ quan nào đã ra quyết định, quyết định trên quy định nào của pháp luật. Việc di chuyển những phạm nhân này cách xa nơi họ cư trú cũng như nơi xét xử là hành vi vô nhân đạo, gây khó khăn cho việc thăm gặp của gia đình phạm nhân, gây cho phạm nhân nhiều trở ngại về phong tục, thổ ngữ, thổ nhưỡng. Trái với những chủ trương nhân đạo của pháp luật là tạo điều kiện cho phạm nhân có hoàn cảnh tốt để yên tâm cải tạo, chấp hành án phạt tù. Mặt khác điều đó cho thấy, không những các phạm nhân bị phân biệt trong quá trình điều tra, tố tụng xét xử. Mà ngay cả đến khi thi hành án phạt tù cũng bị phân biệt đối xử ở những mức độ khiến cho họ nhiều trở ngại hơn trong quá trình CHAPT so với các tù nhân khác. Những hành vi chuyển phạm nhân đến nơi chấp hành án phạt tù xa xôi thế này không những cần phải lên án về mặt pháp lý theo PLTHAPT mà ngay cả về mặt lương tâm cũng cần phải lên án. nguồn: http://nguoibuongio1972.blogspot.com/2013/10/
......

Mục sư Nguyễn Công Chính thường xuyên bị đánh trong tù

Mục sư Nguyễn Công Chính bị đánh và bị đe dọa thủ tiêu trong tù. Mục sư Nguyễn Hoàng Hoa, Tổng thư ký Hội thánh Tin Lành Lutheran Việt Nam – Hoa Kỳ, cho biết: “Chúng tôi vừa nhận được tin cấp báo của bà Trần Thị Hồng, phu nhân mục sư Nguyễn Công Chính cho biết, hôm 15.10 vừa qua, bà đi thăm nuôi chồng thì được mục sư Chính cho hay ông đang bị đe dọa sinh mạng trong tù. Mục sư cho biết đã hai lần bị mưu sát. Một tù nhân chung trại đã kiếm chuyện hành hung ông, dù ông đối xử rất mềm mỏng, hòa nhã với tất cả mọi người. Bà Hồng cho biết tháng trước đi thăm, thấy chồng bị sung một bên mắt, nên bà hỏi mới hay sự việc”. Mục sư Hoa cho biết tiếp: “Lần này mục sư Chính cho biết là có âm mưu của công an trại tổ chức cho người tự do hành hung, cố sát ông hai lần. Bà Hồng báo lên giám thị trại giam, nhưng họ làm ngơ”. Bà Hồng “xin quy chức sắc tôn giáo và thân hữu cầu nguyện cho mục sư Chính”. Mục sư Hoa, đại diện Tin Lành Lutheran: “Chúng tôi chân thành cám ơn tinh thần hiệp thông của quý vị”. Nữ chánh trị sư Đạo Cao Đài Nguyễn Bạch Phụng lên tiếng: “Kính đề nghị Quý Chức Sắc Tôn Giáo lên tiếng để bênh vực cho MS Chính, đồng thời tố cáo nhà cầm quyền csVn ngược đãi MS Chính, một tù nhân lương tâm trước dư luận trong và ngoài nước”. Linh mục Antôn Lê Ngọc Thanh cho biết: “Sự việc bắt giam mục sư Nguyễn Công Chính rồi ghép tội, vì mục sư đã hướng dẫn đời sống tâm linh cho anh chị em sắc tộc thiểu số Jarai và Bahnar ở tỉnh Gia Lai là một bằng chứng của chính sách hạn chế tôn giáo, và hạn chế quyền tự do tôn giáo của công dân theo quy định của Hiến Pháp”. Việc dung tù hình sự đánh và hãm hại các tù nhân chính trị và tôn giáo là cách thức nhà cầm quyền thường xuyên sử dụng trong suốt gần 40 năm qua đối với các tù nhân người Miền Nam. Việc tồi tệ này được nhà cầm quyền dung cả đối với các phụ nữ như bà mai Thị Dung, cô Đỗ Thị Minh Hạnh … PV. VRNs nguồn: chuacuuthe.com
......

Dân chủ từ dưới lên

Lâu nay, nói đến dân chủ (hoặc không dân chủ), chúng ta thường chỉ tập trung vào một góc độ: chính trị. Trong chính trị, chúng ta cũng chỉ tập trung vào một góc độ: thiết chế (cụ thể là bộ máy chính quyền). Trong thiết chế, chúng ta chỉ tập trung vào một góc độ: cá nhân những người lãnh đạo, và ở những người lãnh đạo ấy, chúng ta thường chỉ tập trung vào một góc độ: cách hành xử, đặc biệt là qua ngôn ngữ, thái độ và hành động của họ trong quan hệ với người dân. Tất cả những cách nhìn trên dĩ nhiên là đúng. Nhưng thiếu. Vấn đề dân chủ hay không dân chủ không phải chỉ thể hiện trong phạm vi chính trị mà còn trong kinh tế, xã hội, giáo dục, văn hóa và cả trong gia đình nữa. Chỉ giới hạn trong phạm vi chính trị, vấn đề dân chủ hay không dân chủ không phải chỉ ở thiết chế mà còn ở quan hệ giữa người và người; và ở con người, chúng còn tồn tại ở những nơi chúng ta khó thấy nhất: tâm lý. Từ góc độ tâm lý, dân chủ và không dân chủ có thể được nhìn thấy ở mọi người, ví dụ, trong phạm vi gia đình, có những người bố hoặc chồng dân chủ và ngược lại, cũng có những ông bố hoặc chồng không dân chủ; trong giáo dục, cũng vậy, có những thầy cô giáo dân chủ hoặc không dân chủ; trong phạm vi kinh tế, có những ông/bà chủ, đủ mọi cấp, dân chủ hoặc không dân chủ; và cuối cùng, trong phạm vi quốc gia, có những người lãnh đạo các cấp dân chủ hoặc không dân chủ. Ở những cương vị khác nhau, với những mức độ quyền lực khác nhau trong xã hội, người ta cũng đều có thể trở thành những người dân chủ hoặc những kẻ không dân chủ. Dân chủ khi người ta biết tôn trọng người khác và chấp nhận đối thoại và thương thảo để giải quyết các xung đột; ngược lại họ trở thành không dân chủ khi chỉ khăng khăng cho chỉ có một mình mình là đúng và người khác (từ vợ con đến học trò và nhân viên) đều sai; nếu người khác không chấp nhận cái sai của họ, tiếp tục phản đối, họ sẽ sử dụng các biện pháp trừng phạt hoặc trấn áp ngay tức khắc (với con cái, người ta bợp tai; với học trò, trừ điểm; với nhân viên, sa thải hoặc đe dọa sa thải; với dân chúng, bỏ tù hoặc giết chết). Có thể nói, trong phạm vi chính trị, vấn đề dân chủ hay không dân chủ nằm ở nhiều cấp độ khác nhau: cơ chế, chính sách, cách hành xử, và, quan trọng không kém, trong tâm lý con người. Nhìn từ góc độ tâm lý, vấn đề dân chủ hay không dân chủ có thể xuất hiện ở cả hai giới: lãnh đạo và dân thường. Ở giới lãnh đạo, vấn đề ấy rất rõ và được nói đến rất nhiều: Là dân chủ, khi người ta biết tôn trọng những ý kiến khác, biết chia sẻ ý kiến và quyền lợi cũng như quyền lực với người khác, biết giải quyết các mâu thuẫn bằng sự thương thảo, kể cả việc thỏa hiệp với người khác, biết chấp nhận những luật lệ cũng như quy chế làm giới hạn quyền lực cũng như quyền lợi của chính mình, cuối cùng, biết chấp nhận quyết định của đa số dân chúng trong các cuộc bầu cử cũng như trưng cầu dân ý, kể cả những quyết định hoàn toàn bất lợi cho bản thân mình. Làm ngược lại là không dân chủ hoặc độc tài. Đối với người dân thường, chúng ta không cần đặt vấn đề không-dân-chủ hoặc độc tài bởi ở vị thế của những kẻ không có quyền lực, đó là một vấn đề vô nghĩa. Nhưng chúng ta có thể và, thật ra, nên đặt vấn đề dân chủ với họ. Nói một cách chính xác và ngắn gọn hơn: ở dân chúng, có những tâm lý phù hợp hoặc không phù hợp với dân chủ. Trong trường hợp không phù hợp, tâm lý ấy trở thành đồng minh hoặc trợ thủ của độc tài. Dân chúng có tâm lý dân chủ hoặc phù hợp với dân chủ khi, thứ nhất, họ ý thức về quyền của mình và hành xử theo các quyền được quy định của mình; thứ hai, họ cũng ý thức về quyền của người khác và hành xử theo nguyên tắc tôn trọng các quyền của người khác; thứ ba, trong trường hợp xảy ra mâu thuẫn giữa các quyền giữa mình và người khác, người ta giải quyết theo một trong hai cách: hoặc dựa vào pháp luật hoặc tìm cách thương thảo, thậm chí, sẵn sàng thỏa hiệp và nhân nhượng; và thứ tư, sau khi đã đạt được một thỏa thuận chung, người ta phải chấp nhận và tuân thủ những điều mình đã cam kết. Ví dụ, ở Úc, trong cuộc bầu cử vào ngày 7 tháng 9 vừa qua, tôi bầu cho đảng Lao Động. Kết quả: đảng Liên Đảng (bao gồm hai đảng Tự Do và Quốc Gia) thắng. Tôi, cũng như gần năm triệu người Úc khác (trên tổng số hơn 14 triệu cử tri), đã bầu cho đảng Lao Động không thể lấy lý do mình không hề bầu cho Liên Đảng để từ chối tư cách cầm quyền của Liên Đảng. Không, luật chơi dân chủ đã định rõ: thiểu số phải phục tùng đa số. Khi kết quả bầu cử đã được công bố và khi mọi người biết Liên Đảng chiếm đa số trong Quốc Hội, không ai – ngay cả các đảng đối lập - được quyền phủ nhận tư cách pháp nhân của Liên Đảng trong vị thế một đảng cầm quyền. Tuy nhiên, dù bầu hay không bầu cho Liên Đảng, người ta cũng có quyền phản đối các chính sách của Liên Đảng khi thấy các chính sách ấy sai hoặc xâm phạm vào một số quyền của chính mình. Khi xuống đường biểu tình hay công kích một số chính sách của chính phủ, người ta chỉ hành xử theo các quyền công dân của mình. Đó là tâm lý dân chủ. Còn tâm lý không phù hợp với dân chủ, thậm chí, có thể nói tâm lý phản dân chủ là sao? Là: Thứ nhất, không biết hoặc không tha thiết đến các quyền của mình. Cứ mặc kệ. Ai làm cũng được, kể cả việc chà đạp lên quyền công dân của mình và của người khác. Trong ý nghĩa này, có thể nói những người theo chủ nghĩa mackeno là những người phản dân chủ, ngay cả với tư cách công dân. Thứ hai, không biết tôn trọng người khác, đặc biệt, không biết tôn trọng đa số. Không quan tâm đến quyền của mình, người ta dễ dàng biến thành nô lệ, nhưng không biết tôn trọng quyền của người khác, người ta dễ trở thành độc tài và độc đoán khi có cơ hội: Cả hai đều là những kẻ thù của dân chủ. Thứ ba, không biết tôn trọng các luật lệ chung đã được quy định (dĩ nhiên một cách hợp pháp và minh bạch). Bản chất của dân chủ, thật ra, là sự tương nhượng để mọi người đều cùng được tôn trọng và cùng có lợi. Sự tương nhượng chỉ có thể đạt được hiệu quả khi có luật lệ rõ ràng. Việc những người cầm quyền trở thành phi- hoặc phản-dân chủ bao giờ cũng là một việc làm có chủ đích, có ý thức và đầy tính toán, do đó, người ta không cần dạy các nhà độc tài cách thức để trở thành dân chủ. Dân chủ hay không dân chủ, từ phía những người lãnh đạo, phải là một sự bắt buộc, mang tính cưỡng chế, hoặc bằng luật pháp hoặc bằng áp lực từ những nơi khác. Nhưng việc người dân trở thành những nhà dân chủ hay không thì lại là một lựa chọn đầy ý thức: Người ta phải biết và phải cố gắng thì mới có được tâm lý dân chủ. Đó là những vấn đề thuộc phạm trù giáo dục. Công việc giáo dục ấy được thực hiện bằng hai biện pháp chính: một, về lý thuyết, qua cách giáo dục; và hai, về thực hành, qua việc tập luyện cách suy nghĩ và hành xử như những nhà dân chủ. Trong việc tập luyện, cơ hội tốt nhất chính là xã hội dân sự, nơi người ta hành xử với tư cách những công dân. Càng ngày người ta càng nhận thấy, một nền dân chủ thực sự và bền vững bao giờ cũng bao gồm một số điều kiện căn bản: Một, phải có thiết chế dân chủ; hai, phải có các điều kiện hỗ trợ cho dân chủ (ví dụ, về kinh tế, phải tương đối cao; về xã hội, tầng lớp trung lưu tương đối đông và mạnh); và ba, văn hóa dân chủ. Trong cái gọi là văn hóa dân chủ ấy, có cái gọi là tâm lý dân chủ chúng ta vừa bàn ở trên. Tâm lý hoặc văn hóa dân chủ có hai chiều: ở trên, thuộc giới lãnh đạo, gồm những người có chức quyền; và ở dưới, gồm toàn bộ dân chúng. Cách tốt nhất để xây dựng dân chủ là bắt đầu từ dưới lên: Chính dân chúng, những người bị trị, cần được trang bị ý thức dân chủ. Nguồn: Blog / Nguyễn Hưng Quốc
......

Vài suy nghĩ về ông Giáp

Vị tướng được những người cộng sản xem là “khai quốc công thần” cuối cùng đã trở thành người thiên cổ vào ngày 4 tháng 10 vừa qua. Vậy là, biểu tượng sống về công lao “giành độc lập” và lý tưởng “cách mạng”, tượng đài hữu danh vô thực về một thời “hào hùng” của những người cộng sản đã trở về với cát bụi. Huỳnh Thục Vy Ông ta đã thực sự rời bỏ cuộc chơi, đã từ giã cõi nhân sinh điên đảo này. Không ai biết ông sẽ đi về đâu nhưng ông đã để lại di sản đầy đau đớn và nhiễu nhương, để lại cho tất cả chúng ta một Việt Nam với tiếng ai oán khắp nơi. Thôi thì cũng cầu chúc ông ra đi trong thanh thản, dù ông đã  lặng thinh một cách vô cảm trước biết bao người đã ra đi một cách bi thương  khác.   Là người đã có công khai sinh ra một Việt Nam cộng sản, thiết nghĩ không cần bàn đến chuyện ông có lý tưởng hay không lý tưởng và sự cần thiết hay không của những cuộc chiến tranh vô nghĩa mà ông đã đóng vai trò lãnh đạo quân sự tối cao, ông phải chịu trách nhiệm trước lịch sử về sự im lặng của mình trước những trang lịch sử bất công, gian trá và đau thương mà người Việt Nam đã trải qua. Không ít người ca ngợi ông là một trí thức lớn, là nhà văn hoá. Tôi không muốn bàn những chuyện ấy nữa vì đã có nhiều tài liệu lịch sử có sẵn cho việc tìm hiểu, nghiên cứu về ông Giáp. Chỉ xin hỏi: Ông đã làm gì khi luật sư Nguyễn Mạnh Tường kêu gọi dân chủ pháp trị để rồi sau đó bị thất sủng? Nếu là một trí thức lớn thực sự, lẽ ra ông phải biết dân chủ pháp trị cần cho một quốc gia như thế nào trước cả cụ Tường bởi thực tế cho thấy chủ nghĩa cộng sản đã tàn phá quốc gia như thế nào? Nếu không nhận ra khiếm khuyết của một chế độ độc tài cộng sản, ông có xứng đáng với danh xưng một đại trí thức? Và cứ cho là ông không biết gì về độc tài- dân chủ nhưng khi luật sư Tường lên tiếng về xã hội dân chủ, ông không có động tĩnh gì, đó có phải là biểu hiện của một nhân cách lớn? Lại nữa, ông đã ở đâu, đã làm gì khi những Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Hữu Loan bị đấu tố, bị đọa đày? Ông có chút tủi nhục, cảm thương hay phẫn nộ nào không khi hàng triệu người miền Nam bỏ nước ra đi trong tức tưởi khi Việt Nam Cộng Hoà bị cưỡng chiếm để rồi hàng trăm nghìn người trong số họ đã vùi thân ngoài biển cả? Ông nghĩ gì khi tướng Trần Độ đã dũng cảm lên tiếng rồi bị đàn áp? Ông đã làm gì khi cụ Hoàng Minh Chính đã tỏ thái độ đối kháng để rồi bị bỏ tù? Ông đã đứng bên lề bao biến cố đau thương của đất nước. Đó có phải là vị trí xứng đáng của một trí thức hay không? Dù họ là ai, một người vừa mới qua đời nên được cầu nguyện cho sự ra đi bình an. Tôi đã rất phân vân khi viết những dòng này. Có nên viết những lời cay đắng cho một người chết không? Có nên kể tội họ khi họ đã mãi mãi không còn khả năng biện bạch? Nhưng quả tình, tôi không viết những dòng này nhắm vào tướng Giáp, tôi viết cho những người còn sống, cho những người  còn bị ám thị bởi cái ảo ảnh hào quang mà những người cộng sản đã tạo ra. Đa số thanh niên Việt Nam hiện nay sống trong sự lừa gạt đó mà không biết, và cũng không có ý chí vượt thoát ra. Ông Giáp, vị “đại tướng quân” trong mắt nhiều thanh niên Việt Nam, là người góp công to lớn để tạo dựng và bảo vệ chế độ độc tài tàn bạo này. Ông đã sống quá xa cái tuổi “cổ lai hy” và ra đi trong tình thương yêu của gia tộc, trong sự ngưỡng vọng của nhiều người. Nhưng ông có biết đâu, một người có công gây dựng nên một tập đoàn tội ác như ông lại ra đi thanh thản và vinh quang, trong khi chính những nạn nhân vô tội của chế độ thì lại hứng chịu thảm trạng bi đát của gia đình để rồi phải ra đi trong uất ức, tủi nhục. Đó chính là một Đặng Ngọc Viết hiền lành, siêng năng bị chính quyền cướp đất, phẫn uất cùng cực đến mức phải ra tay giết chết một quan chức tỉnh Thái Bình rồi tự sát bằng một viên đạn vào tim. Đó là một Thomas Nguyễn Tự Thành-một thuyền nhân bị cưỡng bách hồi hương về Việt Nam từ Thái Lan, bị sách nhiễu và phong toả kinh tế liên tục bởi chính quyền cộng sản đến nỗi uất ức quá phải tự vẫn bằng cách thắt cổ vào ngày 3 tháng 10, trước ngày ông Giáp chết một ngày. Tại sao ông lại được vinh danh khi chính ông là một phần nguyên nhân của những cái chết đau đớn ấy? Tất nhiên, ông Giáp không còn là lãnh đạo đất nước từ lâu, các chính sách, hành động của chính quyền này ông không tham gia. Nhưng chính  cái quá khứ “oai hùng” và  cái hiện tại vô trách nhiệm của ông tạo nên tính chính đáng cho chế độ tàn ác này. Chế độ này vẫn lấy ông ra làm cái bệ đỡ để biện minh cho những hành động bán nước hại dân của họ. Ông là cái phao cứu sinh khi những người lãnh đạo cộng sản đối diện với sự căm phẫn của người dân vì sự tham quyền cố vị của họ. Vậy mà, không hiểu vì tuổi già làm tiêu hao ý chí, vì sự sợ hãi làm xói mòn lương tâm, hay vì danh lợi của con cháu làm tiêu tan tinh thần trách nhiệm mà cho đến những năm cuối đời ông Giáp vẫn lặng thinh trước hiện tình đất nước vật vã dưới chế độ độc tài, vẫn để cho nhà cầm quyền tiếp tục lợi dụng ông cho chế độ bất nhân của họ. (Chỉ có một lần ông lên tiếng yếu ớt cho vấn đề Boxite Tây nguyên) Giá như ông lên tiếng cổ vũ cho Nhân quyền Tự do thì tiếng nói của ông đã tác động mạnh mẽ đến lương tâm tuổi trẻ và có thể xoay chuyển ý thức của biết bao người dân đang bị ám thị. Một ông Giáp đại tướng quân chắc chắn có khả năng thức tỉnh quần chúng, làm rúng động đảng cộng sản hơn hẳn một Lê Công Định, Phạm Hồng Sơn, Huỳnh Ngọc Tuấn, Phạm Thanh Nghiên hay Phương Uyên chứ? Thế nhưng, ông đã chọn cách sống trong sự co rút và chết trong cờ xí, kèn trống của chế độ cộng sản, hơn là cách sống trong sự phản tỉnh và chết như một chiến sĩ dân chủ. Đáng lẽ tuổi già phải là giới hạn cuối cùng của sự sợ hãi nhưng ông đã để nó đi cùng ông sang tận thế giới bên kia. Có người nói: chúng ta không ở vị trí của ông nên không thể hiểu hết những gì ông phải đối mặt. Đúng. Chúng ta không hiểu hoàn cảnh và vị trí của ông. Nhưng chúng ta có thể hiểu được hoàn cảnh của những bạn sinh viên vì biểu tình yêu nước mà bị nhà trường đuổi học và  mất cả tương lai không? Chúng ta có từng đặt mình vào vị trí Phương Uyên, cô bé sinh viên phải chịu biết bao nhiêu sợ hãi, tổn thương tinh thần khi bị bắt và giam giữ chỉ vì cô bé biểu thị lòng yêu nước? Hay như hoàn cảnh gia đình tôi, ba tôi ở tù khi chị em chúng tôi còn thơ dại và mồ côi mẹ; mười mấy năm trời gia đình tôi sống trong cảnh bần hàn, thất học và sự khủng bố của chính quyền. Hoàn cảnh của ông Giáp có ngặt nghèo hơn hoàn cảnh của những người kể trên hay không? Hay để dễ hình dung hơn, tình huống của ông có khó khăn hơn tình huống của tướng Trần Độ, của cụ Hoàng Minh Chính hay không? Tôi cho rằng, vấn đề là ở lương tâm và bản lĩnh! Ông đã ra đi để lại tất cả, một chế độ độc tài dai dẳng,  những mảnh đời oan khuất, những cuộc đàn áp tiếp diễn, những cái chết oan khiên... Nhưng những dòng này không phải để kể tội ông. Quả thật, thế giới này tồn tại trong trạng thái tương đối của mọi giá trị. Nhưng vẫn có cách để phân biệt những trí tuệ và nhân cách lớn CHÂN THẬT với  sự tô vẽ KHÔNG THẬT. Cầu cho ông ra đi được bình an và xin gởi tới ông sự cảm thương cho một kiếp người đa đoan trong thế giới vô minh này nhưng sự tôn kính thì tôi xin giữ lại cho những con người sống với lương tâm, trách nhiệm và ý chí và chết với nỗ lực lên tiếng cho sự thật. Việt Nam còn rất nhiều người để chúng ta thành tâm ca ngợi và kính ngưỡng, nhưng đó không phải là ông. HTV - Sài Gòn ngày 6 tháng 10 năm 2013 Nguồn:  Bloger huynhthucvy
......

Hamburg: Lễ tưởng niệm thuyền nhân chết trên đường vượt biên

Buổi tưởng niệm thuyền nhân chết trên đường vượt biên đã trở thành một sinh hoạt truyền thống tại Hamburg - Đức Quốc từ năm 2006, năm nay lại được Hội Người Việt Tị Nạn Cộng Sản Tại Hamburg tổ chức vào ngày Thứ Bảy 12/10/2013 trong nghĩa trang Öjendorf.   Dù trời mưa gần như suốt buổi, lúc nặng lúc nhẹ như số người đến tham dự cũng lên tới khoảng 100 người, kể cả chừng 10 người Đức. Nghi lễ bắt đầu bằng chào cờ, rồi diễn văn song ngữ của đại diện Hội nhắc nhở người Việt Hamburg phải nên làm gì tích cực hơn. Sau đó là nghi thức cầu nguyện theo Phật Giáo do Ni sư chùa Bảo Quang chủ lễ và Công Giáo do Cộng Đoàn CG Hamburg đảm trách. Năm chậu bông cúc vàng do cơ sở Đảng Việt Tân tặng buổi lễ đã được đặt trước tượng đài. Buổi lễ đơn sơ kéo dài chừng 40 phút. Như thông lệ hàng năm, người tham dự được mời vào phòng khánh tiết của nghĩa trang để dùng buổi ăn trưa do nhiều đồng hương mang đến tặng và dùng chung. Sau đó, Ban Tổ Chức đã cho chiếu 3 đoạn video để bà con xem:   1 - Dân Hà Nội chửi công an còn hơn tát nước giữa phố trong ngày xử luật sư Lê Quốc Quân mà công an không dám phản ứng lại (ĐCSVN đi chết đi!). 2 - Phóng viên Thùy An phỏng vấn anh Khúc Thừa Sơn vừa về từ Philippines sau khi cùng 8 thanh niên khác tham gia các buổi học thảo về xã hội dân sự do tổ chức Nhịp Cầu Châu Á (Asean Bridge), và 3 - Clip anh Nguyễn Lân Thắng nói về truyền thông xã hội. Bà con im lặng lắng nghe đến giây phút cuối. Buổi sinh hoạt diễn ra tốt đẹp.        
......

Thật giả hỗn chiến

Năm 1986 Việt Nam buộc phải mở cửa ra với thế giới bên ngoài. Đầu tư tăng nhanh và thương mại nở rộ. Hối mại quyền thế và tham nhũng ngay lập tức đồng hành, có mặt khắp nơi từ trên xuống dưới. Nội bộ đảng cộng sản chia rẽ vì ăn chia không đều. Hố giàu - nghèo khoét sâu thêm trong xã hội: cán bộ có chức có quyền cùng phe nhóm lợi ích giàu ‘khủng’, còn dân nghèo làm việc đầu tắt mặt tối suốt ngày không đủ nuôi con ăn học.   Tuy nhiên có mặt tích cực của mở cửa. Đó là sự hình thành giai tầng trung lưu trẻ, năng động, ham mê internet đang phát triển mạnh tại Việt Nam. Chính giai tầng trung lưu này đi đầu tố cáo bất công xã hội, lột mặt tuyên truyền bịa đặt một chiều của cộng sản, chỉ trích những sai lầm trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội, giáo dục, y tế... bằng thông tin đa chiều và nêu cao giá trị của tiến bộ, tự do, dân chủ trên thế giới. Chỉ vì không chịu cải tổ hệ thống chính trị lỗi thời, kinh tế Việt Nam lâm vào suy thoái từ năm 2010 với lạm phát tăng, thất nghiệp cao, giá sinh hoạt ngày càng đắt đỏ. Thất bại về kinh tế, cộng nguy cơ khó đòi / mất Hoàng Sa - Trường Sa làm người dân bực tức kẻ cầm quyền từ trung ương đến địa phương. Sợ bất ổn xã hội, Nguyễn Tấn Dũng tăng cường công an trị và ký nghị định số 72/2013/NĐ-CP có hiệu lực từ 1-9-2013, với lý do nói là để bảo vệ tác quyền, nhưng chủ ý nhằm kiểm soát người viết blog trên mạng, chỉ cho phép chia xẻ thông tin cá nhân, cấm đăng lại bài trên báo điện tử khác (dù là của nhà nước) mà không dẫn nguồn hay xin phép tác giả. Nhiều blogger đã bị bắt, như Cù Huy Hà Vũ, Lê Quốc Quân, Phạm Viết Đào, Trương Duy Nhất, Đinh Nhật Uy, Điếu cầy, Tạ Phong Tần, các nhạc sĩ Việt Khang, Trần Vũ An Bình... Nhưng bất ổn xã hội vẫn tăng. Đã có đổ máu và thương vong trong tranh chấp đất đai ở Hải Phòng, Hưng Yên, Thái Bình. Ở Nghệ An giáo dân và công an đã ‘giao tranh bằng gạch đá’, Giám mục Nguyễn Thái Hợp kết tội chính quyền địa phương đàn áp tôn giáo. Đưa tầm mắt ra ngoài Việt Nam, chúng ta thấy nổi lên nhiệm vụ phát triển vùng của Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (Asean), và vai trò chiến lược hàng đầu của Châu Á - Thái Bình Dương. Tương tác giữa các siêu cường đang hướng về “Cộng tác trong Cạnh tranh” / “Cạnh tranh trong Hợp tác”. Và các siêu cường đều đã lên tiếng ủng hộ Asean đi vào hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển. Liệu Việt Nam có thể đi ngược lại nhận thức chung và quyết tâm chính trị chung của cả khối Asean? Ít ra trong lúc này chúng ta có thể nói một Việt Nam chuyển từ độc tài sang dân chủ, là viễn cảnh mà Asean mong đợi từ lâu. Mỹ cũng trông chờ điều này xảy ra để hội nhập Việt Nam vào tổ chức Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) đang hình thành. Dân chủ hóa Việt Nam rõ ràng không thể tránh khỏi và mang tính cấp bách. Không có con đường nào khác, vì phát triển và dân chủ phải đi đôi với nhau. NHƯNG hiện đang xảy ra hai hướng giải quyết đối nghịch nhau: - Một mặt, Bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam đang ra sức giữ độc quyền lãnh đạo bằng cách: đàn áp những tiếng nói chân chính đòi dân chủ và thi hành dân chủ giả hiệu từ trên xuống. Dễ có thể thấy qua những đòn ngón bá đạo như kiểu lấy phiếu “tín nhiệm cao, tín nhiệm vừa, tín nhiệm thấp” các cấp lãnh đạo, hay đến nhà ép dân phải đồng ý với những sửa đổi hiến pháp 1992 hoặc đang tính cải biến Mặt trận Tổ quốc cho có dáng dấp là tiếng nói phản biện của những tổ chức trong xã hội… - Mặt khác, khi tham gia vận động nhân quyền và dân chủ, những người tranh đấu luôn sát cánh cùng quần chúng để thiết lập Dân Chủ thực sự từ dưới lên. Nhiều giới trong xã hội đang dùng internet lên tiếng đòi giới cầm quyền phải tôn trọng những nhân quyền căn bản của người dân. Thí dụ: trí thức, thanh niên, sinh viên, giới trẻ, giới làm báo đòi phải có tự do tư tưởng, tự do thông tin, tự do phát biểu ý kiến; tín đồ các tôn giáo đòi phải bỏ ‘giáo hội quốc doanh’ và tôn trọng quyền tự do hành đạo; người lao động đòi quyền sở hữu đất đai, đòi công đoàn độc lập, đòi quyền được đình công... Đây chính là những mầm mống xã hội dân sự đang hình thành và lớn mạnh trong đấu tranh. Tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng âm mưu sử dụng nghị định 72 và điều luật 258 hòng tiêu diệt sự ra đời của các xã hội dân sự. Nhưng đây là tiếng nói của phong trào quần chúng gồm đông đảo người dân bị bóc lột, bị áp bức thuộc đủ mọi tầng lớp, đủ mọi ngành nghề trong xã hội. Đòi hỏi có chính nghĩa, hàng ngũ tham gia ngày càng đông, lại thêm có kỹ thuật mới hỗ trợ chống kiểm duyệt internet, cho nên phong trào bằng mọi giá phải đánh bại 72 và 258. Trong cuộc hỗn chiến giành tự do internet, tất cả các xã hội dân sự của chúng ta đều xuất phát từ hạ tầng cơ sở, cùng quyết tâm nói lên nguyện vọng và bảo vệ quyền lợi của cộng đồng mình. Chính những xã hội dân sự hừng hực khí thế đấu tranh dân chủ cấu thành sức mạnh quần chúng. Và sức mạnh quần chúng có sứ mạng là áp đảo tập đoàn Bộ chính trị Hà nội, buộc chúng phải chấp nhận lộ trình dân chủ hóa từ dưới lên. Chúng ta cũng cảnh cáo trước: những tổ chức xã hội dân sự quốc doanh trong Mặt trận Tổ quốc, hoặc bất cứ hình thức nào dù chìm hay ‘lơ lửng nổi’ nhằm giúp Hà nội thực hiện dân chủ bịp bợm, đều là phản động và sẽ lụn bại vì ‘hồn Trương Ba da hàng thịt’ (*). 10-2013 Nguồn: danoanbuihang.blogspot.de/
......

KẺ THÙ NÀO CỤ CŨNG OÁNH TUỐT…NHƯNG CÁC ĐỒNG CHÍ CỦA CỤ OÁNH CỤ, THÌ CỤ….XIN HÀNG!

Đáng lẽ theo câu nói của người Pháp có học “Paix aux morts” (bình an cho người vừa mới chết), thì bất cứ ai, vừa chết, ta không nên phê phán, bới lại chuyện xấu xa, thậm chí tội lỗi của người ấy ngay lúc người ấy… chết chưa kịp chôn! Mọi chuyện đâu còn đấy! Chẳng đi đâu mà vội mà vàng, nhất là đối với những nhân vật mà lịch sử đang còn có nhiểu dấu hỏi như trường hợp cụ Giáp! Thế nhưng, cho tới hôm nay, cái “số” của cụ Giáp có lẽ không được “tốt” lắm lúc cuối đời (kể cả khi qua đời) là, khắp nơi trên thế giới cũng như trong nước hàng vạn, hàng triệu ý kiến thương tiếc cụ có, oán trách, kể tội cụ có. Tệ hại nhất là thêu dệt, dấu diếm, và….tiếp tục nói dối về cụ, bất kể có thuyết phục được ai hay gây cười cho ai không!!! Không kể đến những nạn nhân trực tiếp của chủ nghĩa cộng sản (gia đình tan nát, mất mạng, mất hết tài sản, căm thù chủ nghĩa cộng sản đến tận xương tủy), tung lên trên mạng, trên báo chí nước ngoài những bài viết bất cần đến đạo lý thông thường “paix aux  morts” –“để sau sẽ tính”! Những bài viết của Currey, S.Karnow, của Pomonti, Boudarel, Lacouture…viết từ năm nảo năm nào đều được… cắt cúp in lại (kể cả ở Việt Nam) với những bình luận đủ kiểu... Chỉ một câu: ”Ông Giáp chỉ thắng chúng ta (Người Mỹ) trong chiến tranh chứ không thắng trong mỗi trận đánh” của J. Mc. Cain, tờ Neww York Times ngày 4/10/2013 đã đặt ra một vấn đề làm nức lòng những ai chống cộng bằng bất cứ giá nào: Tướng Giáp không hề thương sinh mạng của quân tướng mà sẵn sàng theo bài học của Mao là: a/ Tuyên truyền b/ Khủng bố và c/ Chiến tranh du kích kéo dài!? Thế là hàng vạn ý kiến của cư dân mạng, của các nhà báo đủ mọi lề, bên Tây, bên Mỹ, bên Ta lẫn bên Tầu nhao nhao lên bình lựng. Chỉ riêng việc J. Mc Cain kể lại lời cụ Giáp gặp ông ta lần thứ 2 tại nhà riêng (khi đã hết quyền lực): “Người Mỹ diệt chúng tôi 10 người thì ít nhất chúng tôi cũng diệt của họ 1! Nhưng người chán nản bỏ cuộc sẽ là các ông!"...rồi nêu lên nhận xét: "tướng Giáp là tướng nướng quân hay tướng biết sót sa, biết tiết kiệm xương máu của quân?"... lại một lần nữa làm nổ ra tranh luận, thậm chí ném đá nhau tơi bời! Và hàng vạn ý kiến suốt 4, 5 ngày qua xảy ra tranh cãi, thậm chí phán đoán mò, dự báo vu vơ và cả vạch tội nhau, lên án nhau về những hiện tượng bất thường như: - Tại sao phải để gần 2 ngày trời mới chính thức thông báo về một vị tướng mà thực chất đã thôi làm tướng cả hơn 20 năm? - Tại sao lại phải huy động toàn bộ Bộ Chính Trị đương thời (trừ 2 bà Ngân và Phóng) vào Ban tang lễ? - Tại sao lại phải để đến 10 ngày trời mới tổ chức lễ tang? - Tại sao lại “để cho” Nhân Dân tự động phúng điếu sớm tại tư gia, dẫn đến hàng loạt vụ đàm tiếu (vụ sao Đàm Vĩnh Hưng, vụ cựu chiến binh, dân oan mất đất 24 năm đi kiện không thành công, Phàng Sao Vàng...) - Tại sao lý lịch của cụ công bố chính thức chỉ có công ăn việc làm đến tháng 12/1986 là… The End?, mất đứt đi 27 năm dù cụ vẫn còn sống khỏe vẫn là chủ tịch Ủy ban Sinh Đẻ có Kế Hoạch mà chưa hề có quyết định… nghỉ hưu!?? -Và còn cả ngàn cái “tại sao” nữa mà mà tán rộng, tán hẹp đủ kiểu thì… tha hồ! Riêng cái công việc tuyên huấn về việc cụ “đột ngột” ra đi, thì quả là… gây rối cho các nguồn tin về cụ nhất! Chẳng ngày nào không có “tin mới” mà tin nào cũng thừa đất để… phán đoán, bình luận… Chẳng hiểu là vô tình hay cố ý? Ngu dốt hay dại khờ? Ví dụ: - Suốt từ hôm 7/10 tới giờ thì trưởng Ban tổ chức tang lễ không thấy nhắc gì đến cái tên Nguyễn Phú Trọng nữa! Mọi quyết định phúng điếu, chôn cất ra sao, thậm chí cả đến chở thi hài cụ bằng phương tiện gì, phi cơ dân dụng hay quân sự… đều do Trưởng Ban Tổ chức Nguyễn xuân Phúc, người cùng ngang cấp phó thủ tướng với cụ Võ (lúc “phải” rời quyền lực) làm… Trưởng Ban tổ chức (!?) chính thức chủ trì mọi cuộc họp báo công bố mọi quyết định?! - Vụ bố trí các tướng, tá, cựu trào gần cụ suốt nửa thế kỷ mà chỉ toàn là những vị nói đi cũng như nói lại, loanh quanh những điều photocopy của nhau, nhắc đi nhắc lại những điều khen cụ chung chung, đức độ, tài ba, khiêm nhường, sáng suốt... Chẳng một ai dám nói đến nỗi đau 20 năm cụ bị cái tì vết to tướng và nhục nhã nhất là: “con nuôi của Pháp”, “là C.I.A”… (qua vụ Năm Châu, Sáu Sứ), là: ngay khi vào Vinh để cùng đoàn ứng cử Trung Ương Khóa VII ra mắt danh sách đề cử, cụ bị gọi ngay về để trình bầy về những tội “phản bội Tổ Quốc”, “phản bội Đảng”, “phản bội Nhân Dân”!? mà những kẻ muốn hạ bệ cụ tuy nay đã chết gần hết, nhưng hậu duệ của bọn ngụy tạo ra vụ án này, không phải đã hết, thậm chí còn ngồi vững chắc các chiêc ghế Trung Ương là đằng khác! Và “vụ án” Năm Châu, Sáu Sứ này, mặc dầu đã có kết luận, Sáu Sứ đã bị bắt, ngay thời kỳ ông Tổng Nông, nhưng yêu cầu làm rõ của chính cu Võ và sau đó là kiến nghị, thắc mắc của hàng loạt tướng tá, lão thành cách mạng yêu cầu làm rõ mọi chuyện về vụ năm Châu, Sáu Sứ này đều bị bỏ qua và “treo” cho đến ngày cụ đã bị tháo mọi máy móc, ống truyền nước, thức ăn để qua đời trong ân hận? Làm sao giải đáp nổi mọi bí ẩn trong thâm cung của mấy chú lãnh đạo hậu sinh, đàn em? Họ muốn gì,làm gì và đang mưu đồ gì? Và làm sao có thể không động tới quả tim và những cái đầu của những người có lương tâm, ”những người cứ muốn dính líu vào mọi việc chẳng dính líu gì đến mình cơ chứ”! - Mới nhất là 2 ngày 8 và 9/10, báo chí lại rầm rộ đưa tin: Nơi cụ Võ yên nghỉ sẽ là Vũng Chùa, Đảo Yến. 2 máy bay dân dụng (không phải là chuyên cơ hay quân sự gì đâu nhé) sẽ bay theo đường bay nào? tăng-bo từ ô-tô sang máy bay và từ máy bay sang ô-tô như thế nào? từ đâu đến đâu! Thậm chí có cả bản đồ hướng dẫn, cả ảnh chụp hàng đoàn xe ủi, xe lăn đang làm đường (cấm dân đi lại, vô xem...) để xe chở quan tài vị tướng giản dị, liêm khiết họ Võ sẽ được nhẹ nhàng lăn bánh tới cái nơi rất khó có thể đến thăm này. Tất cả đều được phép của tuyên giáo công bố công khai trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Và một loạt những “bình lựng” lại được phát tán khắp các trang mạng với đủ loại mỉa mai, khích bác… nhất là khi ai đó đưa tin con trai cụ có cái tên mà dân miền Nam rất ghét “Võ Hồng Nam” (Dùng võ nhuộm đỏ miền Nam?!) đang là chủ đầu tư cái khu du lịch chắc chắn sẽ thu hút khách ở ngay cái nơi cha mình sẽ yên ngủ: Đảo Yến! - Nổi bật hơn cả mọi cuộc tạ thế khác (kể cả cụ Hồ) là toàn quốc sẽ có đến cả trăm bàn thờ để nhân dân, bộ đội, đèn nhang hoa hoét đến vái cụ do Tổng Quân Ủy, (ông Phùng Quang Thanh chứ chắc chắn không phải là của ông… Nguyễn Chi Vịnh đã chỉ thị) mỗi trung đoàn sẽ phải thiết lập một bàn thờ cụ và phải mở rộng cửa doanh trại cho công chúng vào viếng thăm! Chắc từ nay đến ngày 13/10 này sẽ còn nhiều tiết mục chưa từng thấy diễn bao giờ! Tha hồ cho mọi thành phần, mọi phương tiện truyền thông lề phải lề trái bộc lộ hết mọi ý đồ tốt, xấu, lợi, hại, của mình… Bởi dzậy, là người sẵn sàng NÓI THẬT lòng mình trước một số ý kiến và việc làm mà mình “cho là” không hợp với sự hiểu biết, với cảm nhận của mình, mình đành lòng phát ra vài ý kiến sau đây mà chẳng ngại mất lòng ai hoặc lo bị ai “ném đá”: 1/ Mình không hiểu nổi với cái chữ “đột ngột” nhắc đi nhắc lại nhiều lần của rất nhiều ông tướng tá về sự ra đi của cụ Giáp? Rõ ràng là các vị này đã phải nói dối ngay với lòng mình! Kể từ ngày cụ Giáp phải đưa vào bệnh viện 108 (24/6/2009) cho đến ngày 7/10/2013, tất cả là 1359 ngày! Đặc biệt sau 128 ngày, khi cụ phải chuyển sang cuộc sống thực vật, có ai mà chẳng biết Cụ sẽ ra đi bất cứ lúc nào! Riêng với mình thì mình thêm cái vế “…khi người ta muốn cụ ra đi”. Thậm chí, mình thú thiệt: Mình mong ơn trời giúp cụ sớm ra đi cho đỡ khổ cụ, khổ gia đình cụ và khổ cả hàng loạt bác sỹ, y tá, điều dưỡng phải phục vụ cho một “cái xác còn thở bằng máy” (*), ngày càng teo tóp lại đến mức không ai có thể ngờ được đó là hình hài một vị tướng tài ba đến người nước ngoài cũng phải đặt tên là “Napoléon đỏ” hoặc “Alexandre Đại Đế của Việt Nam” oai hùng lẫm liệt ngày nào! Chướng mắt (và vụng về nữa) là mỗi lần có mấy chú lãnh đạo đương thời vào thăm chỉa bằng khen, bài viết về cụ cho cụ sờ sờ ra vẻ “đã xem” thì mình thấy ngay: “Rõ ràng đây chỉ là một trò đánh thấp uy thế chính trị của cụ mà thôi! Vậy mà người ta vẫn cả gan lấy cả những tấm ảnh đã chụp cụ không còn ra hồn người nữa từ tháng 7/2012 mà tung lên báo với dòng chữ “Đại tướng tỉnh táo đến giờ phút cuối cùng”!!!     Rõ ràng 1559-129=1430 ngày sống trong tình trạng không nói được thở, ăn, uống, tiêu hóa bằng máy mà còn nói chuyện, uốn nắn lại tiếng Anh (không phải là tiếng Pháp nhé!) cho nhân viên phục vụ, hỏi thăm, dạy dỗ mọi người thì… quả là cụ đã trở thành… Thánh, vượt qua mọi tổng kết của y học tiên tiến nhất trên thế giới về “cái chết lâm sàng” và cái chết không đau đớn (euthanaxie)! (“Những ngày cuối đời ở bệnh biện 108” và “Sức khoe đại tướng suy giảm từ ngày 129 – T.Trẻ ngày 10/3 trang 5) Và sau 1430 ngày đợi chờ đó (kể cả mình)… mà ai đó, khi nghe tin cụ đã ra đi đã khóc rống lên vì… quá đột ngột thì quả là… khóc bằng cái… đầu lưỡi! Theo mình, lúc này muốn khóc thật là phải nói lên cái nỗi khổ 22 năm của thủ trưởng cũ của họ: Đến chết cũng chẳng ai lên tiếng bạch hóa cho Cụ những sự vu cáo chính trị ác độc, hại người của những kẻ đồng chí nhưng không đồng hướng với cụ! Chẳng lẽ các tướng tá, những người thân giúp việc cụ cả 4, 50 năm không biết nỗi khổ và sự cô đơn của cụ, sau các vụ vu cáo không được kết luận (nghe nói đã có kết luận nhưng bị ỉm đi để tránh lộn xộn nội bộ?) là những vụ bị “vứt vô sọt rác” những bức tâm thư góp ý của cụ: 1-/ không nên phá nhà Quốc Hội 2-/ không nên sát nhập Thủ đô vào Hà Đông, Hòa Bình, Vĩnh Phúc 3-/ Không nên khai thác bô-xít Tây Nguyên Không! Tuyệt đối không ai kể cả những người làm thư ký riêng cho cụ, mãi tận hôm nay như đại tá Huyên! Vị nào cũng có vẻ… thương cụ thì thương nhưng trước hết phải giữ chặt lấy cái… vinh quang và sinh mạng chính trị của mình đã! Ngoại trừ trường hợp VTV1 sơ xuất để lọt trường hợp phỏng vấn đại tá Hà Minh Phương khi để ông này tiết lộ “Đời sống đại tướng nay đang khó khăn!? Lương đại tướng nay còn thấp hơn lương em”…và có rơm rớm nước mắt thật tình khi nói đến chuyện Cụ muốn chia tiền bản quyền với đại tá Phương nhưng ông từ chối“! Không một lời yêu cầu bạch hóa các vấn đề mà cụ Giáp chờ đợi suốt mấy kỳ đại hội Đảng. Không một lời vạch rõ cái lý đúng đắn của thủ trưởng minh qua các “tâm thư” vô ích! Càng không có một quyết định đưa cụ lên hàng gì gì đó (Nguyên soái chẳng hạn) như mong ước, nguyện vọng kể cả kiến nghị của một số tướng tá, lão thành cách mạng để khỏi lầm lẫn giữa viên ngọc thật với cả đống ngọc giả đang lẫn lộn trong một cái bị tướng tá của lực lượng quốc phòng - an ninh. Và quan trọng nhất: Cứ để lý lịch bị vấy bẩn của cụ đó mơ-mơ-hồ-hồ trong tâm trí của toàn dân để khỏi phải công khai nhận tội thay các tiền nhân mà họ đang thừa kế hai thứ vũ khí cực kỳ sắc bén của…. đảng trị muôn năm: lực lượng võ trang + nhà tù và bộ máy truyền thông khổng lồ gồm 700 tờ báo và gần 70 cái đài tivi, phát thanh với hàng trăm kênh đủ loại chỉ khởi động khi có một “nhạc trưởng” duy nhất vẫy tay ra lệnh! Bởi tất cả đã trở thành “chủ trương lớn” của mấy chú lãnh đạo đàn con, đàn cháu cụ, hôm nay đã thay đổi tận gốc mọi quan niệm bạn-thù, mọi chính sách về kinh tế, thậm chí đã dám coi cụ là bị bọn “biến chất thoái hóa” (như bọn bô-xít chẳng hạn) chúng chẳng qua chỉ lợi dụng cụ để đấu tranh đòi xóa bỏ Đảng, lật đổ chính quyền! Họ nghĩ gì, làm gì, nói gì là…chỉ có đúng vì họ có trong tay cả một lực lượng nhà khoa học, có hàng loạt học viện hàn lâm, gồm: 9.000 giáo sư, 24.000 tiến sỹ, 101.000 thạc sỹ, 2.700.000 cử nhân thì cái chuyện giảng giải cho bọn họ, can ngăn này nọ chỉ là chuyện dở hơi của mấy anh già lẩm cẩm….sắp chết! Cho nên, cái “chết hẳn” của cụ đại tướng hôm nay theo nhận định lơ tơ mơ của mình thì: Tất cả đều có chỉ đạo, lập trình tỉ mỉ, chọn ngày giờ rất kỹ càng để: a/ Có sự tập hợp đông đủ của toàn thể Trung ương ủy viên để cùng chịu trách nhiệm, đặc biêt là chuyện “vượt trần” hình thức tang lễ theo quy định: từ lễ tang nhà nước cho một chức vụ cao nhất là phó thủ tướng của cụ đại tướng sang quốc tang (thậm chí siêu quốc tang) b/ Qua quyết định chưa từng có này, gián tiếp trả lại danh dự cho cụ đại tướng mà không cần phải phê phán, xin lỗi ai, bơi móc lại bất cứ sự kiện gì, va chạm tới những vị “cha-bố” tuy già khú đế nhưng chưa chịu chết, muốn diệt bằng được ông đại tướng hay nói tiếng Tây, đua đòi pia-nô, pia-đùa, tự diễn biến thành giai cấp tư sản thứ thiệt! c/ Ra lệnh cả nước truy điệu cụ đại tướng ngoài bách niên mới chết… thật để phân tán bớt những “lực lượng thù địch” có thể nhân dịp tập trung ở một chỗ nào đó mà tung ra những lời phát biểu, những hành động bất ngờ nguy hiểm cho lãnh đạo như đã từng xảy ra tại tang lễ tướng Trần Độ! d/ Nơi chôn đại tướng tại Quảng Bình quê cụ dù ở Lệ Thủy hay Đảo Yến, ở đâu cũng tốt hơn là chôn cụ ở Mai Dịch vì tránh được những sự phân biệt đối xử của đám quan quân sùng bái cụ sẽ nườm nượp vô thăm với những vòng hoa có…. chúa mới biết sẽ là những lời tuyên bố gì gì đây! Hơn nữa, nếu đúng đảỏ Yến là nơi con trai cụ đang phát triển kinh doanh du lịch thì việc ít hay nhiều người viếng thăm nơi an nghỉ cuối cùng của cụ là do gia đình cụ muốn thế chứ đâu phải của Bộ Chính Trị, của Ban chấp hành T. Ư.! Và trước mắt, mới có bốn ngày mà đã thấy: 1- Nội bộ mấy anh lắm điều hay phản biện, phản bị … đã phấn khởi hẳn lên (!), thay nhau ngợi ca một lãnh tụ cộng sản hết lời, hết chữ. Nào là “Vị tướng của dân” “Vị tướng của hòa bình”, “Vị tướng được cả tài lẫn đức”, ”được cả võ lẫn văn”! Nào là “Nhân vật “kiệt xuất”, ”phi thường”, ”người thiết kế cho nghệ thuật chiến tranh nhân dân”,… là “chỗ dựa” cho giáo dục, là “bệ đỡ” cho trí thức v.v .và v.v... Thậm chí có anh viết bài lề trái mà vui xướng tới mức tung ra cái đầu đề “Cái chết của Võ đại tướng đã làm chúng ta xích lại gần nhau!” 2- Tất cả mọi sự xảy ra trên đời gần như bị quên lãng bỏ bê hết. Tất cả chỉ còn bàn về cái “chết hẳn” của một vị tướng suốt 20 năm qua đã bị… vô hiệu hóa một cách vu vơ, mù mờ, bất cần giải thích. 3- Bắt đầu có sự chia rẽ trong hàng ngũ những người hay lên tiếng chỉ trích mọi sự suy thoái của đảng vì qua cụ Giáp chết lời lẽ chống ít, chống nhiều, hay… “vớ chồng” không thể không lòi cái đuôi hoặc dài hoặc ngắn ra! Thế là mỉa mai, phê phán, thậm chí chửi thẳng nhau (nhất là trên Fb.) Ai có lợi trong vụ “chết hẳn” của cụ Võ lần này??? Ai? Ai? Đâu có cần nữa câu trả lời!! Hãy chờ cho đến hết ngày 13/10, khi cờ rũ được kéo lên đỉnh cột trở lại, khi nghị quyết trung ương 8 được công bố... và khi ông thủ tướng Trung Quốc bắt đầu chuyến viếng thăm và đàm phán, ký kết cái gì sau đó... Sẽ còn nhiều chuyện bất ngờ mà cái “chết hẳn” của cụ Võ sẽ là cái mốc dễ nhớ cho một thời gian cực kỳ tế nhị cho đảng, cho chính phủ và quốc hội của các ông ấy sẽ diễn ra ngay tháng này! Liệu mình có quá đoán mò không các bạn? __________________ (*) Chứng kiến và phục vụ trực tiếp cho những người thân phải sống đời sống thực vật đã nhiều lần, mình đã rút ra được những kết luận nhờ được một số bạn giáo sư bác sý uy tín cho biết: a/ Đó là những cố gắng vô vọng của những tình thương cha mẹ-con cháu, ông bà, dù biết rằng cái chết thật sự sẽ là… phải đến. Hoặc do thân xác tự hoại dù có nuôi dưỡng bằng các thức ăn qua ống nuôi, truyền dịch nhưng không thể sống lại là 100%! (Truờng hợp em trai mình “sống” đời thực vật 21 ngày nhưng nửa người dười đã bị lở loét, phân hủy, hôi thối mà người đau nhất lại chính là gia đình, vợ con và thằng anh trai duy nhất xuýt chết vì… không thể không sống bên cái thi hài còn được ăn, uống, thở nhân tạo suốt 21 ngày đêm của em ruột mình).   b/ trừ trường hợp gia đình đồng ý, thì tại một số nước, bác sỹ có quyền rút các ống (sonde) ra để bớt nỗi khổ cho cả gia đình, lẫn người chết lâm sàng không có khả năng sông lại được! (Ở VN, liệu có được áp dụng những “động tác giải thoát” này trong trường hợp cụ Giáp không đây? Nguồn: to-hai.blogspot.de
......

LM Nguyễn Văn Lý được giải thưởng 'Truman-Reagan Medal of Freedom”

WASHINGTON DC.- Sáng hội Tưởng Niệm Nạn Nhân Cộng Sản trên thế giới vinh danh và trao giải thưởng năm nay cho linh mục Nguyễn Văn Lý hiện đang bị tù tại Việt Nam. Linh mục Nguyễn Văn Lý bị một Công an CSVN bịt miệng khi ngài lên tiếng đả kích Cộng Sản tại phiên tòa ở Huế ngày 30/3/2007. Tấm hình này được coi như biểu tượng của sự vi phạm nhân quyền tại Việt Nam. (Hình: AFP/Getty Images)   Theo nguồn tin từ Hoa Thịnh Đốn, Sáng Hội Tưởng Niệm Nạn Nhân Cộng Sản (Victims of Communism Memorial Foundation) vừa quyết định vinh danh và trao huy chương  “Truman-Reagan Medal of Freedom” năm nay cho linh mục Nguyễn Văn Lý vì đã đấu tranh không ngừng nghỉ cho nhân quyền, tự do tôn giáo, bất chấp tù tội, nguy hiểm bản thân nên đã bị nhà cầm quyền CSVN kết án tù. Giải thưởng và huy chương “Truman-Reagan Medal of Freedom” dành cho linh mục Nguyễn Văn Lý sẽ được tổ chức trao tặng tại Hoa Thịnh Đốn vào ngày 1/11/2013 tới đây. Linh mục Nguyễn Văn Lý, 67 tuổi, đã bị nhà cầm quyền Việt Nam bỏ tù 3 lần mà thời gian ở tù tổng cộng đã gần 20 năm, chưa kể các năm tháng bị quản chế. Hiện ông đang bị giam giữ ở nhà tù Ba Sao tỉnh Nam Hà với bản án 8 năm với cáo buộc “Tuyên truyền chống nhà nước”. Dù đã bị tai biến mạch máu ít nhất 3 lần trong nhà tù, nhiều lúc không thể tự di chuyển đi đứng và gần với cái chết, ông vẫn không được nhà cầm quyền CSVN trả tự do dù có sự vận động mạnh mẽ của các chính phủ và quốc hội các nước Tây phương, đặc biệt là Hoa Kỳ. Linh mục Lý đã tố cáo nhà cầm quyền CSVN thi hành các chính sách cai trị ngược lại với những cam kết quốc tế về nhân quyền, đòi chế độ trả lại cho nhân dân các quyền tự do căn bản như quyền tự do báo chí, tự do phát biểu, tự do hội họp lập hội, tự do tôn giáo, tuy có ghi trong bản hiến pháp của chế độ nhưng bị hạn chế nghiêm ngặt trong thực tế. Linh mục Nguyễn Văn Lý là một trong những người sáng lập Khối 8406, một tổ chức công dân vận động dân chủ hóa đất nước, đòi CSVN bỏ điều 4 hiến pháp dành độc quyền cai trị cho đảng Cộng Sản và đòi bầu cử quốc hội trực tiếp, tự do ứng cử và bầu cử. Tượng nữ thần Dân Chủ tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn, nhắc nhở mọi người về hơn 100 triệu nạn nhân bị Cộng Sản sát hại khắp trên thế giới. (Hình: Wikipedia) Bất cứ người dân nào đi ra ngoài khuôn khổ của nhà cầm quyền độc tài tại Việt Nam, đều bị bắt bỏ tù dựa trên những điều luật hình sự mơ hồ. Khi còn là quản xứ họ đạo An Truyền gần thành phố Huế, linh mục Lý đã cùng giáo dân treo biểu ngữ “Tự do tôn giáo hay là chết” quanh nhà thờ. Sáng hội Tưởng Niệm Nạn Nhân Cộng Sản có cựu tổng thống George W. Bush là chủ tịch danh dự. Sáng Hội Tưởng Niệm Nạn Nhân Cộng Sản là một tổ chức vô vị lợi mang tính giáo dục ở Hoa Kỳ. Tổ chức được thành lập theo một đạo luật năm 1993 với mục đích tưởng niệm hơn 100 triệu nạn nhân đã bị Cộng Sản sát hại trên thế giới. Linh mục Nguyễn Văn Lý từng được nhiều vị dân cử tại Hoa kỳ và quốc hội Liên Âu đề cử giải thưởng Nobel Hòa Bình. (TN) Nguồn: nguoi-viet.com
......

Là Huyền Thoại Chưa Hẳn Đã Sướng!

Trong lịch sử của đảng cộng sản VN, có hai nhân vật được/bị nâng lên thành hai “huyền thoại” ngay khi họ còn đang sống: Hồ Chí Minh, Cố Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Võ Nguyên Giáp, Cố Đại tướng, Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam. Võ Nguyên Giáp và HCM Và một khi đã trở thành huyền thoại, cuộc đời của họ, cho đến cái chết của họ, không còn hoàn toàn thuộc về họ nữa, đặc biệt trong một chế độ như chế độ cộng sản. Về cái chết, cũng giống như đối với ông Hồ Chí Minh trước kia, cái chết của ông Võ Nguyên Giáp không được đảng và nhà nước cộng sản công bố ngay, vì Bộ Chính trị còn phải bàn bạc về việc công bố tin như thế nào, tổ chức tang lễ ra sao, xử lý như thế nào đối với di hài v.v… Chỉ có điều, khác với thời ông Hồ Chí Minh, mọi thông tin được nhà cầm quyền kiểm soát chặt chẽ, không gì có thể lọt ra ngoài, còn bây giờ, khi báo chí “lề đảng” buộc phải im lặng chờ “lệnh trên” thì báo chí “lề dân”, các trang mạng xã hội như facebook cho đến báo chí nước ngoài, đã nhanh chóng đưa tin về cái chết của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Vẫn chưa hết. Sau khi báo chí chính thức được phép đưa tin thì bộ Chính trị lại tiếp tục bàn bạc, tranh cãi về việc chôn ở đâu. Cho đến chiều ngày 7 tháng Mười, nghĩa là đúng 3 ngày sau khi ông Võ Nguyên Giáp qua đời thì nơi chôn cất ông mới được quyết định xong: “An táng Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở Vũng Chùa - đảo Yến” (Báo Tuổi Trẻ). Cái tin này cũng khiến nhiều người ngạc nhiên vì địa điểm chôn cất, theo báo Tuổi Trẻ: “Vũng Chùa-đảo Yến cách đèo Ngang 10km về phía Nam, cách quốc lộ 1 về phía biển khoảng 2-3km. Đây là một vũng biển nhỏ, đảo Yến nằm cách Vũng Chùa 2km ngoài biển...”. Một số blogger cho biết, đây là một nơi “khỉ ho cò gáy”, không có dân. Như vậy nếu người dân muốn đi viếng ông Võ Nguyên Giáp cũng sẽ khó khăn. Báo chí đưa tin đây là kết quả bàn bạc giữa Ban tổ chức lễ tang của nhà nước và gia đình, cũng là nguyện vọng của Đại tướng lúc còn sống. Nhưng không biết đây có thật là nguyện vọng cuối cùng của ông Võ Nguyên Giáp hay cũng vì một “lý do” nào đó, đảng và nhà nước cộng sản đã quyết định thay cho người đã khuất, y như trước kia, đảng và nhà nước cộng sản đã làm trái đi ý nguyện muốn được hỏa táng, đem tro rải ba miền của ông Hồ Chí Minh? Đối với một chế độ không có cái gì là minh bạch, là trung thực như chế độ cộng sản ở VN thì khó mà biết được. Ngày nay khi một phần sự thật về cuộc đời của những “huyền thoại” như ông Hồ Chí Minh hay ông Võ Nguyên Giáp được hé lộ, nhiều người đã biết được phần nào mặt trái của những tấm huy chương, những nỗi cay đắng mà những “huyền thoại” đó đã phải chịu đựng trong nhiều năm dài khi họ còn đang sống, bởi chính những người đồng chí, đàn em của mình. Một người là ông Hồ Chí Minh phải chịu cảnh bị vô hiệu hóa, ngồi chơi làm vì trong những năm cuối đời, có vợ mà không được nhận vợ, có con mà không được nhận con, phải làm thánh sống, từ ngày sinh tháng đẻ, họ tên thật, dòng dõi thật cho đến ngày chết suốt một thời gian dài cũng chẳng có cái gì là đúng. Rồi phải chịu cảnh sau khi chết thi thể không toàn vẹn, không được chôn cất trong bao nhiêu năm…đứng về mặt tâm linh, truyền thống văn hóa của người Việt phải nói là vô phước, bất hạnh. Còn ông Võ Nguyên Giáp cũng bị đàn em cho ra rìa từ lâu, từ cuối thập niên 60 khi phe Lê Duẩn, Lê Đức Thọ đã thâu tóm quyền hành trong tay, đặc biệt từ sau năm 1975 khi quyền uy tối thượng nằm trong tay ông Cố Tổng Bí thư lâu năm nhất của Đảng Cộng sản VN: Lê Duẩn, hai lần thoát chết về mặt chính trị, may nhờ nhẫn nhục mà giữ được tính mạng. Những năm cuối đời, ông Giáp cũng có lên tiếng góp ý về một vài vấn đề lớn của đất nước, chẳng hạn như về Dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên, ông đã vài lần viết thư yêu cầu thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dừng dự án này, vì lý do an ninh quốc gia và vấn đề môi trường, nhưng không được hồi đáp. Qua cách đối xử với những người được gọi là có vị trí lớn nhất nhì trong lịch sử đảng cộng sản VN, những người cộng sản cho thấy họ thực sự là những con người như thế nào. Họ không chỉ tàn bạo, sắt máu với kẻ thù, mà còn sẵn sàng tìm mọi cách hãm hại đồng đội, đồng chí nếu cần, kể cả “vị cha già dân tộc” và “anh cả của quân đội” họ cũng không tha. Khác với những chế độ khác, không “chịu” được nhau là công khai lật đổ, đảo chính, những người cộng sản luôn luôn cố gắng giữ bề mặt tỏ ra đoàn kết nhưng phía sau hậu trường chính trị là những âm mưu bẩn thỉu, những trò chơi đê tiện, hạ gục, loại bỏ nhau trên con đường chính trị không thương tiếc. Vậy mà trong đám tang những con người bị họ chơi cho sát ván hoặc chẳng coi ra gì lúc còn sống, họ lại làm linh đình, đến viếng, bày tỏ xót thương… Khi những chế độ cộng sản ở Liên Xô hay các nước Đông Âu sụp đổ, bao nhiêu sự thật hậu trường chính trị, những cuộc thanh trừng, hạ bệ nhau trong bóng tối, sự thật về các lãnh tụ, các nhân vật lịch sử, công tội ra sao…mới dần dần được bạch hóa. Chế độ cộng sản ở TQ, VN hay Bắc Hàn bây giờ rồi cũng thế. Không biết trong những năm tháng cuối cùng của cuộc đời, ông Hồ Chí Minh hay ông Võ Nguyên Giáp có giây phút nào day dứt về những việc mình đã làm, chưa làm, lẽ ra phải làm, day dứt về con đường mà mình đã chọn, trước hiện tại và tương lai ngổn ngang của đất nước, dân tộc? Không ai có thể biết được. Cũng có thể là hoàn toàn không. Nhưng so với Hồ Chí Minh, ông Võ Nguyên Giáp đã sống lâu hơn nhiều, để có thể nhìn thấy hiện thực của đất nước sau chiến tranh, hiện thực của cái giấc mơ mà ông và hàng triệu người cộng sản khác đã mơ, của cái chiến thắng mà ông, một vị tướng, đã đổi bằng hàng núi xương máu của những người lính vô danh và nhân dân vô tội. Bi kịch lớn nhất của Hồ Chí Minh-người được xem là khai sinh ra nước VN Dân chủ Cộng hòa tức nước Cộng hòa XHCN VN, và Võ Nguyên Giáp-người đã thắng từng kẻ thù mạnh nhất thế kỷ trong chiến tranh, là cái di sản VN lạc đường, lụn bại hôm nay mà họ để lại. Nguồn: songchi's blog
......

Pages