2013

Mỹ đứng đầu về sản xuất năng lượng

NEW YORK - Hoa Kỳ đang vượt hơn Nga trong vị trí nước đứng đầu thế giới về sản xuất dầu lửa và khí đốt, một sự kiện đáng ngạc nhiên làm biến đổi tình hình các thị trường đòng thời xói mòn uy lực chính trị của những quốc gia truyền thống giầu năng lượng. Một giàn khoan tại khu mỏ dầu Bakken shale formation gần Watford City, North Dakota. Cơ Quan Địa Chất Hoa Kỳ trong nghiên cứu mới đây dự đoán trữ lượng dầu tại mỏ này là 7.4 tỷ thùng dầu. Công nhân giàn khoan cư trú ở một trại kế cận, làm việc 12 giờ mỗi ngày liên tục trong 14 ngày rồi được nghỉ 14 ngày. (Hình: Andrew Burton/Getty Images) Sản xuất năng lượng Hoa Kỳ đã gia tăng trong ít năm gần đây nhờ việc sử dụng kỹ thuật khai thác dầu lửa và khí đốt trong những tầng đá phiến thạch (shale-rock), điều mà một thập niên trước không ai mường tượng ra được. Một phân tích của tờ Wall Street Jounal, căn cứ trên những dữ liệu toàn cầu, cho thấy Hoa Kỳ đang, nếu chưa phải là đã, vượt qua Nga trong vị trí quốc gia dẫn đầu thế giới về sản xuất năng lượng, bao gồm cả dầu lửa và khí đốt. Hoa Kỳ tiến lên vào lúc Nga hãy còn cố gắng giữ vững sản lượng theo phương pháp khai thác truyền thống và chưa dùng đến kỹ thuật mới như “fracking” để gia tăng trữ lượng bằng cách khai thác dầu khí ở những khu vực trước kia không khai thác được. “Fracking” (hydraulic fracturing) là kỹ thuật dùng thủy áp bẻ gẫy các lớp đá phiến thạch, giải phóng dầu khí giữa các ngăn đá đó rồi bơm lên mặt đất. Nhiều tổ chức môi trường nói rằng hỗn hợp chất lỏng, nước - dầu - hóa chất bơm xuống đất có thể gây ô nhiễm cho các mạch nước ngầm. Tuy nhiên giới kỹ nghệ dầu lửa nói rằng vấn đề này không có gì đáng lo ngại vì hỗn hợp chất lỏng sau đó thoát ra ngoài không tác hại đến nguồn nước. Kỹ thuật fracking được dùng đầu tiên ở Hoa Kỳ và theo ước lượng của Hội Đồng Dầu Lửa Quốc Gia, Hoa Kỳ, 70% sản lượng khí đốt ở Bắc Mỹ sẽ được khai thác bằng kỹ thuật fracking. Tiểu bang North Dakota trong mấy năm gần đây đã phát triển vượt bực nhờ kỹ nghệ khai thác dầu khí shale-oil. Cơ Quan Năng Lượng Quốc Tế IEA dự đoán với phương pháp fracking, có thể khai thác được trên 200 ngàn tỷ mét khối (200,000 km3) khí đốt các loại ở cac tầng đá phiến thạch, có nghĩa là trữ lượng dầu khí trên địa cầu chưa mau chóng cạn kiệt như lo ngại trước kia. Sản lượng dầu khí của Hoa Kỳ trong tháng 7 tương đương khoảng 22 triệu thùng dầu thô mỗi ngày. Văn Phòng Thông Tin Năng Lượng Hoa Kỳ cũng như Cơ Quan Năng Lượng Quốc Tế không có số liệu về sản lượng khí đốt của Nga nhưng theo dự đoán của Moscow thì sản lượng dầu khí của Nga trong năm 2013 tương đương 21.8 triệu thùng dầu thô mỗi ngày. Trong vòng 5 năm vừa qua, Hoa Kỳ giảm nhập cảng dầu thô 32% và khí đốt 15%. Hoa Kỳ là nước tiêu thụ năng lượng nhiều nhất thế giới và sản lượng quốc nội gia tăng có nghĩa là có thể xuất cảng dầu khí ra ngoại quốc. Nhưng điều ấy không có nghĩa là giá năng lượng sẽ rẻ đi vì đây còn là vấn đề của thị trường. Cho đến nay giá dầu vẫn còn cao, hôm Thứ Tư là $104.10 một barrel, cao hơn so với năm ngoái 18%. Nhiều phân tích về thị trường năng lượng thường chỉ chú ý tới dầu lửa. Nhưng Nga và Hoa Kỳ đều là những đối tác lớn về khí đốt trong thị trường năng lượng thế giới với sản lượng vượt xa Saudi Arabia nước sản xuất dầu lửa đứng đầu thế giới. Theo IAE, năm ngoái là lần đầu tiên kể từ năm 1982, sản lượng khí đốt Hoa Kỳ vượt qua Nga. Xuất cảng của Nga chịu tác động nặng vì tình hình cạnh tranh và kinh tế suy kém ở Âu Châu. Nga dự đoán sản lượng khí đốt của họ chỉ gia tăng chút ít trong mấy năm tới và trong năm nay dưới Hoa Kỳ. Cũng theo IEA, trong nửa đầu năm  nay, trung bình Nga sản xuất 10.8 triệu thùng dầu thô các loại mỗi ngày nghĩa là vẫn còn hơn Hoa Kỳ 900,000 thùng, tuy nhiên kém xa so với mức chênh lệch 3 triệu thùng ít năm trước kia. Các mỏ dầu trong đá phiến thạch, Baken oil field ở North Dakota và Eagle Ford shale formation ở Nam Texas, tiếp tục tăng tiến nhanh chóng trong khi sản lượng dầu thô của Nga chỉ gia tăng không đáng kể trong 3 năm vừa qua. Dự đoán của họ là sản lượng dầu thô vẫn như vậy và khí đốt tăng 3% cho tới 2016. Bà Tatiana Mitrova thuộc Viện Nghiên Cứu Năng Luợng Nga cho rằng “Nga có vẻ đang thua thiệt trên thị trường toàn cấu”. Bà cho biết 40% thu nhập ngân sách Nga là từ xuất cảng dầu khí và bà dự đoán xuất cảng có thể giảm từ 25% đến 30% sau năm 2015, tổng sản lượng quốc dân sẽ kém đi $100 tỷ. Tuy nhiên Nga tin tưởng là đất nước rộng lớn của họ có một trữ lượng dầu khí trong đá phiến thạch nhiều nhất thế giới chưa đực khai thác tới. Chủ tịch Gazprom, công ty  năng lượng quốc doanh lón nhất ở Nga, đánh giá sự phát triển của sản lượng dầu khí phiến thạch ở Hoa Kỳ “chỉ là bèo bọt”. Ông Abdallah Salem el-Badri, chủ tịch OPEC, cũng cùng quan điểm ấy và nói rằng tăng trưởng dầu khí của Hoa Kỳ nhờ các mỏ phiến thạch tới cuối thập kỷ này sẽ “hết hơi”. Saudi Arabia vẫn là nước đứng đầu thế giới về cung cấp dầu khí. Trong tháng 7, sản lượng của Saudi Arabia là 11.7 triệu thùng dầu mỗi ngày, Nga 10.8 triệu và Hoa Kỳ 10.3 triệu. Mỗi nước trong ba nước này đều có sản lượng hơn gấp đôi Canada, Venezuela, Nigeria. Tuổi thọ của dầu khí phiến thạch Mỹ còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố trong đó có các quy định của chính quyền và sự tán đồng của công chúng. Một thăm dò dư luận của Pew Research Center  tháng trước cho biết sự chống đối fracking tăng từ 38% sáu tháng trước lên tới 47%. Một rủi ro khác là giá cả thị trường, nếu giá năng lượng xuống, sản lượng dầu khí phiến thạch sẽ giảm vì khai thác tốn kém hơn phương pháp khai thác các mỏ dầu truyền thống. Tuy nhiên cho đến nay mức sản xuất tiếp tục tăng vì các công ty có nhu cầu bù đắp khoản chênh lệch lớn đã có giữa chi và thu. Để đạt mục tiêu này, các công ty sản xuất dầu khí phiến thạch cũng tìm cách cải thiện kỹ thuật để giảm chi phí và tăng hiệu năng. Họ tin tưởng rằng sản lượng sẽ không giảm nhanh như người ta có thể lo ngại và sẽ còn phát triển trong một thời gian lâu dài.  (HC) Nguồn: nguoi-viet.com
......

Cựu Thủ tướng Nhật Naoto Kan lên án điện hạt nhân: “Tốt hơn cả là nên vứt nó đi”

Martin Fackler TOKYO – Với sự cảnh báo mạnh bạo bất thường, vị Thủ tướng Nhật của giai đoạn khủng hoảng hạt nhân năm ngoái đã nói trong cuộc điều trần tại Quốc hội hôm thứ Hai rằng Nhật Bản cần phải huỷ bỏ điện hạt nhân vì nó quá nguy hiểm. Ông tuyên bố rằng thảm họaFukushima đã đẩy Nhật Bản đến gần kề vực thẳm của “sự sụp đổ có mức độ quốc gia”. Cựu Thủ tướng Nhật Naoto Kan   Trong cuộc điều trần trước Ủy ban điều tra về phong cách làm việc của chính phủ Nhật Bản nhằm giải quyết thảm họa hạt nhân, cựu Thủ tướng Naoto Kan cũng cảnh báo rằng các phe nhóm thuộc kỹ nghệ điện hạt nhân đầy quyền lực đang cố gắng đẩy Nhật Bản trở lại với điện hạt nhân mà “không bày tỏ sự hối tiếc” về thảm họa hạt nhân xảy ra tại Fukushima. Buổi điều trần của ông Kan được mọi người quan tâm nhiều nhất trong cuộc điều tra sẽ kéo dài 6 tháng, bắt đầu bởi cuộc điều trần trước cơ quan lập pháp mà cơ quan này cảm thấy rằng lần điều tra nội bộ thực hiện bởi chính phủ đã có vẻ như có hành động bao che cho những sai phạm của chính phủ. Ông Kan dùng lần điều trần này để đả kích vị Thủ tướng đương nhiệm – Yoshihiko Noda, người thay thế ông vào tháng Tám 2011, là người có lập trường ủng hộ điện hạt nhân. Ông Noda đã từng kêu gọi cho tái vận hành những nhà máy điện hạt nhân không bị hư hại nhưng phải ngưng hoạt động từ khi xảy ra thảm họa vì công chúng lo lắng cho sự an toàn của nhà máy điện hạt nhân.  Ông Noda tuyên bố Nhật Bản cho phép các nhà máy điện hạt nhân hoạt động để tránh kinh tế không bị tê liệt do tình trạng thiếu nguồn điện. Ông Noda đã phải đối mặt với sự chống đối kịch liệt từ nhiều cử tri Nhật Bản. Họ nói chính phủ đang hấp tấp cho chạy trở lại các nhà máy điện nguyên tử mà không chứng minh được rằng những nhà máy này an toàn, yêu cầu hãy để cho công chúng có đủ thời gian bàn thảo về vấn đề Nhật Bản có thật sự cần điện hạt nhân hay không. Trong phiên điều trần, Ông Kan tuyên bố rằng mức độ an toàn của cá nhà máy điện hạt nhân không đạt yêu cầu vì chính sách điện năng đã bị “nhóm lợi ích điện hạt nhân”  tước đoạt  – nhóm từ dùng cho các công ty quyền thế,  những cơ quan quản lý và những nhà khoa học ủng hộ điện hạt nhân cùng nhau liên kết chặt chẽ nhằm thúc đẩy thực hiện điện hạt nhân. Ông tuyên bố rằng chỉ có một cách duy nhất để phá vỡ sự lũng đoạn của “nhóm lợi ích” này là thành lập một tổ chức điều hành quản lý hạt nhân mới với thành phần nhân lực điều động từ nước ngoài như các chuyên viên người Mỹ và Âu châu. “Gorbachev đã từng nói trong tập hồi ký của ông ta rằng thảm họa Chenobyl đã phơi bày những căn bệnh trầm kha của hệ thống Soviet”, ông Kan tuyên bố, khi đề cập đến thảm họa nổ lò phản ứng hạt nhân tại Ukraine, vụ nổ đã làm cả một vùng rộng lớn của Âu Châu bị nhiễm phóng xạ. “Thảm họa Fukushima cũng gây ra tình trạng nhiễm phóng xạ tương tự cho Nhật Bản”. Ông Kan đã dùng phần lớn thời gian của ba giờ điều trần để phát biểu chống lại những phê phán về cách thức giải quyết thảm họa hạt nhân năm ngoái – thảm họa làm cho cả một vùng Đông Bắc rộng lớn của Nhật Bản bị bao phủ bởi phóng xạ. Ông chê trách các cơ quan kiểm soát hạt nhân và tập đoàn chủ nhân nhà máy, Tokyo Electric Power, gọi là Tepco, đã giữ kín không cung cấp kịp thời cho ông các chi tiết quan trọng về thảm họa trong những ngày ngay sau khi trận động đất và sóng thần ngày 11/3/2011 phá hư toàn bộ hệ thống làm nguội tại khu nhà máy Fukushima Daiichi, làm cho các lò phản ứng hạt nhân bị nóng chảy. Ông nói rằng ông đã rất lo sợ tình trạng nóng chảy bổ sung có thể “làm thoát ra không khí và nước biển một lượng phóng xạ vượt nhiều lần, không, vượt nhiều tá lần, nhiều trăm lần so với mức độ phóng xạ thoát ra do thảm họa Chernobyl”. … Nhưng những nhận xét mạnh bạo nhất được ông phát biểu vào cuối buổi điều trần, khi đoàn điều tra hỏi ông về việc ông có lời nhắn nhủ gì cho vị Thủ tướng đương nhiệm. Ông Kan trả lời rằng thảm họa nổ nhà mày điện hạt nhân Fukushima đã làm cho Nhật Bản đến sát với quyết định di tản cư dân của thành phố Tokyo và 30 triệu dân chúng vùng chung quanh, và sự mất đi thủ đô Tokyo có thể làm tê liệt toàn bộ chính quyền nhật Bản, đưa đến “sự sụp đổ toàn bộ khả năng hoạt động của cả nước Nhật”. Ông nói rằng viễn cảnh mất đi Tokyo đã làm ông nhận ra rằng điện hạt nhân quả thật là quá nguy hiểm, những hậu quả của một tai nạn hạt nhân quá to lớn không thể chấp nhận được. “Không thể nào bảo đảm an toàn một cách tuyệt đối hoàn toàn để quyết đoán chắc là ngăn ngừa nguy cơ sụp đổ của cả nước”. Ông Kan tuyên bố “ kinh nghiệm với thảm họa hạt nhân đã làm cho tôi tin chắc rằng cách thức tốt nhất để làm cho nhà máy điện hạt nhân an toàn là đừng lệ thuộc vào nó, mà hãy vứt bỏ nó đi”. Tuy nhiên, ông Noda dường như đã không chú ý đến các cảnh báo. Vài giờ sau đó, Thủ tướng chỉ ra rằng ông có thể sớm đưa ra quyết định khởi động lại nhà máy hạt nhân Oi ở phía tây Nhật Bản, ông hy vọng đó sẽ là bước đầu tiên hướng tới việc  vận hành lại các nhà máy đang tạm dừng hoạt động của Nhật Bản. M.F. Nguyễn Thế Hùng, Nguyễn Xuân Diện, Nguyễn Hùng lược dịch từ The New York Times Nguồn: boxitvn.blogspot.de
......

Bản Lên Tiếng Các Chức sắc Tôn giáo Việt Nam

Về Pháp lệnh tôn giáo năm 2004 và Nghị định áp dụng Pháp lệnh năm 2012 Kính gởi: - Quý Hữu trách trong Chính phủ và Quốc hội Việt Nam - Quý Chức sắc, tu sĩ và tín đồ Cao Đài, Công giáo, Phật giáo, Phật giáo Hòa Hảo và Tin Lành. - Quý Nhân sĩ và Đồng bào Việt Nam - Quý Chính phủ dân chủ khắp thế giới - Quý Hội đồng nhân quyền Liên Hiệp Quốc và Quý Tổ chức nhân quyền quốc tế. - Quý Cơ quan truyền thông quốc tế và quốc nội. Các Chức Sắc Tôn Giáo Việt Nam:           1- Xét rằng: Do thấm nhuần chủ nghĩa duy vật vô thần Các Mác (cho rằng tôn giáo là thuốc phiện mê hoặc nhân dân, nguy hiểm cho xã hội) và do chủ trương quyền lực toàn trị độc tài (không để bất cứ thực thể nào trong xã hội vượt thoát sự kiểm soát của mình và không để bất cứ quy tắc luật lệ nào đứng trên quy tắc luật lệ của mình), đảng và chế độ Cộng sản luôn coi tôn giáo -các lực lượng tinh thần- là kẻ thù, kẻ thù số một, cần phải tiêu diệt. Để thực hiện việc này, nhà cầm quyền CS dùng bạo lực vũ khí và bạo lực hành chánh. Hai biện pháp này luôn phối hợp với nhau cũng như tăng giảm tùy lúc, tùy nơi và tùy người. Bạo lực hành chánh hiện thời được thể hiện qua Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo số 21 do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 18-06-2004 và Nghị định áp dụng Pháp lệnh số 92 (cập nhật Nghị định số 22 năm 2005) do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ban hành ngày 09-11-2012. 2- Xét rằng: Rút kinh nghiệm áp dụng Sắc lệnh tôn giáo số 234 (ngày 14-06-1955) của ông Hồ Chí Minh, Nghị quyết tôn giáo số 297 (ngày 11-11-1997) của ông Phạm Văn Đồng và Nghị định số 22 (ngày 01-03-2005) của ông Phan Văn Khải, Pháp lệnh 21 và Nghị định 92 trở nên tinh vi hơn và siết chặt hơn trong việc kiểm soát các giáo hội. Cụ thể, cả hai văn kiện pháp lý này muốn khống chế, kềm tỏa 5 phương diện hay 5 yếu tố của tôn giáo là quy chế pháp lý, nhân sự, hoạt động, tài sản và quan hệ quốc tế.           a- Về quy chế pháp lý, cho đến nay nhà cầm quyền CS không cho tôn giáo lẫn tổ chức thuộc tôn giáo chính truyền nào được có tư cách pháp nhân như mọi tổ chức xã hội - chính trị khác tại VN (trong cả hai văn kiện chẳng hề thấy một chữ "pháp nhân" nào). Điều này gây rất nhiều khó khăn về pháp lý cho các Giáo hội và các tổ chức của Giáo hội trong các giao dịch dân sự (mua bán, mở tài khoản ở ngân hàng). Đất đai, nhà cửa, tiền bạc mà các tôn giáo và tổ chức tôn giáo đang sở hữu và sử dụng phải đứng tên một cá nhân và điều này dẫn đến nguy cơ bị chiếm đoạt (bởi nhà nước hay bởi một người liên hệ), vì trên danh nghĩa các tài sản này chỉ là của cá nhân chứ không phải của tập thể. Những hoạt động xã hội của các chức sắc do đó cũng bị loại trừ hay giới hạn.           Không công nhận tư cách pháp nhân, nhà cầm quyền chỉ cho các tôn giáo và các tổ chức thuộc tôn giáo được đăng ký, nghĩa là xin công nhận để được hoạt động với những điều kiện rất khắt khe (Đ. 5-8 NĐ 92). Và sự xuất hiện chính danh lẫn tồn tại hợp pháp của một tôn giáo hoàn toàn nằm trong tay nhà cầm quyền vô thần. Hiện thời, nhiều Giáo hội như Phật giáo VN Thống nhất, Phật giáo Hòa Hảo Thuần túy, Cao Đài Bảo thủ Chơn truyền và nhiều Hệ phái Tin lành như Mennonite hoặc Lutheran VN bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, do đó bị bách hại dữ dội. Trong lúc đó, nhà cầm quyền lại nặn ra nhiều giáo hội quốc doanh hoặc tổ chức quốc doanh để thay thế hay lũng đoạn các Giáo hội chính truyền hòng lừa gạt nhân dân và quốc tế, dùng đạo chống lại đạo.           b- Về nhân sự (tín đồ, tu sĩ, chức sắc). Trước hết, mọi ai có đạo đều phải ghi rõ tôn giáo trong Chứng minh nhân dân (các nước trên thế giới không có lệ này). Điều này đã và đang gây ra lắm kỳ thị. Rồi không một tín đồ của đạo nào được giữ những chức vụ lãnh đạo trong bộ máy Nhà nước, công an, quân đội, học đường, công ty xí nghiệp quốc doanh... Rõ ràng người có đạo là công dân hạng hai. Việc này đi ngược với Điều 29 Dự thảo sửa đổi HP.          Về tu sĩ, PL đ. 21 đòi buộc người phụ trách tu viện khi nhận người vào tu có trách nhiệm đăng ký với Uỷ ban nhân dân cấp xã, và NĐ 92 đ. 13 còn buộc chờ cơ quan nhà nước có thẩm quyền trả lời chấp thuận. Nghĩa là nhà cầm quyền có quyền từ chối cho một người vào tu hay từ chối cho một dòng tu hoạt động.           Về chức sắc (x. PL đ. 3-10), NĐ 92 đ. 19 nói rõ: "Tổ chức tôn giáo [tức Giáo hội] thực hiện việc phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử các chức danh này có trách nhiệm gửi bản đăng ký [tức xin phép] đến cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo". Nghĩa là việc bổ nhiệm các chức sắc từ lớn tới nhỏ đều bị nhà nước mọi cấp xen vào, cốt chọn cho được người họ hoàn toàn ưng ý hay người họ không phải lo ngại.           Trước đó, khi được đào tạo thành chức sắc trong các học viện, học viên buộc phải học về lịch sử và pháp luật VN như các môn chính khoá (PL đ. 24. NĐ 92 đ. 14-2). Thực ra đấy là học về chủ nghĩa, chế độ và đảng CS, do chính giáo sư nhà nước dạy. Đây là hình thức nhồi sọ những ứng viên chức sắc để sau này họ trở thành những lãnh đạo tinh thần ngoan ngoãn với chế độ và dễ thỏa hiệp với nhà cầm quyền.           c- Về hoạt động của tôn giáo, PL (từ điều 17 đến điều 35) phân ra 14 loại. Theo NĐ 92 từ đ. 5 đến đ. 41, tất cả các loại hoạt động này đều phải đăng ký (nghĩa là xin phép) và phải chờ nhà nước chấp thuận mới được làm. Nghĩa là người dân buộc phải xin phép nhưng nhà nước không buộc phải cho phép. Việc cho phép hay không tùy vào nhiều điều kiện, nhất là tùy thái độ “chính trị” của cá nhân hay cộng đoàn làm đơn xin phép… Trong PL 21 và NĐ 92, người ta thấy từ “đăng ký” được sử dụng 18 và 74 lần, từ “quy định” được sử dụng 37 và 69 lần, từ “quy định của pháp luật” được sử dụng 14 và 9 lần, từ “không chấp thuận phải nêu rõ lý do” 18 lần (trong NĐ).           Nếu tóm tắt các hoạt động trên thành 2 loại: 1- Các hoạt động thuần túy tôn giáo và nội bộ của Giáo hội; 2- Các hoạt động của Giáo hội liên quan đến xã hội, thì từ 1975 đến nay, đã có vô số vi phạm của nhà cầm quyền đối với các hoạt động đó. Và chính vì tiến hành nhiều sinh hoạt quan trọng và cần thiết cho đạo mà nhiều chức sắc, tu sĩ, tín đồ thuộc mọi tôn giáo đã bị hăm dọa, sách nhiễu, hành hung, quản chế hay cầm tù. Đó là chưa kể nhiều người còn bị như thế chỉ vì đấu tranh cho tự do, nhân quyền, dân chủ.           Ngoài các hoạt động phải xin phép trên đây, còn có những hoạt động thuộc quyền con người và quyền công dân mà các Giáo hội bị cấm đoán. Chẳng hạn không được quyền có nhà xuất bản riêng, đài phát thanh phát hình riêng, trang mạng internet riêng, hay có giờ phát thanh phát hình trên các phương tiện truyền thông của nhà nước (xây dựng do tiền đóng thuế của nhân dân, trong đó có tín đồ), và như thế là không được truyền bá giáo lý cách công khai cho mọi người để góp phân canh tân xã hội. Rồi không được quyền tham gia vào việc giáo dục giới trẻ từ cấp tiểu học đến đại học với trường sở và chuyên viên của riêng mình, dưới sự điều hành của chính mình, không được quyền tham gia vào việc cứu tế xã hội bằng cách thành lập và điều hành từ viện cô nhi đến viện dưỡng lão, từ bệnh xá đến bệnh viện.           d- Về tài sản, PL đ. 26 nói: "Tài sản hợp pháp thuộc cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ, nghiêm cấm việc xâm phạm tài sản đó". Thế nhưng, từ trong Hiến pháp, đã có chủ trương đất đai do nhà nước làm chủ sở hữu, rồi trong nhiều văn bản pháp luật, lại có những quy định vô lý liên quan đến tài sản của các Giáo hội. Như ngày 31-12-2008, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ra Chỉ thị số 1940 về nhà, đất liên quan đến tôn giáo, hạ lệnh cho các địa phương nuốt trọn mọi tài sản của các tôn giáo mà đảng CS đã cướp đoạt từ nhiều thập niên trước dưới chiêu bài "quản lý nhà đất và cải tạo xã hội chủ nghĩa". Trong thực tế, từ 1954 tới nay, vô vàn vô số tài sản (điện thờ, đất đai, cơ sở, thậm chí vàng bạc...) của các tôn giáo đã bị nhà cầm quyền CS tước đoạt. Ngoài ra, để khống chế sự phát triển của tôn giáo, nhà cầm quyền không cho phép các Giáo hội trực tiếp mua hoặc nhận biếu tặng đất đai hay cơ sở.           e- Về quan hệ quốc tế của tổ chức tôn giáo, tín đồ, tu sĩ, chức sắc thì được đề cập trong PL 21 Điều 34-37 và NĐ 92 Điều 37-41. Cũng lại chuyện tất cả đều phải xin phép và nhưng nhà cầm quyền không buộc phải cho phép. Ví dụ việc Tòa thánh Vatican phong chức giám mục cho một số linh mục Công giáo VN thì phải được sự ưng thuận của Hà Nội mà nhiều khi rất gian nan và GH không thể chọn được người vừa ý. Ngoài ra, mọi chức sắc được phép ra nước ngoài (du lịch, du học hay du khảo) đều phải gặp công an tôn giáo trước khi đi để nghe bảo ban mọi chuyện “nên làm” và “không nên làm” ở hải ngoại (như cấm gặp gỡ cá nhân hay tổ chức nào đó, cấm tuyên truyền nói xấu nhà nước và chế độ...) Từ ngày mở cửa biên giới, cho phép công dân ra ngoại quốc, nhà cầm quyền đã kiểm soát mối liên lạc của các Giáo hội với nước ngoài có khi rất trắng trợn. Nhiều chức sắc “có vấn đề với chế độ” (như đã đấu tranh cho tự do tôn giáo hay dân chủ nhân quyền) thì bị gây nhiều khó dễ hay thậm chí bị cản trở xuất ngoại (hoặc ngược lại đi vào trong nước nếu đang ở nước ngoài). Nhiều nhóm thiện nguyện từ hải ngoại cũng bị cấm cản vào phục vụ tại một địa phương mà chức sắc tôn giáo coi sóc nơi đó đang bị ghi vào sổ đen. Nhà cầm quyền còn tìm cách cho tay chân len lỏi vào các cộng đoàn tôn giáo người Việt ở hải ngoại để lũng đoạn ngõ hầu họ chống lại đồng đạo mình ở quê hương. Đặc biệt nhà cầm quyền đã nhiều lần yêu cầu Tòa thánh Vatican có biện pháp với những chức sắc hoặc cộng đoàn Công giáo VN bị cho là “chống đối chế độ” trong lúc họ thực sự bênh vực công lý nhân quyền hay đòi hỏi quyền tự do tôn giáo.          Từ những phân tích trên, Các Chức sắc Tôn giáo Việt Nam tuyên bố: 1- PL 21 và NĐ 92 là những phương tiện pháp lý mà nhà cầm quyền Cộng sản thay vì dùng phục vụ quyền tự do tôn giáo của công dân như HP 1992 quy định, lại sử dụng để - duy trì cơ chế Xin-Cho đối với tôn giáo (một cơ chế mà họ đã bỏ trong nhiều lãnh vực khác) ngõ hầu tôn giáo luôn lệ thuộc chặt chẽ vào chế độ. - biến các Giáo hội và các tổ chức trong Giáo hội hoặc thành công cụ phục vụ tận tình chế độ hoặc thành kẻ phải nín câm trước những vấn đề của đất nước và xã hội ngõ hầu được yên thân. - ngăn cản các Giáo hội và các tổ chức trong Giáo hội trở thành những xã hội dân sự đúng nghĩa (độc lập với nhà cầm quyền) vốn là nhu cầu ngày càng cấp thiết tại VN, để xây dựng một quốc gia dân chủ. 2- Các tôn giáo tự bản chất là những xã hội dân sự và mọi tín hữu đều là những công dân bình đẳng. Họ có những quyền và nghĩa vụ như mọi xã hội dân sự và mọi công dân khác. Những quyền và nghĩa vụ này -trên nguyên tắc- được xác định trong Hiến pháp và các bản văn dưới luật hình thành theo tinh thần tự do dân chủ, phù hợp với các Công ước quốc tế về nhân quyền. Thành ra không thể có và không được có những luật riêng cho tôn giáo. Như thế là đàn áp và kỳ thị! Chúng tôi thấy mình không có bổn phận chấp hành những luật lệ như thế 3- Tự do tôn giáo không hệ tại ở việc được xây dựng các nơi thờ tự to lớn nguy nga, tổ chức các lễ hội hoành tráng đông đảo, chức sắc tu sĩ tín đồ được xuất ngoại dễ dàng thoải mái (thật ra điều này chỉ đúng với những nơi và những người không “có vấn đề” với chế độ). Tự do tôn giáo hệ tại việc các Giáo hội và tổ chức Giáo hội phải được công nhận (chứ không cấp ban) tư cách pháp nhân một khi họ đã đăng ký (không theo nghĩa xin phép); phải được tự do trong sinh hoạt và độc lập trong tổ chức; phải được truyền bá giáo lý trong và ngoài nơi thờ tự, trong và ngoài cộng đoàn tôn giáo, ra xã hội và trên mọi phương tiện truyền thông (sách, báo, đài); phải được tham gia vào việc giáo dục giới trẻ ở mọi cấp học; phải được tổ chức đầy đủ các hoạt động cứu tế xã hội; phải được tham gia đầy đủ (qua các tín đồ) vào việc quản lý điều hành đất nước. 4- Nhà cầm quyền VN -cách lập tức và vô điều kiện- phải thả mọi chức sắc, tu sĩ, tín đồ đang bị cầm tù vì đã đấu tranh cho tự do tôn giáo hay dân chủ nhân quyền; phải trả lại mọi tài sản tinh thần là tự do và độc lập cho mọi tôn giáo; phải trả lại mọi tài sản vật chất là đất đai, cơ sở cho mọi Giáo hội. Để mọi Giáo hội có thể góp phần vào việc canh tân đất nước và phục vụ Đồng bào. Làm tại VN ngày 04 tháng 10 năm 2013 Các Chức sắc đồng ký tên Đồng ký tên - Cụ Lê Quang Liêm, Hội trưởng PGHH (đt: 0199.243.2593) - Hòa thượng Thích Không Tánh, Phật giáo (đt: 0165.6789.881) - Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi, Công giáo (đt: 0984.236.371) - Linh mục Giuse Đinh Hữu Thoại, Công giáo (đt: 0935.569.205) - Linh mục Antôn Lê Ngọc Thanh, Công giáo (đt: 0993.598.820) - Chánh trị sự Hứa Phi, Cao Đài giáo (đt: 0163.3273.240) - Chánh trị sự Nguyễn Kim Lân, Cao Đài giáo (đt: 0988.971.117) - Chánh trị sự Nguyễn Bạch Phụng, Cao Đài giáo (đt: 0988.477.719) - Mục sư Nguyễn Hoàng Hoa, Tin Lành (đt: 0949.275.827) - Mục sư Hồ Hữu Hoàng, Tin Lành (đt: 0902.761.057) - Mục sư Nguyễn Mạnh Hùng, Tin Lành (đt: 0906.342.908) - Ông Phan Tấn Hòa, PGHH (đt: 0162.630.1082) - Mục sư Lê Quang Du, Tin Lành (đt: 0121.2002.001) - Ông Trần Nguyên Hưởn, PGHH (đt: 0167.341.0139) - Mục sư Nguyễn Trung Tôn, Tin Lành (đt: 0162.838. 7716)
......

Mặt trái của mô hình kinh tế Đức

Trong khu vực đồng tiền chung châu Âu, kinh tế Đức được coi là một tấm gương sáng để noi theo. « Phép lạ » kinh tế của Đức làm mê hoặc các đối tác châu Âu của Berlin. Vào lúc cả châu Âu đang lao đao vì tác động của khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Hy Lạp, nước Đức của thủ tướng Merkel vẫn tăng trưởng ở số dương –dù không cao lắm, và là một trong những quốc gia châu Âu có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất. Uy tín của Berlin lớn đến nỗi các nhà tài trợ quốc tế đều sẵn sàng cho Đức vay tín dụng với lãi suất thấp. Một người vô gia cư tại Đức bới thùng rác trên quảng trường Alexanderplatz tại Berlin. REUTERS/Thomas Peter/files Từ năm 2011 tới nay, trong hầu hết các cuộc tuyển cử tại châu Âu, từ Pháp đến Ý, từ Tây Ban Nha đến Bồ Đào Nha, các chính quyền mãn nhiệm đều bị cử tri trừng phạt vì không đủ sức vực dậy kinh tế trong cơn khủng hoảng. Riêng tại Đức, thì sau hai nhiệm kỳ thủ tướng, bà Angela Merkel lại được người dân tin tưởng để tiếp tục điều hành đất nước thêm một nhiệm kỳ ba. Những thành tựu kinh tế gần đây của Đức củng cố vị thế của bà thủ tướng Đức đầu tiên, cả trên sân khấu quốc tế lẫn trên bàn cờ chính trị của nước Đức. Không ai có thể phủ nhận những thành tựu kinh tế của chính quyền Merkel khi mà vào năm 2012, thâm hụt ngân sách của Pháp tương đương với 4,8 % GDP thì tại Đức chính phủ lại thu nhiều hơn chi : thặng dư ngân sách của chính quyền liên bang tương đương với 0,2 % tổng sản phẩm nội địa của quốc gia này. Nhìn đến một chỉ số khác là tỷ lệ nợ công so với GDP : nợ công của Pháp đã lên đến 90,8 %, của Đức là 83 %, tức là thấp hơn nhiều so với trung bình trong khối euro (90,2%).                              Bà Angela Merkel Thủ Tướng CHLB Đức Trong lúc Pháp bối rối vì các dự báo cho thấy tỷ lệ tăng trưởng gần như ở số không, thì kinh tế Đức sẽ tăng khoảng từ 0,5 đến 0,7 % trong năm 2013. Trên thị trượng lao động, tỷ lệ thất nghiệp trung bình trong khu vực đồng tiền chung châu Âu là 11,7 %. Tại Đức, chỉ có 6,8 % người trong tuổi lao động không có việc làm. Chỉ nội một điểm này cũng đủ biến nước Đức của thủ tướng Merkel thành « thiên đường » trong mắt người lao động, đặc biệt là tại những quốc gia có tỷ lệ thất nghiệp lên tới 27 % như Hy Lạp hay Tây Ban Nha.                                             Phép màu kinh tế của Đức do đâu mà có ? Đâu là những bí quyết thành công của Berlin và đâu là những giới hạn của mô hình kinh tế Đức ? Lợi thế của nước Đức Trong quá trình thống nhất đất nước, các chính phủ Đức liên tiếp đã phải mạnh dạn tiến hành cải tổ trong suốt gần 20 năm, đặc biệt là kể từ năm 2000 thủ tướng Gerhard Schroeder đã cải tổ sâu rộng thị trường lao động của Đức, xét lại toàn bộ chính sách lương bổng và hệ thống bảo hiểm xã hội. Trả lời đài RFI Pháp ngữ, nhà báo Marc Vignaud đặc trách về các hồ sơ kinh tế của tạp chí Le Point nêu lên một vài điểm son trong mô hình kinh tế của Đức, và không quên nhắc đến công lao cựu thủ tướng Schroeder : Ông Gerhard Schröder cựu Thủ Tướng CHLB Đức " Mô hình phát triển kinh tế của Đức có nhiều nét tiêu biểu. Trước hết vào khoảng năm 2000, kinh tế Đức đã tìm cho mình một vị trí riêng biệt trên bàn cơ thương mại quốc tế. Nhờ vậy mà ngành xuất khẩu của Đức đi lên. Bên cạnh đó còn phải kể đến công lao thủ tướng Schroeder. Ông là người đã cởi trói cho thị trường lao động của Đức. Chính sách tự do hóa thị trường lao động đó đã cho phép những người không cần có tay nghề cao vẫn có thể dễ dàng tìm việc làm, đặc biệt là trong lĩnh vực dịch vụ, cho dù họ không được trả lương cao. Vào năm 2005, Đức có 4,9 triệu người thất nghiệp. Đến cuối năm 2012, số đó giảm xuống còn 2,3 triệu. Tỷ lệ thất nghiệp ở Đức hiện vào khoảng 6 % trong khi chỉ số đó tại Pháp vẫn là gần 11 %." Bên cạnh chủ trương mạnh dạn cải tổ của Berlin, phải nêu lên ba yếu tố khác để giải thích về phép màu kinh tế của Đức trong hơn một chục năm qua. Thứ nhất, trong 15 năm trở lại đây, dân số Đức không hề tăng mà còn có khuynh hướng giảm sút- giảm đi 400 ngàn trong thời gian từ 2000 đến 2010. Đức lại không hề bị tác động của hiện tượng bong bóng địa ốc. Hai yếu tố đó cộng lại, khiến các nguồn tiết kiệm của Đức chủ yếu được dùng để đầu tư vào sản xuất, vào các doanh nghiệp thay vì đầu tư vào giáo dục hay nhà ở. Nét tiêu biểu thứ nhì là về cơ cấu thì từ đầu những năm 2000, nền công nghiệp của Đức đã chọn cho mình một hướng đi riêng, chủ yếu là để đáp ứng nhu cầu của các nền kinh tế đang trỗi dậy (xe hơi, xe tải, máy cày, máy móc sản xuất …). Vì vậy Đức vẫn là nhà xuất khẩu lớn thứ 3 trên thế giới. Lợi thế thứ ba là ngành ngân hàng Đức tương đối được coi là « mở rộng », các chi phí ngân hàng cũng như lãi suất tín dụng trung bình thấp hơn so với ở những nơi khác trong khối euro. Đó là động cơ khuyến khích các doanh nghiệp vay vốn đầu tư. Bên cạnh ba lợi thế cơ bản đó, kinh tế Đức trong thập niên vừa qua đã gặp nhiều may mắn. Vào năm 2004 khi mà Liên Hiệp Châu Âu mở rộng cửa đến các nước Đông Âu cũ thì Đức đã lợi dụng thời cơ mua lại nhiều cơ sở công nghiệp của các nước cộng sản cũ với giá rẻ, qua đó củng cố thêm mạng lưới công nghiệp quốc gia. Thế rồi cơ may thứ nhì lại mở ra khi vào năm 2009 khi mà thế giới đang chao đảo dưới tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu và của khu vực đồng euro, thì Đức được coi là một thành trì kiên cố, là một trong những địa điểm đầu tư an toàn nhất hành tinh. Tư bản của thế giới đang được ký gửi ở các ngân hàng nam Âu, đổ về nước Đức. Lãi suất ngân hàng của Đức nhờ vậy được đẩy xuống mức thấp chưa từng thấy. Điều này khiến các doanh nghiệp của Đức dễ dàng đi vay để đầu tư và nâng cao năng suất. Hàng « made in Germany » vốn đã tốt lại càng có khả năng cạnh tranh cao. Đó cũng là lý do vì sao cho dù đồng euro có tăng giá so với đô la, ngành xuất khẩu của Đức vẫn không bị khuynh đảo. Thách thức của thành công Nhưng mô hình kinh tế Đức bắt đầu bị đặt trước nhiều thử thách. Đành rằng chủ trương cởi trói thị trường lao động, do cựu thủ tướng Schroeder khởi xướng hơn một chục năm trước đây đã giúp cho các doanh nghiệp không bị bó buộc về khối lượng giờ làm việc hay về mức lương cố định. Giới chủ không bắt buộc phải đóng bảo hiểm xã hội cho nhân viên, đồng thời họ được quyền dễ dàng tuyển dụng hoặc sa thải nhân viên tùy theo tình hình thời cuộc. Đây là một lợi thế không nhỏ khi biết rằng 80 % các doanh nghiệp Đức là những cơ sở tư nhân cỡ vừa và nhỏ. Chính nhờ vậy mà tỷ lệ thất nghiệp của Đức luôn được coi là thấp vào bậc nhất tại châu Âu. Nhưng cái giả phải trả của phép màu kinh tế đó là tại nền kinh tế số 1 châu Âu này, lại có tới 20 % dân số Đức trong cảnh bị coi là « bấp bênh ». Hơn 6 triệu người lao động đi làm với đồng lương chỉ bằng 75 % so với mức lương tối thiểu của Pháp. Tại Đức hiện không có mức lương tối thiểu. Từ năm 2000 đến 2010, lương trung bình tại Đức chỉ tăng 1 %. Nhưng khi nhìn đến thu nhập thực sự của người lao động Đức, tức là sau khi họ phải đóng thuế thì lương của những tầng lớp có thu nhập thấp nhất, chẳng những đã không tăng mà lại còn bị giảm đi từ 16 đến 22 % trong cùng thời kỳ. Cuộc chạy đua để nâng cao năng suất và lợi nhuận của các doanh nghiệp đã khiến xã hội Đức trở nên bất công hơn. Về điểm này, tổng biên tập tạp chí kinh tế Alternatives économiques , Guillaume Duval một chuyên gia nghiên cứu về kinh tế Đức, phân tích thêm về mặt trái của chính sách cởi trói thị trường lao động của cựu thủ tướng Schroeder, đồng thời ông điều chỉnh lại một vài thông tin sai lạc về cái được gọi là thành tựu của Đức trong công cuộc đẩy lui thất nghiệp : « Trên thực tế, khi ông Schroeder lên cầm quyền, Đức có tỷ lệ nghèo khó và bất công xã hội thấp hơn so với Pháp. Ngày nay hai chỉ số đó ở Đức tương đương với tình hình ở Pháp. Cựu thủ tướng Schroeder được giới chủ hoan nghênh, nhưng chính sách của ông cũng đẩy không ít người lao động vào hoàn cảnh bấp bênh. Một phần lớn giới làm công ăn lương không được hưởng các điều khoản an sinh xã hội. Hiện có khoảng 6 triệu người lao động ở Đức đi làm với đồng lương chưa đầy 6 euro/giờ. Dư luận Đức chán ngán với chính sách lương bổng tồi tệ đó và họ bắt đầu đòi chính phủ phải quy định để bảo đảm cho người dân một mức thu nhập tương đối đủ sống và có thể chấp nhận được. Ngoài ra dưới nhiệm kỳ của ông Schroeder, nợ công của Đức cũng đã tăng vọt. Tuy nhiên sở dĩ kinh tế Đức đứng vững trong gần 10 năm qua, và đặc biệt là kể từ sau khủng hoảng tài chính thế giới và của khu vực đồng tiền chung châu Âu, điều đó có được là nhờ : dân số của Đức không ngừng sụt giảm. Khối lượng người gia nhập thị trường lao động giảm đi, đương nhiên là tỷ lệ thất nghiệp phải được giảm xuống. Đó không có gì là phép lạ cả.   Ngoài ra, chính sách khuyến khích phụ nữ sinh con là một điều tốt cho tương lai, nhưng trong ngắn hạn chính sách đó đòi hỏi nhà nước phải đầu tư vào trường học, nhà trẻ, phải tạo điều kiện cho phụ nữ có con mà vẫn có thể đi làm … tất cả những biện pháp đó đè nặng lên ngân sách của nhà nước. Trong khi Pháp phải chi ra những khoản tốn kém đó, thì Đức không phải làm như vậy. Đó cũng chính là lý do vì sao Đức trả lương giáo sư hơn nhiều so với Pháp nhưng ngân sách của Đức dành cho ngành giáo dục lại thấp hơn đến 1,5 % GDP so với của Pháp. Ngoài ra, do dân số giảm, nhu cầu địa ốc không tăng, từ 15 năm qua, giá nhà đất ở Đức vẫn giậm chân tại chỗ. Đây là một lợi thế không nhỏ. Khi biết rằng, năm 2009, trung bình giá nhà mới xây ở Đức chỉ bằng 1/3 so với ở Pháp. Điều đó có nghĩa là, nhờ không phải chi ra quá nhiều để có được một mái nhà, người Đức dễ dàng chấp nhận đi làm với đồng lương thấp hơn. Đây là một lợi thế rất lớn đối với ngánh ản xuất, xuất khẩu của Đức ». Câu hỏi đặt ra đối với chính quyền Đức là phải lựa chọn giữa hai giải pháp, hoặc là để nạn thất nghiệp tăng hoặc là phải chấp nhận hy sinh, đi làm dù với đồng lương ít ỏi. Đó là một sự chọn lựa về mô hình kinh tế và xã hội. Không thể trả lời mô hình của Pháp hay của Đức tốt hơn. Ngoài ra Đức như tổng biên tập nguyệt san kinh tế Alternatives Economiques, Guillaume Duval vừa nói, Đức còn là một quốc gia nơi mà phụ nữ chỉ có một chỗ đứng rất khiêm tốn trên thị trường lao động. Điều đó là một trong những yếu tố giải thích vì sao tỷ lệ thất nghiệp ở Đức thấp. Chỉ mới chưng 10 năm gần đây phụ nữ bắt đầu đi làm nhiều hơn. Nhưng vấn đề đặt ra là lương họ thấp, công việc lại bấp bênh, và phần lớn những người chấp nhận đi làm không có tay nghề cao. Đức là nơi khác biệt về lương bổng giữa phái nam và nữ được coi là cao nhất tại châu Âu. Khác biệt về khối lượng giờ là việc cũng vậy. Trung bình một phụ nữ Đức làm việc ít hơn một phụ nữ Pháp đến 3 giờ mỗi ngày. Khác biệt đó rất lớn và nó kèm theo nhiều tác động về phương diện kinh tế, xã hội, gia đình … Ngoài ra, tại Đức có những người đi làm nhưng lương tháng lại chưa đầy 450 euro. Số này hầu như không đóng góp vào các quỹ an sinh xã hội và họ cũng không được hưởng trợ cấp y tế, xã hội hay hưu trí. Có khoảng 7 triệu rưỡi người lao động ở Đức trong tình cảnh này. Khắc phục những thiếu sót về phương diện xã hội, sẽ là trọng tâm của các cuộc thương lượng sắp mở ra vào ngày 04/10/2013 giữa đảng bảo thủ Dân chủ Thiên chúa giáo của bà Angela Merkel với đảng Dân chủ Xã hội cấp tiến để thành lập chính phủ liên minh. Tổng biên tập nguyệt san Alternatives Economiques, Guillaume Duval điểm ra một số những ưu tiên của chính phủ Merkel trong nhiệm kỳ sắp tới: « Bà Merkel đã cam kết bảo đảm cho người lao động một mức lương tối thiểu. Chính phủ cũng sẽ có một chính sách ưu đãi hơn dành cho các gia đình, chẳng hạn như xây thêm trường học và nhà trẻ, để tạo điều kiện cho các bà mẹ đi làm, khuyến khích phụ nữ có con. Ngoài ra thì Berlin cũng sẽ đầu tư vào hạ tầng cơ sở vì trong nhiều năm qua, Đức đã giảm chi tiêu công cộng đáng kể. Hạ tầng cơ sở bị xuống cấp. Nói tóm lại trong nhiệm kỳ tới, thủ tướng Merkel sẽ nới lỏng các khoản chi tiêu, và qua đó, kích thích tiêu thụ và đầu tư tại Đức. Một cách gián tiếp thì chính sách này của Berlin sẽ ảnh tạo nên một đà mới cho các đối tác châu Âu. Chắc chắn là không có chuyện Đức giúp đỡ các đối tác yếu kém trong khu vực đồng euro ». Theo thẩm định của Viện nghiên cứu kinh tế Đức, quốc gia này cần đầu tư thêm ít nhất là 7 tỷ euro trong những năm tới để tu chỉnh hệ thống cầu đường. Chính sách tiết kiệm chi tiêu công cộng của Berlin trong những năm qua khiến 20 % hệ thống xa lộ của Đức bị xuống cấp và có tới 40 % các tuyến đường giao thông cần được tu bổ. Nguồn: RFI  
......

Phiên xử phiền phức của Hà Nội

Vụ xử án nhà đối kháng Lê Quốc Quân đạt kết quả chính yếu là tạo ra thêm phản đối. 2 Tháng Mười, 2013 Bây giờ chúng ta hiểu tại sao chế độ cộng sản Việt Nam do dự khá lâu trước khi đem Luật sư đối kháng Lê Quốc Quân ra xét xử hôm thứ Tư. Trong lúc ông Lê bị kết án với cái tội ngụy tạo trốn thuế và bị lãnh án tù giam 30 tháng và bị phạt $57,000 thì bên ngoài toà án Hà Nội hàng trăm người ủng hộ ông tụ tập để phản đối. Những hoạt động của ông Lê được sự đồng tình của quần chúng ngày càng khó chịu với sự giới hạn về tự do ngôn luận của Hà Nội. Tội thật sự của ông Lê là viết blog năm ngoái thách đố quyền lực độc tôn của Đảng Cộng Sản. Ông còn viết blog về nhân quyền và chỉ trích Hà Nội về cách ứng xử với Trung Quốc trong việc tranh chấp lãnh hải. Tội trốn thuế mà Hà Nội đã từng sử dụng với những nhà đối kháng khác nhằm để khuất lấp bản chất chính trị của sự việc. Việc đó không có kết quả. Các nhà làm luật Hoa Kỳ viết thư cho Hà Nội kêu gọi thả ông Lê. Hàng trăm người Việt bất chấp công an để biểu tình trước tòa án xét xử ông Lê trong tuần này cũng hiểu rõ điều chế độ đang làm. Một quan sát viên đánh giá đây là cuộc biểu tình công chúng lớn nhất đối với một vụ xử đối kháng cho đến nay, và diễn ra trong bối cảnh mà Hà Nội ngày càng đàn áp mạnh giới đối kháng. Vụ xử này còn là một điều khó chịu trên diễn đàn quốc tế đối với nhà cầm quyền. Phiên xử ban đầu dự tính là vào tháng Bảy nhưng hoãn lại giờ chót khi Hà Nội thấy quá bẽ bàng nếu kết án ông Lê ngay trước khi chuyến công du của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang qua Washington gặp Tổng Thống Barrack Obama. Trong khoảng thời gian 2006-2007, ông Lê là nghiên cứu sinh của một chương trình về xã hội dân sự do National Endowment for Democracy tổ chức, tài trợ bởi quốc hội Hoa Kỳ. Ông Trương Tấn Sang và Obama sẽ tham dự Hội Nghị Thượng Đỉnh Hợp Tác Kinh Tế Á Châu-Thái Bình Dương ở Bali, Nam Dương vào tuần tới. Khi đụng đầu nhau, có thể ông Obama nên nhắc ông Trương rằng vi phạm nhân quyền là chướng ngại chính cho một mối bang giao tốt hơn. Nếu Hà Nội mặn mòi trong việc hợp tác chặt chẽ với Hoa Kỳ về giao thương và các vấn đề chiến lược trong vùng biển Nam Hải, thả tự do cho ông Lê có lẽ là một bước hữu ích. BBT-WebVT chuyển ngữ Nguồn: WSJ
......

Vietnam: Prozess gegen prominenten Blogger in Hanoi beginnt

In Vietnam hat am Mittwoch der umstrittene Prozess gegen einen prominenten Menschenrechtsanwalt begonnen. Die Staatsanwaltschaft wirft Le Quoc Quan Steuerhinterziehung vor, doch sprechen Menschenrechtler von einer politisch motivierten Anklage. http://www.nzz.ch/aktuell/newsticker/prozess-gegen-prominenten-blogger-i... ****************************************** Vietnam: Prozess gegen Blogger Quan begonnen In Vietnam hat der Prozess gegen einen bekannten Anwalt und Blogger begonnen. In Hanoi gingen hunderte Demonstranten, darunter buddhistische Mönche, auf die Straße, und forderten die Freilassung von Joseph Le Quoc Quan. Die Polizei riegelte das Gerichtsgebäude weiträumig ab. Die Staatsanwaltschaft wirft dem Angeklagten Steuerhinterziehung vor. Menschenrechtler sehen das Verfahren dagegen als politisch motiviert an. Quan hat sich als Katholik immer wieder für Religionsfreiheit und andere Bürgerrechte eingesetzt. http://www.dradio.de/nachrichten/ ****************************************** 1.         Prozess gegen katholischen Anwalt und Blogger in Vietnam | OTZwww.otz.de/.../Prozess-gegen-katholischen-Anwalt-und-Blogger-in-Vietna... vor 6 Stunden - In der vietnamesischen Hauptstadt Hanoi hat ein Prozess gegen einen ... Le Quoc Quan , der seit Dezember 2012 in Untersuchungshaft sitzt, ... 2.         Prozess gegen katholischen Anwalt und Blogger in Vietnam - Yahoo ... de.nachrichten.yahoo.com/prozess-gegen-katholischen-anwalt-blogger-viet... vor 8 Stunden - In der vietnamesischen Hauptstadt Hanoi hat ein Prozess gegen einen ... Le Quoc Quan, der seit Dezember 2012 in Untersuchungshaft sitzt, ... 3.         Prozess gegen katholischen Anwalt und Blogger in Vietnam - Die Zeitwww.zeit.de › News › Oktober 2013 vor 7 Stunden - Vietnam: Prozess gegen katholischen Anwalt und Blogger in Vietnam ... Hanoi (AFP) In der vietnamesischen Hauptstadt Hanoi hat am Mittwoch ... Le Quoc Quan, der seit Dezember 2012 in Untersuchungshaft sitzt, wird der ... 4.         Prozess gegen prominenten Blogger in Hanoi - Wetterauer Zeitungwww.wetterauer-zeitung.de › Nachrichten › Politik vor 5 Stunden - Die Staatsanwaltschaft wirft Le Quoc Quan Steuerhinterziehung vor, ... Prozess gegen einen prominenten Menschenrechtsanwalt begonnen. 5.         Prozess gegen prominenten Blogger in Hanoi - Ruhr Nachrichtenwww.ruhrnachrichten.de/.../Prozess-gegen-prominenten-Blogger-in-Hanoi;... vor 5 Stunden - Die Staatsanwaltschaft wirft Le Quoc Quan Steuerhinterziehung vor, ... Prozess gegen einen prominenten Menschenrechtsanwalt begonnen. 6.         Menschenrechte : Zweieinhalb Jahre Haft für ... - Dülmener Zeitungwww.dzonline.de › Welt › Politik vor 1 Stunde - Le Quoc Quan (41) stand wegen Steuerhinterziehung vor Gericht, ... ... Le Quoc Quan protestieren in Hanoi gegen den umstrittenen Steuerprozess. ... Der Blogger und Menschenrechtsanwalt hat sich für Bürgerrechte, ... 7.         Zweieinhalb Jahre Haft für prominenten Regierungskritiker in ...www.idowa.de/.../zweieinhalb-jahre-haft-fuer-prominenten-regierungskriti... vor 3 Stunden - Le Quoc Quan (41) stand wegen Steuerhinterziehung vor Gericht, aber ... Ich bin ein Opfer politischer Machenschaften", sagte Quan während des eintägigen Prozesses in Hanoi. ... Der Blogger und Menschenrechtsanwalt hat sich für Bürgerrechte, ... Dortmund souverän: 3:0 gegen Marseille • Letta wirbt vor ... 8.         Vietnam: Regime verfolgt Kritiker - Kath.netwww.kath.net/news/42023‎ 11.07.2013 - Hanoi (kath.net/jg) Der Prozess gegen den katholischen Rechtsanwalt und Blogger Le Quoc Quan (Foto) zeigt das harte Vorgehen des ... 9.         Prozess gegen prominenten Blogger in Hanoi | inFranken.dewww.infranken.de/.../Menschenrechte-Vietnam-Prozess-gegen-prominente... vor 5 Stunden - Die Staatsanwaltschaft wirft Le Quoc Quan Steuerhinterziehung vor, ... Prozess gegen einen prominenten Menschenrechtsanwalt begonnen.
......

Tổng hợp phiên tòa gian dối - bất công với 30 tháng tù giam Ls. Lê Quốc Quân

Vì sao luật sư Lê Quốc Quân không nhận ''án treo'' ? Nhà báo Phạm Chí Dũng: "Rõ ràng người ta đang rất lo ngại Lê Quốc Quân có thể trở thành một thủ lĩnh nào đó của phong trào dân chủ, nếu được trả tự do ngay vào thời gian này." Tòa án thành phố Hà Nội hôm nay 02/10/2013 tuyên án 30 tháng tù giam cùng với 1,2 tỉ tiền phạt, truy thu 600 triệu đồng đối với luật sư, nhà đấu tranh nhân quyền Lê Quốc Quân với tội danh « trốn thuế ».   Ngay sau khi bản án được tuyên, nhà báo Phạm Chí Dũng ở Thành phố Hồ Chí Minh đã vui lòng dành cho RFI Việt ngữ một cuộc phỏng vấn. RFI : Thân chào nhà báo Phạm Chí Dũng, rất cảm ơn anh đã dành thì giờ cho RFI Việt ngữ hôm nay. Thưa anh, cảm nhận chung của anh về bản án đối với luật sư Lê Quốc Quân ra sao ? Nhà báo Phạm Chí Dũng : Một cách công bằng, Lê Quốc Quân đáng ra phải được trả tự do. Tôi cho rằng ngay trong nội bộ Bộ Chính trị cũng không hẳn thống nhất về quan điểm mức án. Nhưng cho dù ai đó có yêu cầu “phóng thích” Lê Quốc Quân, phái “lập trường kiên định” vẫn còn tương đối lấn át. Nhưng dù sao, một mức án như thế đối với người con của Giáo hội Công giáo Việt Nam cũng không phải là quá nặng nề, so với tất cả những gì mà ngành tư pháp, công an Hà Nội và giới tuyên giáo đảng từng muốn mặc định về tội danh ở khung hình phạt cao nhất đến 7 năm đối với một thành viên hoạt động nhiệt thành trong Hội đồng Công lý và Hòa bình. Hà Nội hôm nay vang dội lời cầu nguyện từ nhà thờ Thái Hà và rất nhiều giáo xứ ở Việt Nam cho người tuẫn nạn Lê Quốc Quân. Cành thiên tuế xanh đơn sơ mộc mạc trên tay các giáo dân vốn là tình yêu vô điều kiện tiếp nhận từ đấng Thiên Chúa, nhưng vào ngày này, dường như nó cũng toát lên hình tượng ngọn giáo bất tuân đối với quá nhiều chuyện bất công trong xã hội ngày nay. Hình ảnh hiệp thông đồng khắp như thế cũng khiến người ta phải nhớ lại cuộc biểu tình ở Long An vào ngày 16/08/2013 để đòi trả tự do cho nữ sinh áo trắng Phương Uyên. Dù không phải là tín đồ Công giáo nhưng Phương Uyên và gia đình cô đã nhận được mối chia sẻ rất lớn từ giáo hội, đặc biệt là Dòng Chúa cứu thế ở Sài Gòn. Cuộc biểu tình diễn ra trong không khí bị trấn áp khá thô bạo, nhưng thông điệp của nó rốt cuộc đã làm cho nhà cầm quyền không thể bỏ ngoài tai. Nếu Phương Uyên đã được trả tự do ngay tại tòa Long An, thì việc Lê Quốc Quân không phải chịu một mức án quá nặng nề tại Hà Nội cũng không phải là một ngoại lệ, nhưng hoàn toàn không phải một trường hợp được Nhà nước đối xử “khoan hồng”. Rõ ràng người ta đang rất lo ngại Lê Quốc Quân có thể trở thành một thủ lĩnh nào đó của phong trào dân chủ, nếu được trả tự do ngay vào thời gian này. RFI : Trước khi phiên tòa xử Lê Quốc Quân diễn ra, anh đã dự báo nhiều khả năng bản án sẽ “nhẹ”. Dự báo này dựa vào những cơ sở nào? Nhà báo Phạm Chí Dũng: Có một điểm trùng hợp giữa vụ Phương Uyên và vụ Lê Quốc Quân. Đó là thời điểm thông báo về lịch xử án đối với Uyên xảy ra khá gần với thông tin được công bố về chuyến đi của ông Trương Tấn Sang – chủ tịch nước và là nhân vật số hai trong đảng – đến Washington để diện kiến Tổng thống Barak Obama. Khá tương đồng, thời điểm thông báo về lịch xử đối với Lê Quốc Quân cũng xảy ra gần như đồng thời với thông báo về chuyến đi Paris và New York của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Sự trùng hợp này cho thấy điều gì? Phải chăng “án treo” đối với Phương Uyên không phải là một ngoại lệ, và đến lượt “án nhẹ” Lê Quốc Quân cũng như thế? Cả hai vụ xử án này lại đều diễn ra sau hai chuyến công du nước ngoài của các chính khách cao cấp, và hẳn không nằm ngoài thực đơn đối ngoại của Nhà nước ứng với từng hoàn cảnh và “đối tượng” cụ thể. Một chi tiết đáng chú ý nữa là thời điểm vụ xử án Lê Quốc Quân lại diễn ra trùng với thời gian Hội nghị trung ương 8 của Đảng. Cách đây gần ba tháng, đã đột biến xảy ra việc hoãn phiên xử Lê Quốc Quân vào ngày 09/07/2013 với lý do thẩm phán Lê Thị Hợp bị “cảm đột xuất”, lồng trong bối cảnh giáo dân từ Nghệ An và tại Hà Nội dâng cao không khí hiệp thông và đổ về tòa án Hà Nội để mong nguyện tham dự một phiên tòa được coi là “công khai”. Lẽ dĩ nhiên, chẳng một cấp lãnh đạo nào trong Bộ Chính trị lại muốn một lần nữa diễn ra tinh thần hiệp thông mà có thể gây ra “nội loạn” như thế, nhất là khi vụ xung đột Mỹ Yên ở Nghệ An còn chưa nguôi ngoai, làm ảnh hưởng đến không khí “thảo luận nghiêm túc” của cuộc họp được coi là “hội nghị giữa nhiệm kỳ” của đảng đang diễn ra mà có thể liên đới với con đường chính trị của một số chính khách chủ chốt. Do vậy theo lẽ thông thường, lịch xử án Lê Quốc Quân phải được dời lại sau khi Hội nghị trung ương 8 kết thúc. Nhưng vì cả hai sự kiện này cùng diễn ra, người ta có thể đặt câu hỏi là liệu đã xảy ra một tác động nào, đủ lớn và đủ sâu sắc, trong nội bộ hoặc thậm chí từ “các thế lực thù địch”, để chính quyền Hà Nội không thể kéo dài hơn nữa việc hoãn xử Lê Quốc Quân, và do đó bà thẩm phán Lê Thị Hợp cũng mau chóng khỏi bệnh. Câu hỏi này càng có ý nghĩa nếu liên hệ với một hoài nghi khác: chuyến đi Vatican của đoàn Ban Tôn giáo Chính phủ, được dẫn đầu bởi viên trung tướng an ninh chuyển sang làm tôn giáo vận, đã đạt được một thành tích đáng ngạc nhiên là các viên chức Tòa Thánh tỏ ra không mấy quan ngại về vụ Mỹ Yên, thậm chí còn cho rằng nhà nước Việt Nam đã đạt được những tiến bộ về tự do tôn giáo. Sự chuyển biến bất ngờ này cũng khiến giới phân tích không thể không đặt ra câu hỏi là liệu giữa Tòa Thánh Vatican và Nhà nước Việt Nam đã đạt được một vài thỏa thuận không công bố nào đó, liên quan đến chủ đề tự do tôn giáo cho Việt Nam. Câu hỏi này tất nhiên cũng cần được móc xích với điều kiện dân chủ và nhân quyền và giới chức thương mại Hoa Kỳ và chính Tổng thống Obama đang đặt ra đối với Nhà nước Việt Nam, liên quan đến lộ trình tham gia Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương – TPP. Một khi ngay cả Tòa Thánh cũng bày tỏ thái độ “im lặng” trước những gì bị xem là hoàn toàn không yên tĩnh giữa mối quan hệ các tôn giáo với chính quyền ở Việt Nam, thì có lẽ sự lắng tiếng của phái đoàn nhân quyền Cộng đồng châu Âu sau cuộc đối thoại nhân quyền với Hà Nội vào ngày 11/9/2013 cũng có hàm ý không kém. Việc không có bất kỳ thông tin nào được tiết lộ từ cuộc hội đàm này cũng có thể làm người ta nhớ lại tâm thế “xuống giọng” của ông Dan Baer – Phó trợ lý ngoại trưởng Mỹ đặc trách về nhân quyền – sau cuộc đối thoại nhân quyền Việt – Mỹ vào giữa tháng 4/2013, mặc dù trước đó Dan Baer là một trong những nhân vật lên tiếng mạnh mẽ nhất phản đối thái độ và hành xử mang tính đàn áp của nhà cầm quyền Việt Nam đối với giới hoạt động dân chủ và nhân quyền tại quốc gia này. RFI : Trước đó chính quyền đã có những động thái “dân vận” và tuyên truyền xung quanh phiên tòa, anh có đánh giá ra sao về những hành động này? Nhà báo Phạm Chí Dũng: Một trong những động thái đó đến từ thái độ đưa tin và bình luận của báo chí giới đảng – vốn được xem là nhiệt kế cho quan điểm và cách hành xử của nhà nước đối với những trường hợp “quá “nhạy cảm” như Lê Quốc Quân. Một ngày trước khi phiên tòa xử Lê Quốc Quân, Đài truyền hình trung ương và Thông tấn xã Việt Nam cùng phát đi một bản tin với nội dung gần sát nhau, lược tả vụ “trốn thuế” của Quân. Tất nhiên, không khó khăn để đánh giá nội dung bản tin này xuất phát chủ yếu từ cáo trạng của Viện Kiểm sát, và nguồn của Viện Kiểm sát lại đến từ Công an Hà nội. Tuy nhiên, nếu so sánh với thái độ và cách thức đưa tin của một số vụ việc trước đây như vụ xét xử Câu lạc bộ nhà báo tự do, vụ Đinh Nguyên Kha và Phương Uyên, có thể thấy giọng điệu trong bản tin của Thông tấn xã Việt Nam về vụ Lê Quốc Quân đã nhẹ nhàng hơn khá nhiều: không “luận” về tội danh, không định hướng phải “kiên quyết xử lý”, và mặc dù đoạn cuối có nêu về “núp sau nó là các động cơ chính trị rõ ràng nhằm can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, gây phức tạp tình hình để trục lợi”, nhưng cũng không chỉ rõ thế lực xuyên tạc chính trị nào cả. Trong khi đó, ngoài hành lang tòa án lại diễn ra một chiến dịch vận động không tiền khoáng hậu của các tổ chức chính trị - xã hội của nhà nước để làm sao hạn chế đến mức tối thiểu số người muốn tham dự phiên tòa “công khai và minh bạch”. Không khí ngăn trở quá lộ liễu và rất hài hước như thế cũng làm người ta không thể không nhớ lại những cuộc vận động tương tự đã xảy ra vào giữa năm 2011 để ngăn cản người dân đi biểu tình chống Trung Quốc. Vậy sự tương hợp về cách thức ngăn cản này cho thấy cái gì? Ít nhất, nhà cầm quyền đã nhận thức ra một điểm chung giữa hai hành động chống Trung Quốc và vụ Lê Quốc Quân là tính chính danh thuộc về dân chúng chứ không phải của những người xử án. Từ đó có thể thấy, nếu đã buộc phải phần nào chấp nhận các cuộc biểu tình chống Trung Quốc của dân chúng, lẽ nào hành động chính trị của Lê Quốc Quân, trong đó chủ yếu là phản kháng Trung Quốc, lại không được nhà nước “bỏ qua”? RFI : Từ bản án của Lê Quốc Quân, theo anh xu hướng chính trị ở Việt Nam có thể diễn biến như thế nào? Nhà báo Phạm Chí Dũng: Nhìn tổng quan, hiện thời Nhà nước Việt Nam đang nằm trong hệ trục tay ba cùng với người Mỹ và Bắc Kinh. Không chỉ với Phương Uyên, bất kỳ mức án nặng nề nào đối với Lê Quốc Quân đều phơi bày tính phi logic trong mối tương quan với thực đơn chính trị đối ngoại ở Việt Nam trong giai đoạn hết sức “nhạy cảm” hiện thời. Trong hệ trục tay ba đó, một bản án được coi là “nhẹ” đối với Lê Quốc Quân sẽ vẫn giữ phần nào thể diện, hay còn gọi là “sĩ diện”, cho chính thể. Cùng lúc, Bắc Kinh vẫn tạm hài lòng vì dù sao vẫn có án, còn các nhà hoạt động dân chủ và nhân quyền ở nửa kia thế giới cũng có thể tạm thỏa mãn, nhưng chỉ là tạm thôi, với những cố gắng vận động không mệt mỏi trước đó của họ. Còn kết quả cuối cùng thuộc về nội lực. Không thể nói khác hơn, hai cuộc biểu tình ở Long An và tháng 8/2013 và tại Hà Nội vào ngày hôm nay đã chứng thực cho hiệu ứng “trong ra – ngoài vào”: trách nhiệm bảo vệ những thành viên và người thân chính là một hành động cần phải có của hoạt động dân sự và các phong trào dân sự đang khởi phát ở Việt Nam, tạo ra hiệu ứng tác động đối với quốc tế, để đến lượt mình, cộng đồng quốc tế lại có thể làm cho Hà Nội bớt “cảm mạo”, khiến Nhà nước Việt Nam phải xem xét lại những bất công do họ gây ra đối với điều được coi là “tự do tôn giáo” và hàng loạt nhu cầu chính trị - xã hội khác. Thêm một lần nữa hoạt động dân chủ chính trị và tôn giáo ở Việt Nam tiếp nhận được tín hiệu chuyển hóa – chuyển hóa từ ngoài vào và có thể cả từ trong nội bộ Đảng. Tín hiệu đó, dù nhỏ, nhưng cho thấy không chỉ một số nhân vật “tù nhân lương tâm” sẽ có cơ hội dần thoát khỏi bốn bức tường đen đúa trong thời gian tới, mà rất nhiều bức bối xã hội khác như dân oan đất đai, nạn nhân môi trường, nạn nhân bị công an bạo hành… nếu được liên kết, thống nhất và được tổ chức tốt, đều có thể cất lên tiếng nói xứng đáng và đích đáng trong một xã hội dân sự đang hình thành và hướng đến việc phản biện mạnh mẽ đối với một số chính sách, cách điều hành bất hợp lý và bất công của chính thể cầm quyền. Đường còn dài. Dù Lê Quốc Quân chưa được tự do, nhưng ít nhất lộ trình dân chủ ở Việt Nam đang được rút ngắn. RFI : Có những ý kiến so sánh với các vụ án trốn thuế khác, chẳng hạn vụ xử ngày 26/9, tức là chỉ cách đây vài ngày, một « đại gia » ở Bắc Ninh trốn thuế 11 tỉ đồng nhưng chỉ bị tù treo. Theo anh thì bản án vừa rồi có mâu thuẫn với lộ trình dân chủ ở Việt Nam hay không ? Nhà báo Phạm Chí Dũng: Ở Việt Nam luôn luôn có sự mất công bằng như thế. Trong rất nhiều vụ án kinh tế tôi đã nghe, có rất nhiều án treo, và thậm chí có những trường hợp vi phạm, trốn thuế tới mức có thể xử chung thân thậm chí cao hơn nữa, nhưng không biết người ta chạy chọt làm sao, cuối cùng cũng chỉ nhận mức án treo. Nhưng trường hợp Lê Quốc Quân thì lại khác hoàn toàn, nằm ở bản chất có thể nói là vấn đề chính trị của nó. Nếu không vì vấn đề chính trị thì trường hợp Lê Quốc Quân « trốn thuế » rất dễ dàng nhận một bản án – tôi không nghĩ là án treo nữa, mà có thể thậm chí là tại ngoại ngay. Nhưng trường hợp chính trị thì lại khác, và trước đó tôi đã nghe những thông tin thực ra vấn đề của Lê Quốc Quân có thể lên tới 5 năm. Năm năm tù giam chứ không phải là ít. Còn trong trường hợp này thì Viện Kiểm sát đề nghị từ 24 tới 30 tháng tù giam. Đề nghị này làm tôi nhớ đến vụ xử sơ thẩm Đoàn Văn Vươn tháng 4/2013, thì trước đó cũng có những thông tin là với tội danh chống thi hành công vụ và có vũ khí như vậy là tội trạng rất nguy hiểm, án có thể lên tới từ 15- 20 năm. Rất nặng ! Thậm chí có thể cao hơn – chung thân hoặc tử hình. Nhưng sau đó dưới áp lực mạnh mẽ của dư luận và cả cộng đồng quốc tế nữa, thì mức án của anh Vươn đã giảm xuống chỉ còn có 5 năm thôi. Nhiều người không hài lòng, cho điều đó là bất công đối với Đoàn Văn Vươn. Nhưng theo tôi thì chúng ta đang sống ở Việt Nam, và Việt Nam đang có nhiều bất công. Ở đây đòi hỏi một sự công bằng là điều quá xa xỉ. Do vậy, đối với những trường hợp như Đoàn Văn Vươn, chỉ về đất đai mà lãnh án 5 năm, còn trường hợp Lê Quốc Quân thiên về chính trị, có màu sắc chính trị, mà nhận mức án như thế, theo tôi là trong hoàn cảnh này có thể tạm chấp nhận được. Vì đường còn dài, và trước mắt vẫn còn phiên tòa phúc thẩm. Chúng ta hãy nhớ lại, trong phiên tòa sơ thẩm xử Nguyễn Phương Uyên đã bị xử 6 năm. Cay đắng ! Không thể tin nổi có một mức án như thế. Nhưng đến phiên phúc thẩm thì gần như trắng án và được trả tự do ngay tại tòa. Cho nên chúng ta cũng nên nhìn vào đó để hy vọng cho trường hợp Lê Quốc Quân - có nghĩa là công bằng sẽ được lặp lại. Nhưng công bằng chỉ được lặp lại với điều kiện đấu tranh của không chỉ những người Công giáo, và cả cộng đồng nhân dân chung quanh nữa. RFI : Xin chân thành cảm ơn nhà báo Phạm Chí Dũng. ******************************** Hình ảnh cả ngàn người đi tham dự phiên tòa. PHẢN ỨNG THẾ GIỚI VỀ BẢN ÁN LÊ QUỐC QUÂN Đại sứ quán Hoa Kỳ cùng với các tổ chức quốc tế đi đầu trong vấn đề nhân quyền phản ứng lập tức về bản án phi lý mà Tòa Án Nhân Tp. Hà Nội dành cho Ls. Lê Quốc Quân trong phiên xử sáng nay: 30 tháng tù và phạt 1,2 tỉ đồng. ĐẠI SỨ QUÁN HOA KỲ TẠI HÀ NỘI ra thông cáo bày tỏ quan ngại. "Chúng tôi quan ngại sâu sắc về việc chính phủ Việt Nam kết tội và tuyên án 30 tháng tù về tội trốn thuế đối với luật sư nhân quyền và blogger Lê Quốc Quân. Việc chính quyền Việt Nam sử dụng các điều luật thuế để bỏ tù những người chỉ trích chính phủ hoặc bày tỏ quan điểm chính trị của họ một cách ôn hòa là điều đáng lo ngại. Việc kết án này dường như không phù hợp với quyền tự do ngôn luận và những nghĩa vụ của Việt Nam theo Công ước Quốc tế về Các Quyền Dân sự và Chính trị cũng như các cam kết thể hiện trong Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế. "Chúng tôi kêu gọi chính phủ hãy thả các tù nhân lương tâm và cho phép mọi người Việt Nam bày tỏ quan điểm chính trị của họ một cách ôn hòa." ************************* TỔ CHỨC ÂN XÁ QUỐC TẾ, tổ chức nhân quyền đặt ở London: - “Đây là bản án lố bịch, và lại là một ví dụ rõ rệt cho thấy giới chức Việt Nam quấy rối và bỏ tù những người chỉ trích hòa bình có quan điểm khác.” “Rất khó để không kết luận rằng Lê Quốc Quân bị nhắm tới vì hoạt động nhân quyền – như nhiều lần trước đây.” ************************* TỔ CHỨC HUMAN RIGHTS WATCH: “Bằng cách bỏ tù Lê Quốc Quân với cáo buộc có động cơ chính trị, Việt Nam một lần nữa chứng tỏ đặt ưu tiên cho việc bịt miệng những nhân vật nổi bật cổ vũ nhân quyền và chính trị. Đây là dấu đen cho hồ sơ nhân quyền Việt Nam và cho thấy chính phủ trắng trợn bỏ qua các ràng buộc nhân quyền. Những nhà tài trợ cần công khai lên án sự bất công này, đòi thả Lê Quốc Quân và nói rõ rằng việc Việt Nam không tôn trọng nhân quyền sẽ có hại cho việc ứng cử Hội đồng Nhân quyền LHQ tháng 11 này." Nguồn: BBC *********************************** TCBC của Đảng Việt Tân về bản án 30 tháng tù giam cho Ls Lê Quốc Quân VIỆT NAM CANH TÂN CÁCH MẠNG ĐẢNG THÔNG CÁO BÁO CHÍ Lại một bản án cho người yêu nước Ls. Lê Quốc Quân 30 tháng tù giam   Vào chiều ngày 2/10/2013, toà án công cụ của nhà cầm quyền CSVN đã kết án Luật sư Lê Quốc Quân 30 tháng tù giam và một khoản tiền phạt lớn về tội danh trốn thuế. Tại phiên tòa, Luật sư Lê Quốc Quân dõng dạc tuyên bố: “Tôi đã bền bỉ tranh đấu chống nạn tham nhũng, lạm quyền và trì trệ đang làm ung thối đất nước”, và nay “Tôi bị kết tội vì tôi yêu đất nước này”. Ngay từ đầu, công luận Việt Nam và quốc tế đều biết rõ đây là vụ án cho mục tiêu đàn áp chính trị. Cụ thể là để bịt miệng một tiếng nói yêu nước đã mạnh mẽ đặt vấn đề trách nhiệm bảo vệ tổ quốc với nhà cầm quyền. Đây cũng là tiếng nói lên án bất công và giúp đỡ những người dân nghèo khổ tố cáo những hành vi chiếm đoạt của các quan chức cầm quyền. Những lạm dụng pháp luật của nhà cầm quyền không chỉ được dùng để đối phó với Luật sư Lê Quốc Quân, mà còn đối với blogger Điếu Cày, sinh viên Đinh Nguyên Kha, và các nhà yêu nước khác. Càng bí lối, càng sợ hãi Bắc Kinh, và càng bị dân tộc phê phán, giới lãnh đạo đảng CSVN càng bám chặt vào các công cụ bạo hành. Ngày Quốc Tế Bất Bạo Động hôm nay, 2 tháng 10, cũng soi rọi ánh sáng từ khắp thế giới vào hình ảnh người luật sư nhân bản, luôn chủ trương Đấu Tranh Bất Bạo Động để tạo đổi thay -- Lê Quốc Quân. Sự hiện diện của hàng ngàn giáo dân, bạn hữu, và người ủng hộ Luật sư Lê Quốc Quân trước tòa án tại Hà Nội bất chấp các biện pháp ngăn chận, hăm dọa của công an, và rất nhiều người ủng hộ khác trên mạng Internet và khắp thế giới cho thấy sự đồng thuận giữa lòng dân tộc đang lớn dần. Đó là sự thừa nhận chế độ CSVN hiện nay đang đi ngược lại nguyện vọng của người dân và đã đến lúc toàn dân không còn có thể chấp nhận hệ thống cai trị độc tài, tàn ác và bất lực này. Luật sư Lê Quốc Quân từng bày tỏ niềm tin và ước nguyện của mình: "Cá nhân tôi luôn tin vào khát vọng và nỗ lực của chính nhân dân Việt Nam, tôi tin rằng một ngày không xa chúng ta có được tự do, có được dân chủ thực sự. Mọi người dân Việt Nam đều có thể bày tỏ quan điểm của mình một cách công khai, có quyền mưu cầu hạnh phúc và thành công ngay trên chính quê hương Việt Nam yêu dấu này." Đảng Việt Tân chia sẻ ước nguyện đó và tiếp tục sát cánh cùng Luật sư Lê Quốc Quân và mọi cá nhân, đoàn thể đang tranh đấu để tháo gỡ xiềng xích độc tài trên đất nước và dân tộc. Ngày 2 tháng 10 năm 2013Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng Mọi chi tiết xin liên lạc: Hoàng Tứ Duy: +1 (202) 470-0845 - www.viettan.org, vnctcmd.blogspot.com          Ðối Ðầu Bất Bạo Ðộng để tháo gỡ độc tài - Xây Dựng Xã Hội Dân Sự để đặt nền dân chủ -                                                   Vận Ðộng Toàn Dân để canh tân đất nước  
......

Nhà nguyện dòng Trái Tim Đức Chúa Giêsu (Herz-Jesu-Kloster), Neustadt-Hambach cầu nguyện cho LS. Lê Quốc Quân.

Hôm nay, 01.10.2013 là ngày lễ kính thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu (Thérèse von Lisieux, * 02.01.1873; + 30.9.1897)  là Tiến Sĩ Hội Thánh Công Giáo Roma và là Bổn Mạng các giáo hội truyền giáo. Tại nhà nguyện nhà dòng Trái Tim Đức Chúa Giêsu (Herz-Jesu-Kloster), Neustadt-Hambach rất đông các linh mục và tu sĩ nam nữ cũng như giáo dân trong vùng đã cử hành thánh lễ hiệp thông cầu nguyện cho tất cả các nước truyền giáo, đặc biệt cho Việt Nam, là nơi nữ thánh Têrêsa có một mối tương giao rất sâu đậm. Trong lúc sinh thời nữ thánh luôn ao ước được về Việt Nam truyền giáo và chung sống với người dân. Vì lý do sức khỏe Ngài đã không thực hiện được ước mơ đó. Tuy nhiên, trong suốt cuộc đời ngắn ngủi Ngài luôn luôn gắn bó với  các vị Thừa Sai, với giáo dân và giáo hội Việt Nam qua lời kinh nguyện hằng ngày. Qua lối sống rất đơn sơ và khiêm tốn cũng như những suy tư phát xuất từ cuộc sống chiêm niệm để lại trong cuốn nhật ký đã giúp cho rất đông tín hữu khắp nơi trên thế giới được ủi an và vững tâm trước những thử thách trong đời. Các linh mục và tu sĩ nam nữ đang tĩnh tâm nơi đây trong tuần lễ này sẽ tiếp tục dâng lời cầu nguyện cho những tín hữu đang bị bách hại tại Việt Nam, đặc biệt cho LS Lê Quốc Quân. (Minh Hoài tường thuật)
......

Ban Công Lý và Hòa Bình Giáo phận Vinh lên tiếng bênh vực công lý trong vụ án luật sư Lê Quốc Quân

GPVO - Lúc 8 giờ ngày 02/10/2013, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội sẽ đưa vụ án luật sư Lê Quốc Quân ra xét xử tại số 43, Hai Bà Trưng, Tp Hà Nội. Chúng tôi đăng lại Văn thư của Ban Công Lý & Hòa Bình giáo phận Vinh lên tiếng bênh vực công lý và bảo vệ gia đình luật sư Quân vốn đang được công luận đặc biệt quan tâm, bênh vực. "... Cùng với công luận Việt Nam và quốc tế, chúng tôi khẩn thiết đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội ra quyết định đình chỉ vụ án, trả tự do vô điều kiện cho luật sư Lê Quốc Quân và những người liên quan, đồng thời buộc những người có trách nhiệm bồi thường xứng hợp cho họ và gia đình. Nếu chúng ta tôn trọng Sự Thật thì đây là chọn lựa duy nhất." Giáo Phận Vinh Ban Công Lý Và Hòa Bình Số: 07/13CL-HB                                                                  Xã Đoài, ngày 23 tháng 7 năm 2013 V/v: Bênh vực công lý cho luật sư Lê Quốc Quân trong vụ án được coi là trốn thuế. Sau khi nghiên cứu đơn kêu cứu và toàn bộ hồ sơ vụ án trốn thuế mà luật sư Lê Quốc Quân, giám đốc công ty TNHH giải pháp Việt Nam, bị truy tố, đồng thuận với công luận Việt Nam và quốc tế, Ban Công Lý và Hòa Bình giáo phận Vinh khẩn thiết bênh vực công lý để bảo vệ quyền căn bản của công dân. Lê Quốc Quân được mọi người biết đến là một luật sư trẻ, một blogger năng động, một nhà tranh đấu không mệt mỏi cho nền dân chủ Việt Nam. Không ai phủ nhận ông có nhiệt huyết giúp đỡ người nghèo, khao khát đóng góp cho công bằng xã hội, tôn trọng quyền tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do lập hội, cổ xúy đa nguyên – đa đảng để giúp đất nước thoát ra khỏi tình trạng trì trệ và tham nhũng, chấn hưng nền giáo dục đang bị khủng hoảng, phản đối xâm lược của Trung Quốc để bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ đất liền, không phận và biển đảo của quốc gia. Đây được coi là nguyên nhân làm cho luật sư Lê Quốc Quân luôn bị chính quyền Việt Nam theo dõi và tìm cách hãm hại. Từ việc sách nhiễu, cấm cách, bắt bớ, giam giữ dài hạn nhiều lần mà không có căn cứ pháp lý của chính quyền Việt Nam kể từ khi luật sư Lê Quốc Quân trở về nước sau khi tham dự khóa học về “xây dựng xã hội dân sự” do tổ chức Quốc gia Hỗ trợ Dân chủ (National Endowment for Democracy) ở Mỹ cấp học bổng, việc công an Hà Nội, sau một loạt động thái bất công vốn đã từng hành xử với những nhà tranh đấu cho nhân quyền và dân chủ tại Việt Nam, bắt tạm giam luật sư Lê Quốc Quân ngày 27/12/2012 với cáo buộc tội “trốn thuế” trong tư cách là giám đốc công ty TNHH giải pháp Việt Nam, đã làm cho công luận lo ngại về nội dung và bản chất của vụ án. Đâu là sự thật? Vượt quá những nguyên tắc tố tụng của một vụ án kinh tế, sau gần bảy tháng tìm cách khép án, tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử vào ngày 9/7/2013. Tuy nhiên, liền trước ngày xét xử, cơ quan này lại đột xuất thông báo hoãn phiên tòa chỉ vì lý do thẩm phán chủ tọa phiên tòa bị cảm cúm. Từ những uẩn khúc lớn đó, chúng tôi đã nghiêm túc nghiên cứu vụ án và phát hiện những nội dung quan trọng dẫn đến việc đồng thuận với công luận rằng: vụ án “trốn thuế” theo điều 161 Bộ luật hình sự Việt Nam mà chính quyền khởi tố và bắt tạm giam luật sư Lê Quốc Quân, giám đốc công ty TNHH giải pháp Việt Nam, chỉ là kịch bản được dàn dựng để che đậy âm mưu chính trị chống lại một nhà tranh đấu ôn hòa cho nhân quyền và dân chủ, làm lung lạc tinh thần dân tộc của thế hệ trẻ. Bằng chứng thứ nhất, Việt Nam đã tìm mọi cách bắt luật sư Lê Quốc Quân bỏ tù không cần tội danh và chẳng cần luật pháp: lần 1: bắt 100 ngày, không có bằng chứng rồi thả tự do trước áp lực của công luận; lần 2: bắt giam 11 ngày vì cho rằng luật sư Lê Quốc Quân có hành vi gây rối, rồi cũng không có tội danh nên thả; lần 3: bắt và cố tình đưa luật sư Lê Quốc Quân vào trại cải tạo không giam giữ 2 năm theo kiểu vụ án đối với chị Bùi Thị Minh Hằng, nhưng vì Quốc Hội bãi bỏ luật cải tạo không xét xử nên chính quyền đã ra quyết định giáo dục tại địa phương. Cuối cùng, không ngoài tiến trình đó, nhà cầm quyền bắt luật sư Lê Quốc Quân vì tội trốn thuế là điều dễ hiểu. Bằng chứng thứ hai, hệ thống tư pháp Việt Nam hoàn toàn không có cơ sở khởi tố luật sư Lê Quốc Quân về tội trốn thuế, vì theo luật pháp Việt Nam hiện hành, thì bắt buộc cơ quan Thuế phải làm việc trước. Trong vụ án này, chính quyền đã làm ngược quy trình đó, công an Hà Nội ép cơ quan thuế làm và trong khi cơ quan thuế chưa làm thì công an đã bắt người và tịch thu hết mọi hồ sơ giấy tờ của công ty, kể cả con dấu, điều mà luật pháp không cho phép. Đặc biệt, theo các quy định về khai nộp thuế hiện hành tại Việt Nam dựa trên Thông tư số 60/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 của Bộ tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của luật quản lý thuế, Thông tư số 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế doanh nghiệp và hướng dẫn thi hành Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11/11/2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế doanh nghiệp và Nghị định số 98/2007/NĐ-CP ngày 7/6/2007 về việc nộp thuế doanh nghiệp, thì những hành vi vi phạm thuế của luật sư Lê Quốc Quân nếu có thì cũng chỉ bị xử phạt hành chính và buộc chi trả toàn bộ thuế cũ và phát sinh. Bằng chứng thứ ba, trong lịch sử tư pháp Việt Nam, chưa một ai bị bắt khẩn cấp vì tội trốn thuế. Vậy mà luật sư Lê Quốc Quân, anh Lê Đình Quản và chị Nguyễn Thị Oanh lại bị bắt khẩn cấp, với hàng trăm công an an ninh. Riêng chị Oanh lại bị bắt vào ban đêm trong hoàn cảnh đang mang thai. Sau đó, chị được cho tại ngoại nhưng lại bị sẩy thai liền sau đó và bị suy giảm nặng về sức khỏe thai phụ. Đây chính là hậu quả của hành vi vi phạm nghiêm trọng khoản 2 điều 88 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003: “Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, bệnh nặng mà có nơi cư trú rõ ràng thì không được tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.” Theo các luật sư tham gia vụ án này thì việc bắt luật sư Lê Quốc Quân và những người khác trong vụ án đều không tuân thủ quy định tại Điều 80 Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam, và nhất là đã có nhiều sai phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng hình sự. Bằng chứng thứ tư, việc điều động công an an ninh thay vì công an kinh tế để điều tra hoàn tất vụ án là bằng chứng cụ thể quan trọng chứng minh tính chất chính trị của vụ án (xem Quyết định số 3449/QĐ-CAHN-PX13 ngày 18/10/2012 của giám đốc công an thành phố Hà Nội  về việc điều động cán bộ). Nhất là đã có bằng chứng làm giả hồ sơ để hoàn tất vụ án vì trong các bút lục hồ sơ có những văn bản trước căn cứ văn bản sau xét về mặt thời hạn. Đây là điều lý giải tại sao cơ quan tố tụng từ chối việc luật sư tham gia vụ án ngay từ đầu theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự. Bằng chứng thứ năm, kể từ ngày khởi tố vụ án và bắt tạm giam các bị can, cho đến nay thời hạn vụ án đã vượt quá các quy định tố tụng nhưng vụ việc vẫn chưa được đưa ra xét xử. Trong khi chị Nguyễn Thị Oanh đã mất đứa con đầu lòng của mình sau khi bị bắt và bị tạm giữ, luật sư Lê Quốc Quân và anh Lê Đình Quản vẫn bị giam trong điều kiện hết sức thiếu thốn, khắc nghiệt và chưa được gặp người thân như pháp luật cho phép. Hơn nữa, theo luật tố tụng, với tội danh trốn thuế, thời hạn từ khi tòa án thụ lý hồ sơ vụ án cho đến ngày xét xử là không quá 45 ngày, nhưng thực tế, luật sư Lê Quốc Quân và anh Lê Đình Quản đã tiếp tục bị giam không xét xử hơn 3 tháng. Bằng chứng thứ sáu, gia đình và người thân của luật sư Lê Quốc Quân, những người hoàn toàn không liên quan đến vụ án, vẫn thường xuyên bị sách nhiễu, gây áp lực vô lý và bị đối xử rất bất công trong cuộc sống. Công ty TNHH giải pháp Việt Nam không thể hoạt động do bị trịch thu trái phép con dấu và các phương tiện cần thiết. Đặc biệt, trong thời gian Luật sư Lê Quốc Quân bị bắt giữ, không chỉ trụ sở công ty mà cả nhà riêng của gia đình cũng ít nhất 3 lần bị khám xét tùy tiện. Với tất cả những nội dung trên, cùng với công luận Việt Nam và quốc tế, chúng tôi khẩn thiết đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội ra quyết định đình chỉ vụ án, trả tự do vô điều kiện cho luật sư Lê Quốc Quân và những người liên quan, đồng thời buộc những người có trách nhiệm bồi thường xứng hợp cho họ và gia đình. Nếu chúng ta tôn trọng Sự Thật thì đây là chọn lựa duy nhất.   Trân trọng.
......

Những người vợ cùng tuyến đầu

Nhớ em vội vàng trong nắng trưa Áo phơi trời đổ cơn mưa (Một Mình – Thanh Tùng) Văn chương Việt Nam rất ít những bài thơ nói về người vợ, và nếu có chỉ là những nét phác hoạ rất mờ nhạt như hai câu trong bài hát trên. Khi chồng nhớ vợ, anh không nhớ đến mái tóc, bờ môi, nhan sắc của nàng; ký ức của anh là hình bóng vội vã của vợ trong cơn mưa chợt đổ bất ngờ. Lạ thay, nắng mưa và nỗi nhớ trong hai câu trên lại làm cho chúng ta hình dung ra hình ảnh rất dịu dàng và tình yêu thắm thiết dành cho chồng của người được nhớ tới. Tựa như chúng ta chưa từng một lần được nhìn thấy bà Tú Xương, nhưng những câu thơ của thi sĩ Tú Xương về người vợ của ông lại vẽ rất tròn chân dung những hiền phụ Việt Nam. Có lẽ vì vậy mà dù ít ỏi, mỗi bài thơ, bài nhạc viết về hình ảnh người vợ lại làm nỗi xúc động của chúng ta sâu lắng hơn chăng!? Đất nước chúng ta chiến tranh triền miên, thời đại nào cũng có những người vợ lính. Do hoàn cảnh phải đối đầu với một quốc gia khổng lồ mang tư tưởng Đại Hán, lúc nào cũng muốn nuốt chửng những quốc gia láng giềng; vì vậy sự sống còn của dân tộc luôn luôn bị thử thách. Chính những thử thách này đã nảy sinh tinh thần bất khuất, tự cường để bảo vệ tổ quốc của cha ông ta tự ngàn xưa. Đi bên cạnh cuộc đời của những con người nghĩa dũng đó là hình bóng thầm lặng của người phụ nữ. Những thân cò lặn lội, những lên thác xuống gềnh cùng chồng theo vận nước là hình ảnh đằm thắm nhưng mạnh mẽ một cách lạ lùng của người phụ nữ Việt. Ngoài những người cùng chia chung lý tưởng với người yêu như cô Giang hay cùng gánh trách nhiệm như bà Ba Đề Thám, còn biết bao nhiêu những người vợ yêu chồng, dám sống, dám hy sinh cả cuộc đời mình trong lặng lẽ như cụ bà Phan Bội Châu. Tôi nghĩ không cần ai gieo vần, họ chính là những vần thơ thầm lặng đã tạc vào tháng năm của lịch sử. Nhưng những tấm gương hy sinh trong âm thầm đó không chỉ dừng lại trong sử sách. Tôi thấy những bóng hình này đang sống giữa chúng ta hôm nay. Trong lúc dư luận trong và ngoài nước đang chú tâm đến người luật sư nhân bản Lê Quốc Quân cùng những gì anh đã và đang hy sinh cho người khác, ít ai biết đến bên cạnh anh còn có sự hy sinh thầm lặng của chị Nguyễn thị Thu Hiền. Đây không phải lần đầu Ls Quân bị bắt. Tháng ba năm 2007 khi từ Mỹ trở về, anh bị bắt ngay vì đã tham gia một khoá học từ học bổng của Quỹ Quốc gia Hỗ trợ Dân chủ (National Endowment for Democracy). Sau đó, năm 2011 anh lại bị bắt cùng với bác sĩ Phạm Hồng Sơn khi đang trên đường đến hỗ trợ Ts Luật Cù Huy Hà Vũ trong ngày xử ông. Là vợ anh, chị Hiền đã phải chấp nhận sống từng ngày căng thẳng, từng đêm lo âu với chồng. Ở giữa các lần tù là những lần chồng chị bị công an đánh đập khi tham gia một buổi diễn hành đòi đất với người công giáo. Rồi vụ côn đồ chận đường đánh lén ban đêm khi anh đang trên đường về nhà. Chưa kể đến những hù dọa ban ngày, những xách nhiễu thường xuyên đối với bản thân anh và gia đình. Và ngày 2/10/2013 tới đây, chị lại chuẩn bị mọi chuyện như hàng ngày cho con cái, trước khi vội vã chạy đến tòa tranh đấu để có thể vào dự phiên xử chồng mình. Gia đình Ls Lê Quốc Quân Những người vợ chân yếu tay mềm như chị Thu Hiền, chị Nga vợ nhà văn Nguyễn xuân Nghĩa, chị Dương Hà vợ Ts luật Cù Huy Hà Vũ, v.v... lấy sức mạnh ở đâu để vượt qua những thử thách lớn như thế? Tôi còn nhớ chị Nga vợ nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa đã bật khóc ngay tại phiên toà khi nghe chồng chị bị bản án sáu năm tù chỉ vì bày tỏ lòng xót xa trước phần biển đảo đã mất vào tay Trung Quốc. Anh Cù Huy Hà Vũ cũng thế. Anh Điếu Cày cũng vậy, .... Những bản án khắc nghiệt, vô lý đã phủ chụp xuống những người chồng thương yêu của các chị. Rồi tiếp sau bản án của chồng, các chị lại phải đối mặt với những sách nhiễu, những thủ thuật bao vây kinh tế của côn an, … Để có thể đối diện với những gánh nặng và thử thách quá lớn như thế, tôi tin sức mạnh đó phải đến từ sự kính trọng và tình yêu tha thiết dành cho chồng; từ ngọn lửa yêu nước, yêu người, và niềm tin sắt đá của các anh vào tương lai tươi sáng của dân tộc. Và ngược lại, trong giai đoạn gian nan này, sự sắt son, vững vàng của các chị cũng vô cùng cần thiết cho người chồng nơi tuyến đầu tù ngục. Tôi đã nhìn thấy điều đó qua thái độ của chị Dương Hà trước sự việc Ts Cù Huy Hà Vũ tuyệt thực, và liền sau đó là thái độ của chị Tân qua trường hợp của anh Điếu Cày. Có người vợ nào không xót xa khi biết chồng mình đã tuyệt thực lâu như vậy trong hoàn cảnh khắc nghiệt của trại giam. Cái đau của các chị là cái đau của dao cắt vào da thịt từng ngày; tuy nhiên những người phụ nữ ấy đã vượt qua được nỗi sợ hãi của họ. Còn chúng ta thì sao? Mới đây, một trí thức được mời tham dự Hội thảo về Biển Đông ở Quảng Ngãi đã tiết lộ với giáo sư Hà Văn Thịnh rằng ông cảm thấy đau đớn và nhục nhã khi biết ngư dân ta, mỗi lần đi đánh bắt xa bờ sẽ phải gặp nguy hiểm với tàu hải giám Trung Quốc. Ông bảo có lẽ muốn sống còn, muốn được an toàn ngư dân ta phải treo cờ Trung Cộng. Những khuất lấp nghe được trong buổi hội thảo ông chỉ dám chia sẻ riêng với bạn mình. Tôi tự hỏi ví như chỉ cần mỗi người cán bộ trong buổi hội thảo đó đứng lên phát biểu về sự quan tâm của họ, về nỗi đau của họ đối với trường hợp các ngư dân, chắc chắn mọi việc đã đổi khác. Sự hiện hữu của nhân loại đến ngày hôm nay là bằng chứng vĩ đại về chiến thắng của cái thiện vượt trên cái ác. Và riêng dân tộc Việt Nam thì kết cục đó càng đúng hơn nữa vì đây không phải là một dân tộc khiếp nhược. Tôi nghĩ đến hình ảnh của Ls Lê Quốc Quân và bác sĩ Phạm Hồng Sơn khoác chặt tay nhau trên đường đến dự phiên toà của Ts Cù Huy Hà Vũ. Chỉ cần những hành động bình thường như thế, của rất nhiều người bình thường khác, chắc chắn đất nước sẽ thay đổi. Xin cám ơn những giọt nước mắt của chị Nguyễn thị Thu Hiền hằng đêm. Xin cám ơn chị Nga, chị Dương Hà, và hàng trăm các chị khác. Cám ơn các chị đã đứng cùng các anh. Những hy sinh của các chị đã tặng dân tộc chúng ta thêm những ngọn nến hy vọng trong những tháng ngày đen tối này.
......

Nhà cầm quyền rối trí về Lê Quốc Quân?

Gửi cho BBC từ California, Hoa Kỳ Trong mấy ngày vừa qua, công an và an ninh của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam tại Hà Nội đã tạo ra một số diễn biến “náo động” được cho là khá điên rồ. Họ tưởng rằng đưa một nhóm côn đồ đến bắt giữ những người tụ họp tại nhà Blogger Nguyễn Tường Thụy, đánh đập ôngLê Quốc Quyết, em ruột luật sư bất đồng chính kiến Lê Quốc Quân và có những hành vi bạo lực đối hai mẹ con nữ sinh viên Nguyễn Phương Uyên tại phi trường Nội Bài… là chứng tỏ 'bắp thịt' hay sức mạnh, uy thế của chế độ.   Nhưng các hành vi bị phê phán là 'bạo lực' và 'côn đồ' nói trên có lẽ chỉ cho thấy sự bực tức lẫn rối trí của chế độ khi không thể phát hiện và ngăn chặn việc các nhà hoạt động trên không gian mạng Internet đã giúp đỡ hai mẹ con sinh viên Phương Uyên ra thăm Hà Nội trong lúc cô còn chịu cái gọi là “quản chế”. Nếu nhìn trên mặt thuần lý, bộ máy an ninh của chính quyền cộng sản Việt Nam đã đang tiếp tục thua dũng khí của sinh viên Phương Uyên không chỉ ở trong nhà tù Long An mà ngay trên đường phố Hà Nội. Rối trí là phải. Những diễn tiến nói trên chẳng khác gì vụ an ninh và công an Hà Nội chặn bắt Luật sư Lê Quốc Quân vào lúc 8 giờ sáng ngày 27/12/2012, trên đường ông đưa con đi học với tội danh mà họ cáo buộc ông là… trốn thuế. Chỉ có những “đỉnh cao trí tuệ” bị rối trí mới nghĩ ra tội danh kỳ lạ đối với với những người yêu nước kỳ quái như vậy. Sau mấy tháng giam giữ, chính quyền thông báo là sẽ đưa Luật sư Quân ra tòa xét xử về tội trốn thuế vào ngày 9/7/2013. Nhưng chỉ vài giờ trước khi phiên xử ông Lê Quốc Quân dự kiến diễn ra, chính quyền cộng sản tức tốc loan báohoãn phiên tòa vì Thẩm phán “bị cảm đột xuất phải đưa đi cấp cứu”. Sau này người ta mới rõ lý do công an đã buộc bà thẩm phán Lê Thị Hợp phải “đột cảm” là để tránh những rắc rối cho chuyến viếng thăm Hoa Kỳ của ông Trương Tấn Sang được Hà Nội quyết định ngay vào lúc đó. Chuyến viếng thăm Hoa Kỳ của ông Trương Tấn Sang vào cuối tháng 7 vừa qua khá quan trọng. Nó không chỉ là dấu ấn biểu hiện sự thay đổi chính sách ngoại giao của cộng sản Việt Nam đối với Hoa Kỳ qua bài phát biểu tại Diễn Đàn Shangri-La, Singapore hôm 31/5 của ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mà còn là bước khởi đầu mở lại sự thăm viếng ở cấp cao giữa hai nước vốn bị trì hoãn gần 5 năm, từ sau chuyến thăm Hoa Kỳ chính thức của ông Dũng vào năm 2008. Ngay sau khi ông Trương Tấn Sang về nước sau cuộc hội kiến với ông Obama, công an và tòa án của chính quyền đã “thả” nữ sinh Phương Uyên. 'Ba việc gây rối trí' Từ lúc Phương Uyên ra khỏi nhà tù, có ba diễn biến thời sự đã làm cho công an một lần nữa rối trí. Thứ nhất là sự xuất hiện của nhóm bloggers vận động bỏ Điều 258 bộ Luật hình sự sau khi chính quyền bắt giữ 3 bloggers là các vị Trương Duy Nhất, Phạm Viết Đào, Đinh Nhật Uy dựa theo điều luật này. Nhóm Bloggers 258 đã tạo được một thành quả quốc tế vận rất lớn khi các anh chị em này thực hiện các cuộc tiếp xúc với hàng loạt sứ quán Hoa Kỳ, Úc, Đức, Thụy Sĩ, Na Uy kể cả sang tận Thái Lan gặp đại diện Liên Hiệp Quốc… trong sự khó chịu của công an, an ninh. Việt Nam hoãn xử ông Lê Quốc Quân trước khi Chủ tịch Sang thăm Nhà Trắng Thứ hai là ông Lê Hiếu Đằng, một cựu cán bộ và một đảng viên lâu năm đã lên tiếng kêu gọi đảng viên đảng cộng sản Việt Nam nên bỏ đảng vì lãnh đạo đã phản bội, để cùng nhau lập ra một đảng mới, hoạt động với tư thế đối lập đối trọng với đảng Cộng sản Việt Nam.Ông Lê Hiếu Đằng là đảng viên cộng sản Việt Nam đương chức đầu tiên trong suốt lịch sử đảng này dám công khai kêu gọi các đảng viên khác hãy rời bỏ cái tập thể 'đang làm hại' đất nước. Thứ ba là 130 trí thức, và con số này còn đang gia tăng, đã phổ biến một Tuyên bố thành lập Diễn Đàn Xã Hội Dân Sựmà mục tiêu là mở ra một diễn đàn trao đổi và tranh luận về nhu cầu cải cách thể chế chính trị, chuyển từ toàn trị sang dân chủ. Các trí thức đã yêu cầu quốc hội của chính quyền cộng sản Việt Nam dừng việc thông qua bản hiến pháp sửa đổi hiện nay và kêu gọi hãy có những thay đổi mang tính nền tảng hơn. Vì nếu cứ tiếp tục duy trì thể chế toàn trị như hiện nay, tình trạng đất nước sẽ dẫn tới những hệ quả khó lường, đặc biệt khi người dân quá thất vọng và bất bình. Công an, an ninh cũng như chính quyền thực sự đang rối trí vì khó có thể dựa trên những điều như 79 (âm mưu lật đổ chế độ), 84 (khủng bố), 88 (tuyên truyền chống phá nhà nước), hay 258 (lợi dụng quyền tự do)… để trấn áp những người đang tạo ra các diễn biến thời sự nói trên. Trong bối cảnh đó, nhà cầm quyền lại quyết định mang Luật sư Lê Quốc Quân ra xét xử một lần nữa về tội trốn thuế vào lúc 8 giờ sáng ngày 2/10/2013 như thông báo chính thức, và cho biết vụ án đuợc xét xử công khai với thẩm phán chủ tọa phiên toà không ai khác hơn là bà Lê Thị Hợp vốn bị “đột cảm” phải hoãn phiên xử cách nay 3 tháng. 'Hai điều phải trả lời' Có hai vấn đề mà nhà cầm quyền Việt Nam sẽ phải giải quyết hay nói đúng hơn là trả lời trước công luận về vụ xử án này. Báo Pháp vinh danh LS Lê Quốc Quân trong 50 người thay đổi thế giới Thứ nhất, tại sao họ không dám xét xử Luật sư Lê Quốc Quân về tội danh chính trị liên quan đến các hoạt động yêu nước của ông mà lại phải sử dụng tội danh trốn thuế? Phải chăng là vì nếu để dùng các con số từ hồ sơ vụ án, mà các luật sư và kế toán viên độc lập đã có thể chứng minh và loan tải trên mạng, thì công luận sẽ thấy ngay rằng Luật sư Quân đã đóng "dư thuế" chứ không phải là thiếu thuế hay trốn thuế như bị cáo buộc. Tòa án có dám cho các luật sư và kế toán viên này đối chất tại phiên tòa hay không? Thứ hai, tại sao lại phải trì hoãn vụ xét xử Luật sư Quân và kéo dài tới gần 3 tháng sau, trong khi bà Lê Thị Hợp chỉ bị 'cúm'? Cả hệ thống tòa án Hà Nội chỉ có duy nhất một chánh án hay sao? Hay chẳng cán bộ chánh án nào muốn tên mình bị cột vào một vụ án mà cả thế giới sẽ lên án và thậm chí 'phỉ nhổ' trong những ngày tháng tới? Mặt khác, tư thế của Luật sư Quân đã đổi khác kể từ ngày anh bị bắt. Trong số tiếng nói lên tiếng cho ông trên khắp thế giới, gần đây nhất Lê Quốc Quân được tờ báo Pháp Le Nouvel Obsevateur đánh giá là một trong 50 người đang làm thay đổi cục diện thế giới. Số báo này cũng bất ngờ xuất hiện đúng vào tuần lễ sinh nhật của ông Quân, ngày 13/9. Đồng thời Luật sư Quân cũng là người mà Bộ ngoại giao Hoa Kỳ, tổ chức NED và nhiều tổ chức phi chính phủ khác quan tâm hàng đầu. Một số chính giới tin rằng một bản án bất công tại phiên tòa ngày 2/10 sắp tới sẽ làm phương hại mối quan hệ Washington - Hà Nội mà ông Trương Tấn Sang gây dựng trong chuyến viếng thăm vào cuối tháng Bảy vừa qua. Xem ra, dù với đầy đủ thông tin, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam vẫn không thoát nổi và đang lập lại đoạn đường chót của hầu hết các chế độ độc tài vừa sụp đổ trong mấy thập niên qua. Thay vì giải thoát chính mình bằng cách trả quyền điều hành đất nước lại cho dân tộc, họ chỉ biết tiếp tục gia tăng bạo lực, tiếp tục tin rằng người dân sẽ bị đánh quị và trở về tư thế quỳ gối cũ. Nhưng Hà Nội đang rất kinh ngạc và bối rối khi thấy các đòn bạo hành của họ chỉ làm tăng sự phẫn nộ của người dân và ngày càng làm nhiều người đứng lên hơn nữa. Thế là họ càng ra sức bạo hành, càng rối trí, và càng đẩy chính họ vào chân tường. Bài phản ánh quan điểm riêng và cách hành văn của tác giả, hiện là Tổng bí thư Đảng Việt Tân có văn phòng tại Hoa Kỳ. Nguồn: bbc.co.uk/vietnamese/
......

Đức quốc: Thánh lễ hiệp thông cầu nguyện cho LS Lê Quốc Quân tại Neustadt-Hambach

Để tiếp tục hiệp thông cầu nguyện cho LS Lê Quốc Quân cũng như người nữ tù nhân lương tâm Đỗ Thị Minh-Hạnh và những thanh niên công giáo đang ở trong lao tù của Đảng Cộng Sản Việt Nam độc tài và tàn ác, một thánh lễ đã được cử hành vào lúc 9 giờ sáng ngày thứ Bảy, 28.9.2013 tại nhà dòng Trái Tim Đức Chúa Giêsu (www.kloster-neustadt.de) ở thành phố Neustadt an der Weinstraße, nơi có biểu tượng quan trọng của lịch sử nước Đức là lâu đài Hambach (das Hambacher Schloß), được mệnh danh "cái nôi của nền dân chủ Đức Quốc" (die Wiege der deutschen Demokratie. de.wikipedia.org/wiki/Hambacher_Fest‎). Tại nơi này vào tháng 5. 1832, cách đây hơn 180 năm đã có khoảng 30.000 người cùng tề tựu về biểu tình đòi hỏi những quyền tự do dân chủ căn bản Trong thánh lễ này các linh mục và thầy tu đã hiệp thông với toàn thể tu sĩ tại các chi nhánh nhà dòng "Linh-mục Trái Tim Đức Chúa Giêsu" trên khắp thế giới như Châu Âu, Châu Á, Châu Mỹ, Châu Phi cùng cầu nguyện cho những người đang bị Đảng Cộng Sản Việt Nam bách hại. Thánh lễ diễn ra một  cách trang trọng và thánh thiện gồm 3 linh mục và một thầy tu đồng tế.   Vào đầu lễ linh mục Dieter đã nhắc nhở các tín đồ về tình trạng các tôn giáo vẫn tiếp tục bị đàn áp một cách tinh vi cũng như trắng trợn bởi nhà cầm quyền. Trong phần dâng lời cầu nguyện của giáo dân, linh mục August đã nêu đích danh LS. Lê Quốc Quân và xin Thiên Chúa mau giải thoát cho ông cũng như xin trợ giúp cho gia quyến ông được bình an. Trước khi kết lễ linh mục Georg nhắc nhở mọi tín hữu tiếp tục cầu nguyện và nhớ đến những người đang bị giam giữ vì lý do lương tâm tại Việt Nam. Sau cùng bài ca bế mạc kính Đức Mẹ "Maria, breit den Mantel aus..." được xướng lên, xin Ngài bảo vệ và che chở tất cả các con dân nước Việt Nam mau thoát khỏi ách độc tài cộng sản.   Tiếp đến vào buổi chiều ngày Chủ Nhật, 29.9.2013, các tín hữu thuộc hai giáo xứ người Đức St. Pius và St. Jakobus của thành phố Neustadt-Hambach đã cùng linh mục tuyên úy Gerd dâng thánh lễ cầu xin Thiên Chúa ban ơn và bảo vệ cho LS Lê Quốc Quân cũng như người nữ tù nhân lương tâm Đỗ Thị Minh-Hạnh và những thanh niên công giáo đang ở trong lao tù của CSVN Trong bài thánh thư vị tiên tri Amos đã lên tiếng cảnh cáo và lên án nặng nề các thành phần cầm quyền bóc lột người dân cũng như sống trên xương máu đồng bào. Kế đến, trong bài Phúc Âm theo thánh Lukas Đức Chúa Giêsu nhắc nhở  các tầng lớp có quyền lực trong xã hội sẽ phải lãnh hậu quả thích đáng nếu sống bất công, không màng đến những người kém may mắn. Đến phần lời nguyện giáo dân, bầu không khí trang nghiêm một cách đặc biệt,  linh mục Gerd đã xin Thiên Chúa ban nhiều ơn phúc ngõ hầu LS Lê Quốc Quân được mau giải thoát. (Minh Hoài tường thuật)      
......

Việt Nam vẫn ‘đứng ngoài” nhân loại và sự phát triển?

Chỉ cần tra cứu trên các phương tiện thông tin chính thống của Nhà nước có thể nhận thấy, đánh giá tình hình kinh tế trì trệ, vô vàn khó khăn làm người dân rối như “canh hẹ”. Hay nói đúng hơn là những người có trách nhiệm quản lý điều hành đất nước và bộ phận tham mưu giống như những học trò “kém” đang loay hoay đi tìm quỹ tích không hề có trong hình học không gian vậy! Nguyên nhân cốt lõi Tình hình các nước có sự phát triển vượt bực làm cho Việt Nam ngày càng lâm vào cảnh tụt hậu xa hơn. Thể chế và con đường chúng ta đang mò mẫm đi theo kiểu đã có “Đảng và Nhà nước lo” gây nên biết bao hệ lụy nhãn tiền!   Hiện nay, chỉ có ASEAN, Ucraina, Nga, Trung Quốc, Venezuela và Nam Phi công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường, nguyên nhân chỉ vì “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”, không phải do được quyết định bởi quy luật cạnh tranh tự do của thị trường.   TPP, WTO, hội nhập quốc tế, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước, sửa Hiến pháp Cũng là da vàng, tóc đen sùng bái “Đạo Khổng”, Singapore và Hàn Quốc cũng phải trải qua một thời kỳ kinh tế chính trị khắc khổ, độc tài và thắt lưng buộc bụng, mà sao con tàu kinh tế của họ vẫn về đến đích. Sự hy sinh của các thế hệ dẫu sao cuối cùng còn có nụ cười no ấm, dân chủ và hạnh phúc của con và cháu họ. Ít nhất sự trả giá còn có lối thoát. Xã hội các nước châu Á có nét phát triển khác với châu Âu nên Mác-Ăng ghen có đề cập đến phương thức sản xuất châu Á. Theo tôi hiểu, thì phương thức sản xuất châu Á có đặc điểm là các cuộc cách mạng xã hội, gắn với các cuộc nổi nổi dậy của nông dân, dù có thành công, cũng chỉ dẫn đến thay đổi dòng họ trị vì chứ không thay đổi chế độ xã hội như đã xảy ra tại châu Âu. Do đó, nhân dân Việt Nam đã có câu tổng kết “Con vua thì lại làm làm vua, con sãi ở chùa thì quét lá đa”. Nói cách khác, tâm lý phong kiến, tiểu nông đã ăn sâu vào thâm căn cố đế trong tư duy của người dân. Các nước châu Á chưa qua giai đoạn cách mạng công nghiệp (gắn với thời đại phục hưng) như của các nước tư bản châu Âu. Do đó, nền sản xuất lớn cơ giới hóa được hình thành tại các nước này là do các nước thực dân, đế quốc phương Tây đưa vào chứ không phải do tự thân vận động của các nước đó. Tuy nhiên, cũng phải thấy Nhật Bản đã chủ động tiếp nhận quá trình công nghiệp hóa để phát triển nên mang tính chất ngoại lệ. Chính sách đối với các nước thuộc địa của thực dân Pháp và thực dân Anh- Mỹ có nét khác biệt cơ bản. Về mặt kinh tế, thực dân Pháp duy trì nền kinh tế tại nước ta ở trình độ nền sản xuất nhỏ và chỉ đưa yếu tố của nền sản xuất lớn ở mức độ nhất định. Thế nhưng đế quốc Anh- Mỹ đã thực hiện chính sách tư bản hóa giai cấp lãnh đạo tại các nước mà họ đặt chân xâm chiếm, dẫn đến thực hiện công nghiệp hóa tại các nước này. Ai cũng nhìn thấy vấn đề ở đây là hạn chế về tư duy, phẩm chất của nhiều vị lãnh đạo, (do lỗi hệ thống tuyển chọn nhân tài). Vấn đề minh bạch, cần tra soát đề bạt và bãi miễn hệ thống nhân sự điều hành cho phù hợp với năng lực và hoàn cảnh cống hiến trở nên là “vấn đề “của Việt Nam trong con mắt các nhà đầu tư sáng giá và chuẩn “vàng ròng”. Còn chúng ta thì sao nhỉ? Ra nước ngoài thì cũng là thân phận thấp hèn, dù trí tuệ và nhân phẩm của một nhóm con người ưu tú đâu có thua dân tộc nào. Còn ở trong nước thì từ cao đến thấp phổ biến tự dối lừa bản thân và tự ngạo mạn vô lối. Trong dân gian có câu khẩu ngữ 4 D nói về “nhóm lợi ích” thao túng đất nước “Đố kỵ, Dối trá, Độc ác, Dửng dưng” nghe thật cay đắng, bởi thế chưa có thời kỳ nào người dân coi thường lãnh đạo như ngày nay.   Ngược lại, bản thân người dân cũng lúng túng, loay hoay không biết dựa vào ” cột trục” chuẩn mực nào để xây cuộc đời. Chỉ riêng bài toán kinh tế cũng không có nghiệm vì tình trạng phổ biến là nhiều vị lãnh đạo từ trung ương đến địa phương có xu hướng báo cáo nặng về thành tích, nói đến khuyết điểm chỉ mang tính chất cho có vẻ khách quan, cốt để đánh bóng cho bản thân mình, tìm cách trấn an dư luận xã hội. Trong nội bộ lãnh đạo, không có cơ chế kiểm soát hữu hiệu, thiếu sự đấu tranh tự phê và phê bình một cách nghiêm túc dẫn đến mất đoàn kết nội bộ đã được đại hội Đảng nhiệm kỳ VI-XI liên tục ghi nhận nhưng hầu như không chuyển biến. Theo đánh giá của đại hội Đảng lần thứ VI thì đội ngũ cán bộ chiến lược (tham gia vào quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách) đã phạm sai lầm nghiêm trọng và kéo dài vì bị chi phối bởi hệ tư tưởng tiểu tư sản vừa tả khuynh vừa hữu khuynh. Nợ công và con số thống kê Để đánh giá “sức khỏe” của nền kinh tế phải dựa vào các con số thống kê, trong đó có nợ công để đưa ra các quyết sách. Tương tự như trong lĩnh vực khoa học tài nguyên nước, khi muốn xây dựng con đê, cống lớn, nhà máy thủy điện vv…người ta phải dựa vào mô hình toán thủy văn, thủy lực để mô phỏng lựa chọn phương án tốt nhất. Độ chính xác của mô hình phụ thuộc vào số liệu cơ bản, chất lượng phần mềm tính toán và năng lực của người xử lý mô hình. Chỉ riêng số liệu cơ bản đầu vào mà sai thì chất lượng của mô hình coi như đồ bỏ, nếu sử dụng thì chỉ mang lại tai họạ! Đấy chỉ là trong phạm vi của ngành, còn số thống kê của cả nước sai sự thật, thì hậu quả còn lớn hơn nhiều. Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan khi nghe những báo cáo thống kê nửa chặng đường phát triển kinh tế trong 5 năm từ 2011 – 2015, đã phát biểu “Các con số của Việt Nam cứ thế nào ấy. Tôi không dám tin. Thế mà chúng ta lại đem số liệu đấy ra phân tích nữa thì chắc là càng không đúng”. Bản thân người viết bài này ngay từ mấy năm trước đã mạnh dạn viết về sự bất cập của số liệu thống kê Việt Nam qua các bài như “Nợ công đại vấn đề”; “Đằng sau các con số thống kê”; “Con số mà biết nói năng” vv… Theo đánh giá của chuyên gia Vũ Quang Việt nguyên nhân của tình trạng bất ổn định kéo dài từ năm 2008 đến hôm nay thì dường như ai cũng biết. Nhà nước vừa chi tiêu quá trớn, vừa sử dụng chính sách đẩy mạnh tín dụng. Kết quả là đầu tư và phát triển thiếu chất lượng, nợ nước ngoài tăng, lạm phát cao, nợ xấu tăng, nhiều doanh nghiệp mất khả năng trả nợ và nhiều ngân hàng trên bờ phá sản, còn tốc độ tăng GDP thì lại trên đà suy giảm. Tất nhiên trong tình hình như thế, doanh nghiệp không muốn đầu tư, ngân hàng bó buộc phải cắt giảm và thận trọng hơn trong cho vay. Đầu tư nước ngoài cũng không thể tăng như trước. Tình hình đình đốn như thế này sẽ còn kéo dài nhiều năm. Chính sách kích cầu chỉ như đổ dầu vào lửa. Tuy nhiên trong tình hình như thế, nhà nước không phải chỉ ngồi bó tay mà cần lợi dụng thời cơ thiết lập lại trật tự kinh tế. Một trong những trật tự cần thiết lập (chứ không phải thiết lập lại) là hệ thống kiểm soát và cân bằng (check and balance) giữa Chính phủ và Quốc hội trong hoạt động kinh tế. Loạn “sứ quân”! Ngân sách là phản ánh cụ thể chính sách kinh tế. Ngân sách hàng năm được Quốc hội thông qua ở nhiều nước mang đầy đủ tính chất của một đạo luật. Vi phạm bằng cách vượt mức chi ngân sách đề ra là vi phạm luật. Điều này Quốc hội Việt Nam chưa bao giờ đặt ra và thực hiện, dù rằng Chính phủ chi vượt qui định là thực tế đã xảy ra hàng năm. Tỷ lệ chi ngân sách vượt mức Quốc hội quyết đã rất cao và còn đang tăng, từ 31% lên 42% trong khoảng thời gian 2007-2011. Chỉ có thể thấy tính nghiêm trọng của vấn đề trên nếu đem so số nợ vay thêm trên với số nợ tối đa mà Chiến lược vay nợ của Chính phủ đã đề ra cho giai đoạn 2011-2015. Nợ tối đa được qui định là 225,000 tỷ đồng, tức là 10,6 tỷ US. Tuy nhiên, số nợ tăng thêm tính từ đầu năm 2011 đến tháng 6 năm 2013 đã hơn 11 tỷ US, nhưng vẫn còn 02 năm rưỡi nữa mới hết thời hạn kế kế hoạch. Đấy là chỉ kể nợ trái phiếu bao gồm cả tín phiếu ngắn hạn, chưa tính tới nợ vay chính phủ hay ngân hàng nước ngoài. Theo Bộ trưởng Bộ Kế hoạch & Đầu tư Bùi Quang Vinh nhận xét tham nhũng, lãng phí trong đầu tư công xuất hiện chủ yếu từ khâu quyết định chủ trương đầu tư. Hàng loạt các công trình xây dựng xong bỏ hoang, lãng phí không sử dụng, nhưng không ai chịu trách nhiệm cho nên khoản nợ đọng xây dựng cơ bản của các địa phương cả nước lên đến 91.000 tỉ đồng. Theo tôi hiểu, thiếu tiền, nhiều địa phương lại tìm mọi cách “moi tiền” mà không biết ai có thể kiểm soát được họ, kể cả phát hành thêm trái phiếu, thêm nợ. Ngay ở Trung ương, ông Vương Đình Huệ tuyên bố là 7% lạm phát nằm trong kế hoạch những năm tới, có nghĩa là bình thường. Với tư duy kinh tế như vậy, không hiểu nền kinh tế của đất nước sẽ đi về đâu? Lẽ nào, theo Hiến pháp Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước nhưng thực tế mãi mãi vẫn chỉ là “hữu danh, vô thực”!? Bài học về Vinashin Ngay từ khi bùng nổ, vụ Vinashin đã được nhiều chuyên gia phân tích đánh giá rất sâu sắc. Tôi cũng đã viết bài “Vinashin đừng đánh bùn sang ao”. Tháng 2/2013, có ý kiến cho rằng Bộ Tài chính có thể đứng ra bảo lãnh cho khoản nợ quốc tế tới 600 triệu USD của Tập đoàn Công nghiệp Vinashin Vinashin cùng 23 triệu đô la tiền lãi chưa thanh toán thành loại trái phiếu chiết khấu có thời hạn 12 năm, do Bộ Tài chính Việt Nam phát hành để tránh chủ nợ bắt các tầu cũng như ngăn chặn hàng hóa của Vinashin trên thị trường quốc tế để lấy lại vốn. Đề án này đã được Tòa thượng thẩm chấp thuận hôm 4/9. Như vậy, nó không còn là nợ của Vinashin nữa. Bộ Tài chính đang phải “đứng mũi chịu sào” cho bao nhiêu những khoản nợ của nhóm “khu vực chủ đạo” – doanh nghiệp Nhà nước (DNNN)!?. Người nước ngoài không cần biết tên Vinashin hay bất cứ thứ tên nào tương tự nữa. Đến ngày đáo nợ họ sẽ đến Bộ Tài chính để đòi. Nếu đã quyết định đẩy các công ty con đi cho người khác chịu trách nhiệm thì bây giờ cái còn lại đã là 01 công ty mới rồi. Nó không còn liên hệ gì với những cái bị đẩy đi nữa. Nhà nước đã lãnh đủ cái đó rồi. Vậy cái mới có đủ sức sống không thì phải đánh giá tình trạng tài chính và kế hoạch của họ trong tương lai. Thông tin ở đâu để đánh giá? Về phát triển ngành đóng tầu trên thế giới thì đây là ngành đi xuống từ trước năm 2006 và sẽ tiếp tục đi xuống. Không có khả năng đóng tầu để bán. Vậy thị trường đóng tầu trong nước như thế nào? Có đóng nổi tầu chiến hay nên mua nước ngoài? Về mặt quản lý thì không hy vọng gì, bởi vì cái hệ thống quản lý quốc gia vẫn như cũ. Nếu không còn có thị trường đóng tầu thương mại mà chỉ có nhu cầu đóng tầu chiến thì nên giao nó cho quân đội. Thay cho lời kết Kinh nghiệm của nhiều quốc gia phát triển, và Đảng ta luôn nói lắng nghe mọi ý kiến góp ý, nhưng lắng nghe kiểu như vừa qua, thì rút cục đất nước VN vẫn sẽ “đứng ngoài” nhân loại, và sự phát triển. Chính sự tôn trọng sự khác biệt, tôn trọng mọi sự sáng tạo, trong đó, có tư duy, mới là động lực kích thích cho dân tộc đó phát triển, và cũng chứng tỏ chính quyền của quốc gia đó mạnh. Người mạnh là người biết lắng nghe mọi chính kiến khác biệt. Nguồn: kimdunghn.wordpress.com
......

Ẩn đằng sau chuyến công du của thủ tướng

"Những chuyến công du tất bật của lãnh đạo ĐCSVN sẽ mang lại kết quả gì khi chỉ tìm dầu cù là, dầu gió thoa ngoài da để trị bệnh ung thư thời kỳ cuối của nền kinh tế phi kinh tế mà đảng mãi dung túng? TTĐQ" Cách đây 2 tuần, tôi có một cuộc khảo sát các bạn tôi là những giám đốc kinh doanh ở các lĩnh vực thương mại gồm: điện máy, hàng nông sản thực phẩm, tiêu dùng thiết yếu, thì sức mua của người dân giảm mạnh trong 8 tháng đầu năm 2013 chỉ còn 40% so với cùng kỳ năm 2012. Một số doanh nghiệp đã giảm biên chế hoặc giảm lương chỉ còn 40%. Sức mua giảm thì hàng tồn kho tăng, hàng tồn kho tăng thì buộc doanh nghiệp phải giảm hoặc ngưng sản xuất.   Một số doanh nghiệp làm ăn có lãi, còn sống sót nhờ đơn đặt hàng xuất khẩu, nhưng vay vốn hoạt động bị giảm xuống, vì giá trị thế chấp bất động sản đã giảm, thiếu vôn kinh doanh để đủ nuôi quân, họ đành giảm sản xuất, hoặc đóng cửa. Chỉ cần có thế, không cần phải làm cái gì to tác, để có thể hiểu được kinh tế Việt Nam đang ở đâu.   Nhưng khi ông thủ tướng Nguyễn tấn Dũng bắt đầu chuyến công du Pháp, để ký kết đồng minh chiến lược, thì cũng là lúc ở nhà các nhà kinh ban tế thế họp nhau ở Huế với cái gọi là: Diễn đàn kinh tế mùa thu. Các nhà kinh bang tế thế bàn nhau rất hăng. Nào là kinh tế Việt Nam đã hạ cánh nặng nề, từ miệng ông chú tịch ủy ban giám sát tài chính quốc gia. Nào là kinh tế Việt Nam nghẽn mạch tăng trưởng từ ông viện trưởng viện kinh tế Việt Nam. Nào là kinh tế Việt Nam vỡ ổn định vĩ mô từ 5 năm qua từ ông cựu phó thủ tướng. Nếu chịu khó đọc thì toàn tin xấu. Hôm nay, ông thủ tướng vừa đặt chân tới Washington DC. Gọi là đi họp lần 68 của Liên Hiệp Quốc, nhưng ông đã tức tốc đến thăm 3 nơi vô cùng quan trọng, mà từ trước tới nay chưa có nhà cầm quyền nào ở Việt Nam làm chuyến con thoi tấp cập như thế: World Bank, IMF và Bộ thương mại Hoa Kỳ, với những lời đề nghị rất thiết tha về vấn đề vay mượn, và mong mỏi Hoa Kỳ công nhận nền kinh tế Việt Nam là kinh tế thị trường tự do. Có một điều mấu chốt là, tại sao các nhà kinh bang tế thế không ai dám đá động đến nguyên nhân sụp đổ kinh tế của nước Việt là chính trị không chịu thay đổi để phù hợp với kinh tế năng động? Thế mới thấy sự ràng buộc của 2 cái phàm là của Mao nó ghê gớm đến nhường nào? Hai năm trước tôi đã có bài: Nhìn đến năm 2013. Trong đó, tôi đã nhận định rằng, kinh tế Việt Nam sẽ thực sự sụp đổ vào năm 2013, vì một nền chính trị phi khoa học, đi ngược với các quy luật xã hội học. Nhìn hình ảnh ông thủ tướng công du con thoi, mà bề ngoài là đi ký kết chiến lược với Pháp, và đi tham dự Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc lần thứ 68, nhưng bản chất là đi lo chuyện kinh tế nước nhà đang sụp đổ, chưa có thuốc chữa. Tháng 10/2013 là tháng quyết định nhiều việc đối với Việt Nam. Vì nó là tháng mà quốc hội phải thông qua hiến pháp mới 2013 - sau 4 lần sửa đổi - để phù hợp tình hình mới. Cũng là tháng mà vòng đàm phán lần thứ 20 - cũng là vòng đàm phán cuối cùng - của Hiệp Định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương. Nhưng tới nay, quốc hội vẫn còn đang loay hoay với những chuyện xưa như trái đất - sở hữu và đơn nguyên hay đa nguyên chính trị. Và 81 tập đoàn kinh tế nhà nước vẫn chưa được tư nhân hóa, cũng như chưa được công nhận người dân được phép thành lập Hội. Tất cả những điều này quyết định cho Việt Nam có được tham gia tự nguyện vào TPP hay không. Không ai bắt buộc Việt Nam phải vào. Nhưng không vào thì không có cái để cứu lấy nền kinh tế đang sụp đổ. Trong khi đó để được vào là phải cải tổ hệ thống chính trị. Chuyến công du của ông thủ tướng chỉ cách chuyến đi của ông chủ tịch nước đến Hoa Kỳ có 2 tháng. Cả hai chuyến đi đều có những hành động quyết liệt nhằm cứu lấy nền kinh tế đang sụp đổ thực sự. Hai chuyến đi dồn dập và những mục tiêu cho thấy tất cả. Nhưng Hoa Kỳ lại là một quốc gia không là con chiên của bất kỳ chủ thuyết nào, mà là một quốc gia theo cuộc sống hiện sinh thực dụng. Ngoại giao với Hoa Kỳ không chỉ bằng nước bọt. Lần này thực sự là nguy ngập, nhưng trong cái nguy ngập ấy lại là cơ hội chính trị Việt Nam thay đổi như Miến Điện. Nếu không, hầu như mọi ngã đường đi đến tương lai của Việt Nam đều xấu. Vì lòng dân đã mất niềm tin. Xuất khẩu vẫn tốt mà sức mua của dân chúng lại cạn kiệt. Hệ thống tài chính ngân hàng đang ôm nợ xấu, dù giảm lãi suất, nhưng không tìm ra khách hàng cho vay, trong khi đó vẫn cứ tăng mức huy động vốn để tồn tại. Đó là những nghịch lý lớn đang tồn tại trong nền kinh tế Việt Nam, và chính chúng sẽ hủy diệt nền chính trị phi khoa học không bao lâu nữa. Tư Gia, 20h31’ ngày thứ Sáu, 27/9/2013 Nguồn: Blog Bs Hồ Hải
......

Tự thi hành quyền công dân

Ngày 22 Tháng Chín 2013 vừa qua, 130 nhà trí thức ở trong và ngoài nước đã đưa ra một bản “Tuyên bố về thực thi quyền Dân sự và Chính trị.” Một điều được nêu ra là “cần khởi xướng một diễn đàn trao đổi và tập hợp các ý kiến nhằm góp phần chuyển đổi thể chế chính trị của nước ta từ toàn trị sang dân chủ một cách ôn hòa.” Chắc ai cũng phải đồng ý với sáng kiến này, sẵn sàng ký tên chung, kể cả ông Ðoàn Văn Vươn. Ai cũng mong thay đổi nước ta từ một chế độ độc tài toàn trị sang dân chủ tự do; và chắc ai cũng muốn chỉ đòi hỏi thay đổi một cách ôn hòa, để người Việt không làm đổ máu người Việt. Nếu có người vào tù hỏi ý kiến, chắc ông Ðoàn Văn Vươn cũng đồng ý ký vào bản tuyên bố này. Mặc dù, đã có lúc ông thấy cứ ôn hòa mãi chẳng đi tới đâu cả nên phải dùng đến chất nổ, chỉ cho nổ chơi thôi, và dùng súng hoa cải bắn vu vơ không có ý định giết ai cả. Bây giờ anh em nhà họ Ðoàn bị tù, các cán bộ mà ông tranh đấu ôn hòa mãi không ăn thua gì thì họ đã được thăng quan tiến chức. Nhưng chắc nếu được coi bản Tuyên bố về Thực thi quyền Dân sự và Chính trị thì ông Vươn cũng sẵn sàng ký. Mà chắc ông Ðặng Ngọc Viết, nếu còn sống, cũng vậy. Ông phải đồng ý rằng nước ta cần đổi từ độc tài toàn trị sang dân chủ tự do, và nên tranh đấu ôn hòa. Chỉ tiếc ông đã không thể ôn hòa mãi được, cho nên hôm 11 Tháng Chín ông đã tới Trung Tâm Phát Triển Quỹ Ðất thành phố Thái Bình, hỏi tên để tìm mặt các quan chức, rồi bắn chết hai người, ba cán bộ khác trọng thương. Tội nghiệp ông Ðặng Ngọc Viết, ông đã đi xa, vào tận miền Nam làm ăn từ lâu. Chỉ về thăm quê được một tuần, nghe nỗi khổ của gia đình bị ép lấy mất đất mà bồi thường không đủ nên cơn phẫn uất nổi lên, ông giết người rồi tự bắn vào tim mình (theo blog Quê Choa). Sau khi ông Viết qua đời, chắc gia đình ông lại tiếp tục tranh đấu ôn hòa như cũ. Tôi cũng sẵn sàng ký tên mình vào bản Tuyên bố với 130 nhà trí thức đã ký. Nhưng tôi cũng biết chính mình, và 130 vị đã ký tên, không ai bị cướp đất, cướp ruộng hay ao cá. Không ai phải khóc vì oan ức, như các gia đình Ðặng Ngọc Viết và Ðoàn Văn Vươn; không ai bị ức hiếp đến nỗi phải tự thiêu như bà Ðặng Thị Kim Liêng. Mỗi người làm bổn phận đối với đất nước theo cách của mình. Ðặng Ngọc Viết và Ðoàn Văn Vươn đã bày tỏ ý kiến bằng chất nổ và súng; còn các nhà trí thức bầy tỏ cách khác, bằng các lời tuyên bố. Cả hai cách đều có giá trị không khác gì nhau. Ðảng Cộng sản Việt Nam sẽ phải chọn, hoặc đối thoại với các người tranh đấu ôn hòa, hoặc đối đầu với những Ðặng Ngọc Viết và Ðoàn Văn Vươn trong tương lai. Các nhà trí thức đã khởi xướng một diễn đàn để thi hành quyền công dân của họ. Diễn đàn này mang tên “Diễn đàn xã hội dân sự;” và họ thông báo “có trang thông tin điện tử là nơi bày tỏ ý kiến của các tổ chức, các nhóm, các cá nhân cùng theo đuổi mục đích nêu trên.” Chúng ta chờ đợi trang thông tin điện tử của Diễn Ðàn Xã Hội Dân Sự. Mặc dù, từ mấy năm nay có thể coi là một diễn đàn đã có mặt rồi, dưới những tên gọi khác. Năm 2007, ông Nguyễn Văn Hải tức blogger Ðiếu Cày đã thành lập Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do. Mạng lưới Bô Xít Việt Nam đã hoạt động từ mấy năm nay, chính tôi đã nhiều lần đóng góp ý kiến trong đó. Cách đây ba hôm, Ủy Ban Bảo Vệ Nhà Báo (CPJ), trụ sở ở New York, đã trao tặng giải thưởng Tự Do Báo Chí Quốc Tế năm 2013 cho ông Nguyễn Văn Hải, đang ở trong tù. Họ cũng tặng giải cho ba nhà báo khác, Janet Hinostroza ( đài Teleamazonas, Ecuador), Bassem Youssef (đài CBC, Ai Cập), và Nedim Sener (báo Posta, Thổ Nhĩ Kỳ). Ủy Ban Bảo Vệ Nhà Báo tuyên bố: “Chúng tôi ghi nhận lòng can đảm, sự dấn thân và ý chí từ chối không ngậm miệng im lặng” của bốn nhà báo tranh đấu cho quyền làm người. Trong bốn người được tặng giải, Ðiếu Cày Nguyễn Văn Hải là người duy nhất đang bị tù, từ năm 2008 đến nay. Ông Nedim Sener mới chỉ bị truy tố ra tòa, chắc sẽ được tự do cùng hai người kia đến New York lãnh giải. Nhưng nếu có người vào trong nhà tù hỏi ý kiến, chắc anh Nguyễn Văn Hải cũng sẵn sàng ký tên vào bản tuyên bố thành lập diễn đàn mới này. Bởi vì đó là việc chính anh đã làm từ 7, 8 năm trước. Trang mạng của Ðiếu Cầy, của Tạ Phong Tần (hai người bị tù), cho tới những trang của Ô Sin Huy Ðức, Người Buôn Gió, Anh Ba Sàm, Huỳnh Ngọc Chênh, vân vân, cũng đều là những diễn đàn xã hội và dân sự cả. Vì họ đều dấn thân và không chịu ngậm miệng, và họ chỉ bàn các vấn đề dân sự thôi chứ không dùng súng đạn như người dân Tiên Lãng hay Thái Bình đã dùng. Cho nên, sau bản tuyên bố đang được mọi người hoan nghênh, các nhà trí thức trong nước cần có những hành động mạnh hơn, tiến xa hơn những lời tuyên bố. Bản tuyên bố đã nêu lên vấn đề sửa đổi Hiến Pháp; đó là một bước khởi đầu đáng chú ý. Họ nhận xét việc sửa đổi Hiến Pháp của Quốc Hội hiện nay “về cơ bản vẫn duy trì thể chế toàn trị của giới cầm quyền nhân danh Ðảng Cộng sản Việt Nam.” Cho nên, họ “yêu cầu Quốc Hội dừng việc thông qua bản Hiến Pháp sửa đổi trong đó thể chế chính trị hiện hành vẫn được duy trì.” Nói cách khác, họ muốn toàn dân tham dự thảo luận thay đổi “chế chính trị hiện hành,” về cơ bản. Tại sao lại đòi thay đổi chế chính trị hiện đang có ở nước ta? Lý do được nêu ra là sau khi sống trong thể chế hiện hành, họ thấy, “Ðó là nguyên nhân gốc rễ khiến nước ta lâm vào khủng hoảng trên nhiều mặt: kinh tế suy giảm nặng... văn hóa giáo dục suy đồi, đạo đức băng hoại, môi sinh bị tàn phá,... dân mất lòng tin;... trong khi đó, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta đang bị thế lực bành trướng Trung Quốc gia tăng các hành động xâm phạm.” Kết luận: “Ðể vượt qua những thách thức hiểm nghèo đối với đất nước và dân tộc, giải pháp cơ bản là phải cải cách thể chế chính trị, chuyển từ toàn trị sang dân chủ.” Ðã có nhiều tiếng nói đòi thay đổi thể chế chính trị, chuyển từ toàn trị sang dân chủ, như vẫn trình bày trong mục này. Nhưng đây là lần đầu tiên có những người ở Việt Nam chính thức đòi toàn dân được góp ý kiến thay đổi thể chế, bằng bản Hiến Pháp mới. Có thể coi đây là một cao điểm trong phong trào vận động tự do dân chủ ở nước ta: Chính thức lên tiếng đòi thay đổi thể chế! Một điểm đáng chú ý khác là những người ký tên trong bản tuyên bố không ngỏ ý xin ai cái gì cả. Họ không xin đảng, nhà nước, hay Quốc Hội cho họ được góp ý kiến. Họ tuyên bố sẽ “thực thi quyền Dân sự và Chính trị” được dẫn ra với điều 69 trong Hiến Pháp hiện hành và “Công ước quốc tế về những quyền dân sự và chính trị” mà Việt Nam đã ký từ năm 1982. Họ chỉ thi hành các quyền công dân đã có sẵn. Thái độ ngang nhiên, không xin xỏ, không “nhờ lượng cả bao dung” của băng đảng cầm quyền, là một bước tiến mới; so với các bản kiến nghị và thỉnh cầu trước đây. Chúng tôi hoan nghênh bước dấn thân mới này; và ước mong những lời nói sẽ biến thành hành động. Một điều đáng lo ngại là nhiều người sẽ ký tên vào bản tuyên bố nhưng không nghĩ đến việc làm sao các ý kiến của mình sẽ biến thành sự thật. Như một kiến trúc sư ở Hà Nội, trả lời đài RFI đã nói: “...tôi cũng không hy vọng là mình ký xong, thì người ta sẽ suy nghĩ, người ta sẽ chờn, người ta sẽ làm theo ý mình. Nhưng ít ra tôi cũng ký, để thể hiện quan điểm của tôi, là tôi đòi xóa bỏ những chuyện bất công, vô lý đã diễn ra ở xung quanh mình.” Nếu ai cũng nghĩ như bà kiến trúc sư này, ký tên chỉ để “thể hiện quan điểm” của mình, mà không hy vọng gì cả, thì tất cả bản tuyên bố này sẽ vô giá trị. Khi muốn “đòi xóa bỏ những chuyện bất công, vô lý đã diễn ra ở xung quanh mình,” thì người ta phải sẵn sàng dấn thân hơn. Nếu không, thì chỉ trong ba tháng sẽ chẳng còn ai nhớ đến bản tuyên bố hùng hồn này nữa. Bởi vì ở nước ta đã có hàng ngàn những bài viết, những tuyên ngôn và kiến nghị nêu lên các ý kiến tương tự rồi; hầu hết đã chìm vào quên lãng. Cuối cùng, người ta chỉ còn nhớ những Ðoàn Văn Vươn, nhớ Ðặng Ngọc Viết, và tưởng nhớ bà Ðặng Thị Kim Liêng, người đã tự thiêu sau khi bị chính quyền đàn áp, chỉ vì có con gái chống Trung Cộng xâm lăng rồi bị bỏ tù. Cần bao nhiêu người chết như Ðặng Ngọc Viết và Ðặng Thị Kim Liêng nữa thì giới trí thức mới rời khỏi cái máy vi tính và các trang mạng, bắt đầu xuống đường “xóa bỏ những bất công, vô lý” cho đến khi nước Việt Nam có cơ hội ngẩng mặt lên? Nguồn: nguoi-viet.com/
......

Tuyên bố Về thực thi quyền Dân sự và Chính trị

(Danh sách từ đợt 1 đến đợt 5) Hiến pháp hiện hành của nước ta quy định tại điều 69: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin, có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”. Công ước quốc tế về những quyền dân sự và chính trị (mà Nhà nước Việt Nam ký tham gia ngày 24/9/1982) quy định cụ thể về quyền bày tỏ quan điểm, quyền hội họp và lập hội: “Mọi người đều có quyền giữ vững quan niệm mà không bị ai can thiệp. Mọi người đều có quyền tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận, và phổ biến mọi tin tức và ý kiến bằng truyền khẩu, bút tự hay ấn phẩm, dưới hình thức nghệ thuật, hay bằng mọi phương tiện truyền thông khác, không kể biên giới quốc gia” (trích điều 19[1]); “Quyền hội họp có tính cách hoà bình phải được thừa nhận” (trích điều 21); “Ai cũng có quyền tự do lập hội, kể cả quyền thành lập và gia nhập các nghiệp đoàn để bảo vệ quyền lợi của mình” (trích điều 22). Những quy định tương tự cũng có trong Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hiệp Quốc được công bố ngày 10/12/1948 mà mọi quốc gia thành viên đếu phải tôn trọng [2].   Căn cứ vào những quy định đó, các ý kiến đóng góp cho việc sửa đổi Hiến pháp khác với quan điểm của Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp do Quốc hội lập, đặc biệt là về những điều cơ bản của thể chế chính trị (như Kiến nghị do 72 người ký trực tiếp ngày 19-1-2013, thường được gọi tắt là Kiến nghị 72, Tuyên bố của Hội đồng Giám mục, Tuyên bố công dân tự do, ý kiến trên trang mạng Cùng viết Hiến pháp, và nhiều ý kiến của đồng bào trong và ngoài nước trên các trang thông tin điện tử) là hoàn toàn phù hợp với Hiến pháp và Công ước quốc tế về những quyền dân sự và chính trị (dưới đây gọi tắt là Công ước quốc tế). Điều đó cũng đúng với nhiều tiếng nói đòi dân chủ và thực hiện các quyền tự do đã được quy định trong Hiến pháp, gắn liền với yêu cầu bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, hòa nhịp với các hình thức đấu tranh của nông dân bị mất đất, của công nhân đòi việc làm và cải thiện đời sống. Những tiếng nói đó của các tổ chức và nhóm như Hội đồng Giám mục, nhóm các chức sắc tôn giáo, nhóm công dân tự do, nhóm Tuyên bố 258, câu lạc bộ NoU, v.v., hoặc của nhiều cá nhân ở trong và ngoài nước mang tinh thần yêu nước và khát vọng dân chủ, đều được bày tỏ một cách ôn hòa, hợp pháp. Chúng tôi, những người ký tên dưới đây hoan nghênh ý thức xây dựng của những tiếng nói đó và thấy rằng để phản ảnh yêu cầu của đông đảo nhân dân, cần khởi xướng một Diễn đàn trao đổi và tập hợp các ý kiến nhằm góp phần chuyển đổi thể chế chính trị của nước ta từ toàn trị sang dân chủ một cách ôn hòa. Đó là mục đích hoạt động của Diễn đàn, hoàn toàn phù hợp với hiến pháp của nước ta và Công ước quốc tế. Diễn đàn này mang tên “Diễn đàn xã hội dân sự” và có trang thông tin điện tử là nơi bày tỏ ý kiến của các tổ chức, các nhóm, các cá nhân cùng theo đuổi mục đích nêu trên, với mong muốn xã hội dân sự ở nước ta phát triển đúng với yêu cầu của một nước dân chủ. Chúng tôi yêu cầu nhà cầm quyền tôn trọng quyền bày tỏ quan điểm của công dân, thẳng thắn tranh luận và đối thoại, từ bỏ cách đối xử không công bằng, không minh bạch và không đường hoàng như đã và đang áp dụng đối với những kiến nghị sửa đổi Hiến pháp và những tiếng nói đòi dân chủ khác với quan điểm của nhà cầm quyền. Ý kiến khác nhau cần được tranh luận thẳng thắn để tìm chân lý; còn dựa vào quyền lực để cản trở việc công bố, không đối thoại mà chỉ đơn phương phê phán, quy kết, thậm chí dùng nhiều cách ngăn cấm và trấn áp thì không những vi hiến và trái với Công ước quốc tế mà còn không đúng với tư cách chính đáng của một nhà cầm quyền. Việc sửa đổi Hiến pháp đang còn ý kiến khác nhau về những vấn đề cơ bản của thể chế chính trị. Dự thảo Hiến pháp sửa đổi dự định trình Quốc hội thông qua trong kỳ họp cuối năm tuy có một số điều chỉnh chi tiết nhưng về cơ bản vẫn duy trì thể chế toàn trị của giới cầm quyền nhân danh Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN). Thực tế ở nước ta cho thấy rõ: thể chế này đã tạo nên một bộ máy cầm quyền có nhiều quyết sách sai trái và quan liêu, tham nhũng nặng; một “bộ phận không nhỏ” trong bộ máy lợi dụng quyền lực (cả quyền cai trị và quyền sử dụng, định đoạt đất đai, tài nguyên, tài sản công) cấu kết với một số nhà kinh doanh làm giàu bằng nhiều thủ đoạn bất minh (cả trong khu vực kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân), hình thành các nhóm lợi ích bất chính, xâm phạm quyền lợi của nhân dân, dẫn tới sự phân hóa giàu nghèo quá bất công ở nước ta. Không ít người trong giới cầm quyền các cấp cùng với các nhóm lợi ích và sự hậu thuẫn của thế lực bên ngoài đang dựa vào bạo lực cùng nhiều thủ đoạn không chính đáng để duy trì quyền thống trị đất nước theo thể chế toàn trị, có phần do tư duy giáo điều, bảo thủ, nhưng phần quan trọng hơn, phổ biến hơn là do muốn bảo vệ và giành thêm lợi ích riêng bất chấp lợi ích chung của đất nước, của dân tộc. Đó là nguyên nhân gốc rễ khiến nước ta lâm vào khủng hoảng trên nhiều mặt: kinh tế suy giảm nặng và không ổn định, văn hóa giáo dục suy đồi, đạo đức băng hoại, môi sinh bị tàn phá, trình độ phát triển và năng lực cạnh tranh thua kém nhiều nước trong khu vực, dân mất lòng tin đối với bộ máy cầm quyền; trong khi đó, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta đang bị thế lực bành trướng Trung Quốc gia tăng các hành động xâm phạm. Để vượt qua những thách thức hiểm nghèo đối với đất nước và dân tộc, giải pháp cơ bản là phải cải cách thể chế chính trị, chuyển từ toàn trị sang dân chủ, qua đó phát huy sức mạnh hòa giải và đoàn kết dân tộc, mở ra thời kỳ phát triển mới cho đất nước và bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia. ĐCSVN, với vị trí là đảng đang cầm quyền, tự nhận vì nước vì dân, có trách nhiệm thúc đẩy quá trình chuyển đổi đó một cách chủ động, mở đầu bằng việc sửa đổi Hiến pháp. Đó là mệnh lệnh của cuộc sống và cũng là phương án tối ưu cho sự chuyển đổi thể chế chính trị một cách ôn hòa ở nước ta. Nếu Hiến pháp sửa đổi vẫn duy trì thể chế toàn trị được thông qua và ban hành chính thức thì các thách thức mà đất nước và dân tộc đang đối mặt càng thêm nghiêm trọng dẫn tới hệ quả khôn lường, dân càng thất vọng và bất bình, uy tín của nước ta trong quan hệ quốc tế càng giảm sút. Đó thật sự là tai họa cho đất nước mà trách nhiệm thuộc về giới cầm quyền. Vì vậy, Diễn đàn xã hội dân sự yêu cầu Quốc hội dừng việc thông qua bản Hiến pháp sửa đổi trong đó thể chế chính trị hiện hành vẫn được duy trì về cơ bản, kéo dài thời gian thảo luận về Hiến pháp và thật lòng tổ chức nghiên cứu, tranh luận một cách thẳng thắn, nghiêm túc và công khai về những điều cơ bản của thể chế chính trị đang còn ý kiến khác nhau. Tuyên bố này được gửi tới các thành viên cơ quan lãnh đạo ĐCS và Nhà nước; đồng thời được công bố trên mạng xã hội để phổ biến rộng rãi, mong đồng bào trong và ngoài nước biểu thị sự đồng tình, hưởng ứng. Ngày 23 tháng 9 năm 2013 Những người khởi xướng Diễn đàn xã hội dân sự Ghi chú: - Ý kiến hưởng ứng Tuyên bố này xin gửi về địa chỉ e-mail: diendanxahoidansu@gmail.com - Cách thức tham gia Diễn đàn sẽ được thông báo sau. DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI KÝ TÊN TUYÊN BỐ THỰC THI QUYỀN DÂN SỰ VÀ CHÍNH TRỊ 23-9-2013 STT Họ và tên, chức danh (nghề nghiệp, nơi làm việc), thành phố/ nước 1. Nguyễn Đông Yên, GS TSKH, nhà toán học, Hà Nội 2. Phạm XuânYêm, GS Vật lý, Paris, Pháp 3. Nguyễn Đắc Xuân, nhà văn, nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hoá Huế, Huế 4. Tô Nhuận Vỹ, nhà văn, Huế 5. Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, cựu Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc, Hà Nội 6. JB Nguyễn Hữu Vinh, blogger, Hà Nội 7. Nguyễn Hữu Vinh, cử nhân luật, doanh nhân, Hà Nội 8. Vũ Quang Việt, nguyên chuyên viên cấp cao của Liên Hiệp Quốc, New York, Hoa Kỳ 9. Phan Thế Vấn, bác sĩ, TP HCM 10. Trần Thanh Vân, kiến trúc sư, Hà Nội 11. Lưu Trọng Văn, nhà báo, nhà nghiên cứu văn hóa, TP HCM 12. Hà Dương Tường, nguyên giáo sư Đại học Công nghệ Compiègne, Pháp 13. Trần Thị Tươi, cộng tác viên báo chí, TP. HCM 14. Hoàng Tụy, GS Toán học, nguyên Chủ tịch IDS, Hà Nội 15. Vũ Quốc Tuấn, nguyên trợ lý của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Hà Nội 16. Phạm Quang Tuấn, PGS, Đại học New South Wales, Sydney, Australia 17. Nguyễn Thế Trường, đại tá, cựu chiến binh, nguyên phóng viên báo Quân đội Nhân dân, nguyên Tổng biên tập báo Quân giải phóng Trung Trung Bộ, Hà Nội 18. Nguyễn Trung, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Thái Lan, nguyên trợ lý cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, nguyên thành viên IDS, Hà Nội 19. Phạm Đình Trọng, nhà văn, TP HCM 20. Nguyễn Thị Khánh Trâm, nghiên cứu viên, Phân viện Văn hoá Nghệ thuật Việt Nam tại TP HCM, TP HCM 21. Nguyễn Thị Ngọc Trai, hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam, hội viên Hội Nhà Báo Việt Nam, nguyên Phó Tổng biên tập báo Văn nghệ, Hội Nhà Văn Việt Nam, Hà Nội 22. Nguyễn Thị Ngọc Toản, GS, bác sĩ, đại tá cựu chiến binh, TP HCM 23. Phạm Gia Toàn, cán bộ nghỉ hưu, Hà Nội 24. Phạm Toàn, nhà giáo, Hà Nội 25. Nguyễn Tường Thụy, blogger, cựu chiến binh, Hà Nội 26. Nguyễn Thị Thục, nhà báo, nguyên phóng viên đài Phát thanh Truyền hình Lâm Đồng, Đà Lạt 27. Phan Văn Thuận, Giám đốc Công ty TNHH Phú An Định, TP HCM 28. Trần Quốc Thuận, luật sư, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, TP HCM 29. Võ Văn Thôn, nguyên Giám đốc Sở Tư pháp TP HCM, TP HCM 30. Trần Văn Thọ, GS Kinh tế, Tokyo, Nhật Bản 31. Đào Tiến Thi, thạc sĩ Ngữ văn, Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Hà Nội 32. Lê Thân, cựu tù chính trị Côn Đảo trước 1975, nguyên Tổng Thư ký Lực lượng Nhân dân Tranh thủ Dân chủ Đà Lạt (1966), TP HCM 33. Giuse Maria Lê Quốc Thăng, linh mục Tổng Giáo phận Sài Gòn, TP HCM 34. Nguyễn Quốc Thái, nhà báo, TP HCM 35. Nguyễn Văn Thạch, kỹ sư, TP Đà Nẵng 36. Trần Công Thạch, cán bộ hưu trí, TP HCM 37. Bùi Ngọc Tấn, nhà văn, Hải Phòng 38. Lê Văn Tâm, TS Hóa học, nguyên Chủ tịch Hội Người Việt Nam ở Nhật Bản, TP HCM 39. Nguyễn Văn Tạc, giáo học hưu trí, Hà Nội 40. Trần Đình Sử, GS TS, Hà Nội 41. Tô Lê Sơn, kỹ sư, TP HCM 42. Đào Xuân Sâm, nguyên thành viên Tổ Tư vấn của Thủ tướng, Hà Nội 43. André Menras - Hồ Cương Quyết, nhà giáo, cựu tù trước 1975, Pháp 44. Trần Thị Quyên, nghề nghiệp tự do, TP HCM 45. Bùi Minh Quốc, nhà thơ, Đà Lạt 46. Đỗ Trung Quân, nhà thơ, TP HCM 47. Nguyễn Đăng Quang, nguyên cán bộ Bộ Công an, Hà Nội 48. Đặng Bích Phượng, cán bộ nghỉ hưu, Hà Nội 49. Phạm Xuân Phương, đại tá, nguyên chuyên viên Tổng cục Chính trị, cựu chiến binh, Hà Nội 50. Đoàn Văn Phương, nguyên cán bộ Ban Giao bưu Trung ương Cục Miền Nam, TP HCM 51. Nguyễn Thị Hoài Phương, làm nghề tự do, Hà Nội 52. Huỳnh Sơn Phước, nhà báo, nguyên Phó Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ, nguyên thành viên Viện IDS, Hội An 53. Nguyễn Hữu Phước, nhà báo, nguyên cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam, TP HCM 54. Hoàng Xuân Phú, GS TSKH Toán học, Hà Nội 55. Phan Thị Hoàng Oanh, TS, giảng viên đại học, TP HCM 56. Hồ Ngọc Nhuận, nguyên Giám đốc chính trị, Chủ bút nhật báo Tin sáng Sài Gòn TP Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam TP HCM, TP HCM 57. Nguyễn Quang Nhàn, cán bộ công đoàn hưu trí, Đà Lạt 58. Phạm Xuân Nguyên, Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội, Hà Nội 59. Nguyễn Thái Nguyên, TS, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, Hà Nội 60. Trần Đức Nguyên, nguyên Trưởng ban Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội 61. Phạm Đức Nguyên, PGS, giảng viên cao cấp Đại học Xây dựng Hà Nội, Hà Nội 62. Hạ Đình Nguyên, cử nhân giáo khoa Triết Đại học Sài Gòn, cựu tù chính trị Côn Đảo, TP HCM 63. Nguyên Ngọc, nhà văn, nguyên thành viên IDS, Hội An 64. Kha Lương Ngãi, nguyên Phó Tổng biên tập báo Sài Gòn Giải phóng, TP HCM 65. Trần Tố Nga, nữ cựu tù chính trị, cán bộ hưu trí, TP HCM, Paris 66. Phạm Gia Minh, TS, Hà Nội 67. Huỳnh Công Minh, linh mục Tổng Giáo phận Sài Gòn, TP HCM 68. Huỳnh Tấn Mẫm, bác sĩ, Đại biểu Quốc hội khóa 6, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước 1975, TP HCM 69. Nguyễn Khắc Mai, nguyên Vụ trưởng Ban Dân vận Trung ương, Hà Nội 70. Nguyễn Văn Ly (Tư Kết), nguyên Phó Bí thư Đảng ủy Sở Văn hóa Thông tin TP HCM, TP HCM 71. Trần Lương, nghệ sĩ thị giác, Hà Nội 72. Ngô Vĩnh Long, GS Sử học, University of Maine, Hoa Kỳ 73. Trần Văn Long, nguyên Phó Bí thư Thành đoàn Thanh niên Cộng sản TP HCM, nguyên Tổng Thư ký Uỷ ban cải thiện chế độ lao tù miền Nam Việt Nam trước 1975, TP HCM 74. Hồ Uy Liêm, nguyên Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam, Hà Nội 75. Nguyễn Quang Lập, nhà văn, TP HCM 76. Cao Lập, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên Giám đốc Làng Du lịch Bình Quới thuộc Tổng công ty Du lịch Sài Gòn, TP HCM 77. Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, nguyên Viện phó Viện IDS, Hà Nội 78. Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học, nguyên thành viên Tổ Tư vấn của Thủ tướng, nguyên thành viên Viện IDS, TP HCM 79. Nguyễn Khuê, cán bộ hưu trí, TP HCM 80. Lê Xuân Khoa, nguyên giáo sư thỉnh giảng, Viện Chính sách Đối ngoại, Đại học Johns Hopkins, Washington, DC, Hoa Kỳ 81. Nguyễn Vi Khải, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, Hà Nội 82. Lê Phú Khải, nhà báo, nguyên phóng viên Đài Tiếng nói Việt Nam, TPHCM 83. Phạm Khiêm Ích, PGS, nguyên Phó Viện trưởng Viện Thông tin, Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam. Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam, Hà Nội 84. Hà Thúc Huy, PGS TS, giảng viên đại học, TP HCM 85. Nguyễn Thị Hoài Hương, làm nghề tự do, Hà Nội 86. Hoàng Hưng, làm thơ - dịch sách - làm báo, TP HCM 87. Nguyễn Đăng Hưng, TSKH, GS Đại học Liège, Bỉ, đã hồi hương, TP HCM 88. Nguyễn Thế Hùng, GS Đại học Đà Nẵng, Đà Nẵng 89. Nguyễn Mạnh Hùng (Nam Dao), nguyên GS Kinh tế, Đại học Laval, Quebec, Canada 90. Phaolô Nguyễn Thái Hợp, Giám mục Giáo phận Vinh, Nghệ An 91. Ngô Kim Hoa, nhà báo tự do, TPHCM 92. Hồ Hiếu, cựu tù Côn Đảo, nguyên Chánh văn phòng Ban Dân vận Mặt trận, Thành uỷ TP HCM, TP HCM 93. Phạm Duy Hiển, GS, nguyên Viện trưởng Viện Hạt nhân Đà Lạt, nguyên thành viên IDS, Hà Nội 94. Phạm Duy Hiển, kỹ sư, Vũng Tàu 95. Võ Thị Hảo, nhà văn, Hà Nội 96. Đặng Thị Hảo, TS, nguyên Phó Ban Văn học Cổ cận đại, Viện Văn học, Hà Nội 97. Nguyễn Gia Hảo, nguyên thành viên Tổ Tư vấn của Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, Hà Nội 98. Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, nguyên thành viên IDS, Hà Nội 99. Trần Hải Hạc, TS, nguyên PGS Đại học Paris 13, Paris, Pháp 100. Hoàng Thị Hà, giáo viên về hưu, Hà Nội 101. Ngô Thanh Hà, cán bộ hưu trí, TP HCM 102. Lê Công Giàu, nguyên Tổng thư ký Tổng hội Sinh viên Sài Gòn (1966-1967), nguyên Phó Bí thư Thường trực Đoàn Thanh niên Cộng sản TP HCM (1975-1980), nguyên Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP HCM (ITPC), TP HCM 103. Nguyễn Ngọc Giao, nguyên Phó Tổng thư ký Hội Người Việt Nam tại Pháp, Chủ biên tạp chí Diễn Đàn, Paris 104. Trần Tiến Đức, nhà báo, nguyên vụ trưởng Vụ Giáo dục - Truyền thông, Uỷ ban Quốc gia dân số và kế hoạch hóa gia đình, Hà Nội 105. Huy Đức, nhà báo, TP HCM 106. Uông Đình Đức, kỹ sư cơ khí, TP HCM 107. Phạm Văn Đỉnh, TSKH, Toulouse, Pháp 108. Nguyễn Đình Đầu, nhà nghiên cứu, TP HCM 109. Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó Tổng Thư ký Uỷ ban Trung ương Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam TP HCM, đại biểu Hội đồng Nhân dân TP HCM khóa 4, khóa 5, TP HCM 110. Nguyễn Duy, nhà thơ, TP HCM 111. Nguyễn Văn Dũng, nhà giáo, TP Huế 112. Trần Hữu Dũng, GS, nhà giáo nghỉ hưu, Dayton, Hoa Kỳ 113. Hoàng Dũng, PGS TS, TP HCM 114. Phạm Chí Dũng, nhà báo, TP HCM 115. Nguyễn Anh Dũng, nhà giáo, cựu chiến binh, Hà Nội 116. Lê Đăng Doanh, TS, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, nguyên thành viên IDS, Hà Nội 117. Nguyễn Xuân Diện, TS, Viện Hán Nôm, Hà Nội 118. Nguyễn Đắc Diên, bác sĩ, TP HCM 119. Tống Văn Công, nhà báo, nguyên Tổng biên tập báo Lao Động, TP HCM 120. Nguyễn Huệ Chi, GS, nguyên Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Văn học, Hà Nội 121. Huỳnh Ngọc Chênh, nhà báo, TP HCM 122. Ngô Bảo Châu, GS Toán học, Hà Nội, Chicago 123. Bùi Chát, Nhà Xuất bản Giấy vụn, TP HCM 124. Thái Văn Cầu, chuyên gia về không gian, Hoa Kỳ 125. Nguyễn Trọng Bình, nguyên Hiệu trưởng Đại học tại chức Hải Phòng, TP HCM 126. Nguyễn Nguyên Bình, Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội, Hà Nội 127. Huỳnh Kim Báu, nguyên Tổng thư ký Hội Trí thức Yêu nước TP HCM, TP HCM 128. Đặng Thị Nguyệt Ánh, TS, Hà Nội 129. Bùi Tiến An, cựu tù chính trị chuồng cọp Côn Đảo, nguyên cán bộ Ban Dân vận Thành ủy TP HCM, TP HCM 130. Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội [1] Điều 19 của Công ước này còn có khoản kế tiếp như sau: 3-Việc hành xử quyền tự do phát biểu quan điểm đòi hỏi đương sự phải có những bổn phận và trách nhiệm đặc biệt. Quyền này chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật vì nhu cầu: a-Tôn trọng những quyền tự do và thanh danh của người khác. b-Bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng hay đạo lý. 2 Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền quy định tại điều 19: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm. Quyền này bao gồm sự tự do quan điểm mà không bị xen vào quấy rầy và được tự do tìm kiếm, thu nhận và quảng bá tin tức và tư tưởng qua mọi phương tiện truyền thông bất kể biên giới” và điều 20: “Mọi người đều có quyền tự do hội họp và lập hội, một cách ôn hòa. Không một ai có thể bị cưỡng bách gia nhập vào một đoàn thể”. Danh sách ký tên Đợt 2 – hưởng ứng Tuyên bố 23/9 (tổng cộng đợt 1 và 2: 258 người) 131. Doãn Kiều Anh, kỹ sư, TP HCM 132. Lã Việt Dũng, kỹ sư tin học, Hà Nội 133. Nguyễn Việt Hà, kỹ sư, TP HCM 134. Chientrantien, Schanzen str 25, 90478 Nürnberg, CHLB Đức 135. Lê Quốc Chơn, nghiên cứu sinh TS Hóa vật liệu, Pháp 136. Nguyễn Thị Hải Yến, TS, CHLB Đức 137. Lê Nguyên Long, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội 138. Nguyên Thi Thanh Van, phóng viên, Paris, Pháp 139. Phan Quốc Tuyên, kỹ sư tin học, Genève, Thuỵ Sĩ 140. Nguyễn Quyền, công nhân, München, CHLB Đức 141. Gerardo Nguyễn Nam Việt, linh mục Giáo phận Vinh, Hoa Kỳ 142. Trần Kim Thập, giáo chức, Perth, Australia 143. Nguyễn Công Hệ, thuyền trưởng viễn dương, TP HCM 144. Đặng Lợi Minh, giáo viên hưu trí, Hải Phòng 145. Trịnh Trọng Thủy, đảng viên đã bỏ sinh hoạt 3 năm, Hà Nội 146. Nguyễn Bá Dũng, kỹ sư, Hà Nội 147. Nguyễn Văn Dũng, Phó Chủ tịch Hội Người Hải Phòng tại CHLB Đức 148. Joseph Le, CPA, Sydney, Australia 149. Tô Oanh, giáo viên THPT, đã nghỉ hưu, TP Bắc Giang, Bắc Giang 150. Võ Văn Tạo, nhà báo, Nha Trang, Khánh Hòa 151. Trương Long Điền, công chức hưu trí, Long Xuyên, An Giang 152. Ngô Khiết, công dân tự do, TP HCM 153. Nguyễn Hòa, Cao-học hành-chánh Sài-Gòn, đã nghỉ hưu, Hoa Kỳ 154. Le Mai Linh, thi sĩ/nhà văn, Hoa Kỳ 155. Phạm Đỗ Chí, nguyên chuyên viên cấp cao Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Washington DC, Hoa Kỳ 156. Hà Văn Thùy, nhà văn, thành phố Hồ Chí Minh 157. Hà Văn Chiến, cựu chiến binh, Thái Bình 158. Vu Huy Do, công nhân, Seattle, Hoa Kỳ 159. Nguyễn Thái Hùng, kỹ sư xây dựng, Vinh 160. Nguyễn Trung Thành, kỹ sư giao thông vận tải, Phú Thọ 161. Nguyễn Đình Lộc, nguyên Bộ trưởng Tư pháp, Hà Nội 162. Chu Sơn, làm thơ viết văn tự do, TP HCM 163. Nguyễn Thị Kim Thoa, bác sĩ, TP HCM 164. Hồ Quang Huy, kỹ sư, Nha Trang 165. Dao Minh Chau, Hà Nội 166. Nguyễn Thượng Long, viết báo tự do, Hà Nội 167. Lê Anh Hùng, blogger, Hà Nội 168. Bùi Ngọc Mai, nội trợ, TP HCM 169. Lê Văn Xuân, Đắk Lắk 170. Nguyễn Văn Pháp, kỹ sư công nghệ sinh học, Thanh Hoá 171. Lê Văn Sinh, cựu giảng viên Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Hà Nội 172. Nguyễn Văn Trì, TP Biên Hòa, Đồng Nai 173. Nguyễn Chương, nhà báo tự do, TP HCM 174. Hoàng Bá Long, kinh doanh, Hải Phòng 175. Nguyễn Hồng Khoái, sĩ quan quân đội về hưu, Hà Nội 176. Nguyen Phuc Nguyen, kĩ sư, đã nghỉ hưu, Hà Nội 177. Đinh Hoàng Giang, doanh nhân, Hải Phòng 178. Bùi Phan Thiên Giang, chuyên viên mạng máy tính, TP HCM 179. Nguyễn Anh Tuấn, nhà làm phim độc lập, Hà Nội 180. Hà Huy Sơn, luật sư, Công ty Luật TNHH Hà Sơn, Hà Nội 181. Nguyễn Ngọc Cúc, kỹ sư, Thủ Dầu Một, Bình Dương 182. Lê Đoàn Thể, Hà Nội 183. Ngô Thanh Tú, blogger, Cam Ranh, Khánh Hòa 184. Nguyễn Hùng Sơn, họa sĩ, Hà Đông, Hà Nội 185. Hoang Nguyen Thuy Khe, nhân viên văn phòng, TP HCM 186. Phạm Ngọc Cảnh Nam, nhà văn, Đà Nẵng 187. Lương Đình Dzụ, TS, chuyên gia tại Hoa Kỳ, cựu du học sinh tại Nhật Bản, Hoa Kỳ 188. Nguyễn Quang Vinh, cán bộ Bộ Quốc phòng, Hà Nội 189. Trần Công Khánh, hưu trí, Hải Phòng 190. Lê Công Định, luật sư, cựu tù nhân lương tâm, TP HCM 191. Đỗ Toàn Quyền, kỹ sư, TP HCM 192. Trương Công Minh, kỹ sư, TP HCM 193. Doãn Mạnh Dũng, kỹ sư, TP HCM 194. Trần Việt Thắng, thạc sĩ, Hà Nội 195. Nguyễn Khánh Dương, kỹ sư, Bình Thuận 196. Nguyễn Kim Thái, cử nhân, doanh nhân, Bà Rịa-Vũng Tàu 197. Đào Nguyên Ngọc, cựu chiến binh, CHLB Đức 198. Ngô Thúy, họa sĩ tự do, Hà Nội 199. Trần Rạng, giáo viên, TP HCM 200. Trần Thiện Kế, dược sĩ, Hà Nội 201. Thân Hải Thanh, nguyên Tổng Giám đốc Benthanhtourist, TP HCM 202. Trần Quốc Lộc, kỹ sư đã nghỉ hưu TP HCM 203. Nguyễn Kim Bình, TS Y Khoa, đã nghỉ hưu, Brisbane, Australia 204. Chu Mạnh Chi, nguyên giảng viên đại học, Đà Lạt 205. Đặng Lê Hoàng, chuyên viên công nghệ thông tin, TP HCM 206. Nguyễn Tấn Lạc, California, Hoa Kỳ, phụ trách websites: diendancuachungta.com và tudotongiao.wordpress.com 207. Nguyễn Quốc Thản, kỹ sư, Tokyo, Nhật Bản 208. Trần Minh Khôi, kỹ sư điện toán, Berlin, CHLB Đức 209. Đỗ Thành Nhân, MBA, quản lý doanh nghiệp, TP Quảng Ngãi 210. Nguyễn Vũ, kỹ sư, hành nghề tự do, TP HCM 211. Ngô Thị Kim Cúc, nhà văn, nhà báo, TP HCM 212. Đặng Minh Điệp, thạc sĩ, giảng viên đại học, TP HCM 213. Nguyễn Xuân Nghĩa, TS, TP HCM 214. Nguyễn Văn Viên, nhân viên IT, Hà Nội 215. Vũ Văn Vân, kỹ sư, Hà Nội 216. Nguyễn Văn Nhượng, kỹ sư, đang nghỉ hưu, Lausanne, Thụy Sĩ 217. Hà Dương Tuấn, nguyên chuyên gia công nghệ thông tin, Pháp 218. Phạm Vương Ánh, kỹ sư kinh tế, cựu sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam, Vinh 219. Vũ Quốc Ngữ, thạc sĩ, Hà Nội 220. Trần Anh Đức, sinh viên Luật, Hà Nội 221. Nguyễn Trung Hiếu, cử nhân Xã hội học, du học sinh tại Tokyo, Nhật Bản 222. Trần Hữu Kham, thương binh mù, cựu tù chính trị Côn Đảo, TP HCM 223. Việt Ông, kinh doanh, TP HCM 224. Hoàng Dương Tuấn, GS Đại học Công nghệ Sydney, Australia 225. Nguyễn Xuân Bách, kỹ sư, CHLB Đức 226. Tạ Thị Vân, kinh doanh, CHLB Đức 227. Nguyễn Hữu Chuyên, giáo viên, Thái Bình 228. Trần Ngọc Tuấn, nhà báo, CH Czech 229. Tran Ke Dung, đảng viên Đảng Lao động Australia, Australia 230. Đoàn Lâm Tất Linh, Kiên Giang 231. Nguyễn Đức Việt, chuyên viên công nghệ thông tin, Sydney, Australia 232. Khúc Thị Tình (Blog thơ Tiếng Sóng Biển), doanh nhân, CHLB Đức 233. Vũ Thị Nhuận, TS/nội trợ, TP Cần Thơ 234. Trần Ngọc Báu, hưu trí, Fribourg, Thuỵ Sĩ 235. Phan Văn Tráng, kỹ sư xây dựng, TP HCM 236. Cao Thiện Phước, kỹ sư, Pháp 237. Trần Tuấn Dũng, hưu trí, Quebec, Canada 238. Đào Duy Chữ, TS Khoa học tự nhiên, TP HCM 239. Nguyễn Duy, TP HCM 240. Lê Minh Hằng, TS, Hà Nội 241. Lê Hữu Minh Tuấn, cử nhân Sử, Quảng Nam 242. Nguyễn Trường Toản, Thanh tra Công trường Xây dựng, Houston, Hoa Kỳ 243. Phạm Hữu Uyển, IT, CH Czech 244. Trịnh Hồng Kỳ, cựu chiến binh, An Giang 245. Nguyễn Quốc Vũ, IT, CH Czech 246. Dang Ngoc Quang, nghề tự do, Hà Nội 247. Dương Tùng, Bình Dương 248. Nguyễn Anh Phú, biên tập viên, Hà Nội 249. Nguyễn Văn Lịch, làm nghề tự do, TP HCM 250. Phan Đắc Lữ, nhà thơ, TP HCM 251. Nguyễn Văn Duyên, kỹ sư, Hà Nam 252. Phạm Đưc Quý, chuyên viên nghỉ hưu, Hà Nội 253. Le Hung Dung, kinh doanh, CH Czech 254. Vũ Trung Đồng, kỹ sư, TP HCM 255. Nguyễn Công Huân, biên tập viên trang Dân Luận, PGS Đại học Aaborg, Đan Mạch 256. Vũ Mạnh Hùng, Warszawa, Ba Lan 257. Hồ Trọng Đễ, kỹ sư cơ khí, TP HCM 258. Nguyen Hong Duc, kỹ sư, Hà Nội Danh sách ký tên Đợt 3 – hưởng ứng Tuyên bố 23/9 (tổng cộng đợt 1, 2 và 3: 375 người) (đã xoá 7 người trùng tên) 259. Trần Đức Hào, cựu tù nhân, cựu sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà, TP Đà Nẵng 260. Trịnh Xuân Thuỷ, kinh doanh, TP HCM 261. Đàm Quốc Khánh, kỹ sư Hàng hải, TP HCM 262. Chu Trọng Thu, cựu giảng viên Đại học Sư phạm, cựu chiến binh, TP HCM 263. Vũ Ngọc Thăng, dịch giả, Canada 264. Nguyễn Minh Khanh, kỹ sư Tin học, Paris, Pháp 265. Ngô Văn Hòa, thợ may, Hòa Vang, Đà Nẵng 266. Nguyễn Văn Phúc, kỹ sư, Bình Định 267. Nguyễn Đình Ấm, nhà báo, Hà Nội 268. Lê Mạnh Quang, thạc sĩ, nguyên là giảng viên Đại học Tây Bắc 269. Hoàng Quý Thân, PGS TS, Hà Nội 270. Bùi Trần Đăng Khoa, luật sư, TP HCM 271. Nguyễn Khánh Trung, TS, Pháp 272. Phan Bích Hoàng Thu, kỹ sư, TP HCM 273. Nguyễn Hồng Kiên, TS Sử học, Viện Khảo cổ học, Hà Nội 274. Đinh Huyền Hương, nhà giáo, đã nghỉ hưu, TP HCM 275. Nguyễn Ngọc Thạch, hưu trí, TP HCM 276. Bùi Quang Thắng, thạc sĩ quản trị kinh doanh, Hà Nội 277. Huỳnh Thục Vy, blogger bất đồng chính kiến, Quảng Nam 278. Vũ Sỹ Hoàng, phóng viên tự do, blogger Hành Nhân 279. Lưu Văn Minh, sinh viên, Hà Nội 280. Nguyễn Ngọc Sẵng, TS giáo dục, tiểu bang Arizona, Hoa Kỳ 281. Mai Nhật Đăng, học sinh, Tokyo, Nhật Bản 282. Nguyễn Quốc Quân, TS Toán, cựu tù nhân lương tâm, California, Hoa Kỳ 283. Đào Thanh Thủy, cán bộ hưu trí, Hà Nội 284. Đặng Đình Cung, kỹ sư tư vấn, Pháp 285. Phạm P Long, kỹ sư, Hoa Kỳ 286. Tho Lê, nghỉ hưu, Victoria, Australia 287. Hoàng Quốc Hùng, doanh nhân, Praha, CH Czech 288. Quang Tran, IT, Hoa Kỳ 289. Nguyen Quang Tuyen, nghệ sĩ thị giác, San Francisco, California, Hoa Kỳ 290. Bùi Văn Phú, GS Đại học Cộng đồng California, nhà báo tự do 291. Trương Lợi, kỹ sư, TP HCM 292. Lý Đăng Thạnh, người chép sử, TP HCM 293. Lê An Vi, cử nhân Luật, Hà Nội 294. Lê Dũng, blogger, Hà Nội 295. Trần Thị Thanh Tâm, nội trợ, Warzsawa, Ba Lan 296. Trần Xuân Sơn, Hà Nội 297. Nguyễn Khánh Hưng, thạc sĩ quản trị kinh doanh (MBA), Sacramento, California 298. Châu Kỳ, Chemical Engineer, Hoa Kỳ 299. Hồ Văn Tích, kỹ sư, TP HCM 300. Dinh Khac Luong, kỹ sư cơ khí, Hà Nội 301. Nguyễn Phúc Thọ, kỹ sư Tin học, Colombes, Pháp 302. Nguyễn Hồng Phi, họa sĩ, Bangkok, Thái Lan 303. Lê Văn Sinh, MBA, Vương Quốc Anh 304. Đỗ Minh Tuấn, nhà thơ, đạo diễn, Hà Nội 305. Phạm Thanh Lâm, kỹ sư điện tử, Copenhagen, Đan Mạch 306. Phạm Văn Điệp, Chủ nhiệm Câu lạc bộ những người Việt mong muốn Việt Nam hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ, Liên Bang Nga 307. Âu Dương Thệ, TS, Hiệp hội Dân chủ và Phát triển Việt Nam, Dortmund, Đức 308. Ngô Trừng Bình, An Giang 309. Nhâm Thiếu Bảo, kỹ sư cơ khí, Hà Nội 310. Vũ Tiến Nga, kỹ sư cơ khí, TP HCM 311. Nguyễn Trung Luân, Trưởng phòng, Sở Công Thương TP HCM 312. Ngọc Nam Phương, Cao Bằng 313. Châu Xuân Nguyễn, blogger, kỹ sư cơ khí, Melbourne, Australia 314. Phan Như Hiển, Núi Thành, Quảng Nam 315. Đỗ Đăng Liêu, Australia 316. Châu Kỳ, Engineer, Los Angeles, Hoa Kỳ 317. Huỳnh Bảo Đức, TP HCM 318. Nguyễn Văn Hưng, nghề tự do, cựu sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà, California, Hoa Kỳ 319. Cao Tan-Lôc, Paris, Pháp 320. Pham Van Thanh, Hoa Kỳ 321. Nguyễn Thành Chiến, nghiên cứu sinh, Zweibrueken, CHLB Đức 322. Huỳnh Công Thuận, blogger, TP HCM 323. Đỗ Hữu Tuyến, học sinh, Vũ Thư, Thái Bình 324. Nguyễn Quốc Hưng, linh mục Tổng Giáo phận Sài Gòn, hiện làm việc tại Roma, Italia 325. Mike Nguyễn, Engineering Manager, Michigan, Hoa Kỳ 326. Phạm Kỳ Đăng, làm thơ, dịch thuật, hành nghề tự do, Berlin, CHLB Đức 327. Trần Công Thắng, bác sĩ, Kristiansand, Na Uy 328. Đỗ Như Phương, kỹ sư, nguyên đảng viên Đảng Cộng sản, Hungary 329. Quan Vinh, chuyên viên tin học, Rome, Italia 330. Vũ Tuấn, TS điện tử, CHLB Đức 331. Bùi Tín, nhà báo tự do, Pháp 332. Nguyễn Trọng Hoàng, bác sĩ y khoa, Paris, Pháp 333. Trần Trung Sơn, TS, giảng viên trường Sĩ quan Không quân 334. Nguyễn Xuân Thọ, kỹ sư điện tử, CHLB Đức 335. Nguyễn Văn Hóa, Insurance Broker (California State), San Jose, California, Hoa Kỳ 336. Tran Mai Sinh, CHLB Đức 337. Le Thanh Hong, CPA, Melbourne, Australia 338. Lê Đặng Thụy, Na Uy 339. Hoàng Lan, nguyên giảng viên Đại học Sư phạm TP HCM, TP HCM 340. Lê Cường, Graphic Designer, Hoa Kỳ 341. Đại Nghĩa, cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hoà, Hoa Kỳ 342. Nguyễn Văn Cung, nhạc sĩ, thượng tá Quân đội Nhân dân Việt Nam, Hà Nội 343. Trần Đức Thạch, nhà thơ, Nghệ An 344. Nguyễn Lân Thắng, kỹ sư xây dựng, Hà Nội 345. Phan Văn Song, nguyên Quyền Hiệu trưởng trường THPT Chuyên Bến Tre, Australia 346. Hoàng Minh Giám, linh mục, Nam Định 347. Vũ Minh Trí, kĩ sư cơ khí, Cầu Giấy, Hà Nội 348. Tung Nguyen, Oklahoma City, Oklahoma, Hoa Kỳ 349. Ngô Đức Đoàn, kế toán, TP Bà Rịa, Bà Rịa-Vũng Tàu 350. Trần Đức Cung, TS, hưu trí, TP HCM 351. Nghiệp Nguyễn Duy, doanh nhân, Thừa Thiên Huế 352. Đinh Tấn Lực, blogger, BKK/VTE/PNH/KUL/MNL - SouthEast Asia 353. Le Xuan Quang, cựu chiến binh, TP HCM 354. Nguyễn Văn Sang, nông dân, Bắc Giang 355. Ngô Đức Thọ, PGS TS Ngữ văn, nghỉ hưu, Hà Nội 356. Đào Công Tiến, nguyên Hiệu trưởng Đại học Kinh tế, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, TP HCM 357. Trần Thọ Hưng, kỹ sư cầu đường, TP HCM 358. Nguyễn Minh Mẫn, kỹ sư Hoá học, Misissauga, Ontario, Canada 359. Vũ Thị Phương Anh, PhD, giảng viên, nghiên cứu giáo dục, TP HCM 360. Lê Văn, TS Vật lý, TP HCM 361. Nguyễn Anh Tuấn, GS TS, Hà Nội 362. Nguyễn Hữu Tế, TP HCM 363. Bùi Quang Lộc, giáo viên, TP HCM 364. Dương Sanh, cựu giáo viên, Khánh Hòa 365. Nguyễn Ánh Tuyết, cán bộ viễn thông, Hà Nội 366. Phi Vũ, công nhân, blogger, California, Hoa Kỳ 367. Nguyễn Phương Chi, nguyên biên tập viên chính Tạp chí Nghiên cứu Văn học, Viện Văn học (đã nghỉ hưu), Hà Nội 368. Nhật Tuấn, nhà văn, TP HCM 369. Vũ Hải Long, TSKH, cán bộ Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam, đã nghỉ hưu, TP HCM 370. Trần Quốc Hùng, cựu giáo viên, TP HCM 371. Nguyễn Steve, ngành IT, Sydney, Australia 372. Dao Kim Son, kinh doanh tự do, TP HCM 373. Phan Lê Tuấn, TP HCM 374. Phạm Kỳ Thụy, kỹ sư xây dựng, Cầu Giấy, Hà Nội 375. Lê Ngọc Xuân, TP HCM Danh sách ký tên Đợt 4 – hưởng ứng Tuyên bố 23/9 (tổng cộng các đợt 1- 4: 497 người) 376. Nguyễn Trần Dũng, công ty cổ phần, Hà Nội 377. Đoàn Thanh Liêm, Costa Mesa, California, Hoa Kỳ 378. Đào Thu Huệ, giảng viên Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội 379. Lê Hà, công nhân, Nuremberg, CHLB Đức 380. Tony Bùi, Pháp 381. Trương Văn Lợi, nghị viên Hội đồng thành phố Dandenong, tiểu bang Victoria, Australia 382. Nguyễn Ngọc Sơn, kinh doanh, cựu chiến binh, TP HCM 383. Nguyễn An Liên, công nhân, TP Đà Nẵng 384. Lê Tân, blogger, TP HCM 385. Ngô Thị Hồng Lâm, nhân viên nghiên cứu lịch sử Đảng, đã nghỉ hưu, TP Vũng Tàu 386. Đinh Thái Trung, Giám đốc Trung tâm Khai Trí (trường tư thục Việt- Mỹ), Houston,Texas, Hoa Kỳ 387. Trần Đình Thắng, cựu giảng viên, TP HCM 388. Nguyên Ân, nhà báo / nhà thơ, California, Hoa Kỳ 389. Nguyễn Đức Giang, cựu chiến binh, Hà Nội 390. Nguyễn Tường Tâm, luật gia, San Jose, Hoa Kỳ 391. Trần Tư Bình, giáo chức, Sydney, Australia 392. Nguyễn Văn Cường, kỹ sư xây dựng cầu đường, Hải Dương 393. Lê Văn Tuynh, blogger, Phan Thiết 394. Phạm Tư Thanh Thiện, nguyên Phó Trưởng ban Việt ngữ Đài RFI, Pháp 395. Dương Văn Nam, công nhân viễn thông, Nam Định 396. Nguyễn Thanh Bình, Sứ quán Đan Mạch tại Việt Nam, Hà Nội 397. Dương Hồng Lam, nguyên cán bộ Ban Tuyên huấn miền Nam, hưu trí, TP HCM 398. Rick Phan, kỹ sư, Canada 399. Nguyễn Đức Phổ, nông dân, Lâm Đồng 400. Nguyễn Thanh Xuân, công nghệ thông tin, TP HCM 401. Nguyễn Minh Nhựt, programer & designer, TP HCM 402. Trịnh Lê Thanh, kỹ sư vô tuyến điện, quận Lê Chân, Hải Phòng 403. Phùng Hoài Ngọc, thạc sĩ, cựu giảng viên đại học, An Giang 404. Lê Hồng Quang, kinh doanh, TP HCM 405. Lê Văn Oanh, kỹ sư, Hà Nội 406. Phạm Thị Lâm, cán bộ hưu trí, Hà Nội 407. Ngô Điều, sĩ quan nghỉ hưu, đảng viên lớp 6-1-1960, Hà Nội 408. Lê Anh Dũng, lao động tự do, Hải Phòng 409. Lương Văn Liệt, nguyên là cán bộ lực lượng Thanh niên Xung phong, cán bộ Chi cục Thuế TP HCM 410. Nguyễn Thành Nhân, kỹ sư, TP HCM 411. Nguyễn Đăng Lập, kỹ sư kinh tế, TP Bà Rịa, Bà Rịa-Vũng Tàu 412. Lương Đỗ Long, công nhân, Mỹ Đình, Hà Nội 413. Trần Phúc Thông, cựu chiến binh Việt-Campuchia-Lào, Hà Nội 414. Huỳnh Trung Hiếu, xã Phước Hưng, huyện Trà Cú, Trà Vinh 415. Bùi Kim Nhung, hưu trí, TP HCM 416. Phan văn Phong, kinh doanh tự do, Hoàn Kiếm, Hà Nội 417. Phạm Xuân Hưng, trình dược viên, Hà Nội 418. Nguyễn Minh Khang, nhân viên vi tính, TP HCM 419. Nguyễn Ngọc Hoài Ân, kỹ sư tin học, TP HCM 420. Lê Xuân Diệu, cử nhân Kinh tế, kinh doanh tự do, Đắk Lắk 421. Lưu Quý Định, kỹ sư, Munich, CHLB Đức 422. Trương Vĩnh Phúc, cử nhân, cựu chiến binh, Hà Nội 423. Bùi Thanh Thám, kế toán, TP HCM 424. Xà Quế Châu, đầu bếp, TP HCM 425. Trần Quang Thành, nhà báo, cựu phóng viên Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Slovakia 426. Phạm Văn Giang, hướng dẫn viên du lịch, Hà Nội 427. Trần Văn Khoản, nguyên cựu chiến binh, nguyên đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (vào Đảng năm 1974, từ bỏ năm 1989), nghề tự do, TP Vũng Tàu 428. Trần Văn Terry, công nhân, Irvine CA, Hoa Kỳ 429. Hoang Dinh, System Engineer, Odense, Đan Mạch 430. Nguyen Van Trien, San Diego, California, Hoa Kỳ 431. Nguyễn Hoành Hùng, kỹ sư, Vũng Tàu 432. Hà Nguyễn, Đà Lạt, Lâm Đồng 433. Trọng Nghĩa, kỹ sư máy tàu biển, Hải Phòng 434. Nguyễn Quốc Lân, giáo viên, nghỉ hưu 435. Nguyễn Hữu Trường, công dân tự do, Bình Dương 436. Nguyễn Anh Tuấn, kiến trúc sư, Hà Nội 437. Trần Ngọc Sơn, kỹ sư, Pháp 438. Nguyễn Thanh Hằng, dược sĩ, Pháp 439. Võ Quang Luân, hưu trí, Hà Nội 440. Hoàng Lê Nam, kỹ sư Tin học, Hà Nội 441. Bui Quang Trung, kỹ sư xây dựng, Pháp 442. Nguyễn Kiến Phước, nhà báo, TP HCM 443. Hoàng Mười, cán bộ nghỉ hưu, Cầu Giấy, Hà Nội 444. Trần Văn Vinh, cử nhân luật, hướng dẫn du lịch, Hà Nội 445. Dao Quang Huy, doanh nhân, Praha, CH Czech 446. Khoa Nguyễn, COS, Virginia, Hoa Kỳ 447. Lanney Trần, Phụ tá Pháp lý/Giáo dục, California, Hoa Kỳ 448. Mai Văn Tuất, tức Facebooker Văn Ngọc Trà, kỹ sư, TP HCM 449. Trần Văn Tuyến, sinh viên, TP HCM 450. Nguyễn Sĩ Đáng, kiến trúc sư, Australia 451. Nguyễn Thị Tuyết Thanh, nhân viên phụ trách nhà cửa, London, Anh Quốc 452. Vũ Văn Thịnh, bác sĩ, đã nghỉ hưu, Thái Nguyên 453. Đặng Vũ Giang, TS, cán bộ nghiên cứu, Hà Nội 454. Hồng Sa Ngạn, giáo viên, Lai Châu 455. Nguyễn Trung Tôn, mục sư, Quảng Xương, Thanh Hóa 456. Nguyen Anh Tam, kỹ sư công trình, giám đốc công trình chuyên ngành về tự động hoá, Canada 457. Dương Văn Vinh, nguyên sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam, TP HCM 458. Võ Thanh Hà, giáo viên, Hà Nội 459. Đặng Nguyễn Hoài Mơ, TP HCM 460. Nguyễn Phương Quân, Xây dựng - Nội thất, Hà Nội 461. Lương Đình Cường, Tổng Biên tập Báo điện tử NguoiViet 462. Peter Nguyen Duc Hung, nhân viên bưu điện, Oslo, Na Uy 463. Nguyễn Zion, hưu trí, Philadelphia, Hoa Kỳ 464. Nguyễn Văn Nghiêm, lao động tự do, TP Hòa Bình, Hòa Bình 465. Phạm Thông, nghề tự do, Hà Nội 466. Nguyễn Kim Huân, kỹ sư xây dựng, Hà Nội 467. Nguyễn Duy Hải, giáo viên, Long An 468. Phan Đức Vinh, vi tính, Sydney, Australia 469. Nguyễn Mê Linh, TS, TP HCM 470. Lê Khánh Hùng, TS công nghệ thông tin, Hà Nội 471. Đặng Trường Lưu, hoạ sĩ, nhà phê bình Mỹ thuật, Hà Nội 472. Trần Quốc Túy, kỹ sư Hóa, hưu trí, Hà Nội 473. Bùi Chí Tâm, nghề tự do, Quảng Ngãi 474. Võ Văn Rân, hưu trí, Hoa Kỳ 475. Thùy Linh, nhà văn, Hà Nội 476. Đông Xuyến, Dr. Tâm lý Trị liệu, California, Hoa Kỳ 477. Hà Văn Thịnh, nhà giáo, Huế 478. Phạm Trung Kiên, thạc sĩ sử học, dạy học, Hà Nội 479. Trần Nhật Phương, công nhân, Nghệ An 480. Lê Thanh Quang, nguyên là cơ sở cách mạng Biệt Động Thành Đà Nẵng 1973 – 1975, chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia 1977 – 1981, làm nông, Đà Nẵng 481. Nguyễn Trọng Quyết, luật sư, Hải Dương 482. Bùi Như Giang, sinh viên y khoa, TP HCM 483. Ngô Thanh Nhã, Canada 484. Nguyễn Thành Trung, công nhân, Bình Dương 485. Nguyễn Mạnh Hùng, nhà giáo, cựu chiến binh, TP HCM 486. Ngô Văn Hiếu, nguyên Tổng Thư ký Ủy ban Đòi Nhân quyền cho Việt Nam, nguyên Tổng Thư ký Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam, Hoa Kỳ 487. Tô Hoà, nhà báo, nguyên Tổng Biên tập báo Sài Gòn Giải phóng, TP HCM 488. Nguyễn Công Minh, linh mục, TP HCM 489. Phero Nguyễn Văn Khải, linh mục Dòng Chúa Cứu Thế, Hà Nội 490. Huỳnh Minh Tú, kinh doanh tự do, blogger, Berlin, CHLB Đức 491. Vũ Ngọc Tuyến, sĩ quan quân đội nghỉ hưu, Hà Nội 492. Nguyễn Quang Huy đã nghỉ hưu, Bắc Ninh 493. Nguyễn Huy Hoàng, kinh doanh, Hà Nội 494. Andy Vu, công nhân, Sydney, Australia 495. Nguyễn Việt Bách (bút danh Phan Thành Đạt), hướng dẫn viên du lịch, luật gia, Pháp 496. Phạm Minh Hoàng, nguyên giảng viên Đại học Bách Khoa TP HCM 497. Ngô Văn Phương, nguyên Đại biểu Hội đồng Nhân dân TP HCM, TP HCM Danh sách ký tên Đợt 5 – hưởng ứng Tuyên bố 23/9 (tổng cộng các đợt 1- 5: 623 người) 498. Nguyễn Trung Dân, nhà báo, Giám đốc Chi nhánh Nhà Xuất bản Hội Nhà Văn, TP HCM 499. Nguyễn Trọng Tạo, nhà thơ - nhạc sĩ - nhà báo, Hà Nội 500. Huy Trần, Đại học Viên, Áo 501. Hoàng Xuân Sơn, luật sư, TP HCM 502. Võ Đăng Khoa, thạc sĩ công nghệ thông tin, Houston, Texas, Hoa Kỳ 503. Nguyễn Mạnh Cường, kinh doanh, CH Czech 504. Đạt Nguyễn, PhD, Virginia Commonwealth University, Hoa Kỳ 505. Phạm Duy Lương (Trí Dân), Aš, CH Czech 506. Nguyễn Nguyên Khôi, Perth, Australia 507. Vũ Đức Khanh, luật sư, Ottawa, Canada 508. Nguyễn Tiến Dũng, cử nhân công nghệ thông tin, trung tá Bộ đội Biên phòng, đã nghỉ hưu, Thanh Hoá 509. Trần Văn Tiến, kinh doanh, CH Czech 510. Nguyễn Ánh Tuyết, cử nhân kinh tế, London, Vương quốc Anh 511. Nguyễn Quế Hương, kiến trúc sư, HCM 512. Trần Văn Thiện, kỹ sư, Hà Nội 513. Nguyễn Hồng Quân, kỹ sư kết cấu, Hoa Kỳ 514. Toàn Khanh Hoàng, kỹ sư tin học, Frankfurt, CHLB Đức 515. Nguyen Dinh Thang, TS, kỹ sư cơ khí, Tổng Giám đốc, Hoa Kỳ 516. Ngô Trí, đã về hưu, Port Coquitlam, Canada 517. Ngo Bao Vinh, kỹ sư xây dựng, Australia 518. Hoàng Đức Vương, kỹ sư, TP HCM 519. Lê Quang, thạc sĩ giáo dục, Hà Nội 520. Đặng Lâm, nhân viên xã hội, Vancouver, Canada 521. Nguyễn Ái Chi, nguyên cán bộ phòng Tuyên huấn trường Đại học Thương Mại, TP HCM 522. Hoang Tam Tam, kỹ sư, nghề tự do, Australia 523. Lê Hồng Phong, cử nhân kinh tế, Hà Nội 524. Huỳnh Thị Thu, kế toán, FDI, Trảng Bom, Đồng Nai 525. Đỗ Thái Bình, kỹ sư đóng tàu, TP HCM 526. Đức Long, TS, bác sĩ, TP HCM 527. Đoàn Văn Cánh, nguyên giảng viên cao cấp trường đại học, Hà Nội 528. Đỗ Đình Oai, giáo viên Toán, Quảng Ngãi 529. Nguyễn Thanh Cường, kinh doanh, TP HCM 530. Pham Nguyen, kỹ sư tin học, Washington DC, Hoa Kỳ 531. Ta Thanh, công nhân, Hoa Kỳ 532. Phan Tấn Hải, nhà văn, Hoa Kỳ 533. Phung Thi Ly, cử nhân, TP HCM 534. Lê Bách Phong, kinh doanh, Bà Rịa-Vũng Tàu 535. Bùi Kiến Quốc, kiến trúc sư, thạc sĩ khoa học về Đô thị học, doanh nhân, Hà Nội 536. Dương N Ánh, kỹ sư dầu khí, chuyên viên dầu cát & khí đá, Houston, Hoa Kỳ 537. Đinh Quang Minh, cử nhân kinh tế, Hà Nội 538. Hàn Quang Vinh, kỹ sư tin học, Hà Nội 539. Trần Ngọc Thạch, cán bộ lâm nghiệp, Bình Định 540. Vũ Duy Thắng, kinh doanh tự do, Đông Anh, Hà Nội 541. Khổng Hy Thiêm, kỹ sư điện, Khánh Hòa 542. Nguyễn Quốc Minh, nhà thơ, Hà Nội 543. Ngô Đình Thục, nghỉ hưu, Hoa Kỳ 544. Nguyễn Đức Tùng, M.D., Vancouver, Canada 545. Bùi Việt Hà, Công ty Công nghệ Tin học Nhà trường, Hà Nội 546. Vũ Trí Đức, nghề tự do, Hà Nội 547. Vũ Bất Khuất, người làm thơ, TP Rạch Giá 548. Mai Sơn, viết văn, dịch thuật, TP HCM 549. Lê T Hong Hạnh, hưu trí, Hà Nội 550. Trần Thanh Trác, giảng viên, TP HCM 551. Nguyễn Vi Khải, TS, Hà Nội 552. Trần Tuấn Lộc, cử nhân Kinh tế, cử nhân Luật, TP HCM 553. Nguyễn Thị May, giáo viên, Điện Biên 554. Lê Mạnh Đức, kỹ sư hưu trí TP HCM 555. Nguyễn Hữu Giải, linh mục Công giáo, Tổng Giáo phận Huế 556. Phan Văn Lợi, linh mục Công giáo, Giáo phận Bắc Ninh 557. Trần Nam, sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam, đã nghỉ hưu, Lâm Đồng 558. Nguyễn Văn Trường, kinh doanh, Đồng Nai 559. Lê Đăng Dung, kỹ sư thủy lợi, Hà Nội 560. Nguyễn Bá Toàn, kỹ sư, đã nghỉ hưu 561. Cao Vi Hiển, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, Kon Tum 562. Hoàng Đức Doanh, nghỉ hưu, Hà Nam 563. Hoàng Cao Nhân, kỹ sư tin học, TP HCM 564. Nguyen Huu Hiep, tài xế, TP HCM 565. Nguyễn Hoàng Long, bác sĩ, cựu tù nhân chính trị, Đà Nẵng 566. Chu Quốc Khánh, kỹ sư điện tử, cử nhân kinh tế, Hà Nội 567. Nguyễn Văn Chinh, kỹ sư cơ khí, Hà Nội 568. Đặng Phương Bắc, nhà giáo, Thái Bình 569. Nguyễn Thị Xuân Phượng, nhà hoạt động văn hóa, TP HCM 570. Nguyễn Việt, doanh nhân, Vương quốc Anh 571. Phạm Hồng Thanh, cử nhân, Hà Nội 572. Lê Thăng Long, doanh nhân, kỹ sư viễn thông, cựu tù nhân lương tâm, TP HCM 573. Lại Đức Hưng Quốc, TS, Maryland, Hoa Kỳ 574. Nguyễn Hồng Việt, Giám đốc doanh nghiệp, TP HCM 575. Vũ Văn Hiền, viên chức, Hà Nội 576. Hoàng Ngọc Cầm, TSKH, Hà Nội 577. Trần Quang Ngọc, kỹ sư điện, đã nghỉ hưu, Stuttgart, CHLB Đức 578. Phạm Minh Đức, bỏ việc, Quảng Ngãi 579. Nguyễn Chí Cường, thông dịch viên Việt Nhật, Kanagawa, Nhật Bản 580. Hoàng Quang Thái, chuyên viên điện toán hồi hưu, Hannover, CHLB Đức 581. Nguyễn Thạch Cương, TS nông nghiệp, Hà Tây 582. Nguyen Thien Công, kỹ sư cơ khí, buôn bán, hãng Mercedes, Werk Duesseldorf, CHLB Đức 583. Hoàng Nguyên, kỹ sư xây dựng, Quảng Ngãi 584. Nguyễn Kim Quang, cựu giáo viên, TP Cần Thơ 585. Vũ Thi Bích, hưu trí, Paris, Pháp 586. Nguyễn Đức Toàn, thạc sĩ kỹ thuật môi trường, TP HCM 587. Nguyễn Tiến Dũng, kinh doanh, TP Vinh 588. Trương Thế Kỷ, kỹ sư, CHLB Đức 589. Trần Đình Phan Tiến, thường dân, TP HCM 590. Ngô Thái Văn, kỹ sư, Missouri, Hoa Kỳ 591. Nguyễn Khuê Tú, sinh viên, Vancouver, Canada 592. Nguyễn Đức Nhuận, hưu trí, GS TSKH, nguyên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Phát triển SEDET CNRS/Université Paris 7, Pháp 593. Trương Minh Tịnh, Giám đốc Công ty Tithaco PTY LTD, Australia 594. Tuyet Ha, California, Hoa Kỳ 595. Minh Trinh Nguyen, cựu chiến binh, nguyên nghiên cứu viên Viện Mác-Lênin Hà Nội, Koblenz, CHLB Đức 596. Thi Bich Hang Nguyen, nội trợ, Koblenz, CHLB Đức 597. Phan Dang Khoi, LLB, J. D. Westminster, California, Hoa Kỳ 598. Nguyễn Văn Thân, kỹ sư điện toán, thành viên của "Tuyên bố của các Công dân Tự do", California, Hoa Kỳ 599. Vũ Thế Dũng, nhà văn, nhà thơ, Giám đốc NXB VIPEN, Berlin, CHLB Đức 600. Đào Tấn Anh Trúc, thợ điện, Pháp 601. Phạm Cường, đạo diễn, CHLB Đức 602. Hùng C Nguyễn, khoa học gia, Sydney, Australia 603. Lương Văn Điền, Graphic Designer, TP Huế 604. Lê Văn Hưng, kỹ sư lâm nghiệp, Đắk Lắk 605. Ky Dinh Pham, cựu thẩm phán Việt Nam Cộng Hoà, Australia 606. Lê Hữu Chính, tín đồ Phật giáo Hòa Hảo, Toronto, Canada 607. Vũ Công Giao, giảng viên đại học, Hà Nội 608. Mai Tiến Dũng, doanh nhân, T PHCM 609. Nguyễn Huy Tưởng, luật sư, Bình Dương 610. Lê Vĩnh Trương, nghề nghiệp vận tải tổng hợp, TP HCM 611. Bùi Đình Sệnh, công dân Việt Nam, Từ Liêm, Hà Nội 612. Trần Văn Lương, nghề tự do, Chương Mỹ, Hà Nội 613. Đỗ Quang Tuyến, kỹ sư, Seattle, Washington, Hoa Kỳ 614. Nguyễn Tấn Thành, doanh nhân, Nha Trang 615. Randy Vu, Los Angeles, Hoa Kỳ 616. Ken Nguyễn, thầu khoán (contractor), San Jose, California, Hoa Kỳ 617. Nguyễn Long Giang, kỹ sư đô thị, TP Vinh, Nghệ An 618. Phan Văn Thanh, đã nghỉ hưu, Hà Nội 619. Hồ Sỹ Lâm, kỹ sư xây dựng, Nghệ An 620. Phung Truong, cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hoà, Hoa Kỳ 621. Nguyễn Thanh Nga, MBA, Hà Nội 622. Lê Hà Phú, kỹ sư lâm nghiệp, Hà Đông, Hà Nội 623. Nguyễn Dương, công nhân, Orlando, Florida, Hoa Kỳ Thứ bảy, ngày 28 tháng chín năm 2013 XÃ HỘI DÂN SỰ: DANH SÁCH TỪ ĐỢT 1 ĐẾN ĐỢT 5 Tuyên bố Về thực thi quyền Dân sự và Chính trị (Danh sách từ đợt 1 đến đợt 5) Hiến pháp hiện hành của nước ta quy định tại điều 69: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin, có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”. Công ước quốc tế về những quyền dân sự và chính trị (mà Nhà nước Việt Nam ký tham gia ngày 24/9/1982) quy định cụ thể về quyền bày tỏ quan điểm, quyền hội họp và lập hội: “Mọi người đều có quyền giữ vững quan niệm mà không bị ai can thiệp. Mọi người đều có quyền tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận, và phổ biến mọi tin tức và ý kiến bằng truyền khẩu, bút tự hay ấn phẩm, dưới hình thức nghệ thuật, hay bằng mọi phương tiện truyền thông khác, không kể biên giới quốc gia” (trích điều 19[1]); “Quyền hội họp có tính cách hoà bình phải được thừa nhận” (trích điều 21); “Ai cũng có quyền tự do lập hội, kể cả quyền thành lập và gia nhập các nghiệp đoàn để bảo vệ quyền lợi của mình” (trích điều 22). Những quy định tương tự cũng có trong Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hiệp Quốc được công bố ngày 10/12/1948 mà mọi quốc gia thành viên đếu phải tôn trọng [2]. Căn cứ vào những quy định đó, các ý kiến đóng góp cho việc sửa đổi Hiến pháp khác với quan điểm của Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp do Quốc hội lập, đặc biệt là về những điều cơ bản của thể chế chính trị (như Kiến nghị do 72 người ký trực tiếp ngày 19-1-2013, thường được gọi tắt là Kiến nghị 72, Tuyên bố của Hội đồng Giám mục, Tuyên bố công dân tự do, ý kiến trên trang mạng Cùng viết Hiến pháp, và nhiều ý kiến của đồng bào trong và ngoài nước trên các trang thông tin điện tử) là hoàn toàn phù hợp với Hiến pháp và Công ước quốc tế về những quyền dân sự và chính trị (dưới đây gọi tắt là Công ước quốc tế). Điều đó cũng đúng với nhiều tiếng nói đòi dân chủ và thực hiện các quyền tự do đã được quy định trong Hiến pháp, gắn liền với yêu cầu bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, hòa nhịp với các hình thức đấu tranh của nông dân bị mất đất, của công nhân đòi việc làm và cải thiện đời sống. Những tiếng nói đó của các tổ chức và nhóm như Hội đồng Giám mục, nhóm các chức sắc tôn giáo, nhóm công dân tự do, nhóm Tuyên bố 258, câu lạc bộ NoU, v.v., hoặc của nhiều cá nhân ở trong và ngoài nước mang tinh thần yêu nước và khát vọng dân chủ, đều được bày tỏ một cách ôn hòa, hợp pháp. Chúng tôi, những người ký tên dưới đây hoan nghênh ý thức xây dựng của những tiếng nói đó và thấy rằng để phản ảnh yêu cầu của đông đảo nhân dân, cần khởi xướng một Diễn đàn trao đổi và tập hợp các ý kiến nhằm góp phần chuyển đổi thể chế chính trị của nước ta từ toàn trị sang dân chủ một cách ôn hòa. Đó là mục đích hoạt động của Diễn đàn, hoàn toàn phù hợp với hiến pháp của nước ta và Công ước quốc tế. Diễn đàn này mang tên “Diễn đàn xã hội dân sự” và có trang thông tin điện tử là nơi bày tỏ ý kiến của các tổ chức, các nhóm, các cá nhân cùng theo đuổi mục đích nêu trên, với mong muốn xã hội dân sự ở nước ta phát triển đúng với yêu cầu của một nước dân chủ. Chúng tôi yêu cầu nhà cầm quyền tôn trọng quyền bày tỏ quan điểm của công dân, thẳng thắn tranh luận và đối thoại, từ bỏ cách đối xử không công bằng, không minh bạch và không đường hoàng như đã và đang áp dụng đối với những kiến nghị sửa đổi Hiến pháp và những tiếng nói đòi dân chủ khác với quan điểm của nhà cầm quyền. Ý kiến khác nhau cần được tranh luận thẳng thắn để tìm chân lý; còn dựa vào quyền lực để cản trở việc công bố, không đối thoại mà chỉ đơn phương phê phán, quy kết, thậm chí dùng nhiều cách ngăn cấm và trấn áp thì không những vi hiến và trái với Công ước quốc tế mà còn không đúng với tư cách chính đáng của một nhà cầm quyền. Việc sửa đổi Hiến pháp đang còn ý kiến khác nhau về những vấn đề cơ bản của thể chế chính trị. Dự thảo Hiến pháp sửa đổi dự định trình Quốc hội thông qua trong kỳ họp cuối năm tuy có một số điều chỉnh chi tiết nhưng về cơ bản vẫn duy trì thể chế toàn trị của giới cầm quyền nhân danh Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN). Thực tế ở nước ta cho thấy rõ: thể chế này đã tạo nên một bộ máy cầm quyền có nhiều quyết sách sai trái và quan liêu, tham nhũng nặng; một “bộ phận không nhỏ” trong bộ máy lợi dụng quyền lực (cả quyền cai trị và quyền sử dụng, định đoạt đất đai, tài nguyên, tài sản công) cấu kết với một số nhà kinh doanh làm giàu bằng nhiều thủ đoạn bất minh (cả trong khu vực kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân), hình thành các nhóm lợi ích bất chính, xâm phạm quyền lợi của nhân dân, dẫn tới sự phân hóa giàu nghèo quá bất công ở nước ta. Không ít người trong giới cầm quyền các cấp cùng với các nhóm lợi ích và sự hậu thuẫn của thế lực bên ngoài đang dựa vào bạo lực cùng nhiều thủ đoạn không chính đáng để duy trì quyền thống trị đất nước theo thể chế toàn trị, có phần do tư duy giáo điều, bảo thủ, nhưng phần quan trọng hơn, phổ biến hơn là do muốn bảo vệ và giành thêm lợi ích riêng bất chấp lợi ích chung của đất nước, của dân tộc. Đó là nguyên nhân gốc rễ khiến nước ta lâm vào khủng hoảng trên nhiều mặt: kinh tế suy giảm nặng và không ổn định, văn hóa giáo dục suy đồi, đạo đức băng hoại, môi sinh bị tàn phá, trình độ phát triển và năng lực cạnh tranh thua kém nhiều nước trong khu vực, dân mất lòng tin đối với bộ máy cầm quyền; trong khi đó, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta đang bị thế lực bành trướng Trung Quốc gia tăng các hành động xâm phạm. Để vượt qua những thách thức hiểm nghèo đối với đất nước và dân tộc, giải pháp cơ bản là phải cải cách thể chế chính trị, chuyển từ toàn trị sang dân chủ, qua đó phát huy sức mạnh hòa giải và đoàn kết dân tộc, mở ra thời kỳ phát triển mới cho đất nước và bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia. ĐCSVN, với vị trí là đảng đang cầm quyền, tự nhận vì nước vì dân, có trách nhiệm thúc đẩy quá trình chuyển đổi đó một cách chủ động, mở đầu bằng việc sửa đổi Hiến pháp. Đó là mệnh lệnh của cuộc sống và cũng là phương án tối ưu cho sự chuyển đổi thể chế chính trị một cách ôn hòa ở nước ta. Nếu Hiến pháp sửa đổi vẫn duy trì thể chế toàn trị được thông qua và ban hành chính thức thì các thách thức mà đất nước và dân tộc đang đối mặt càng thêm nghiêm trọng dẫn tới hệ quả khôn lường, dân càng thất vọng và bất bình, uy tín của nước ta trong quan hệ quốc tế càng giảm sút. Đó thật sự là tai họa cho đất nước mà trách nhiệm thuộc về giới cầm quyền. Vì vậy, Diễn đàn xã hội dân sự yêu cầu Quốc hội dừng việc thông qua bản Hiến pháp sửa đổi trong đó thể chế chính trị hiện hành vẫn được duy trì về cơ bản, kéo dài thời gian thảo luận về Hiến pháp và thật lòng tổ chức nghiên cứu, tranh luận một cách thẳng thắn, nghiêm túc và công khai về những điều cơ bản của thể chế chính trị đang còn ý kiến khác nhau. Tuyên bố này được gửi tới các thành viên cơ quan lãnh đạo ĐCS và Nhà nước; đồng thời được công bố trên mạng xã hội để phổ biến rộng rãi, mong đồng bào trong và ngoài nước biểu thị sự đồng tình, hưởng ứng. Ngày 23 tháng 9 năm 2013 Những người khởi xướng Diễn đàn xã hội dân sự Ghi chú: - Ý kiến hưởng ứng Tuyên bố này xin gửi về địa chỉ e-mail: diendanxahoidansu@gmail.com - Cách thức tham gia Diễn đàn sẽ được thông báo sau. DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI KÝ TÊN TUYÊN BỐ THỰC THI QUYỀN DÂN SỰ VÀ CHÍNH TRỊ 23-9-2013 STT Họ và tên, chức danh (nghề nghiệp, nơi làm việc), thành phố/ nước 1. Nguyễn Đông Yên, GS TSKH, nhà toán học, Hà Nội 2. Phạm XuânYêm, GS Vật lý, Paris, Pháp 3. Nguyễn Đắc Xuân, nhà văn, nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hoá Huế, Huế 4. Tô Nhuận Vỹ, nhà văn, Huế 5. Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, cựu Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc, Hà Nội 6. JB Nguyễn Hữu Vinh, blogger, Hà Nội 7. Nguyễn Hữu Vinh, cử nhân luật, doanh nhân, Hà Nội 8. Vũ Quang Việt, nguyên chuyên viên cấp cao của Liên Hiệp Quốc, New York, Hoa Kỳ 9. Phan Thế Vấn, bác sĩ, TP HCM 10. Trần Thanh Vân, kiến trúc sư, Hà Nội 11. Lưu Trọng Văn, nhà báo, nhà nghiên cứu văn hóa, TP HCM 12. Hà Dương Tường, nguyên giáo sư Đại học Công nghệ Compiègne, Pháp 13. Trần Thị Tươi, cộng tác viên báo chí, TP. HCM 14. Hoàng Tụy, GS Toán học, nguyên Chủ tịch IDS, Hà Nội 15. Vũ Quốc Tuấn, nguyên trợ lý của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Hà Nội 16. Phạm Quang Tuấn, PGS, Đại học New South Wales, Sydney, Australia 17. Nguyễn Thế Trường, đại tá, cựu chiến binh, nguyên phóng viên báo Quân đội Nhân dân, nguyên Tổng biên tập báo Quân giải phóng Trung Trung Bộ, Hà Nội 18. Nguyễn Trung, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Thái Lan, nguyên trợ lý cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, nguyên thành viên IDS, Hà Nội 19. Phạm Đình Trọng, nhà văn, TP HCM 20. Nguyễn Thị Khánh Trâm, nghiên cứu viên, Phân viện Văn hoá Nghệ thuật Việt Nam tại TP HCM, TP HCM 21. Nguyễn Thị Ngọc Trai, hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam, hội viên Hội Nhà Báo Việt Nam, nguyên Phó Tổng biên tập báo Văn nghệ, Hội Nhà Văn Việt Nam, Hà Nội 22. Nguyễn Thị Ngọc Toản, GS, bác sĩ, đại tá cựu chiến binh, TP HCM 23. Phạm Gia Toàn, cán bộ nghỉ hưu, Hà Nội 24. Phạm Toàn, nhà giáo, Hà Nội 25. Nguyễn Tường Thụy, blogger, cựu chiến binh, Hà Nội 26. Nguyễn Thị Thục, nhà báo, nguyên phóng viên đài Phát thanh Truyền hình Lâm Đồng, Đà Lạt 27. Phan Văn Thuận, Giám đốc Công ty TNHH Phú An Định, TP HCM 28. Trần Quốc Thuận, luật sư, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, TP HCM 29. Võ Văn Thôn, nguyên Giám đốc Sở Tư pháp TP HCM, TP HCM 30. Trần Văn Thọ, GS Kinh tế, Tokyo, Nhật Bản 31. Đào Tiến Thi, thạc sĩ Ngữ văn, Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Hà Nội 32. Lê Thân, cựu tù chính trị Côn Đảo trước 1975, nguyên Tổng Thư ký Lực lượng Nhân dân Tranh thủ Dân chủ Đà Lạt (1966), TP HCM 33. Giuse Maria Lê Quốc Thăng, linh mục Tổng Giáo phận Sài Gòn, TP HCM 34. Nguyễn Quốc Thái, nhà báo, TP HCM 35. Nguyễn Văn Thạch, kỹ sư, TP Đà Nẵng 36. Trần Công Thạch, cán bộ hưu trí, TP HCM 37. Bùi Ngọc Tấn, nhà văn, Hải Phòng 38. Lê Văn Tâm, TS Hóa học, nguyên Chủ tịch Hội Người Việt Nam ở Nhật Bản, TP HCM 39. Nguyễn Văn Tạc, giáo học hưu trí, Hà Nội 40. Trần Đình Sử, GS TS, Hà Nội 41. Tô Lê Sơn, kỹ sư, TP HCM 42. Đào Xuân Sâm, nguyên thành viên Tổ Tư vấn của Thủ tướng, Hà Nội 43. André Menras - Hồ Cương Quyết, nhà giáo, cựu tù trước 1975, Pháp 44. Trần Thị Quyên, nghề nghiệp tự do, TP HCM 45. Bùi Minh Quốc, nhà thơ, Đà Lạt 46. Đỗ Trung Quân, nhà thơ, TP HCM 47. Nguyễn Đăng Quang, nguyên cán bộ Bộ Công an, Hà Nội 48. Đặng Bích Phượng, cán bộ nghỉ hưu, Hà Nội 49. Phạm Xuân Phương, đại tá, nguyên chuyên viên Tổng cục Chính trị, cựu chiến binh, Hà Nội 50. Đoàn Văn Phương, nguyên cán bộ Ban Giao bưu Trung ương Cục Miền Nam, TP HCM 51. Nguyễn Thị Hoài Phương, làm nghề tự do, Hà Nội 52. Huỳnh Sơn Phước, nhà báo, nguyên Phó Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ, nguyên thành viên Viện IDS, Hội An 53. Nguyễn Hữu Phước, nhà báo, nguyên cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam, TP HCM 54. Hoàng Xuân Phú, GS TSKH Toán học, Hà Nội 55. Phan Thị Hoàng Oanh, TS, giảng viên đại học, TP HCM 56. Hồ Ngọc Nhuận, nguyên Giám đốc chính trị, Chủ bút nhật báo Tin sáng Sài Gòn TP Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam TP HCM, TP HCM 57. Nguyễn Quang Nhàn, cán bộ công đoàn hưu trí, Đà Lạt 58. Phạm Xuân Nguyên, Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội, Hà Nội 59. Nguyễn Thái Nguyên, TS, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, Hà Nội 60. Trần Đức Nguyên, nguyên Trưởng ban Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, nguyên thành viên Viện IDS, Hà Nội 61. Phạm Đức Nguyên, PGS, giảng viên cao cấp Đại học Xây dựng Hà Nội, Hà Nội 62. Hạ Đình Nguyên, cử nhân giáo khoa Triết Đại học Sài Gòn, cựu tù chính trị Côn Đảo, TP HCM 63. Nguyên Ngọc, nhà văn, nguyên thành viên IDS, Hội An 64. Kha Lương Ngãi, nguyên Phó Tổng biên tập báo Sài Gòn Giải phóng, TP HCM 65. Trần Tố Nga, nữ cựu tù chính trị, cán bộ hưu trí, TP HCM, Paris 66. Phạm Gia Minh, TS, Hà Nội 67. Huỳnh Công Minh, linh mục Tổng Giáo phận Sài Gòn, TP HCM 68. Huỳnh Tấn Mẫm, bác sĩ, Đại biểu Quốc hội khóa 6, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước 1975, TP HCM 69. Nguyễn Khắc Mai, nguyên Vụ trưởng Ban Dân vận Trung ương, Hà Nội 70. Nguyễn Văn Ly (Tư Kết), nguyên Phó Bí thư Đảng ủy Sở Văn hóa Thông tin TP HCM, TP HCM 71. Trần Lương, nghệ sĩ thị giác, Hà Nội 72. Ngô Vĩnh Long, GS Sử học, University of Maine, Hoa Kỳ 73. Trần Văn Long, nguyên Phó Bí thư Thành đoàn Thanh niên Cộng sản TP HCM, nguyên Tổng Thư ký Uỷ ban cải thiện chế độ lao tù miền Nam Việt Nam trước 1975, TP HCM 74. Hồ Uy Liêm, nguyên Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam, Hà Nội 75. Nguyễn Quang Lập, nhà văn, TP HCM 76. Cao Lập, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên Giám đốc Làng Du lịch Bình Quới thuộc Tổng công ty Du lịch Sài Gòn, TP HCM 77. Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, nguyên Viện phó Viện IDS, Hà Nội 78. Tương Lai, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học, nguyên thành viên Tổ Tư vấn của Thủ tướng, nguyên thành viên Viện IDS, TP HCM 79. Nguyễn Khuê, cán bộ hưu trí, TP HCM 80. Lê Xuân Khoa, nguyên giáo sư thỉnh giảng, Viện Chính sách Đối ngoại, Đại học Johns Hopkins, Washington, DC, Hoa Kỳ 81. Nguyễn Vi Khải, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, Hà Nội 82. Lê Phú Khải, nhà báo, nguyên phóng viên Đài Tiếng nói Việt Nam, TPHCM 83. Phạm Khiêm Ích, PGS, nguyên Phó Viện trưởng Viện Thông tin, Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam. Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam, Hà Nội 84. Hà Thúc Huy, PGS TS, giảng viên đại học, TP HCM 85. Nguyễn Thị Hoài Hương, làm nghề tự do, Hà Nội 86. Hoàng Hưng, làm thơ - dịch sách - làm báo, TP HCM 87. Nguyễn Đăng Hưng, TSKH, GS Đại học Liège, Bỉ, đã hồi hương, TP HCM 88. Nguyễn Thế Hùng, GS Đại học Đà Nẵng, Đà Nẵng 89. Nguyễn Mạnh Hùng (Nam Dao), nguyên GS Kinh tế, Đại học Laval, Quebec, Canada 90. Phaolô Nguyễn Thái Hợp, Giám mục Giáo phận Vinh, Nghệ An 91. Ngô Kim Hoa, nhà báo tự do, TPHCM 92. Hồ Hiếu, cựu tù Côn Đảo, nguyên Chánh văn phòng Ban Dân vận Mặt trận, Thành uỷ TP HCM, TP HCM 93. Phạm Duy Hiển, GS, nguyên Viện trưởng Viện Hạt nhân Đà Lạt, nguyên thành viên IDS, Hà Nội 94. Phạm Duy Hiển, kỹ sư, Vũng Tàu 95. Võ Thị Hảo, nhà văn, Hà Nội 96. Đặng Thị Hảo, TS, nguyên Phó Ban Văn học Cổ cận đại, Viện Văn học, Hà Nội 97. Nguyễn Gia Hảo, nguyên thành viên Tổ Tư vấn của Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, Hà Nội 98. Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, nguyên thành viên IDS, Hà Nội 99. Trần Hải Hạc, TS, nguyên PGS Đại học Paris 13, Paris, Pháp 100. Hoàng Thị Hà, giáo viên về hưu, Hà Nội 101. Ngô Thanh Hà, cán bộ hưu trí, TP HCM 102. Lê Công Giàu, nguyên Tổng thư ký Tổng hội Sinh viên Sài Gòn (1966-1967), nguyên Phó Bí thư Thường trực Đoàn Thanh niên Cộng sản TP HCM (1975-1980), nguyên Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP HCM (ITPC), TP HCM 103. Nguyễn Ngọc Giao, nguyên Phó Tổng thư ký Hội Người Việt Nam tại Pháp, Chủ biên tạp chí Diễn Đàn, Paris 104. Trần Tiến Đức, nhà báo, nguyên vụ trưởng Vụ Giáo dục - Truyền thông, Uỷ ban Quốc gia dân số và kế hoạch hóa gia đình, Hà Nội 105. Huy Đức, nhà báo, TP HCM 106. Uông Đình Đức, kỹ sư cơ khí, TP HCM 107. Phạm Văn Đỉnh, TSKH, Toulouse, Pháp 108. Nguyễn Đình Đầu, nhà nghiên cứu, TP HCM 109. Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó Tổng Thư ký Uỷ ban Trung ương Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam TP HCM, đại biểu Hội đồng Nhân dân TP HCM khóa 4, khóa 5, TP HCM 110. Nguyễn Duy, nhà thơ, TP HCM 111. Nguyễn Văn Dũng, nhà giáo, TP Huế 112. Trần Hữu Dũng, GS, nhà giáo nghỉ hưu, Dayton, Hoa Kỳ 113. Hoàng Dũng, PGS TS, TP HCM 114. Phạm Chí Dũng, nhà báo, TP HCM 115. Nguyễn Anh Dũng, nhà giáo, cựu chiến binh, Hà Nội 116. Lê Đăng Doanh, TS, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, nguyên thành viên IDS, Hà Nội 117. Nguyễn Xuân Diện, TS, Viện Hán Nôm, Hà Nội 118. Nguyễn Đắc Diên, bác sĩ, TP HCM 119. Tống Văn Công, nhà báo, nguyên Tổng biên tập báo Lao Động, TP HCM 120. Nguyễn Huệ Chi, GS, nguyên Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Văn học, Hà Nội 121. Huỳnh Ngọc Chênh, nhà báo, TP HCM 122. Ngô Bảo Châu, GS Toán học, Hà Nội, Chicago 123. Bùi Chát, Nhà Xuất bản Giấy vụn, TP HCM 124. Thái Văn Cầu, chuyên gia về không gian, Hoa Kỳ 125. Nguyễn Trọng Bình, nguyên Hiệu trưởng Đại học tại chức Hải Phòng, TP HCM 126. Nguyễn Nguyên Bình, Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội, Hà Nội 127. Huỳnh Kim Báu, nguyên Tổng thư ký Hội Trí thức Yêu nước TP HCM, TP HCM 128. Đặng Thị Nguyệt Ánh, TS, Hà Nội 129. Bùi Tiến An, cựu tù chính trị chuồng cọp Côn Đảo, nguyên cán bộ Ban Dân vận Thành ủy TP HCM, TP HCM 130. Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội [1] Điều 19 của Công ước này còn có khoản kế tiếp như sau: 3-Việc hành xử quyền tự do phát biểu quan điểm đòi hỏi đương sự phải có những bổn phận và trách nhiệm đặc biệt. Quyền này chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật vì nhu cầu: a-Tôn trọng những quyền tự do và thanh danh của người khác. b-Bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng hay đạo lý. 2 Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền quy định tại điều 19: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm. Quyền này bao gồm sự tự do quan điểm mà không bị xen vào quấy rầy và được tự do tìm kiếm, thu nhận và quảng bá tin tức và tư tưởng qua mọi phương tiện truyền thông bất kể biên giới” và điều 20: “Mọi người đều có quyền tự do hội họp và lập hội, một cách ôn hòa. Không một ai có thể bị cưỡng bách gia nhập vào một đoàn thể”. Danh sách ký tên Đợt 2 – hưởng ứng Tuyên bố 23/9 (tổng cộng đợt 1 và 2: 258 người) 131. Doãn Kiều Anh, kỹ sư, TP HCM 132. Lã Việt Dũng, kỹ sư tin học, Hà Nội 133. Nguyễn Việt Hà, kỹ sư, TP HCM 134. Chientrantien, Schanzen str 25, 90478 Nürnberg, CHLB Đức 135. Lê Quốc Chơn, nghiên cứu sinh TS Hóa vật liệu, Pháp 136. Nguyễn Thị Hải Yến, TS, CHLB Đức 137. Lê Nguyên Long, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội 138. Nguyên Thi Thanh Van, phóng viên, Paris, Pháp 139. Phan Quốc Tuyên, kỹ sư tin học, Genève, Thuỵ Sĩ 140. Nguyễn Quyền, công nhân, München, CHLB Đức 141. Gerardo Nguyễn Nam Việt, linh mục Giáo phận Vinh, Hoa Kỳ 142. Trần Kim Thập, giáo chức, Perth, Australia 143. Nguyễn Công Hệ, thuyền trưởng viễn dương, TP HCM 144. Đặng Lợi Minh, giáo viên hưu trí, Hải Phòng 145. Trịnh Trọng Thủy, đảng viên đã bỏ sinh hoạt 3 năm, Hà Nội 146. Nguyễn Bá Dũng, kỹ sư, Hà Nội 147. Nguyễn Văn Dũng, Phó Chủ tịch Hội Người Hải Phòng tại CHLB Đức 148. Joseph Le, CPA, Sydney, Australia 149. Tô Oanh, giáo viên THPT, đã nghỉ hưu, TP Bắc Giang, Bắc Giang 150. Võ Văn Tạo, nhà báo, Nha Trang, Khánh Hòa 151. Trương Long Điền, công chức hưu trí, Long Xuyên, An Giang 152. Ngô Khiết, công dân tự do, TP HCM 153. Nguyễn Hòa, Cao-học hành-chánh Sài-Gòn, đã nghỉ hưu, Hoa Kỳ 154. Le Mai Linh, thi sĩ/nhà văn, Hoa Kỳ 155. Phạm Đỗ Chí, nguyên chuyên viên cấp cao Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Washington DC, Hoa Kỳ 156. Hà Văn Thùy, nhà văn, thành phố Hồ Chí Minh 157. Hà Văn Chiến, cựu chiến binh, Thái Bình 158. Vu Huy Do, công nhân, Seattle, Hoa Kỳ 159. Nguyễn Thái Hùng, kỹ sư xây dựng, Vinh 160. Nguyễn Trung Thành, kỹ sư giao thông vận tải, Phú Thọ 161. Nguyễn Đình Lộc, nguyên Bộ trưởng Tư pháp, Hà Nội 162. Chu Sơn, làm thơ viết văn tự do, TP HCM 163. Nguyễn Thị Kim Thoa, bác sĩ, TP HCM 164. Hồ Quang Huy, kỹ sư, Nha Trang 165. Dao Minh Chau, Hà Nội 166. Nguyễn Thượng Long, viết báo tự do, Hà Nội 167. Lê Anh Hùng, blogger, Hà Nội 168. Bùi Ngọc Mai, nội trợ, TP HCM 169. Lê Văn Xuân, Đắk Lắk 170. Nguyễn Văn Pháp, kỹ sư công nghệ sinh học, Thanh Hoá 171. Lê Văn Sinh, cựu giảng viên Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Hà Nội 172. Nguyễn Văn Trì, TP Biên Hòa, Đồng Nai 173. Nguyễn Chương, nhà báo tự do, TP HCM 174. Hoàng Bá Long, kinh doanh, Hải Phòng 175. Nguyễn Hồng Khoái, sĩ quan quân đội về hưu, Hà Nội 176. Nguyen Phuc Nguyen, kĩ sư, đã nghỉ hưu, Hà Nội 177. Đinh Hoàng Giang, doanh nhân, Hải Phòng 178. Bùi Phan Thiên Giang, chuyên viên mạng máy tính, TP HCM 179. Nguyễn Anh Tuấn, nhà làm phim độc lập, Hà Nội 180. Hà Huy Sơn, luật sư, Công ty Luật TNHH Hà Sơn, Hà Nội 181. Nguyễn Ngọc Cúc, kỹ sư, Thủ Dầu Một, Bình Dương 182. Lê Đoàn Thể, Hà Nội 183. Ngô Thanh Tú, blogger, Cam Ranh, Khánh Hòa 184. Nguyễn Hùng Sơn, họa sĩ, Hà Đông, Hà Nội 185. Hoang Nguyen Thuy Khe, nhân viên văn phòng, TP HCM 186. Phạm Ngọc Cảnh Nam, nhà văn, Đà Nẵng 187. Lương Đình Dzụ, TS, chuyên gia tại Hoa Kỳ, cựu du học sinh tại Nhật Bản, Hoa Kỳ 188. Nguyễn Quang Vinh, cán bộ Bộ Quốc phòng, Hà Nội 189. Trần Công Khánh, hưu trí, Hải Phòng 190. Lê Công Định, luật sư, cựu tù nhân lương tâm, TP HCM 191. Đỗ Toàn Quyền, kỹ sư, TP HCM 192. Trương Công Minh, kỹ sư, TP HCM 193. Doãn Mạnh Dũng, kỹ sư, TP HCM 194. Trần Việt Thắng, thạc sĩ, Hà Nội 195. Nguyễn Khánh Dương, kỹ sư, Bình Thuận 196. Nguyễn Kim Thái, cử nhân, doanh nhân, Bà Rịa-Vũng Tàu 197. Đào Nguyên Ngọc, cựu chiến binh, CHLB Đức 198. Ngô Thúy, họa sĩ tự do, Hà Nội 199. Trần Rạng, giáo viên, TP HCM 200. Trần Thiện Kế, dược sĩ, Hà Nội 201. Thân Hải Thanh, nguyên Tổng Giám đốc Benthanhtourist, TP HCM 202. Trần Quốc Lộc, kỹ sư đã nghỉ hưu TP HCM 203. Nguyễn Kim Bình, TS Y Khoa, đã nghỉ hưu, Brisbane, Australia 204. Chu Mạnh Chi, nguyên giảng viên đại học, Đà Lạt 205. Đặng Lê Hoàng, chuyên viên công nghệ thông tin, TP HCM 206. Nguyễn Tấn Lạc, California, Hoa Kỳ, phụ trách websites: diendancuachungta.com và tudotongiao.wordpress.com 207. Nguyễn Quốc Thản, kỹ sư, Tokyo, Nhật Bản 208. Trần Minh Khôi, kỹ sư điện toán, Berlin, CHLB Đức 209. Đỗ Thành Nhân, MBA, quản lý doanh nghiệp, TP Quảng Ngãi 210. Nguyễn Vũ, kỹ sư, hành nghề tự do, TP HCM 211. Ngô Thị Kim Cúc, nhà văn, nhà báo, TP HCM 212. Đặng Minh Điệp, thạc sĩ, giảng viên đại học, TP HCM 213. Nguyễn Xuân Nghĩa, TS, TP HCM 214. Nguyễn Văn Viên, nhân viên IT, Hà Nội 215. Vũ Văn Vân, kỹ sư, Hà Nội 216. Nguyễn Văn Nhượng, kỹ sư, đang nghỉ hưu, Lausanne, Thụy Sĩ 217. Hà Dương Tuấn, nguyên chuyên gia công nghệ thông tin, Pháp 218. Phạm Vương Ánh, kỹ sư kinh tế, cựu sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam, Vinh 219. Vũ Quốc Ngữ, thạc sĩ, Hà Nội 220. Trần Anh Đức, sinh viên Luật, Hà Nội 221. Nguyễn Trung Hiếu, cử nhân Xã hội học, du học sinh tại Tokyo, Nhật Bản 222. Trần Hữu Kham, thương binh mù, cựu tù chính trị Côn Đảo, TP HCM 223. Việt Ông, kinh doanh, TP HCM 224. Hoàng Dương Tuấn, GS Đại học Công nghệ Sydney, Australia 225. Nguyễn Xuân Bách, kỹ sư, CHLB Đức 226. Tạ Thị Vân, kinh doanh, CHLB Đức 227. Nguyễn Hữu Chuyên, giáo viên, Thái Bình 228. Trần Ngọc Tuấn, nhà báo, CH Czech 229. Tran Ke Dung, đảng viên Đảng Lao động Australia, Australia 230. Đoàn Lâm Tất Linh, Kiên Giang 231. Nguyễn Đức Việt, chuyên viên công nghệ thông tin, Sydney, Australia 232. Khúc Thị Tình (Blog thơ Tiếng Sóng Biển), doanh nhân, CHLB Đức 233. Vũ Thị Nhuận, TS/nội trợ, TP Cần Thơ 234. Trần Ngọc Báu, hưu trí, Fribourg, Thuỵ Sĩ 235. Phan Văn Tráng, kỹ sư xây dựng, TP HCM 236. Cao Thiện Phước, kỹ sư, Pháp 237. Trần Tuấn Dũng, hưu trí, Quebec, Canada 238. Đào Duy Chữ, TS Khoa học tự nhiên, TP HCM 239. Nguyễn Duy, TP HCM 240. Lê Minh Hằng, TS, Hà Nội 241. Lê Hữu Minh Tuấn, cử nhân Sử, Quảng Nam 242. Nguyễn Trường Toản, Thanh tra Công trường Xây dựng, Houston, Hoa Kỳ 243. Phạm Hữu Uyển, IT, CH Czech 244. Trịnh Hồng Kỳ, cựu chiến binh, An Giang 245. Nguyễn Quốc Vũ, IT, CH Czech 246. Dang Ngoc Quang, nghề tự do, Hà Nội 247. Dương Tùng, Bình Dương 248. Nguyễn Anh Phú, biên tập viên, Hà Nội 249. Nguyễn Văn Lịch, làm nghề tự do, TP HCM 250. Phan Đắc Lữ, nhà thơ, TP HCM 251. Nguyễn Văn Duyên, kỹ sư, Hà Nam 252. Phạm Đưc Quý, chuyên viên nghỉ hưu, Hà Nội 253. Le Hung Dung, kinh doanh, CH Czech 254. Vũ Trung Đồng, kỹ sư, TP HCM 255. Nguyễn Công Huân, biên tập viên trang Dân Luận, PGS Đại học Aaborg, Đan Mạch 256. Vũ Mạnh Hùng, Warszawa, Ba Lan 257. Hồ Trọng Đễ, kỹ sư cơ khí, TP HCM 258. Nguyen Hong Duc, kỹ sư, Hà Nội Danh sách ký tên Đợt 3 – hưởng ứng Tuyên bố 23/9 (tổng cộng đợt 1, 2 và 3: 375 người) (đã xoá 7 người trùng tên) 259. Trần Đức Hào, cựu tù nhân, cựu sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà, TP Đà Nẵng 260. Trịnh Xuân Thuỷ, kinh doanh, TP HCM 261. Đàm Quốc Khánh, kỹ sư Hàng hải, TP HCM 262. Chu Trọng Thu, cựu giảng viên Đại học Sư phạm, cựu chiến binh, TP HCM 263. Vũ Ngọc Thăng, dịch giả, Canada 264. Nguyễn Minh Khanh, kỹ sư Tin học, Paris, Pháp 265. Ngô Văn Hòa, thợ may, Hòa Vang, Đà Nẵng 266. Nguyễn Văn Phúc, kỹ sư, Bình Định 267. Nguyễn Đình Ấm, nhà báo, Hà Nội 268. Lê Mạnh Quang, thạc sĩ, nguyên là giảng viên Đại học Tây Bắc 269. Hoàng Quý Thân, PGS TS, Hà Nội 270. Bùi Trần Đăng Khoa, luật sư, TP HCM 271. Nguyễn Khánh Trung, TS, Pháp 272. Phan Bích Hoàng Thu, kỹ sư, TP HCM 273. Nguyễn Hồng Kiên, TS Sử học, Viện Khảo cổ học, Hà Nội 274. Đinh Huyền Hương, nhà giáo, đã nghỉ hưu, TP HCM 275. Nguyễn Ngọc Thạch, hưu trí, TP HCM 276. Bùi Quang Thắng, thạc sĩ quản trị kinh doanh, Hà Nội 277. Huỳnh Thục Vy, blogger bất đồng chính kiến, Quảng Nam 278. Vũ Sỹ Hoàng, phóng viên tự do, blogger Hành Nhân 279. Lưu Văn Minh, sinh viên, Hà Nội 280. Nguyễn Ngọc Sẵng, TS giáo dục, tiểu bang Arizona, Hoa Kỳ 281. Mai Nhật Đăng, học sinh, Tokyo, Nhật Bản 282. Nguyễn Quốc Quân, TS Toán, cựu tù nhân lương tâm, California, Hoa Kỳ 283. Đào Thanh Thủy, cán bộ hưu trí, Hà Nội 284. Đặng Đình Cung, kỹ sư tư vấn, Pháp 285. Phạm P Long, kỹ sư, Hoa Kỳ 286. Tho Lê, nghỉ hưu, Victoria, Australia 287. Hoàng Quốc Hùng, doanh nhân, Praha, CH Czech 288. Quang Tran, IT, Hoa Kỳ 289. Nguyen Quang Tuyen, nghệ sĩ thị giác, San Francisco, California, Hoa Kỳ 290. Bùi Văn Phú, GS Đại học Cộng đồng California, nhà báo tự do 291. Trương Lợi, kỹ sư, TP HCM 292. Lý Đăng Thạnh, người chép sử, TP HCM 293. Lê An Vi, cử nhân Luật, Hà Nội 294. Lê Dũng, blogger, Hà Nội 295. Trần Thị Thanh Tâm, nội trợ, Warzsawa, Ba Lan 296. Trần Xuân Sơn, Hà Nội 297. Nguyễn Khánh Hưng, thạc sĩ quản trị kinh doanh (MBA), Sacramento, California 298. Châu Kỳ, Chemical Engineer, Hoa Kỳ 299. Hồ Văn Tích, kỹ sư, TP HCM 300. Dinh Khac Luong, kỹ sư cơ khí, Hà Nội 301. Nguyễn Phúc Thọ, kỹ sư Tin học, Colombes, Pháp 302. Nguyễn Hồng Phi, họa sĩ, Bangkok, Thái Lan 303. Lê Văn Sinh, MBA, Vương Quốc Anh 304. Đỗ Minh Tuấn, nhà thơ, đạo diễn, Hà Nội 305. Phạm Thanh Lâm, kỹ sư điện tử, Copenhagen, Đan Mạch 306. Phạm Văn Điệp, Chủ nhiệm Câu lạc bộ những người Việt mong muốn Việt Nam hợp tác toàn diện với Hoa Kỳ, Liên Bang Nga 307. Âu Dương Thệ, TS, Hiệp hội Dân chủ và Phát triển Việt Nam, Dortmund, Đức 308. Ngô Trừng Bình, An Giang 309. Nhâm Thiếu Bảo, kỹ sư cơ khí, Hà Nội 310. Vũ Tiến Nga, kỹ sư cơ khí, TP HCM 311. Nguyễn Trung Luân, Trưởng phòng, Sở Công Thương TP HCM 312. Ngọc Nam Phương, Cao Bằng 313. Châu Xuân Nguyễn, blogger, kỹ sư cơ khí, Melbourne, Australia 314. Phan Như Hiển, Núi Thành, Quảng Nam 315. Đỗ Đăng Liêu, Australia 316. Châu Kỳ, Engineer, Los Angeles, Hoa Kỳ 317. Huỳnh Bảo Đức, TP HCM 318. Nguyễn Văn Hưng, nghề tự do, cựu sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà, California, Hoa Kỳ 319. Cao Tan-Lôc, Paris, Pháp 320. Pham Van Thanh, Hoa Kỳ 321. Nguyễn Thành Chiến, nghiên cứu sinh, Zweibrueken, CHLB Đức 322. Huỳnh Công Thuận, blogger, TP HCM 323. Đỗ Hữu Tuyến, học sinh, Vũ Thư, Thái Bình 324. Nguyễn Quốc Hưng, linh mục Tổng Giáo phận Sài Gòn, hiện làm việc tại Roma, Italia 325. Mike Nguyễn, Engineering Manager, Michigan, Hoa Kỳ 326. Phạm Kỳ Đăng, làm thơ, dịch thuật, hành nghề tự do, Berlin, CHLB Đức 327. Trần Công Thắng, bác sĩ, Kristiansand, Na Uy 328. Đỗ Như Phương, kỹ sư, nguyên đảng viên Đảng Cộng sản, Hungary 329. Quan Vinh, chuyên viên tin học, Rome, Italia 330. Vũ Tuấn, TS điện tử, CHLB Đức 331. Bùi Tín, nhà báo tự do, Pháp 332. Nguyễn Trọng Hoàng, bác sĩ y khoa, Paris, Pháp 333. Trần Trung Sơn, TS, giảng viên trường Sĩ quan Không quân 334. Nguyễn Xuân Thọ, kỹ sư điện tử, CHLB Đức 335. Nguyễn Văn Hóa, Insurance Broker (California State), San Jose, California, Hoa Kỳ 336. Tran Mai Sinh, CHLB Đức 337. Le Thanh Hong, CPA, Melbourne, Australia 338. Lê Đặng Thụy, Na Uy 339. Hoàng Lan, nguyên giảng viên Đại học Sư phạm TP HCM, TP HCM 340. Lê Cường, Graphic Designer, Hoa Kỳ 341. Đại Nghĩa, cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hoà, Hoa Kỳ 342. Nguyễn Văn Cung, nhạc sĩ, thượng tá Quân đội Nhân dân Việt Nam, Hà Nội 343. Trần Đức Thạch, nhà thơ, Nghệ An 344. Nguyễn Lân Thắng, kỹ sư xây dựng, Hà Nội 345. Phan Văn Song, nguyên Quyền Hiệu trưởng trường THPT Chuyên Bến Tre, Australia 346. Hoàng Minh Giám, linh mục, Nam Định 347. Vũ Minh Trí, kĩ sư cơ khí, Cầu Giấy, Hà Nội 348. Tung Nguyen, Oklahoma City, Oklahoma, Hoa Kỳ 349. Ngô Đức Đoàn, kế toán, TP Bà Rịa, Bà Rịa-Vũng Tàu 350. Trần Đức Cung, TS, hưu trí, TP HCM 351. Nghiệp Nguyễn Duy, doanh nhân, Thừa Thiên Huế 352. Đinh Tấn Lực, blogger, BKK/VTE/PNH/KUL/MNL - SouthEast Asia 353. Le Xuan Quang, cựu chiến binh, TP HCM 354. Nguyễn Văn Sang, nông dân, Bắc Giang 355. Ngô Đức Thọ, PGS TS Ngữ văn, nghỉ hưu, Hà Nội 356. Đào Công Tiến, nguyên Hiệu trưởng Đại học Kinh tế, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, TP HCM 357. Trần Thọ Hưng, kỹ sư cầu đường, TP HCM 358. Nguyễn Minh Mẫn, kỹ sư Hoá học, Misissauga, Ontario, Canada 359. Vũ Thị Phương Anh, PhD, giảng viên, nghiên cứu giáo dục, TP HCM 360. Lê Văn, TS Vật lý, TP HCM 361. Nguyễn Anh Tuấn, GS TS, Hà Nội 362. Nguyễn Hữu Tế, TP HCM 363. Bùi Quang Lộc, giáo viên, TP HCM 364. Dương Sanh, cựu giáo viên, Khánh Hòa 365. Nguyễn Ánh Tuyết, cán bộ viễn thông, Hà Nội 366. Phi Vũ, công nhân, blogger, California, Hoa Kỳ 367. Nguyễn Phương Chi, nguyên biên tập viên chính Tạp chí Nghiên cứu Văn học, Viện Văn học (đã nghỉ hưu), Hà Nội 368. Nhật Tuấn, nhà văn, TP HCM 369. Vũ Hải Long, TSKH, cán bộ Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam, đã nghỉ hưu, TP HCM 370. Trần Quốc Hùng, cựu giáo viên, TP HCM 371. Nguyễn Steve, ngành IT, Sydney, Australia 372. Dao Kim Son, kinh doanh tự do, TP HCM 373. Phan Lê Tuấn, TP HCM 374. Phạm Kỳ Thụy, kỹ sư xây dựng, Cầu Giấy, Hà Nội 375. Lê Ngọc Xuân, TP HCM Danh sách ký tên Đợt 4 – hưởng ứng Tuyên bố 23/9 (tổng cộng các đợt 1- 4: 497 người) 376. Nguyễn Trần Dũng, công ty cổ phần, Hà Nội 377. Đoàn Thanh Liêm, Costa Mesa, California, Hoa Kỳ 378. Đào Thu Huệ, giảng viên Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội 379. Lê Hà, công nhân, Nuremberg, CHLB Đức 380. Tony Bùi, Pháp 381. Trương Văn Lợi, nghị viên Hội đồng thành phố Dandenong, tiểu bang Victoria, Australia 382. Nguyễn Ngọc Sơn, kinh doanh, cựu chiến binh, TP HCM 383. Nguyễn An Liên, công nhân, TP Đà Nẵng 384. Lê Tân, blogger, TP HCM 385. Ngô Thị Hồng Lâm, nhân viên nghiên cứu lịch sử Đảng, đã nghỉ hưu, TP Vũng Tàu 386. Đinh Thái Trung, Giám đốc Trung tâm Khai Trí (trường tư thục Việt- Mỹ), Houston,Texas, Hoa Kỳ 387. Trần Đình Thắng, cựu giảng viên, TP HCM 388. Nguyên Ân, nhà báo / nhà thơ, California, Hoa Kỳ 389. Nguyễn Đức Giang, cựu chiến binh, Hà Nội 390. Nguyễn Tường Tâm, luật gia, San Jose, Hoa Kỳ 391. Trần Tư Bình, giáo chức, Sydney, Australia 392. Nguyễn Văn Cường, kỹ sư xây dựng cầu đường, Hải Dương 393. Lê Văn Tuynh, blogger, Phan Thiết 394. Phạm Tư Thanh Thiện, nguyên Phó Trưởng ban Việt ngữ Đài RFI, Pháp 395. Dương Văn Nam, công nhân viễn thông, Nam Định 396. Nguyễn Thanh Bình, Sứ quán Đan Mạch tại Việt Nam, Hà Nội 397. Dương Hồng Lam, nguyên cán bộ Ban Tuyên huấn miền Nam, hưu trí, TP HCM 398. Rick Phan, kỹ sư, Canada 399. Nguyễn Đức Phổ, nông dân, Lâm Đồng 400. Nguyễn Thanh Xuân, công nghệ thông tin, TP HCM 401. Nguyễn Minh Nhựt, programer & designer, TP HCM 402. Trịnh Lê Thanh, kỹ sư vô tuyến điện, quận Lê Chân, Hải Phòng 403. Phùng Hoài Ngọc, thạc sĩ, cựu giảng viên đại học, An Giang 404. Lê Hồng Quang, kinh doanh, TP HCM 405. Lê Văn Oanh, kỹ sư, Hà Nội 406. Phạm Thị Lâm, cán bộ hưu trí, Hà Nội 407. Ngô Điều, sĩ quan nghỉ hưu, đảng viên lớp 6-1-1960, Hà Nội 408. Lê Anh Dũng, lao động tự do, Hải Phòng 409. Lương Văn Liệt, nguyên là cán bộ lực lượng Thanh niên Xung phong, cán bộ Chi cục Thuế TP HCM 410. Nguyễn Thành Nhân, kỹ sư, TP HCM 411. Nguyễn Đăng Lập, kỹ sư kinh tế, TP Bà Rịa, Bà Rịa-Vũng Tàu 412. Lương Đỗ Long, công nhân, Mỹ Đình, Hà Nội 413. Trần Phúc Thông, cựu chiến binh Việt-Campuchia-Lào, Hà Nội 414. Huỳnh Trung Hiếu, xã Phước Hưng, huyện Trà Cú, Trà Vinh 415. Bùi Kim Nhung, hưu trí, TP HCM 416. Phan văn Phong, kinh doanh tự do, Hoàn Kiếm, Hà Nội 417. Phạm Xuân Hưng, trình dược viên, Hà Nội 418. Nguyễn Minh Khang, nhân viên vi tính, TP HCM 419. Nguyễn Ngọc Hoài Ân, kỹ sư tin học, TP HCM 420. Lê Xuân Diệu, cử nhân Kinh tế, kinh doanh tự do, Đắk Lắk 421. Lưu Quý Định, kỹ sư, Munich, CHLB Đức 422. Trương Vĩnh Phúc, cử nhân, cựu chiến binh, Hà Nội 423. Bùi Thanh Thám, kế toán, TP HCM 424. Xà Quế Châu, đầu bếp, TP HCM 425. Trần Quang Thành, nhà báo, cựu phóng viên Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Slovakia 426. Phạm Văn Giang, hướng dẫn viên du lịch, Hà Nội 427. Trần Văn Khoản, nguyên cựu chiến binh, nguyên đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (vào Đảng năm 1974, từ bỏ năm 1989), nghề tự do, TP Vũng Tàu 428. Trần Văn Terry, công nhân, Irvine CA, Hoa Kỳ 429. Hoang Dinh, System Engineer, Odense, Đan Mạch 430. Nguyen Van Trien, San Diego, California, Hoa Kỳ 431. Nguyễn Hoành Hùng, kỹ sư, Vũng Tàu 432. Hà Nguyễn, Đà Lạt, Lâm Đồng 433. Trọng Nghĩa, kỹ sư máy tàu biển, Hải Phòng 434. Nguyễn Quốc Lân, giáo viên, nghỉ hưu 435. Nguyễn Hữu Trường, công dân tự do, Bình Dương 436. Nguyễn Anh Tuấn, kiến trúc sư, Hà Nội 437. Trần Ngọc Sơn, kỹ sư, Pháp 438. Nguyễn Thanh Hằng, dược sĩ, Pháp 439. Võ Quang Luân, hưu trí, Hà Nội 440. Hoàng Lê Nam, kỹ sư Tin học, Hà Nội 441. Bui Quang Trung, kỹ sư xây dựng, Pháp 442. Nguyễn Kiến Phước, nhà báo, TP HCM 443. Hoàng Mười, cán bộ nghỉ hưu, Cầu Giấy, Hà Nội 444. Trần Văn Vinh, cử nhân luật, hướng dẫn du lịch, Hà Nội 445. Dao Quang Huy, doanh nhân, Praha, CH Czech 446. Khoa Nguyễn, COS, Virginia, Hoa Kỳ 447. Lanney Trần, Phụ tá Pháp lý/Giáo dục, California, Hoa Kỳ 448. Mai Văn Tuất, tức Facebooker Văn Ngọc Trà, kỹ sư, TP HCM 449. Trần Văn Tuyến, sinh viên, TP HCM 450. Nguyễn Sĩ Đáng, kiến trúc sư, Australia 451. Nguyễn Thị Tuyết Thanh, nhân viên phụ trách nhà cửa, London, Anh Quốc 452. Vũ Văn Thịnh, bác sĩ, đã nghỉ hưu, Thái Nguyên 453. Đặng Vũ Giang, TS, cán bộ nghiên cứu, Hà Nội 454. Hồng Sa Ngạn, giáo viên, Lai Châu 455. Nguyễn Trung Tôn, mục sư, Quảng Xương, Thanh Hóa 456. Nguyen Anh Tam, kỹ sư công trình, giám đốc công trình chuyên ngành về tự động hoá, Canada 457. Dương Văn Vinh, nguyên sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam, TP HCM 458. Võ Thanh Hà, giáo viên, Hà Nội 459. Đặng Nguyễn Hoài Mơ, TP HCM 460. Nguyễn Phương Quân, Xây dựng - Nội thất, Hà Nội 461. Lương Đình Cường, Tổng Biên tập Báo điện tử NguoiViet 462. Peter Nguyen Duc Hung, nhân viên bưu điện, Oslo, Na Uy 463. Nguyễn Zion, hưu trí, Philadelphia, Hoa Kỳ 464. Nguyễn Văn Nghiêm, lao động tự do, TP Hòa Bình, Hòa Bình 465. Phạm Thông, nghề tự do, Hà Nội 466. Nguyễn Kim Huân, kỹ sư xây dựng, Hà Nội 467. Nguyễn Duy Hải, giáo viên, Long An 468. Phan Đức Vinh, vi tính, Sydney, Australia 469. Nguyễn Mê Linh, TS, TP HCM 470. Lê Khánh Hùng, TS công nghệ thông tin, Hà Nội 471. Đặng Trường Lưu, hoạ sĩ, nhà phê bình Mỹ thuật, Hà Nội 472. Trần Quốc Túy, kỹ sư Hóa, hưu trí, Hà Nội 473. Bùi Chí Tâm, nghề tự do, Quảng Ngãi 474. Võ Văn Rân, hưu trí, Hoa Kỳ 475. Thùy Linh, nhà văn, Hà Nội 476. Đông Xuyến, Dr. Tâm lý Trị liệu, California, Hoa Kỳ 477. Hà Văn Thịnh, nhà giáo, Huế 478. Phạm Trung Kiên, thạc sĩ sử học, dạy học, Hà Nội 479. Trần Nhật Phương, công nhân, Nghệ An 480. Lê Thanh Quang, nguyên là cơ sở cách mạng Biệt Động Thành Đà Nẵng 1973 – 1975, chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia 1977 – 1981, làm nông, Đà Nẵng 481. Nguyễn Trọng Quyết, luật sư, Hải Dương 482. Bùi Như Giang, sinh viên y khoa, TP HCM 483. Ngô Thanh Nhã, Canada 484. Nguyễn Thành Trung, công nhân, Bình Dương 485. Nguyễn Mạnh Hùng, nhà giáo, cựu chiến binh, TP HCM 486. Ngô Văn Hiếu, nguyên Tổng Thư ký Ủy ban Đòi Nhân quyền cho Việt Nam, nguyên Tổng Thư ký Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam, Hoa Kỳ 487. Tô Hoà, nhà báo, nguyên Tổng Biên tập báo Sài Gòn Giải phóng, TP HCM 488. Nguyễn Công Minh, linh mục, TP HCM 489. Phero Nguyễn Văn Khải, linh mục Dòng Chúa Cứu Thế, Hà Nội 490. Huỳnh Minh Tú, kinh doanh tự do, blogger, Berlin, CHLB Đức 491. Vũ Ngọc Tuyến, sĩ quan quân đội nghỉ hưu, Hà Nội 492. Nguyễn Quang Huy đã nghỉ hưu, Bắc Ninh 493. Nguyễn Huy Hoàng, kinh doanh, Hà Nội 494. Andy Vu, công nhân, Sydney, Australia 495. Nguyễn Việt Bách (bút danh Phan Thành Đạt), hướng dẫn viên du lịch, luật gia, Pháp 496. Phạm Minh Hoàng, nguyên giảng viên Đại học Bách Khoa TP HCM 497. Ngô Văn Phương, nguyên Đại biểu Hội đồng Nhân dân TP HCM, TP HCM Danh sách ký tên Đợt 5 – hưởng ứng Tuyên bố 23/9 (tổng cộng các đợt 1- 5: 623 người) 498. Nguyễn Trung Dân, nhà báo, Giám đốc Chi nhánh Nhà Xuất bản Hội Nhà Văn, TP HCM 499. Nguyễn Trọng Tạo, nhà thơ - nhạc sĩ - nhà báo, Hà Nội 500. Huy Trần, Đại học Viên, Áo 501. Hoàng Xuân Sơn, luật sư, TP HCM 502. Võ Đăng Khoa, thạc sĩ công nghệ thông tin, Houston, Texas, Hoa Kỳ 503. Nguyễn Mạnh Cường, kinh doanh, CH Czech 504. Đạt Nguyễn, PhD, Virginia Commonwealth University, Hoa Kỳ 505. Phạm Duy Lương (Trí Dân), Aš, CH Czech 506. Nguyễn Nguyên Khôi, Perth, Australia 507. Vũ Đức Khanh, luật sư, Ottawa, Canada 508. Nguyễn Tiến Dũng, cử nhân công nghệ thông tin, trung tá Bộ đội Biên phòng, đã nghỉ hưu, Thanh Hoá 509. Trần Văn Tiến, kinh doanh, CH Czech 510. Nguyễn Ánh Tuyết, cử nhân kinh tế, London, Vương quốc Anh 511. Nguyễn Quế Hương, kiến trúc sư, HCM 512. Trần Văn Thiện, kỹ sư, Hà Nội 513. Nguyễn Hồng Quân, kỹ sư kết cấu, Hoa Kỳ 514. Toàn Khanh Hoàng, kỹ sư tin học, Frankfurt, CHLB Đức 515. Nguyen Dinh Thang, TS, kỹ sư cơ khí, Tổng Giám đốc, Hoa Kỳ 516. Ngô Trí, đã về hưu, Port Coquitlam, Canada 517. Ngo Bao Vinh, kỹ sư xây dựng, Australia 518. Hoàng Đức Vương, kỹ sư, TP HCM 519. Lê Quang, thạc sĩ giáo dục, Hà Nội 520. Đặng Lâm, nhân viên xã hội, Vancouver, Canada 521. Nguyễn Ái Chi, nguyên cán bộ phòng Tuyên huấn trường Đại học Thương Mại, TP HCM 522. Hoang Tam Tam, kỹ sư, nghề tự do, Australia 523. Lê Hồng Phong, cử nhân kinh tế, Hà Nội 524. Huỳnh Thị Thu, kế toán, FDI, Trảng Bom, Đồng Nai 525. Đỗ Thái Bình, kỹ sư đóng tàu, TP HCM 526. Đức Long, TS, bác sĩ, TP HCM 527. Đoàn Văn Cánh, nguyên giảng viên cao cấp trường đại học, Hà Nội 528. Đỗ Đình Oai, giáo viên Toán, Quảng Ngãi 529. Nguyễn Thanh Cường, kinh doanh, TP HCM 530. Pham Nguyen, kỹ sư tin học, Washington DC, Hoa Kỳ 531. Ta Thanh, công nhân, Hoa Kỳ 532. Phan Tấn Hải, nhà văn, Hoa Kỳ 533. Phung Thi Ly, cử nhân, TP HCM 534. Lê Bách Phong, kinh doanh, Bà Rịa-Vũng Tàu 535. Bùi Kiến Quốc, kiến trúc sư, thạc sĩ khoa học về Đô thị học, doanh nhân, Hà Nội 536. Dương N Ánh, kỹ sư dầu khí, chuyên viên dầu cát & khí đá, Houston, Hoa Kỳ 537. Đinh Quang Minh, cử nhân kinh tế, Hà Nội 538. Hàn Quang Vinh, kỹ sư tin học, Hà Nội 539. Trần Ngọc Thạch, cán bộ lâm nghiệp, Bình Định 540. Vũ Duy Thắng, kinh doanh tự do, Đông Anh, Hà Nội 541. Khổng Hy Thiêm, kỹ sư điện, Khánh Hòa 542. Nguyễn Quốc Minh, nhà thơ, Hà Nội 543. Ngô Đình Thục, nghỉ hưu, Hoa Kỳ 544. Nguyễn Đức Tùng, M.D., Vancouver, Canada 545. Bùi Việt Hà, Công ty Công nghệ Tin học Nhà trường, Hà Nội 546. Vũ Trí Đức, nghề tự do, Hà Nội 547. Vũ Bất Khuất, người làm thơ, TP Rạch Giá 548. Mai Sơn, viết văn, dịch thuật, TP HCM 549. Lê T Hong Hạnh, hưu trí, Hà Nội 550. Trần Thanh Trác, giảng viên, TP HCM 551. Nguyễn Vi Khải, TS, Hà Nội 552. Trần Tuấn Lộc, cử nhân Kinh tế, cử nhân Luật, TP HCM 553. Nguyễn Thị May, giáo viên, Điện Biên 554. Lê Mạnh Đức, kỹ sư hưu trí TP HCM 555. Nguyễn Hữu Giải, linh mục Công giáo, Tổng Giáo phận Huế 556. Phan Văn Lợi, linh mục Công giáo, Giáo phận Bắc Ninh 557. Trần Nam, sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam, đã nghỉ hưu, Lâm Đồng 558. Nguyễn Văn Trường, kinh doanh, Đồng Nai 559. Lê Đăng Dung, kỹ sư thủy lợi, Hà Nội 560. Nguyễn Bá Toàn, kỹ sư, đã nghỉ hưu 561. Cao Vi Hiển, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, Kon Tum 562. Hoàng Đức Doanh, nghỉ hưu, Hà Nam 563. Hoàng Cao Nhân, kỹ sư tin học, TP HCM 564. Nguyen Huu Hiep, tài xế, TP HCM 565. Nguyễn Hoàng Long, bác sĩ, cựu tù nhân chính trị, Đà Nẵng 566. Chu Quốc Khánh, kỹ sư điện tử, cử nhân kinh tế, Hà Nội 567. Nguyễn Văn Chinh, kỹ sư cơ khí, Hà Nội 568. Đặng Phương Bắc, nhà giáo, Thái Bình 569. Nguyễn Thị Xuân Phượng, nhà hoạt động văn hóa, TP HCM 570. Nguyễn Việt, doanh nhân, Vương quốc Anh 571. Phạm Hồng Thanh, cử nhân, Hà Nội 572. Lê Thăng Long, doanh nhân, kỹ sư viễn thông, cựu tù nhân lương tâm, TP HCM 573. Lại Đức Hưng Quốc, TS, Maryland, Hoa Kỳ 574. Nguyễn Hồng Việt, Giám đốc doanh nghiệp, TP HCM 575. Vũ Văn Hiền, viên chức, Hà Nội 576. Hoàng Ngọc Cầm, TSKH, Hà Nội 577. Trần Quang Ngọc, kỹ sư điện, đã nghỉ hưu, Stuttgart, CHLB Đức 578. Phạm Minh Đức, bỏ việc, Quảng Ngãi 579. Nguyễn Chí Cường, thông dịch viên Việt Nhật, Kanagawa, Nhật Bản 580. Hoàng Quang Thái, chuyên viên điện toán hồi hưu, Hannover, CHLB Đức 581. Nguyễn Thạch Cương, TS nông nghiệp, Hà Tây 582. Nguyen Thien Công, kỹ sư cơ khí, buôn bán, hãng Mercedes, Werk Duesseldorf, CHLB Đức 583. Hoàng Nguyên, kỹ sư xây dựng, Quảng Ngãi 584. Nguyễn Kim Quang, cựu giáo viên, TP Cần Thơ 585. Vũ Thi Bích, hưu trí, Paris, Pháp 586. Nguyễn Đức Toàn, thạc sĩ kỹ thuật môi trường, TP HCM 587. Nguyễn Tiến Dũng, kinh doanh, TP Vinh 588. Trương Thế Kỷ, kỹ sư, CHLB Đức 589. Trần Đình Phan Tiến, thường dân, TP HCM 590. Ngô Thái Văn, kỹ sư, Missouri, Hoa Kỳ 591. Nguyễn Khuê Tú, sinh viên, Vancouver, Canada 592. Nguyễn Đức Nhuận, hưu trí, GS TSKH, nguyên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Phát triển SEDET CNRS/Université Paris 7, Pháp 593. Trương Minh Tịnh, Giám đốc Công ty Tithaco PTY LTD, Australia 594. Tuyet Ha, California, Hoa Kỳ 595. Minh Trinh Nguyen, cựu chiến binh, nguyên nghiên cứu viên Viện Mác-Lênin Hà Nội, Koblenz, CHLB Đức 596. Thi Bich Hang Nguyen, nội trợ, Koblenz, CHLB Đức 597. Phan Dang Khoi, LLB, J. D. Westminster, California, Hoa Kỳ 598. Nguyễn Văn Thân, kỹ sư điện toán, thành viên của "Tuyên bố của các Công dân Tự do", California, Hoa Kỳ 599. Vũ Thế Dũng, nhà văn, nhà thơ, Giám đốc NXB VIPEN, Berlin, CHLB Đức 600. Đào Tấn Anh Trúc, thợ điện, Pháp 601. Phạm Cường, đạo diễn, CHLB Đức 602. Hùng C Nguyễn, khoa học gia, Sydney, Australia 603. Lương Văn Điền, Graphic Designer, TP Huế 604. Lê Văn Hưng, kỹ sư lâm nghiệp, Đắk Lắk 605. Ky Dinh Pham, cựu thẩm phán Việt Nam Cộng Hoà, Australia 606. Lê Hữu Chính, tín đồ Phật giáo Hòa Hảo, Toronto, Canada 607. Vũ Công Giao, giảng viên đại học, Hà Nội 608. Mai Tiến Dũng, doanh nhân, T PHCM 609. Nguyễn Huy Tưởng, luật sư, Bình Dương 610. Lê Vĩnh Trương, nghề nghiệp vận tải tổng hợp, TP HCM 611. Bùi Đình Sệnh, công dân Việt Nam, Từ Liêm, Hà Nội 612. Trần Văn Lương, nghề tự do, Chương Mỹ, Hà Nội 613. Đỗ Quang Tuyến, kỹ sư, Seattle, Washington, Hoa Kỳ 614. Nguyễn Tấn Thành, doanh nhân, Nha Trang 615. Randy Vu, Los Angeles, Hoa Kỳ 616. Ken Nguyễn, thầu khoán (contractor), San Jose, California, Hoa Kỳ 617. Nguyễn Long Giang, kỹ sư đô thị, TP Vinh, Nghệ An 618. Phan Văn Thanh, đã nghỉ hưu, Hà Nội 619. Hồ Sỹ Lâm, kỹ sư xây dựng, Nghệ An 620. Phung Truong, cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hoà, Hoa Kỳ 621. Nguyễn Thanh Nga, MBA, Hà Nội 622. Lê Hà Phú, kỹ sư lâm nghiệp, Hà Đông, Hà Nội 623. Nguyễn Dương, công nhân, Orlando, Florida, Hoa Kỳ  
......

Nhà báo Phạm Chí Dũng: Phong trào dân sự tại Việt Nam đã chín muồi

Tại Việt Nam vào tháng 8/2013, luật gia Lê Hiếu Đằng đã đề xuất việc thành lập đảng Dân chủ Xã hội, chấm dứt sự độc quyền của đảng Cộng sản Việt Nam về chính trị. Ý kiến này được nhiều người ủng hộ và thảo luận sôi nổi. Đến cuối tháng 9/2013, một tuyên bố về các quyền dân sự và chính trị do một nhóm trí thức vốn là những người khởi xướng Kiến nghị 72 phổ biến trên mạng. Chúng tôi đã đặt câu hỏi với nhà báo tự do, tiến sĩ Phạm Chí Dũng tại Sài Gòn về các vấn đề trên.   Nhà báo, tiến sĩ Phạm Chí Dũng RFI/Capdevielle   RFI : Kính chào nhà báo Phạm Chí Dũng, rất cảm ơn anh đã nhận trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ. Thưa anh, ở Việt Nam đang diễn ra những cuộc tranh luận về việc nên lập đảng chính trị mới hay theo phương thức xã hội dân sự nhằm cải thiện không khí dân chủ. Quan điểm của anh như thế nào ? Nhà báo Phạm Chí Dũng: Theo quan điểm của cá nhân tôi, ngôi nhà nào cũng cần phải có móng. Xã hội dân sự với các phong trào của nó sẽ mang tính thiết thực hơn là mô hình đảng phái độc lập còn khá mơ hồ ở Việt Nam. Lịch sử Việt Nam đã trải nghiệm không biết bao nhiêu lần về chuyện thừa thãi lòng nhiệt huyết nhưng lại thiếu tính hành động. Một đảng Dân chủ Xã hội hay nhiều đảng phái khác có thể được khởi xướng, thậm chí có thể hình thành ít nhất trên danh nghĩa mà không bị nhà cầm quyền cô lập, trong bối cảnh tác động về dân chủ và nhân quyền của cộng đồng quốc tế đã trở nên mạnh mẽ hơn hẳn nội lực phản ứng của chính quyền. Tuy nhiên, ai cũng biết rằng muốn hoạt động được, và hơn thế là triển khai thành công tính tư tưởng cùng phương châm hành động của nó, tổ chức đảng lại cần phải có lực lượng. Cho đến nay, lực lượng cho một đảng phái vẫn là một câu hỏi để ngỏ trong lòng những người nhiệt thành muốn thay đổi nhưng chưa biết làm thế nào. Thậm chí để tiến hành một cuộc cách mạng xã hội, người ta cần phải đổi mới chính mình trước khi bàn đến việc thay đổi người khác. Khác hẳn với định chế đảng phái chính trị, xã hội dân sự với các phong trào dân sự không nhắm đến một cuộc tranh đua, giành đoạt về quyền lực đối với chính thể đương nhiệm. Đặc biệt trong bối cảnh thể chế chính trị một đảng được coi là “duy nhất” ở Việt Nam, mối lo về cạnh tranh chính trị càng trở nên nhạy cảm và quá khó xử. Với sứ mệnh được mặc định của mình, xã hội dân sự chỉ nhằm làm cho chính quyền nhận ra được những sai lầm trong chính sách và quá trình thực hiện chính sách, từ đó tiến hành hủy bỏ hoặc điều chỉnh những chính sách, nhân sự thực hiện, làm gần gũi và đồng cảm hơn giá trị “của dân, do dân và vì dân”. Ôn hòa, bất bạo động, tránh đổ máu là những đặc trưng trong phương pháp hoạt động của xã hội dân sự và các phong trào dân sự. Chính phương châm này đã loại trừ tâm trạng lo lắng đầu tiên của những người muốn tham gia phong trào dân sự là liệu họ có bị sách nhiễu hoặc thậm chí bị bắt bởi những hoạt động thuần túy xã hội của mình. Cũng cần nhắc lại ngay sau đề xuất thành lập đảng Dân chủ Xã hội của ông Lê Hiếu Đằng vào tháng 8/2013, nhiều trí thức đã nổi lên tranh luận về câu hỏi “Thời cơ đã chín muồi chưa?”. Nhưng ngay lập tức, những người khác hỏi lại “Thế nào là chín muồi?”. “Chín muồi” cũng vì thế đã trở thành lời thách đố lớn nhất nếu thiếu người khởi xướng có uy tín và năng lực hành động. Và cho dù có được người khởi xướng thì lại thiếu lực lượng điều hành và cốt yếu hơn thế nữa là không có nổi lực lượng thừa hành. Nhưng dễ dàng hơn nhiều so với mô hình đảng phái chính trị, hoạt động của phong trào dân sự với mục tiêu xã hội có thể được chấp nhận ở mức khiêm tốn, tự lượng sức mình và thỏa mãn nhiều hơn hẳn những điều kiện về “chín muồi”. RFI : Như vậy theo anh đang có những điều kiện nào cho sự chín muồi của một phong trào dân sự ở Việt Nam? Với tôi thì rõ ràng đó là nhu cầu xã hội, yêu cầu của nhân dân. Câu trả lời rõ rệt nhất cho độ chín muồi đến thời điểm hiện tại vẫn là “lòng dân”. Nước lên thuyền lên, nhưng nước xuống thì thuyền cũng phải xuống theo – Nguyễn Trãi đã dạy như thế và cũng có không biết bao nhiêu bài học lịch sử nhưng lại không được thấm nhuần vào những cái đầu đặc sệt lúc nào cũng chỉ nghĩ đến quyền và tiền. Kinh tế lụn bại, tham nhũng ghê rợn chưa từng thấy, xã hội nhiễu nhương đạo lý, chính trị bất nhất đạo đức, tình cảm của người dân chuyển từ bức xúc đến phẫn nộ rồi tràn sang phẫn uất. Trong bối cảnh đó u uất đó, những người muốn có một sự thay đổi lớn lao về thể chế chính trị không phải là ít. Xã hội dân sự là một trong những phương cách tốt nhất để tạo nên sự thay đổi cấp thiết ấy. Hãy làm sao để người dân nhận ra rằng được sinh ra từ lòng xã hội dân sự, các phong trào dân sự không phải là một khái niệm cao siêu mà giai cấp nông dân và công nhân không thể với tới được. Ngược lại, hoạt động dân sự trong xã hội dân sự là những gì thiết thân và gần gũi nhất với đời sống dân sinh, nhằm hỗ trợ giải quyết một cách thấu tình đạt lý những bức xúc của dân chúng liên quan đến nhiều chủ đề thiết thực trong hiện tồn Việt Nam như Hiến pháp, tham nhũng, đất đai, môi trường, biển đảo, quyền lợi người lao động, thị trường, các chính sách công bất hợp lý… Có quá nhiều những vấn đề cần phải giải quyết trong bối cảnh chính quyền không có đủ năng lực và ngày càng mất đi sự công tâm cần có, để bảo đảm việc chấp nhiệm một cách công bằng. Đó cũng chính là nhu cầu xã hội đang nảy sinh trong lòng xã hội Việt Nam đương đại, đòi hỏi phải có những tác động phi chính phủ, tức hoạt động nằm ngoài khuôn khổ của đảng và chính quyền, giúp cho người dân nhận thức được bản chất của những mâu thuẫn, khó khăn, xung đột và tìm cách giải quyết phần nào những mối nguy đó. Có một ví dụ điển hình là vào giữa năm 2013, một tác động ngoại biên đã gây dấu ấn đáng kể đối với giới doanh nghiệp ở Việt Nam. Đó là vụ cáo buộc của Tổ chức phi chính phủ lớn thứ hai trên thế giới – Global Witness - đối với Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai về những khuất tất của tập đoàn này liên quan đến đất đai, môi trường và điều kiện sống của nông dân ở Campuchia. Cho tới nay, vụ việc này dù chưa có đáp số cuối cùng, nhưng rõ ràng hình ảnh của Hoàng Anh Gia Lai đã bị giảm sút khá lớn không chỉ trong thương trường nội địa, mà cả trên thương trường quốc tế. Với lý do đó, chắc chắn những dự án mà Hoàng Anh Gia Lai đang tiến hành ở Campuchia và Lào sẽ phải được chính tập đoàn này điều chỉnh sao cho bớt bị dư luận phản ứng. Cũng có hàng ngàn ví dụ tương tự trong hai mươi năm qua ở Việt Nam, kể từ thời điểm bắt đầu đường parabol hướng lên của thị trường bất động sản và kéo theo rất nhiều vụ thu hồi đất không thỏa đáng, trái pháp luật và sau này là bất chấp đạo lý đối với nông dân. Tất cả những mâu thuẫn đó đã tích tụ đủ dày để biến thành ý thức phản kháng của một bộ phận nông dân bị mất đất, biến họ thành dân oan và tạo nên mối xung khắc, dẫn tới xung đột với giới quan chức chính quyền tại nhiều địa phương. Vụ việc thu hồi đất hết sức bất công tại huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên năm 2012 mà hậu quả còn kéo dài đến nay là một bằng chứng điển hình. Chính những xung đột đó đang rất cần đến sự giúp đỡ của các tổ chức dân sự có kiến thức về pháp luật và lòng trắc ẩn với đồng loại. Hoặc với vụ chôn thuốc trừ sâu xuống lòng đất của một doanh nghiệp ở Thanh Hóa có tên là Nicotex Thanh Thái bị phát hiện vào tháng 9/2013, người dân đã có đủ bằng chứng, báo chí và dư luận phẫn nộ, song các cơ quan chức năng vẫn trù trừ một cách rất đáng nghi ngờ. Vì sao vậy? Phải chăng đã có những mối quan hệ khuất lấp nào đó giữa thủ phạm gây án ung thư cho người dân địa phương với một vài cơ quan hay những quan chức nào đó? Điều rõ ràng là nếu vụ việc này xảy ra ở những nước phát triển và có xã hội dân sự trưởng thành như Mỹ hay Anh, Pháp, chắc chắn các tổ chức phi chính phủ đã không để yên, cho dù nhà chức trách địa phương có tìm cách bao che. RFI : Theo nhận xét của anh, thì thái độ và cách hành xử thường bị chỉ trích là vô cảm của chính quyền đã tác động đến tâm lý người dân như thế nào? Tác động một cách tiêu cực ! Ở Việt Nam, trong khi vai trò độc đảng đã đi vào lối mòn và gây ra nhiều hậu quả về đặc quyền và đặc lợi, tình trạng hoàn toàn thiếu đối trọng chính trị và vai trò của xã hội dân sự đã kéo theo tình trạng thiếu minh bạch trở thành một cố tật, và cố tật này xem ra rất khó được chữa lành. Luôn đứng gần chót bảng tổng sắp các nước có độ minh bạch thấp nhất của Tổ chức Minh bạch Quốc tế, giới quan chức Việt Nam từ nhiều năm nay đã ép tính minh bạch ngược chiều với đà tăng vọt lợi nhuận của các nhóm lợi ích độc quyền về xăng dầu, điện lực, các nhóm lợi ích thị trường như bất động sản, chứng khoán, và các nhóm lợi ích chính sách như Vinashin và Vinalines. Dù chẳng hề có một con số khảo sát hay điều tra nào từ phía các cơ quan nhà nước, nhưng bằng vào quá nhiều phản ứng xã hội đã dồn dập xảy ra ở Việt Nam, đặc biệt là vụ một người dân là Đặng Ngọc Viết xả súng trả thù cán bộ quản lý đất đai ở tỉnh Thái Bình vào tháng 9/2013, rõ ràng tâm lý phản kháng của một bộ phận dân chúng đang có chiều hướng vượt qua lằn ranh sợ hãi và có thể biến thái thành hành vi mất kiểm soát. Đặc thù tâm lý trong xã hội Việt Nam là lòng dân càng bất mãn thì phản ứng của người dân càng lúc càng trở nên thiếu kềm chế. Trong một số vụ viêc mấy năm gần đầy, đã xuất hiện dấu hiệu vượt khỏi tâm lý kềm tỏa sợ hãi để bước đến tâm trạng phản kháng, thậm chí sẵn sàng đối đầu, cho dù đó chỉ là hành động đối kháng tự phát chứ không được tổ chức. Có thể nêu ra hàng loạt vụ việc người dân phản ứng về đất đai ở nhiều địa phương như Nam Định, Bắc Giang, Hưng Yên, Nghệ An… và ngay tại ngoại thành Hà Nội, rất gần với tổng hành dinh của Chính phủ và Bộ Chính trị của Đảng. Vụ Đặng Ngọc Viết chính là một điển hình cho lòng phẫn uất đã biến thành tự phát vô cảm đến mức bất chấp của dân oan, đối diện với thói vô lương tâm của giới quan chức địa phương. Hoặc vụ Mỹ Yên và cách hành xử “côn đồ hóa” của những người bị người dân cho là thẻ ngành không mang sắc phục, đã làm dấy lên làn sóng phản ứng có khuynh hướng “tử vì đạo” của vài trăm linh mục và nửa triệu giáo dân vùng Nghệ An, cùng lòng hiệp thông chưa từng thấy giữa các giáo phận trong cả nước. Sau vụ tranh chấp đất đai tại nhà thờ Thái Hà ở Hà Nội vào năm 2011, có thể nói vụ Mỹ Yên chỉ thiếu chút nữa đã thổi bùng ngọn lửa đối đầu công khai và sẵn sàng chết vì đạo của giáo dân đối với chính quyền địa phương, mà rất có thể dẫn tới hậu quả không thể nào lường hết nếu xung đột tiếp tục leo thang. Mà các tôn giáo và giới tín đồ lại là một thành tố không thể thiếu của xã hội dân sự. Trong lịch sử, các tôn giáo ở Việt Nam như Công giáo, Phật giáo, Tin lành, Cao đài, Phật giáo Hòa hảo… đã đóng góp cho xã hội nhiều giá trị tinh thần lẫn vật chất cho người dân, đúng với tiêu chí cho người nghèo và vì người nghèo. Vậy nếu những hoạt động từ thiện xã hội của các tôn giáo bị ngăn cản và bị cấm đoán thì sao? Lẽ tự nhiên, đó chính là lúc bản thân các tôn giáo và cả những giới không tôn giáo thấy cần phải hòa quyện với nhau để đấu tranh đòi lại sự công bằng, ít nhất là công bằng cho đúng với những mỹ từ “tốt đạo đẹp đời” hay “kính Chúa yêu nước” mà Nhà nước ưa phô diễn. Nhức nhối xã hội và những tiền đề hỗn loạn xã hội - điều kiện cần cho xã hội dân sự hình thành – đã hội tụ đủ, thậm chí tràn ứ. Vấn đề còn lại chỉ là các phong trào dân sự ở Việt Nam sẽ khởi sự như thế nào mà thôi. RFI : Theo anh thì xã hội Việt Nam đã có những tiền đề nào cho phong trào dân sự? Có thể xem phong trào phản biện Bauxite từ năm 2007 là tiêu điểm đầu tiên mang dấu ấn của nhóm trí thức xuất thân từ lòng đảng, nhưng đậm nét cách tân và có quan điểm cách mạng hơn nhiều so với những lề thói cũ. Công cuộc phản đối dự án khai thác bauxite của Trung Quốc cũng có thể có ý nghĩa không kém thua so với 11 cuộc biểu tình chống sự can thiệp của Bắc Kinh vào Biển Đông vào năm 2011. Một trong những biểu hiện hiệu quả và bền vững nhất mà nhóm trí thức phản biện Bauxite đã làm được là duy trì được trang mạng Bauxite Vietnam tồn tại trong suốt 5 năm qua, cho dù phải chịu không ít áp lực từ phía chính quyền và ngành công an. Đến đầu năm 2013, nhóm Kiến nghị 72 sinh ra và phát triển tại Việt Nam lại là một hiện tượng có vẻ như đột biến, nhưng thực chất là tuân theo đúng quy luật biện chứng “lượng đổi dẫn đến chất đổi”. Sau nhiều năm không nhận ra một sự thay đổi và cải thiện đáng kể nào từ phía đảng và chính quyền, giới trí thức bất đồng tiên phong đã phải chỉ thẳng một điều cốt tử: một khi nền chính trị Việt Nam không có đối trọng - được thể hiện bởi những lực lượng vật chất - những chính sách bất hợp lý về tư tưởng và bất công về quyền lợi của nó chỉ có thể dẫn dân tộc đến hố sâu phân hóa và tự triệt tiêu động lực tiến bộ. Có thể coi sự hình thành của “Kiến nghị 72” liên quan đến điều 4 Hiến pháp là dấu mốc cực kỳ quan trọng cho việc khởi xướng tiền đề của hoạt động xã hội dân sự ở Việt Nam trong tương lai. Sau “Kiến nghị 72”, một số blogger trẻ cũng đã khởi phát phong trào 258 – một hoạt động mà về hình thức chỉ là tiếp xúc và trao bản tuyên bố phản đối điều 258 Bộ luật hình sự cho các cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài và một số tổ chức nhân quyền quốc tế, nhưng thực chất là bày tỏ thái độ phản đối công khai đối với chính quyền theo tinh thần minh bạch hóa và tác động thay đổi chính sách của xã hội dân sự. Cũng chủ yếu từ năm 2011 đến nay, hoạt động truyền thông xã hội tại Việt Nam đã hình thành một cách dày dạn và tỏ ra can đảm hơn hẳn hoạt động thông tin lề trái ở Trung Quốc. Số người viết ngày càng nhiều, nhưng quan trọng hơn, số bài viết có chất lượng và có sức lan tỏa, tính kết nối với hệ thống truyền thông quốc tế ngày càng tăng. Truyền thông quốc tế lại tác động đến nhiều tổ chức nhân quyền quốc tế và chính phủ các quốc gia hàng đầu về dân chủ và nhân quyền, tạo nên hiệu ứng tác động ngược lại đối với nhà cầm quyền ở Việt Nam. Chính hiệu ứng “trong ra ngoài vào” như vậy đã thực sự làm nên một đối trọng về áp lực dư luận đối với hệ thống báo đảng, khiến cho các cơ quan tuyên giáo từ trung ương đến địa phương không thể xem thường truyền thông xã hội. Trong một số trường hợp liên quan đến “Kiến nghị 72”, hai vụ tuyệt thực của Cù Huy Hà Vũ, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, vụ bắt rồi thả Phương Uyên, đề xuất thành lập đảng mới của ông Lê Hiếu Đằng…giới báo chí lề đảng đã phải chọn cách đứng trước vành “đối chất” thay vì phẩy tay bỏ qua vào những năm trước. Truyền thông xã hội lại là một thành phần đương nhiên của xã hội dân sự. Đó cũng là lý do để có thể tạm thời kết luận rằng một phần quan trọng và có thể có tính quyết định của xã hội dân sự đã manh nha và đang dần khởi sắc ở Việt Nam, cho dù chân đứng của nó có lẽ còn khá lâu nữa mới vững chắc và đồng vị tại một điểm thống nhất nào đó. RFI : Thưa anh, đối với sự hình thành xã hội dân sự ở Việt Nam. yếu tố nào mang tính quyết định : yếu tố đối nội hay đối ngoại? Nội lực tất yếu là yếu tố quyết định trong dài hạn. Nhưng trong ngắn hạn, điều kiện sơ sinh cho xã hội dân sự lại đến từ cộng đồng quốc tế và trào lưu dân chủ hóa trên thế giới. Nhìn sâu vào bản chất, tình hình chính trị ở Việt Nam vào năm 2013 đã thay đổi khá nhiều so với những năm trước, tuy chỉ là một sự thay đổi rất kín đáo mà không dễ nhận ra và càng khó để lượng định. Tuy nhiên, nếu hệ thống lại những hoạt động đối ngoại giữa Việt Nam với các quốc gia như Mỹ, Pháp, Anh, và với cả công đồng Công giáo Vatican, có thể thấy là một độ mở chính trị dường như đã được nhà nước Việt Nam cam kết với quốc tế, dẫn đến kết quả tuy chưa khả quan, nhưng đã có nét đột biến từ việc bất ngờ thả nữ sinh Phương Uyên ngay tại tòa án Long An – sự kiện diễn ra chưa đầy một tháng sau chuyến đi Washington của ông Trương Tấn Sang. Xu hướng đối ngoại và góc mở đối nội cũng cho thấy nếu vào tháng 8/2013, ông Lê Hiếu Đằng và nhóm cộng sự bền tâm và có đủ lực lượng để lập nên chính đảng Xã hội Dân chủ, sự việc chưa từng thấy này cũng khó tạo ra một cái cớ đủ tính pháp lý để chính quyền phản ứng mạnh mẽ, tức có thể bắt giam hoặc đàn áp những người khởi xướng lập đảng. Hướng mở về đối ngoại kéo theo độ mở về chính trị và cho thấy chưa bao giờ từ năm 1975 đến nay, Nhà nước Việt Nam lại “cần” đến cộng đồng quốc tế như bây giờ. Nhu cầu thiết thân về quyền lợi và quyền lực như thế đang liên quan trực tiếp đến các chủ đề hấp dẫn như Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương – TPP, và cả lời hứa hẹn về “đối tác chiến lược toàn diện” từ phía người Mỹ, trong đó trước mắt là một vài động thái liên minh quân sự giữa Việt Nam và Hoa Kỳ để giảm thiểu tác động rất tiêu cực từ người bạn láng giềng tham lam có truyền thống ở phương Bắc. Một động thái khác đáng chú ý sau cuộc gặp Obama – Sang, vào ngày 27/8/2013, phái đoàn Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc đã công bố 14 lời hứa về nhân quyền của chính phủ Việt Nam trước chủ tịch Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, trong đó có cam kết đầu tiên và quan trọng nhất: “Thông qua các chính sách và các biện pháp để đảm bảo tốt hơn tất cả các quyền căn bản về kinh tế, xã hội, văn hóa, dân sự và chính trị theo thông lệ quốc tế đã công nhận”. RFI : “Thông lệ quốc tế đã công nhận” có thể hiểu là Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, công ước quốc tế về chống tra tấn… Vào cuối tháng 9/2013, một tuyên bố về các quyền dân sự và chính trị đã được nhóm trí thức độc lập, cũng là những người khởi xướng “Kiến nghị 72”, phổ biến trên mạng. Hiển nhiên là những tiền đề đầu tiên của xã hội dân sự đang hình thành ở Việt Nam, trong bối cảnh Nhà nước Việt Nam đang dần phải chấp nhận những giá trị phổ quát về nhân sinh, nhân quyền và dân chủ của cộng đồng quốc tế. Đó cũng là lý do để có thể cho rằng đã có những tín hiệu cho thấy một số lãnh đạo của đảng và chính quyền, tuy chưa công khai biểu hiện quan điểm vì lý do chưa muốn hoặc vẫn bị áp lực bởi “chủ nghĩa kinh viện tập thể”, vẫn đang có xu hướng “xoay trục” sang phương Tây và dần chấp nhận đường hướng một mô hình xã hội dân sự nào đó trong tương lai cho Việt Nam, với vai trò nhà nước pháp quyền đang được đặt ra và có giá trị tối thiểu như một cụm từ mang tính thời thượng. Sau chuyến đi của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đến Washington vào tháng 7/2013 và tiếp theo đó là chuyến đi của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến Paris và New York vào tháng 9/2013, tín hiệu về xu hướng “xoay trục” như thế ngày càng lộ diện. Đó cũng là lý do để có thể cho rằng tỉ lệ thuận với khuynh hướng “xoay trục” sang phương Tây, một nhận thức mới mẻ đang dần hình thành trong não trạng của một số lãnh đạo cao cấp: trong tương lai gần, một lực lượng trí thức có tính độc lập tương đối với hệ tư tưởng của đảng, có thể là cần thiết được duy trì mà không bị sách nhiễu hoặc bắt bớ, với mục đích tạo nên một ráng hồng dân chủ nào đó cho khuôn mặt của chế độ, cũng là nhân tố có thể mang lại thiện cảm với các tổ chức và quốc gia trên thế giới quan tâm đến vấn đề dân chủ, nhân quyền và xã hội dân sự ở Việt Nam. Trong trường hợp cần thiết, lực lượng trí thức độc lập này cũng có thể là cầu nối trong – ngoài để một số quan chức cao cấp Việt Nam “dễ ăn dễ nói” hơn với các tổ chức quốc tế. Tác động quốc tế và điều được xem là “biến đổi khí hậu nội địa” chính là điều kiện cần và cực kỳ quan yếu để các phong trào dân sự có thể thành hình thành khối ở Việt Nam, trong bối cảnh được coi là “nhạy cảm” hiện thời mà không quá lo lắng về chuyện thành viên của họ bị bắt bớ hay bị truy tố vì tội danh “lật đổ có tổ chức”. RFI : Làm thế nào để các phong trào dân sự có thể được xây dựng nhanh chóng và lan tỏa được ở Việt Nam? Khác rất nhiều với tính chuyên biệt về tư tưởng và thành phần của đảng phái chính trị, phong trào dân sự luôn là một định chế mở có tính hợp lý để có thể thu hút, quy tụ rộng rãi sự đóng góp của các thành phần, không chỉ người dân mà còn cả trí thức và các quan chức trong đảng – những người vốn đã ở thế “trung dung”, bức xúc với hiện tình dân tộc và muốn tìm một con đường nào đó để đời sống của họ đỡ vô nghĩa hơn. Một khi được hình thành, các phong trào dân sự có thể là ngôi nhà của người nông dân, công nhân, tiểu thương, và cả giới sinh viên đang muốn tìm một lối thoát để phụng sự dân tộc. Ở nhiều nơi và vào nhiều thời điểm, xã hội đang chứng kiến hiện tượng “tụ tập đông người”, từ các bà tiểu thương đến những nhóm sinh viên và trí thức, từ các nhóm dân oan hàng ngày túc trực ở trụ sở công quyền đến những người công nhân nhóm họp đòi quyền lợi về thu nhập… Tuy nhiên tất cả những hiện tượng tổ nhóm như thế vẫn còn rất phân tán và mang tính tự phát, hoàn toàn có thể tan vỡ như bong bóng xà phòng nếu không được định hướng và duy trì sự tồn tại. Định hướng và những mục tiêu thiết thân của xã hội dân sự cùng các phong trào của nó về dân sinh, dân quyền, dân chủ và dân trí chắc chắn là sự gắn bó không thể tách rời đối với quyền lợi của đại đa số người dân trong số 86 triệu dân số Việt Nam giờ đây. Số còn lại, dù chưa có con số thống kê chính thức, nhưng có thể chỉ chiếm 10-15%, là những người có bổng lộc thông qua phương tiện chức vụ, cùng những người giàu có mà không muốn lâm vào tình thế rủi ro để đổi lấy sự minh bạch. Nếu đại đa số nhân dân được kết nối với nhau và được định hướng trong cuộc đấu tranh phản biện xã hội, tính lan tỏa và sức ép mà các phong trào dân sự tạo ra sẽ được nhân lên gấp nhiều lần. Ứng với những điều kiện ở Việt Nam và so sánh với kinh nghiệm đã tích lũy ở Liên Xô cũ và nhiều nước Đông Âu vào thập niên 90, nhóm trí thức phản biện độc lập có vai trò khởi phát, dẫn dắt, nhưng lực lượng trí thức trong đảng và hệ thống nhà nước mới là nhân tố quyết định để tác động đối với đảng và chính quyền, tạo ra một thay đổi đủ lớn về chính sách, con người và cả thể chế. Ứng với tình hình Việt Nam, một số đánh giá mang tính ước đoán cho biết hiện thời có ba nhóm quan điểm chính. Nhóm thứ nhất gồm khoảng 30% trí thức trong đảng và nhà nước, bao gồm cả quan chức, được xem là nhóm “trung thành” và có quyền lợi thiết thân với chức vụ và các đặc quyền trong hệ thống. Ngược lại, nhóm thứ hai có khoảng 20% trí thức trong các cơ quan nhà nước, không phải đảng viên hoặc vẫn là đảng viên, nhưng có tư tưởng cấp tiến, muốn thay đổi, song chưa có điều kiện để thể hiện quan điểm và hành động của họ. Nằm giữa hai khuynh hướng vừa đề cập là nhóm thứ ba với khoảng 50% trí thức trong đảng và nhà nước- những người không gắn bó đặc biệt với quyền lợi và chức vụ, mang quan điểm trung dung. Nếu thực tế gần đúng với những tỉ lệ đó thì một xã hội dân sự được tổ chức tốt sẽ có thể thu hút đến ít nhất phân nửa số trí thức đang làm việc cho hệ thống của đảng và nhà nước. Muốn xã hội dân sự được rút ngắn cung đường khởi động, yếu tố đoàn kết phải là con ngươi của phong trào phản biện, phong trào dân sự và do đó của xã hội dân sự trong tương lai ở Việt Nam. Tình trạng xa cách giữa nhóm trí thức phản biện độc lập với các trí thức trong đảng và hệ thống nhà nước như hiện thời là yếu huyệt nguy hiểm nhất trên con đường cải hóa các mục tiêu xã hội và chính trị, gây loãng tác động điều chỉnh chính sách và càng làm cho đời sống dân tình trở nên khốn khó, bức bách hơn. Bức bách thách đố đối với những người hoạt động dân chủ ở Việt Nam lại là phải tạo ra được bầu không khí tranh luận thật sự dân chủ trong đa nguyên tư tưởng, gạt sang một bên những đố kỵ, tị hiềm, ganh ghét hoặc nói xấu lẫn nhau – những biểu hiện vẫn luôn bị coi là một thói xấu trong lịch sử văn hóa của người Việt. Chỉ có đoàn kết mới làm tăng được sức mạnh của những người muốn thay đổi và mới tạo ra được sự đổi thay. Đoàn kết càng nhanh thì lộ trình ban đầu cho dân chủ Việt Nam sẽ càng được rút ngắn, cho dù con đường dẫn đến sự thay đổi toàn diện vẫn còn rất lâu dài. RFI : Trong hoàn cảnh Việt Nam, các phong trào dân sự có thể làm được những gì thiết thực? Có rất nhiều việc phải làm. Hành động chính trị - xã hội là việc lên tiếng bảo vệ chủ quyền biển đảo, hạn chế sự phụ thuộc của nền kinh tế và chính trị Việt Nam vào Trung Quốc; phản biện chống tham nhũng và các nhóm lợi ích, nhóm thân hữu; thúc đẩy Quốc hội sớm ban hành Luật biểu tình, Luật lập hội, Luật trưng cầu dân ý; thúc đẩy tiếng nói của trí thức độc lập tại Quốc hội; thúc đẩy tính hợp hiến và hợp pháp hóa của quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do tôn giáo; phản biện đối với các điều luật chính trị hóa hành vi phản phản biện như điều 79, 87, 88, 258 trong Bộ luật hình sự; phản biện đối với điều kiện giam giữ phạm nhân trong các trại giam; hỗ trợ tinh thần và vật chất cho các gia đình có người bị giam giữ, liên quan đến yếu tố chính trị… Còn hành động kinh tế - xã hội là bảo vệ quyền lợi của nông dân trước hành vi trưng thu đất đai bất hợp pháp và vô lối; phản biện đối với chủ đề sở hữu trong Luật đất đai và cơ chế thu hồi đất đối với các dự án kinh tế - xã hội; bảo vệ quyền lợi của công nhân và thị dân về điều kiện làm việc và an sinh xã hội; đấu tranh chống tác động tiêu cực của một số doanh nghiệp đối với môi trường tự nhiên… Thái độ lên tiếng của phong trào dân sự cũng không thể bỏi qua việc phản biện đối với một số vấn đề kinh tế gay gắt như nợ công quốc gia; nợ và nợ xấu; tính độc quyền của kinh tế quốc doanh và một số tập đoàn; ngân hàng; các thị trường đầu cơ như vàng, bất động sản; những ngành có liên quan mật thiết đến người tiêu dùng như điện, xăng dầu, nước… Và để tự nâng mình lên, các phong trào dân sự cũng phải phản biện với chính những tiếng nói phản biện thiếu tinh thần xây dựng và đoàn kết trong giới hoạt động dân chủ ở Việt Nam và hải ngoại. RFI : Tuy nhiên nhiều vấn đề mà giới trí thức phản biện nêu ra cho tới nay vẫn có vẻ nặng về tính lý thuyết. Làm thế nào để có được một phong trào dân sự có hiệu quả trong đời sống? Dĩ nhiên phong trào phản biện của giới nhân sĩ, trí thức và các phong trào dân sự phải cần thỏa mãn điều kiện đủ là làm sao hình thành càng sớm càng tốt, chọn lựa những người đứng đầu có uy tín và có năng lực hành động, đồng thời tạo dựng được nhân lực điều hành và thừa hành để có thể tương tác với vận động xã hội và thích ứng với những ưu thế mới trong tình hình mới. Muốn đạt được các mục tiêu chiến lược đó, trước mắt hoạt động của phong trào dân sự cần nhích thêm một bước: không chỉ là diễn đàn trên mạng, mà phải hình thành các nhóm công khai trong đời sống theo phương châm ôn hòa, bất bạo động. Ngay từ bây giờ, đang rất cần đến một sự kết nối có tính thành tâm, hữu dụng và bài bản giữa các nhóm trí thức phản biện độc lập, trí thức trong đảng với các nhóm dân sự tiêu biểu của nông dân, công nhân, tiểu thương, sinh viên, tín đồ tôn giáo trong nước, cùng khối trí thức và kiều bào Việt Nam ở nước ngoài. Cuộc hành trình của phản biện xã hội và xã hội dân sự ở Việt Nam trong ít nhất 20 năm tới không chỉ là một sự thay đổi về tương quan kinh tế - chính trị, mà còn là một cuộc cách mạng về văn hóa và dân trí cho các tầng lớp nhân dân. Hãy đừng nghĩ xã hội dân sự phải là một cái gì đó to tát với những cuộc bàn luận bất tận về học thuật và vĩ mô. Sau khi Diễn đàn xã hội dân sự của nhóm 72 ra đời, một blogger trẻ là Phạm Lê Vương Các đã bày tỏ chút nuối tiếc: hàng trăm trí thức có tên tuổi đồng ký tên ủng hộ diễn đàn này thực ra có thể làm được một điều gì đó xứng đáng hơn là chỉ bàn luận. Trên mạng đã có quá nhiều diễn đàn, và giờ đây điều cần thiết là hành động chứ không chỉ là nói. Một hành động rất nhỏ bé như hình thành một phong trào nhặt rác ngoài đường phố có thể còn có ý nghĩa hơn cả việc ngồi bàn luận chính trị theo cung cách salon… Nhặt rác chính là một hành động không thể thiết thực hơn trong nỗi bức bối hiện thời. Dù mới chỉ một ít người nhặt rác, song hiệu ứng lan tỏa của đám đông sẽ khiến thay đổi về nhận thức và tình cảm, để đến một lúc nào đó người dân và đảng viên sẽ ý thức về việc cần phải quét rác như thế nào. Với tôi, chúng ta, tất cả các bạn hãy hành động, hành động và hành động! Vì dân sinh, dân quyền, dân chủ và dân trí! Thay đổi của xã hội cũng là hệ quả cho phản biện và cơ hội cho dân chủ. Phải thay đổi về não trạng để có thể cống hiến cho xã hội nhiều hơn nữa. Phong trào dân sự và những điều kiện cho một xã hội dân sự ở Việt Nam đang nằm trong xu thế và lộ trình khởi động trong 3-4 năm tới. Và nếu được tổ chức tốt, phong trào này có thể góp sức cho xã hội về những triển vọng lạc quan trong tương lai dài hạn của dân tộc. RFI : Xin rất cảm ơn nhà báo Phạm Chí Dũng đã vui lòng nhận trả lời phỏng vấn của RFI Việt ngữ hôm nay. Nguồn: rfi.fr  
......

Blogger Điếu Cày được giải thưởng Tự do Báo chí Quốc tế 2013 của CPJ

Ông Nguyễn Văn Hải tức blogger Điếu Cày đã được Ủy ban Bảo vệ Nhà báo (CPJ) quyết định trao tặng giải thưởng Tự do Báo chí Quốc tế năm 2013, cùng với ba nhà báo của Ecuador, Ai Cập và Thổ Nhĩ Kỳ. Tin này được loan trên trang web của tổ chức CPJ có trụ sở tại New York vào hôm qua 26/09/2013.   Ông Joel Simon, giám đốc điều hành của Ủy ban Bảo vệ Nhà báo tuyên bố : « Vào thời điểm mà thông tin đã trở thành tài nguyên toàn cầu, bốn nhà báo trên đây đã bất chấp nạn kiểm duyệt và trấn áp để mang lại thông tin cho chúng ta. Chúng tôi nhìn nhận lòng can đảm, sự dấn thân và sự chối từ im lặng của họ ». Thông cáo của CPJ cho biết, bốn nhà báo được giải – Janet Hinostroza ( đài Teleamazonas, Ecuador), Bassem Youssef (đài Capital Broadcast Center, Ai Cập), Nedim Sener (báo Posta, Thổ Nhĩ Kỳ) và Nguyễn Văn Hải (tức blogger Điếu Cày, Việt Nam) – đang phải đối mặt với những sự trả thù do công việc của họ, kể cả quấy rối về luật pháp, đe dọa về thân thể và bắt giam. Cũng theo thông cáo trên, bà Janet Hinostroza đã buộc phải tạm ngưng một chương trình truyền hình sau khi bị đe dọa, ông Youssef bị điều tra về các bản tin châm biếm, ông Sener bị quy tội hoạt động khủng bố vì các bài điều tra mang tính chỉ trích và có thể bị lãnh án 15 năm tù. Ông Nguyễn Văn Hải, một trong các blogger nổi tiếng nhất Việt Nam, đã thành lập Câu lạc bộ Nhà báo Tự do trong một đất nước mà báo chí đều do Nhà nước kiểm soát, và đã bị 12 năm tù kèm theo 5 năm quản chế theo một điều luật mơ hồ về « tuyên truyền chống Nhà nước ». Các bài viết trên blog của ông dưới bút danh Điếu Cày đề cập đến những vấn đề nhạy cảm về chính trị, trong đó có những bài phản đối Trung Quốc xâm lấn Hoàng Sa và Trường Sa, và chống giới chức tham nhũng. Ông Nguyễn Văn Hải cũng kêu gọi xuống đường phản đối rước đuốc Olympic Bắc Kinh đến Thành phố Hồ Chí Minh tháng 12/2007. CPJ nhắc lại, ông Nguyễn Văn Hải bị giam giữ 5 tháng vào năm 2008 trong khi không bị cáo buộc tội danh nào, đến tháng 9/2008 bị kết án hai năm rưỡi tù giam vì tội « trốn thuế ». Sau khi mãn án, ông vẫn phải tiếp tục ở tù vì lại bị lãnh thêm một bản án mới, và tháng 7/2013 blogger này đã tuyệt thực hơn một tháng để phản đối các điều kiện giam giữ. Theo một nghiên cứu của CPJ, đến cuối năm 2012 tại Việt Nam có ít nhất 14 nhà báo bị giam cầm, đứng thứ nhì trên thế giới chỉ sau Trung Quốc. Ủy ban Bảo vệ Nhà báo là tổ chức phi lợi nhuận hoạt động độc lập với mục tiêu bảo vệ tự do báo chí trên toàn thế giới. Giải thưởng Tự do Báo chí Quốc tế được thành lập từ năm 1991, mỗi năm trao giải cho bốn nhà báo đã tỏ ra dũng cảm trước mọi đe dọa. Bốn nhà báo đoạt giải năm nay sẽ được vinh danh tại lễ trao giải thưởng niên của CPJ và được mời dự ăn tối tại New York ngày 26/11/2013. Trong quá khứ, có những nhà báo bị cầm tù nhiều năm sau đó khi được trả tự do đã đến dự lễ, và có ba phóng viên được truy tặng giải.   CPJ International Press Freedom Awards 2013 23rd Annual Ceremony and Dinner To benefit the Committee to Protect Journalists Four journalists who face imprisonment or other persecution for exposing realities in Ecuador, Egypt, Turkey, and Vietnam will be honored with the Committee to Protect Journalists' 2013 International Press Freedom Awards, an annual recognition of the courageous reporting that defines free media. The awardees--Janet Hinostroza (Teleamazonas, Ecuador), Bassem Youssef (Capital Broadcast Center, Egypt), Nedim Şener (Posta, Turkey) and Nguyen Van Hai (Dieu Cay, Vietnam)--are confronting severe reprisals for their work, including legal harassment, physical threats, and imprisonment. Hinostroza was forced to temporarily give up one television program to ensure her safety after being threatened; Youssef has come under legal investigation for his satirical newscast; and Şener is charged with terrorist activity for his critical reporting and could be sentenced to 15 years in prison. Nguyen Van Hai, one of Vietnam's best known bloggers, created an independent alternative in a country where all news publications are controlled by the government. Consequently, he is serving a 12-year prison sentence under a vague law that bars "conducting propaganda" against the state. CPJ will present Paul Steiger, founding editor-in-chief of ProPublica, with the Burton Benjamin Memorial Award for lifetime achievement in the cause of press freedom. Steiger, who served as CPJ chairman for six years, from 2005 to 2011, was managing editor of The Wall Street Journal from 1991 to 2007. All of the winners will be honored at CPJ's annual award and benefit dinner in New York City on November 26, 2013. Lara Logan, CBS News correspondent and CPJ board member, will host the event. Daniel L. Doctoroff, chief executive and president of Bloomberg L.P., is the dinner chairman. Full press release available in Arabic, English, Spanish, and Turkish. CPJ International Press Freedom Awards: Tuesday, November 26, 2013 Grand Ballroom The Waldorf-Astoria New York City For tickets, please call CPJ's Development Office at +1 (212) 465-1004, ext. 113. CPJ 2013 International Press Freedom Awardees: Janet Hinostroza, Ecuador Bassem Youssef, Egypt Nedim Şener, Turkey Nguyen Van Hai, Vietnam Burton Benjamin Memorial Awardee: Paul Steiger, United States Media contact: Magnus Ag, Advocacy and Communications Officer; email: mag@cpj.org; tel: +1.212.300.9007 Nguồn: RFI  - CPJ.org/awards/
......

Sự nói dối cưỡng bức?

Bản chất của sự nói dối là biết sự thật nhưng cố ý nói khác đi một cách có ý thức, với mục đích che giấu hay tránh né sự thật. Nói khác sự thật, do tình thế cưỡng bức không thể nói sự thật, phải gượng lòng nói dối, tạm gọi là nói dối cưỡng bức. Bà “Doan Phó Chủ tịch nước” từng nổi tiếng với phát biểu: Việt Nam dân chủ gấp vạn lần tư bản. Sự nói dối cưỡng bức được lặp lại nhiều lần, rồi quen đi, nó trở thành tính, thành nết, thành tật xấu, cuối cùng là hình thành sự ngụy tín cho chính mình. Sự nói dối bấy giờ trở nên trơn tru, hồn nhiên, giống y như nói thật, mà người nghe thì thấy nó trần trụi, nó gợi lên một cảm nhận trơ trẽn.   Trẻ em nói dối thì bị quở mắng, có khi bị trừng phạt. Người lớn – với tư cách là người dân bình thường – nói dối thì hàng xóm, bạn bè tránh xa không muốn chơi, người thân thì không thể tin cậy. Người có cương vị xã hội mà nói dối thì bị nhiều người coi khinh; cương vị xã hội càng lớn, thì sự coi khinh càng nhiều, càng báo hiệu sự nguy hiểm. Sự nói dối về dân chủ, nhân quyền ở nước ta ngày càng trở thành đề tài thời sự nóng hổi trên các diễn đàn, cả ở diễn đàn quốc tế. Cứ mỗi lần một nhân vật cao cấp nói về dân chủ, nhân quyền là họ đã thảy một mồi lửa vào đống rơm khô, tức thì gây nên bất bình rộng khắp và không cưỡng được. Người ta không tin rằng những con người ấy có tính nói dối bẩm sinh, cũng không thể tin rằng họ không biết sự thật, một sự thật mà người dân thường cũng hiểu được, với nhan nhản sự kiện đầy ắp trên trang báo, trang mạng mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi năm và năm này qua năm khác. Chỉ có thể lý giải rằng đây là sự nói dối cưỡng bức, tức là bị bắt buộc phải nói dối. Thử đặt vài câu hỏi: - Nhưng ai có thể cưỡng bức họ, khi họ có quyền lực cao? - Điều gì khiến họ chịu sự cưỡng bức dài hơi, lâu ngày đến thế? - Và nó đã trở thành sự nói dối hồn nhiên? 1- Cách đây không lâu, bà Phó Chủ tịch nước nói: Dân chủ của Việt Nam là “cao hơn gấp vạn lần so với dân chủ tư sản”. Câu nói ấy đã gây nhiều phản ứng, nhưng không phải là nói dối nếu so với giáo trình Mác-Lênin [Thực ra, so với Lenin, bà Phó Chủ tịch nước đã rất khiêm tốn, vì Lenin quả quyết: “Chế độ dân chủ vô sản so với bất cứ chế độ dân chủ tư sản nào, cũng dân chủ hơn gấp triệu lần; chính quyền xô-viết so với nước cộng hoà tư sản dân chủ nhất thì cũng dân chủ hơn gấp triệu lần.” (V. I. Lenin, Cách mạng vô sản và tên phản bội Cau-xky, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1974, tr. 39). Hay đơn giản là vì bà không thuộc sách vở kinh điển Lenin? Khó tin, vì bà là Giáo sư Tiến sĩ, có trình độ cao cấp về lí luận chính trị, trong khi câu nói “nổi tiếng” trên đây của Lenin đã được đưa ra giảng dạy trong nhà trường Việt Nam xã hội chủ nghĩa mấy chục năm nay, đến mức thầy giáo rất hay lấy làm đề thi cho học trò, chẳng xem ở đây hay ở đây – BVN]. Còn so với thực tế, nó rất vô nghĩa, một so sánh định lượng “quá mức tình cảm”, hoặc do quán tính thuần túy… Nhưng câu nói ấy không gây nên sự phẫn nộ từ dân chúng, mà chỉ gây nên một nỗi buồn đến kinh hoàng về sự tụt hậu của trình độ “suy thoái tư tưởng” mang tính biểu trưng của tầng lớp lãnh đạo. Nếu hiểu về mặt đạo đức của sự “trung thành” hay “kiên định” với ý thức hệ, thì cái đạo đức ấy cũng gây kinh hoàng không kém. Chỉ vì cái đức tin đặt nhầm vào chỗ không phải của tôn giáo. Nó làm buồn nhân dân suốt cả năm, cũng chỉ vừa mới nguôi ngoai. 2- Nay lại đến phiên ông Chủ tịch nước! Người ta hỏi rằng bây giờ ông có đang đói bụng không, ông trả lời một cách biện chứng rằng, vì hôm qua ông có ăn nên hôm nay không thể đói được! Vì rằng nước ông (Việt Nam) đã từng chống ngoại xâm giành độc lập dân tộc cả trăm năm qua, nên đương nhiên có ý chí – thậm chí rất mãnh liệt – về khát vọng dân chủ và nhân quyền. Và vì “có” khát vọng đó, nên đương nhiên dân chủ, nhân quyền phải “có” thôi! Cái lý nó thế. Phải mượn tạm lịch sử chứ biết nói sao! Cũng như mượn tạm cái bức thư của "Chủ tịch Hồ Chí Minh" cách đây 2/3 thế kỷ, khi sang Mỹ tháng trước, để gởi cho ngài Obama. Đây cũng không phải là lời nói dối thuần túy, mà chỉ là nói tránh/trớ/né thôi. Tính của ông Chủ tịch như đã từng thể hiện, ít khi nói thẳng, có lẽ không phải vì thiếu dũng khí, mà vì tính “nói khéo” có phần nổi trội. Thí dụ, đồng chí X. Nhưng cái dẫn chứng mà ông đưa ra, mới gây nên chuyện, vì là nói dối đủ 100% . Nhiều báo trích nguyên văn, xin lặp lại: “Chúng tôi có 86 triệu dân, trong đó trên 30 triệu người sử dụng internet hằng ngày, tỷ lệ đó biến đổi hàng giờ, không có bất cứ sự ngăn cấm nào cả… Ngoài ra Việt Nam có khoảng trên bốn triệu blogger, rất tự do. Do vậy, ở ngoài thì đồn đại rất nhiều nhưng để hiểu Việt Nam nhiều hơn, hiểu về đời sống chính trị của Việt Nam thì xin mời các bạn hãy đến Việt Nam. Mặc dù chúng tôi còn nghèo nhưng cũng có trên dưới 200 kênh truyền hình, 700 tờ báo và không dưới 17.000 phóng viên...” (Phát biểu của Chủ tịch nước với báo chí tại Đan Mạch, đăng trên Thanh Niên, nhưng bị rút xuống.Xin xem ở đây – BVN)http://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:http://www.thanhnie... Biến đổi hàng giờ vì phải liên tiếp thay hình đổi dạng, tự chết đi để tìm cách sống dậy. Mà dù có sự phát triển, thì không phải là sự vui mừng, mà là nỗi lo ngay ngáy của phía nhà nước. Rất tự do lại như một cơn gió độc quất vào mặt các blogger dù họ đang ở trong nhà tù kín gió. Cái đội ngũ hùng hậu về người và phương tiện: 17.000 phóng viên, 700 tờ báo, 200 kênh truyền hình..., đúng là đất nước còn nghèo (ông Chủ tịch khẳng định), nhưng rất thích chơi sang! Chừng ấy là chưa tính tới bao nhiêu cái loa phường, mỗi phường một loa thôi, trên khắp đất nước, cũng quá đủ để trấn áp hệ thần kinh người dân. Lực lượng hùng hậu mà Chủ tịch dẫn chứng, có số người đông như bộ máy an ninh cảnh sát, có phương tiện truyền thông dồi dào vô địch, được hiểu một cách hùng hồn chỉ là một bộ máy đàn áp. 17.000 phóng viên ư? Trong đó biết bao nhiêu tiếng thở dài? Bao nhiêu tiếng hò reo cùng với kèn trống? Với một nhà báo Nguyễn Đắc Kiên, chỉ một bài báo, trong chỉ một ngày là bị đuổi việc. Nhanh và nhạy vô cùng. Nhưng còn bao nhiêu sự kiện, sự cố diễn ra hằng ngày, cụ thể, ngoài sự phản ảnh của truyền thông và báo chí? Nói không đúng sự thật như trên, kể ra ông Chủ tịch cũng đã có dũng cảm. Nhưng dũng cảm nhất, và khách khí nữa, là “Mời các bạn đến Việt Nam” thì… biết liền! Có lẽ, không cần đến Việt Nam, họ cũng có khả năng biết liền. Ông Chủ tịch còn hồn nhiên phản kích: “Ở ngoài [nước ngoài] thì đồn đại rất nhiều, nhưng…”, có nghĩa là báo chí nước ngoài nói dối (đồn đại = thổi phồng, nói càn, ít xít ra nhiều). Ông Chủ tịch và các ông lãnh đạo khác không thể không biết chính những điều mà các ông đã và đang làm, về dân chủ và nhân quyền bao nhiêu năm qua, ở cái xứ sở khốn khổ này. Một đất nước tràn trề tham nhũng mà lại có dân chủ và nhân quyền được sao, lạ thật! Thế nhưng không thể nói thật. Là “nói dối cưỡng bức” hay đã trở thành ngụy tín? Hầu hết trong bộ máy nhà nước, từ cao đến thấp, đều như thế! Nghĩa là cùng trong tình thế cưỡng bức. Và sự ngụy tín đã trở nên toàn diện, bao trùm. Nhưng ai có thể cưỡng bức họ? Câu trả lời là cơ chế của bộ máy này đã cưỡng bức họ, buộc họ không thể nói thật. Vì cơ chế đó được đặt trên một tiền đề không có thật nốt: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Dân làm chủ”. Quả là bi hài! Bị kẹp chặt và bẹp dí như con mắm, mà còn làm chủ được sao? Thế là sự nói dối “dân làm chủ” cứ chễm chệ trên ngai, như lời hô vạn tuế trên môi các quan chức suốt gần 4 thập niên qua, cho cái ông vua “làm chủ” khốn khổ ấy, kể từ khi đất nước thống nhất. Từ đó, mọi sự nói dối và suy đồi các loại phát triển, lan rộng và nhanh như cỏ mọc, thành “tập thể nói dối cưỡng bức”, hùng hậu ở mọi lãnh vực: dân chủ, nhân quyền, kinh tế, văn hóa xã hội, cả sự nói dối về đạo đức, tư tưởng. Sự nói dối còn di căn sang một bộ phận thanh niên có quan hệ gần gũi với bộ máy cầm quyền, trở thành dạng nói dối ngu muội hồn nhiên. Một bộ máy có thể kẹp chặt người dân như thế, thì cán bộ dù cao đến đâu, cũng không thoát khỏi thân phận chung của người dân, dù là lãnh đạo của bộ máy. Vì cái thân phận lâu dài của anh ta vẫn là người dân, trước khi làm quan và sau khi làm quan. Những người về hưu có thể rất cay đắng với một quãng đời nói dối hồn nhiên hoặc nói dối cưỡng bức của mình, khi thoát được khỏi tình trạng ngụy tín! Nhưng vì sao họ có thể chịu đựng lâu dài, bền bỉ đến thế? Câu trả lời thì dễ, nhưng vấn đề lại hết sức gay go. Đó là quá trình hy sinh và gắn bó với nhiều ràng buộc của quyền và lợi. Sự hy sinh của những ai đó có thể chưa nhiều lắm, mà sự gắn bó thì nhiều hơn, nhất là những cái chức đã mua bằng tiền, hoặc bằng sự thân quen nâng đỡ. Cách vận hành của lối sống này lại được sự bồi dưỡng tích cực của triết học Mác-Lênin: “Vật chất quyết định ý thức”. Theo đà giục giã của vật chất cứ thế tiến lên, tiến lên nữa… Riêng những người đã chết, và những Bà mẹ Việt Nam anh hùng thì nằm lại thôi. Còn người dân, họ đang “làm chủ” theo thân phận “con mắm”. Đang làm quan mà nói thật, thì mất hết, thân có thể vào nhà lao, tinh thần có thể bị giày xéo, nhục mạ, đã và đang có bao nhiêu là điển hình!Vì thế mà không thể nói thật. Nói dối cưỡng bức, lâu ngày thành nói dối hồn nhiên, bạo dạn, trơn tru… Dân chủ, nhân quyền tuy là những danh từ chung, nhưng không phải là trừu tượng. Nó có nội dung được thể hiện bằng những thiết chế cụ thể, có hệ thống, được thừa nhận trong một Hiến pháp đúng nghĩa, trong hệ thống luật pháp minh bạch. Vì thế không thể muốn nói gì thì nói. Các cách nói dối cần được thẩm định, phê phán bằng truyền thông tự do để nhanh chóng chấm dứt nó. 3- Lại không công bằng nếu không đề cập đến một dạng “nói dối đạo đức” (là nói dối về phương diện đạo đức) đang ồn ào diễn ra ở vị lãnh đạo cấp cao. “Các đồng chí cần thường xuyên học hỏi, rút những bài học tốt từ những thế hệ trước để tiếp tục đi xa. Bài học đó là: Khát vọng lớn lao, lý tưởng cao cả, hòa nhịp đập trái tim mình với nhịp đập trái tim toàn dân tộc, lăn lộn với thực tiễn vĩ đại của cuộc sống nhân dân, chứ không phải chỉ đi vào tâm trạng cá nhân, gặm nhấm tâm tư, yếm thế, lấy tiểu xảo thay cho tài năng, nhìn đời bằng góc nhìn chật hẹp, thậm chí coi văn nghệ như là thú vui, giải trí hoặc một cuộc chơi, một đam mê tầm thường.” (Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: Văn nghệ không chỉ là nơi cuộc sống hiện hình) Thật hiếm có một vị chính khách nào trên thế giới, như Tổng thống, Thủ tướng, hay nguyên thủ quốc gia, dám cao giọng dạy cho ai đó với kiểu cách của một thầy giáo, hay của bậc cha mẹ. Nếu vị ấy có học hàm học vị, được tín nhiệm mời vào dạy ở một trường học, thì cũng chỉ được phép dạy chuyên môn của mình có và dạy cho sinh viên của mình. Chính khách khi tham gia các hội thảo khoa học cũng chỉ phát biểu quan điểm của cá nhân. Ai dạy ai trong thời đại này trở nên vô cùng khó. Sự khiêm tốn đích thực đã là một trong những phẩm giá quan trọng cho mỗi nhân cách. Chỉ riêng trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, thì Tổng Bí thư Đảng Cộng sản luôn khả năng dạy tất cả mọi người, mọi lãnh vực, nếu muốn. Lênin đã làm như thế, và mọi ông Tổng Bí thư đều có thể làm như thế. Ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vừa mới lên lớp về đạo đức trong sáng tạo văn học nghệ thuật cho những người làm văn học nghệ thuật trong nước, cấp trung ương. Hãy lắng nghe: “Các đồng chí cần thường xuyên học hỏi, rút những bài học tốt từ những thế hệ trước để tiếp tục đi xa. Bài học đó là: Khát vọng lớn lao, lý tưởng cao cả, hòa nhịp đập trái tim mình với nhịp đập trái tim toàn dân tộc, lăn lộn với thực tiễn vĩ đại của nhân dân.” Đoạn văn này khá văn hoa bay bổng. Cái “khát vọng lớn lao và lý tưởng cao cả” khó ai dạy cho ai được. Ông Tổng Bí thư muốn áp đặt cái khát vọng nào là lớn lao, lý tưởng nào là cao cả cho mọi người? Ông bổ sung làm rõ thêm cho mệnh đề rất ư lửng lơ trên, là: “hòa nhịp đập trái tim mình với nhịp đập trái tim toàn dân tộc”. Sự hòa nhịp đập trái tim của hai nam nữ yêu nhau cũng đã khó, huống là! Nhà lý luận “nổi tiếng” về chủ nghĩa duy vật biện chứng của học thuyết Mác-Lênin, bỗng trở thành duy tâm đến độ cao. Muốn nói đến sự thống nhất ý chí của toàn dân hướng đến cùng một mục tiêu chung, mà không nói đến cơ chế dân chủ, công bằng được sao?! Và ông yêu cầu “lăn lộn với thực tiễn vĩ đại của cuộc sống nhân dân”. Nghe thế nào ấy! Vừa sáo rỗng, vừa có vẻ lấy lòng nhân dân, lại vừa như châm biếm mỉa mai chứ không phải là ngợi ca. Đau khổ, chết chóc của những “con mắm” chẳng bao giờ là vĩ đại cả. Thực tiễn vĩ đại của cuộc sống nhân dân cần học hỏi, phải chăng là rút ra từ tiếng súng hoa cải của Đoàn Văn Vươn, hay những phát súng đòi công lý của Đặng Ngọc Viết? Nhưng không thể trách, vì ông đã sinh ra từ điều 4 Hiến pháp thiêng liêng có tính mặc khải, đã men theo con đường Đảng mà “thành đạt”! Vị trí đó cho ông mọi quyền, kể cả quyền mắng mỏ bất cứ ai ông muốn. Ông đã từng mắng những người tham gia góp ý kiến về dự thảo sửa đổi Hiến pháp là “suy thoái” và toan tính xử lý. Nay ông mắng các nhà làm văn học nghệ thuật (của ông): “không chỉ đi vào tâm trạng cá nhân, gặm nhấm tâm tư, yếm thế, lấy tiểu xảo thay cho tài năng, nhìn đời bằng góc nhìn chật hẹp, thậm chí coi văn nghệ như là thú vui, giải trí hoặc một cuộc chơi, một đam mê tầm thường”. Sao ông Tổng Bí thư có thể nói vậy được? Sao nói đội ngũ ấy “gặm nhấm”? Vì sự gặm nhấm là chỉ của loài gặm nhấm. Cái đội ngũ cấp Trung ương ấy đã “lấy tiểu xảo thay cho tài năng”. Thật thế sao? Lại “nhìn đời bằng góc nhìn chật hẹp”. Trong bối cảnh nào mà cái xấu phát sinh như thế? Thật ra, con người ai chẳng đi ra từ chỗ “chật hẹp”, và nhìn đời qua chỗ “chật hẹp” ấy? Và từ đó trở nên bao la, có vợ chồng, có con cái, có anh em, có đồng bào, có cái toilet, có mái nhà, có miếng ruộng vườn để cày xới… Thế mà tất cả trở thành khó khăn, trở thành bấp bênh, vì có thể bị cưỡng đoạt bởi những người nhân danh sự “lớn lao”, sự “cao cả”! Ông băm vằm tiếp: “[…] thậm chí coi văn nghệ như là thú vui, giải trí hoặc một cuộc chơi, một đam mê tầm thường”. Thế là, văn nghệ không phải là thú vui, không phải là để giải trí, cũng không phải là cuộc chơi. Thật thế sao? Tất cả chỉ là “đam mê tầm thường”? Phải chăng, trong cái khát vọng lớn lao, trong cái lý tưởng cao cả, trong cái lý luận mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã muốn giáo dục, “không có bóng dáng con người” như lời của GS Trần Đức Thảo đã nói cách đây khá lâu? Đảng đoàn Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam, và đại diện lãnh đạo các Hội Văn học nghệ thuật chuyên ngành của Trung ương đã ra nông nổi nào và xứng đáng chăng để nhận những lời giáo huấn như băm như vằm nói trên? “Xứng đáng cao”, “xứng đáng”, và “xứng đáng thấp”, như ba cái bậc thang tín nhiệm mà Quốc hội đã sáng tạo? Nó đang xoáy vào tim gan của những người có lòng tự trọng, dù người có làm văn học nghệ thuật hay không. Kẻ ngoại đạo này nghĩ rằng, trong số thành phần kể trên, hẳn là có một số thuộc loài gặm nhấm (như sự ám chỉ của Tổng Bí thư), thì xin hãy tiếp tục kiên trì “gặm nhấm” những lời giáo huấn của thầy Tổng Bí thư, và cố thoát ra khỏi cái góc nhìn “chật hẹp” mà thầy đã công phu chỉ ra. Riêng bài nói chuyện của Tổng Bí thư, đã là “sự sáng tạo văn học nghệ thuật với tài năng, tâm hồn, nhân cách và bản lãnh” của ngài. Tôi trộm nghĩ thế! 25-9-2013H. Đ. N. Nguồn: boxitvn.blogspot.de
......

Độc tài: Mạnh hay yếu?

Người ta thường dễ có ấn tượng là các chế độ độc tài đều mạnh: Chúng có quân đội, có công an, có mật vụ, có chỉ điểm viên (và gần đây, ở một số nước, có “dư luận viên”) trùng trùng điệp điệp. Song song với các lực lượng ấy, chúng có súng đạn, tòa án, nhà tù và các bãi bắn hoặc phòng chích thuốc độc. Nếu các yếu tố trên chưa đủ để khiến mọi người khiếp sợ, các chế độ độc tài còn có thêm một yếu tố này nữa để “thuyết phục” mọi người nên tiếp tục khiếp sợ: Chúng thường có một lịch sử rất dài hoặc khá dài. Trước hết, nên lưu ý: trong lịch sử nhân loại, độc tài có “tuổi thọ” cao hơn hẳn dân chủ. Dân chủ chỉ là một hiện tượng mới. Thực sự là dân chủ lại càng mới. Mới và lạ: Không phải ở đâu người ta cũng thấy được mặt mũi của dân chủ. Chính vì sống quá lâu với độc tài, từ độc tài phong kiến đến độc tài thực dân và độc tài Cộng sản như vậy, nhiều người cảm thấy quen thuộc, ngỡ nó là số mệnh, như một cái gì đương nhiên. Không thể thoát được. Sự chấp nhận dễ dàng ấy càng làm cho độc tài có vẻ mạnh mẽ hơn. Độc tài càng có vẻ mạnh hơn nữa khi người ta so sánh nó với dân chủ. Dân chủ, ngay cả khi được xem là hình thức tổ chức hoàn hảo nhất trong tiến trình phát triển của nhân loại, như một điểm “tận cùng của lịch sử” không bao giờ gợi lên ấn tượng về sự mạnh mẽ. Một xã hội càng dân chủ bao nhiêu càng làm cho người ta quên cảm giác về quyền lực bấy nhiêu. Không bị ám ảnh về quyền lực, người ta cũng không có ý niệm về sức mạnh của nó. Thật ra, tất cả các ấn tượng trên đều giả. Từ góc độ thực tế, các nước dân chủ bao giờ cũng giàu, mạnh và ổn định hơn hẳn các nước độc tài. Từ góc độ lịch sử, xu hướng phát triển chung của nhân loại là chiến thắng của dân chủ trên độc tài chứ không phải ngược lại. Từ góc độ lý thuyết, chính phủ dân chủ bao giờ cũng là chính phủ của đa số, hơn nữa, vì được xây dựng trên nền tảng hiến pháp và luật pháp vững chắc và công minh, luôn luôn bị áp lực của các lực lượng đối lập và của xã hội dân sự mạnh mẽ, chính phủ dân chủ nào cũng cố gắng trở thành chính phủ của toàn dân, của mọi người chứ không phải chỉ giới hạn trong những người đã ủng hộ và bỏ phiếu cho mình. Chính phủ độc tài, ngược lại, bao giờ cũng là chính phủ của thiểu số. Không bao giờ có thiểu số tuyệt đối: Ngay ngày xưa, dưới chế độ phong kiến, mọi quyền lực hầu như tập trung hết vào tay nhà vua, kẻ được xem là con Trời. Nhưng vua bao giờ cũng tìm cách liên minh với tầng lớp quý tộc và quan lại để tạo thế lực. Do đó, chính nhà vua cũng phải tự động san sẻ quyền lực với những người khác. Thời hiện đại, các nhà độc tài cũng tìm cách san sẻ quyền lực và quyền lợi với người khác, chủ yếu qua hệ thống đảng mà họ lãnh đạo. Nhưng dù mở rộng đến mấy thì đó cũng vẫn là thiểu số. Ở Đức, dưới thời Hitler, đảng Nazi chỉ có trên năm triệu đảng viên trên tổng số khoảng 80 triệu dân. Ở Việt Nam hiện nay, trên tổng số gần 90 triệu dân, số đảng viên Cộng sản chỉ có khoảng bốn triệu. Vẫn là thiểu số. Chỉ cần làm một bài tính nhẩm cũng có thể thấy ngay thế yếu của các chế độ độc tài: Đó là sự đối đầu của thiểu số đối với đa số, của một nhóm người ít ỏi với một đám quần chúng đông đảo. Các nhà độc tài thừa hiểu điều đó nên bao giờ cũng tìm cách củng cố sức mạnh của họ bằng ít nhất ba biện pháp chính: Thứ nhất, trong khi củng cố tổ chức của họ thật chặt chẽ, họ tìm cách phân hoá cái khối đa số quần chúng đông đảo kia, không cho phép quần chúng tập hợp lại và thống nhất với nhau. Thứ hai, dùng biện pháp tuyên truyền để, một mặt, khuếch đại sức mạnh của mình, mặt khác, để tạo ảo tưởng là họ đang đại diện cho đa số, thậm chí, đại đa số, hơn nữa, của mọi người. Và thứ ba, sử dụng bạo lực để đàn áp và khủng bố mọi người. Có thể nói, sức mạnh của các chế độ độc tài chủ yếu được xây dựng trên ba nền tảng chính: Một, phân hoá dân chúng, hai, lừa dối, và ba, khủng bố. Biện pháp đầu làm cho người ta nghi ngờ nhau; hai biện pháp sau làm cho người ta sợ hãi. Cũng có thể nói, sức mạnh các chế độ độc tài không nằm ở bản thân nó mà chủ yếu nằm ở sự chia rẽ và  khiếp nhược của mọi người. Khi, vì lý do nào đó, mọi người đoàn kết và can đảm đòi hỏi quyền lợi và quyền lực cho mình thì các nhà độc tài chỉ có thể làm giống như Muammar Gaddafi ở Libya năm 2012: chui xuống ống cống.  
......

Hoa Kỳ, đi tìm sứ mệnh

Lang ba vi bộ trong vũ điệu Ba Tư Tuần này - chỉ tuần này thôi - truyền thông sẽ rọi đèn vào quan hệ giữa Hoa Kỳ và Cộng hòa Hồi giáo Iran của dân Ba Tư. Ðó là khi lãnh đạo hai nước có thể bất ngờ gặp nhau nhân kỳ họp hàng năm của Ðại hội đồng Liên Hiệp Quốc. Lồng bên dưới là việc Ngoại Trưởng John Kerry sẽ họp với Ngoại Trưởng Iran là Javad Zarif trong khuôn khổ hội nghị của nhóm P-5 + 1 với Iran. Nhóm P-5 +1 là năm thành viên thường trực của Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc (Anh, Pháp, Mỹ, Nga và Tầu), cộng thêm đệ nhất cường quốc Âu Châu là Cộng Hòa Liên Bang Ðức. Nói về nước Ðức, chính trường xứ này vừa qua trận động đất với thắng lợi lịch sử của Thủ Tướng Angela Merkel và việc đảng Tự Do Dân Chủ FDP bị đại bại lần đầu tiên kể từ sau Thế Chiến II. Chi tiết đối ngoại đáng chú ý là ảnh hưởng gia tăng của khuynh hướng chống việc hội nhập vào khối Euro. Ðáng chú ý hơn vậy là cử tri không quan tâm đến vụ Syria. Việc khủng bố Hồi Giáo al Shabaab tấn công và tàn sát con tin ngoài đạo Hồi, kể cả dân Tây phương, trong một thương xá ở thủ đô Nairobi của Kenya đã xảy ra khi dân Ðức đi bầu cũng chẳng ảnh hưởng gì đến lá phiếu. * Bốn Tổng thống, hai phe. Một bên là Barack Obama, bên kia là Hassan Rouhani của Iran, Bashar al Assad của Syria và Vladimir Putin của Nga * Nhiều người cho là liên minh Âu-Mỹ bỏ qua nhiều hồ sơ nóng của thế giới, hết thiết tha đến lý tưởng nhân đạo đã từng chi phối chánh sách đối ngoại của các nước dân chủ mà quay vào lo chuyện nội bộ. Ðiều ấy không sai, khi chính trường Hoa Kỳ hết sôi động với vụ Syria và đang mở ra một trận đánh nữa về ngân sách, lồng trong việc hạn chế các khoản chi cho chế độ bảo dưỡng y tế từ đạo luật “Obama Care”. Nhưng chuyện ấy liên hệ gì đến vụ Iran? Và đến nước Mỹ, nhìn từ bên ngoài? *** Từ năm 1979, sau cuộc “Cách mạng Hồi giáo” tại Iran và vụ 52 kiều dân Mỹ bị bắt làm con tin trong 444 ngày, hai nước đồng minh cũ đã đoạn giao. Quan hệ căng thẳng chỉ tạm lắng dịu khi Hoa Kỳ mở chiến dịch A Phú Hãn cuối năm 2001, với sự hợp tác ngầm của Iran để tấn công kẻ thù chung là lực lượng khủng bố Al-Qaeda và chế độ Taliban. Sau đó, với chiến dịch Iraq năm 2003, Hoa Kỳ dọn cỗ cho các Giáo chủ Iran khi tiêu diệt chế độ Saddam Hussein của hệ phái Sunni tại Baghdad: hệ phái Shia thân Iran thắng lớn và kiểm soát được một xứ cừu thù của Iran. Nhưng các giáo chủ tại Tehran không dừng tại đó. Họ phất cờ lãnh đạo thế giới Hồi giáo, cạnh tranh tư thế với hệ phái Sunni và Saudi Arabia, qua trung gian của Syria yểm trợ các lực lượng khủng bố cùng hệ phái, như Hamas tại Israel, hay Hezbollah tại Lebanon, và theo kiểu Bắc Hàn, thông báo kế hoạch chế tạo võ khí hạch tâm để bắt bí thiên hạ.... Vì kế hoạch này, Iran bị cấm vận và tự cô lập dần. Những hội nghị xuân thu nhị kỳ, khi có khi không, của nhóm P-5 + 1 không có kết quả, một phần cũng nhờ vai trò yểm trợ của Liên Bang Nga và Trung Quốc. Hai cường quốc này giúp các chế độ hung đồ tồn tại để gây rối cho Hoa Kỳ và các nước Âu Châu. Họ muốn tiến tới một trật tự khác và chấm dứt tư thế siêu cường độc bá của nước Mỹ. Vì những lý do quá phức tạp đó, chuyện Iran hay Syria cũng là mâu thuẫn giữa hai hệ phái lớn của Hồi giáo, với các nhóm cực đoan cùng áp dụng phương pháp khủng bố, và với sự hà hơi tiếp sức của Moscow và Bắc Kinh. Việc Hoa Kỳ và các nước Âu Châu lúng túng gần một tháng trời rồi mở cửa cho Putin bước vào Trung Ðông với một “giải pháp ngoại giao” cho Syria là một sự thất thế nhất thời, làm nhiều người lý tưởng thất vọng về khả năng can thiệp của các nền dân chủ để bảo vệ nhân quyền và phát huy chủ nghĩa nhân đạo trên thế giới. Trong hoàn cảnh đó, các Giáo chủ Tehran mới bật tín hiệu về việc nên đàm hơn nên đánh. Khi nước Mỹ có vẻ yếu thế và nhân cơ hội xuất hiện của một Tổng thống vừa đắc cử là Hassan Rouhani, những người lãnh đạo thật của Iran là các giáo chủ dưới quyền của Lãnh tụ Tối thượng Khamenei đã học thói Vladimir Putin của Nga mà đưa ra cái sào cho Tổng thống Barack Obama. *** Lý do dịu giọng đầu tiên là kinh tế, mà kinh tế cũng là chính trị. Iran sản xuất và xuất cảng năng lượng - 80% trị giá xuất cảng và 50% nguồn thu ngân sách. Khi bị Hoa Kỳ là Liên Âu phong toả kinh tế, xứ này thấm mệt. Năm ngoái dầu xuất cảng giảm 42% và cán cân thương mại sa sút đánh sụt dự trữ ngoại tệ lẫn mức sống người dân. Nếu nói chuyện song phương với Mỹ, lần đầu tiên từ năm 1979, rồi đàm phán về việc giải tỏa cấm vận và có khi tái lập bang giao, lãnh đạo Tehran có thể đạt thắng lợi lớn với thần dân ở nhà, và với các nước Hồi giáo khác. Sự yếu thế của Hoa Kỳ là một cơ hội không thể bỏ qua. Phần mình, khi được các Giáo chủ Iran mời vào vũ điệu Ba Tư, Chính quyền Obama có thể nhắm vào nhiều mục tiêu. Vừa có thêm một đòn bẩy cho vụ Syria quá tệ, vừa thêm kẻ đồng hành ngăn ngừa phong trào khủng bố xưng danh Thánh Chiến của hệ phái Sunni - tái diễn sự kết hợp năm xưa trên chiến trường A Phú Hãn. Và thứ ba, chứng minh giá trị của chính sách hòa giải với khối Hồi giáo mà ông Obama theo đuổi từ khi nhậm chức. Nhưng sự tình lại không nhịp nhàng như vậy. Mâu thuẫn giữa Hoa Kỳ và Iran thuộc lãnh vực chiến lược không thể hàn gắn bằng vài dấu hiệu ngoại giao chỉ có kích thước chiến thuật. Hoa Kỳ đang có nhiều đồng minh chiến lược tại Trung Ðông, như Saudi Arabia, Turkey, Ai Cập, các nước Á Rập trong vùng Vịnh Ba Tư, và Israel. Hâm nóng quan hệ với Iran là xối nước lạnh vào tình đồng minh trong khu vực. Và càng chứng tỏ Hoa Kỳ là một đồng minh không đáng tin. Chưa kể là còn tạo ra một tiền lệ rất xấu với một chế độ hung đồ khác, là Bắc Hàn. Vả lại, xứ Iran của sắc tộc Ba Tư cũng thấy rõ sự rã rời của các nước Á Rập Hồi giáo từ Mùa Xuân Á Rập năm kia. Họ muốn được Hoa Kỳ tôn trọng, đối thoại ngang hàng, để khai thác cơ hội này mà bành trướng ảnh hưởng trong thế giới Hồi giáo. Nếu có thêm võ khí hạch tâm thì càng hay, mà không có thì cũng thừa thế lực xưng hùng xưng bá. Vì vậy, chuyện gặp gỡ và đàm phán giữa đôi bên sẽ có những trở ngại khó khắc phục ngay từ phía Hoa Kỳ: kéo dài mà không kết quả. Nếu có thì sẽ là hình ảnh của một nước Mỹ lang ba vi bộ, chạy lòng vòng không định hướng trong một vũ điệu Ba Tư đầy vẻ huyền ảo. Vài tuần sau là lại trôi vào quên lãng.... Cho tới khi Hoa Kỳ tìm ra và định lại cho mình một sứ mệnh khác, phù hợp với đạo lý chính thức mà cũng đáp ứng nhu cầu thực tế của quyền lợi. Chỉ có tại nước Mỹ Không chỉ có Tổng Thống Obama mới ân hận về chuyện “lằn ranh đỏ” với vụ Syria. Cảnh sát tại Apopka của Florida đã hỏi giấy, còng tay và tống giam Mark E. Schmidter vì tội vi phạm luật lệ cho khách bộ hành. Ðương sự lãnh họa vì rải truyền đơn vận động bỏ phiếu về máy thâu hình ở ngã tư. Lý do vận động không để bảo vệ quyền tự do riêng tư của người dân mà vì anh gàn này cho rằng việc gắn máy chỉ là âm mưu làm tiền bất chính. Viên cảnh sát thi hành việc tống giam đã trả lời, tỉnh bơ, rằng vì Mark Schmidter “không có giấy phép phản đối đèn đỏ”. Cứ tưởng là chuyện Hà Nội! __._,_.___ Nguồn: dainamaxtribune.blogspot.de
......

Nhiều blogger bị bắt giữ vô cớ ở Hà Nội

Theo tin chúng tôi vừa nhận được, chiều nay 25/09/2013 vào khoảng 18 giờ Việt Nam, khoảng 20 nhân viên công an mặc sắc phục lẫn thường phục đã vào nhà blogger Nguyễn Tường Thụy tại Hà Nội, bắt đi những người đang có mặt tại đây. Trong số những người bị bắt có mẹ con sinh viên Nguyễn Phương Uyên, bà Dương Thị Tân (vợ blogger Điếu Cày(, ông Phạm Bá Hải, ông Lê Quốc Quyết (em luật sư Lê Quốc Quân)… Trả lời RFI Việt ngữ trong lúc đang bị giữ tại công an, blogger Nguyễn Tường Thụy cho biết: Tôi đang ở một cơ sở của công an huyện Thanh Trì, ở xã Liên Ninh. Mỗi người bị giam một nơi, tôi ở đây, còn Phạm Bá Hải bị giam một mình ở một cơ sở khác. cô Tân, vợ con tôi, mẹ con cô Uyên, Lê Quốc Quyết…nói chung những người còn lại trong đoàn không biết giam ở đâu. Thưa, lúc nào và lý do vì sao anh có biết không? Không, tôi cũng không hiểu nữa. Tự nhiên họ ào vào rất là đông, khoảng hai mươi người, cứ thế xông vào bắt thôi, mặc cho mọi sự phản đối. Con gái tôi vừa mới nhập học đại học thì cũng bị bắt, vợ tôi nó cũng bắt. Anh Phạm Bá Hải, chị Dương Thị Tân, chị Nguyễn Thị Nhung, bé Phương Uyên, Lê Quốc Quyết, Đinh Văn Thi… Hiện nay trước khi đi nhà tôi chỉ còn có một người nữa chắc là họ khống chế nốt. Hiện nay một mình tôi ở đây, còn những người khác như anh Hải bị giam riêng ở một cơ sở khác, còn những người còn lại như, vợ con tôi, anh Quyết… như thế nào tôi cũng chưa rõ. Mà tôi gọi điện thì tất cả đều tắt máy hết. Mà chúng nó hành xử như là một lũ côn đồ, đầu gấu, xã hội đen ấy! Chúng nó rất hung hăng ào vào nhà tôi, chúng tôi không thể trấn giữ được. Riêng anh Đinh Văn Thi thì bị đánh, bốn năm đứa nó đánh trước mặt tôi. Còn ở nhà hiện nay thì họ làm chủ hoàn toàn ở trong nhà rồi. Tôi nghĩ đến chuyện họ khám nhà, khám máy móc, tài liệu… rồi thậm chí có thể cài thêm tài liệu vào hoặc ném thêm vật chứng vào. Thì đấy, họ dùng cách này cũng chưa biết chừng! Họ tinh quái như bọn xã hội đen, mà xã hội đen cũng không đến nỗi như thế này… Người ta đặt câu hỏi, trong bối cảnh Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đang ở thăm Paris, Việt Nam và Pháp vừa ký kết Hiệp định quan hệ đối tác chiến lược, phải chăng đây là một động thái nhằm ngăn trở nỗ lực hướng về phương Tây của Hà Nội ? Đặc biệt là hôm nay, Thủ tướng Pháp Jean-Marc Ayrault nhấn mạnh đến quyền tự do hàng hải ở Biển Đông, cho biết Paris sẽ thúc đẩy giải quyết tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế. Theo tin mới nhất, những người bị bắt đã được thả, nhưng vẫn tập trung phía trước đồn công an để phản đối việc bắt người trái phép. Các blogger Nguyễn Tường Thụy, Trương Văn Dũng, Lê Quốc Quyết vẫn ở lại để đòi trả lại điện thoại. Blogger Nguyễn Tường Thụy kể lại : Bây giờ bọn tôi với Quyết và Trương Văn Dũng đang ở trong đồn đợi Quyết giải quyết vấn đề điện thoại của Quyết đã. Điện thoại giá trị không lớn, nhưng mà có rất nhiều thông tin quan trọng ở trong ấy. Riêng Lê Quốc Quyết bị đánh rất là đau, năm sáu thằng dẫm đạp lên mặt, mặt mũi, môi sưng hết lên rồi, áo rách tả tơi. Trương Văn Dũng bị xé áo hết cả, Quyết thì quần áo lấm như là ở dưới ruộng bùn lên – năm, sáu thằng quần thảo rất là đông. Chính mắt tôi nhìn thấy, đánh trước mặt tôi luôn, ngay trước cửa nhà tôi ! Có lẽ vì sợ sự hỗ trợ cho Ls. Lê Quốc Quân, đặc biệt cho phiên tòa ngày 2/10 này, nên công an đang tìm cách dập tắt?   Mọi người hiện đang còn ở nguyên ngoài cổng, đang hô "Đả đảo công an !", "Đả đảo bắt người trái pháp luật, phi pháp !". Được biết Phương Uyên và mẹ của Phương Uyên bị công an bắt lên máy bay về lại Sài Gòn.   Nguồn: RFI
......

Khi toàn bộ guồng máy tuyên giáo tập trung nhắm vào vị giám mục tại Vinh

Tin theo lời hứa của Chủ tịch xã Nghi Phương và các quan chức của huyện Nghi Lộc, người dân giáo xứ Mỹ Yên đến đón những đồng đạo bị nhà cầm quyền bắt cóc từ mấy tuần trước đó. Tuy nhiên, chẳng những không thả người như đã hứa, nhà cầm quyền còn điều quân đội, cảnh sát cơ động, và nhiều côn đồ đến để dàn trận đàn áp. Trước tiên họ cho côn đồ trà trộn vào giáo dân ném đá vào lực lượng vũ trang để quay phim chụp hình, rồi xua công an xông vào đánh "các giáo dân chung quanh những kẻ ném đá". Cuộc đàn áp để lại hơn 30 giáo dân với thương tích trầm trọng. Có người phải đem vào mổ cấp cứu vì đọng máu trong não. Có người máu me và bầm tím khắp thân thể. Hình ảnh các nạn nhân tại bệnh xá của giáo phận ở Xã Đoài đã được loan ra khắp thế giới. Trước sự tàn bạo của nhà cầm quyền đối với giáo dân Mỹ Yên Tòa Giám Mục giáo phận Vinh đã buộc lòng phải lên tiếng vạch trần các thủ thuật của công an. Và Giám Mục Nguyễn Thái Hợp, vị chủ chăn của giáo phận đã phải than thở: “Chúng tôi muốn hòa bình, tự do và tôn trọng phẩm giá con người ... nhưng bất hạnh thay, điều đó không tùy thuộc vào thiện chí của chúng tôi.” Nhưng dù có đủ các hình ảnh, âm thanh, văn bản làm chứng cớ về các thủ thuật mờ ám của công an và các cảnh bạo hành phi pháp của họ, nhà cầm quyền CSVN vẫn tự tin vào khả năng bẻ cong sự thật và lấn lướt dư luận qua hệ thống tuyên truyền toàn quốc của họ. Một chiến dịch toàn quốc được tung ra lập tức để chụp mũ, vu khống, bôi đen sự việc tại Mỹ Yên, và quan trọng hơn cả là chỉa hầu hết mũi dùi vào cá nhân Đức Giám mục Nguyễn Thái Hợp.Những kẻ xa lạ, không phải giáo dân,đang ném đá về phía công an Những giáo dân không hề ném đá lại đầy thương tích Ròng rã từ ngày 4/9/2013 đến nay, từ Thông Tấn Xã VN, đến hàng trăm tờ báo, đặc biệt là các báo tại Nghệ An, đến hàng trăm trang mạng, đến các đài truyền hình, đến các buổi họp báo, và đặc biệt quanh vụ việc này còn kéo vào một số luật sư đóng vai "chuyên gia pháp luật". Các luận điểm tấn công cũng đầy đủ cấp độ, từ những ám chỉ vu vơ như "Ai là kẻ đạo diễn và cho mục đích gì?"; đến các kết luận chẳng cần lý lẽ như "Vi phạm pháp luật trong vụ việc ở giáo xứ Mỹ Yên", "Kích động, vu khống chính quyền"; đến các kết án chẳng cần phiên tòa nào như " tiếp tay cho kẻ địch", "ủng hộ, tiếp tay cho phản động". Bên cạnh hàng loạt những tĩnh từ hỗn xược, bằng đó lời lẽ vu cáo, kết án của hơn 700 báo đài thật ra chỉ gom về 2 luận điểm chính được Ban Tuyên Giáo Trung Ương chỉ thị để tấn công Đức Cha Hợp là: (a) Ông không biết về luật pháp nên dựa vào lời hứa của quan chức cấp xã; và (b) Ông làm tay sai cho thế lực phản động nước ngoài. Nhưng cả 2 luận điểm này vừa không thuyết phục được mấy ai, mà chỉ lập tức làm nảy sinh rất nhiều câu hỏi khác từ người đọc báo, đọc mạng và xem truyền hình: 1- Trước hết, trong thực tế tại Việt Nam hiện nay, có thật cán bộ và công an cấp xã không có thẩm quyền bắt nay thả người hay không? Mỗi ngày, có bao nhiêu ngàn vụ người dân bị công an xã bắt bớ, đem về trả khảo, trấn lột rồi đuổi về? Trong số đó còn có những người bước vào đồn công an xã mà không bao giờ bước ra. Chỉ có thân nhân họ đến nhận xác về với những lý do "lên cơn bệnh", "tự thắt cổ", "tự đập đầu vào tường", ... mà chết. Đây là những tin tức đăng nhan nhản trên báo lề đảng. Những người như luật sư Hoàng Văn Hướng thuộc đoàn luật sư Hà Nội chẳng lẽ không hề đọc chính báo của Đảng? Ban Tuyên Giáo càng đưa những người như ông Hướng ra làm "chuyên gia pháp luật" chỉ càng làm dân thêm bực và khinh cả người mướn lẫn người nói thuê. Luật sư Hoàng Văn Hướng thuộc đoàn luật sư Hà Nội trên VTV 1 2- Tại sao báo đài và các "chuyên gia pháp luật" không dám phân tích việc nhà cầm quyền thoạt đầu nhờ Đức Cha Hợp làm trung gian hòa giải nhưng lại cố tình đưa cho ông tờ "giấy cam kết lừa đảo" để dùng ông đánh lừa giáo dân. Và với các vụ bất bình liên tục tại khắp Giáo Phận Vinh vì những hành động trấn áp Công giáo trong mấy năm qua, từ Con Cuông, Trại Gáo, đến Xã Đoài, chắc chắn mọi hành động đối phó, mọi thủ thuật mà giới chức cấp xã tại Mỹ Yên dùng đều do chỉ thị từ cấp tỉnh hoặc trung ương đưa xuống như trong tất cả các vụ tương tự. 3- Tại sao báo đài và các "chuyên gia pháp luật" không dám đặt câu hỏi tại sao công an Nghệ An không truy tố những kẻ ném đá công an khi họ có đầy đủ phim ảnh chụp tại hiện trường? Và họ càng cố làm ngơ khi chính Đức Cha Hợp vạch ra thủ thuật bất lương và phi pháp này. Phải chăng nếu truy tố sẽ lòi ra đây toàn là những công an trá hình hay côn đồ được chính công an thuê mướn? Và nếu trưng ra các thước phim ném đá cũng sẽ khó dấu các khúc phim công an xông vào hành hung và chỉ hành hung những người KHÔNG ném đá? 4- Tại sao báo đài và các "chuyên gia pháp luật" không dám đặt vấn đề về nguồn gốc của toàn bộ vụ việc, đó là việc công an chìm đi đón đường, bắt cóc 2 giáo dân Mỹ Yên không cần trát tòa, không cần thông báo cho gia đình sau khi bắt, không cần tôn trọng thời hạn tạm giữ, tạm giam, v.v... như luật định? Ai đã ra lệnh bắt người tùy tiện, phi pháp và đầy tính côn đồ như trên? Quan chức cấp xã hay cấy tỉnh hay cấp trung ương? 5- Tại sao báo đài và các "chuyên gia pháp luật" không dám phân tích xem luật pháp ở đâu khi công an chìm hành động như côn đồ, tùy tiện rình mò, hà hiếp, đánh dân ngay trong vùng Mỹ Yên và khắp giáo phận Vinh? Đến khi dân chúng kéo lại bảo vệ nhau thì những kẻ này lập tức vu cáo ngược là dân "bắt giữ người trái phép", "chống người thi hành công vụ", "cố ý gây thương tích cho công an",… Luật nào cho phép công an hòa lẫn với côn đồ và hành xử như côn đồ? Luật nào cấm dân không được tự vệ khi bị côn đồ tấn công? Luật nào cho phép các giới chức cầm quyền thuê mướn, bảo kê cho côn đồ đánh dân? Chắc chắn các giáo dân tại Vinh không ai rỗi hơi rỗi việc đến độ đi kiếm công an để gây chuyện. 6- Báo đài và các "chuyên gia pháp luật" lại càng có đủ tư cách để nói về pháp luật không khi chính họ đang coi thường và đang vi phạm pháp luật khi cố tình mạ lị, gán ghép cho Đức Cha Hợp đủ loại tội trạng mà chẳng cần đến chứng cớ hay tòa án? Trong số các cáo buộc này, có lẽ nặng nhất là những lời lẽ trên báo Nghệ An: "Không phải ai khác mà một số chức sắc cực đoan như ông Nguyễn Thái Hợp và Đặng Hữu Nam đã có những hành vi, lời nói kích động, xuyên tạc, vu khống chính quyền khiến “quần chúng bức xúc”, “hoang mang”. Cũng chính những người này đã “xúc phạm nặng nề niềm tin tôn giáo” khi lợi dụng đức tin của một số giáo dân nhẹ dạ để chia rẽ khối đoàn kết dân tộc và sâu xa hơn là ủng hộ, tiếp tay cho nhóm phản động Việt Tân và các thế lực thù địch âm mưu lật đổ chính quyền Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam…". Hiện nay đã có một số nguồn tin cho biết giới lãnh đạo CSVN lại đang lên kế hoạch để buộc Giám mục Nguyễn Thái Hợp phải rời khỏi Giáo Phận Vinh như họ đã từng làm đối với Giám mục Ngô Quang Kiệt tại Giáo Phận Hà Nội sau vụ cướp tòa khâm sứ và các hà hiếp đối với giáo xứ Thái Hà vào năm 2008. Tiến trình được lập lại đã khá rõ. Sau khi khai hỏa chiến dịch tấn công tràn ngập trên báo đài, một phái đoàn của Ban Tôn giáo Chính phủ CSVN đã đến Vatican. Phái đoàn này do Thứ trưởng Bộ Công An kiêm Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ Phạm Dũng dẫn đầu. Ông Phạm Dũng mang hàm Trung tướng Công An, từng là người đứng đầu Tổng cục An ninh II, tức cơ quan chuyên trách về an ninh nội địa của Bộ Công an. Ông thừa kế vai trò của "hung thần công an" Nguyễn Văn Hưởng. Câu hỏi còn lại là bà con Công giáo và những người Việt yêu dân tộc trên cả nước và trên khắp thế giới có để Giám Mục Nguyễn Thái Hợp phải đối diện một mình với cả guồng máy tuyên giáo và công an của chế độ không? Võ Thành Văn DienDanCTM
......

Tự xử dân chúng hay tự xử chính quyền?

Thói hoang tưởng quyền lực được sinh thời bởi ý thức hệ cầm cố đã tạo nên vô số món nợ phải đòi trong đầu óc dân quyền. Tự xử của dân cũng vì thế mang hơi hướng tự xử của chính quyền. 5 ngày sau vụ Đặng Ngọc Viết bắn các cán bộ quản lý quỹ đất ở Thái Bình, một số đại biểu quốc hội Việt Nam mới lần đầu tiên “thảo luận tập trung” về hiện tượng “tự xử” đang có chiều hướng lan rộng và “có dấu hiệu nguy hiểm” trong dân chúng. Tự bắt trộm chó, tự thuê xã hội đen đòi nợ, tự thiêu, tự bắn cán bộ… - những hành tung mang tính “tự xử” đã xảy ra suốt mấy năm suy thoái kinh tế vừa qua, nhưng cho đến tận bây giờ mới được thừa nhận “có phần trách nhiệm của chính quyền địa phương”. Cho đến khi cơn khủng hoảng chết chóc đã cận kề ngay trước mũi, vài người đại diện cho dân chúng mới dám hé lộ ngoài hành lang về tình trạng “chính quyền địa phương bất động”. Với tất cả những động thái “hành là chính” đang có chiều hướng bất động một cách nguy hiểm như thế, hẳn đó cũng là một nguồn cơn để nảy sinh ra lời “hiệu triệu cứu quốc” dưới đây. Hiệu triệu cứu quốc! “Thông báo với toàn thể nhân dân. Hiện nay đang có một đám người lạ mặt, đầu trọc, xăm trổ đầy mình, có hành vi côn đồ, dùng kiếm, dùng dùi cui, đuổi đánh, dọa đâm, chém, giết dân lành. Mọi người, ai có cuốc, xẻng, gậy gộc ra ứng cứu. Giặc đang càn quấy dân làng, mọi người tập trung mau để đánh giặc! Loa, loa, loa…” - ông trưởng thôn Đồng Quân gào vào loa phóng thanh, và từ chiếc loa này như vang dội âm thanh hiệu triệu một mất một còn vào những ngày kháng chiến cứu quốc. Tháng 6/2013, xóm núi heo khuất ở vùng Ninh Bình lại một lần nữa giận dữ cùng rạo rực. Người dân đang nhìn thấy một đám cướp cạn giữa ban ngày ban mặt. Nhưng người dân cũng đang phải chứng kiến một biểu tả không thể bàng quan hơn của các nhân viên công lực địa phương khi để mặc đám côn đồ thỏa sức hành hung những người bám đất. Đã hơn 25 năm qua, bãi đất nơi xảy ra tranh chấp giữa người dân Đồng Quân với Công ty cổ phần du lịch Cúc Phương là nguồn sống của dân, bằng chăn nuôi gia súc, trồng ngô và trồng đậu. Cư trú trên địa bàn này chủ yếu là người dân tộc Mường, được di dời từ rừng quốc gia Cúc Phương ra từ năm 1988. Khoảng gần chục năm trước, Công ty Cúc Phương bắt đầu về xây dựng trên khoảng 15 ha bãi đất. Nhưng vài năm trở lại đây, công ty này lại có những hành vi định chiếm nốt 25 ha đất còn lại. Ở một thái cực còn lại, ông trưởng thôn Đồng Quân khẳng định là không hề nhận được thông báo nào từ chính quyền về việc cho công ty Cúc Phương thầu thêm 25 ha đất. “Cho dù có thông báo thỏa thuận từ chính quyền về việc sang nhượng đất, chúng tôi cũng không bao giờ đồng ý. Vì 25 ha đất này là nguồn mưu sinh của người dân, bán nốt thì biết làm gì để sống!” - một người dân địa phương thét lên. Nhưng vào lúc việc tranh chấp còn chưa ngã ngũ thì Công ty Cúc Phương đã liên tục điều “xe múc” vào đào đất. “Người dân ngăn cản là đương nhiên. Vì thế mà cho côn đồ đến hành hung dân lành là điều không thể chấp nhận được!” - ông trưởng thôn quyết liệt. Thái độ không khoan nhượng của người dân xóm núi Đồng Quân đã được biểu thị ngay tức thì: ngay sau tiếng loa xé nát buổi trưa hè yên ả, nhân dân hai thôn từ người già, thanh niên đến phụ nữ lập tức túa ra đầy đường. Dân hai đầu dồn lại đánh trả đám côn đồ. Từ bộ dạng hung tợn lúc đầu, bọn côn đồ phải dần rút lui, để cuối cùng đã phải nhận một trận đòn nhớ đời. “Người dân xóm núi đại thắng!” - một tờ báo trong nước giật tít đầy hả hê. Nhưng còn hả hê hơn nhiều, vào một lần hiếm hoi “luật rừng” đã thành công. Trong cái tâm cảm “luật rừng” ấy, cả hai phía chính - tà đều hiện diện. Nhưng nhân tố đáng ra phải có mặt - lực lượng bảo vệ pháp luật - thì lại vắng bóng đến không thể hiểu nổi. Như một thói quen đã trở thành cố tật, chỉ sau khi trận đánh không chính danh trên kết thúc, công an huyện Nho Quan mới chính thức ló mặt tại hiện trường để làm nốt công đoạn cuối của việc “phá án”. Tự xử dân chúng Những tay blogger có đầu óc hài hước nhất vẫn thường chua chát giễu cợt” Việt Nam có cả một rừng luật, nhưng chỉ có một thứ duy nhất được dùng là luật rừng”. “Phép vua thua lệ làng” cũng từ cổ chí kim được viện dẫn và hành xử như một thói quen văn hóa độc đáo của người dân Việt, đặc biệt ở những vùng nông thôn miền Bắc. Từ năm 2010 về trước, khi kinh tế còn tạm đủ sức cầm cự với lạm phát và phân hóa xã hội chưa lộ ra cái hố đen ngòm ngoác rộng của nó, phân cực dân sinh cũng âm thầm tiềm ẩn hơn chứ chưa bị đẩy tình thế vào cảnh hỗn mang như hiện nay. Nhưng khi hiện tượng “rào làng” bắt đầu xuất hiện ở những địa phương như vùng phố núi Ninh Bình, người ta cũng bắt đầu chứng kiến cảnh đồng tâm hiệp lực giữa những gia đình cùng làng xã để bảo vệ quyền lợi “giết trộm”. Cảnh sắc đó đã vừa diễn ra ở Bắc Giang, nơi có đến 800 người dân đồng ký vào một lá đơn chưa từng có tiền lệ: nhận tội danh đánh đến chết những kẻ trộm chó. Trước hành động phản ứng chưa từng có trên, chính quyền và ngành công an Bắc Giang trở nên lúng túng và rơi vào thế bị động. Thay cho việc bắt giữ vài người dân đầu trò trong vụ đánh chết cẩu tặc, vào lúc này nhà chức trách phải đối mặt với một thái độ có thể được xem là vượt qua sợ hãi để “sống chết có nhau” của dân làng. Tinh thần tập thể hành động như thế hẳn làm dư luận nhớ đến 13.000 người dân ở làng Ô Khảm của Trung Quốc, vào năm 2011 đã rào làng để phản kháng chế độ trưng thu đất đai vô lối mà đã gây ra cái chết của một trong những người cầm đầu nhóm phản kháng trong đồn công an địa phương. Không hề có dấu hiệu hoang tưởng từ những người dân Bắc Giang, mà tinh túy hơn thế nhiều, 800 người dân đồng ký đơn nhận tội ở Bắc Giang đã công khai phơi bày một chủ đích có tính toán và mang dấu ấn thách thức chính quyền. Suy luận đơn giản là chính quyền không thể khởi tố tất cả dân làng, nhưng suy diễn phức tạp hơn là không phải chính quyền muốn làm gì thì làm trong bối cảnh đầu óc dân chúng đã tràn ngập tư tưởng bất mãn và sẵn sàng đối đầu nếu “cần thiết”. Bắc Giang lại là địa phương mà đã nổ ra những vụ đòi đất tập thể, tương tự Hưng Yên, Thái Bình, ngoại thành Hà Nội, Hà Tĩnh, Nghệ An, Nam Định… Đến lượt những địa phương này lại nằm trong cách nhìn thường trực của chính quyền về một loại “điểm nóng” cần phải tiễu trừ. Đất đai đã làm nên một biến động lịch sử khôn lường ở nông thôn miền Bắc Việt Nam, kể cả không khí manh nha “hồi tố” như trong cuộc cải cách ruộng đất vào giữa thế kỷ 20. Trước vụ Đặng Ngọc Viết, một thanh niên ở Quảng Nam cũng đã dùng dao đâm vài cán bộ hiệp thương giá đền bù đất đai. Người thanh niên này say khi gây án đã chạy về nhà đâm dao vào ngực mình. Nhưng rất may trong vụ đó cả hung thủ lẫn nạn nhân đều bảo toàn được mạng sống. Còn với trường hợp Đặng Ngọc Viết, động cơ trả thù đã trở thành đỉnh điểm của công tác “hồi tố”. Những quan chức nhà nước thực thi mệnh lệnh cao cả về thu hồi đất của dân với giá bèo đã phải trả một cái giá đắt ngang với sinh mạng của họ. “Tự xử” cũng vì thế đã biến diễn đến mức cực đoan và chắc chắn vượt trên rất nhiều “dấu hiệu nguy hiểm” mà các đại biểu quốc hội đang than thở. Tự xử chính quyền Một lần nữa trong rất nhiều lần, dư luận và công luận Việt Nam phải khẩn thiết nhắc lại “cách mạng Thái Bình” mười sáu năm trước. Thế nhưng sự bất hạnh lại lộ đến chân tơ kẽ tóc: đã chẳng có một bài học nào được những người cầm cân nảy mực rút ra từ lịch sử. Mọi chuyện và thế sự vẫn trì miết trong một lối mòn tham lam, lũng đoạn và không kém ngu ngốc. Thói hoang tưởng quyền lực được sinh thời bởi ý thức hệ cầm cố đã tạo nên vô số món nợ phải đòi trong đầu óc dân quyền. Vụ xả lũ bị coi là hành động “giết sống” người dân mới xảy ra vào tháng 9/2013 ở Đắc Lắc cũng là một ý thức hệ táng tận lương tâm của giới quan chức điều hành thủy điện và chính quyền địa phương. Thời điểm ấn định xả lũ là vào 8 giờ sáng, nhưng phải đến một tiếng rưỡi đồng hồ sau thông báo này mới được phát ra. Đó cũng là khoảng thời gian vừa đủ để dòng lũ đỏ ngầu cuốn tung mọi thứ, từ tài sản tích góp cả đời đến ít nhất 12 sinh mạng con người, xuống vùng trũng niềm tin dân chúng… Với những gì đã hiện tồn cay đắng đến thế, điều bị xem là “vô cảm quan chức” vẫn còn là lời cảnh báo đầy tính nhân đạo. Giờ đây, vượt hơn thế nhiều, nhiều chính quyền địa phương càng như chìm trong cơn hôn mê vô trách nhiệm và chẳng hề đồng cảm với đồng loại. Hàng loạt điểm nóng có thể dẫn đến điểm nổ về đất đai, môi trường, tôn giáo… đã chỉ bị ụp lên bởi hàng núi công văn giấy tờ “xin ý kiến chỉ đạo”, trong đó không thiếu lời quy kết cho hành động của người dân là “xách động, manh động, chống đối…”. Tâm trạng xã hội rối loạn trong dân chúng cũng tương tác hầu như trực tiếp với tâm lý thoái thác trách nhiệm ở các cấp chính quyền. Vụ việc càng “nhạy cảm” thì các cơ quan từ địa phương đến trung ương càng gia cố sức ép đùn đẩy trách nhiệm cho nhau, và trên hết là quá khó để nhận ra một lãnh đạo nào dám chịu trách nhiệm cuối cùng. Trong khi đó, thời gian không ngừng trôi và hậu quả chẳng bao giờ ngừng lại. Rất thường là đến một thời điểm nào đó, tình hình trở nên xấu tệ để mọi chuyện có thể nhanh chóng rơi nhanh vào tình trạng mất kiểm soát. Tự xử của dân chúng cũng rất có thể dẫn tới hành động tự phát nối kết, liên kết và gắn bó với nhau giữa các nhóm dân đấu tranh cho quyền lợi, cho dù không phải bao giờ quyền lợi của dân cũng đồng nhất với nhau. Đó cũng gần như là hình ảnh chan hòa giữa những dân oan không tôn giáo với các tín đồ - một hiện tượng đã và đang diễn ra ngày càng rộng tại vùng đáy niềm tin chính thể. Nếu hiệu ứng vô chính phủ xảy ra, không thể nói khác hơn là tình trạng mất kiểm soát ở Việt Nam có thể trở nên vô phương cứu chữa, rút ngắn tính chính danh của chính thể và ghê gớm hơn nhiều là xâm hại những gì còn lại của một lịch sử văn hóa. Tự xử của dân cũng vì thế mang hơi hướng tự xử của chính quyền. Tất cả những gì mà một chính thể không thể đáp ứng sẽ luôn phải trả bằng cái giá chân đứng của chính quyền từ bị mài mòn đến tự mục rã. Nông thôn và một số đô thị ở miền Bắc đang chứng thực xu hướng chuyển động có tính song trùng tự xử rệu mục như thế. Dù chưa có một nghiên cứu nào phân tích về khả năng song trùng này, nhưng đáp án rõ rệt cho bài toán tự xử luôn là một điểm giao thoa, tại một thời điểm được xác định, giữa hai hành động vừa đồng pha vừa ngược chiều nhau – một thuộc về chính quyền và hành động kia bùng phát từ dân chúng. P.C.D. Nguồn: boxitvn.blogspot.com
......

Chiến tranh vì nhân đạo

Ngoài chiến tranh vì quyền lợi hay ý thức hệ còn có hình thái chiến tranh vì lòng nhân đạo... Ca sỹ Beyonce biểu diễn ca khúc I Was Here trước Đại hội đồng LHQ để kêu gọi nhắn tin cho Ngày Nhân đạo thế giới   Trong suốt bốn tuần qua, bên lề vụ khủng hoảng chính trị tại Mỹ về việc can thiệp hay không vào cuộc nội chiến ở Syria, chúng ta thấy nổi lên một câu hỏi khác. Vì sao đa số dân Mỹ lại không muốn Hoa Kỳ tấn công Syria, dù qua một biện pháp rất hạn chế như chính quyền Obama đề nghị? Hỏi ngược lại, tại sao phải can thiệp, với rủi ro là gây ra một cuộc chiến nữa? Cuộc tranh luận ấy dẫn tới một lý luận mới chỉ xuất hiện từ sáu chục năm nay: các nước có thể can thiệp vào xứ khác vì lý do nhân đạo, dù rằng việc can thiệp có thể dẫn tới chiến tranh. Nghĩa vụ cứu người Từ cổ chí kim, các nước có thể gây chiến tranh vì hai lý do căn bản nhất, vật chất và tinh thần. Đầu tiên và sâu xa lâu dài hơn cả là chiến tranh vì quyền lợi, để bảo vệ hay bành trướng quyền lợi hoặc quyền lực quốc gia. Sau đó là chiến tranh ý thức hệ, để bảo vệ hay bành trướng một hệ thống tư tưởng từ thần quyền đến thế quyền, từ tôn giáo đến chính trị, mà người ta coi là có giá trị. Hai hình thái chiến tranh ấy có thể biệt lập hoặc đan kết với nhau. Từ những cuộc Thập Tự Chinh đến việc bành trướng chủ nghĩa cộng sản, chiến tranh ý thức hệ có khi ngụy trang hay biện minh cho chiến tranh vì quyền lợi. Bên cạnh những người tử vì đạo hoặc hy sinh cho cách mạng còn có bọn thương nhân hay những kẻ cướp vàng cướp đất... Nhìn theo một khía cạnh nào đó cuộc chiến “giải phóng miền Nam” tại Việt Nam là chiến tranh ý thức hệ, nhưng lồng bên trong là việc cải tạo để tiếp thu tài nguyên ở trong Nam, và để Trung Quốc bành trướng quyền lợi trên cả nước. Đến hậu bán thế kỷ 20, sau Đại Chiến II, người ta thấy xuất hiện một loại chiến tranh khác. Một lý do ban đầu có thể là nạn hỏa thiêu và tàn sát sáu triệu người Do Thái khiến cho làm ngơ trước tội ác cũng là một cái tội. Và can thiệp vào xứ khác để ngăn ngừa tội ác là một nghĩa vụ. Đấy là chiến tranh vì lý do nhân đạo. Nó xuất phát từ các nước dân chủ, chính yếu là từ Âu Châu và Hoa Kỳ, và nhắm vào nội chiến ở nơi khác khi mà thường dân vô tội bị tàn sát. Cuộc nội chiến lan rộng khi Liên Bang Nam Tư tan rã, nạn thanh tẩy chủng tộc tại Rwanda, hay vụ tàn sát thường dân ở Sudan, rồi nội chiến Libya hay gần đây, vụ Syria là cơ hội khiến người ta đòi phải có biện pháp can thiệp. Tương đối thành công là vụ Bosnia, hay Kosovo, hoặc thậm chí Sudan khi xứ này chia hai. Ở nhiều nơi khác, tình hình vẫn là bất phân thắng bại, thí dụ như Libya. Và chính là kinh nghiệm Libya khiến các nước phải chùn tay ở Syria và tranh luận về lẽ chính đáng hay không của một cuộc chiến vì lòng nhân. Không chịu can thiệp thì có thể mang tội thờ ơ trước tội ác, can thiệp thì bị đả kích là hiếu chiến, hoặc không tưởng. Chúng ta nên nhìn lại chuyện này từ nhiều giác độ khác.   Những trở ngại của thực tế Những người chủ trương can thiệp có thể minh định những động lực và tiêu chuẩn khá rõ ràng. Trong một cuộc nội chiến ở xứ khác, có hai phe tham gia. Phe mạnh là những kẻ có võ khí và phương tiện tàn sát phe yếu. Phe mạnh thường là một chính quyền độc tài và phe yếu là các nhóm võ trang còn ô hợp, khi giao tranh bùng nổ, thường dân không có khả năng tự vệ là nạn nhân ở giữa. Việc can thiệp vào cuộc nội chiến này phải có tính chất trung lập, không nghiêng vào phe nào, chỉ nhắm vào việc bảo vệ thường dân khỏi bị tàn sát nữa, sau khi đã bị tàn sát. Nếu không can thiệp, nhân loại mắc tội vô tâm vô cảm, một nhược điểm về đạo đức. Từ lý luận có tính chất đạo tặc, quy tắc đạo đức, người ta cho rằng cộng đồng quốc tế phải có nhiệm vụ can thiệp để ngăn ngừa một vụ tàn sát, một nạn diệt chủng. Ở đây, sau Thế Chiến II, “cộng đồng quốc tế” thường được hiểu là Liên Hiệp Quốc (LHQ). Nhưng việc kêu gọi định chế quốc tế này can thiệp lại gặp một trở ngại chính thức, che giấu một khó khăn thực tế. Hiến chương LHQ có quy định rõ ràng về quyền tự quyết, về chủ quyền toàn vẹn của các quốc gia. Trong một cuộc nội chiến, khi can thiệp để bảo vệ thường dân, người ta có thể vi phạm chủ quyền của một nước, dù đang được “phe mạnh” lãnh đạo và tàn sát “phe yếu.” Liên Bang Nga và Trung Quốc hay viện dẫn Hiến chương LHQ để ngăn cản việc can thiệp và mặc nhiên bảo vệ phe mạnh. Đây là một trở ngại thực tế của việc can thiệp dưới lá cờ LHQ. Trong vụ Libya, các nước Tây phương đã khai thác một hớ hênh của Liên Bang Nga khi cài được một điều khoản là “bảo vệ người vô tội” vào một nghị quyết rồi viện dẫn điều khoản ấy để xin can thiệp. Vladimir Putin không ngăn được chuyện ấy nên có kinh nghiệm trong vụ bảo vệ phe mạnh, là chế độ Bashar al-Assad tại Syria. Thói thường thì chỉ một (hay nhiều) nước mạnh mới có khả năng can thiệp vào tình trạng nội chiến trong một nước yếu. Với một nước mạnh thì khác. “Cộng đồng quốc tế” hoàn toàn câm nín khi Trung Cộng thôn tính Tây Tạng năm 1950, 1959, hay đàn áp dân Hồi Giáo ở Tân Cương từ 1949 đến nay. Cộng đồng ấy cũng bất lực khi Liên Xô đàn áp dân lành ở Hung Gia Lợi năm 1956 và tấn công Tiệp Khắc năm 1968, hay Liên Bang Nga tại Georgia năm 2008, tại Chechnya từ 1995 đến sau này. Khi chủ trương can thiệp vì lòng nhân đạo, với tiêu chuẩn vô tư, công bằng và trung lập, tức là không thiên về một phe nào trong cuộc nội chiến, mà chỉ để tránh cho thường dân lại bị sát hại, chủ nghĩa nhân đạo này còn đụng vào một khó khăn thực tế khác. Mọi việc can thiệp đều làm lệch tương quan lực lượng trong nội chiến. Chủ trương can thiệp vì lòng nhân chỉ có hy vọng thành hình và thành công khi là nước lớn bước vào cứu dân lành trong một nước nhỏ yếu. Nhưng dù nêu cao tiêu chuẩn trung lập, việc can thiệp vẫn thực tế thiên về phe yếu và có thể tiêu diệt phe mạnh, chính quyền thủ phạm của vụ tàn sát. Nghĩa là việc can thiệp vô tư này làm thay đổi cục diện nội chiến và có khi dẫn đến việc thay đổi chế độ. Sau đó là gì thì không ai biết được. Chuyện Libya là một điển hình, đang được hâm nóng trong chính trường Hoa Kỳ qua vụ tàn sát năm ngoái tại Benghazi. Một trở ngại bất ngờ khác của việc can thiệp để giải trừ tội ác là sự xuất hiện của Tòa án Hình sự Quốc tế tại thành phố The Hague. Từ kinh nghiệm của tòa án quốc tế Nuremberg để xét xử giới lãnh đạo cao cấp của chế độ Đức Quốc Xã và tiền lệ là Tòa án Quốc tế xét xử việc tàn sát sau khi Nam Tư tan rã, các nước Âu Châu quyết định truy tố lãnh tụ của phe mạnh trong các cuộc nội chiến. Thí dụ như việc bắt giữ và xử án Slobodan Milosevic của Cộng Hòa Serbia. Milosevic quyết định buông tay để khu vực Kosovo của Serbia được tự trị và độc lập, tưởng rằng như vậy là xong. Sau cuộc cách mạng dân chủ tại Serbia, ông ta vẫn bị Tòa án Hình sự Quốc tế truy tố không vì tội gian lận trong bầu cử, là chuyện nội bộ của Serbia, mà vì tội danh trầm trọng hơn, xảy ra trước đó, tội ác trong chiến tranh và tội ác chống nhân loại. Thề rồi nhân danh việc bảo vệ nhân loại, nguyên tắc công lý chính đáng này gây khó khăn cho việc bảo vệ dân lành trong một cuộc nội chiến. Muammar Gadhafi tại Libya năm kia và Bashar al-Assad năm nay không thể quên được cái án chung thân của Milosevic nên nhất quyết không rời khẩu súng, và tàn sát thường dân cho đến viên đạn hay giọt máu cuối cùng. Họ nương vào nguyên tắc của hiến chương LHQ là không xâm phạm chủ quyền xứ khác và tựa vào sức bảo vệ của Liên Bang Nga, Trung Quốc, hay Iran... Chiến tranh vô nhiễm leo thang thành chiến tranh vô tận Khi vận động can thiệp vì lý do nhân đạo, mọi người trong cuộc đều nêu rõ chủ trương là có giới hạn, đến độ “nhỏ xíu không thể tin nổi” như lời trấn an của Ngoại Trưởng John Kerry về cách ngăn cản một vụ tàn sát thường dân bằng võ khí hóa học tại Syria. Lý tưởng là một cuộc chiến tranh thu gọn và sạch sẽ, vô nhiễm. Ban đầu có thể là một quyết định “cấm bay” (no-fly zone) để tê liệt không quân của phe mạnh, rồi việc phá hủy hệ thống phòng không của chế độ để bảo vệ không quân của phe can thiệp vì chính nghĩa. Nhưng sự thể lại không ngừng ở đó. Các chính quyền chủ trương can thiệp đều nói rõ là “không đổ quân vào trận địa,” mà vẫn phải tung biệt kích, để làm gì thì không ai biết rõ. Biết rõ nhất mà cũng mơ hồ nhất chính là các đơn vị tác chiến bí mật này. Để thu lượm tin tức tình báo quân sự về đối phương và chấm tọa độ cho phe mình oanh kích ? Để liên lạc hay tiếp tế võ khí cho các nhóm nổi dậy? Để làm suy yếu một chế độ mà họ không có quyền lật đổ? Chuyện thông thường, các chế độ này lại không bị suy yếu, nhất là khi lãnh tụ ở trên không quên cái án treo của Tòa án Hình sự Quốc tế đang lơ lửng trên đầu. Họ trả đũa kịch liệt hơn, hoặc tuyệt vọng hơn, khiến thường dân chết nhiều hơn, chưa kể nạn chết oan vì “hỏa lực bạn”... Tức là thay vì minh danh nói rõ là can thiệp nhanh gọn để lật đổ một chế độ tàn ác, chủ nghĩa chiến tranh vì nhân đạo dẫn tới thực tế bất ngờ là chế độ này vẫn tồn tại, chiến tranh lan rộng hơn và dân vô tội tiếp tục chết oan. Nghịch lý này xuất phát từ một chân lý chính trị là trong các nước dân chủ, quần chúng ở dưới và giới đại diện dân cử (Quốc Hội) ở trên rất khó cho Hành pháp quyền sử dụng võ lực để lật đổ lãnh đạo một xứ khác. Chính quyền thường phải kín đáo ra tay trong chớp nhoáng và triệt thoái trước khi nội vụ đổ bể hay lây lan, thời hạn thường là 60 ngày đi vào cộng 30 ngày đi ra trước khi Quốc Hội lên tiếng. Vì lẽ đó, chủ trương can thiệp vì lòng nhân mới phải giao hẹn một chiến dịch quân sự có hạn chế. Mà cũng vì vậy khó kiểm soát được tình hình, làm chiến tranh leo thang. Chiến tranh có thể không leo thang, nhưng chấm dứt với kết quả trái ngược với đạo lý ban đầu. Chúng ta trở về tương quan mạnh/yếu trong cuộc nội chiến. Phe mạnh là chế độ có đặc tính phi nghĩa vì mang tội tàn sát. Phe yếu lẩn trong thường dân vô tội là các lực lượng võ trang khác, mỗi lực lượng lại theo đuổi một mục tiêu bị khỏa lấp vì chính nghĩa chống độc tài. Đặc tính của họ chỉ là sự yếu thế. Khi chế độ tàn ác kia bị lật đổ, như tại Libya hay cả Iraq trước đó, phe yếu thế lại biến thành phe mạnh và không nhất thiết trở thành lực lượng xây dựng dân chủ. Nhẹ nhất thì nội chiến kết thúc bằng nội loạn hay loạn sứ quân. Nặng nhất là sự xuất hiện của một chế độ mới, còn độc tài và hiếu sát hơn chế độ bị tiêu vong. Trong thế giới Hồi Giáo, nặng hơn cả là sự thắng thế của lực lượng khủng bố. Và chiến tranh vô nhiễm có khi kéo dài đến vô tận, và lây lan qua xứ khác. Xuất phát từ một lý do đạo đức chính đáng, lý tưởng can thiệp để bảo vệ dân lành có khi lại gặp hậu quả bất lường. Đây là nguyên nhân khiến người dân đầy từ tâm và rộng lượng như dân Mỹ lại từ chối lời kêu gọi của Tổng Thống Obama. Sau đó, tuần qua, nhiều người tự hỏi rằng Hoa Kỳ có còn những giá trị tinh thần cao quý mà thiên hạ trông đợi hay chăng? Kết luận ở đây là gì? Nhiều người lầm tưởng rằng trong chính trường Mỹ, đảng Cộng Hòa có đặc tính diều hâu chủ chiến và đảng Dân Chủ là phản chiến chủ hòa. Sự thật lại không ngây ngô như vậy. Đa số những người chủ trương việc can thiệp thuộc cánh tả lý tưởng của đảng Dân Chủ. Họ là trí thức theo xu hướng “can thiệp quốc tế” đối lập với xu hướng thực dụng và tự cô lập đến ích kỷ bên cánh hữu của đảng Cộng Hòa. Hồ sơ này quá dài nên xin miễn nêu danh những người nổi tiếng nhất hiện đang ở trong chính quyền Obama (Suzan Rice, Samantha Power, v.v...). Xuất phát từ lòng nhân, lý luận can thiệp của họ lại gần với khuynh hướng được gọi là “tân bảo thủ” (neo-conservative) bên cánh hữu: phát huy dân chủ trên thế giới cũng là một cách ngăn ngừa chiến tranh và khủng bố. Người ta không nên ngạc nhiên: đa số trí thức “tân bảo thủ” đều xuất thân từ cánh tả và thất vọng với tinh thần phản chiến bên đảng Dân Chủ. Nguồn: nguoi-viet.com
......

Nhân sĩ trí thức VN khởi xướng “Phong trào dân sự và chính trị”

Nhân sĩ trí thức Việt Nam hôm 20-9-2013 đã khởi xướng “Phong trào dân sự và chính trị” đòi chế độ CSVN trả các quyền công dân theo quy định của Hiến pháp hiện hành, cũng như quy ước Công ước quốc tế về những quyền dân sự và chính trị mà nhà nước Việt Nam đã ký tham gia từ năm 1982 Các nhân sĩ trí thức trong lần trao kiến nghị 72 về sửa đổi Hiến pháp 1992   Các nhân sĩ trí thức khởi xướng phong trào này kêu gọi ký tên, ủng hộ một bản Tuyên bố về thực thi quyền Dân sự và Chính trị với nhận định rằng “trước tình hình trong và ngoài nước hiện nay, chúng tôi thấy rằng giới blogger, các tổ chức, nhóm quyền dân sự-chính trị cần nói lên tiếng nói, quan điểm của mình để cải thiện tình trạng tham nhũng, tụt hậu, nghèo đói, bất công ở Việt Nam. Sự tham gia của quý vị thể hiện tình yêu đất nước, khẳng định quyền công dân; đồng thời, góp phần thúc đẩy hình thành xã hội dân sự tại Việt Nam…” Trong Bản tuyên bố phổ biến ngày 20-9, với 108 nhân sĩ trí thức cùng ký tên yễm trợ nhóm khởi xướng, xác định rằng “Dân sự và chính trị là những quyền thiêng liêng của con người. Từ xưa đến nay, trên toàn thế giới, nơi nào quyền dân sự và chính trị được thực thi thì nơi đó có con người được đảm bảo những điều kiện phát triển tốt nhất”, và chính hiến pháp hiện hành ở Việt nam cũng đã có những quy định nhằm bảo vệ các quyền chính đáng ấy song song với những công ước nhân quyền quốc tế về những quyền dân sự và chính trị. Cũng theo Bản tuyên bố, “để vượt qua những thách thức hiểm nghèo đối với đất nước và dân tộc, giải pháp cơ bản là phải cải cách thể chế chính trị, chuyển từ toàn trị sang dân chủ, qua đó phát huy sức mạnh hòa giải và đoàn kết dân tộc, mở ra thời kỳ phát triển mới cho đất nước và bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia….” Dưới đây là nguyên văn Bản tuyên bố của nhân sĩ trí thức khởi xướng Phong trào dân sự và chính trị:   TUYÊN BỐ VỀ THỰC THI QUYỀN DÂN SỰ VÀ CHÍNH TRỊ   Hiến pháp hiện hành của nước ta quy định tại điều 69: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin, có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”. Công ước quốc tế về những quyền dân sự và chính trị (mà Nhà nước Việt Nam ký tham gia ngày 24/9/1982) quy định cụ thể về quyền bày tỏ quan điểm, quyền hội họp và lập hội: “Mọi người đều có quyền giữ vững quan niệm mà không bị ai can thiệp. Mọi người đều có quyền tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận, và phổ biến mọi tin tức và ý kiến bằng truyền khẩu, bút tự hay ấn phẩm, dưới hình thức nghệ thuật, hay bằng mọi phương tiện truyền thông khác, không kể biên giới quốc gia” (trích điều 19[1]); “Quyền hội họp có tính cách hoà bình phải được thừa nhận” (trích điều 21); “Ai cũng có quyền tự do lập hội, kể cả quyền thành lập và gia nhập các nghiệp đoàn để bảo vệ quyền lợi của mình” (trích điều 22). Những quy định tương tự cũng có trong Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hiệp Quốc được công bố ngày 10/12/1948 mà mọi quốc gia thành viên đếu phải tôn trọng [2] . Căn cứ vào những quy định đó, các ý kiến đóng góp cho việc sửa đổi Hiến pháp khác với quan điểm của Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp do Quốc hội lập, đặc biệt là về những điều cơ bản của thể chế chính trị (như Kiến nghị do 72 người ký trực tiếp ngày 19-1-2013, thường được gọi tắt là Kiến nghị 72, Tuyên bố của Hội đồng Giám mục, Tuyên bố công dân tự do, ý kiến trên trang mạng Cùng viết Hiến pháp, và nhiều ý kiến của đồng bào trong và ngoài nước trên các trang thông tin điện tử) là hoàn toàn phù hợp với Hiến pháp và Công ước quốc tế về những quyền dân sự và chính trị (dưới đây gọi tắt là Công ước quốc tế). Điều đó cũng đúng với nhiều tiếng nói đòi dân chủ và thực hiện các quyền tự do đã được quy định trong Hiến pháp, gắn liền với yêu cầu bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, hòa nhịp với các hình thức đấu tranh của nông dân bị mất đất, của công nhân đòi việc làm và cải thiện đời sống. Những tiếng nói đó của các tổ chức và nhóm như Hội đồng Giám mục, nhóm các chức sắc tôn giáo, nhóm công dân tự do, nhóm Tuyên bố 258, câu lạc bộ NoU, v.v., hoặc của nhiều cá nhân ở trong và ngoài nước mang tinh thần yêu nước và khát vọng dân chủ, đều được bày tỏ một cách ôn hòa, hợp pháp. Chúng tôi, những người ký tên dưới đây hoan nghênh ý thức xây dựng của những tiếng nói đó và thấy rằng để phản ảnh yêu cầu của đông đảo nhân dân, cần khởi xướng một Diễn đàn trao đổi và tập hợp các ý kiến nhằm góp phần chuyển đổi thể chế chính trị của nước ta từ toàn trị sang dân chủ một cách ôn hòa. Đó là mục đích hoạt động của Diễn đàn, hoàn toàn phù hợp với hiến pháp của nước ta và Công ước quốc tế. Diễn đàn này mang tên “Diễn đàn xã hội dân sự” và có trang thông tin điện tử là nơi bày tỏ ý kiến của các tổ chức, các nhóm, các cá nhân cùng theo đuổi mục đích nêu trên, với mong muốn xã hội dân sự ở nước ta phát triển đúng với yêu cầu của một nước dân chủ. Chúng tôi yêu cầu nhà cầm quyền tôn trọng quyền bày tỏ quan điểm của công dân, thẳng thắn tranh luận và đối thoại, từ bỏ cách đối xử không công bằng, không minh bạch và không đường hoàng như đã và đang áp dụng đối với những kiến nghị sửa đổi Hiến pháp và những tiếng nói đòi dân chủ khác với quan điểm của nhà cầm quyền. Ý kiến khác nhau cần được tranh luận thẳng thắn để tìm chân lý; còn dựa vào quyền lực để cản trở việc công bố, không đối thoại mà chỉ đơn phương phê phán, quy kết, thậm chí dùng nhiều cách ngăn cấm và trấn áp thì không những vi hiến và trái với Công ước quốc tế mà còn không đúng với tư cách chính đáng của một nhà cầm quyền. Việc sửa đổi Hiến pháp đang còn ý kiến khác nhau về những vấn đề cơ bản của thể chế chính trị. Dự thảo Hiến pháp sửa đổi dự định trình Quốc hội thông qua trong kỳ họp cuối năm tuy có một số điều chỉnh chi tiết nhưng về cơ bản vẫn duy trì thể chế toàn trị của giới cầm quyền nhân danh Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN). Thực tế ở nước ta cho thấy rõ: thể chế này đã tạo nên một bộ máy cầm quyền có nhiều quyết sách sai trái và quan liêu, tham nhũng nặng; một “bộ phận không nhỏ” trong bộ máy lợi dụng quyền lực (cả quyền cai trị và quyền sử dụng, định đoạt đất đai, tài nguyên, tài sản công) cấu kết với một số nhà kinh doanh làm giàu bằng nhiều thủ đoạn bất minh (cả trong khu vực kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân), hình thành các nhóm lợi ích bất chính, xâm phạm quyền lợi của nhân dân, dẫn tới sự phân hóa giàu nghèo quá bất công ở nước ta. Không ít người trong giới cầm quyền các cấp cùng với các nhóm lợi ích và sự hậu thuẫn của thế lực bên ngoài đang dựa vào bạo lực cùng nhiều thủ đoạn không chính đáng để duy trì quyền thống trị đất nước theo thể chế toàn trị, có phần do tư duy giáo điều, bảo thủ, nhưng phần quan trọng hơn, phổ biến hơn là do muốn bảo vệ và giành thêm lợi ích riêng bất chấp lợi ích chung của đất nước, của dân tộc. Đó là nguyên nhân gốc rễ khiến nước ta lâm vào khủng hoảng trên nhiều mặt: kinh tế suy giảm nặng và không ổn định, văn hóa suy đồi, đạo đức băng hoại, môi sinh bị tàn phá, trình độ phát triển và năng lực cạnh tranh thua kém nhiều nước trong khu vực, dân mất lòng tin đối với bộ máy cầm quyền; trong khi đó, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta đang bị thế lực bành trướng Trung Quốc gia tăng các hành động xâm phạm. Để vượt qua những thách thức hiểm nghèo đối với đất nước và dân tộc, giải pháp cơ bản là phải cải cách thể chế chính trị, chuyển từ toàn trị sang dân chủ, qua đó phát huy sức mạnh hòa giải và đoàn kết dân tộc, mở ra thời kỳ phát triển mới cho đất nước và bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia. ĐCSVN, với vị trí là đảng đang cầm quyền, tự nhận vì nước vì dân, có trách nhiệm thúc đẩy quá trình chuyển đổi đó một cách chủ động, mở đầu bằng việc sửa đổi Hiến pháp. Đó là mệnh lệnh của cuộc sống và cũng là phương án tối ưu cho sự chuyển đổi thể chế chính trị một cách ôn hòa ở nước ta. Nếu Hiến pháp sửa đổi vẫn duy trì thể chế toàn trị được thông qua và ban hành chính thức thì các thách thức mà đất nước và dân tộc đang đối mặt càng thêm nghiêm trọng dẫn tới hệ quả khôn lường, dân càng thất vọng và bất bình, uy tín của nước ta trong quan hệ quốc tế càng giảm sút. Đó thật sự là tai họa cho đất nước mà trách nhiệm thuộc về giới cầm quyền. Vì vậy, Diễn đàn xã hội dân sự yêu cầu Quốc hội dừng việc thông qua bản Hiến pháp sửa đổi trong đó thể chế chính trị hiện hành vẫn được duy trì về cơ bản, kéo dài thời gian thảo luận về Hiến pháp và thật lòng tổ chức nghiên cứu, tranh luận một cách thẳng thắn, nghiêm túc và công khai về những điều cơ bản của thể chế chính trị đang còn ý kiến khác nhau. Tuyên bố này được gửi tới các thành viên cơ quan lãnh đạo ĐCS và Nhà nước; đồng thời được công bố trên mạng xã hội để phổ biến rộng rãi, mong đồng bào trong và ngoài nước biểu thị sự đồng tình, hưởng ứng.   Ngày 23 tháng 9 năm 2013Những người khởi xướng Diễn đàn xã hội dân sự Ghi chú: - Ý kiến hưởng ứng Tuyên bố này xin gửi về địa chỉ e-mail: diendanxahoidansu@gmail.com - Cách thức tham gia Diễn đàn sẽ được thông báo sau.     DANH SÁCH 130 NGƯỜI KÝ TÊN TUYÊN BỐ THỰC THI QUYỀN DÂN SỰ VÀ CHÍNH TRỊ tính đến ngày 23-9-2013 (Theo Bauxite Việt Nam) * Danh sách ký tên Thông Tin Đức Quốc đăng trong 48 giờ qua có vài khác biệt với các danh sách khác nên chúng tôi tạm thời lấy xuống để chờ phối kiểm (BBT TTĐQ) ---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- [1] Điều 19 của Công ước này còn có khoản kế tiếp như sau: 3-Việc hành xử quyền tự do phát biểu quan điểm đòi hỏi đương sự phải có những bổn phận và trách nhiệm đặc biệt. Quyền này chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật vì nhu cầu: a-Tôn trọng những quyền tự do và thanh danh của người khác. b-Bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng hay đạo lý. [2] Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền quy định tại điều 19: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm. Quyền này bao gồm sự tự do quan điểm mà không bị xen vào quấy rầy và được tự do tìm kiếm, thu nhận và quảng bá tin tức và tư tưởng qua mọi phương tiện truyền thông bất kể biên giới” và điều 20: “Mọi người đều có quyền tự do hội họp và lập hội, một cách ôn hòa. Không một ai có thể bị cưỡng bách gia nhập vào một đoàn thể”.
......

Đức quốc: Thánh Lễ cầu nguyện hiệp thông với giáo xứ Mỹ Yên tại Halstenbek

Dù phải vượt qua khá nhiều thử thách, dù cũng phải "đi tị nạn", cuối cùng Thánh Lễ cầu nguyện cho những giáo dân nạn nhân của giáo xứ Mỹ Yên thuộc xã Nghi Phương, huyện Nghi Lộc, giáo phận Vinh cũng đã được tổ chức vào lúc 16 giờ 30, ngày thứ Bảy 21.09.2013 tại nhà thờ Herz-Jesu, Halstenbek, (gần Hamburg), miền Bắc nước Đức. Linh mục Vincent Maria Phạm Cao Quý đã dâng Thánh Lễ cầu nguyện đúng nghi lễ Công Giáo với bài giảng, cầu nguyện, thánh ca, bánh thánh, đọc lời Chúa, .... Thánh Lễ trang nghiêm, đầy đủ nghi thức đã gây ấn tượng sâu đậm trong lòng bà thư ký người Đức trợ giúp Cha Quý làm lễ, bà cho biết như thế. Để giáo dân hiểu rõ lý do và ý nghĩa của Thánh Lễ này, Cha Quý đã sơ lược bối cảnh sự kiện của giáo xứ Mỹ Yên trong mấy tháng qua. Cha giải thích, sự lộng quyền, đàn áp giáo dân của nhà cầm quyền Nghệ An đã diễn ra như thế nào khiến Đức Giám mục giáo phận Vinh, Phaolô Nguyễn Thái Hợp, phải lên tiếng tố cáo cách hành xử bất nhân và tàn bạo của nhà câm quyền Nghệ An khiến hơn 30 giáo dân bị trọng thương và phải đưa vào bệnh viện cấp cứu. Giọt nước làm tràn ly này đã tạo nên một làn sóng phẫn nộ chẳng những trong nước mà còn lan ra hải ngoại. Đức Tổng Giám Mục Hà Nội Phêrô Nguyễn Văn Nhơn đã viết thư hiệp thông với toàn thể giáo phận Vinh. Đặc biệt, các Giám mục và Linh mục đoàn giáo phận Vinh, đại diện hơn nửa triệu giáo dân trong ba tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình đã phổ biến Tuyên bố hiệp thông với Mỹ Yên và "lên án bạo quyền và bảo vệ dân lành". Tuyên bố mạnh mẽ, có tính cách lịch sử này đã mang chữ ký của Các Đức Giám mục và 199 linh mục của giáo phận Vinh. Cha Quý đã nhắc lại lời Đức Giáo Hoàng Phanxicô không đầy một tuần trước đó, đã lên tiếng khuyến khích giáo dân tham gia vào các hoạt động chính trị với mục đích làm cho xã hội tốt đẹp hơn thay vì xa lánh hai từ "chính trị". Đặc biệt, chị Hải đã đọc những lời cầu nguyện thật cảm động, được viết lên bởi chính những thân nhân của các nạn nhân, được gửi đến từ giáo xứ Mỹ Yên đang bị bạo quyền bức hại nặng nề. Trước khi kết thúc Thánh Lễ, những ngọn nến hiệp thông đã được thắp lên trong âm vang bài "Kinh hòa bình". Cha Quý đã cám ơn từng người giúp cho buổi lễ được diễn ra tốt đẹp. Sau cùng, mọi người đã gặp nhau trong một quán ăn nhỏ trong bầu không khí thật thân mật và ấm cúng như trong tình một gia đình.  
......

San José hiệp thông cầu nguyện với Mỹ Yên

SAN JOSÉ, California - Tình trạng đàn áp tôn giáo tại Việt Nam với vụ nhà cầm quyền tấn công thô bạo gần đây tại Giáo Xứ Mỹ Yên, Giáo Phận Vinh, đã khiến đông đảo tín hữu tại giáo phận San Jose, và các nơi lân cận thuộc vùng Bắc Cali, qui tụ trong một thánh lễ và thắp nến cầu nguyện hiệp thông vào tối ngày 20 tháng 9, 2013 tại Trung Tâm Công Giáo Việt Nam, San Jose. Buổi lễ long trọng được Hội Ái Hữu Địa Phận Vinh Bắc Cali, phối hợp với các hội đoàn bạn tại địa phương, tổ chức. Linh Mục Phaolô Lưu Đình Dương, tuyên úy của Hội, đã chủ trì thánh lễ và cuộc đốt nến, cùng với 7 linh mục và phó tế hiện diện. Mở đầu thánh lễ, Linh Mục Giuse Nguyễn Văn Thư, Giám Đốc Trung Tâm Công Giáo Việt Nam San Jose, nói, "Trước thảm cảnh đàn áp đang xảy ra tại Giáo Xứ Mỹ Yên, Giáo Phận Vinh, không ai trong chúng ta không đau buồn; và để bày tỏ tình yêu thương, sự hiệp thông, chúng ta cùng đốt nến cầu nguyện cho những người anh em đang bị bách hại". Sau cuộc lễ là buổi nói chuyện hơn một tiếng rưỡi đồng hồ về tình hình nhà cầm quyền Nghệ An đàn áp giáo xứ Mỹ Yên, giáo phận Vinh, do Linh Mục Phêrô Nguyễn Văn Khải, Dòng Chúa Cứu Thế, trình bày. Trong bài giảng thánh lễ, linh mục chủ tế Lưu Đình Dương, nói, "Trước các thảm cảnh đang xảy ra tại giáo phận Vinh, khi anh chị em đang bị đàn áp nặng nề, chúng ta dâng lời cầu nguyện trong tinh thần hiệp thông, chia sẻ ưu tư lo lắng của các vị chủ chăn, cũng như cầu xin cho anh chị em được vững mạnh trong đức tin, sống trung kiên trong cảnh gian truân, kiên cường xử sự như những chứng nhân của Tin Mừng". Mở đầu cuộc đốt nến, sinh viên Nguyễn Văn Thống đã tuyên đọc một bản tường trình sự việc đã xảy ra tại Giáo Xứ Mỹ Yên. Anh nói, "Nhiều năm qua, nhà cầm quyền mưu toan nhiều cách để gây khó khăn trong việc sinh hoạt của giáo xứ Mỹ Yên, nơi có linh địa Trại Gáo với đền kính Thánh Antôn nổi tiếng. Ngày 22/5/13, một nhóm thanh niên, về sau bị phát hiện là công an chìm, đến ngăn cản một cộng đoàn hành hương đến linh địa, khiến xô xát đã xảy ra và đông đảo dân chúng đã tạm giữ họ. "Công An huyện Nghi Lộc và tỉnh Nghệ An sau đó đã liên lạc với Tòa Giám Mục Xã Đoài để xin can thiệp nhằm bảo đảm cho nhóm công an ra về an toàn. Tuy nhiên, những ngày sau nhà cầm quyền trở mặt, uy hiếp tinh thần giáo dân, triệu tập nhiều người lên đồn công an tra hỏi, đồng thời bắt cóc hai giáo dân là ông Ngô Văn Khởi và anh Nguyễn Văn Hải tống giam. "Trước sự bắt bớ bất công và phi pháp, ngày 3/9/13, khoảng 1000 giáo dân đã tập trung trước ủy ban nhân dân Xã Nghi Phương để yêu cầu trả tự do cho hai người đồng đạo bị bắt giữ, và buổi chiều cùng ngày nhà cầm quyền đã viết cam kết sẽ trao trả người vào hôm sau. "Tuy nhiên, đúng ngày 4/9, khi đông đảo giáo dân đến cơ quan để nhận lại người thân, nhà cầm quyền đã bày binh bố trận, đem hàng ngàn công an cảnh sát với chó nghiệp vụ, dùi cui roi điện để đàn áp. Nhiều quần chúng lạ mặt trà trộn vào giáo dân để ném đá gây xáo trộn nhằm tạo cớ cho lực lượng công an đàn áp thô bạo. "Vụ đàn áp của nhà cầm quyền với giáo xứ Mỹ Yên đã làm cho khoảng 100 giáo dân bị thương, trong đó có 30 người bị thương nặng, có người bị vỡ sọ". "Thật đau thương khi máu của giáo dân lại tiếp tục đổ xuống". Những ngày sau vụ việc, các cơ quan tryền thông báo đài của nhà cầm quyền Nghệ An đã bóp méo sự thật, trâng tráo vu khống và cáo buộc giáo dân, cũng như lên án Đức Cha Nguyễn Thái Hợp, giới lãnh đạo và các linh mục giáo phận, cũng như truy tố hình sự các tín hữu vô tội. Cuộc đốt nến nằm trong tinh thần đáp lời kêu gọi của Đức Cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp, giám mục Giáo Phận Vinh, nhằm bày tỏ tình hiệp thông và liên đới với các tín hữu nạn nhân, cũng như tố cáo hành vi vu cáo và hành xử bất nhân của nhà cầm quyền cọng sản trước dư luận. Trong từng lời nguyện của cuộc đốt nến, các lời ca tha thiết đã được cất lên: "Mẹ ơi, đoái thương xem nước Việt Nam, nhiều ai oán bất công lan tràn. Mẹ hãy giơ tay ban phúc bình an, cho Việt Nam qua phút nguy nan".- Nguồn: vietcatholic.net
......

Xả lũ “giết sống” ở Đắc Lắc: Phải có án cho những kẻ gây án!

Đáy trách nhiệm quan chức luôn là đỉnh phẫn uất của nhân dân. Giết sống!   Mùa mưa lũ 2013, người dân nghèo Đắc Lắc lại có thêm một bằng chứng không cần che giấu về cái đáy mà họ đang phải đối mặt. Cú xả lũ vào vùng trũng lòng dân của Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) vào giữa tháng 9/2013 là một chứng thực mang tính bất chấp như thế. Lũ cuốn trôi nhiều ngôi nhà chiều 17/9   Vụ việc nhẫn tâm này xảy ra tại địa bàn xã Cư K'bang, huyện Ea Súp, nơi có đến 11 người mất tích trong khi đi làm rẫy tại vùng giáp ranh với xã Ia Lơi. Theo tường thuật của báo Lao Động, trong số người mất tích, lực lượng cứu hộ chỉ tìm thấy thi thể một người chết treo trên ngọn cây, nhưng do nước chảy xiết nên vẫn chưa đưa được vào bờ.   Thống kê chưa đầy đủ cho thấy tại huyện Ea H'leo có 91 ngôi nhà bị ngập, 14 nhà bị cuốn trôi hoàn toàn, 3 nhà bị sập do mưa lũ. Nguyên nhân chủ yếu do việc xả lũ hồ chứa nước thị trấn Ea Đrăng. Một lần nữa trong không ít lần từ nhiều năm qua, vô cảm quan chức đã dồn tình cảnh dân chúng xuống những gì mà kịch tác gia vô sản Marxim Gorki đã thẳng thừng lột tả trong vở “Dưới đáy” của ông vào đêm trước Cách mạng tháng Mười Nga. “Dưới đáy” ở Việt Nam cũng là đêm không ngủ. Không một quan chức nào từ cấp địa phương đến ấp trung ương lại thuộc về số nạn nhân chỉ trong phút chốc đã bị mất toàn bộ tài sản nhỏ nhoi và miếng ăn còn sót lại, cũng đã không một hành động nào được các “đầy tớ” làm sáng tỏ cho những cái chết trong quá khứ để tránh thoát những cái chết vừa mới xảy ra. “Vô cảm” xem ra vẫn là từ ngữ nhẹ nhàng và lịch sự mà báo giới và dư luận dành để mô tả về quan chức thời nay. Phú Yên những năm trước đã là một điển hình về sự vô lương tâm chưa hề có đáy. Liên tiếp những cú xả lũ của Thủy điện sông Hinh và Thủy điện sông Ba Hạ đã làm cho gần hết Tuy Hòa ngập chìm trong biển nước. Một người đàn ông bị lật xuồng và một người phụ nữ khác bị lũ cuốn trôi. Nhưng đau đớn đến tận cùng là những nạn nhân tuổi còn đi học đã bị lũ cuốn phăng tuổi xuân khi dắt xe qua cầu. Khi nước lũ rút, hàng xóm tìm thấy thi thể ba người cùng một gia đình quấn chặt lấy nhau bằng dây. Thì ra trong phút lâm chung, những người hấp hối vẫn không muốn bị mất xác nhau. Những nén nhang và tiếng khóc thảm thiết của người dân huyện Đồng Xuân ở Phú Yên vẫn còn đó. Chết mà không biết vì sao sinh mạng lại bị kết thúc đột ngột đến thế, cũng không biết kẻ nào đã cướp đi đời mình mà không một lời tạ tội. Tội ác! Tất nhiên, EVN và nhà chức trách địa phương luôn có lý do để bao biện cho hậu quả kinh khủng trên, với điều thường được viện dẫn là do “hoàn cảnh khách quan bão lũ” mà khiến việc xả lũ là không tránh khỏi, nếu không muốn làm ảnh hưởng đến tính mạng của hàng ngàn hộ dân trong vùng trũng. Tuy thế, cũng như nhiều lần lũ hồ thủy điện bị xả đột ngột vào dân như trước đây, nhiều người dân Đắc Lắc cho biết đã không nhận được bất kỳ thông báo sơ tán, di dời nào từ cấp chính quyền địa phương. Vậy trách nhiệm cuối cùng thuộc về ai – chính quyền địa phương hay EVN? Giờ đây, sau tất cả những hậu quả khó tha thứ, giới quan chức mới như nén cười để bàn thảo với nhau về cái được gọi là “cần có quy chế phối hợp trong việc xả lũ”. Nhưng sau hàng loạt vụ xả lũ như một cách giết sống người dân, vẫn không có bất kỳ một quan chức nào bị đưa ra truy tố và xét xử. Mọi việc vẫn treo nguyên vẹn ở đó, hệt như dòng lũ trắng luôn treo lơ lửng trên đầu người dân vùng rốn lũ. Tội ác đã đến từ cấp độ không chỉ vô cảm, mà còn hơn thế nhiều, rất nhiều. Trước khi xả lũ vào vùng trũng nhân dân, Tập đoàn EVN đã từng bị xem là một trong những cái rốn “cặn bã” nhất của khối doanh nghiệp độc quyền và đặc lợi ở Việt Nam. Suốt trong những năm 2007-2008, doanh nghiệp được xem là “cậu ấm hư hỏng” nhưng cũng là đứa con cưng của Bộ Công thương đã làm nên một một kỷ lục ghê gớm về số lỗ do đầu tư trái ngành vào bất động sản, chứng khoán, để vào năm 2013, một báo cáo của cơ quan chức năng mới cho biết số lỗ còn treo mà EVN bị nhấn chìm trong đó lên tới hơn 34.000 tỷ đồng, tương đương với hàng trăm ngàn ngôi nhà tình nghĩa. Cũng từ khi trở thành “nạn nhân” của đầu tư trái ngành, EVN đã hóa thân như một trong những tác nhân ghê gớm nhất trút lỗ lên đầu người dân, với các chiến dịch tăng giá điện được tiến hành không ngưng nghỉ, liên tiếp gây sức ép lên đời sống dân sinh cùng kích động lạm phát. Dư luận cũng dội lên một nghi ngờ rất lớn là cơ quan chủ quản của tập đoàn này – Bộ Công thương – cũng đã không ít lần “đi đêm” cho những đợt tăng giá làm khốn đốn dân tình. Một lần nữa, giới báo chí phải thổn thức về điều được gọi là “trách nhiệm” của EVN với câu hỏi cay đắng: liệu EVN có nghĩa vụ gì đối với việc bồi thường về những tài sản bị phá hoại của người dân trong đợt xả lũ đột ngột và gây chết người thảm thương vừa qua ở Đắc Lắc? Và nếu trách nhiệm ấy được thực thi, liệu tập đoàn này có lấy đó làm cái cớ để một lần nữa “bù lỗ vào dân” như đã từng hành xử không nương tay trong mấy năm qua? Những năm qua, không một tiếng nói có trách nhiệm và đủ tự trọng nào được cất lên từ Bộ Công thương, Bộ Tài chính hay Chính phủ để kềm giữ hành động đổ lỗ lên đầu người dân của EVN. Thói vô lương tâm của quan chức vẫn luôn dẫn tới vô số trác táng trên bàn tiệc và những cuộc chơi bất tận thâu đêm, bất kể cảnh khốn cùng và bất chấp lời nguyền rủa từ những kẻ đóng thuế bất hạnh. Kết án! Với nhiều người dân và cả những công chức vẫn thê thiết trong thói quen cam chịu, âu đó cũng là bi kịch của một đất nước kém phát triển. Phát triển càng tụt hậu, đạo đức càng lụn bại thì càng khó có chuyện chịu trách nhiệm hành chính về những hậu quả đã quá đủ để kết tội hình sự. Người ta vẫn không thể quên hậu sự Bộ trưởng Giao thông Hàn Quốc đã phải từ chức chỉ sau vụ một cây cầu bị sập, hoặc Bộ trưởng Giáo dục Nhật Bản phải ra đi sau một vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra tại một trường học… Ở nhiều quốc gia phát triển, người ta luôn chứng kiến người dân sẵn lòng biểu tình để biểu thị sự phẫn nộ chính đáng trước những chính sách bất hợp lý và hậu quả xã hội mà giới quan chức gây ra. Vào đầu năm 2013, cuộc xuống đường của hàng chục ngàn người dân thủ đô Sophia ở Bulgaria phản kháng hành động tăng giá điện của hai tập đoàn điện lực tư nhân đã khiến chính Thủ tướng của quốc gia này phải nghẹn lòng từ chức. Nhưng với Việt Nam, vẫn chưa có một cuộc biểu thị phẫn uất tương xứng với quá nhiều hậu quả khủng khiếp về kinh tế và dân sinh, và vẫn còn lâu mới có được “văn hóa từ chức”. Tất cả vẫn đang bị kìm nén bởi chính những đạo luật về quyền tự do lập hội và quyền tự do biểu tình có lẽ còn lâu mới được đẻ muộn bởi bà mẹ Hiến pháp. Ở một đất nước được xem là “đang trên đường phát triển” như Việt Nam, người ta vẫn cố nén lòng nhẫn nhịn không thể hiểu nổi và còn chưa hồi kết. Tâm thế trầm cảm trùm mền không thể diễn tả ấy lại vẫn lắng đọng trong vô số hiện tồn ngổn ngang và vẫn ngày đêm hành hạ lương tâm của những người còn rơi rớt lương tâm. Nhưng cũng bởi chính tâm lý cam phận như thế của đại đa số người dân mà trong não trạng của những nhóm lợi ích đặc quyền và đặc lợi, ngay cả lương tâm cũng là một thứ có thể “ăn” được. Đó cũng là lời cảm thán chẳng đặng đừng mới đây của bà Nguyễn Thị Doan – Phó Chủ tịch nước – về chuyện “Ăn của dân không chừa thứ gì”, cho dù cách đây không lâu chính khách xót xa này còn giương cao khẩu hiệu “Dân chủ nước ta gấp vạn lần tư bản”. Xót xa thực chất phải cộng hưởng với cùng khổ không lối thoát. Dân chủ không phải và không thể là những từ ngữ mị dân xen giả dối, mà phải bắt nguồn từ chính miếng cơm manh áo của dân nghèo – điều mà tiền nhân của những người cộng sản là Hồ Chí Minh đã sống và làm đúng như thế, nhưng lớp hậu bối xem ra lại quá bất cẩn, giáo điều và giả tạo trong việc “học tập và làm theo” tấm gương của ông. Không thể nói khác hơn, những vụ việc vô lương tâm của EVN và ngành thủy điện đang đẩy trách nhiệm của giới quan chức xuống một cái đáy chưa tận cùng, đồng thời thúc tình cảm phẫn nộ của các nạn nhân lên đến cận đỉnh điểm. Hiện tình, cái được giới quan chức khối nội chính xem là “điểm nổ” chắc chắn đã tiến xa hơn nhiều so với khái niệm “điểm nóng” trước đây, biến hình tâm trạng người dân vào một cơn lũ mới với lưu lượng không thể tính được từ động lượng phẫn nộ, mà mức đỉnh của nó có thể dâng vượt mặt của giới chức chính quyền trong một tâm thế không còn gì để mất. Không thể nói khác hơn, một trong một số ít việc còn lại để hy vọng lấy lại những gì đã mất là phải mổ xẻ đến tận cùng hành vi bị coi là tội ác của EVN đối với nhân dân. Không cần và không còn thời gian để bàn về “quy chế phối hợp xả lũ” nữa. Mưa lũ vẫn đang và vẫn sẽ tiếp diễn, ập xuống từ trên trời nhưng cũng sẽ dội lên từ lòng đất. Sẽ còn những cái chết, nhiều sinh mạng bị đánh cắp và đánh cướp. Phải có án cho những kẻ gây án! P. C. D. Nguồn BVN  
......

Tuyên bố của Linh mục đoàn giáo phận Vinh

Về vụ trấn áp giáo dân tại Mỹ Yên Xã Đoài, ngày 16 tháng 9 năm 2013 Chúng tôi - Giám mục và Linh Mục Đoàn giáo phận Vinh, đại diện hơn 526.000 giáo dân giáo phận Vinh đang sống và làm việc tại ba tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình - theo dõi cách hành xử của chính quyền Nghệ An về vấn đề tôn giáo và nhân quyền trong thời gian qua, đặc biệt qua vụ đàn áp tại giáo xứ Mỹ Yên, tuyên bố:   1. Hiệp thông sâu xa, đồng quan điểm với Tòa Giám mục và Giám mục giáo phận trong các văn bản: Thông cáo số 01/13 – TG, ngày 05/9/2013 của Văn phòng Tòa Giám mục; Thư Chung ngày 06/9/2013 của Đức Giám mục giáo phận; Văn thư số 02/13 – TG, ngày 07/9/2013 của Tòa Giám mục Xã Đoài; Bản Tường Trình số 03/13 – TG, ngày 10/9/2013 và Văn thư số 04/13 – TG ngày 15/9/2013 của Văn phòng Tòa Giám mục, lên án bạo quyền, nhằm bảo vệ sự thật, bảo vệ nhân quyền vốn bị đàn áp trên địa bàn Nghệ An trong thời gian qua. 2. Vụ việc tại giáo xứ Mỹ Yên vừa qua là hậu quả của vụ gây rối tối 22/5/2013, tại giáo họ Trại Gáo do các “chiến sỹ công an” mặc thường phục ngăn cản người đi dự lễ, gây bất bình cho quần chúng và đánh thức bản năng tự vệ của nhân dân, dẫn đến những bức xúc bộc phát thiếu kiểm soát, gây hậu quả nghiêm trọng! Tất cả hậu quả quy về nguyên nhân, vì thế, trách nhiệm thuộc về những “chiến sỹ công an” và cơ quan chủ quản của các “chiến sỹ” ấy. 3. Việc tùy tiện bắt ông Ngô Văn Khởi và ông Nguyễn Văn Hải ngày 27/6/2013 không chỉ vô căn cứ, mà còn trái với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, phi đạo đức và trái truyền thống nhân ái của dân tộc. Đây là hậu quả của việc bao che hành vi sai trái của cán bộ công quyền và là nguyên nhân dẫn đến việc người dân tập trung ôn hòa đến UBND xã Nghi Phương, làm cớ để nhà cầm quyền dùng vũ lực và côn đồ trấn áp quần chúng. 4. Vụ đàn áp đẫm máu ngày 04/9/2013, tại giáo xứ Mỹ Yên là hành động bất nhân và trái pháp luật, do Công an Nghệ An dàn dựng công phu và tổ chức thực hiện. Chúng tôi lên án hành vi bạo lực đối với dân lành! Việc đột nhập nhà anh Nguyễn Văn Văn đánh và bắt người, phá tài sản, là vi phạm quyền bất khả xâm phạm chỗ ở (Điều 73 Hiến Pháp 1992, sửa đổi 2001), quyền bất khả xâm phạm thân thể (Điều 71 Hiến Pháp Việt Nam 1992 sửa đổi 2001), quyền sở hữu hợp pháp (Điều 58 Hiến pháp 1992, sửa đổi 2001). Đặc biệt, việc đập phá tượng thánh trên bàn thờ tư gia là hành vi phạm thánh, xúc phạm nghiêm trọng quyền tự do tôn giáo (Điều 70 Hiến Pháp Việt Nam 1992, sửa đổi 2001). Những hành động này hoàn toàn trái với luật pháp quốc tế về nhân quyền (Điều 1, 2, 3, 5, 9 và 12, Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền 1948, Việt Nam ký cam kết thực hiện từ ngày 20/9/1977; Điều 9, 17 và 19 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị 1966, có hiệu lực 1976 mà Việt Nam ký cam kết thực hiện từ ngày 24/9/1982). Mặt khác, qua vụ đàn áp này, Công an Nghệ An đã giẫm đạp lên Quốc huy Nhà nước khi phủ nhận giá trị pháp lý Giấy cam kết thả người của UBND xã Nghi Phương. 5. Nhà cầm quyền dùng báo đài và Công văn 139/UBND-NC ngày 08/9/2013 của UBND tỉnh Nghệ An để lấp liếm sự thật, vu cáo Giám mục, nói xấu hàng Linh mục, đánh lừa dư luận là đổ thêm dầu vào lửa và gây rất nhiều khó khăn cho việc đối thoại vốn được xây dựng công phu giữa giáo phận Vinh và nhà cầm quyền Nghệ An. Tóm lại, vụ đàn áp tại Mỹ Yên là do chính quyền tổ chức và trực tiếp chỉ đạo, nên chính quyền phải chịu toàn bộ trách nhiệm. Các Giám mục, Linh mục, bà con Giáo dân và Nhân dân trong vùng chỉ là nạn nhân của vụ đàn áp nên cần được bảo vệ. Chúng tôi hiệp thông sâu xa với Giám mục giáo phận của chúng tôi để bảo vệ sự thật, lên án bạo quyền và bảo vệ dân lành. Chúng tôi không ngừng yêu cầu nhà cầm quyền làm rõ trách nhiệm của các cán bộ và cơ quan liên quan đến vụ việc, đồng thời trả tự do cho ông Ngô Văn Khởi và Nguyễn Văn Hải. Trân trọng! Chúng tôi đồng ký tên Linh mục Gioan Nguyễn Hồng Pháp, Thư ký Hội đồng Linh mục Linh mục Phêrô Nguyễn Văn Vinh, Phó chủ tịch Hội đồng Linh mục Cùng với chữ ký của Đức Giám mục Phụ tá Phêrô Nguyễn Văn Viên, Đức Cha Phaolô Maria Cao Đình Thuyên và 199 linh mục Giáo phận Vinh.      
......

Đức Giáo hoàng Phanxicô thúc giục người Công giáo tham gia chính trị

Người Công giao không nên thờ ơ với chính trị – Đức Giáo hoàng Phanxicô nói – nhưng cần đưa ra các đề nghị, cũng như cầu nguyện cho các nhà lãnh đạo biết phục vụ lợi ích chung trong khiêm nhường và lòng mến. Trong bài giảng lễ thường hôm 16-9 tại nhà nguyện Santa Marta, Đức Giáo hoàng bác bỏ ý kiến cho rằng “một người Công giáo tốt không can thiệp vào các vấn đề chính trị”. “Điều đó không đúng. Đó không phải là con đường tốt - Theo đài phát thanh Vatican, Đức Giáo hoàng nói - Một người Công giáo tốt cần tham dự vào các vấn đề chính trị, cống hiến tất cả những gì tốt nhất có thể, nhờ đó những ai đang cai trị biết cách cai trị”. “Không ai trong chúng ta có thể nói: Tôi chẳng có gì để làm với chuyện này, để họ cai trị” – Đức Phanxicô nói với những người tham dự Thánh lễ. Thay vào đó, các công dân có trách nhiệm tham gia vào chính trị theo khả năng của mình, và bằng cách này họ chịu trách nhiệm về sự lãnh đạo của họ. “Chính trị, theo Học thuyết xã hội của Giáo hội, là một trong những hình thức đức ái cao nhất, bởi nó phục vụ lợi ích chung” – ngài giải thích – Tôi không thể phủi tay, phải không? Tất cả chúng ta cần phải cho đi một điều gì đó”! Ngài lưu ý rằng bình thường người ta hay chỉ trích các lãnh đạo của họ, than phiền về “những điều không đúng”. Thay vì chỉ than phiền, chúng ta cần phải cống hiến – ý tưởng, đề nghị và nhất là lời cầu nguyện của mình, Đức Thánh cha nói. Ngài nhìn nhận cầu nguyện là “phương thế tốt nhất chúng ta có thể làm cho các nhà lãnh đạo” và ngài trích thư thánh Phaolô gởi Timôthê mời gọi cầu nguyện cho các nhà lãnh đạo biết thay đổi và lãnh đạo vững vàng. vietnam.ucanews dịch từ Catholic News Agency Pope calls faithful to pray, participate actively in politics Pope Francis gives the homily during Mass in St. Peter's Basilica on July 7, 2013. Credit: Lauren Cater/CNA. Vatican City, Sep 16, 2013 / 11:48 am (CNA/EWTN News).- Catholics should not be indifferent to politics, Pope Francis said, but should offer their suggestions, as well as prayers that their leaders may serve the common good in humility and love. In his Sept. 16 daily homily at Santa Marta, the Pope rejected the idea that “a good Catholic doesn’t meddle in politics.” “That’s not true. That is not a good path,” he said, according to Vatican Radio. “A good Catholic meddles in politics, offering the best of himself, so that those who govern can govern.” “None of us can say, ‘I have nothing to do with this, they govern,’” Pope Francis told those present for the Mass. Rather, citizens are responsible for participating in politics according to their ability, and in this way are responsible for their leadership. “Politics, according to the Social Doctrine of the Church, is one of the highest forms of charity, because it serves the common good,” he explained. “I cannot wash my hands, eh? We all have to give something!” He noted that it is sometimes common for people to speak only critically of their leaders, to complain about “things that don’t go well.” Instead of simply complaining, we should offer ourselves – our ideas, suggestions, and most of all our prayers, the Holy Father said. Observing that prayer is “the best that we can offer to those who govern,” he pointed to St. Paul’s letter to Timothy inviting prayer for the conversion and strong leadership of those in authority. Even if they believe certain politicians to be “wicked,” Christians should pray “that they can govern well, that they can love their people, that they can serve their people, that they can be humble,” he said. At the same time, the Pope reflected on the role of those who hold political power, stressing the need for humility and love. Reflecting on the Gospel of the centurion who humbly and confidently asked for the healing of his servant, the Holy Father explained that “a leader who doesn’t love, cannot govern – at best they can discipline, they can give a little bit of order, but they can’t govern.” In addition, he emphasized, “You can’t govern without loving the people and without humility!” “And every man, every woman who has to take up the service of government, must ask themselves two questions: ‘Do I love my people in order to serve them better? Am I humble and do I listen to everybody, to diverse opinions in order to choose the best path?’” “If you don’t ask those questions, your governance will not be good,” Pope Francis continued. “The man or woman who governs – who loves his people is a humble man or woman.” Tags: Politics, Pope Francis
......

Những viên ngọc quí trong tù ngục

Ngày 2 tháng 9 đến rồi đi, để lại nỗi thất vọng trong lòng nhiều người. Theo sau chuyến đi của ông Trương Tấn Sang đến Hoa Kỳ hội kiến với ông Obama, trong giới blogger đã có không ít người hy vọng một giai đoạn mới trong hồ sơ nhân quyền Việt Nam bắt đầu. Đó là hy vọng giới lãnh đạo Việt Nam sẽ theo chân Miến Điện thả - nếu không tất cả thì cũng rất nhiều - tù chính trị nhân dịp ngày 2 tháng 9. Nhưng thay vì các tin vui về thái độ đối xử mới văn minh hơn, người ta chỉ thấy các cảnh bao vây các nhà dân chủ ngặt nghèo hơn và các đợt đàn áp tôn giáo mới từ Nam chí Bắc.   Nhưng cũng trong tháng 9 này, người Việt Nam cùng nhớ có ít là 5 sinh nhật trong tù của các anh chị Điếu Cày. Tạ Phong Tần, Nguyễn Tiến Trung, Lê Quốc Quân, Đậu Văn Dương; và 1 sinh nhật của anh Nguyễn Xuân Anh vừa ra tù. Những ngày đánh dấu thời điểm bắt đầu của 6 cuộc đời này và những cuộc đời khác nữa đang hy sinh trong tù ngục vì tương lai của người khác để lại trong chúng ta không ít khắc khoải. Ai trong chúng ta lại chẳng biết tình trạng xã hội bế tắc, đất nước suy đồi, nguy cơ mất dần đất nước vào tay Trung Quốc ngày càng rõ nét hiện nay cần phải được chấm dứt. Ai lại chẳng biết đây là những việc mà chính dân tộc Việt Nam phải đứng lên giải quyết chứ không thể trông chờ hay nhờ vả ai khác. Nhưng câu hỏi thách thức to lớn nhất vẫn là: AI TRONG CHÚNG TA SẼ ĐỨNG LÊN ĐẦU TIÊN để làm những việc cần thiết đó??? Xin thưa chính là những trái tim yêu nước, yêu người tha thiết đang ngồi trong tù ngục hiện nay! Những con người xem bề ngoài có vẻ bình thường ấy đã từng sống ngay bên cạnh chúng ta nhưng ít người nhận ra họ. Dưới sự cai trị nghiệt ngã và hung bạo của chế độ độc tài CSVN suốt 3/4 thế kỷ qua, ai nấy, dù già hay trẻ, đều biết loại chuyện gì sẽ ập xuống đầu những người dám đứng lên cảnh báo về những nguy hiểm cho đất nước, những đau khổ cho dân tộc, và quan trọng hơn nữa là chỉ ra nguồn gốc của các nguy hiểm đó chính là chế độ đang cai trị đất nước. Và không chỉ riêng họ, mà cả gia đình, bè bạn của những người nói lên tiếng lương tâm này cũng bị vạ lây. Và cũng từ 3/4 thế kỷ sống dưới sự trấn áp đến độ luôn tự kiểm duyệt suy nghĩ của chính mình đó, mà rất nhiều người trong chúng ta không hiểu nổi tiếng gọi lương tâm là gì mà lại đủ sức thúc giục những người dám đứng lên làm chuyện "điên rồ" ấy. Thật vậy, trong nhiều giai đoạn trong quá khứ, những người như nhà thơ Hữu Loan, nhà văn Trần Dần, nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, v.v... bị xem là "những anh dở hơi", "hâm", "mắc bệnh tâm thần". Nhưng những trái tim khát khao danh dự cho đất nước và nhân phẩm cho dân tộc này không chỉ bất chấp các đòn phép trấn áp của bạo quyền mà còn bất chấp cả ánh mắt ngờ vực của nhiều người chung quanh, để tập trung vào những mục tiêu mà họ muốn xả thân phục vụ. Họ là những Dương Kim Khải, Trần Thị Thúy, Lê Thị Kim Thu, Lê Thị Ngọc Đa,… những người dân bình thường nhưng quên cả những oan khuất của chính mình để giúp bà con dân oan khác đòi công lý, đòi lại miếng đất kiếm sống duy nhất của gia đình. Đây là những người cùng sống lê lết trên vỉa hè với các nạn nhân khác, cùng chịu những cú đòn dã man của công an, và nay đang bị các cai tù cố tình đày đọa hơn cả những tù nhân khác. Họ là những Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương,... những người xót xa trước cảnh các công nhân Việt đang bị chính chế độ của giai cấp Công Nông tiếp tay với tư bản nước ngoài hà hiếp, đánh đập, và ngay cả quịt lương. Nay trong lao tù, đảng của giai cấp Công Nông lại căm thù họ hơn xa cả mối thù tư bản trước kia. Những tin tức về các trận đánh đập và các căn bệnh trên người Đỗ Thị Minh Hạnh đang làm rơi nước mắt nơi những người còn lương tâm trên khắp thế giới. Họ là những Lm. Nguyễn Văn Lý, Ms. Nguyễn Công Chính, Lê Văn Sơn, Đặng Xuân Diệu, Nông Hùng Anh, Nguyễn Văn Duyệt, Thái Văn Dung, Nguyễn Văn Oai, Nguyễn Đình Cương, Trần Minh Nhật, Hồ Văn Oanh, Nguyễn Xuân Anh, Hồ Đức Hòa, ... những người chỉ muốn mọi người dân Việt dù theo tín ngưỡng nào cũng có quyền sống đạo và có thể góp phần băng bó lại xã hội đang tan nát, băng hoại về mọi mặt. Họ là những Cù Huy Hà Vũ, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Nguyễn Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha, Nguyễn Xuân Nghĩa, Nguyễn Đặng Minh Mẫn, Nguyễn Ngọc Minh,… những người đau thắt ruột gan nhìn từng phần đất, phần biển đảo rời khỏi thân thể tổ quốc. Không những thế, các ngư dân Việt bị giặc Tàu cướp bóc, đánh đập, bắn giết trên biển Đông. Rồi từng đoàn, từng vùng biệt lập của quân đội Tàu trá hình cứ mọc lên như nấm tại những nơi hiểm yếu của đất nước, kể cả trên "nóc nhà Đông Dương" và dọc theo biên giới. Những trái tim yêu nước này đã phải lên tiếng dù biết đang làm phật lòng giới lãnh đạo tại cả Hà Nội và Bắc Kinh. Họ là những Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, Trần Anh Kim, Lê Quốc Quân, Vi Đức Hồi,... những người thấy xa hơn tương lai tụt hậu và bần cùng của đất nước dưới ách cai trị độc tài hiện nay. Họ tha thiết kêu gọi dân tộc Việt hãy chọn một con đường mới cho Việt Nam. Hiển nhiên khi cái nhãn "tâm thần" không còn hữu hiệu như trong quá khứ nữa, ban tuyên giáo và báo đài của đảng đã thử dán lên những người Việt yêu nước này đủ loại nhãn hiệu xấu xa khác, như "những phần tử bất mãn", "những kẻ hám danh", "tranh đấu để kiếm thu nhập", "thi hành các chỉ thị của những thế lực thù địch nước ngoài",... Bên cạnh đó là những lời khuyên can ngon ngọt, như "yêu nước thế là tốt rồi, nay về đi để nhà nước lo", "chuyện ngoại giao lớn lao dân biết gì mà lo, hãy tin vào lãnh đạo", "tuổi trẻ hãy lo học hành và ngành nghề chuyên môn", "đất nước cần ổn định để phát triển",... Nhưng những lời này không làm rúng động hay lừa bịp được những con dân Việt nêu trên vì họ không chỉ nhớ mà còn dùng lịch sử Việt Nam để thuyết phục người chung quanh. Trong dòng lịch sử của dân tộc những lời xỉ vả và ru ngủ mà ban tuyên giáo đảng CSVN đang dùng đã xuất hiện vô số lần. Chắc chắn đã có những kẻ từng khuyên Trần Quốc Toản là còn nhỏ không nên lo chuyện đất nước, hay khuyên Phạm Ngũ Lão chỉ nên tập trung vào ngành nghề chuyên môn, chuyện quốc gia đại sự hãy để người khác lo. Chắc chắn chế độ nhà Minh từng phê phán cái làng của dòng họ Lê Lợi chỉ là đám phá hoại ổn định xã hội. Chắc chắn đã có những người từng tố cáo vua Quang Trung giữ ý đồ phá hoại quan hệ hữu hảo với Bắc Triều mà vua Lê đã dày công xây đắp với vua Thanh. Chắc chắn có những kẻ từng khuyên Ngô Thì Nhậm cứ nhắm mắt cầm chắc sổ hưu dù phục vụ triều đình nào cũng được. Chắc chắn đã có các quan tòa của chế độ thực dân Pháp từng lên án những người đòi chủ quyền cho Việt Nam là lũ lạm dụng quyền tự do dân chủ để tuyên truyền nói xấu chế độ, để âm mưu lật đổ, để khủng bố và phá hoại sự phát triển trong ổn định,... Và một điều nữa cũng đã trở thành qui luật: Trong suốt dòng lịch sử Việt Nam, sinh mạng dân tộc vẫn luôn phụ thuộc vào những con dân Việt như vậy. Chính họ, những con người bình thường nhưng ý chí cao vòi vọi và niềm tin sắt đá vào công lý, lẽ phải, và truyền thống dân tộc; đang sẵn sàng hy sinh bản thân họ cho niềm tin đó. Sự hy sinh này đang làm thay đổi suy tư của cả một dân tộc sau gần 7 thập niên bị đảng CS thuần hoá trong tư cách sống dưới cả gà vịt (nếu dùng từ ngữ của nhà văn Võ Thị Hảo). Con đường trước mặt cho dân tộc đã mở ra và đã được trả giá bằng những hy sinh cao quí. Đã đến lúc chúng ta, phần còn lại của dân tộc, mạnh dạn bước tới, theo gương những anh chị đã mở đường. Chúng ta sẽ tập trung với tất cả quyết tâm vào mục tiêu trước mặt là tương lai tự do, phú cường, nhân phẩm và hạnh phúc cho dân tộc, bất chấp các trò bạo hành và mọi loại chướng ngại khác dọc đường. Nguồn: viettan.org
......

Chuông hòa bình: Đầu tư cho giáo dục để ngăn ngừa chiến tranh

New York, USA – Hôm qua, ngày 18 Tháng 9 năm 2013,  Đánh dấu ngày Quốc tế Hòa Bình, Liên Hiệp Quốc hôm nay kêu gọi đầu tư vào giáo dục, khuyến khích trẻ em là những công dân toàn cầu hướng đến giá trị của lòng khoan dung và đa dạng.   “Tất cả các bé gái và bé trai xứng đáng nhận được một nền giáo dục chất lượng và có giá trị để giúp họ phát triển lên thành những công dân toàn cầu, chấp nhận tôn trọng sự đa dạng trong cộng đồng”. Tổng thư ký Ban Ki-moon cho biết trước khi rung lên tiếng chuông Hòa bình tại New York . Một món quà của Nhật Bản được treo trên một thanh gỗ trong một khu vườn ở phía trước trụ sở Liên Hiệp Quốc. Chuông Hòa Bình đã vang lên mỗi năm trong một cuộc kêu gọi trang trọng cho hòa bình thế giới, kể từ năm 1981, trùng vào ngày mở cửa tháng 9 hàng năm. Chủ đề của lễ kỷ niệm năm nay là: “Giáo dục vì hòa bình”. Hiện nay có 57 triệu trẻ em không được tiếp cận với giáo dục, và hàng triệu người cần được học tốt hơn. Ông Ban Ki-moon nhắc lại những lời của Malala Yousafzai, nữ sinh Pakistan và cũng là một thiếu niên hoạt động đã bị quân Taliban bắn khi tham dự các lớp học. Em nói: “Một giáo viên, một cuốn sách, một cây bút, có thể thay đổi thế giới”, và kêu gọi các chính phủ tăng đầu tư cho giáo dục. “Để giáo dục các trẻ em nghèo và thiệt thòi nhất đòi các nhà lãnh đạo chính trị phải mạnh bạo và tăng cam kết đầu tư tài chính”, ông TTK LHQ đã nói trong thông điệp của mình cho ngày Quốc tế Hòa bình như vậy. “Thực tế, viện trợ cho giáo dục đã giảm trong suốt một thập kỷ. Chúng ta phải đảo ngược sự suy giảm này, tạo ra các quan hệ đối tác mới, và mang lại sự chú ý nhiều hơn đến chất lượng giáo dục”. Ông Ban Ki-moon nhấn mạnh rằng các cơ quan của Liên Hợp Quốc đang làm việc trong môi trường xung đột đột để cung cấp cho trẻ em tiếp cận giáo dục. “Chúng ta đang xây dựng trường học, xây dựng chương trình giảng dạy, đào tạo giáo viên và cung cấp bữa sáng bổ dưỡng và bữa trưa ở trường học. Những sáng kiến ​​này có thể thay đổi cuộc sống của trẻ em và giúp giải quyết những nguyên nhân gốc rễ của xung đột”. Trong phát biểu của mình sáng hôm qua, ông Ban Ki-moon cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải tìm giải pháp cho cuộc xung đột hiện nay và đặc biệt là cuộc khủng hoảng kéo dài tại Syria, trong đó đã dẫn đến hơn 100.000 dân thường thiệt mạng và sự di cư của hàng triệu người. Ông Ban Ki-moon, Tổng thư ký LHQ đánh chuông Hòa Bình “Ngày Quốc tế Hòa Bình là một thời gian suy nghĩ – một ngày khi chúng ta nhắc lại niềm tin của chúng ta vào bất bạo động và kêu gọi một lệnh ngừng bắn toàn cầu”, ông TTK LHQ nói: “Có lẽ không nơi nào trên thế giới này cần thiết hơn Syria. Cái chết và đau khổ đã đi quá lâu. Tôi lặp lại lời kêu gọi của tôi đến tất cả các bên và đồng minh của họ để tìm ra một giải pháp hòa bình cho cuộc xung đột thông qua đàm phán”. Cũng phát biểu tại buổi lễ Chuông Hòa bình, thứ 68 tại Đại hội đồng, Tổng thống John Ashe cho biết hôm nay phải là một cơ hội cho các quốc gia phản ánh và ngăn chặn chiến sự. “Khi chúng ta nghe tiếng chuông này, chúng ta hãy nhớ rằng giáo dục là con đường dẫn đến sự tăng trưởng và phát triển của người dân và xã hội. Giáo dục là dạy giá trị của hòa bình, là một phương tiện phòng ngừa chiến tranh quan trọng và suy giảm xung đột”, ông nói. Để đánh dấu ngày Quốc tế Hòa bình năm nay, khoảng 500 học sinh trung học và sinh viên đại học, bao gồm cả những người tị nạn từ khắp nơi trên thế giới, sẽ chia sẻ quan điểm về chủ đề năm nay thông qua hội nghị truyền hình với các nghị sĩ trẻ tại Phái đoàn hỗ trợ Liên Hợp Quốc ở Haiti. Phái viên của ông Ban Ki-moon về Giới trẻ là Ahmad Alhendawi, và Chernor Bah người trong Ban Chỉ đạo sáng kiến giáo dục toàn cầu, cũng tham gia vào lễ kỷ niệm. Thụy Minh, VRNs viết theo un.org Nguồn: chuacuuthe.com
......

Phẩm cách của dân tộc

Hồi đầu tháng trước, tuần báo The Economist mới viết về việc quán McDonald's đầu tiên sắp mở tại Sài Gòn. Ai cũng biết McDonald là một nhãn hiệu quán “ăn nhanh” lớn, chuyên bán “hamburger,” tiêu biểu cho văn hóa ẩm thực của Hoa Kỳ. Chủ nhân tương lai McDonald ở Sàigòn là  Henry Nguyên là con rể của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng   Ðến thành phố lớn nào trên thế giới người ta cũng thấy hình ảnh chữ M cong cong của quán này, mầu vàng trên nền mái ngói đỏ. Họ có 35,000 quán ăn McDonald khắp thế giới. Tôi chỉ thấy ở Cusco, một thành phố du lịch tại Peru, họ không cho phép McDonald's cũng như Starbuck treo những nhãn hiệu lòe loẹt, quán nào cũng chỉ được đề tên giản dị như các cửa hàng ăn uống khác. Bài báo cho biết hãng McDonald's đã quảng bá việc mở quán ăn đầu tiên của họ ở Sài Gòn với một niềm hãnh diện, cho biết chủ nhân của cái quán McDonald's sắp mở là một nhà kinh doanh lớn, một công dân Mỹ gốc Việt. Thuở còn đi học, Henry Nguyên đã từng làm việc trong các quán McDonald ở Mỹ. Henry say mê McDonald, và đã nuôi ý định sau này sẽ làm chủ một cái quán tương tự ở quê hương cha mẹ mình. Bây giờ giấc mộng đó sắp thành sự thật. Ðúng là một hình ảnh lý tưởng, tiêu biểu cho “giấc mơ” của các thanh niên lớn lên ở Mỹ. Khi hãng McDonald's chọn Henry làm người mở quán ăn đầu tiên, theo bản thông cáo gửi báo chí, họ nêu lý do là họ nhận thấy ông ta có “một tập hợp lý tưởng của tài kinh doanh, thành tích kinh doanh đã tạo được, có lòng nhiệt thành và khả năng.” Báo The Economist nêu lên một chi tiết mà bài quảng cáo của hãng McDonald's đã quên không nhắc tới. Henry Nguyên là con rể của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng. Bài báo này giới thiệu với các độc giả, cho biết thêm: “Bố vợ của Henry Nguyên từ năm 2006 đã làm cho lòng tin tưởng của công chúng Việt Nam bị xoi mòn quá nhiều.” Các thành tích của ông Nguyễn Tấn Dũng được báo này kể ra sơ sài như sau: “Ông Dũng đã chỉ huy các vụ đàn áp những người chống lại ông, hoặc đòi tự do dân chủ, trong nhiều năm qua; thêm vụ phá sản của một công ty làm tầu thủy không trả được món nợ ngoại quốc 600 triệu đô la; và gần đây là tình trạng trì trệ của nền kinh tế khiến các nhà đầu tư nước ngoài hết tin tưởng.” Cũng trong bài báo này, The Economist liệt kê thành tích lo cho con cái của ông Nguyễn Tấn Dũng: “Con đầu là Nguyễn Thanh Nghị đứng xây tòa nhà Bitxco cao nhất Sài Gòn. Con rể là Henry Nguyên, không những là chủ nhân tương lai của quán burger mà còn từng làm giám đốc của IFB Holdings, đã làm chi nhánh của các công ty thực phẩm Pizza Hut cùng với Coffee Bean & Tea Leaf. Con gái là Nguyễn Thanh Phượng thì làm quản trị cao cấp của quỹ đầu tư Viet Capital.” Người Việt Nam còn biết nhiều thành tích khác nữa! Ngoài ông Nguyễn Tấn Dũng, bài báo cũng nhắc tới các “vương tôn công tử” khác đã được cha anh cất nhắc lên các chức vụ lớn và chỗ ngồi béo bở. Như năm 2011, cậu Nông Quốc Tuấn, con Tổng Bí Thư Nông Ðức Mạnh về hưu, chỉ làm bí thư tỉnh 5 tháng đã được đưa vào Trung Ương Ðảng. Năm 2007, Phạm Thanh Bình, chủ tịch công ty sắp phá sản Vinashin, đã đưa cậu con 27 tuổi lên làm phó chủ tịch một viện nghiên cứu chế tạo tầu thủy, rồi sau đó cậu được đưa ngay lên ba chức vụ quan trọng khác. Ông Bình còn đưa anh em rể (hoặc anh, em vợ) của mình lên các chức vụ quan trọng, qua mặt hội đồng quản trị. Tờ báo cũng không quên cô Tô Linh Hương, con gái ông Tô Huy Rứa, tốt nghiệp về báo chí, năm 2012 lên làm chủ tịch công ty xây dựng Vinaconex, bị tai tiếng quá nên mấy tháng sau phải từ chức. Dân Việt Nam thường nói: “Một người làm quan cả họ được nhờ.” Nhưng trong quá khứ, việc lợi dụng quyền hành để giúp bà con thân thuộc còn bị giới hạn bởi hai thứ: Luật pháp và Phong hóa. Về luật pháp, ngay dưới thời vua quan phong kiến, thân nhân của các người làm quan vẫn bị cấm không được kinh doanh trong phạm vi trách nhiệm của ông quan. Một người được cử làm chủ khảo kỳ thi mà có con cháu dự thi là phải xin ngưng (hồi tị). Các biện pháp đó nhằm tránh “quyền lợi công tư xung khắc” (conflict of interests), một quan niệm rất phổ cập ở các nước dân chủ tự do. Nhà văn Phan Khôi đã từng tố giác “dưới chế độ Hồ Chí Minh có những nhà văn vừa làm chủ khảo vừa dự thi các giải văn chương,” mà kết quả là chính họ được trao giải thưởng! Nhưng ngay trong thời phong kiến, luật pháp cũng không đủ chặt chẽ và bao quát để ngăn ngừa các vụ lạm dụng quyền lực cho vợ con, thân nhân của các quan làm giầu. Cho nên trong xã hội còn một mạng lưới thứ hai ngăn ngừa các “quyền lợi công tư xung khắc.” Ðó là phong hóa. Khi tất cả mọi người trong xã hội nhìn vào các hành động lạm dụng quyền hành với con mắt khinh bỉ, thì chính những kẻ có ý định lợi dụng cũng ngần ngại. Hoặc họ phải từ bỏ ý định xấu, hoặc phải giảm bớt việc lạm dụng, hoặc tìm cách che đậy các hành động của mình. Ở nước ta hiện nay, phong hóa đó đã bị chế độ cộng sản tiêu diệt. Người ta lạm dụng chức vụ để giúp con cháu, họ hàng làm giầu mà không cần che đậy, vì không hề biết hổ thẹn. Anh ngồi trên lạm dụng quyền lực, anh đứng dưới cũng làm theo. Từ trên xuống dưới không còn ai biết xấu hổ. Con cái thấy cha mẹ lợi dụng chức vụ làm giầu, lớn lên sẽ coi đó là luân lý bình thường! Ðứa nào không biết lợi dụng còn bị bạn bè chê là ngu dốt! Người chung quanh chứng kiến cảnh đó bao nhiêu năm nay, từ khi thời đại Hồ Chí Minh bắt đầu đã hơn nửa thế kỷ, cũng thấy quen dần và coi cảnh tượng đó là chuyện tự nhiên trong đời sống. Tâm lý “quen dần với cái xấu” phá hoại cho truyền thống của dân tộc. Óc trục lợi mỗi ngày càng phát triển trong cả xã hội. Người nghèo khó chỉ chăm chắm làm sao kiếm được đồng tiền nuôi gia đình. Người khá giả cũng chỉ lo kiếm thêm tiền để không thua kém người khác. Tiểu gia hay đại gia, ai cũng chỉ lo kiếm tiền mà thôi. Học sinh nhìn thấy thầy giáo, cô giáo quá túng thiếu, có lúc phải lợi dụng địa vị nhỏ nhoi của họ bắt các em phải “học thêm.” Khi lớn lên các em sẽ coi việc kiếm tiền là mục tiêu lớn nhất của cả cuộc đời. Nhưng dân tộc Việt Nam vốn không sống như vậy. Nguyễn Ðình Chiểu đã nhất định không nhận tiền do các quan cai trị người Pháp mang biếu. Người Pháp đã lễ phép giải thích rằng ở nước họ vẫn có tục lệ chính phủ trợ cấp các nhà văn lúc về già; họ chỉ đem phong tục đó áp dụng ở thuộc địa Nam Kỳ mà thôi. Nhưng Nguyễn Ðình Chiểu khẳng khái từ chối. Khi làm lễ truy điệu các chiến sĩ nghĩa quân nổi lên ở Cần Giuộc, cụ Ðồ Chiểu đã chỉ bày một cái bàn với chén nước, nén hương để quỳ lễ đọc bài văn tế. Tinh thần “trọng nghĩa khinh tài” này là một di sản tinh thần của dân tộc, chắc chắn chúng ta sẽ không bỏ mất. Nếu hiện nay nhiều người đã quên nền luân lý cổ truyền đó, cũng chỉ vì dân Việt Nam đã phải sống nửa thế kỷ dưới một chế độ phá hủy đạo lý cổ truyền để theo một chủ nghĩa ngoại lai vớ vẩn. Cần gây nên một phong trào phục hồi văn hóa, chắc chắn dân Việt Nam sẽ nhìn thấy chúng ta phải sống như thế nào mới thật là một cuộc sống đẹp đẽ, văn minh. Chúng ta phải gây ngay một phong trào như vậy. Ngay ở một nước tiến bộ kinh tế mà vẫn giữ được truyền thống như Nhật Bản, người ta cũng đặt vấn đề này. Năm 2006, cuốn sách bán chạy hạng nhất ở nước Nhật là một tiểu luận mang tựa đề Phẩm Cách Quốc Gia (Kokka no Kinkaku) của Mashahiko Fujiwara, bản tiếng Anh dịch là The Dignity of a State (số bán chỉ thua bản dịch cuốn truyện mới về Harry Potter). Trong vòng một năm người Nhật mua 2 triệu cuốn sách này. Có thể nói tác giả đã “lên án” tình trạng dân Nhật chạy theo văn minh Tây phương, nhất là văn minh Mỹ. Mashahiko Fujiwara (tên đọc ngược lại, theo lối Hán Việt là Ðằng Nguyên Chính Ngạn) kêu gọi người Nhật hãy trở lại với truyền thống cũ để khỏi “mất linh hồn.” Là một giáo sư toán, nhưng Mashahiko Fujiwara chống lại quan niệm sống dựa trên lý trí thuần túy của văn minh Tây phương, mà một hệ quả là tinh thần duy lợi. Ông cho là truyền thống Nhật Bản không sống như vậy. Tổ tiên họ sống bằng tình cảm, không quá thiên về lý trí. Họ trọng nghĩa, khinh lợi. Bây giờ, người Nhật sống ra sao? Trong một nửa thế kỷ qua, Fujiwara thấy đồng bào của ông chú trọng đến việc làm giầu nhiều quá, ảnh hưởng của kinh tế thị trường theo lối Mỹ. Nước Nhật đã thành công trên thị trường thế giới, nhưng họ đã bị ám ảnh quá nhiều về vật chất. Bây giờ là lúc họ đặt lại những câu hỏi căn bản, tự hỏi dân tộc họ phải sống như thế nào mới đúng. Nhưng dân Nhật Bản còn may mắn, vì nền giáo dục của họ còn coi trọng luân lý, theo truyền thống Khổng Mạnh. Chế độ cộng sản đã phá hủy nền tảng tinh thần của dân tộc Việt Nam. Bây giờ, kinh tế tư bản thời hoang dã còn tiếp tay phá hoại trên nền luân lý nhiều hơn nữa. Vì kinh tế tư bản đặt trên căn bản duy lợi, với giả thiết rằng khi tất cả mọi người cùng lo kiếm lợi, kinh tế sẽ phát triển. Nhưng chế độ tư bản ở các nước Tây phương ra đời cùng thời gian khi các định chế dân chủ tự do bắt đầu xuất hiện. Chính nhờ được sống dân chủ nên người ta biết dùng luật pháp đặt ra những giới hạn trên tinh thần duy lợi. Cũng nhờ nếp sống dân chủ cho nên những tiếng nói bảo vệ đạo lý được tự do phát biểu. Người dân được phê phán những hành động gian tham của những người cầm quyền và giầu tiền. Hiện nay nước ta đang thiếu cả hai điều kiện đó. Vì những kẻ cầm quyền đang dùng quyền hành để kiếm tiền, trục lợi. Họ vừa bất chấp pháp luật, vừa khinh thường dư luận. Họ bịt miệng dân không cho phê phán, đã kiểm soát hết các báo, các đài, lại còn đàn áp các mạng thông tin Internet, bỏ tù các blogger. Muốn phục hồi phẩm cách của dân tộc thì phải chấm dứt chế độ độc tài đảng trị này. nguồn: nguoi-viet.com
......

Hết khả năng thức tỉnh???

Chế độ Cộng sản xưa nay thường ngoác miệng tự xưng là "đỉnh cao trí tuệ loài người" với "nền dân chủ gấp triệu lần tư bản". Đó là kiểu cách "Xấu hay làm tốt! Dốt hay nói chữ! Dữ hay giả hiền!" Thực tế, trong lịch sử nhân loại, không có chế độ chính trị nào mù quáng mê muội bằng nó. Mù quáng vì tin tưởng rằng bạo lực và dối trá sẽ làm được việc, sẽ đưa đến chiến thắng, sẽ giúp CS tồn tại dài lâu. Mù quáng vì đẩy ba bản năng: sinh tồn, truyền sinh và nhất là quyền lực đến cực điểm, tới độ luôn tìm cách đoạt mọi sức mạnh, vơ mọi của cải, hưởng mọi lạc thú cho riêng mình mà không biết rằng việc chiếm trọn đó đã tiềm ẩn nguy cơ tự hủy và gây nên nguy cơ phản lực. Nó say sưa với sự thành công của các cuộc "cách mạng", với sự vững chắc của bộ máy nhà nước, với sự khít rịt của hệ thống pháp luật, với sự bao trùm của mạng lưới công an, với sự tuyên truyền của lực lượng báo chí, với sự nhồi sọ của giáo dục học đường.... mãi cho tới khi nó sụp đổ tan tành nhanh chóng như tại Liên Xô và Đông Âu cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90 của thế kỷ trước. Chó săn của Đảng (Babui - Danchimviet.info) Cái sự mù quáng mê muội này đang là căn tính của Cộng sản Tàu và nhất là Cộng sản Việt. Cộng sản Tàu mù quáng theo kiểu trình bày gian trá và lý luận ngụy biện để chứng minh Biển Đông là lãnh hải của mình xét theo lịch sử, bất chấp những bằng chứng và tài liệu chân chính trái ngược nơi nhiều dân tộc từ xưa tới nay. Mù quáng theo kiểu sử dụng từ quyền lực cứng (vũ khí hăm dọa) đến quyền lực mềm (ngoại giao lừa dối) để biến Đường lưỡi bò thành hiện thực, bất chấp sự tố cáo hay kiện tòa của của nhiều quốc gia lân bang. Mù quáng theo kiểu nuôi mộng thống trị thế giới và nô dịch nhân loại bằng chính sách xâm lấn thẩm nhập mọi nơi và bành trướng thế lực quân sự mọi kiểu mà không để ý sự cảnh giác và đề phòng ngày càng cao độ của năm châu hoàn vũ. Mù quáng theo kiểu đem những sản phẩm độc hại, những kiểu thói gian thương, những ứng xử bất nhân để làm hại tới sinh mạng, xã hội hay công việc của thiên hạ trong lúc chính nước Tàu, dân Tàu cũng đang là nạn nhân của các thứ như vậy: ô nhiễm môi trường, buôn gian bán lận, bạo loạn xã hội... Cộng sản Việt thì khỏi nói. Sự mù quáng mê muội, hay nói cách khác, sự tiêu biến khả năng thức tỉnh, là hằng tính ngày càng đậm nét nơi hàng lãnh đạo. Nó bộc lộ ra trên các phương diện chính trị đối ngoại lẫn chính trị đối nội, nơi lý thuyết luật pháp lẫn nơi thực tế hành xử. Về chính trị đối ngoại, cụ thể là với lân bang phương Bắc, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc, xem ra các lãnh đạo CS kể từ Hồ Chí Minh đến bộ sậu Ba Đình hiện thời không học được bài học lịch sử của tiền nhân, dân tộc cũng như của chính bản thân mình. Sự cuồng tín mê muội về tình đồng chí anh em, về mối tương trợ quyền lực, về tinh thần quốc tế vô sản đã khiến cho lãnh đạo Hà Nội khư khư ôm lấy anh Ba Tàu, để hắn ta siết trên đầu vòng kim cô "16 chữ vàng, 4 chữ tương, 4 chữ hảo" bất chấp kinh nghiệm ngàn năm Bắc thuộc đầy đau thương, kinh nghiệm cố vấn cải cách ruộng đất đầy tàn khốc, kinh nghiệm chiến tranh xâm lấn hải đảo và biên giới đầy tai họa, kinh nghiệm thẩm lậu vào kinh tế, chính trị, lãnh thổ, văn hóa, giáo dục quốc gia đầy tác hại... Đỉnh cao cho sự mù quáng mê muội này là Tuyên bố chung Việt-Trung 8 điểm và 10 văn kiện hợp tác (đúng ra là lụy phục) toàn diện ký hôm 21-06. Từ nay, "nhờ" đảng CS Ba Đình, nước Việt sẽ vĩnh viễn liên kết vận mệnh với nước Tàu để đến lúc nào đó, trở thành một tỉnh tự trị rồi một thành phần của đại quốc TH, như số phận đầy máu và nước mắt hiện nay của các dân tộc Mông Mãn Tạng Hồi. Về chính trị đối nội, qua gần 60 năm cầm quyền, chuỗi dài lãnh đạo từ Hồ Chí Minh đến Nguyễn Phú Trọng đã phạm từ sai lầm này đến sai lầm khác, từ tội ác này tới tội ác nọ đối với đất nước và dân tộc nhưng vẫn mù quáng u mê, thản nhiên vô cảm. Họ xem đồng bào và tổ quốc chỉ là con chuột bạch để làm những cuộc thí nghiệm cho chủ nghĩa cộng sản, cho chính sách cai trị mà tất cả chỉ dẫn đến tai họa, thảm cảnh và tệ nạn, dù vậy họ vẫn không tỉnh ngộ. Xem ra họ chẳng hề động tâm thổn thức trước sự tiêu diệt nông dân giỏi giang, sự trấn áp trí thức tài năng, sự khai trừ đồng chí tâm huyết, sự tàn phá cơ cấu làng xã tốt đẹp, sự tiêu trừ đạo đức gia phong thuần hậu sau vụ Cải cách Ruộng đất, vụ Nhân văn Giai phẩm và vụ Xét lại Chống đảng. Xem ra họ chẳng hề băn khoăn tâm trí trước sự khánh kiệt và khốn khổ của miền Bắc một đàng vì quản lý ngu dốt và thất đức, một đàng vì dồn lực phá hoại và xâm lăng miền Nam, cả hai đều là giang sơn của giống dòng Lạc Việt. Xem ra họ chẳng hề tự vấn lương tâm trước cảnh tan hoang của nền kinh tế toàn quốc sau "mùa xuân đại thắng", trước cảnh bỏ đi của hàng triệu đồng bào sau cuộc "giải phóng đổi đời", trước cảnh hỗn loạn của đất nước sau cuộc "xây dựng xã hội chủ nghĩa". Ngoại trừ ít trang bàu chữa bênh vực vài cán bộ cao cấp, toàn bộ tác phẩm "Bên thắng cuộc" đang lưu hành vừa là bức tranh minh họa rõ ràng những điều đó vừa là cáo trạng hùng hồn đối với bộ sậu lãnh đạo Hà Nội, một bản cáo trạng có thể tóm gọn trong mấy chữ: "ngu dốt, tham lam, bạo tàn, gian xảo"! Và mãi tới hôm nay, chính sách đối nội của nhà cầm quyền CS vẫn là xem quốc dân đồng bào như con cái để dạy dỗ, như con ở để sai khiến, như con tin để mặc cả, bất chấp thực tế là đất nước ngày càng hà khắc về chính trị, suy thoái về kinh tế, hỗn loạn về xã hội, điêu đứng về cuộc sống, băng hoại về đạo đức và bấp bênh về an ninh quốc phòng; bất chấp thực tế là khắp nơi trong nước đang đứng dậy ngày càng đông và ngày càng mạnh để đòi quyền làm người, quyền làm dân, và năm châu hoàn vũ đang lên tiếng để tố cáo và kết án liên tục việc vi phạm quyền công dân, quyền con người của Hà Nội. Trên lý thuyết luật pháp, lãnh đạo Ba Đình vẫn mù quáng để hình thành cho được một bản tân Hiến pháp tiếp tục giành quyền độc tài cai trị, độc hữu tài nguyên và độc dụng quân lực cho đảng, và như thế tiếp tục biến công dân thành thần dân, biến con người tự do thành nô lệ, bất chấp kiến nghị của các vị trí thức nhân sĩ, phê bình của các bậc lãnh đạo tinh thần, phản kháng của các nhà đấu tranh dân chủ và bất chấp những tai hại của chế độ độc đảng độc tài toàn trị. Cái Quốc hội gia nô -dù nghe bao tiếng lòng của nông dân, thấy bao tiếng khóc của oan dân, nhận ra cảnh ruộng vườn bị bỏ hoang vì canh tác thua lỗ, cảnh nhà đất nhân dân bị cướp đoạt vì cán bộ tham tàn- vẫn cứ bảo lưu Luật đất đai với nguyên tắc quái đản "nhà nước nắm toàn quyền sở hữu, người dân chỉ có quyền sử dụng", với kiểu cách uốn éo câu chữ để cuối cùng nhà nước vẫn là đại địa chủ độc nhất. Mặc cho các giáo hội lên tiếng đòi hỏi quyền độc lập trong tổ chức và tự do trong sinh hoạt để đóng góp điều hay lẽ phải cho đất nước, luật về tôn giáo vẫn siết chặt với Nghị định 92 trong ý đồ công cụ hóa hay ít nhất tê liệt hóa các thế lực tinh thần, thay vì thức tỉnh trước sự băng hoại lương tâm, tiêu tùng đạo đức, lụn bại văn hóa do chỗ các tôn giáo không được thong dong truyền bá, rao giảng giáo lý giải thoát con người, chấn hưng xã hội. Mặc cho các công dân trong nước và các công ty ngoài nước lên tiếng đòi hỏi quyền tự do ngôn luận và tự do internet hầu góp phần cổ vũ chân thiện mỹ cho cuộc sống, lành mạnh hóa bộ máy chính quyền, xây dựng một quốc gia văn minh tiến bộ, luật về thông tin vẫn siết chặt với Nghị định 72 trong ý đồ công cụ hóa các công ty dịch vụ tin học (vì buộc họ phải khai báo người sử dụng, do đó đồng lõa với chủ trương áp bức của nhà cầm quyền) và ngu đần hóa các công dân (vì khiến họ hoàn toàn mù mờ và bất động trước những sai trái và tội ác của lãnh đạo Việt cộng, trước những lộng hành và xâm lấn của lân bang Tàu cộng). Trên thực tế hành xử, đảng Cộng sản Ba Đình ngày càng điên cuồng dùng bạo lực và dối trá như một cách thức để cai trị nhân dân, quản lý xã hội. Nổi bật nhất là việc ngày càng gia tăng và củng cố lực lượng công an với việc phong hàng loạt tướng (ngành này hiện có 180 tướng, BBC 24-07-2013), dành cho nhân viên công an ngày càng nhiều đặc quyền (ví dụ có đề xuất cho phép họ bắn kẻ bị coi chống người thi hành công vụ, một số nhà báo phanh phui các vụ công an giao thông tham nhũng bị bắt và xử tòa, vô số công an giết dân giữa đường hoặc trong đồn vẫn ung dung an toàn hoặc án tù rất nhẹ, lắm côn đồ xã hội đen được ngành công an tuyển dụng như tay chân...). Nhiều đặc lợi cũng được dành cho họ và gia đình họ, như lương bổng cao, con cái được miễn học phí, thân nhân được trợ cấp hậu hĩ. Đang khi họ ngày càng tỏ ra hung hãn tàn nhẫn trong các vụ dân oan biểu tình đòi ruộng đất (như tại Văn Giang và Thanh Hóa...), tín đồ biểu tình đòi công lý (như tại Cồn Dầu và Mỹ Yên...), công dân biểu tình đòi dân chủ (như tại Sài Gòn và Hà Nội...). Cũng nổi bật là việc ngày càng gia tăng và củng cố lực lượng báo chí công cụ, bồi bút nô ngôn, dư luận viên đầy tớ, luôn sẵn sàng để tô son trát phấn cho đảng và nhà cầm quyền, vu khống và thóa mạ những công dân đối kháng, lèo lái và đầu độc công luận xã hội (báo đài Nghệ An nhân vụ giáo xứ Mỹ Yên là một thí dụ), bất chấp thực tế là lực lượng dân báo, lề trái ngày càng chiếm lĩnh các diễn đàn thông tin đại chúng với tất cả năng lực, uy tín và sự chân thực lẫn chân thành. Tiếng súng hoa cải của Đoàn Văn Vươn cách đây gần hai năm (dù chẳng làm chết ai) đã là lời cảnh báo cho chế độ về thói hành xử côn đồ cướp bóc của toàn thể bộ máy cai trị tại Hải Phòng. Nhiều người đã tưởng là nhà cầm quyền có phần thức tỉnh khi thủ tướng CS nhảy vào cuộc, với lời phê phán về hành vi của quan chức địa phương. Nhưng rồi anh em Đ.V.Vươn vẫn y án y tội trong phiên tòa sơ thẩm lẫn phúc thẩm. Tay đại tá từng dẫn quân cướp của phá nhà của họ thì được thăng tướng. Nay tiếng súng lục của Đặng Ngọc Viết vừa vang lên, cướp đi sinh mạng và sức khỏe của nhiều cán bộ nhà đất rồi của chính anh, cũng là lời cảnh báo cho chế độ cách mạnh mẽ hơn về chính sách chiếm đoạt đất đai của người dân với danh nghĩa "thu hồi" và trấn an cuộc sống của người dân với phương cách "đền bù" mà sau đó sẽ chỉ là điêu linh cơ cực. Nhưng liệu lần này đảng CS có thức tỉnh chăng, hay vẫn mù quáng lao vào con đường tiếp tục cướp bóc tài sản nhân dân để mau nhét cho đầy túi hầu sẽ an cư hưởng thụ một khi chạy ra nước ngoài lúc nhân dân đứng lên thanh toán chế độ? Trước mắt thì vẫn thấy truyền thông lề phải ra sức vu cáo cho anh Đặng Ngọc Viết đủ mọi chuyện (VOV Online 12-09-2013) và Quốc hội gia nô vẫn không nhân cơ hội này để xét lại toàn bộ vấn đề đất đai! Ban Biên Tập Bán Nguyệt San TDNL ngày 15-9-2013
......

LS Lê Quốc Quân được báo Pháp vinh danh

Luật sư đấu tranh cho nhân quyền Lê Quốc Quân vừa được tuần báo Nouvel Observateurs vinh danh là 1 trong 50 người góp phần làm cho bộ mặt nhân loại thay đổi trong tương lai. 50 người này là những nhà chính trị, kỹ nghệ gia, nhà khoa học và những nhà đấu tranh ở các quốc gia còn bị cai trị bởi những chế độ hà khắc. Từ Sài gòn, ông Lê Quốc Quyết, em trai luật sư Lê Quốc Quân trao đổi về sự kiện này với chúng tôi: “Đây là một tin cho gia đình cảm thấy được động viên phần nào đó nhân ngày sinh của anh Quân. Đó không chỉ là niềm khích lệ cho gia đình chúng tôi, mà nhiều anh em cũng cảm thấy được khích lệ, vì thực ra, trong Phong Trào ở VN, khi thế giới quan tâm đến cá nhân nào đó ở Việt Nam thì cũng là sự quan tâm chung của Phong Trào. Điều này rất tốt.   Hôm thứ Sáu 13 tháng 9 là sinh nhật của anh Quân, cũng là lúc mà anh bị tạm giam đúng 8 tháng 16 ngày mà gia đình vẫn chưa được gặp mặt. Việc họ giam giữ anh Quân chờ xét xử đã qua thời hạn. Việc này hết sức bất thường đối với một vụ án kinh tế và cả vụ án chính trị ở Việt Nam. Do đó việc khiếu nại của các tổ chức NGO về chuyện nhà cầm quyền Việt Nam giam giữ anh Quân một cách tùy tiện là hoàn toàn có cơ sở và đúng đắn. Có thể bây giờ anh Quân bị giam giữ mà chẳng có lệnh nào cả. Bởi vì các lệnh tạm giam anh ấy đã hết hạn từ thuở nào rồi. Và gia đình cũng không nhận được bất cứ thông báo nào cả.”
......

Thấu hiểu ý dân là thế

Một băng ghi âm về buổi nói chuyện kín trong dịp Tết âm lịch 2013 đang làm xôn xao dư luận. Kín vì người nghe được chọn lọc, không ghi âm. Ngay sau buổi nói chuyện ban tuyên huấn trung ương đảng CS có ý muốn thu hồi gấp 2  băng 4 mặt được sao chép, nhưng lại e sẽ chỉ  quảng cáo thêm cho buổi nói chuyện.   Đó là buổi nói chuyện vào ngày 19/2/2013 tại Câu lạc bộ Thăng Long Hà Nội của chủ tịch nước Trương Tấn Sang. Đây là Câu lạc bộ riêng của cán bộ cao cấp về hưu và tại chức của đảng CS, Mặt trận Tổ quốc trung ương. Chủ nhiệm Câu lạc bộ Thăng Long hiện là ông Vũ Oanh, một thời là ủy viên bộ chính trị, nay là Chủ tịch Hội khuyến học và Chủ tịch Hội người cao tuổi. Dư luận sau đó dịu đi vì người ghi âm là ông Đoàn Sự trong ban phụ trách Câu lạc bộ Thăng Long, ông cho rằng bài nói hay, bổ ích, nên phổ biến rộng. Và rồi báo Đại đoàn kết của Mặt trận ngày 6/9 cũng đưa tin như sau về buổi gặp này. Ông Tư Sang đã nói những gì tại Câu lạc bộ Thăng Long?  ngay lời mở đầu ông hứa nói thật mọi điều, không quanh co rào đón, một buổi tâm tình cởi mở đầu năm. Thật ra phần lớn ý kiến của ông là nói theo tập thể bộ chính trị, như viện dẫn « nguy cơ diễn biến hòa bình do đế quốc và bọn phản động ở nước ngoài tác động, tấn công vào chế độ XHCN ưu việt ». Ông than vãn về sự suy thóai trong đảng ngày càng phức tạp và nguy khốn, việc phê bình và tự phê bình không hiệu quả, chống tham nhũng lừng khừng, lối sống đồi trụy theo chủ nghĩa cá nhân ích kỷ hưởng lạc lan rộng, tệ nể nang phổ biến. Trên đà cởi mở tấm lòng, ông tâm sự : « những chuyện bê bối kéo dài, đến trẻ con cũng biết »; « Họ nói thẳng với chúng ta : ăn vừa thôi, các ông bà ơi ! Còn để lại cho dân với chứ ! ». Họ còn bảo chúng tôi « không làm được thì xuống đi để người khác làm, để chúng tôi lên làm ». Trên đà bi quan, cảm thấy bế tắc, ông thổ lộ : Thấy rõ khuyết điểm, sai lầm, chúng tôi đề nghị kỷ luật một số đồng chí thì không được ban chấp hành trung ương đồng tình, vậy làm sao mà sửa được sai lầm. Kỷ luật không nghiêm, đó là một bức xúc với dân. Kinh tế tụt lớn, GDP sẽ chỉ đạt thấp,  năm nay xuống 5,2%, rồi nợ xấu tích tụ lớn, cơ cấu lại Vinashin, Vinalines chưa biết ra sao cả. Vẫn chỉ những lời than. Rồi lại vài phút chân thật, ông tâm sự : chủ nghĩa cá nhân hoành hành, tham nhũng, tiêu cực tràn lan, suy thoái trong đảng, trong xã hội nặng nề thêm. Dân ta biết hết. « Anh xe ôm, bà hàng nước bên vỉa hè biết hết, họ kể ra đủ thứ ». Ông như muốn nhắn nhủ với các đồng chí cao cấp trong đảng của ông là chớ có chủ quan, không che giấu nổi con mắt nhân dân đâu, phải cẩn thận. Nhân dân ta tinh khôn lắm đó, chớ coi thường. Số đông người nghe chờ đợi ở ông những giải pháp hữu hiệu cho tình hình ngiêm trọng, cho đà suy thoái, cho lòng dân không yên, thì ông không hé ra một điều gì. Mọi người như bị hẫng. Sau những phút thật lòng về thực trạng bi đát, ngổn ngang, ở người lãnh đạo chỉ có những tiếng thở vắn than dài. Thế rồi trong đà tùy hứng, ông buột mồm, hé ra ước mong riêng thầm kín : chủ tịch nước kiêm luôn chức tổng bí thư đảng, là tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang, quân đội và an ninh -  như ở nước láng giềng Trung Quốc -, để có đủ sức đối phó với mọi tình huống phát sinh từ trong nước hay từ nước ngoài. Thế rồi…  hết. Ông chào, chúc Tết mọi người. Thật ra buổi nói chuyện nội bộ của ông Tư Sang từ hơn nửa năm trước chẳng có gì bí mật, cũng chẳng có gì là mới mẻ. Cánh tuyên huấn giáo điều chỉ lo sợ hão rằng phải chăng ông Tư đã đi quá xa tách mình ra với tập thể bộ chính trị. Không phải vậy. Ông chỉ nói lên tình thế chính trị nghiêm trọng của đảng và chế độ, cả xã hội đều cảm thấy rõ ràng trong cuộc sống hàng ngày, không thể che giấu ai. Ai cũng hiểu đảng hiện hoàn toàn tê liệt và bất lực, không có biện pháp nào để khắc phục. Ông chỉ buột mồm than thở, chứ ông vẫn như chưa nghe thấu tiếng dân. Bộ chính trị hiện nay giữa cơn bế tắc chỉ có một thái độ chung là ôm chặt những giáo điều đã phá sản để « kiên định », -  từ kiên định chủ nghĩa Mác Lenin đã hết sức sống, kiên định chủ nghĩa xã hội ảo tưởng mơ hồ, đến kiên định Điều 4 hiến pháp do đảng CS tự phong, chưa bao giờ được nhân dân thừa nhận dưới bất kỳ hình thức nào. Cho đến nay, sau chuyến đi Bắc Kinh rồi chuyến đi Washington, ông Tư Sang vẫn là một chính khách không rõ nét, thiếu phương hướng và quả đoán. Có nhà bình luận cho rằng ông và vài ủy viên bộ chính trị nữa đã có định hướng mới, « xoay trục sang phương Tây », và rồi đây sẽ có một chuỗi sự kiện đáng hoan ngênh theo định hướng mới, chứng minh cho sự xoay trục thức thời ấy. Được như vậy có gì đáng mừng hơn; nhưng e đó vẫn chỉ là mong muốn chủ quan của một số người lạc quan quá sớm, lấy mong muốn làm hiện thực. Nên nhớ, trong chuyến đi Bắc Kinh của chủ tịch nước, ông phó thủ tướng Hoàng Trung Hải và tướng Nguyễn Chí Vịnh – 2 nhân vật trung kiên của Trung Nam Hải  -  đã đóng vai trò tiền trạm cho một loạt hơn một chục văn kiện, hiệp định gắn bó về chiến lược toàn diện giữa 2 đảng, 2 nhà nước XHCN, để buộc ông chủ tịch nước phải chui vào tròng của họ, ký không sửa một dấu phẩy. Rồi trong chuyến đi Washington, khi ông Sang hội đàm với tổng thống Hoa Kỳ trong phòng bầu dục của Nhà Trắng, lại có mặt tướng Nguyễn Chí Vịnh và thêm tướng công an – tình báo Tô Lâm cũng là người của thế lực Trung Nam Hải. Tai mắt của Bắc Kinh bám sát đến tận đây thì ông Tư Sang có thể cựa quậy nói ra điều gì mới và khác ? Điều trên đây giải thích vì sao cuộc Đặc Xá nhân ngày Quốc khánh 2/9 đã không có một tù nhân chính trị nào được tự do trong số 15 ngàn người được trở về với gia đình, mặc dù điều ấy hoàn toàn nằm trong tầm tay của chủ tịch nước. Cuộc « xoay trục » nếu có sao mà nặng nề vất vả đến thế.  Chuỗi sự kiện mong đợi đã bị cắt đứt ở khâu nào vậy. Hãy cố chờ xem. Suốt trong buổi nói chuyện hơn 2 giờ, ông Tư chỉ có vài phút sự thật, thổ lộ là đã nghe thấy tiếng chê bai của người dân, của anh lái xe taxi, của bà hàng nước bên vỉa hè. « Các người ăn bẩn quá đáng rồi, phải nghĩ đến người dân nữa chứ », và «  không làm nổi thì xuống đi, để người khác làm thay ». Khả năng lắng nghe dân, thấu hiểu nguyện vọng của dân để hình thành đường lối chính sách cai trị của cả Bộ chính trị vẫn cực kỳ yếu ớt. Kiến nghị về dự thảo hiến pháp mới do 72 trí thức đề xuất, rồi Kiến nghị tiếp theo bác bỏ dứt khoát bản dự thảo được quốc hội thông qua mang 14.785 chữ ký, đó là đích thị tiếng dân đấy, lòng dân đấy, trí tuệ và tâm huyết cô đọng của dân. Nó là tích tụ tiếng nói, khát vọng của hàng vạn anh lái xe taxi, hàng vạn bà hàng nước, của hàng triệu lao động, công nhân, nông dân, tiểu thương tiểu chủ, các chủ doanh nghiệp bị phá sản hàng loạt đó, của hàng triệu tín đồ các tôn giáo khao khát tư do đó. Chính đó mới là điều ông Tư Sang cần nghe cho thủng, hiểu cho kỹ vì đó là kết tinh của sự thật, của tư duy trong sáng, của túi khôn dân tôc, của Minh Triết Việt Nam, là biện pháp cơ bản để đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, cũng là con đường thoát Trung, thoát cái bẫy của bành trướng, thoát khỏi giặc nội xâm tham nhũng dai dẳng, mở ra chân trời sáng rộng cho đất nước. Tập thể công dân có tâm và có tầm ấy đang thu hút thêm những tinh hoa có tư duy trẻ trung của thời đại, thành kho dự trữ nhân tài cứu nước và quản lý đất nước mới mẻ, để rồi đây thay cho lớp quan liêu tham nhũng, nghèo nàn tư duy, mụ mẫm vô cảm vì tham lam, phá của hiện nay. Hãy lắng nghe và nghiền ngẫm chính kiến lập luận của họ. Hiểu rõ lòng dân, nghe rõ tiếng dân, cảm nhận năng khiếu mẫn cảm chính trị của dân lành ưa điều thiện, chuộng công bằng xã hội, ông Tư Sang hoặc bất cứ ai trong bộ chính trị còn có tư duy độc lập, yêu nước thật lòng, thương dân thật lòng hãy nắm lấy cơ hội này, dựa hẳn vào khối trí thức dân tộc đang phấn đấu cho một cuộc cách mạng có hệ thống, một chuyển đổi lịch sử từ độc đảng toàn trị sang đa đảng – pháp quyền, dân chủ và tự do, mở ra kỷ nguyên mới cho đất nước. Đó là chiếc đũa thần kỳ có thật, đó là điểm tựa tạo thế chiến lược để sức mạnh dân tộc bật mạnh đúng hướng thời đại. Đó mới là gần dân, trọng dân, hiểu dân và cùng nhân dân hành động để cứu nước, cứu dân và cứu mình, viết tiếp lịch sử oai hùng của cha ông và mở đường sáng cho các thế hệ tiếp theo. Nguồn: VOA
......

Gửi những người đang sắp tự sát ở Việt Nam

Đây là những lời thật gửi cho những con người có thật đang nung nấu ý định tự sát ở Việt nam bằng tự thiêu, bằng súng đạn và bằng vô vàn cách khác. Thông thường, khi bị dồn vào đường cùng, con người ta mới phải tìm đến cái chết để đòi sự công bằng, giải tỏa nỗi oan ức, đó là điều phải đến khi người ta bị bế tắc hoàn toàn…   Sự việc anh Đặng Ngọc Viết nổ súng tiêu diệt những tên cán bộ đảng viên Đảng Cộng Sản mà anh căm thù ở Thái Bình và đã tự sát ngay sau đó trong ngày 11/09/2013, chính thức gióng lên hồi chuông cảnh báo về nạn tự sát của người dân thấp cổ bé miệng, họ không còn gì để mất, sẵn sàng tự thiêu để kêu oan, đổi mạng bằng cách trực tiếp nổ súng vào kẻ cầm quyền để tự đòi công lý cho mình. Trước hết, người viết bài này xin có một lời khuyên: Bạn không nên tự sát vì không có bất cứ thứ gì quý hơn cuộc sống của chính bạn. Nhưng nếu một khi bạn không còn cách nào khác, không còn con đường nào khác thì bạn hãy chọn cho mình một cái chết có ý nghĩa – đó chính là cách đánh đổi với giá cao nhất  – Và bạn có thể thanh thản vì cuối cùng nếu có phải hy sinh mạng sống thì bạn vẫn là người chiến thắng! Con giun xéo lắm cũng quằn – người xưa đã nói như vậy. Sức chịu đựng của con người có hạn, không thể làm con sâu cái kiến mãi được. Đến nước đường cùng, những người liều thân sẽ nghĩ: Đời người chẳng ai sống mãi được, đến khi quá già ắt con người phải chết, chết trước chết sau chẳng khác nhau là mấy, và họ sẽ làm liều… Trường hợp anh Viết lại tương đối khác, anh đã chọn con đường phản kháng bằng bạo lực và chấp nhận đánh đổi mạng sống của bản thân với vài viên cán bộ nhà nước. Đây có lẽ là một kế hoạch có tính toán nghiêm túc nhiều ngày của anh Viết trước khi hành động, và đó chắc chắn là một hành động có logic hợp lý, nhưng chưa hoàn toàn thông minh.  Những người như anh Đặng Ngọc Viết cần phải nhìn thấy rõ đâu là căn nguyên gây nên sự bất công của gia đình anh, kẻ xứng đáng phải bị anh giết chết là kẻ nào? Cứ cho là anh Viết đã giết chết được dăm mười tên cán bộ tham nhũng áp bức nhân dân tại Thái Bình, nhưng còn hàng trăm ngàn kẻ khác từ Bộ chính trị Trung ương ĐCSVN đến cấp thôn xã, phường ấp, khắp cả nước, vẫn đang sống nhởn nhơ trên mồ hôi xương máu đồng bào thì làm sao mà giết hết được chúng? Một khi đã dám chết như anh Viết thì nên chọn cho mình một cách đấu tranh khác có thể chết, nhưng rất nhiều khả năng không bị chết mà chỉ bị đàn áp, tù đày, nhưng cơ may chiến thắng là rất lớn đang rộng mở, đó là nhắm vào chế độ, nhắm vào cái nguồn gốc sinh ra những tên cán bộ tham lam tàn ác, là Đảng Cộng Sản Việt Nam, là nhà nước Việt Nam hiện nay do họ lãnh đạo. Những người gánh chịu bất công nếu nổi loạn làm liều, nổ súng vào bọn cướp nhà cướp đất, cướp miếng cơm manh áo của người dân cùng khổ như gia đình anh Đoàn Văn Vươn hồi năm 2011 hay anh Đặng Ngọc Viết vừa qua, chỉ có thể giết được vài con tép riu, trong khi đó những con cá mập đáng chết lại nhởn nhơ ngoài tầm với của các anh, và chúng mới chính là kẻ đáng phải ăn đạn nếu không thể khác. Đúng, nguyên nhân của mọi nguyên nhân, nguồn gốc của mọi nguồn gốc dẫn đến bất công, bất bình đẳng, kẻ ăn không hết người lần không ra, đó chính là nước ta có sự cầm quyền của một tập đoàn độc tài độc đảng, là bộ máy chính quyền từ trung ương đến địa phương gồm toàn cán bộ là những kẻ sâu dân mọt nước! Nếu ai đó bị oan ức, bị hà hiếp, bị cướp nhà cướp đất, bị ngược đãi.., hãy đừng làm đơn xin xỏ chính quyền làm gì cho mất công tốn sức vì rốt cuộc sẽ chẳng đòi được sự công bằng. Cán bộ nhà nước các cấp công khai bao che cho nhau vì chúng là một guồng máy Mafia gồm 100% đảng viên Đảng Cộng Sản từ trung ương đến địa phương. Chúng không thể triệt hạ nhau vì quan hệ móc xích “tiền – quyền” đã gắn chặt chúng với nhau thành một thể thống nhất… Vậy người dân phải nhắm vào những nhóm đầu sỏ, những kẻ có khả năng tác động vào hệ thống pháp luật và hệ thống công quyền ở thượng tầng bộ máy nhà nước. Muốn hạ đo ván chúng người dân phải làm gì, đây là câu hỏi rất dễ trả lời: Phải có đông người ủng hộ mình, phải có quốc tế ủng hộ mình và mình phải cương quyết, khôn khéo mới được… Nhìn lại những phản kháng thành công tại một loạt các nước Cộng Sản Đông Âu cách nay trên dưới 20 năm, ta thấy chỉ khi có hàng trăm ngàn, hàng triệu người nhất tề đứng lên thì chế độ Cộng Sản mới chịu sụp đổ. Nhưng nói thì dễ còn khi hành động lại nảy sinh muôn vàn cái khó, một khi những người đấu tranh chưa có sự ủng hộ của số đông. Những người đang có suy nghĩ trả thù rồi tự sát như anh Đặng Ngọc Viết hãy cố nghĩ rằng: Nếu dùng cái tay, ta chỉ diệt được vài con rận, còn nếu dùng cái đầu ta có thể giết được hàng trăm con hổ dữ. Và muốn làm vậy thì hoàn toàn không thể nóng vội. Đầu tiên ta hãy nói với những người anh em của ta, bạn bè của ta, người quen của ta (tất nhiên là nhất là cả những người ta quen trên mạng Internet) rằng hãy ủng hộ ta vì ta ghét lũ cán bộ ăn trên ngồi chốc, ghét những kẻ giàu có ngạo mạn khinh người, ta sẽ lên án bọn chúng mọi nơi mọi lúc có thể… Bước thứ hai, ta hãy nói với mọi người là ta sẽ đòi thay đổi chế độ, ta bí mật đi rải truyền đơn tố cáo nhà nước cầm quyền, kêu gọi người dân cất tiếng nói chống áp bức bất công… Những việc làm đó thực ra là quyền bất khả xâm phạm của con người, nhưng với chế độ Cộng Sản thì chúng quy kết là tội “tuyên truyền chống nhà nước”, vì vậy phải khéo léo mà hoạt động. Nhiều năm qua đã có những con người mạnh mẽ, dám hy sinh mạng sống, đã dũng cảm chống lại cường quyền như blogger Điếu Cày, tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, chị Bùi Thị Minh Hằng, cô Phạm Thanh Nghiên, cô Hồ Thị Bích Khương, sinh viên Phương Uyên, Nguyên Kha vv… Thực tế chứng minh rằng họ là những người hoàn toàn không sợ chết giống như anh Đặng Ngọc Viết. Nhưng họ đã chọn con đường khác thông minh hơn… Có người sẽ nói rằng làm như anh Viết mới đúng, còn làm như những nhà đấu tranh dân chủ kể trên chẳng bõ gãi ngứa cho chế độ. Đây là quan điểm rất sai lầm, vì những người như anh Viết chỉ giải tỏa cho bản thân chút căm giận ngắn ngủi, báo chí làm ồn ào lên, rồi sự việc sẽ lại chìm vào quên lãng. Nhưng chọn phương án hành động như các nhà đấu tranh ôn hòa đang làm mới khiến cho chế độ khiếp sợ và chỉ có con đường đó mới có thể thay đổi được gốc rễ vấn đề… Tuy nhiên nếu trong tay bạn đang có hàng chục ngàn tay súng, có vũ khí khí tài hiện đại để “chiến” thì vấn đề lại khác. Vậy những việc làm nhỏ lẻ như của anh Viết rất ít giá trị. Mặc dù có thể nó cũng khiến cho nhà cầm quyền phải có những phương án đối phó, đôi khi là nhả ra cho dân (người liên quan trong vụ việc) đôi chút quyền lợi. Nhưng về cơ bản trên toàn quốc thì đâu vẫn hoàn đấy mà thôi. Bằng chứng về vụ án Đoàn Văn Vươn còn đó, nghĩa là chẳng thể thay đổi được gì nhiều. Ấy là chưa nói đến chuyện nếu anh em nhà anh Đoàn Văn Vươn ngày đó mà bắn chết vài ba viên cán bộ công quyền thì chắc chắn có người trong nhóm của họ sẽ phải lãnh án tử hình… Mấy ngày gần đây trên mạng Internet cũng đã có nhiều phát biểu tung hô anh Đặng Ngọc Viết: Nào là anh hùng, nào là dũng cảm, nào là ghi tên vào lịch sử vv… Những hãy thử nhìn ra những nước và khu vực như Apganixtan, Iraq, miền nam Thái Lan, Pakistan vv.., liên tục có những vụ giết người hàng loạt nhằm vào cảnh sát, quân đội, chính quyền, nhưng họ không thể làm gì được hơn là vô tình giết hại những thường dân vô tội là chính, nhà cầm quyền tại các nước đó lại càng có cơ sở để lên án những người chống đối là những kẻ khủng bố… Nếu hàng loạt những vụ bắn giết xảy ra như anh Viết đã làm thì cũng chỉ làm xáo trộn chút nào xã hội và gây hoang mang cho bản thân những người dân lành vô tội, còn những kẻ có thực quyền thì chúng có đủ lực lượng bảo vệ đến từng cọng tóc, chẳng ai làm gì chúng được. Điều đó còn tạo cơ hội cho nhà cầm quyền có cớ thẳng tay giết hại những người đấu tranh. Như vậy nếu ai đã dám quên mạng sống của mình thì hãy dấn thân, vì họ coi như mình đã chết (thậm chí chẳng cần phải đến mức như vậy) nên hãy mạnh mẽ đương đầu với nhà cầm quyền. Họ chỉ cần biết học hỏi một số phương cách đấu tranh bất bạo động là sẽ có thể trở thành một ngôi sao thực thụ. Trong trường hợp bị bắt bớ tù tội thì đó vẫn sẽ là cơ hội cho họ tiếp tục đấu tranh tại các phiên tòa và ngay trong nhà tù như các anh Cù Huy Hà Vũ và Điếu Cày đã từng làm thành công… Những người sắp tự tử vì thất bại, vì bị áp bức, vì bị cướp bóc, vì bế tắc trong cuộc sống, hãy chọn cho mình con đường hành động dài hơi có ích cho đất nước là hơn. Không những họ sẽ không chết vì ngày nay chẳng ai có thể kết tội tử hình cho một người đấu tranh ôn hòa, mà họ còn có cơ hội ghi tên mình vào lịch sử. Rồi mai đây, khi nước nhà có tự do dân chủ, những con người như Cù Huy Hà Vũ, Điếu Cày, Phương Uyên, Nguyên Kha vv.., sẽ được xã hội tấn phong. Vẫn biết mọi người đều có quyền hành động theo ý mình muốn, ngay cả trong trường hợp tự sát. Nhưng theo bạn, giữa việc nổ súng giết vài tên cán bộ hạng ruồi muỗi và dấn thân vào con đường tranh đấu không bạo lực nắm chắc phần thắng, bạn nên chọn cách nào? Nguồn: lenguyenhong.blogspot
......

Pages