2013

Từ trường mặt trời sắp đảo cực

(VNC-TH) Từ trường mặt trời sẽ đảo cực trong vài tháng tới, nhưng sự thay đổi này không làm gia tăng những cơn bão mặt trời cực mạnh, hoặc các sự kiện khác gây tác hại lớn đến trái đất và cư dân. Từ trường mặt trời đảo cực là một hiện tượng bình thường xảy ra theo chu kỳ 11 năm, nhưng sự đảo chiều này không làm gia tăng quá nhiều những vụ nổ năng lượng mặt trời và phun trào plasma, hay còn gọi là phun trào nhật hoa. Theo các nhà nghiên cứu, không có gì đáng lo ngại từ sự thay đổi lớn sắp xảy ra trên mặt trời. Live Science dẫn lời Phil Scherrer, một nhà vật lý năng lượng mặt trời ở Đại học Stanford, Mỹ nói với Space: “Thế giới sẽ không kết thúc vào ngày mai”. Từ góc độ con người, ảnh hưởng của sự thay đổi cực từ có khả năng gây tác động nhẹ và chủ yếu mang lại lợi ích. Ví dụ sự đảo chiều cực từ khiến tấm chăn dòng điện, hay còn gọi là nhật quyển (một bề mặt có bán kính hàng tỷ kilomet hướng ra phía ngoài đường xích đạo mặt trời do từ trường gây ra) trở nên gợn sóng. Hiện tấm chăn dòng điện có tác dụng như một lá chắn tia vũ trụ, làm chúng lệch hướng khi xâm nhập vào phía trong hệ mặt trời. Một tấm chăn dậy sóng, uốn lượn là một lá chắn tốt hơn trước những hạt có năng lượng cao đến từ vũ trụ này. Các tia vũ trụ có thể làm hỏng tàu vũ trụ và làm tổn thương các phi hành gia trên quỹ đạo, những người không được bầu khí quyển trái đất bảo vệ. Sự sụt giảm mức độ tia vũ trụ có thể gây tác động “tinh tế” đến thời tiết trên trái đất. “Một trong những điều kiện hình thành mây và sét là quá trình ion hóa bởi tia vũ trụ trong bầu khí quyển trái đất. Vì vậy, khi cường độ tia vũ trụ thấp hơn nghĩa là có ít sét hơn xảy ra, làm hạn chế những cơn bão nguy hiểm”, Hoeksema nói. "Từ trường của mặt trời sẽ yếu đi và trở về giá trị 0, sau đó nó lại xuất hiện một lần nữa với sự phân cực ngược lại, điều này là hoàn toàn bình thường trong chu kỳ mặt trời”, nhà vật lý mặt trời Phil Scherrer nói. Từ trường mặt trời đảo cực khoảng 11 năm một lần, đó là tín hiệu báo động rằng đã đến giai đoạn đỉnh điểm của hoạt động mặt trời, gọi là “cực điểm mặt trời”. Sự đảo cực sắp tới sẽ đánh dấu điểm mốc chu kỳ mặt trời thứ 24.  
......

Chanh chuyên giết tế bào ung thư

Những điểm lợi ích của trái chanh : -Trái chanh là một sản phẩm kỳ diệu chuyên giết các tế bào ung thư  - Nó mạnh gấp 10.000 lần hơn liệu pháp hóa học (chimiothérapie)  - Tại sao chúng ta không biết gì về nó (cho đến giờ nầy)  - Bởi vì có những nhà bào chế (labo) thích bào chế ra một loại thuốc với thủ thuật hổn hợp nào đó để đem lại nhiều lợi nhuận cho họ hơn mà thôi.  - Từ đây về sau quí vị có thể giúp bạn bè nào cần bằng cách cho họ biết là nước chanh rất cần thiết để ngừa bịnh.  - Mùi vị của chanh rất là tốt và nó không có gây ra những tác dụng kinh khủng như các loại liệu pháp hóa học (chimiothérapie)  -Nếu có thể, quí vị nên trồng một cây chanh trong vườn của quý vị - Đã có biết bao nhiêu người chết trong lúc bí mật nầy (của trái chanh) được dấu kín để không đụng tới tiền lời hàng tỷ bạc của những nhà kinh doanh ? - Như quý vị đã biết, cây chanh thấp, lại không tốn chỗ bao nhiêu. Và được biết có nhiều loại chanh (như chanh giấy ?) - Quí vị có thể dùng chanh với nhiều cách khác nhau: quí vị có thể ăn cả võ, vắt chanh ra uống, uống nước đá chanh đủ kiểu, làm bánh v.v.v.v…… -Người ta cho rằng trái chanh hay nhiều thứ lắm nhưng quan trọng và hay nhất là hiệu quả của nó đối với ung nhọt và bướu. - Cây chanh là một vị thuốc đã chứng minh là trị được tất cả các loại ung thư. Có những người khác còn xác nhận là nó có một công dụng rất lớn trong mọi loại biến thể của các loại ung thư - Người ta cũng còn xem chanh như là một loại thuốc chống đủ loại vi trùng, chống các loại viêm do vi khuẩn, và nấm, rất hữu hiệu chống ký sinh trùng và sâu (mầm bệnh) trong máu, nó lại có thể điều hòa được huyết áp (quá cao hay quá thấp) chống áp suất cao và rối loạn thần kinh - Tài liệu nầy có được từ một trong những nhà bào chế thuốc lớn trên thế gìới, người nầy xác nhận là sau trên 20 lần thử nghiệm từ năm 1970 ở viện bào chế, mới thấy được là: Chanh tiêu diệt các tế bào tinh quái trong 12 loại ung thư, gồm cả ung thư đường ruột ung thư ngực, vú , ung thư tiền liệt tuyến, phổi, lá lách (tuyến tụy)… - Cây chanh và trái chanh được cho thấy có hiệu quả 10.000 lần hơn sản phẩm Adriamycin, một loại thuốc hóa học thường được dùng trên thế giới để làm chậm lại sự nẩy nở của tế bào ung thư - Và còn lạ lùng hơn nữa là loại nước chanh trị bịnh nầy chẳng những diệt được các loại tế bào ung thư mà không bao giờ ảnh hưởng đến các tế bào sạch.     Viện Khoa Học và Sức Khỏe, L.L.C. 819 N. Causez Strêt, Baltimore, MD. 1201
......

Con đường “xã hội dân chủ”

Bài thứ nhất   Ý tưởng cũ, bước đột phá mới   Sau cơn đau thập tử nhất sinh, người đảng viên Lê Hiếu Đằng xưa rất “trung kiên” đã viết liền ba bài, đề xuất việc ra khỏi Đảng Cộng sản, bỏ đảng một cách tập thể, công khai, để thành lập một đảng, Đảng Xã hội Dân chủ (hay Dân chủ Xã hội). Luật gia Lê Hiếu Đằng   Hẳn ông Lê Hiếu Đằng đã biết ý tưởng đưa thể chế chính trị Việt Nam sang quỹ đạo Xã hội Dân chủ, để thoát khỏi con đường Cộng sản một cách vừa triệt để vừa “êm thấm”, như các nước Bắc Âu, đã được nung nấu khá lâu [1] nhưng nay ông mới phát ngôn bởi theo ông lúc này “thời cơ đã đến”, ông và các chiến hữu đi bước đột phá rất mới. Trước khi giới thiệu ba bài viết cũ của nhiều tác giả liên quan đến con đường Xã hội Dân chủ cho Việt Nam xin được lưu ý mấy điểm: 1/ Từ ngữ Social Democracy một số tác giả dịch là Xã hội Dân chủ, ông Mai Thái Lĩnh và một số khác đề nghị dịch là Dân chủ Xã hội để đừng lầm với khái niệm “chủ nghĩa Xã hội dân chủ” (Democratic Socialism, đây là ý tưởng riêng của một số nước Cộng sản vì thực ra đã là Cộng sản thì phải chuyên chính, ngược với dân chủ). 2/ Ngày nay tuy không còn một chủ nghĩa nào có thể đóng vai trò một khuôn mẫu giáo điều, nhưng xây dựng mỗi công trình lớn đều cần có một “triết lý” làm cơ sở huống chi sự nghiệp phát triển của một quốc gia? Ngày nay, xu thế Xã hội Dân chủ là chân lý phổ biến nhất, thành công nhất trên thế giới. “Hiện nay, Quốc tế Xã hội Chủ nghĩa (Socialist International, viết tắt: SI) là một tổ chức của các đảng phái chính trị lớn nhất thế giới với 143 thành viên và đại diện là các tổ chức, các đảng theo theo lý tưởng Xã hội Dân chủ ở 140 quốc gia khắp các châu lục” […]. “Sau năm 1945, các đảng XHDC thường xuyên cầm quyền ở tất cả các nước công nghiệp phát triển, các nước Tây Âu, Bắc Âu, đã góp phần quyết định vào việc xây dựng thành công nhà nước pháp quyền dân chủ, xã hội công bằng văn minh và thịnh vượng” [2]. “Khi chủ nghĩa xã hội bạo lực đi đến sơn cùng thuỷ tận, thì chủ nghĩa xã hội ở Tây Âu và Bắc Âu lại giành được thành công cực lớn” […]. “Thuỵ Điển là tấm gương của chủ nghĩa xã hội dân chủ, kinh nghiệm của Thuỵ Điển có giá trị phổ cập thế giới, là cống hiến vĩ đại cho văn minh nhân loại”. [3] 3/ Tuy về gốc gác, con đường Dân chủ Xã hội bắt nguồn từ Quốc tế II, anh em sinh đôi với Quốc tế III Cộng sản, song đó là con đường mở, đã dẫn đến sự đoạn tuyệt hoàn toàn với những nguyên lý sai lầm Mác-xít. “[…] phong trào XHDC ngày nay đã được giải phóng khỏi sự ràng buộc truyền thống vào ý thức hệ tư tưởng” […]. “Họ hoạt động không theo chủ thuyết, hay vì chủ thuyết, mà vì con người, vì sự phát triển hài hòa giữa kinh tế và xã hội, vì sự bảo vệ và phát triển hài hòa quyền lợi của mọi thành viên trong xã hội” [2] 4/ Phan Châu Trinh chính là nhà “Dân chủ Xã hội” đầu tiên mang màu sắc Việt Nam, không gợn chút ảnh hưởng sai lầm nào của chủ nghĩa Mác. “Phan Chu Trinh thuộc những nhà DÂN CHỦ XÃ HỘI tiên phong, một chủ nghĩa dân chủ xã hội mang dấu ấn Việt Nam, sinh ra từ điều kiện Việt Nam. Cái chủ nghĩa xã hội nhân đạo mà ta đang định hướng về Bắc Âu để kiếm tìm thì nay chẳng những không phải tìm đâu xa, mà còn sẵn có một phương sách thích hợp hơn với dân với nước ta nữa”[4]. “Cũng đau lòng vì cảnh đất nước trong vòng nô lệ, cũng một môi trường trưởng thành là Paris nước Pháp, lại cũng yêu lý tưởng xã hội đến say mê, vậy mà khác với Nguyễn Tất Thành, Phan Chu Trinh không sa vào chủ nghĩa chuyên chính. Trước sau trong tâm hồn nhà nho cách mạng vẫn thắp sáng một ngọn đèn dân chủ” [5]. “Trong khi những người xã hội chủ nghĩa ở Pháp vẫn còn bị ràng buộc ít nhiều với chủ nghĩa Marx thì quan niệm về chủ nghĩa xã hội của Phan Châu Trinh lại không có dính dáng chút gì với chủ nghĩa Marx. Không có đấu tranh giai cấp, không có sự lên án đối với chế độ tư hữu, và do đó cũng không có chủ trương quốc hữu hoá.” [5] 5/ Con đường “Xã hội Dân chủ” cho Việt Nam hoàn toàn không mâu thuẫn hay hạn chế những tư duy khác, những con đường khác, nếu cùng dẫn đến một đích chung. Chính Phan Châu Trinh chủ trương các cánh tả, cánh hữu đều phải cùng tồn tại. Đảng Dân chủ Xã hội không bài bác bất cứ đảng phái nào, kể cả hai thái cực Cộng sản và Chống Cộng, vấn đề là một đảng nào đó có ra đời được không, có được đông đảo nhân dân ủng hộ hay không là do sức sống của bản thân đảng đó quyết định. Xin nói ngay rằng chúng ta cứ bàn vấn đề đa đảng thoải mái vì Hiến pháp và Luật Việt Nam (ngay cả điều 4) không cấm đa đảng, và chính Trung Quốc Cộng sản cũng đang có 7-8 đảng kia mà, tất nhiên ta cần đa đảng thật sự chứ không cần đa đảng cuội như họ. 6/ Bàn về khả năng thành công của một con đường hay một lộ trình, tôi nhớ đến một quy luật mà tôi nhận thức được khi còn đi học. Trong các hiện tượng vật lý, hóa học, hay tiến hóa sinh học, nếu việc chuyển từ trạng thái A đến một trạng thái B nào đó có nhiều con đường thì bao giờ thực tế cũng “chọn” con đường nào có tiêu hao năng lượng thấp nhất, phải cung cấp năng lượng ít nhất! (Thế giới vô sinh cũng “khôn” đáo để!). Muốn đánh đổ một khối đá lớn không nhất thiết phải đập thẳng vào khối đá ấy nếu có giải pháp ít tốn năng lượng hơn mà đạt cùng hiệu quả, làm đúng cách có khi “bất chiến tự nhiên thành” là do biết “chiến” vào nơi yếu nhất của đối tượng. Bậc anh hùng tất nhiên cần tiết tháo và đức hy sinh, nhưng Chính trị lại khác. Chính trị là một nghệ thuật. Yếu muốn thắng mạnh thì nghệ thuật lại càng phải cao, cổ nhân dạy thế. Chỉ 16 chữ vàng, quan hệ 4 tốt và tình hữu nghị, chữ nghĩa mềm như bún mà buộc chặt cả một Đảng Cộng sản không biết cựa quậy ra sao, đó là “nghệ thuật” của kẻ xâm lược. Chỉ việc sang Thái Lan trao “Kiến nghị 258” của các blogger trẻ cho các tổ chức quốc tế mà mở được một bước đột phá về nhân quyền có hiệu quả thực tế, đó cũng là nghệ thuật. Lê Hiếu Đằng vận động bỏ Đảng Cộng sản để tham gia một “đảng anh em” là Đảng Dân chủ Xã hội, rất ôn tồn chững chạc và “hữu nghị” mà hiệu quả chưa thể lường trước, đó cũng là nghệ thuật. Cuộc chiến dân chủ hóa cũng như mọi cuộc chiến, phải gồm nhiều binh chủng, mỗi binh chủng có chức năng riêng, phương pháp riêng. Nếu anh lính pháo binh hay lính quyết tử lại trách sao “đội quân tóc dài” không đánh địch giống mình thì thật hài hước. Có việc người dân chủ trong nước chưa nên làm hoặc chưa thể làm, dành việc ấy cho anh em ngoài nước, ngược lại có việc chỉ người trong nước nên làm, làm giống nhau nhiều khi hỏng việc. Nhiều việc nhận thức giống nhau nhưng cách làm phải khác nhau. 7/ Tác động đúng “huyệt”, đúng nền tảng thì sai một ly đi một dặm. Nếu năm 1920 Nguyễn Ái Quốc đã chuyển từ Quốc tế II sang Quốc tế III chỉ như một “cú nhích chân” nhẹ nhàng tại hội nghị Tours [6], để “đi một dặm” đến cuộc khủng hoảng toàn diện cho Dân tộc hôm nay, thì hiện nay sao ta không biết “nhích chân” rất “nhẹ nhàng” từ Cộng sản Quốc tế III trở về Quốc tế II, với nội hàm hiện đại, của con đường Dân chủ Xã hội mà thế giới văn minh đã kiểm chứng? Song chúng ta không hề ảo tưởng rằng sự “nhích chân” tưởng như nhỏ nhẹ và đơn giản này sẽ dễ dàng. Đừng quên Đảng Cộng sản không sợ các đế quốc to hay các “thế lực thù địch”, không sợ những đao to búa lớn, mà chỉ sợ nhất “người anh em sinh đôi” là phong trào Dân chủ Xã hội của Quốc tế II mà họ gọi là “chủ nghĩa xét lại hiện đại”, vì chỉ có đảng Dân chủ Xã hội mới là đối thủ có thể giành mất quần chúng của họ trong nước Việt Nam này. Đọc bài “Xây dựng Đảng ta thật vững mạnh” của ông Nguyễn Đức Bình tháng 2-2006 đủ biết Đảng Cộng sản ghét (và e sợ) “người anh em” Quốc tế II như thế nào. Nhưng ghét là một chuyện, bây giờ Đảng Cộng sản có chống được hay không, là chuyện… hãy đợi đấy! H. S. P. (16/8/2013) [1] Lê Bảo Sơn - Phan Trọng Hùng, “Năm nhà trí thức phát biểu về “Con đường xã hội – dân chủ” ở nước ta”,http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=5273&rb=0401 [2] Huệ Đăng, “Xã hội Dân chủ là xu thế ngày nay”, http://thongluan.co/vn/modules.php?name=News&file=print&sid=499 [3] Tạ Thao, “Mô hình chủ nghĩa xã hội dân chủ và tiền đồ Trung Quốc”,http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=10006&rb=0402 [4] Hà Sĩ Phu, “Tư tưởng và dân trí là nền móng xã hội”,http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=10080&rb=0306 [5] Mai Thái Lĩnh, “Tìm hiểu quan niệm chính trị của Phan Châu Trinh”,http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9307&rb=0306 [6] Hà Sĩ Phu, “Xưa nhích chân đi, giờ nhích lại”http://www.hasiphu.com/ll4.html nguồn:boxitvn.blogspot.com
......

Đồng khai thác Biển Đông : Âm mưu độc chiếm của Trung Quốc

Cách nay hơn 30 năm, lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình từng đưa ra phương châm « gác tranh chấp, đồng khai thác » để xử lý các tranh chấp chủ quyền với các láng giềng. Mới đây, quan điểm này đã được Bắc Kinh nêu bật trở lại và được ngành ngoại giao cũng như truyền thông Trung Quốc đồng loạt phô trương. Quan điểm của Trung Quốc nghe rất xuôi tai, nhưng Bắc Kinh lại đòi chủ quyền ngay cả tại những vùng thuộc về nước khác- Reuters   Cách nay hơn 30 năm, lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình từng đưa ra phương châm « gác tranh chấp, đồng khai thác » để xử lý các tranh chấp chủ quyền với các láng giềng. Mới đây, quan điểm này đã được Bắc Kinh nêu bật trở lại và được ngành ngoại giao cũng như truyền thông Trung Quốc đồng loạt phô trương. Tuy nhiên, trong bối cảnh Bắc Kinh đã công khai dùng đường lưỡi bò để khẳng định chủ quyền Trung Quốc trên hầu như toàn bộ Biển Đông, lời kêu gọi đồng khai thác đã vấp phải nhiều phản ứng hoài nghi. Về mặt hình thức, phải nói là quan điểm của Trung Quốc nghe rất xuôi tai, vì Bắc Kinh cho biết là họ sẵn sàng đưa vào diện đồng khai thác những vùng mà Trung Quốc có chủ quyền. Vấn đề tuy nhiên là Bắc Kinh lại khẳng định chủ quyền ngay cả tại những vùng mà theo luật lệ quốc tế thuộc về nước khác, và luôn luôn cho biết là họ không khi nào từ bỏ chủ quyền đó. Mới đây, chính nhân vật số một hiện thời của Trung Quốc là Tập Cận Bình đã nhắc lại phương châm này. Theo Tân Hoa Xã, hãng tin chính thức của Trung Quốc, nhân một hội nghị của Bộ Chính Trị đảng Cộng sản Trung Quốc (31/07/2013), ông Tập Cận Bình đã tuyên bố rằng Bắc Kinh « sẽ tuân thủ chính sách gác tranh chấp và thực hiện phát triển chung trong các khu vực mà Trung Quốc có chủ quyền ». Chủ trương gác tranh chấp để đồng khai thác trên đây không phải là một ý kiến mới, mà chỉ lập lại về căn bản đề nghị từng được cố lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đưa ra vào cuối thập niên 1970, đầu thập niên 1980 khi nhắc đến các tranh chấp giữa Bắc Kinh và các láng giềng, từ các nước Đông Nam Á cho đến Nhật Bản hay Ấn Độ. Trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng có những động thái hung hăng nhằm áp đặt các yêu sách chủ quyền của họ trên cả hai vùng Biển Đông và Biển Hoa Đông, tuyên bố của ông Tập Cận Bình có thể được xem là thể hiện một sự chuyển đổi chính sách sang một hướng ôn hòa hơn. Theo một số nhà phân tích, có lẽ Trung Quốc muốn xoa dịu các láng giềng vì lẽ các hành động cứng rắn của Bắc Kinh, đặc biệt trên Biển Đông, đã ngày càng xô đẩy các nước nhỏ trong vùng có tranh chấp với Trung Quốc – Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei – xích lại gần Mỹ để mưu cầu một sự can thiệp nhằm giải tỏa áp lực từ cường quốc phương Bắc. Sách lược giai đoạn trong chiến lược thâu tóm Biển Đông Tuy nhiên, nếu xem kỹ các phát biểu của ông Tập Cận Bình với các thành viên Bộ Chính trị đảng Cộng sản, tức là cơ chế lãnh đạo Trung Quốc, thì rõ ràng là chủ trương ‘gác tranh chấp, đồng khai thác’ chỉ là một sách lược giai đoạn trong chiến lược của Bắc Kinh nhằm thâu tóm toàn bộ Biển Đông. Bên cạnh lời lẽ đầy tính chất ôn hòa như là Trung Quốc sẽ « sử dụng biện pháp hòa bình và đàm phán để giải quyết tranh chấp và phấn đấu để bảo vệ hòa bình và ổn định », lãnh đạo Trung Quốc vẫn xác định rằng nước ông sẽ « không bao giờ từ bỏ quyền lợi chính đáng, cũng như các lợi ích quốc gia cốt lõi của mình ». Trong một bài phỏng vấn dành cho Báo Giáo dục Việt Nam ngày 07/08/2013 vừa qua, Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ Việt Nam, một chuyên gia nghiên cứu kỳ cựu về Biển Đông, đã nhấn mạnh đến lời cam kết không từ bỏ « lợi ích quốc gia cốt lõi » trong phát biểu của ông Tập Cận Bình. Theo ông Trần Công Trục : « Ông Tập Cận Bình nêu ra phương châm này với ngôn từ mạnh mẽ hơn, rõ ràng hơn so với những gì lãnh đạo Trung Quốc trước đây đã nói : "Chủ quyền thuộc TQ, gác tranh chấp, cùng hợp tác". Điều đó cho thấy chiến lược độc chiếm Biển Đông thành ao nhà của Trung Quốc vẫn không có gì thay đổi, thậm chí đang được đẩy mạnh ».  Đối với ông Trục, trong bối cảnh Bắc Kinh khẳng định rằng quyền lợi hợp pháp của họ ở Biển Đông bao gồm 2 quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam cùng với đường lưỡi bò chiếm 85% diện tích Biển Đông, thì bản chất tuyên bố của ông Tập Cận Bình « hoàn toàn không phải hợp tác cùng khai thác “trên vùng biển chồng lấn hình thành trên cơ sở các yêu sách chủ quyền xác lập theo quy định của UNCLOS”. »   Trái lại mưu đồ của Trung Quốc, theo ông Trục, là thông qua yêu sách chủ quyền vô lý trên 85% diện tích Biển Đông để « ‘nhảy vào xí phần’ trong khu vực thềm lục địa của các nước ven Biển Đông… từ đó biến các vùng biển không tranh chấp thành các vùng biển tranh chấp… Sau khi đạt được mục đích này, Trung Quốc sẽ tiếp tục phái lực lượng khống chế các khu vực thuộc phạm vi họ nói là có chủ quyền. » Phải nói rằng đây không phải là lần đầu tiên mà Bắc Kinh hô hào các nước có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc ngoài Biển Đông tạm gác tranh chấp để cùng nhau khai thác các nguồn lợi kinh tế trong khu vực. Đồng khai thác nhưng vấn đề là khai thác ở đâu ! Đối với Việt Nam, ý tưởng này luôn luôn được Trung Quốc gợi lên với các lãnh đạo Việt Nam, mà gần đây nhất là nhân chuyến công du của chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang vào tháng Sáu. Trong bản tuyên bố chung Việt-Trung, trong phần đề cập đến Biển Đông có đoạn ghi : « Hai bên sẽ… tích cực nghiên cứu và bàn bạc vấn đề hợp tác cùng phát triển ». Trong bản “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam-Trung Quốc”, ký kết từ tháng 10 năm 2011 và sau này luôn luôn được nêu lên thành một văn kiện căn bản cần tuân thủ trong việc giải quyết hồ sơ tranh chấp Biển Đông giữa hai nước, vấn đề đồng khai thác cũng được gợi lên. Ngay từ khi ấy, giáo sư Carlyle Thayer, chuyên gia về Biển Đông tại Học viện Quốc phòng Úc (Đại học New South Wales) đã ghi nhận rằng vấn đề đồng khai thác là một bài toán khó giải quyết : Vấn đề hợp tác đồng khai thác cũng đã được đề xuất từ lâu. Điều này chỉ có thể xúc tiến được nếu cả hai bên đồng ý trên một điều khoản theo đó việc cùng nhau khai thác phát triển không làm phương hại đến các tuyên bố chủ quyền của mỗi bên. Ngoài ra, Việt Nam sẽ phải cẩn thận xem xét khu vực được chọn để làm nơi đồng phát triển. Khu vực đó không được quyền ảnh hưởng đến một bên thứ ba. Trong vấn đề này, Việt Nam cũng phải chú ý xem là việc chia sẻ dầu khí sẽ được thực hiện trên cơ sở bình đẳng hay là Trung Quốc sẽ dành phần lớn ? Cái khó cho Việt Nam là ý tưởng của Trung Quốc lại được một vài nước tranh chấp với Trung Quốc ít nhiều tán đồng. Một ví dụ điển hình là trường hợp Malaysia. Ngay từ trước lúc ông Tập Cận Bình nói rõ chủ trương của Bắc Kinh, Thủ tướng Malaysia Najib Razak đã từng lên tiếng kêu gọi các nước trong khu vực Biển Đông cùng nhau hợp tác khai thác tài nguyên để tránh xung đột và ngăn chặn sự can dự của những quốc gia bên ngoài. Trong một bài phát biểu ngày 04/06/2013 được hãng tin Mỹ Bloomberg trích dẫn, Thủ tướng Malaysia đã nêu ví dụ về vùng biển tranh chấp giữa Thái Lan và Malaysia đang được phát triển chung như là một tiền lệ tốt có thể áp dụng tại Biển Đông. Tuyên bố của ông Najib Razak đã bị nhiều nhà quan sát cho rằng thể hiện quan điểm của Bắc Kinh, có hại cho sự đoàn kết trong khối Đông Nam Á ASEAN trước các thủ đoạn chia rẽ của Trung Quốc. Trên vấn đề này, trong một nhận định ngày 07/06/2013, giáo sư Carlyle Thayer không nghĩ rằng Malaysia về hùa với Trung Quốc vì theo ông, cả bốn quốc gia ASEAN đang tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông với Trung Quốc - từ Việt Nam, Philippines cho đến Malaysia, Brunei – đều đồng ý trên nguyên tắc về khả năng đồng khai thác. Vấn đề cốt lõi là khai thác chỗ nào. « Bốn quốc gia tranh chấp có thể được chia thành hai loại, các nước trên tuyến đầu (Philippines và Việt Nam) và các nước ở hàng sau (Brunei và Malaysia). Các quốc gia tuyến đầu đã phản ứng rất mạnh mẽ trước Trung Quốc vì Trung Quốc đã đánh vào các hoạt động khai thác dầu khí (cắt cáp trong vùng EEZ của Việt Nam và gây hấn với Philippines ở vùng Reed Bank - Bãi Cỏ Rong) được coi là lợi ích sống còn của Việt Nam và Philippines. Còn Brunei và Malaysia đã áp dụng chính sách hòa hoãn hơn để giải tỏa áp lực của Trung Quốc. Không nước nào trong số bốn quốc gia tranh chấp bác bỏ việc đồng phát triển trên nguyên tắc. Các cuộc đàm phán không liên tục đã diễn ra giữa một công ty dầu khí Philippines và tập đoàn Trung Quốc CNOOC (nhưng chưa được chính quyền Manila ủng hộ và có nguy cơ bị Quốc hội Philippines chống đối). Câu hỏi thiết yếu liên quan đến việc đồng phát triển là nơi được chọn để khai thác. Kế hoạch đồng khảo sát địa chấn ngoài biển JMSU ban đầu giữa Philippines và Trung Quốc (và sau đó có thêm Việt Nam) lại được thực hiện trong vùng biển của Philippines (2005 - 2008). Các nước tranh chấp rất lo ngại trước nguy cơ sự phát triển chung củng cố thêm yêu sách chủ quyền của Trung Quốc… » Vấn đề đồng khai thác ở đâu cũng là điểm được Giáo sư Ngô Vĩnh Long, chuyên gia tại trường Đại học Maine (Hoa Kỳ) nêu bật khi được hỏi về phát biểu của Thủ tướng Malaysia Najib Razak. Không thể chấp nhận đồng khai thác trong vùng EEZ của nước khác Trả lời câu hỏi của RFI, giáo sư Long xác định rằng không thể chấp nhận việc đồng khai thác trong vùng đặc quyền kinh tế EEZ của một nước, vốn dĩ không phải là vùng tranh chấp. Tuy nhiên, đều đó là vùng chồng lấn giữa thềm lục địa hai bên, việc phát triển chung hoàn toàn có thể đặt ra, như những gì Việt Nam và Trung Quốc đã làm tại vùng Vịnh Bắc Bộ. Ngô Vĩnh Long : Trước hết, phải biết rõ xem đề nghị của Malaysia thuộc vùng tranh chấp nào. Vùng EEZ đương nhiên không phải là vùng tranh chấp. Nếu có tranh chấp, thì đó là vùng thềm lục địa giữa nước này và nước kia, giống như ở Vịnh Bắc Bộ, nơi Việt Nam đã phân định vùng biển giữa hai quốc gia.  Nhưng ở trên lằn phân định đó, từ năm 2006 đến nay, Việt Nam và Trung Quốc đã có những đề án thăm dò chung, khai thác chung. Gần đây, nhân chuyến thăm Trung Quốc của ông Trương Tấn Sang, hai bên còn quyết định thăm dò, khai thác nhiều hơn nữa.  Thành ra đó là chuyện giữa vùng phân định. Nếu Malaysia nói là đó là vùng phân định giữa Malaysia với Việt Nam hay là giữa Việt Nam với Thái Lan, và hai bên sẽ thăm dò, khai thác chung, thì tôi thấy điều đó hợp lý. Nhưng sẽ không hợp lý nếu Malaysia nói rằng trên vùng EEZ của mỗi nước thì Trung Quốc sẽ có thể vào thăm dò và khai thác chung. Tôi nghĩ rằng Malaysia không có quyền nói như vậy ! Bởi vì điều đó ngược lại với công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển. Có thể Malaysia cho rằng những khu vực như vùng đang tranh chấp ở quần đảo Trường Sa, nên được khai thác chung trước khi phân định. Tôi nghĩ rằng điều đó cũng được ! Khai thác chung rồi sau này phân định cũng được, hay là như tôi đã đề nghị, là tất cả những hòn đảo ở vùng Trường Sa không có EEZ, mà chỉ có lãnh hải 12 hải lý thôi, tức là mở rộng vùng biển quốc tế ra để cho mọi người cùng khai thác. Nếu Malaysia nói như vậy, tôi thấy cũng được, cũng có lý. Nhưng Malaysia không có quyền nói là những vùng EEZ của nước khác bị Trung Quốc đưa ra cái đường lưỡi bò để chiếm, rồi nói là vùng này là của tôi, rồi hai bên cùng khai thác, thì cái đó là không được. RFI : Theo giáo sư thì đúng là quan điểm đồng khai thác chỉ có thể được áp dung trong trường hợp khai thác vùng trùng lắp giữa EEZ của hai nước, nhưng không thể nào áp dụng trong trường hợp như là Trung Quốc đang muốn thúc đẩy : Khoanh một vùng rất lớn, tự nhận chủ quyền trên đó, ăn sâu vào thềm lục địa của các nước khác rồi yêu cầu đồng khai thác những vùng nằm trong EEZ của các láng giềng ? Ngô Vĩnh Long : Vâng… Trung Quốc không thể nào đòi như thế được. Với Malaysia, tôi xin thêm là (năm 2009), Việt Nam và Malaysia có đồng ý là hai bên sẽ không tranh giành một vùng mà hai bên đòi (chủ quyền).  Theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển thềm lục địa hay là EEZ của mỗi nước được 200 hải lý. Nhưng nếu có vùng nào mà biển ngoài khơi rất rộng, nhưng không động chạm đến EEZ của nước khác, thì các nước trên thế giới có quyền xin đến 350 hải lý. Lúc đó, Malaysia và Việt Nam xin Liên Hiệp Quốc nới rộng ra đến 350 hải lý, nhưng khi xin như vậy, đòi hỏi của hai bên dẫn đến một vùng tranh chấp, (do đó) Việt Nam và Malaysia đã đồng ý rằng « vùng này có thể trở thành vùng khai thác chung » Bây giờ, nếu Malaysia nói rằng « Thôi vùng này chúng ta có thể biến thành vùng khai thác chung, không những giữa Malaysia với Việt Nam, mà có thể có với những nước khác nữa », điều đó có nghĩa là Malaysia nói sẵn sàng rút lại còn 200 hải lý, và mở rộng vùng biển ở ngoài khơi cho tất cả các nước trong khu vực khai thác chung. Nói như thế thì cũng giống như đề nghị của tôi, là không có một đảo nào được 200 hải lý, mà rút lại còn 12 hải lý theo Luật Biển của Liên Hiệp Quốc, mở rộng vùng khai thác chung cho tất cả các nước trong khu vực. Tôi thấy rằng điều đó không những hợp lý, mà cũng có thể (giúp) giải quyết các vấn đề ở Biển Đông một cách hòa bình và có lợi cho mọi bên. Nguồn: RFI
......

Việt Nam Cần một xả hội dân sự mạnh chống TQ.

Luật gia Lê Hiếu Đằng: “Một xã hội dân sự mạnh mới mong huy động được sức mạnh của toàn thể dân tộc để chống lại bành trướng Bắc Kinh” (Trả lời phỏng vấn BVN) Trong căn buồng chật chội ông đang nằm chống chọi với căn bệnh ác tính tại nhà riêng, Lê Hiếu Đằng (LHĐ) gượng ngồi lên tiếp chúng tôi. Xanh, gầy, hai chân hơi phù, bàn tay đưa ra mềm và không có được hơi ấm nóng, ông nói nhỏ, chầm chậm. Rõ ràng ông đang rất yếu. Nhưng khi chúng tôi ngỏ ý muốn phỏng vấn để ông nói rõ thêm những ý tưởng của mình sau bài Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh ông đã gửi gắm trên BVN, mắt ông sáng hẳn lên, giọng nói bỗng khoẻ lên và ngày càng mạnh mẽ. So với ngày ông tiếp chuyện BVN lần đầu tiên cách đây gần ba năm để rồi cho ra đời hai bài viết đầu tiên của ông trên thế giới mạng “lề trái” (Dân chủ là giải pháp cho các vấn đề của đất nước,…), ý kiến của ông về con đường dân chủ hoá giờ đây thật dứt khoát, triệt để, rõ ràng. Nhưng hôm nay câu chuyện của chúng tôi có lúc trầm xuống, ông nghẹn ngào, mắt ứa lệ khi nói đến việc lý tưởng Cách mạng bị phản bội, nhân dân đau khổ triền miên. Vận nước đã đến hồi “bĩ cực”, không thể trì hoãn việc dân chủ hoá, xây dựng thể chế đa đảng để đất nước thoát khỏi hiểm nghèo. Bauxite Việt Nam BVN: Trong bài Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh mới đăng trên BVN và đang được lan truyền rộng rãi trên mạng, ông đã nói rõ quan điểm phải có thể chế đa đảng cho nước Việt Nam. Xin hỏi quan điểm ấy đã hình thành như thế nào trong ý thức tư tưởng của một người đảng viên Cộng sản trung kiên như ông? LHĐ: Thực ra đã lâu, từ khi tôi là giảng viên triết học Mác Lênin và chủ nghĩa xã hội khoa học, tôi đã thấy chủ trương cấm đa nguyên đa đảng là không phù hợp với ngay chủ thuyết Mác. Khi Đảng Cộng sản Việt Nam đã phải công nhận kinh tế thị trường, nhiều thành phần kinh tế, trong đó có kinh tế tư nhân, tồn tại nhiều giai cấp với những lợi ích khác nhau, thì cơ sở hạ tầng ấy quyết định kiến trúc thượng tầng phải có đa đảng để bảo vệ quyền lợi của các nhóm xã hội khác nhau. Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương không đa nguyên đa đảng nhưng điều này chưa hề thể chế hoá thành văn bản pháp luật, quyền tự do lập hội vẫn được Hiến pháp thừa nhận tuy đã bị trì hoãn mãi không thực thi. Những điều này tôi suy nghĩ đã lâu rồi. Vấn đề là thời điểm nào thì thích hợp để nêu ra. Hiện nay, những khuynh hướng đối lập với Đảng Cộng sản đã xuất hiện, tại sao ta không có những chính đảng ra đời để khắp trong Nam ngoài Bắc, khi có những ý kiến phản đối đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản thì lập tức được đưa ra công khai? Ngay trong Đảng Cộng sản, ngày càng nhiều đảng viên muốn ra khỏi đảng hoặc đã lẳng lặng bỏ sinh hoạt đảng. Tại sao việc này lại không làm công khai? Tại sao ta không nghĩ đến việc lập ra một chính đảng, vì đó là quyền công dân được Hiến pháp bảo hộ. Còn vì sao ta nên lập một đảng xã hội dân chủ? Ta biết rằng chính “Mác già” cũng đã bỏ chủ trương chuyên chính vô sản thay bằng con đường xã hội dân chủ như đường lối của Đệ Nhị Quốc tế. Trên thế giới hiện nay, dân chủ xã hội là trào lưu mạnh mẽ, là xu hướng tiến bộ nhất. Đi theo con đường này, ta có chỗ dựa vững chắc ở bạn bè quốc tế. Ta cũng đã từng có hai đảng Dân chủ và Xã hội, nay cũng có thể khôi phục hai đảng này, nhưng nội dung phải hoàn toàn khác, thực chất là đối lập chứ không phải “bánh vẽ”, hình thức, chỉ là công cụ của Đảng Cộng sản như trước đây. BVN: Cũng có ý kiến cho rằng các đảng viên tốt không nên ra khỏi Đảng Cộng sản, mà phải ở lại để làm cho Đảng chuyển hoá. Ông nghĩ thế nào về ý kiến này? LHĐ: Điều đó là hy vọng đã lâu, nhưng đến nay thì tôi đánh giá là không còn khả năng. Bởi vì những người lãnh đạo cao nhất của Đảng đã không chứng tỏ được họ vì quyền lợi của đất nước. Chỉ một cái khẩu hiệu “còn Đảng, còn mình” của công an là đủ cho ta biết họ vì cái gì? Có một số vị cấp tiến như Võ Văn Kiệt muốn thay đổi, nhưng cũng bất lực và không thể thoát khỏi sự ràng buộc của Đảng. Cho nên phải có một xã hội dân sự mạnh để kiểm soát quyền lực nhà nước, mà đảng chính trị là hình thức cao nhất của xã hội dân sự. BVN: Có sự lo ngạỉ rằng: đấu tranh có tổ chức là hình thức mà chính quyền kỵ nhất, nên việc lập chính đảng sẽ bị trấn áp tàn khốc. Ông có sợ điều đó xảy ra? LHĐ: Tất nhiên sẽ có sự đàn áp, và bắt bớ là chuyện rất có khả năng xảy ra. Nhưng nếu đã là một tập thể mạnh thì sợ gì bắt bớ. Tôi có thể bị bắt, một số người đi đầu có thể bị bắt, nhưng những người còn lại sẽ tiếp tục đấu tranh, sẽ có hàng trăm, hàng ngàn người tiếp tục chiến đấu, không thể bắt hết mọi người. Thời gian vừa qua cho thấy ngày càng nhiều người dũng cảm lên tiếng, và lên tiếng ngày càng mạnh mẽ, có nhiều người mà mình không ngờ. Ngay trong Hội đồng Dân chủ & Pháp luật thuộc Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, khi góp ý sửa đổi Hiến pháp 1992, tôi rất bất ngờ vì có những vị trưóc đây rất “hiền lành” nhưng nay lại quyết liệt đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp vì cho rằng nếu duy trì điều này thì không bao giờ có được dân chủ thật sự, Quốc hội, Hội đồng Nhân dân chỉ là công cụ để hợp thức hoá sự độc quyền của Đảng Cộng sản mà thôi. Hay vụ Kiến nghị sửa đổi Hiến pháp, văn bản 72 người ký còn nêu vấn đề một cách nhẹ nhàng, nhưng khi bản Dự thảo sửa đổi lần 4 đưa ra trình Quốc hội, thì 40 người lên tiếng phản đối rất quyết liệt, đòi đa nguyên đa đảng rõ ràng. Vậy thì đừng lo chuyện bắt bớ. Riêng tôi, tôi không sợ bị bắt. Mình không thể  lùi bước khi người dân đã chịu quá nhiều đau khổ [ông nghẹn ngào một lúc rồi mới nói tiếp]…, người dân đã hy sinh quá nhiều, để rồi có một chế độ như ngày nay so với chế độ Sài Gòn còn tệ hơn. Sự hy sinh kéo dài của người dân hầu như vô ích, những mục tiêu của cuộc Cách mạng là Độc lập, Tự do đã bị phản bội. Tôi không thể chấp nhận điều đó. BVN: Còn một lập luận nữa, cho rằng lúc này phải tăng cường đoàn kết toàn dân để chống lại nguy cơ Bắc xâm, vậy việc ly khai Đảng Cộng sản có lợi hay có hại? LHĐ: Phải đoàn kết, nhưng vấn đề là đoàn kết dưới sự lãnh đạo sáng suốt của một chính đảng lấy quyền lợi của đất nước, của dân tộc, của nhân dân là lý do tồn tại duy nhất, chứ không phải vì quyền lực, vì lợi ích phe nhóm như hiện nay. Trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập và toàn vẹn lãnh thổ, chúng ta không thể trông cậy vào ai khác ngoài sức mạnh của dân tộc. Một chính đảng đối lập chính là kháng thể để chống những căn bệnh đã trở nên bất trị do thể chế độc tài tạo nên cho xã hội, cho dân tộc. Chúng ta chỉ có thể đoàn kết với sự đối thoại công bằng, sự đồng thuận về mục tiêu, lý tưởng. BVN: Ngoài những điều đã viết đã nói ra, ông còn những điều gì muốn chia sẻ với bạn đọc BVN? LHĐ: Có hai việc bây giờ ta phải làm. Một là về tư tưởng, phải kiên quyết từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin đã quá lạc hậu. Phe gọi là Cộng sản chỉ còn Việt Nam, Trung Quốc, Cuba, chưa kể Bắc Triều Tiên với thể chế quái dị không biết ta có ôm vào phe mình hay không, nếu có thì quá xấu hổ. Về công việc thực tế, bây giờ phải tập trung xây dựng xã hội dân sự mạnh, trong đó có chính đảng đối lập. Phải bắt đầu cho cuộc vận động thành lập một chính đảng mới. Một xã hội dân sự mạnh mới có thể làm áp lực để Đảng Cộng sản cầm quyền phải thay đổi theo hướng dân chủ. Như vậy mới mong huy động được sức mạnh của toàn thể dân tộc để chống lại bành trướng Bắc Kinh. BVN: Mấy ngày qua, có nhiều thư của bạn đọc trong, ngoài nước gửi tới hưởng ứng bài viết và lo lắng cho sức khoẻ của tác giả. Xin thay mặt tất cả bạn đọc của BVN cầu chúc ông vượt qua được bệnh tật hiểm nghèo để tiếp tục đóng góp cho cuộc đấu tranh dân chủ đang ở bước gian nan nhưng đường đi đã rộng mở, chắc chắn sẽ thành công. Nguồn: BoxitVN
......

Hãy biết quyền của mình (2): Chống bắt giữ tùy tiện

Tình huống Vào 19h30 ngày thứ ba, 13/8/2013, một nhóm 6 bạn trẻ đang học nhóm tiếng Anh ở một căn hộ trong ngõ Giếng Mật (phố Bạch Mai, Hà Nội), thì chủ nhà gọi điện cho bạn Trần Quang Trung (là người thuê nhà), bảo xuống mở cửa. Trung xuống nhà, vừa mở cửa thì có hai người lạ mặt ập vào, một trong hai kẻ này bóp cổ Trung để khống chế, kẻ còn lại giật điện thoại của Trung.   Sau đó, có khoảng 20 người – dáng vẻ như dân phòng, công an mặc thường phục – xông vào nhà, kéo lên gác, bắt mọi người xuất trình giấy tờ và bỏ hết điện thoại đặt lên bàn. Trong số đó, chỉ có một người mặc đồ công an. Họ cầm theo ba máy quay phim, chĩa vào mặt nhóm bạn trẻ, ghi hình liên tục. Một bạn trẻ, tên là Thùy Linh, lên tiếng yêu cầu toán người xuất trình giấy tờ và dừng quay phim, nếu không họ có thể bị kiện về tội xâm nhập gia cư bất hợp pháp. Song, không ai trong số những kẻ đột nhập xuất trình giấy tờ. Một bạn trẻ khác, Hồ Đức Thành, rút điện thoại định gọi cho bạn thì trong số người đột nhập, một kẻ hét lên: “Tôi là dân phòng ở đây, hôm nay tôi đến kiểm tra tạm trú tạm vắng, yêu cầu anh ngồi im”. Do Thành không chịu “ngồi im”, nên đồng chí “dân phòng” này xông vào giật điện thoại của Thành, xô đẩy và làm vỡ một tấm kính trong nhà. Tới 20h30, tất cả nhóm bạn trẻ bị áp giải về công an phường Trương Định. Tới nơi, công an phường yêu cầu mọi người bỏ điện thoại và máy tính ra để niêm phong, “tạm thời thu giữ, làm việc xong sẽ trả”. Mỗi chiếc điện thoại đều được đựng trong phong bì niêm phong, lấy chữ ký giáp lai của mọi người. Mỗi máy tính cũng đều được dán băng dính niêm phong và lấy chữ ký giáp lai. Một người mặc thường phục bảo công an phường lập biên bản tạm giữ số đồ đạc, có người giao, người nhận và người làm chứng. Công an phường làm theo. Các bạn trẻ không biết biên bản ghi những gì, không ký và cũng không được giữ bản nào. Sau đó, toàn bộ máy tính, điện thoại, biên bản đều bị mang đi. (Biên bản không có chữ ký của người bị thu đồ mà chỉ có chữ ký của công an và người làm chứng của phía công an). Còn cả nhóm thì bị chia nhỏ để “làm việc”: Người bị đưa về công an quận Hai Bà Trưng, người bị thẩm vấn ngay tại công an phường Trương Định. Các câu hỏi xoay quanh: nhân thân, tại sao biết lớp học tiếng Anh này, tham gia lâu chưa, ai tổ chức, giáo trình ai soạn, nội dung có liên quan gì đến chính trị-pháp luật không, mọi người có tham gia tổ chức chính trị nào không, có biết anh A, chị B… không, v.v. Cuối cùng mọi người được thả ra, nhưng một số máy tính và điện thoại vẫn bị giữ. Nguồn ảnh: ẩn danh Vấn đề Câu hỏi đặt ra là: Việc làm của cơ quan công quyền (nếu thực đó là cơ quan công quyền) có gì sai luật? Câu trả lời: Đây là một trường hợp điển hình của việc “bắt giữ tùy tiện”. Bắt giữ tùy tiện là hành vi bắt giữ người mà không có chứng cớ về việc người đó phạm tội, và/ hoặc hành vi bắt giữ người được tiến hành không đảm bảo trình tự, thủ tục pháp lý. Việc nhóm người tự xưng là công an (trong đó chỉ có một người mặc đồ công an, và không ai xuất trình giấy tờ chứng minh thân phận của họ) ập vào nhà bắt nhóm bạn trẻ về đồn, vào ban đêm, mà không có lệnh bắt, chính là “bắt giữ tùy tiện”, vì không kèm theo chứng cứ phạm tội mà cũng không đảm bảo thủ tục pháp lý, chẳng hạn, thiếu lệnh bắt. Theo Điều 80 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Lệnh bắt phải ghi rõ ngày, tháng, năm, họ tên, chức vụ của người ra lệnh; họ tên, địa chỉ của người bị bắt và lý do bắt. Lệnh bắt phải có chữ ký của người ra lệnh và có đóng dấu. Người thi hành lệnh phải đọc lệnh, giải thích lệnh, quyền và nghĩa vụ của người bị bắt và phải lập biên bản về việc bắt. (…) Không được bắt người vào ban đêm, trừ trường hợp bắt khẩn cấp, phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã (…). Nhóm công an (cứ giả sử họ là công an thật) bắt các bạn sinh viên về đồn vào ban đêm, tịch thu tài sản (điện thoại và máy tính) mà không có lệnh bắt, trong khi đó, tất cả các bạn đều hoàn toàn không phạm tội quả tang, không thuộc diện truy nã. Như vậy, đã đúng là “bắt giữ tùy tiện” chưa, thưa cơ quan công an? Các sai phạm khác của CA Trong vụ bắt người tùy tiện tối 13/8, cơ quan công an còn vi phạm Điều 31 Bộ luật Dân sự về “quyền của cá nhân đối với hình ảnh”: Công dân có quyền đối với hình ảnh của mình; việc sử dụng hình ảnh của công dân phải được công dân đồng ý.  Tham chiếu với bài trước (“Chụp ảnh công an”), chúng ta thấy nổi lên một nguyên tắc: Công dân có quyền quay phim, chụp ảnh nhân viên công lực; nhưng ngược lại thì không! Ở đây, phía công an đã lạm dụng chức vụ, quyền hạn, tóm lại là lạm dụng sức mạnh của họ để ghi hình các công dân. Cơ quan công an vi phạm cả Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự khi họ khám xét, tạm giữ đồ đạc của nhóm bạn trẻ mà không hề có lệnh bắt hay quyết định khởi tố vụ án. (Trình tự pháp luật là: Phải có “khởi tố” thì mới có “vụ án”, và phải có “vụ án” thì mới có việc thu giữ các đồ vật là “vật chứng và tài liệu có liên quan đến vụ án”). Cuối cùng, cơ quan công an còn có dấu hiệu vi phạm Điều 124 Bộ luật Hình sự, “Tội xâm phạm chỗ ở của công dân”: Họ đã khám xét trái pháp luật chỗ ở của người khác; phạm tội một cách có tổ chức, lợi dụng chức vụ, quyền hạn… Tội này có thể bị phạt tù từ một đến ba năm.  Nguồn: Bloger phamdoantrang.com
......

Người Việt tại Đức quyên góp yểm trợ lũ lụt vùng Đông và Nam CHLB Đức

Hưởng ứng lời kêu gọi của Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn tại CHLB Đức vào ngày 24.06.2013, đồng bào và các hội đoàn đã đóng góp yểm trợ tái thiết sau lũ lụt tại vùng Đông và Nam Cộng Hoà Liên Bang Đức trong thời gian qua với số tiền quyên góp lên đến 5.183,56 Euro. Ngày 08.08.2013, Bs. Trần Văn Tích và ông Nguyễn Văn Rị, đại diện cho BCH Liên Hội NVTN tại CHLB Đức đã đến trụ sở Toà thị chính Bonn để trao tấm chi phiếu ghi số tiền quyên góp nêu trên cho Bà Manuela Roßbach, Đại diện cơ quan Aktion Deutschland Hilft, dưới sự chứng giám của ông Jürgen Nimptsch, Thị trưởng Bonn. Được biết một số báo chí tại Bonn như: General Anzeiger, Bonner Rundschau, Express cũng đã loan tin này kèm theo hình ảnh. Dười đây là bản liệt kê chi tiết của các cá nhân và hội đoàn đã đóng góp do Liên Hội NVTN tại CHLB Đức phổ biến: 1) Tại Ngày Văn Hoá Diên Hồng 29.06.2013, Frankfurt: Tổng cộng: 335 €. Trương thị Liên 20 €, Nguyễn thị Tuân 05 €, Thái Kim Oanh 20 €, Hoàng Trọng Hanh 20 €, Hồ Văn Thái (Mannheim) 20 €, Trần Kim Quế (Bad Dürkheim) 20 €, Immanuel Trinh (Neustadt) 50 €, Chiêm Tuấn Khâm (Nidderau) 10 €, Hà Thành (Frankfurt) 05 €, Lệ Chi (Frankfurt) 30 €, Kim Loan (Pforzheim) 05 €, Đạo hữu Tâm Nguyện Trí Lực (Thụy Điển) 20 €, Lương Thanh Bích Lê (Tiebur) 10 €, Vinacity 100 €. 2) Số tiền ủng hộ trực tiếp bỏ vào thùng quyên góp: 1.275 €. 3) Quầy Hàng Tình Thương: 650 €. 4) Hội Văn hoá Phụ nữ Việt Nam Tự do: 1.138,56 €. 5) Chuyển vào trương mục của Liên Hội: Tổng cộng: 1.785 €. Lê Ngọc Túy Hương (Kassel) 300 €, Ông Lý Thanh Trực (Göttingen) 50 €, Bà Hubertus Cromme thị Thu Nguyễn 15 €, Ông Trần Văn Minh 30 €, Tiến sĩ Bùi Hạnh Nghi (Offenbach) 200 €, Hội Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản Hamburg 200 €, Hội Cựu Quân Nhân VNCH tại Đức 120 €, BS Trần Văn Tích 200 €, Hội Người Việt Tự Do München 200 €, Hội Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản M'gladbach 470 €. http://www.general-anzeiger-bonn.de/bonn/bonn/bonn-zentrum/Bundesverband...  
......

Bỏ đảng, lập đảng khác

Năm ngoái mục này viết một bài với tựa đề: “Người biết suy nghĩ, sẽ từ bỏ đảng Cộng sản.” Vừa rồi, trên mạng Bô Xít Việt Nam mới đăng một bài của ông Lê Hiếu Đằng với ý kiến tương tự. Ông Lê Hiếu Đằng viết: “ (T)ôi biết nhiều đảng viên đang muốn ra khỏi Đảng, hoặc không còn sinh hoạt Đảng. Vậy tại sao chúng ta hàng trăm đảng viên không tuyên bố tập thể ra khỏi Đảng và thành lập một Đảng mới, chẳng hạn như Đảng Dân Chủ Xã Hội,...”   Lê Hiếu Đằng viết như vầy: “Muốn có dân chủ thực sự thì phải thay đổi thể chế từ một nhà nước độc tài toàn trị chuyển thành một nhà nước cộng hòa với tam quyền phân lập... Tư pháp độc lập thì mới có thể chống tham nhũng. Cần có Quốc Hội Lập Hiến để soạn thảo và thông qua Hiến Pháp mới.” Đó là điều mà các người tranh đấu hiện nay, ở trong và ngoài nước đều đồng ý. Ông đi xa hơn với một bước cụ thể, đề nghị các đảng viên cùng ý hướng hãy thành lập một đảng mới, đứng ra đối lập với đảng Cộng sản đang cầm quyền. Trong bài viết năm ngoái, tôi đã nêu ra nhiều lý do khiến các đảng viên cộng sản “biết suy nghĩ,” phải từ bỏ đảng. Xin nhắc lại một vài đoạn để tóm tắt như sau: “Quý vị vào đảng Cộng sản vì tin ở chủ nghĩa Mác, Lê Nin? (A) Bây giờ còn ai tin tưởng ở các lý thuyết duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của ông Karl Marx nữa hay không? (B) Còn ai thấy các lý thuyết của Lenin có ích lợi cho dân tộc mình, hay chỉ là cái gông xiềng buộc chặt lên đầu, lên cổ cả dân tộc? “Tai họa của nước ta là do những người đã đem chủ nghĩa Mác Lê Nin vào đặt lên đầu lên cổ cả dân tộc. Từ đó, họ đã đi tới những lựa chọn sai lầm tàn phá đất nước, khi biết thì đã quá trễ. (1) Tai họa thứ nhất là tổ chức kinh tế theo lối Liên Xô, mà hiệu quả ai cũng biết. (2) Tai họa thứ hai là tổ chức chính quyền chuyên chế, lấy bạo lực, công an để bảo vệ quyền hành; nhưng sau khi đã dựng lên rồi thì chính guồng máy chuyên chế đó tự phát triển, tự bảo vệ nó; không thể nào nó tự thay đổi được nữa. (3) Tai họa thứ ba là chủ trương gây thù hận, phương pháp dùng dối trá để củng cố quyền hành. Từ thói quen dối trá đó, cả xã hội suy đồi vì người lương thiện không thể sống được. Lựa chọn theo chủ nghĩa Mác Lê Nin đã tạo ra tất cả các tai họa trên. “(4) Cũng vì theo chủ nghĩa Mác Lê Nin cho nên đảng Cộng sản đã phạm sai lầm ngoại giao lớn trong việc chọn đồng minh; mà không nghĩ tới mối nguy hiểm trong tương lai.” Tai họa thứ tư này đưa tới hậu quả là đi theo Cộng sản Trung Quốc: ‘Vì vậy mới giết hàng trăm ngàn người vì cải cách ruộng đất; vì vậy mới sinh ra cái công hàm Phạm Văn Đồng năm 1958. Từ đó mới ngậm miệng làm ngơ không dám phản đối Trung Cộng chiếm Hoàng Sa năm 1974.’” Những điều tóm tắt trên đây được trình bày với thái độ khách quan, bình thản, ý kiến của một người đứng ngoài. Dù người đảng viên hoặc không là đảng viên cộng sản, cũng có thể nhìn thấy những lý lẽ đó. Một đảng viên cộng sản chắc sẽ nhìn vấn đề theo cách khác, nhưng cũng có thể đi tới cùng một kết luận. Trong bài viết mới công bố, lấy tựa đề “Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh...” Lê Hiếu Đằng đã “tính sổ đời mình” từ lúc gia nhập đảng Cộng sản cho tới những ngày nằm trong bệnh viện có thời giờ suy nghĩ lại. Những ý nghĩ của ông cũng dẫn đến ý kiến các đảng viên cộng sản phải “tuyên bố tập thể” quyết định của họ cùng rút ra khỏi đảng. Nhưng lời lẽ ông dùng chứa đựng nhiều cay đắng hơn. Về đối ngoại, ông tố cáo: “Sau khi hy sinh biết bao xương máu, nay Đảng và Nhà nước Việt Nam muốn làm việc gì đều phải len lén nhìn ông bạn láng giềng Trung Quốc, những kẻ luôn chực nuốt chửng nước ta...” Đối với cả chế độ ông cũng nói: “Tôi nêu những trải nghiệm nói trên để chứng minh rằng trong chế độ này không có chỗ cho người trung thực mà chỉ dành cho những người nói láo...” Trả lời đài RFI phỏng vấn, Lê Hiếu Đằng nói về toàn cảnh xã hội “xuống cấp,” “Có thể nói là xuống cấp một cách toàn diện, khủng hoảng toàn diện!” Cũng trong bài phỏng vấn, ông nói rõ hơn: “Có nhiều người cũng đến gặp tôi và chán nản đòi ra khỏi đảng. Hoặc là (giấy chuyển) sinh hoạt đảng thì đem về không đưa cho địa phương mà bỏ vào ngăn kéo, coi như không sinh hoạt đảng nữa. Như vậy tại sao khi vào đảng thì (công khai), bây giờ anh nên công khai, tuyên bố đàng hoàng vì sao tôi ra khỏi đảng?” Và giải thích thêm: “Vì đảng này bây giờ họ đã phản bội lại những mục đích ban đầu về việc xây dựng một xã hội tốt đẹp, thực hiện lý tưởng mà một thời trai trẻ mình đã đổ biết bao xương máu...” Trong lời giới thiệu bài viết của Lê Hiếu Đằng, mạng lưới Bô Xít Việt Nam còn viết nặng nề hơn, coi chế độ cộng sản hiện nay là “một cái ách cực kỳ phi lý” mà dân Việt đang phải đeo trên cổ (như cái ách đè trên cổ trâu bò). Rồi kết luận: “Câu nói âm thầm từ muôn miệng hình như đang cùng muốn thốt lên: Hãy hất nó xuống khe vực để đứng thẳng dậy, sánh bước cùng nhân loại văn minh.” Sau đề nghị ra khỏi đảng với hành động tập thể, Lê Hiếu Đằng đề nghị thành lập một đảng khác. Ông đặt câu hỏi: “Tại sao tình hình đã chín mùi mà chúng ta không dám làm điều (này?) Nhận xét “tình hình đã chín mùi” được giải thích khi Lê Hiếu Đằng nói với đài RFI: “...có nhiều đảng viên đồng tình với việc làm đó, nên tôi mới đề nghị như vậy. Và đã ra khỏi đảng thì phải thành lập một đảng mới.” Và ông lý luận rằng, “Chủ trương không (chấp nhận) đa nguyên đa đảng chỉ là chủ trương của Đảng (Cộng sản) chứ chưa có một văn bản pháp lý nào cấm điều này? Mà nguyên tắc pháp lý là điều gì luật pháp không cấm chúng ta đều có quyền làm. Đó là quyền công dân chính đáng của chúng ta.” Tất nhiên, những người ngoại cuộc có thể nhìn thấy một kẽ hở trong lý luận đó. Nhiều người sẽ phê bình rằng ông quá ngây thơ. Xưa nay đảng Cộng sản vẫn chẳng bao giờ quan tâm đến luật pháp, đến nguyên tắc pháp lý, cũng như các quyền công dân! Có nhạc sĩ Việt Khang, nông dân Đoàn Văn Vươn và hàng vạn người khác sẵn sàng làm chứng. Nhưng Lê Hiếu Đằng vẫn nêu lên lý lẽ trên, vì một mục tiêu của ông là “thách thức” đảng Cộng sản đấu lý công khai. Những luật gia như Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Lê Công Định, Cù Huy Hà Vũ cũng đều dùng pháp lý để tranh đấu; mặc dù họ biết chế độ cộng sản vốn bất chấp luật pháp. Các luật gia này đã và đang bị tù. Liệu Lê Hiếu Đằng sẽ bị chung số phận hay không? Câu trả lời là: Tùy theo phản ứng của các đảng viên vẫn là bạn bè của ông. Hãy chờ coi họ có bỏ rơi ông hay sẽ can đảm đi cùng ông. Trong bài bình luận viết năm ngoái, chúng tôi đã hình dung chuỗi hậu quả: “(Khi) Một số người đông đảo và có danh tiếng tuyên bố từ bỏ đảng, họ có thể kêu gọi các đảng viên có lương tâm cùng dứt khoát rút ra khỏi đảng. Khi số người bỏ đảng đông hơn, gây thành một phong trào lớn khắp nước, thì các biện pháp trả thù và đàn áp của guồng máy (nhà nước cộng sản) sẽ mất hiệu lực. Các đảng viên khác sẽ không sợ hãi nữa, nhiều người sẽ làm theo.” Một chuyện tình cờ là cuối tuần qua, cũng trong mục này, chúng tôi đã nhắc lại đề nghị các đảng viên cộng sản nên từ bỏ đảng. Nhân dịp ngày giỗ Trung Tướng Trần Độ, một đảng viên công thần đã bị trục xuất hơn mười năm trước. Chúng tôi viết: “Cái dấu hiệu ‘bị đảng trục xuất’ là một huy chương gắn trên quan tài ông” (để con cháu ông sau này có thể hãnh diện về cha, ông mình). Bài tuần qua cũng đặt lại một câu hỏi cho các đảng viên cộng sản bây giờ: “Họ muốn tự mình từ bỏ đảng hay là chờ tới ngày cũng bị trục xuất (như Trần Độ)? Nếu hàng ngàn người cùng tuyên bố bỏ đảng một lúc thì hàng trăm ngàn đảng viên khác sẽ theo.” Quan sát từ bên ngoài, chúng ta không biết “tình hình đã chín mùi” đến mức nào. Cho nên khó ước đoán một phong trào như vậy sẽ bùng lên hay không. Nhưng có thể tin một người trong cuộc đã thấy nó “chín mùi.” Những ý kiến của Lê Hiếu Đằng được nêu ra công khai cho thấy người dân Việt Nam đã hết sợ, hết sợ từ lâu rồi. Không những hết sợ, người ta còn khinh bỉ cái câu lạc bộ “chỉ dành cho những người nói láo.” Đảng Cộng sản như một bức “trường thành” đang bị nứt. Chân đế đã mục nát; những khe nứt rạn ngày càng nhiều, càng mở rộng ra. Khách quan mà xét thì cũng thấy họ không có cách nào cứu chữa. Họ có muốn đàn áp thì phản ứng ngược lại của người dân càng nhiều hơn và mạnh hơn; người ta càng khinh bỉ lại càng bớt sợ. Bức trường thành sẽ sụp đổ. Dân Việt Nam sẽ “hất nó xuống khe vực.” Nguồn: nguoi-viet.com/
......

Giá trị của tư duy sử học

Sử học là một trong những phân môn của khoa học xã hội và nhân văn đem lại những LỢI ÍCH VỀ TƯ DUY, nhưng trong nhiều thập kỷ qua môn sử học không được đưa vào trong nhà trường, thay vào đó là một biến tướng sai lạc của nó: môn lịch sử. Sử học là gì? Có thể nói một cách ngắn gọn, sử học là khoa học về lịch sử, hay cao hơn là khoa học về nhận thức lịch sử. Lịch sử là toàn bộ những sự kiện đã xảy ra trong quá khứ, nhưng không ai dám chắc chắn và khẳng định rằng mình có thể nhận thức được đúng đắn toàn bộ về nó. Cái lịch sử mà chúng ta biết đến chỉ là những kết quả sau những chuỗi dài của hoạt động nhận thức, trong đó không tránh khỏi có sự chủ quan, phiến diện, nếu không muốn nói có khi là sai lầm. Sai lầm trong nhận thức lịch sử được tạo nên bởi nhiều nguyên nhân. Có thể là sai lầm khi ta chỉ có một số dữ liệu giả tạo, hoặc trầm trọng hơn, là sai lầm về mặt phương pháp luận và mục đích luận. Sai lầm về phương pháp luận là sai lầm về mặt tư duy, còn sai lầm do mục đích luận là sai lầm về đạo đức khoa học. Để tránh sai lầm trong nhận thức lịch sử, người làm sử học tuyệt đối không được mang trong mình một đích nào khác ngoài mục đích thuần túy duy nhất là NHẬN THỨC LỊCH SỬ. Khi biện hộ rằng vì có lợi cho mục đích dân sinh, có lợi cho mục đích chính trị mà ta phải chứng minh một dữ kiện lịch sử nào đó, thì việc chứng minh ấy đã tiềm ẩn sẵn nguy cơ bị thiên lệch, không đúng với thực tế. Sử học là một khoa học xử lý các nguồn sử liệu để đưa ra nhận thức trung thực về lịch sử, nằm ngoài những định kiến tô hồng hay bôi xấu, nằm ngoài những mục đích có trước, và nằm ngoài những nhiệm vụ chính trị. Người làm sử học phải là người thao tác tư duy trên cơ sở giám định và giải độc sử liệu. Vì thế, lịch sử - với tư cách là cái được tái hiện bởi nhà sử học - không phải là một cái gì bất biến, cố định, vĩnh hằng, mà chỉ là những sử thực tương đối. Ở thời điểm nhất định, với những tư liệu nhất định, chúng ta chỉ có thể nhận thức lịch sử ở mức độ nhất định. Nhưng nếu như có những phát hiện mới về sử liệu, và những sử liệu ấy được xử lý bằng phương pháp mới, góc nhìn mới, thì chúng ta sẽ có nhận thức mới. Nhận thức là một quá trình tiệm cận đến lịch sử. Và sử học thực chất là một trò chơi trí tuệ để tăng trưởng tư duy về lịch sử (cái đã qua) và quan trọng hơn cả là để tăng trưởng sự tự tư duy về cuộc sống hiện tại với tư cách mỗi cá nhân là tác nhân hay nạn nhân của lịch sử. Như thế lịch sử như là một trang sách để ngỏ, mà nhà sử học là người tái dựng nó từ những gì còn sót lại. Cho nên, một triết gia phương Tây đã từng thốt lên rằng: sử học là cuộc chơi của những người đang sống đối với những người đã chết! Khác với các môn khoa học tự nhiên như toán học, sinh học,…, thì sử học với tư cách là bộ môn khoa học về lịch sử đã không được đưa vào trong nhà trường trong nhiều thập kỷ qua, thay vào đó là môn lịch sử. Sở dĩ có hiện tượng như vậy là bởi chúng ta đã không coi lịch sử như là sản phẩm của quá trình tư duy, nhận thức về lịch sử. Những kiến thức lịch sử trong nhà trường được giảng dạy với tư cách nó là những chân lý tuyệt đối, những sự thực bất di bất dịch, bất khả xâm phạm. Và “môn lịch sử” không hề chỉ dẫn cho học sinh biết phải làm như thế nào để tự nhận thức về lịch sử, cũng như nhận thức về cuộc sống hiện tại, mà nó biến học sinh thành những cỗ máy học thuộc lòng với những sự kiện cụ thể, những mốc thời gian của lịch sử chính trị được hoạch định và được cố định bởi các nhà giáo dục. Mặt khác, các sách giáo khoa được giảng dạy trong hệ thống nhà trường hiện nay chủ yếu là viết về lịch sử chính trị- kinh tế. Điều này đã dẫn đến nhiều bất cập. Nó khiến cho học sinh hiểu phiến diện về mục đích và đối tượng của sử học, đồng nhất lịch sử với lịch sử chính trị, lịch sử chiến tranh. Các kiến thức được nêu trong sách giáo khoa được giảng dạy và được mặc nhận như là những chân lý, những sự thực bất di bất dịch, không thể sửa đổi. Từ đó dẫn đến hệ quả quan trọng thứ ba, là cách giảng dạy lịch sử một chiều, khô khan, áp đặt. Nó biến lịch sử trở thành một môn học thuộc lòng các sự kiện lịch sử, khiến tư duy của học sinh bị xơ cứng, và quan trọng nhất là không có nhận thức bản thân và tư duy của bản thân, cũng như quan điểm của bản thân các em về lịch sử. Trước tình hình trên, cần biên soạn lại hệ thống sách giáo khoa lịch sử theo một phương thức mới, để giúp học sinh cũng như xã hội hiểu thêm về khoa học lịch sử và quan trọng nhất là tư duy lịch sử. Trong đó, mỗi một bài học phải trình bày đủ cơ cấu lịch sử- văn hóa. Trong đó, chính trị (triều đại, thể chế, kinh thế, thành phần xã hội,…) chỉ là một nửa, chiếm dưới 50% dung lượng bài giảng. Còn lại trên 50% là lịch sử văn hóa (về cách lĩnh vực sâu hơn như: lịch sử ngôn ngữ - văn học, lịch sử nghệ thuật, lịch sử tôn giáo, lịch sử khoa học, lịch sử văn minh vật chất…). Sách phải đảm bảo tính đa dạng lịch sử và tính đa dạng văn hóa theo tiêu chí tộc người. Lịch sử không chỉ là lịch sử của người Việt, mà còn là lịch sử của 53 dân tộc anh em khác. Các nhận định và tri thức lịch sử đều phải dựa trên sử liệu gốc. Các tri thức về lịch sử văn hóa luôn phải đặt HIỆN VẬT KHẢO CỔ lên hàng đầu. Quan trọng nhất, lịch sử cần được trình bày như là những tri thức còn bỏ ngỏ, chưa được giải mã, cần được tìm hiểu, để kích thích tư duy phán đoán, và óc suy luận của học sinh. Tất cả những thay đổi trên sẽ góp phần đưa môn sử học vào nhà trường, biến sử học trở thành một môn học sống động, rèn luyện về sự độc lập trong tư duy. Bởi tư duy độc lập sẽ là xung lực để tạo nên sự phát triển xã hội! Một ví dụ về nhận thức sử học dưới tác động của mục đích chính trị là nhận thức về phong trào Tây Sơn. Với chủ ý muốn đề cao nhân dân, sức mạnh của nhân dân, chúng ta đã chứng minh rằng quân Tây Sơn với những chiến công lẫy lừng của họ là một biểu hiện sống động cho cuộc chiến tranh nhân dân, và đại diện tiêu biểu của phong trào đó là người “anh hùng áo vải cờ đào”- Quang Trung Nguyễn Huệ. Ngay hình ảnh “áo vải cờ đào” cũng đã được sử dụng như một thủ pháp ở đây? Đoạn trên vốn được trích từ bài “Ai tư vãn” tương truyền của công chúa Lê Ngọc Hân dùng để khóc chồng: “mà nay áo vải cờ đào, giúp dân dựng nước xiết bao công trình”. Những lời ai điếu theo kiểu “cái quan định luận” như vậy hẳn không phải là không có cơ sở, nhưng các chữ “áo vải” đã được đời sau đặt thành phương trình “áo vải = nông dân” thì cần phải xem xét lại khi so sánh với những sử liệu hữu quan. Mặt khác, việc Quang Trung ra Bắc với mục đích “phò Lê diệt Trịnh” cũng cần giải mã rằng đây là một thao tác chính trị. Chúng ta sẽ hiểu điều này hơn khi đọc nhiều văn bản địa phương tại miền Bắc, với danh từ “Tây tặc” để miêu tả tình trạng phá chùa, lấy chuông đồng đúc súng. Chúng ta có xu hướng không chấp nhận những góc nhìn khác về Nguyễn Huệ, được phản ánh qua nhiều tư liệu, trong đó điển hình như “Tây Sơn hành” mới được phát hiện, là bài thơ của tiến sĩ Trần Danh Án (1). Mặc dù đối với giới nghiên cứu lịch sử, và nghiên cứu văn học thì đây hẳn là một tư liệu vô cùng đặc sắc, nó gợi mở những câu hỏi mới, những góc nhìn mới về một giai đoạn quan trọng của lịch sử Việt Nam, nhưng cho đến nay chưa có một nghiên cứu nào dám đề cập về bài thơ này trên các tạp chí khoa học. Mặt khác, chúng ta đã an nhiên bỏ qua những mâu thuẫn nội bộ trong anh em nhà Tây Sơn từ việc chia chiến lợi phẩm, cũng như ân oán cá nhân được ghi chép trong sử sách như đoạn trích dưới đây: “Nhạc đã đắc chí, ngày càng dâm ô, bạo ngược, giết Nguyễn Thung, lại thông dâm với vợ Huệ, người đều chê là xấu. Việc đi xâm lấn miền Bắc, của báu ở phủ chúa Trịnh, về cả tay Huệ, Nhạc đòi không cho. Huệ muốn lấy cả đất Quảng Nam, Nhạc cũng không cho, mới thành ra cừu thù hiềm khích nhau. Huệ bèn truyền hịch kể tội ác của Nhạc, đến nỗi bảo Nhạc là giống sài lang chó lợn”(2). Chúng ta chưa biết những ghi chép trên (nhất là việc Nguyễn Nhạc thông dâm với em dâu) có phải là sự thực, hay đó là sự bôi bác, thêu dệt của sử quan triều Nguyễn sau này. Nhưng nếu như có được một sử liệu khách quan khác thì hẳn là những ghi chép trên không phải là không có cơ sở (3). - - - [1] Bài thơ được chép trong ba văn bản Tản Ông di cảo (散翁遺稿 ký hiệu A.2157), Thù thế danh thư 酬世名書 ký hiệu VHv.2239 và cuốn Danh nhân văn tập 名人文集 ký hiệu VHv.2432), kho sách Viện NC Hán Nôm. Có thể tìm kiếm một số bản dịch trên mạng. [2] Quốc Sử Quán triều Nguyễn. Ðại Nam Liệt Truyện tập II (Ngô Hữu Tạo, Ðỗ Mộng Khương dịch) (1997) Nxb Thuận Hoá. Huế. tr. 531-532. [3] Hoàng Xuân Hãn, “Thống Nhất Thời Xưa”, trong La Sơn Yên Hồ- Hoàng Xuân Hãn tập II (1998). Nxb. Giáo dục. Hà Nội. tr. 1375. Nguồn: Blog Nguyễn Xuân Diện  
......

Thư của Liên minh Biển Tây Philippines gửi nhân dân Việt Nam

Người Philippines biểu tình chống Trung Quốc, ngày 24/7/2013. Photo by Nguyễn Lân Thắng Gửi những người bạn Việt Nam, Chúng tôi, Liên minh biển Tây Philippines, những người kêu gọi và tổ chức các cuộc biểu tình của người Philippines trên toàn thế giới nhằm phản đối chính sách bành trướng của Trung Quốc trên vùng đặc quyền kinh tế của chúng tôi, xin gửi lời chào trân trọng nhất tới những người bạn Việt Nam của chúng tôi, những người có cùng mối quan ngại về cách hành xử của Trung Quốc trên các vùng biển ở Đông Nam Á. Như các bạn đã biết, chính sách ngoại giao và hành động thực tế của Trung Quốc trên các vùng biển ở Đông Nam Á chứa đựng nhiều sự bất hợp lý và xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi hợp pháp của Philippines cũng như nhiều quốc gia khác ở Đông Nam Á, trong đó có đất nước Việt Nam của các bạn. Chính sách này vi phạm nghiêm trọng Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS) mà Trung Quốc, cùng với Việt Nam và Philippines, là những bên đã ký kết. Người dân Philippines chúng tôi luôn bày tỏ quan điểm và thái độ nhất quán của mình là phản đối chính sách ngoại giao này của Trung Quốc, đồng thời bảo vệ đến cùng chủ quyền của chúng tôi đối với các vùng biển, đảo thuộc về chúng tôi theo luật pháp quốc tế. Chúng tôi kêu gọi những người bạn Việt Nam, với truyền thống bảo vệ chủ quyền từ ngàn xưa của mình và dựa trên các chuẩn mực pháp lý quốc tế, đoàn kết với người dân Philippines chúng tôi trong một nỗ lực bảo vệ các lợi ích chung của nhân dân hai nước trước sự đe doạ của chính phủ Trung Quốc. Chúng tôi hiểu rằng, nhân dân Việt Nam cũng như nhân dân Philippines, đều có mối quan hệ hợp tác từ lâu đời với nhân dân Trung Quốc và chúng ta không chống nhân dân Trung Quốc, chúng ta chống lại chính sách ngoại giao phi pháp của chính phủ Trung Quốc ở các vùng biển Đông Nam Á. Cùng đoàn kết, chúng ta sẽ bảo vệ chủ quyền quốc gia của mỗi nước một cách hiệu quả hơn. Trân trọng, Liên minh Biển Tây Philippines LETTER OF COOPERATION PROPOSAL To our Vietnamese friends, We, the West Philippine Sea Coalition, who calls and organizes the global day of Philippine protests against Chinese aggressive policy in our Exclusive Economic Zone (EEZ), would like to convey our most amicable salutation to you – the Vietnamese people who share our concern about Chinese provocative behavior in the Southeast Asian waters. As you may already know, Chinese foreign policy and acts in the Southeast Asian waters have seriously infringed upon the legitimate interests of the Philippines as well as other nations in the region, including Vietnam. The policy that China pursues is a serious violation of the 1982 United Nations Convention on the Law of the Sea, to which China, as well as Vietnam and the Philippines, are signatories. Our people have consistently been of the opinion that we are against this policy of China, and we will keep defending our maritime sovereignty over the islands and the sea that belong to us under international law. We call on you, our Vietnamese friends, with your history of sovereignty defense, to stand by the Filipinos in a joint effort, based on international legal standards, to protect the interests of the two peoples against the aggressive China. We are completely aware that the Vietnamese and the Filipinos both have a long history of amity and cooperation with China, and we are not against the Chinese people. We are against the Chinese government’s lawless policy in the Southeast Asian Sea. Together we stand, and more effectively we will defend our territorial integrity.
......

Lê Hiếu Đằng: Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh

BBT-TTĐQ: Các từ ngữ và ý tưởng trong bài phản ánh quan điểm riêng của tác giả. Sau hơn 45 năm chiến đấu trong hàng ngũ Đảng Cộng sản Việt Nam, với 45 tuổi Đảng, những trải nghiệm cay đắng mà tôi cùng nhiều bạn bè nữa trong phong trào học sinh sinh viên trước 1975 đã chịu đựng, thôi thúc tôi phải “thanh toán”, “tính sổ” lại tất cả. Trong lúc nằm bịnh tôi đọc quyển Chuyện nghề của Thủy của đạo diễn Trần Văn Thủy, các truyện của các nhà văn quân đội như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Trần Dần và qua ti vi xem các chuyến đi thăm Mỹ của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng thăm Hàn Quốc, Myanmar (Miến Điện) lại càng giục giã tôi viết những dòng này. Các nhà văn đã cho tôi thấy thêm sự bi thảm của thân phận con người trong cái gọi là CNXH ở Miền Bắc, một xã hội không có bóng người. Chuyến đi của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang không có những nghi thức cao nhất của một nguyên thủ quốc gia hay chuyến đi thăm Hàn Quốc, Myanmar của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng nếu đem so sánh các chuyến đi thăm Trung Quốc của các vị thì không khí hoàn toàn khác nhau. Một bên thì khô cứng, lạnh lùng của một nước lớn đầy tham vọng, một bên là không khí cởi mở, vui vẻ bình đẳng. Không biết các nhà lãnh đạo của ĐCS Việt Nam với lòng tự trọng dân tộc có “mở mắt” thấy điều đó không? Hẳn nhiên chúng ta không thể đòi hỏi Mỹ làm nhiều điều tích cực hơn bởi vì công bằng mà nói anh không thể “mở lòng” với một nước mà thái độ không rõ ràng, bất nhất. Tất cả tình cảm của gia đình và bạn bè trong nước cũng như ở nước ngoài làm tôi suy nghĩ miên man trong lúc nằm bịnh càng khẳng định với tôi một điều: con đường mà tôi cùng nhiều bạn bè, đồng đội đã lựa chọn, con đường tiếp tục đấu tranh cho lý tưởng thời trai trẻ và một xã hội công bằng tự do dân chủ. Ở đó con người sống với nhau một cách tử tế, thật sự được giải phóng từ người nô lệ thành người làm chủ của đất nước. Tôi ngày càng hiểu sâu sắc từ “GIẢI PHÓNG” không có nghĩa như ngày nay người ta thường dùng mà là sự thoát xác thật sự làm người tự do dù cho người cai trị là da trắng hay da vàng, thậm chí điều đau khổ, bi thảm nhất là hệ thống cai trị chính là người của dân tộc đó, là Việt Nam, là Trung Quốc, v.v. Nếu hiểu từ giải phóng theo ý thức sâu xa đó thì tôi cũng rất đồng tình với nhận xét của nhiều nhà báo, nhà văn, học giả ở Miền Bắc, trong đó có nhà báo Huy Đức trong cuốn Bên thắng cuộc mới đây. Thật sự là Miền Nam đã giái phóng Miền Bắc trên tất cả các lĩnh vực nhất là kinh tế, văn hóa, tư tưởng… Vì những lẽ trên tôi xin “tính sổ” với ĐCS VN và với bản thân cuộc đời của tôi, tư cách một đảng viên, một công dân ở những điểm cơ bản sau: một cách minh bạch, sòng phẳng để từ đây thanh thản dấn thân vô cuộc chiến mới. 1. Vì sao tôi đi kháng chiến, vào ĐCS Việt Nam? Vào thế kỉ trước, chủ nghĩa Marx, CNXH, CNCS đã làm say mê biết bao trí thức, văn nghệ sĩ ở các nước, nhất là ở nước Pháp, cái nôi của khuynh hướng xã hội, dân chủ mà cả thời kỳ ánh sáng với các tên tuổi như Montesquieu, Voltaire, Jean Jacques Rousseau, v.v. với khát vọng xây dựng một xã hội bác ái, tự do, bình đẳng. Chủ nghĩa Marx, CNXH, CNCS chẳng những lôi cuốn, làm say mê nhiều thế hệ trí thức phương Tây mà ở Việt Nam cũng vậy. Những tri thức văn nghệ sĩ tên tuổi lẫy lừng như Văn Cao, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài, Thanh Tịnh, Thế Lữ, v.v. hay những trí thức tên tuổi ở nước ngoài như Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường. Thật ra họ theo lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của HCM mà đi vào chiến khu chứ họ ít hoặc chưa biết chủ nghĩa Marx là gì, CNXH ra sao, nhưng họ hy vọng sau khi kháng chiến thành công sẽ xây dựng một xã hội dân chủ, tiến bộ xã hội, tự do, hạnh phúc mà trong Tuyên ngôn độc lập và Hiến pháp năm 1946 ông HCM đã trịnh trọng cam kết trước toàn dân giữa Ba Đình lịch sử. Lòng yêu nước, lòng tự trọng dân tộc đã thúc đẩy mọi người tham gia Cách mạng tháng 8 và sau đó đi kháng chiến. Bạn bè tôi và bản thân tôi cũng bị thôi thúc bởi những tình cảm đó: lòng yêu nước, ý chí chống xâm lược, giành độc lập tự do dân chủ cho Tổ quốc để xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn các chế độ cũ ở đó công nhân, nông dân, người lao động, những người hi sinh nhiều trong chiến tranh có cuộc sống ấm no, hạnh phúc đã thôi thúc chúng tôi lên đường. Tôi vào Đảng cũng rất đơn giản: năm 1966, anh Nguyễn Ngọc Phương (Ba Triết) phụ trách đơn tuyến tôi, hẹn tôi gặp nhau ở một chùa trên đường Trần Quốc Toản (nay là 3-2) để sinh hoạt. Anh Nguyễn Ngọc Phương nghiêm mặt tuyên bố: “Đ/c Bắc Sơn (bí danh của tôi lúc đó), đ/c từ nay là Đảng viên Đảng nhân dân cách mạng (thực chất là Đảng Lao động Việt Nam ở Miền Nam mà thôi). Lẽ ra tôi đưa điều lệ để đồng chí nghiên cứu nhưng đ/c là người hoạt động công khai trong Ban chấp hành Tổng hội sinh viên Sài Gòn và ĐH Luật Khoa nên tôi bây giờ mới phổ biến một số điều trong điều lệ để đ/c biết”. Một buổi kết nạp chẳng có lời thề thốt, cờ quạt gì cả. Anh Nguyễn Ngọc Phương, người phụ trách tôi trong thời gian đầu, là người lớn lên trong một gia đình khá giả, có em gái lấy nghệ sĩ hài nổi tiếng Bảo Quốc. Thật ra qua một số người hoạt động ở Huế anh ấy đã biết tôi từng tham gia phong trào đấu tranh Sinh viên học sinh Huế lúc tôi còn học đệ nhị, đệ nhất Quốc học Huế và đã từng bị bắt giam ở lao Thừa Phủ Huế gần một năm với Lý Thiện Sanh (nay là Bác sĩ định cư ở Úc). Vì chính quyền Thừa Thiên-Huế lúc đó nghĩ tôi là thành viên của Đoàn TN nhân dân Cách mạng Miền Nam. Nhắc đến đây tôi có một kỉ niệm khó quên: ba tôi và mẹ Lý Thiện Sanh nóng lòng vì đã đến kì thi Tú tài II nhưng chúng tôi vẫn bị nhốt trong tù. Vì vậy ông bà làm đơn hú họa xin cho hai chúng tôi được ra thi. Thế mà chính quyền Thừa Thiên-Huế lúc đó lại giải quyết cho ra thi. Tôi theo ban C Triết học nên chỉ còn vài ngày nữa là thi, ba tôi gửi một số sách vào cho tôi. May mắn lúc đó tôi đã đọc nhiều sách triết học của các Giáo sư Nguyễn Văn Trung, Trần Văn Toàn và các tạp chí Sáng tạo, Hiện đại của nhà văn Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, nhà thơ Nguyên Sa, Tô Thùy Yên, v.v., kể cả quyển sách viết về Nietzsche của Nguyễn Đình Thi thời còn trai trẻ trước 1945, nên gặp đề thi triết khá hay tôi tán đủ điều, đậu hạng thứ dễ dàng. Còn Lý Thiện Sanh học ban B vốn rất giỏi nên đậu hạng bình thứ. Những ngày ba tôi đến đón tôi ra thi ông đã đi qua cánh đồng An Cựu trong giá lạnh. Tôi không thể nào quên hình ảnh đó của ba tôi. Bây giờ Người đã mất nhưng tôi không bao giờ quên ông, biết ơn nuôi dạy tôi thành người trưởng thành pha một chút ân hận vì tôi mà ông phải khổ sở. Tôi không biết với chế độ gọi là “ưu việt” hiện nay có người tù nào đã được cho ra khỏi nhà tù để đi thi như chúng tôi hay không? Trong thời gian đó, lúc nhà tù cho tù nhân làm văn nghệ tôi thường hát bài “Tình quê hương” thơ Phan Lạc Tuyên, nhạc Đan Thọ, lúc đó là Đại úy Quân đội Sài Gòn. Gia đình của người phụ trách lao Thừa Phủ đứng trên bức tường có đường đi bao quanh nhà tù để xem. Đúng là cái máu lãng mạng của đám Sinh viên học sinh chúng tôi lúc đó ngay trong tù cũng nổi dậy đùng đùng và có cô con gái rất thích bài đó. Lý Thiện Sanh đùa “Nó khoái mày rồi đó”. Về anh Nguyễn Ngọc Phương người phụ trách tôi sau này bị địch bắt, đã hi sinh trong tù năm 1973. Năm ngoái, nhân ngày giỗ anh, tôi có kể lại việc mỗi lần sinh hoạt với tôi xong anh đề nghị tôi hát bài “Trăng mờ bên suối” của Lê Mộng Nguyên. Hát xong tôi hỏi anh: “Anh là bí thư Đảng ủy sinh viên mà sao thích bài hát ướt át quá vậy?”. Anh cười buồn và nói: “Chúng ta chiến đấu xét đến cùng là vì con người. Nhưng bài hát đó viết rất hay về con người thì sao mình không thích được!”. Nghe anh tôi càng cảm phục người đ/c phụ trách tôi và hôm giỗ anh tôi hát lại bài “Trăng mờ bên suối” để cúng anh. Sau đó, chị Cao Thị Quế Hương có vẻ trách tôi vì cho rằng anh Phương không thể ủy mị như vậy. Tôi cười buồn và im lặng. Tôi đã đi theo kháng chiến và vào Đảng như thế đó… 2. Vấn đề đa nguyên, đa đảng Có thời gian từ 1975 đến 1983 tôi là giảng viên Triết học và Chủ nghĩa xã hội khoa học ở Trường Đảng Nguyễn Văn Cừ thuộc Khu ủy Sài Gòn-Gia Định. Về phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lê nin mà tôi hiểu được có một điều cơ bản là cơ sở hạ tầng (bao gồm cơ sở xã hội, cơ sở kinh tế, v.v.) như thế nào thì phản ảnh lên thượng tầng kiến trúc như thế đó. Sau một thời gian dài Đảng và nhà nước Việt Nam nhận chìm các tầng lớp nhân dân Việt Nam từ Bắc chí Nam dưới chế độ quản lý kinh tế bao cấp, đi ngược lại tất cả qui luật tự nhiên, cop-pi mô hình kinh tế của Liên bang Xô viết và Trung Quốc cộng sản 100%. Dân chúng đói kém rên xiết. Các đợt cải tạo tư sản X1, X2 đã làm tan nát biết bao gia đình, làm dòng người vượt biên ngày càng nhiều và biết bao gia đình phải chết tức tưởi trên biển. Trong đó có gia đình nhà báo Trần Triệu Luật, người đã cùng tôi vào chiến khu và đã hi sinh vào ngày 11.10.1968 tại căn cứ Ban tuyên huấn T.Ư cục Miền Nam cùng với nhà thơ Thảo Nguyên Trần Quang Long sau trận bom ác liệt của F105 của Mỹ. Hoặc bị bọn cướp biển hãm hiếp làm nhục trước mặt chồng con. Có thể nói tất cả điều đó là tội ác của Đảng và Nhà nước Việt Nam, không thể nói khác được. Trước sự rên xiết của người dân, những nhà lãnh đạo còn có tấm lòng và suy nghĩ đã chủ trương phải đổi mới kinh tế bằng cách phải chấp nhận kinh tế có nhiều thành phần trong đó có kinh tế cá thể. Thế thì một khi cơ sở hạ tầng có nhiều thành phần kinh tế khác nhau trong xã hội sẽ có nhiều tầng lớp với lợi ích khác nhau thì tất yếu họ phải có tổ chức để đấu tranh bảo vệ quyền lợi của họ. Đó là qui luật tất yếu, vì vậy không thể không đa nguyên đa đảng được, và như vậy điều 4 Hiến Pháp hiện nay là vô nghĩa. Trước sau gì các vị lãnh đạo của ĐCS phải chấp nhận thách thức này: các Đảng, tổ chức đối lập sẽ đấu tranh bình đẳng với ĐCS trong các cuộc bầu cử hợp pháp có quan sát viên Quốc tế giám sát như hiện nay Campuchia đã làm. Tôi thách bất cứ ai trong Bộ chính trị, Ban bí thư, trong Ban Tuyên huấn của Đảng mà đứng đầu là ông Đinh Thế Huynh, vừa là Trưởng ban, vừa là Chủ tịch Hội đồng lý luận Trung ương, trả lời luôn một cách công khai, minh bạch với chúng tôi trên các diễn đàn mà không chơi trò “bỏ bóng đá người” như đã từng thường sử dụng hiện nay. Thực tế hiện nay, trong Nam ngoài Bắc đã tập hợp được những khuynh hướng có chủ trương đấu tranh cho một thể chế dân chủ cộng hòa mà tiêu biểu là đề nghị 7 điểm và dự thảo Hiến pháp năm 2013 của nhân sĩ trí thức tiêu biểu ở trong Nam ngoài Bắc như nhà văn Nguyên Ngọc, các Giáo sư Hoàng Tụy, Chu Hảo, Tương Lai, Phạm Duy Hiển, những trợ lý Tổng bí thư, Thủ tướng hoặc Đại sứ nhiều thời kỳ như ông Trần Đức Nguyên, Việt Phương, Nguyễn Trung, v.v. Các nhà kinh tế có uy tín lớn như Lê Đăng Doanh, Phạm Chi Lan, các nhà báo, nhân sĩ trí thức kỳ cựu như Hồ Ngọc Nhuận, Nguyễn Đình Đầu, Lữ Phương, Kha Lương Ngãi, Nguyễn Quốc Thái, và các “lãnh tụ” sinh viên trước đây đã có một thời kỳ lẫy lừng trong phong trào đấu tranh tại Sài Gòn và các đô thị Miền Nam trước 1975 như Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Công Giàu, Trần Văn Long (Năm Hiền), Huỳnh Kim Báu, Hạ Đình Nguyên, Cao Lập và biết bao con người tâm huyết mặc dầu đời sống kinh tế đã khá giả, có những người là giàu có, nhưng không thể yên tâm thụ hưởng tất cả những tiện nghi của đời sống đã vùng lên sau một giấc ngủ khá dài để chấp nhận mọi rủi ro, nguy hiểm cho bản thân cá nhân mình cũng như gia đình, quyết dấn thân vào cuộc chiến đấu mới để tiếp tục thực hiện lý tưởng thời trai trẻ mà hiện nay đã bị phản bội, chà đạp lên những lời hứa năm nào trong kháng chiến. Ngoài ra còn cả một lớp trẻ hăng hái, nhiệt tình bao gồm những bloger, những sinh viên đang có những hoạt động ở các trường Đại học hoặc nhiều tổ chức khác. Tình hình trên cộng với thực tế hiện nay tôi biết nhiều đảng viên đang muốn ra khỏi Đảng, hoặc không còn sinh hoạt Đảng (giấy sinh hoạt bỏ vào ngăn kéo). Vậy tại sao chúng ta hàng trăm đảng viên không tuyên bố tập thể ra khỏi Đảng và thành lập một Đảng mới, chẳng hạn như Đảng Dân chủ xã hội, những Đảng đã có trên thực tế trước đây cho đến khi bị ĐCS bức tử phải tự giải tán? Tại sao tình hình đã chín mùi mà chúng ta không dám làm điều này vì chủ trương không đa nguyên đa đảng chỉ là chủ trương của Đảng chứ chưa có một văn bản pháp lý nào cấm điều này? Mà nguyên tắc pháp lý là điều gì luật pháp không cấm chúng ta đều có quyền làm. Đó là quyền công dân chính đáng của chúng ta. Không thể rụt rè, cân nhắc gì nữa. Đây là một yếu tố sẽ làm cho xã hội công dân, xã hội dân sự mạnh lên, không có thế lực nào ngăn cản được. Đây là cách chúng ta phá vỡ một mảng yếu nhất của một nhà nước độc tài toàn trị hiện nay. Chẳng lẽ nhà nước này bắt bỏ tù tất cả chúng ta sao? Chúng ta phải đấu tranh với phương châm công khai, minh bạch, ôn hòa, bất bạo động, phản đối tất cả mọi hành động manh động, bạo lực khiêu khích gây chiến tranh. Như nhà thơ Nguyễn Duy đã viết, đại khái: trong bất cứ cuộc chiến tranh nào người thất bại đều là nhân dân. Giờ hành động đã đến. Không chần chừ, do dự được nữa. 3. Vấn đề Độc lập dân chủ, tự do và hạnh phúc - Việt Nam đã thống nhất mặc dầu còn nhiều điều chưa hòa hợp, đoàn kết thực sự. Nhưng còn độc lập thì sao? Sau khi hi sinh biết bao xương máu, nay Đảng và Nhà nước Việt Nam muốn làm việc gì đều phải len lén nhìn ông bạn láng giềng Trung Quốc, những kẻ luôn chực nuốt chửng nước ta và vào năm 1979 họ đã xua quân tàn sát người dân Lạng Sơn và các tỉnh phía Bắc mà tên Đặng Tiểu Bình xấc xược gọi là dạy cho Việt Nam một bài học. Thật ra tổ tiên chúng ta, những tiền nhân thời xa xưa đã cho họ nhiều bài học Chi Lăng, Bạch Đằng Giang, Gò Đống Đa, v.v. Không biết tập đoàn Tập Cận Bình có còn nhớ những bài học đó không? Riêng các vị lãnh đạo ĐCS và Nhà nước Việt Nam thì dường như chưa thấy hết sức mạnh của dân tộc Việt Nam nên quá “hiền lành” đối với một nước lớn nhưng rất “tiểu nhân” (chữ nghĩa của các truyện Tàu), miệng thì xoen xoét nói về “bốn tốt mười sáu chữ vàng” trong lúc hành động thực tế là uy hiếp, săn đuổi, bắt bớ một cách vô nhân đạo các ngư dân Việt Nam đang đánh bắt trong ngư trường truyền thống của mình hoặc hèn hạ cắt đứt cáp các tàu thăm dò dầu khí của chúng ta. Thế mà phản ứng của lãnh đạo Việt Nam thì quá nhu nhược: chỉ là lời phản đối lặp đi lặp lại nghe quá nhàm tai và khó chịu của người phát ngôn viên bộ Ngoại giao. Đến nỗi có những vụ việc lớn mà lại không dám thực hiện hành động đáp trả theo quy tắc bình thường trong quan hệ quốc tế là triệu tập Đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội để trao công hàm phản đối chứ không chỉ là đưa công hàm đến tòa Đại sứ. Vậy thì độc lập cái gì? Hẳn nhiên là chúng ta không dựa vào nước này chống các nước khác nhưng thực tế quốc tế hiện nay rất thuận lợi để chúng ta liên kết với các nước để đấu tranh với Trung Quốc về Biển Đông. Tôi rất mừng nghe Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố ở hội nghị Shangri-La chống lại nền chính trị cường quyền và những đối xử vô nhân đạo đối với ngư dân Việt Nam. Trả lời phỏng vấn một Thiếu tướng Trung Quốc, Thủ tướng đã khéo léo nói nước đó là nước nào ai cũng biết. Rõ ràng đây là cú đấm đích đáng bọn bành trướng Bắc Kinh trong một diễn đàn quốc tế. Tôi càng thấy vui hơn khi được biết đây là ý kiến của cá nhân Thủ tướng dám chịu trách nhiệm để tuyên bố như vậy chứ không có sự chỉ đạo nào của Bộ chính trị cả. Vì thế mà Hạ Đình Nguyên trong một bài viết về vấn đề này đã hoan hô Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến 5 lần. 4. Vấn đề Dân chủ, tự do và hạnh phúc Thực chất đây là vấn đề dân sinh, dân chủ mà trước đây trong thời kì kháng chiến hoặc trước 1975 ĐCS VN đã phát động để đấu tranh giành quyền sống. Đây là vấn đề về con người. + Về dân chủ thì đã quá rõ. Muốn có dân chủ thực sự thì phải thay đổi thể chế từ một nhà nước độc tài toàn trị chuyển thành một nhà nước cộng hòa với tam quyền phân lập: lập pháp, hiến pháp, tư pháp độc lập. Tư pháp độc lập thì mới có thể chống tham nhũng. Cần có Quốc hội lập hiến để soạn thảo và thông qua Hiến pháp mới. Sau đó bầu Quốc hội lập pháp để ĐCS sẽ qua bầu cử bình đẳng mà trở thành người lãnh đạo. Tôi nghĩ trong một thời gian dài ĐCS vẫn sẽ là một lực lượng chính trị mà không có bất cứ lực lượng nào có thể tranh chấp được. Các nhà lãnh đạo ĐCS cần tự tin điều đó. Dần dần các Đảng đối lập sẽ trở thành một lực lượng làm nhiệm vụ như một kháng thể trong một cơ thể xã hội lành mạnh. Nếu xã hội không có lực lượng đối lập sẽ trở thành một con bệnh SIDA khó trị, chờ chết mà thôi. + Con người khác con vật ở chỗ là có tự do. Tự do là thuộc tính của con người. Không có tự do thì con người chỉ là một đàn cừu (theo ngôn ngữ của Giáo sư toán học Ngô Bảo Châu). Không có tự do thì không thể có khoa học, văn học, nghệ thuật, báo chí… thật sự. Do đó Hiến Pháp 1946 đã qui định những quyền tự do của con người. Đó là vấn đề quyền con người. Nhưng giờ đây chế độ toàn trị đã phản bội tước đoạt tất cả các quyền cơ bản đó, vất bỏ tuyên ngôn nhân quyền và nhai đi nhai lại luận điệu mỗi nước có hoàn cảnh riêng, có vấn đề nhân quyền riêng. Họ không biết rằng đó là quyền cơ bản và phổ quát mà loài người đã đấu tranh qua nhiều thế hệ. Đại tá nhà văn Nguyễn Khải đã nói: “khi đọc cuốn Bàn về tự do của Stuart Mil thì vỡ ra nhiều vấn đề”. Vì vậy anh Nguyễn Khải đã nhìn lại những gì mà anh đã trải nghiệm một cách sâu sắc với một giọng văn nhẹ nhàng không hàm hồ nên rất thuyết phục. Đây là quyển sách đã đi sâu vào tim óc của chế độ mà không thấy các vị “phê bình chỉ điểm” (cách gọi mới đây của nhà văn Phạm Xuân Nguyên, Chủ tịch Hội nhà văn Hà Nội đối với tên Nguyễn Văn Lưu cùng với một số người trong việc “bề hội đồng” bài viết của Thạc sĩ Nhã Thuyên về nhóm “Mở miệng”) nào dám phê phán, chửi rủa. Các vị lãnh đạo ĐCS tại sao không suy nghĩ trong chế độ thuộc Pháp lại có một thời báo chí, văn học nghệ thuật phát triển mà cho đến nay chưa có thời kì nào có thể so sánh được dù là chế độ gọi là “tự do gấp vạn lần” như bà Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan đã nói một cách hàm hồ, thiếu suy nghĩ, chỉ làm trò cười cho thiên hạ. Báo chí thì nở rộ: Gia Định báo, Phụ nữ tân văn, Nam Phong, Phong hóa, Ngày nay… với những học giả Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Khôi,… Văn học nghệ thuật thì có cả một trào lưu thơ mới với Xuân Diệu, Huy Cận, Thế Lữ, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư và nhiều nhà thơ nổi tiếng khác với nhiều bài thơ bất hủ mà đến nay ai cũng thuộc nằm lòng. Về tiểu thuyết thì có nhóm Tự lực văn đoàn với Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Hoàng Đạo… Ngoài ra còn có hàng loạt nhà văn tài hoa khác như Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Lan Khai, Thanh Tịnh, Nguyên Hồng, v.v. Với Thanh Tịnh tôi vẫn nhớ bài “Tôi đi học” trong tập Quê mẹ của ông. “Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm mênh mang của buổi tựu trường. Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng. Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì hồi ấy tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã. Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học”. Nhạc thì có một thời có nền tân nhạc rực rỡ với các tên tuổi như Văn Cao, Đặng Thế Phong, Phạm Duy, Đoàn Chuẩn-Từ Linh, Doãn Mẫn, Lê Thương, Nguyễn Văn Thương… Thế mà Thanh Tịnh và những nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ nói trên dưới chế độ XHCN ở Miền Bắc chẳng có tác phẩm nào ra hồn. Cũng may ra sau 1975, không khí vui vẻ, sum họp của những ngày đầu đã tạo nên trào lưu hứng khởi để nhạc sĩ VĂN CAO làm bài “Mùa xuân đầu tiên” với điệu valse dìu dặt. Nhưng tội nghiệp cho Văn Cao đã ngây thơ tin rằng “Từ đây người biết yêu người, từ đây người biết thương người, từ đây người biết quê người…” thế mà bài ca này cũng bị cấm hát hết mấy năm. Những năm sau khi vào chơi với Trịnh Công Sơn và các nhạc sĩ Miền Nam ông đã nói lên nỗi thất vọng của ông. Cảnh chia lìa, vượt biên, đày đọa, tù tội trong đó có người bạn văn chương của các ông đã làm ông buồn bực và tiếp tục uống rượu. Chỉ có một điều an ủi ông là vào Nam, vào Sài Gòn ông nghe mọi người từ trẻ đến già đều hát “Mùa xuân đầu tiên”, “Thiên thai”, “Suối mơ”, “Trương Chi”, “Buồn tàn thu”, v.v. của ông. Vấn đề là ĐCS VN cần trả lại những gì của lịch sử, của tiền nhân để lại. Việc đổi tên đường từ Trần Quý Cáp thành Võ Văn Tần, từ Phan Đình Phùng thành Nguyễn Đình Chiểu, v.v. là việc làm thiếu suy nghĩ, nếu không nói là ngu xuẩn, chà đạp lên lịch sử, xúc phạm những chiến sĩ tuy không phải là Cộng sản nhưng đã đấu tranh bảo vệ đất nước trong các phong trào Cần Vương, Duy Tân. Ngay trong lĩnh vực báo chí tại sao lại lấy ngày ra đời báo Thanh niên, báo của tổ chức CS làm ngày báo chí VN. Quan điểm tôi là phải lấy ngày 15-4 là ngày số báo đầu tiên của Gia Định báo năm 1865 làm ngày báo chí VN. Năm sau, một số nhà báo cùng chúng tôi sẽ tổ chức ngày báo chí VN vào ngày 15-4. Còn ĐCS và các tổ chức của mình cứ lấy ngày 21-6 làm ngày báo chí Cách mạng cũng không sao. Việc ai nấy làm. Thế thôi. Tại Miền Bắc gọi là XHCN khi hòa bình mới lập lại, các văn nghệ sĩ mà đặc biệt đi tiên phong là các nhà thơ, nhà văn quân đội, mà tiêu biểu là Trần Dần, Phùng Quán, Hoàng Cầm,... đã gây chấn động trong vụ Nhân văn giai phẩm. Có lẽ là những người trực tiếp chiến đấu chứng kiến cảnh chết chóc của nhân dân trong chiến tranh nên họ quyết tâm tiếp tục chiến đấu để xây dựng một chế độ xã hội tự do dân chủ và tiến bộ xã hội. Họ đã quy tụ được nhiều nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ giàn trận đấu tranh quyết liệt với Đảng để đòi hỏi tự do sáng tác, đòi hỏi chính trị không được can thiệp vào sáng tác của văn nghệ sĩ. Nhà nước độc tài Đảng trị trong những năm đó thấy đây là nguy cơ đe dọa của chế độ nên đã ra tay đàn áp, bắt bớ, tù đày một cách không nương tay. Người bị tù với vụ án ngụy tạo như công thần Nguyễn Hữu Đang, người đã làm lễ đài Độc lập năm 1946. Hữu Loan với lòng tự trọng của một người văn nghệ sĩ cương quyết về quê thồ vác đá nuôi vợ con. Ba mẹ vợ anh trong cải cách ruộng đất đã bị chôn sống để trâu bò bừa lên đầu, lên cổ cho đến chết. Một Nguyên Hồng khảng khái bỏ về Yên Thế nuôi heo để kiếm sống. Nguyễn Hữu Đang sau khi ra tù sống những ngày tủi nhục phải góp nhặt bao thuốc lá làm hàng “đối lưu” với ếch nhái, rắn rết của bọn trẻ chung quanh kiếm cho. Năm 1989, tôi gặp Tiến sĩ Luật Nguyễn Mạnh Tường ở Pháp, người đã theo Hồ Chí Minh về nước năm 1946. Ông kể lại hoàn cảnh của ông lúc đó, bị cô lập đến nỗi học trò cũng không dám nhìn mặt, phải bán tủ sách quí để sống qua ngày. Còn nhà triết học Trần Đức Thảo, khi tôi còn làm Phó chủ tịch thường trực MTTQ TP HCM đã mời ông đến nói chuyện. Bước xuống xe ông ngó lên liền xem có công an theo dõi ông không. Buổi nói chuyện làm mọi người thất vọng vô cùng về ông. Tôi còn có những kỉ niệm đau đến xé lòng khi còn nằm trong hệ thống chính trị của nhà nước toàn trị. Lúc còn là phó CT/TT MTTQ TP HCM và là đại biểu HĐND TP khóa 4, khóa 5. Có mấy việc tôi còn nhớ mãi: + ĐCS VN ngày trở thành kiêu binh. Đâu đâu cũng vỗ ngực xưng tên là “ĐCS VN quang vinh muôn năm”. Ngay cả Hội trường của cơ quan dân cử như HĐND TP thế mà chẳng thấy đất nước, Tổ quốc đâu cả, chỉ thấy một khẩu hiệu to chần dần [to đùng] “ĐCS VN quang vinh muôn năm”. Một số đại biểu trong HĐND trong Đảng cũng như ngoài Đảng thấy chướng mắt nhưng không dám nói. Họ đến nói với tôi. Tôi thông cảm họ. Trong HĐND khóa 5, khi lên phát biểu ở Hội trường tôi trầm giọng nói: “Đây là cơ quan dân cử, đại diện cho nhân dân TP, nhưng tôi không thấy đất nước, Tổ quốc ở đâu mà chỉ có ĐCS muôn năm thôi là sao? Đảng chỉ là một bộ phận của nhân dân, không có Tổ quốc, nhân dân thì làm gì có Đảng. Đảng phải đặt Tổ quốc lên trên hết, vì vậy tôi đề nghị thay đổi khẩu hiệu này bằng câu CHXHCN Việt Nam. Cả hội trường im phăng phắc. Nhưng ngay kỳ họp sau thì khẩu hiệu Đảng đã thay đổi bằng tên nước. + Tôi là Trưởng ban VHXH HĐND TP khóa 5. Trong các kỳ họp HĐND TP, các ban có bài thẩm dịnh khá công phu. Phải đi thực tế, làm việc với các ngành và sau đó họp toàn ban để thông qua Trưởng ban là người quyết định cuối cùng. Tôi nhớ trong một kì họp, tôi thức suốt đêm sửa chữa, hoàn thiện văn bản để phát biểu trước HĐND. Khi lên phát biểu, nhìn xuống thì không thấy vị Phó CT nào dự, kể cả phó CT phụ trách VHXH. Thấy vậy tôi không đọc mà đề nghị ông Huỳnh Đảm, lúc đó là CT HĐND, cho các thư kí, trợ lý điện gấp cho các Phó CT, nhất là các Phó CT phụ trách VHXH về dự họp. Ban thẩm định chuẩn bị công phu để phân tích những vấn đề, nhất là những vấn đề còn tồn tại, hạn chế trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục thể thao, các vấn đề xã hội khác. Những vấn đề có liên quan thiết yếu đến đời sống nhân dân TP. Khi thầy các Phó CT lục tục về họp tôi mới phát biểu bản thẩm định của Ban. Đây là lần đầu tiên các phóng viên báo chí thấy việc này nên rất khoái. Từ đó, kì họp nào các PCT UBND cũng đều có mặt trừ một số PCT có lý do chính đáng. Cái bệnh chỉ coi trọng Đảng, Thành ủy, xem thường HĐND đã vào máu các vị quan chức của chúng ta. + Việc thứ ba là cuộc đấu tranh hay có thể nói là đấu khẩu của Chủ tịch UBND TP Võ Viết Thanh và tôi về việc có nên dẹp chợ hoa Nguyễn Huệ hay không? Cuộc đấu khẩu gay gắt đến nỗi CT Võ Viết Thanh nói đại ý nếu đ/c Đằng thấy Đảng chật hẹp quá thì xin ra khỏi Đảng. Tôi liền đốp chát lại: đó là chuyện mà tôi và anh sẽ nói trong Đảng, còn đây là HĐND. Giữa lúc có nhiều đại biểu đồng ý với tôi, trong đó có Trần Văn Tạo, Ủy viên TVTU, Phó giám đốc Công an TP, Phạm Phương Thảo, Ủy viên TVTU, Phó CT phụ trách VHXH UBND TP thì chủ tọa kỳ họp lại được tin ban Thường vụ Thành ủy họp và đã đồng ý dẹp chợ hoa TP. Tôi cương quyết đề nghị có Nghị quyết về vấn đề này nhưng chủ tọa làm ngơ và thông qua NQ ở HĐND TP. Tuy đấu tranh gay gắt như vậy nhưng đối với anh Võ Viết Thanh tôi vẫn tôn trọng tính trung thực, quyết đoán của anh. Lúc đó tôi với tư cách đại biểu HĐND TP có phối hợp với các vị hưu trí Q.6, với Ban quản lý thị trường TP để tố cáo những tiêu cực, sai trái của Giám đốc Đông lạnh Hùng Vương. Phối hợp với cuộc đấu tranh này có anh Nguyễn Văn Thắng, Ủy viên TV Quận ủy Q.6, Trưởng ban Tuyên huấn Q.6. Thắng cũng là dân phong trào SV. Không hiểu sao sau đó có một văn bản có danh sách 12 người gọi là điệp báo của Cục tình báo TƯ Mỹ trong đó Nguyễn Văn Thắng nằm ở số 7. Lúc ấy anh Nguyễn Minh Triết mới về làm Phó bí thư thường trực của TƯ. Tôi gặp anh Nguyễn Minh Triết và trình bày với anh về vấn đề thì anh đề nghị tôi không can thiệp nữa vì danh sách đã có dấu đỏ của đặc ủy tình báo TƯ của Mỹ. Trước đó có người biết chuyện ngụy tạo danh sách này và nói danh sách láo được đánh trên giấy Bãi Bằng là giấy chỉ do Cộng sản sau 1975 sản xuất. Anh Nguyễn Minh Triết ghi nhận nhưng Nguyễn Văn Thắng vẫn bị giam ở 4 Bạch Đằng. Lúc ấy Q.6 tính lấy lại nhà của Nguyễn Văn Thắng ở Bà Hom, Q.6. Tôi gặp Chủ tịch Võ Viết Thanh và đề nghị anh xem xét lại vấn đề này thì anh nói với tôi một cách cương quyết: “Chuyện chính trị của Thắng tôi không biết nhưng chuyện nhà của Thắng tôi bảo đảm không ai lấy được”. Anh giữ lời hứa khi Thắng được giải oan về lại Bà Hom, Q.6 như cũ. Tôi gặp anh Võ Viết Thanh cám ơn anh. Nhân đó tôi hỏi thăm tại sao anh không đi học Cử nhân, Tiến sĩ như những người khác. Anh cười nói rất Nam Bộ: “Tôi không chơi kiểu đó. Nếu tôi học tôi sẽ xin nghỉ làm để đi học thật sự, không như những vị học giả mà bằng thật như hiện nay”. Từ đó quan hệ giữa anh và tôi rất vui vẻ, không còn nhớ gì trận đấu khẩu nảy lửa ở HĐND về vụ chợ hoa Nguyễn Huệ. Sau này anh bị thất sủng vì vụ án Sáu Sứ mà trong quyển Bên thắng cuộc nhà báo Huy Đức có nêu. Tôi nêu những trải nghiệm nói trên để chứng minh rằng trong chế độ này không có chỗ cho người trung thực mà chỉ dành cho những người nói láo, tránh né đấu tranh. Giờ đây chúng ta phải phá vỡ nỗi sợ hãi đó đi để thực hiện một chủ trương cực kỳ quan trọng của nhà cách mạng Phan Châu Trinh: Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Cuối cùng tôi xác định bài viết này chỉ có mục đích là thanh toán, tính sổ cuộc đời của mình, trang trải những món nợ còn lại để gửi các vị lãnh đạo Đảng CSVN, để mong các vị “mở mắt” ra mà có sự lựa chọn con đường sống cho dân tộc. Hiện nay xu hướng chạy theo CN Mác-Lênin CNXH đã lạc điệu, không còn phù hợp nữa và đã sụp đổ tan tành ở ngay quê hương Xô Viết. Hiện nay là cuộc đấu tranh trên thế giới về dân quyền, dân sinh, dân chủ, tự do, tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường. Nghĩa là đây là cuộc đấu tranh quyết liệt cho con người, vì con người chống lại các thế lực phản động đang âm mưu nô dịch nhân dân, phá hoại môi trường vì những lợi ích kinh tế ích kỷ của các tập đoàn, lũng đoạn nhà nước. Tôi không tin lắm về sự tự giác của một số nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước sớm thấy tình hình và xu thế phát triển hiện nay để đặt lợi ích của Đất nước, Tổ quốc lên trên hết mà có một giải pháp hợp lý, không vì lợi ích và sự tồn tại của Đảng, của chế độ mà đi ngược lại xu thế phát triển của thời đại hiện nay. Tôi quan niệm rằng làm nhiệm vụ của chúng ta hiện nay là cương quyết đấu tranh cho một xã hội công bằng, dân chủ và tiến bộ, tôn trọng thực hiện những lý tưởng của biết bao thế hệ cha anh chúng ta về một nước VN hòa bình, độc lập, tiến bộ xã hội, văn minh và giàu mạnh. Một khi xã hội dân sự, xã hội công dân mạnh lên, sẽ đủ sức kìm hãm, ức chế các khuynh hướng độc tài của một nhà nước toàn trị. Trước mắt là phải “chấn dân khí” để không còn sợ hãi các thế lực tàn bạo, không sợ bắt bớ, tù đày. Sau đó là “khai dân trí” và “hậu dân sinh”. Bài viết này cũng là để trải lòng với bạn bè, đồng đội và những nhân sĩ trí thức, các văn nghệ sĩ, các bạn thanh niên, sinh viên, học sinh mà tôi đã quen hoặc mới quen, để khẳng định một điều: với lòng tự trọng của một công dân một nước có lịch sử hào hùng chúng ta phải hành động. Không nên ngồi tranh luận với nhau về sự đúng, sai khi chọn lựa đứng bên này hay bên kia. Vì thật ra cả một bộ phận loài người trong đó có người VN luôn khát khao một xã hội tốt đẹp hơn, chống lại cái ác, cái xấu, nên đã có thời gian dài nuôi ảo tưởng về ĐCS VN và CNXH. Vấn đề là trước đây chúng ta chưa có đủ điều kiện, dữ liệu để nhận thức một số vấn đề sống còn của đất nước, nhưng hiện nay tình hình trong nước và trên thế giới đã thay đổi, vì vậy chúng ta phải nhận thức lại một số vấn đề trước đây. Nhận thức lại và dấn thân hành động cho cuộc chiến đấu mới. Đừng loay hoay những chuyện đã qua mà làm suy yếu sức mạnh đoàn kết dân tộc. Hãy để con cháu chúng ta làm nhiệm vụ đánh giá lịch sử. Còn chúng ta trước mắt là hành động, hành động và hành động. Điều này tôi nói một lần rồi thôi… Viết trong những ngày nằm bịnh. L.H.Đ. - Nguyên phó TTK Ủy ban TƯ LM các lực lượng Dân tộc, dân chủ và Hòa bình Việt Nam - Nguyên phó CT Ủy ban MTTQ VN TP.HCM (từ 1989-2009) - Đại biểu HĐND TP khóa 4, khóa 5 Nguồn: Bauxite Việt Nam
......

Mạng lưới Blogger Việt Nam tiếp xúc với Ủy ban Bảo Vệ Ký Giả (CPJ)

Vào 9.30 sáng thứ 6 ngày 02/08, tại khách sạn The Davis, thủ đô Bangkok của Thái Lan, 5 blogger Việt Nam đã tiếp xúc và trao Tuyên bố 258 cho Ủy ban Bảo vệ Ký giả - Committee to Protect Journalist (CPJ)   Đại diện của Mạng lưới Blogger Việt Nam gồm có các bạn Phạm Đoan Trang (Hà Nội), Nguyễn Thảo Chi (Sài Gòn), Nguyễn Nữ Phương Dung (Sài Gòn), Nguyễn Anh Tuấn (Đà Nẵng), Nguyễn Lân Thắng (Hà Nội). Ông Shawn Crispin, đại diện CPJ khu vực Đông Nam Á đã tiếp nhận Tuyên Bố 258 và trao đổi với các blogger về tình hình tự do ngôn luận và vi phạm nhân quyền tại Việt Nam. Sau khi giới thiệu tóm tắt nội dung, mục tiêu cũng như những nỗ lực vận động quốc tế, đặc biệt là với Hội đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, các blogger từ Sài Gòn, Đà Nẵng, Hà Nội đã trình bày sơ bộ tình hình tự do thông tin Việt Nam, nhấn mạnh các vụ bắt bớ nhà báo. Đối với CPJ, các bạn cũng đã đề xuất CPJ cùng với các tổ chức quốc tế khác ra kiến nghị tuyên bố phản đối điều luật 258 đồng thời xuất bản những báo cáo về thực trạng nhân quyền tại Việt Nam. Sau khi tiếp nhận Tuyên bố 258, ông Shawn Crispin đã trình bày hoạt động liên quan đến Việt Nam của CPJ trong thời gian qua. Người đại diện của CPJ vùng Đông Nam Á, và cũng là một phóng viên, đã bày tỏ mối quan tâm về tình hình tác nghiệp của báo chí công dân ở VN sau khi phỏng vấn blogger Nguyễn Lân Thắng. Là một nhà báo, ông đã theo dõi và quan tâm đến Nghị định 72 trong đó cấm công dân mạng chia sẻ thông tin trên mạng xã hội và phản ứng của giới blogger Việt Nam. Ủy ban Bảo vệ Ký Giả - CPJ là một tổ chức quốc tế độc lập, vô vị lợi được thành lập vào năm 1981 bởi một nhóm phóng viên tại Hoa Kỳ để các phóng viên trên toàn thế giới, đoàn kết bảo vệ đồng nghiệp của mình trong khi hành nghề. Ông Shawn Crispin là một phóng viên từng tác nghiệp cho các tờ báo và tạp chí the International Herald Tribune, Institutional Investor, là trưởng văn phòng của tờ Far Eastern Economic Review và Asian Wall Street Journal. Ông hiện là chủ biên của trang web Asia Times Online. Cuối buổi tiếp xúc, các bạn blogger Việt Nam đã gửi lời cám ơn đến Ủy ban Bảo vệ Ký Giả - không riêng đối với việc đã dành thì giờ tiếp xúc với blogger Việt Nam, mà còn những đóng góp thông tin, báo cáo, bài viết đã xuất bản về tình trạng nhân quyền tại Việt Nam. Trước khi chia tay ông Shawn Crispin đã tặng mỗi blogger một quyển sách của CPJ, trong đó có bài của ông về tình hình tự do ngôn luận ở VN, cùng lời đề tặng "Cho tự do báo chí ở VN". Shawn Crispin, blogger Nguyễn Anh Tuấn và lời ghi tặng của ông Crispin gửi blogger Nguyễn Lân Thắng - "Tất cả những điều tốt đẹp nhất cho cuộc đấu tranh cho tự do báo chí ở Việt Nam"   Mạng lưới Blogger Việt Nam sẽ tiếp tục tường trình những buổi tiếp xúc vừa qua với các tổ chức quốc tế khác.   Mạng lưới Blogger Việt Nam tuyenbo258.blogspot.comtuyenbo258@gmail.com
......

Mạng lưới Blogger Việt Nam tiếp xúc với Ủy ban Luật gia Quốc tế

Mạng lưới Blogger Việt Nam - Ủy ban Luật gia Quốc tế (The International Commission of Jurists - ICJ) là tổ chức tập hợp các luật sư, luật gia, thẩm phán, giáo sư đại học chú trọng và dựa vào công pháp quốc tế để bảo vệ những giá trị, tiêu chuẩn phổ quát về nhân quyền. Thứ 6, ngày 9, tháng 8, năm 2013 tại văn phòng của ICJ ở Bangkok, các đại diện của Mạng lưới Blogger Việt Nam gồm Nguyễn Anh Tuấn (Đà Nẵng), Phạm Đoan Trang (Hà Nội), Nguyễn Thảo Chi (Sài Gòn), Nguyễn Lân Thắng (Hà Nội) và Nguyễn Nữ Phương Dung (Sài Gòn) đã đến tiếp xúc với ICJ và trao Tuyên bố 258. Tiếp đón các bạn blogger là cô Leong Tsu Quin, cố vấn của Ủy ban Luật gia Quốc tế tại Bangkok. Trong dịp này, các bạn blogger đã trình bày với đại diện của ICJ về bối cảnh chính trị và tình trạng đàn áp của nhà nước đối với các quyền tự do dân chủ, vi phạm những điều căn bản nhất của Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và viễn ảnh tiêu cực cho Việt Nam cũng như uy tín của Liên Hiệp Quốc nếu Việt Nam được chấp nhận trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc. Bên cạnh việc trình bày mục tiêu và nội dung Tuyên bố 258, dựa vào những lãnh vực và vai trò của ICJ, các blogger đã cung cấp cho cô Leong Tsu Quin nhiều thông tin về các vụ án mà ICJ quan tâm. Đặc biệt, qua các vụ án đã xảy ra, các bạn cũng đã trình bày về các chu trình tư pháp không được đảm bảo, các quyền được hưởng phiên tòa công bằng không được đáp ứng. Blogger Phương Dung, Đoan Trang, Nguyễn Anh Tuấn và đại diện của ICJ Như lần tiếp xúc với Office of United Nations High Commissioner for Human Rights (OHCHR), Front Line Defenders, Committee to Protect Journalist, Đại sứ quán Hoa Kỳ, Đại sứ quán Thụy Điển, các đại diện của Mạng lưới Blogger Việt Nam cũng đã đề xuất một số kiến nghị trong đó là việc ICJ quan tâm hơn về tình trạng vi phạm những công ước, pháp lý quốc tế, có ý kiến về việc nhà nước Việt Nam đang vận động cho chiếc ghế trong Hội đồng Nhân Quyền nhiệm kỳ 2014-2016. Các blogger cũng đề nghị việc ICJ ra tuyên bố lên án điều 258. Cô Leong Tsu Quin đã tiếp nhận Tuyên bố 258 và đánh giá cao việc blogger Việt Nam sang thăm văn phòng ICJ tại Bangkok. Cô cũng đã trình bày các hoạt động mà ICJ đã thực hiện để nâng cao năng lực luật sư nhân quyền VN và cho biết ICJ quan tâm đặc biệt đến việc một số blogger có tên trong tuyên bố như Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Phạm Văn Hải đã từng bị tạm giữ chỉ vì đi phân phát bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền. Cô cho biết ICJ sẽ đưa ra Tuyên bố trong thời gian thích hợp cũng như giúp các blogger Việt Nam gửi Tuyên bố 258 đến các tổ chức có quan hệ với ICJ trên thế giới. Hướng về tương lai, đôi bên thống nhất sẽ tiếp tục mối quan hệ để góp phần cùng các cơ quan, tổ chức quốc tế khác tạo áp lực lên nhà nước CHXHCNVN để giải quyết tệ trạng và cải thiện tình trạng nhân quyền ở VN. Mạng lưới Blogger Việt Nam sẽ tiếp tục tường trình những buổi tiếp xúc vừa qua với các tổ chức quốc tế khác. Mạng lưới Blogger Việt Nam tuyenbo258.blogspot.comtuyenbo258@gmail.com
......

Thứ trưởng Việt và phiên toà Đức, nan đề hội nhập chính trường

... một án quyết Đức ghi cả tên Thứ trưởng Việt Nam có một không hai trong lịch sử ngoại giao này, bắt nguồn từ mô hình hội đoàn giữa 2 nước Việt Nam và Đức vốn khác nhau về bản chất, nguyên lý vận hành, xuất phát từ 2 hình thái kinh tế xã hội đối lập nhau giữa các nước TBCN và XHCN trước đây... Cách 3 tháng trước, trang mạng Liên hiệp người Việt ở Đức đăng bài “Buổi gặp gỡ giao lưu của ông Nguyễn Thanh Sơn, Thứ trưởng bộ ngoại giao, Chủ nhiệm Ủy ban nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài và  BCH Liên hiệp người Việt toàn Liên bang Đức” có đoạn: “Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn đã động viên, khuyến khích mọi người tham dự buổi gặp mặt phát biểu ý kiến thẳng thắn, nêu rõ nguyên nhân và những người đã gây ra sự bất ổn cho cộng đồng để cùng nhau tháo gỡ… Tất cả các Uỷ viên BCH đã cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết và cụ thể về những nguyên nhân gây ra sự bất ổn trong suốt năm qua. Bà Trịnh Thị Mùi, Chủ tịch “Hội đồng thành viên” của Liên hiệp đã luôn cản trở các hoạt động của BCH, gây rối, làm mất đoàn kết trong nội bộ và cộng đồng. Cơ sở khởi nguồn từ cấu trúc bất hợp lý trong Điều lệ Liên hiệp đó là việc thành lập ra “Hội đồng thành viên”. … Thứ trưởng chỉ  công nhận BCH mới có vai trò lãnh đạo Liên hiệp. Liên hiệp cần tiến hành sửa đổi, bổ sung Điều lệ cho hợp lý… „. Bản tin vừa đưa lên mạng lập tức dấy lên một làn sóng bức xúc, bất bình sôi sục cộng đồng; chỉ trong vòng 10 ngày, bài “thư ngỏ gửi Chủ tịch Liên hiệp” của Mạnh Thái lên tiếng phản đối, đăng trên trang mạng nguoiviet.de, đã có ngót 200 bình luận. Bởi Liên hiệp đã vi phạm Điều §9 Hiến pháp Đức: „ (1) Tất cả người Đức có quyền thành lập hội đoàn. (2) Cấm những hiệp hội mà tôn chỉ mục đích, hoặc hoạt động vi phạm luật hình sự hoặc chống lại nền tảng của một xã hội dân chủ hoặc chia rẽ, chống lại sự giao lưu hiểu biết lẫn nhau giữa các nhóm, giai tầng, dân tộc“. Điều khoản này có 3 điểm quan trọng: 1- Hiệp hội sinh ra để đoàn kết, hiểu biết lẫn nhau, chứ không phải tạo phe nhóm chống nhau, hay chống bất cứ cá nhân nào. 2- Chỉ áp dụng cho người Đức tức quyền công dân, không phải quyền con người áp dụng cho cả  người nước ngoài sống ở Đức. Lẽ dĩ nhiên, người nước ngoài không vì thế bị cấm lập hội, mà chỉ có nghĩa vị thế pháp lý hội đoàn họ khác người Đức ở chỗ, người Đức có quyền buộc nhà nước tạo mọi điều kiện luật định để thực hiện quyền đó, nếu không họ sẽ viện tới toà án chế tài cơ quan nhà nước liên quan, còn người nước ngoài thì không. 3- Những hiệp hội bị cấm không chỉ do sai tôn chỉ mục đích thường được thể hiện ở Điều lệ mà chính bởi những hoạt động hàng ngày vi phạm luật hình sự, như tụ tập, hội họp, ra nghị quyết, tuyên truyền gây thiệt hại cho nạn nhân, vu khống, lăng mạ, bài xích, kích động, chia rẽ…  Đầu năm nay, Toà án Hành chính ở Kassel, Đức, với án số 8 C 2134/11 đã cấm hiệp hội Hell Angels MC Charter Westend hoạt động. Trước nữa, tháng 12.2012, Hiệp hội HNG bị cấm, kháng kiện phúc thẩm lên toà án Hành chính Liên bang cũng bị y án. BCH Liên hiệp trong buổi gặp gỡ này quy chiếu theo Điều §9 Hiến Pháp Đức cho thấy: 1- Buổi gặp gỡ là 1 hoạt động của Liên hiệp; Liên hiệp phải chịu trách nhiệm. 2- Hội đoàn Đức không được phép tham gia chính trị, nhưng Liên hiệp đã vi phạm, “cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết và cụ thể về những nguyên nhân gây ra sự bất ổn trong suốt năm qua”, cho Thứ trưởng “để cùng nhau tháo gỡ”. 3- Cuộc họp lại nhằm vào cá nhân, “tìm kiếm những người gây ra bất ổn cho cộng đồng”. Hội đoàn sinh ra để làm công việc thiện, chứ không phải để nhắm vào cá nhân con người. Ngay biểu tình dù rất tự do ở Đức nhưng sẽ bị giải tán, phạt hình sự người tổ chức, nếu hô khẩu hiệu hay mang biểu ngữ có tên cá nhân để chống họ, bất kể họ là ai. Chưa nói, nếu có gây bất ổn cộng đồng thật, thì đó là chức năng hiến định của cảnh sát Đức phải giải quyết, không liên quan tới bất kỳ hiệp hội nào, hay nhà chức trách nước ngoài nào. 4- BCH cũng như HĐTV do đại hội bầu không liên quan gì tới nhà nước nào cả, nhưng lại ra tuyên bố chỉ BCH mới được Thứ trưởng Việt Nam công nhận có vai trò lãnh đạo, loại bỏ chức năng tương đương của Hội đồng thành viên vốn được luật Đức thừa nhận. 5- Với danh nghĩa Liên hiệp, cùng hình thức tổ chức cuộc họp BCH, ra thông báo, kèm những câu vu khống, xúc phạm cá nhân trên phương tiện truyền thông, ảnh hưởng tới uy tín và nghề nghiệp của họ; rõ ràng tổ chức liên hiệp trong trường hợp cụ thể này đã được dùng làm phương tiện chống lại cá nhân, vi phạm luật hình sự, trực tiếp vi phạm mục (2) điều §9 Hiến pháp Đức, bị cấm hoạt động. Một xã hội thượng tôn pháp luật, tự nó sẽ vận hành một khi pháp luật bị vi phạm: Để chấm dứt ngay hành vi phạm pháp trên, bảo vệ nhân phẩm của mình, bà Trịnh Thị Mùi viện ngay tới luật sư đệ đơn lên toà án điạ phương Amtsgericht Lichtenberg, Berlin, Đức, „Yêu cầu toà ra án quyết khẩn cấp, chiểu theo Điều §§ 935 ff., 91 Luật ZPO, cấm lập tức Liên hiệp, đại diện bởi ông Nguyễn Văn Thoại Chủ tịch và ông Vũ Quốc Nam Phó Chủ tịch, đăng tải trên trang web Liên hiệp 2 câu liên quan tới bà Trịnh Thị Mùi. Nếu tái phạm, sẽ bị phạt tiền tới 250.000 Euro hoặc phạt tù 6 tháng“. Theo luật định về án quyết khẩn cấp, toà phải thụ lý ngay, lên lịch xét xử. Chỉ sau 15 phút, toà kết thúc với án quyết số 3 C 1004/13, nội dung: “Bên nguyên thông báo, bài viết vi phạm bị phản đối đã được gỡ bỏ. Bên bị cam kết, bài viết về gặp mặt giữa ông Nguyễn Thanh Sơn và BCH sẽ không đưa lên truyền thông nữa, nhất là trên trang mạng của Liên hiệp”. Hệ quả dẫn tới một án quyết Đức ghi cả tên Thứ trưởng Việt Nam có một không hai trong lịch sử ngoại giao này, bắt nguồn từ mô hình hội đoàn giữa 2 nước Việt Nam và Đức vốn khác nhau về bản chất, nguyên lý vận hành, xuất phát từ 2 hình thái kinh tế xã hội đối lập nhau giữa các nước TBCN và XHCN trước đây. Ở TBCN,  hội đoàn thuộc phạm trù xã hội dân sự, hay xã hội công dân, bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “politiké koinonia”, sau này chuyển ngữ sang tiếng La Tinh “societas civilis”, được hiểu là tập hợp các công dân tự do. Lý luận về xã hội dân sự mô phỏng xã hội loài người như một vòng tròn chưá 3 vòng tròn ngoại tiếp nhau, gồm vòng tròn nhà nước hoạt động bằng quyền lực, vòng tròn thị trường trao đổi kinh tế, vòng tròn gia đình trao đổi tình cảm, riêng tư. Khoảng không gian giữa 3 vòng tròn đó chính là xã hội dân sự, nơi hoạt động bất vụ lợi của các hội đoàn, tổ chức, phong trào, biểu tình, bàn tròn, diễn đàn… Mấy triệu người Việt Nam sống  khắp thế giới hiện nay, khởi đầu đa số đều “chân ướt chân ráo”, thâm chí thân cô, thế cùng, có khi đánh cược bằng cả sinh mạng, được nước họ cưu mang đùm bọc, mà Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã cảm ơn trong chuyến thăm Mỹ vừa qua, chính nhờ vai trò nền tảng xã hội dân sự họ tác động lên chính quyền. Bởi chính quyền sinh ra không phải để  nuôi công dân nước khác, mà vì lòng nhân của công dân nước họ buộc nhà nước họ phải làm. Ở Đức bao trường hợp chính quyền trục xuất về Việt Nam đúng luật vẫn buộc phải đón trở lại nhờ sức mạnh đấu tranh của các hội đoàn, phong trào Đức, như phong trào “Bàn tròn Thu Nga” năm 2004 với trường hợp học sinh Thu Nga 14 tuổi, hay Hiệp hội ủng hộ tỵ nạn với trường hợp cả gia đình ông bà Nguyễn năm 2011. Mô hình hội đoàn ở ta tương tự Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu trước đây, là “một bộ phận trong hệ thống chính trị xã hội”, “đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng”, do nhà nước bao cấp lương và kinh phí, được tổ chức và vận hành theo cấp chính quyền từ trung ương tới điạ phương. Ngược lại, mô hình hội đoàn Đức, luật quy định, chỉ cần tối thiểu 7 người là được phép thành lập một hội đoàn, hoàn toàn độc lập với chính quyền và mọi tổ chức xã hội khác, nơi khác, tự quy định tôn chỉ mục đích, cơ cấu tổ chức, nguyên tắc hoạt động, gọi là điều lệ đóng vai trò nền tảng như hiến pháp; tự bầu cử BCH và các hội đồng, ban bệ; tự lo tài chính kinh phí; hoạt động không được phép trả thù lao; nếu đăng ký ở toà án thì có tư cách pháp nhân nghĩa là Chủ tịch phải chịu trách nhiệm pháp lý, còn không thì tất cả hội viên phải cùng chịu chung. Ở Đức hiện có 280.000 hội đoàn khác nhau có đăng ký, thu hút 60% của trên 80 triệu dân số Đức. Liên hiệp người Việt ở Đức được thành lập năm 2011 theo đúng mô hình trên, thu hút 172 đại biểu cả cá nhân lẫn hội đoàn, trong đó có đại diện 72 hội đoàn, trên tổng số chừng 100 hội đoàn toàn Liên bang. Bản dự thảo điều lệ tham khảo từ 5 Liên hiệp người nước ngoài lớn nhất ở Đức, bổ sung, sửa chữa sau khi tiếp nhận 33 ý kiến đóng góp. Tuy nhiên, do thiếu kiến thức hoà nhập về mô hình hội đoàn và đảng phái ở Đức, khi Liên hiệp bước vào hoạt động, Chủ tịch cùng Phó Chủ tịch thường trực vốn trên dưới nửa đời người học, làm việc trong nước và Đông Đức, điều hành Liên hiệp hoạt động theo mô hình XHCN như một quán tính, ra văn bản khẳng định Chủ tịch là cấp trên của BCH và Liên hiệp, sai với mô hình hội đoàn Đức không được phép và không thể phân cấp bậc hành chính trong hội đoàn vốn mang tính tự nguyện, ai tâm huyết thì tham gia không thì thôi, chẳng ai lệnh được cho ai, mà chỉ theo nghị quyết, thoả thuận. Đảng phái cũng vậy, chỉ khác hội đoàn ở chỗ hoạt động trên lĩnh vực chính trị. Số lượng 1 hội đoàn hay đảng phái ở Đức so với Việt Nam nói chung không nhiều, đảng FDP do Rösler gốc Việt làm chủ tịch, tham gia chấp chính, hiện chưa tới 60.000 đảng viên so với ở ta 3 triệu. Bỏ đảng này tham gia đảng khác là bình thường, kể cả chủ tịch Đảng cũng vậy. Với quan niệm mình là cấp trên, Chủ tịch cùng Phó Chủ tịch thường trực khi đăng ký ở toà án đã tự ý sửa biên bản đại hội lẫn điều lệ theo ý mình, biến Liên hiệp trở thành liên kết các cá nhân, phá vỡ hoàn toàn mô hình kỳ vọng của cộng đồng mong muốn liên kết các hội đoàn điạ phương trong một mái nhà Liên hiệp, bị HĐTV có chức năng đại diện hội thành viên và giám sát BCH can thiệp không được đành phải viện tới toà, hiện đang chờ phán quyết. Hậu qủa, Liên hiệp nay chỉ còn hơn 90 hội viên cá nhân, không có thẻ hội thành viên, thuộc loại nhỏ nhất các hội đoàn người Việt ở Đức. Nội bộ bất ổn, Chủ tịch đọc báo cáo trước Đại hội công khai chia cộng đồng thành 2 loại ủng hộ và chống phá Liên hiệp (ở Đức là một khái niệm hình sự phải có hậu quả thiệt hại), chụp mũ bất cứ ai chỉ trích mình đều là chống phá Liên hiệp. Bất chấp điều lệ quy định loại bỏ họ kể cả thành viên BCH. Vô hiệu hoá HĐTV bị HĐTV đề nghị Đại hội miễn nhiệm Chủ tịch. Buổi gặp gỡ Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn phải viện tới toà giải quyết là hệ quả pháp lý không thể tránh khỏi khi không chỉ Liên hiệp mà cả Thứ trưởng cũng áp dụng mô hình hội đoàn XHCN vào quốc gia TBCN: 1- Với tư cách Chủ nhiệm Ủy ban nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, theo mô hình hội đoàn trong nước, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn coi sự sống còn của Liên hiệp thuộc trách nhiệm của mình, nên đã can thiệp với hình thức dưới báo cáo trên chỉ đạo „tháo gỡ“, trong khi Hội đoàn ở Đức độc lập, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng pháp lý với bất kỳ cơ quan công quyền nào, không nhà chức trách nào được phép can thiệp. 2- Với trách nhiệm trước công dân nước  mình, Thứ trưởng yêu cầu BCH „nêu rõ  nguyên nhân và những người  đã gây ra sự bất ổn cho cộng đồng“. Nhưng nếu có bất ổn thật thì đó là công việc quốc gia Đức, thứ trưởng chỉ có thể can thiệp cho công dân nước mình qua con đường ngoại giao, chưa nói cộng đồng người Việt có tới 1/5 quốc tịch Đức. 3- Điều lệ do hội viên đề xuất và đại hội biểu quyết theo ý chí hội viên họ, nhưng Thứ trưởng chỉ đạo, tức theo ý mình, „Liên hiệp cần tiến hành sửa đổi, bổ sung Điều lệ cho hợp lý… „. 4- Với tư cách chính quyền, Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn quyết định chỉ công nhận BCH „mới có vai trò  lãnh đạo  Liên hiệp“, trong khi theo luật Đức các cơ quan Liên hiệp do điều lệ họ quy định, không cấp nhà nước nào được phép thừa nhận hay không. Không chỉ hội đoàn, biểu tình cũng thuộc xã hội dân sự, thể hiện ý thức tự nhiên của con người trước đồng loại, hoàn toàn bất vụ lợi, được xã hội hiện đại coi là một quyền cơ bản thiêng liêng, được các quốc gia tiến bộ khuyến khích, bảo đảm, cho dù chống lại nhân sự hay chính sách nhà nước họ ban hành; hiến pháp nước ta cũng ghi nhận quyền đó. Trong khi đó, Đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước, trên nghị trường quốc gia, được truyền thông cho cả thế giới biết, công khai miệt thị điều thế giới trân trọng: „Việt Nam chưa phải là siêu cường kinh tế để có thể đài thọ cho một sự ô danh“. Nay tới lượt Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn đánh giá biểu tình ở Mỹ sai lệch cả lý thuyết lẫn thực tế về xã hội dân sự – mà bất cứ ai đã từng 1 lần biểu tình ở bất cứ nước nào đều có thể nhận ra – đụng chạm tới quyền thiêng liêng bất vụ lợi của người biểu tình, khi ông trả lời báo chí thế giới: „có những người chỉ vì đồng tiền, có những người chỉ vì nhu cầu cuộc sống, có những người chỉ vì có một chút thu nhập thêm mà tham gia“.  Ở họ, bất kỳ cuộc biểu tình nào nhằm kiếm thu nhập, nghĩa là vụ lợi, đều bị pháp luật cấm, nên tuyệt không thể xảy ra như Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn phát biểu, mà không hề hấn gì ! Khác với chiến tranh, chính biến, cách mạng bạo lực, biểu tình chống nhà nước họ hay nhà nước khác không đồng nhất với nhà nước đó hoàn toàn xấu, hay phải lật đổ, mà chỉ là sự biểu thị thái độ, chính kiến đối với những chính sách, nhân sự nhà nước đó mà họ quan tâm. Thái độ của nhà nước đối với biểu tình như thế nào phản ảnh nền tảng dân chủ tạo nên sức mạnh nhà nước đó ! Thứ trưởng Việt Nam có tên trong án quyết Đức, phát ngôn bị truyền thông thế giới phản ứng là một thực tế sống động cho các chính khách, quan chức Việt Nam tham khảo, nếu muốn dẫn dắt nước mình „sánh vai các cường quốc năm châu“; khi tham gia vào quá trình hội nhập toàn cầu ngày càng tăng tốc, toàn diện và đa chiều, đòi hỏi phải nắm vững không chỉ những nguyên lý, phạm trù phổ quát, mà quan trọng hơn là thực tế vận hành của xã hội, quốc gia họ, hiểu như chính mình đã sống trong đó; không thể lấy quan điểm cá nhân mình, hay rộng hơn mô hình quốc gia mình làm thước đo thế giới – đó chính là tiền đề của hội nhập. Nguồn: Basam.info
......

Lý lẽ của một nhân vật chống Đảng cộng sản

Nhà báo Bùi Tín mới phổ biến hai bản tin về việc 200 đảng viên Cộng Sản Pháp đã công khai từ bỏ đảng, trong đó có 3 dân biểu Quốc Hội mới viết chung một bài trên nhật báo Thế Giới (Le Monde) giải thích hành động của họ. Ðây là những quyết định đáng ca ngợi. Các đảng viên cộng sản từ bỏ đảng là một hành động khó khăn, không giống như khi một người ở Mỹ đổi từ đảng Dân Chủ sang Cộng Hòa, hoặc ngược lại. Vì những đảng chính trị ở Mỹ thường chỉ khác nhau về các chính sách trị quốc, ai thích chính sách nào thì hoạt động trong đảng đó; đến khi không đồng ý với các chính sách của đảng thì thay đổi. Chẳng khác gì có người đang ủng hộ đội banh Tây Ban Nha nay đổi sang ủng hộ đội Ðức vậy. Còn một người vào đảng Cộng Sản thì giống như gia nhập một giáo hội. Họ tôn thờ những giáo điều của các ông thánh Mác, Lê Nin, coi đó là những chân lý, là những giá trị tuyệt đối để theo đuổi trong đời. Cho nên, những đảng viên cộng sản bỏ đảng là họ rất can đảm, dám thú nhận rằng trong quá khứ họ đã chọn nhầm, đã sai lầm trên những điều căn bản. Trong số những người Pháp mới bỏ đảng có những vị đã đắc cử thị trưởng, nghị viên, dân biểu, vân vân, khi họ là đảng viên cộng sản. Nghĩa là họ đã đạt được những địa vị xã hội nhờ nhãn hiệu cộng sản, mà nay họ sẵn sàng từ bỏ. Như vậy thì việc bỏ đảng của họ còn đáng khen hơn những đảng viên thường. Những đảng viên Cộng Sản Việt Nam bây giờ mà dám từ bỏ đảng còn đáng khâm phục hơn những người Pháp này. Vì ở Việt Nam mà bỏ đảng thì không những biết trước sẽ mất nhiều quyền lợi dành cho các đảng viên, mà còn phải chấp nhận có thể sẽ bị đàn áp, trù dập suốt đời. Nếu chế độ đó kéo dài thì đến đời con, đời cháu có thể còn chưa thoát bị trù. Ngày 9 tháng 6 vừa rồi, ba dân biểu cộng sản đại diện các khu lao động trong vùng thủ đô Paris viết chung một bài dài 767 chữ trên báo Le Monde, Le sens de notre départ du Parti communiste - Ý nghĩa việc chúng tôi rời khỏi Ðảng Cộng Sản. Một nguyên nhân chính mà họ nêu lên là trong nhiều năm qua họ cùng nhiều người khác đã tranh đấu để thay đổi đảng Cộng Sản, nhưng bao nhiêu lời hứa hẹn thay đổi đã bị trì hoãn. Một nguyên nhân khiến người ta muốn thay đổi là không còn muốn ôm lấy những giáo điều cũ rích trong khi thế giới đã đổi thay - một thế giới chính trị đã chết, Ðảng Cộng Sản (Pháp) là một thành phần thừa hưởng di sản đó, một thế giới mới mà chúng tôi mong muốn đang chuẩn bị ra đời (Simplement, un monde politique meurt, don't le PCF est l'un des héritiers, un autre tarde à naitre...). Nhưng thế giới chính trị đã chết đó là thế giới nào? Mới nghe người ta có thể tưởng đó là thế giới cộng sản do Liên Bang Xô Viết lãnh đạo. Nhưng không chỉ giản dị như vậy. Sự sụp đổ của Nga Xô và các nước cộng sản chư hầu chỉ là hiện tượng bình thường trong lịch sử. Khi một hệ thống kinh tế chính trị đã tận dụng các ưu điểm của nó, tự nó sẽ sinh bệnh khô cứng rồi chết; khi một đế quốc lan ra rộng quá, trung tâm không còn đủ sức kiểm soát các địa phương, đế quốc tan rã. Một thế giới chính trị quan trọng hơn đã chết, là thế giới trong đó một số người sử dụng quyền bính áp đặt ý kiến của mình trên tất cả mọi người khác để hưởng thụ, trong khi vẫn tự coi mình đang theo đuổi một lý tưởng, nhân danh lợi ích của đám đông. Họ có thể hành động tàn bạo, lừa lọc, gian trá, trong lúc thực hiện “lý tưởng” của họ, vì họ tin rằng họ đã làm chủ được chân lý - để thực hiện chân lý, như một tôn giáo, người ta không từ nan một việc ác nào. Khai tử thế giới đó, chấm dứt ảo vọng đó, dù mới chỉ thực hiện được ở các nước cộng sản Âu Châu thôi, đã là một điều rất đáng mừng cho cả nhân loại. Những người đầu tiên theo chủ nghĩa cộng sản vì lý tưởng muốn chấm dứt, thay đổi cảnh bất công trong nền kinh tế tư bản. Nhưng lý thuyết kinh tế của Karl Marx dù phân tích rất xuất sắc nhưng chỉ đưa ra những viễn tượng thiếu thực tế, cho nên Lenin đã tìm cách thực hiện qua guồng máy nhà nước. Stalin đã hoàn thiện hệ thống chuyên chế quản lý xã hội này, kiểm soát cuộc sống của tất cả mọi người bằng một guồng máy tập trung. Các người làm cách mạng trong những nước nghèo nhìn vào hệ thống tổ chức đó rất cảm phục vì cảm thấy nó giản dị, hữu hiệu, và dễ bắt chước. Họ tưởng rằng muốn cho các nước nghèo tiến lên với tốc độ nhanh thì nên bắt chước Liên Xô! Ðó là bắt đầu sai lầm những mối sai lầm. Sai lầm đầu tiên là một đảng cách mạng dù theo mục tiêu dân chủ nhưng hoạt động trong bí mật sẽ dần dần đưa tới chế độ “quả đầu” ngay trong đảng của họ. Một lớp cán bộ chỉ huy năng động nhất sẽ chiếm độc quyền lãnh đạo và chỉ còn nghĩ tới địa vị của mình, bỏ qua lý tưởng ban đầu mà các đảng viên vẫn theo đuổi. Ðiều này đã được nhà xã hội học Robert Michels (1876-1936), một học trò giỏi của Max Weber nêu lên từ năm 1911. Các đảng cộng sản trên thế giới đều đi vào con đường như Lenin và Stalin đã đi ở Nga, cuối cùng đều phản bội lý tưởng ban đầu, chỉ còn giữ một hệ thống thư lại độc quyền. Một điều sai lầm quan trọng không kém là họ không nhớ rằng “quyền hành sinh nhũng lạm, quyền tuyệt đối sinh nhũng lạm tuyệt đối.” Lord Acton (1832-1902) được người đời nhớ nhất vì nhận xét giản dị này, mà một người bình thường sử dụng lương tri cũng có thể thấy như vậy. Chỉ những người cuồng tín và tự cao tự đại mới nhắm mắt trước sự thật đơn sơ đó. Những lãnh tụ cộng sản ở các nước nghèo tưởng rằng họ có thể đưa dân tộc mình vào con đường hiện đại hóa bằng guồng máy kinh tế, chính trị cộng sản Nga, họ phạm một nhầm lẫn khác. Sử dụng chính quyền để thúc đẩy kinh tế tiến lên, thay vì khuyến khích thị trường phát triển, đã không tiến nhanh hơn mà ngược lại còn làm cho quá trình hiện đại hóa chậm chạp hơn. Vì chính quyền không giúp cho xã hội tiến nhanh mà lại trói buộc, trì hoãn, khiến xã hội tiến chậm hơn. Cứ so sánh hai vùng Tây và Ðông Âu Châu sau Ðại Chiến Thứ Hai, thấy ngay. Các nước Ðông Âu có những chính quyền mạnh, tập trung lãnh đạo, chỉ huy, vẽ ra các kế hoạch; còn các nước Tây Âu thì luôn luôn lộn xộn, chính phủ lên rồi lại đổ, những nước như Italy tưởng như không ai cai trị nổi. Nhưng sau cùng Tây Âu đã tới trước Ðông Âu trong cuộc chạy đua kinh tế, đồng thời xã hội của họ cởi mở, tự do, lành mạnh hơn. Các chế độ cộng sản ở Nga và Ðông Âu sụp đổ không phải vì “những thế lực thù địch” nào chống phá mà vì chính người dân, các nhà trí thức, rồi đến các đảng viên cộng sản của các nước đó nhìn thấy con đường họ đang theo bế tắc, vì những sai lầm căn bản trên. Người dân sống nghèo hơn. Họ không có tự do. Ðạo lý cũng suy đồi. Hạnh phúc không đạt được. Những người như Gorbachev, Yeltsin ở Nga, Zaruelski ở Ba Lan, Egon Krenz ở Ðông Ðức không yêu thích gì chế độ dân chủ; họ vẫn mong bảo vệ một chế độ đã nuôi nấng họ, tạo nên địa vị, của cải cho họ. Nhưng họ phải lùi bước, vì những sai lầm tích lũy đã đưa đảng cộng sản đến bước đường cùng. Họ đã “từ bỏ đảng cộng sản” bằng cách lẳng lặng để cho nó tan rã, vô tình giúp bao nhiêu đảng viên khác tự động từ bỏ đảng. Cuối cùng thì tất cả các đảng viên cộng sản sẽ từ bỏ đảng, bằng cách này hay cách khác. Lịch sử sẽ ghi nhận cộng sản là một cuộc thí nghiệm thất bại của loài người. Kinh tế tư bản có vẻ sống lâu hơn. Tư bản không phải là một chủ nghĩa, mà chỉ là một cách tổ chức kinh tế dựa trên thị trường, trên hoạt động và sáng kiến của các công dân tự do. Hệ thống tư bản không theo một giáo điều cho nên cứ thế thay đổi, thích ứng; chưa biết nó sẽ kéo dài được bao lâu. Loài người sẽ tiếp tục thí nghiệm những phương pháp tổ chức xã hội khác. Một điều chắc sẽ khó thay đổi, là niềm tin vào tự do dân chủ của con người mỗi ngày mạnh hơn. Chỉ trong cuộc sống tự do dân chủ xã hội loài người mới tiến bộ được. Cho nên, nếu các đảng viên Cộng Sản Việt Nam biết từ bỏ đảng sớm, như 200 đảng viên Cộng Sản Pháp vừa mới làm, thì đó sẽ là phúc lớn cho dân tộc. Ngô Nhân Dụng
......

Bỏ đảng hay đảng bỏ?

"Hôm nay là ngày giỗ Trung Tướng Trần Ðộ. Ông là một người đi tiên phong chống các chính sách của đảng, rồi bị đảng gạt bỏ ra ngoài, bị trục xuất từ hơn mười năm trước. Ðến lúc ông chết, những vòng hoa có chữ “thương tiếc” đều bị cắt bỏ. Cái dấu “bị đảng trục xuất” là một huy chương gắn trên quan tài ông. Những đảng viên hiện giờ đang nhìn thấy cảnh thối nát của đảng phải bật lên lời phẫn uất; họ muốn tự mình từ bỏ đảng hay là chờ tới ngày cũng bị trục xuất? Nếu hàng ngàn người cùng tuyên bố bỏ đảng một lúc thì hàng trăm ngàn đảng viên khác sẽ theo" Hôm qua, nhật báo Nhân Dân (ở Hà Nội) mới loan tin ông Nguyễn Phú Trọng, với tư cách “Trưởng Ban Chỉ Ðạo Trung Ương phòng chống tham nhũng” đã ký một Quyết định (số 17), với tham vọng sẽ thúc cho đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành công việc chống tham nhũng “tốt hơn.” Quyết định này thành lập bảy đoàn công tác để đi kiểm tra, giám sát các vụ án tham nhũng “nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm.” Bảy đoàn công tác rất có bề thế. Hai ủy viên Bộ Chính Trị sẽ phụ trách đi điều tra ở các địa điểm nặng nhất, là Sài Gòn, Hà Nội và Hải Phòng. Năm người ủy viên Trung Ương Ðảng phụ trách đi thanh kiểm các nơi khác, người nào cũng nằm trong cái “Ban Chỉ Ðạo Trung Ương” của ông Trọng. Riêng ông Nguyễn Bá Thanh, người từng được ông Trọng cất lên làm Trưởng Ban Nội Chính sẽ đi “làm việc tại Bộ Công An, Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao, Tòa Án Nhân Dân Tối Cao;” đó là những cơ quan ở trung ương xưa nay vẫn phụ trách việc chống tham nhũng; để hy vọng biết tại sao họ mấy chục năm trời nay họ chống tham nhũng vẫn không xong! Trước đó một ngày, ông Nguyễn Phú Trọng đã ban hành kế hoạch (số 16) liệt kê những thứ ông định làm để chống tham nhũng. Ðại khái, họ thấy cần phải “phát hiện các hạn chế, yếu kém... nhằm nâng cao hiệu quả,” trong “công tác đấu tranh chống tham nhũng hiện nay” rồi “kịp thời chấn chỉnh” để “củng cố lòng tin của nhân dân.” Ðọc hết cái quyết định thì thấy nó đúng là văn chương của đảng Cộng sản, người ngoài không bắt chước được. Nó chỉ toàn những khẩu hiệu tuyên truyền đã từng được lập đi lập lại; ý tứ cũng đại khái giống như lâu nay họ vẫn nói, nói sa sả từ nửa thế kỷ đến giờ. Nếu quý vị đảng viên cộng sản nào vẫn còn tin rằng đảng của họ muốn chống tham nhũng thật, thì chắc họ phải băn khoăn tự hỏi tại sao mình đã hô khẩu hiệu chống tham nhũng hàng ngàn lần, hô đến mỏi cả miệng mà vẫn cứ phải tiếp tục hô mãi? Hô đến bao giờ mới ngưng? Tại sao cái ung nhọt tham nhũng nó cứ phồng lên, càng ngày càng bốc mùi hôi thúi chịu không thấu? Chúng tôi xin giúp quý vị tìm ra một lời giải đáp, nhân mới có một bài nghiên cứu của một giáo sư Ðại Học Hamburg bên Ðức là ông Berno Buechel. Bài nghiên cứu, cộng tác với Eike Emrich, và Stefanie Pohlkamp, tựa là “Không ai vô tội;” nhằm tìm hiểu về hiện tượng dùng thuốc tăng cường sức mạnh (doping) trong các môn thể thao (Nobody's innocent: the role of customers in the doping dilemma). Hiện tượng chích thuốc kích thích này rất phổ biến, ai cũng biết, ai cũng than phiền nó làm mất giá trị các cuộc đấu. Các tổng hội thể thao đều tuyên bố muốn ngăn ngừa, muốn trừ khử, nhưng không thành công. Chẳng khác gì các đảng cộng sản ở Trung Quốc và Việt Nam nói họ muốn trừ tham nhũng vậy. Có người bảo chính khán giả hâm mộ có thể làm áp lực chấm dứt tệ trạng này, nhưng Buechel bác bỏ ý kiến đó. Berno Buechel đã sử dụng một ngành trong toán học là “Lý thuyết Trò chơi” (Game Theory) để nghiên cứu vai trò của các đấu thủ, (ông tốt nghiệp Viện Toán học Kinh tế - Institute of Mathematical Economics từ Ðại Học Bielefeld ở Ðức). Ông đã dùng câu chuyện “Ngụ ngôn hai người tù” (prisoner's dilemma) rất nổi tiếng để tiên đoán rằng không đấu thủ thể thao nào muốn ngưng nạn dùng thuốc kích thích. Một đấu thủ nghĩ rằng nếu mình không chích, để tăng cường sức lực trước khi vào trận đấu, thì thằng khác chúng nó vẫn chích. Vậy tại sao mình lại không chích, nếu bị bắt thì cả hai cùng bị như nhau? Cũng giống như trong chuyện ngụ ngôn, người tù này quyết định thú tội vì nghĩ dù anh kia nó thú tội hay không, mình thú tội vẫn được lợi hơn. Cũng dùng phương pháp đó, Buechel xét đến những “người tù” khác, một “trò chơi, game” khác. Ông xét tới vai trò của các đấu thủ và của các thanh tra vẫn khám nghiệm họ; vẫn giống hai người tù trong câu chuyện ngụ ngôn. Nếu các đấu thủ nghĩ rằng khi bị khám nghiệm thế nào người ta cũng biết mình chích thuốc, thì họ sẽ ngưng không chích nữa. Nhưng kết quả các cuộc khám nghiệm không bao giờ đúng 100% như vậy. Cho nên, họ trở lại với lý luận: Nếu mình không chích thì thằng kia nó vẫn chích! Nhưng các thanh tra làm việc do các hội thể thao trả tiền. Nếu họ khám nghiệm nghiêm ngặt thì họ phải thấy nhiều trường hợp vi phạm hơn; mà trong nhiều môn thể thao hầu như đấu thủ nào cũng chích cả. Vậy thì các tổng hội thể thao chính họ có muốn bắt các thanh tra làm việc chặt chẽ hơn không? Theo quyền lợi của chính họ, các tổ chức thể thao cũng không muốn cho các thanh tra làm việc hữu hiệu. Trước hết, vì muốn khám nghiệm chặt chẽ hơn sẽ tốn tiền hơn. Quan trọng hơn nữa, vì lo mất khách! Nếu khán giả nhìn thấy ở đâu cũng chích choác thì họ sẽ chán không muốn coi các trận đấu võ hay các cuộc chạy đua, đua xe đạp nữa hay đấu bóng nữa! Khán giả mà chán thì số tiền thu của các hội thể thao sẽ xuống, các người lãnh đạo sẽ không lãnh những món lương cao như hiện nay nữa! Tốt nhất, cho khám nghiệm qua loa, lâu lâu bắt được một vụ cho nó đẹp, chứ không nên để cho người ta thấy chỗ nào cũng đầy những con sâu, có khi cả nồi canh toàn sâu là sâu! Trong tình trạng đó, các đấu thủ thấy tốt nhất là cứ chích: Nếu mình không chích thì thằng khác nó vẫn chích! Ðọc tóm tắt kết quả bài nghiên cứu của Berno Buechel chúng ta ngửi thấy ngay cái gì quen quen. Nó nhắc mình nhớ đến những chiến dịch chống tham nhũng triền miên của các đảng cộng sản khắp thế giới. Họ không thể làm công việc “thanh cha, thanh mẹ, thanh dì” một cách nghiêm chỉnh được. Vì làm đứng đắn thì cả “đảng ta” cùng bị thiệt, tội gì! Bảy đoàn thanh tra, chứ ngàn đoàn thanh tra cũng thế thôi! Chẳng qua là một đòn phép để phe này hất cẳng phe kia, triệt hạ đối thủ để nâng phe mình lên! Nếu đảng cộng sản trừ được tham nhũng thì các môn thể thao cũng trừ được nạn chích choác! Nghe như vậy thì chán đời quá! Nhưng may mắn, Berno Buechel có đề nghị một giải pháp hy vọng ngăn ngừa nạn chích thuốc kích thích. Vẫn dùng toán học theo lối Game Theory, ông chứng minh rằng nếu thay đổi “cơ cấu thông tin” (the information structure) thì có hy vọng chấm dứt được tình trạng chích choác trong thể thao. Ông đề nghị kết quả của tất cả các cuộc khám nghiệm phải được công bố, dù kết quả là có chích thuốc (positive) hay không (negative); dù nặng hay nhẹ. Buechel chứng minh, bằng toán học, rằng “nếu chính sách thông tin trong sáng về các các cuộc khám nghiệm được thiết lập, thì các môn thể thao sẽ hết nạn chích choác;” vì quyền lợi của chính những người tham dự trong “trò chơi” khám nghiệm! (If transparency about doping tests is established, then there is a doping-free equilibrium). Berno Buechel chắc cũng nghĩ đến chuyện tham nhũng, khi ông kết luận bài nghiên cứu của mình với nhận xét: Cuộc nghiên cứu này có thể dùng để ấn định chính sách bài trừ nạn chích thuốc, cũng như các hành động gian lận khác” (This has practical implications for the design of anti-doping policies, as well as for other situations of fraudulent activities). Bây giờ thì chúng ta hiểu tại sao nửa thế kỷ chống tham nhũng của đảng Cộng sản Việt Nam không làm nên cơm nên cháo gì cả. Thiếu thông tin trong sáng, đầy đủ và trung thực. Nhưng làm cách nào để cho đảng cộng sản thiết lập một “cơ cấu thông tin trong sáng?” Chỉ có một cách, là họ phải xóa bỏ chế độ độc tài chuyên chế. Khi người dân được tự do bầu cử chọn người cầm quyền, khi mọi người được tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do làm blog, tự do biểu tình, vân vân, thì dù đảng nào nắm quyền cũng phải dần dần trong sáng hơn. Lúc đó nói chuyện chống tham nhũng sẽ dễ dàng hơn! Cho nên, nếu quý vị đảng viên cộng sản muốn cứu đảng và cứu nước, thì phải có hành động đủ mạnh mẽ để cho cái đảng của quý vị thay đổi. Một hành động đủ mạnh mẽ, tạo được một cơn kích xúc (shock) là quý vị hãy rủ nhau tự giải phóng khỏi ách chuyên chế. Phải có một hành động tập thể, của hàng ngàn người, dứt khoát từ bỏ chủ nghĩa Mác Lê Nin và con đường chuyên chính vô sản, từ bỏ cái chế độ hủ nát hôi thối hiện nay. Nhiều đảng viên đã phê phán, đã “phản biện” hàng chục năm nay rồi, chẳng đi tới đâu cả. Hôm nay là ngày giỗ Trung Tướng Trần Ðộ. Ông là một người đi tiên phong chống các chính sách của đảng, rồi bị đảng gạt bỏ ra ngoài, bị trục xuất từ hơn mười năm trước. Ðến lúc ông chết, những vòng hoa có chữ “thương tiếc” đều bị cắt bỏ. Cái dấu “bị đảng trục xuất” là một huy chương gắn trên quan tài ông. Những đảng viên hiện giờ đang nhìn thấy cảnh thối nát của đảng phải bật lên lời phẫn uất; họ muốn tự mình từ bỏ đảng hay là chờ tới ngày cũng bị trục xuất? Nếu hàng ngàn người cùng tuyên bố bỏ đảng một lúc thì hàng trăm ngàn đảng viên khác sẽ theo. Có như vậy nước ta mới thiết lập được một cơ cấu thông tin trong sáng. Nguồn: diendantheky.net  
......

Trung Quốc Ngàn Năm

Những Nhập Nhằng Của Bắc Kinh Và Hiểu Lầm Của Thế Giới Về Trung Quốc…   Với dư luận thế giới, Trung Quốc là cường quốc đã có ảnh hưởng quốc tế trong cả ngàn năm, sau thế kỷ lụn bại chỉ bằng chớp mắt, nay đang chiếm lại ngôi vị truyền thống. Cho nên các chiến lược gia đều thấy sự thật này trong cách xử trí với một quốc gia từng là trung tâm thế giới hay thiên hạ, như tên gọi của Trung Quốc. Khốn nỗi, sự thật này chỉ là một huyền thoại. Sự thật là Trung Quốc chưa từng là trung tâm của thế giới, dù chỉ là thế giới của đại lục Âu-Á. Và ngàn năm qua, Hán tộc đã từng bị các sắc tộc khác thống trị trong nhiều thế kỷ. Bài này sẽ nói về giai đoạn đầu của “ngàn năm Trung Quốc”, từ năm 960 với Đế chế của nhà Đại Tống cho đến năm 1911 khi Đế chế nhà Đại Thanh sụp đổ, chấm dứt luôn sự cai trị của các Hoàng đế Trung Hoa, khởi đầu từ Tần Thủy Hoàng Đế vào năm 221 trước Công nguyên. Sau ngàn năm đó là “trăm năm huy hoàng” của Hán tộc, từ 1912 đến 2013 – một chuỗi huyền thoại cận đại mình sẽ xét sau…. Thế giới ngoài Châu Á, là Âu Châu hay “Tây phương”, có thể đã lần đầu tiên biết về Trung Quốc dưới cái tên là CATHAY, hình như là do lầm lẫn của Marco Polo khi kể lại chuyện Trung Quốc thời nhà Nguyên với cái tên phổ biến KHITAN tại Tây Á và Trung Á của Đế quốc Khất Đan hay Khiết Đan. Khác với nhiều quốc gia mà tên nước phản ảnh chủ quyền của một sắc tộc chính (Đại Việt là một thí dụ, Afghanistan là một thí dụ khác, đất của người Afghan), Trung Quốc có tên nước khá trung hoà, chung chung, là “quốc gia trung tâm”. Bên trong có nhiều sắc tộc khác nhau, nhưng Hán tộc giữ vai trò chính – hoặc làm như là đã từng giữ vai trò chính. Đấy là huyền thoại đầu tiên, một sai lầm cứ lưu truyền như chân lý. Ngày nay, khi tiếp tục dùng chữ “Trung” như Bắc Kinh hay con vẹt Hà Nội, chúng ta lưu truyền sự sai lầm đó. Vô tình hay cố ý thì xin cứ chọn! Trong ngàn năm Trung Quốc, từ 960 đến 1911, Hán tộc đã nằm dưới, hoặc bị các dị tộc bợp tai đá đít trong nhiều thế kỷ, khoảng hai phần ba thời gian đằng đẵng này. Trước hết, sử sách lười biếng – và kẻ đọc sử theo tinh thần bị Hán hoá, là không dùng óc phê phán – thường ghi rằng nhà Đại Tống khởi nghiệp nhờ Triệu Khuông Dận vào năm 960 sau 70 năm loạn lạc của thời “ngũ đại thập quốc” (“năm đời 10 nước”), và kết thúc vào năm 1279. Ngàn năm qua, đấy là triều đại của Hán tộc có thiên mệnh lâu nhất, dài hơn ba thế kỷ (319 năm). Sự thật lại không hẳn như vậy. Trước hết là về nhà Đại Tống. ĐẠI TỐNG 960-1279   Sự thật là nhà Tống có nhiều thành tựu chói lọi về văn chương hay kỹ thuật, nhưng là thời “đa nguyên” khi chính quyền trung ương suy yếu nhất trong các triều đại của Hán tộc. Lý do là một sự thật khác: lãnh thổ Trung Quốc tuột khỏi tầm kiểm soát của Hán tộc vì bị các triều Khất Đan, Tây Hạ và nhà Kim cai trị trong cả thế kỷ. Xin hãy đọc lại: Từ năm 960 đến 1279, nhà Đại Tống bị mất đất 1) cho Khất Đan từ năm 916 (Triệu Khuông Dận chưa thống nhất tất cả như thiên hạ thường nghĩ) đến năm 1125; 2) cho Tây Hạ (thuộc tộc Tangut, Thông Cổ Tư, có họ với dân Tây Tạng) từ 982 đến 1227; 3) cho nhà Kim, thuộc sắc tộc Nữ Chân, có họ với dân Khất Đan và Mãn tộc sau này, từ năm 1115 đến 1234. Không chỉ mất đất, nhà Tống còn bị chia hai. Sau trăm năm đầu thì Bắc Tống bị tộc Liêu uy hiếp và bị nhà Kim tiêu diệt năm 1127. Còn Nam Tống thoi thóp đến năm 1279 là tiêu vong. Trong 319 năm đó, sự thật ai oán là nhà Đại Tống của Hán tộc chịu phận chư hầu, phải triều cống cho Khất Đan từ năm 1004 và cho Tây Hạ từ năm 1044. Năm 1207, Hoàng đế Nam Tống là Ninh Tông Triệu Khoách còn tăng mức triều cống và tự xưng cháu, “Hoàng điệt”, với “Hoàng thúc” nhà Kim. Chúng ta kính trọng các anh hùng của họ, như Nhạc Phi hay Văn Thiên Tường, nhưng, khi thấy Hán tộc coi thường các sắc tộc họ gọi là tứ di thì đừng quên sự thật: trong hơn ba thế kỷ của nhà Tống, có hai thế kỷ là bị “man di” khuất phục. Ta nhớ lại các anh hùng dân tộc của ta đã đánh bại quân Tống, như Lê Đại Hành năm 981 hay Lý Thường Kiệt năm 1075…. NGUYÊN MÔNG 1279-1368 Sau đó là thời của cháu nội Thành Cát Tư Hãn, là Hốt Tất Liệt, người lập ra nhà Nguyên của sắc tộc Mông Cổ trên một lãnh thổ bát ngát. Sau khi Thành Cát Tư Hản lấn đất cắm dùi từ năm 1207 thì Mông Cổ hoàn toàn làm chủ Trung Quốc từ năm 1279 đến 1368. Hán tộc là dân thứ cấp, hạng dưới, của người Mông Cổ. Dù có thi đỗ để ra làm quan từ năm 1315 trở về sau cho triều Nguyên Mông thì sĩ phu Hán tộc chỉ được nhậm chức ở địa phương. Triều đình trung ương thuộc các Đại Hãn. Họ kết nạp trí thức Tây Á, Trung Á, Á Rập, thậm chí Âu Châu (Marco Polo là thí dụ). Đây là một thời “đa nguyên” khác vì tầng lớp ưu tú xuất phát từ nhiều sắc tộc, thuộc các tôn giáo hay văn hóa như Phật giáo Tây Tạng, Hồi giáo, Cảnh giáo hay Mani giáo (“Minh giáo” theo cái hiểu thông tục nhờ truyện võ hiệp Kim Dung)…. Tư tưởng Khổng Nho và cả chữ Hán có được sử dụng, nhưng chỉ là phương tiện cai trị thực tiễn ở dưới. Và trí thức Hán tộc có hai ngả giải thoát là văn chương, và…. lại luyện thuốc trường sinh theo Đạo giáo. ĐẠI MINH 1368-1644   Sau trăm năm dưới ách Nguyên Mông (1279-1368) Hán tộc có cơ hội quật khởi khi Chu Nguyên Chương sáng lập ra một triều đại kéo dài từ 1368 đến 1644.   Trải ngàn năm của Trung Quốc nếu có một thời kỳ mà Hán tộc thật sự thi thố tài năng hoặc nguyện ước “bình thiên hạ” thì đấy là vào nhà Minh, ít ra trong nửa đầu của 276 năm cai trị, là hơn một thế kỷ. Kết luận là không có gì sáng láng! Tính trung bình thì trong 276 năm, mỗi năm lại có một cuộc chiến (con số chính xác của Alastair Johnson, một học giả Harvard, là 1,12!) Ngoài chuyện loạn lạc triền miên với hơn 300 vụ xung đột giải quyết bằng quân sự, những điểm nổi bật nhất của nhà Minh của tộc Hán là: Thứ nhất, mở rộng và củng cố Vạn lý Trường thành, một kỳ tích của sự sợ hãi có thể thấy được từ mặt trăng. Thứ hai và đấy là lý do, vì khu vực Trung Nguyên của Hán tộc thường bị các dị tộc Mông, Mãn tấn công. Thứ ba, nhà Minh quay đầu vào núi, giữ thể thủ để tồn tại: sau bảy chuyến hải hành từ 1405 đến 1433 của Tam bảo Thái giám Trịnh Hoà, một Đô đốc Hồi giáo, thì Hán tộc ra lệnh “hải cấm”. Nhường đại dương cho thế giới. Thứ tư, nhà Minh trở lại lý luận tinh thuần của Khổng Nho, không tranh đua buôn bán với thiên hạ. Một lý do quan trọng không kém của kỳ tích tự cô lập này là kinh tế: công khố bị kiệt quệ. Mười năm chiếm đóng (1407-1418) và thu vét tài nguyên của Đại Việt lại ộc ra hết và lỗ vốn vì 10 năm kháng chiến của Lê Lợi từ 1418 đến 1427! Xin đặt lại “Bình Ngô Đại Cáo” của Nguyễn Trãi vào bối cảnh “geopolitics”…. Và dù đã nâng cao mở rộng Vạn lý Trường thành, Hán tộc dưới đời Minh vẫn không ngăn nổi thác lũ từ Đông Bắc, họ lại bị dị tộc khuất phục sau khi gặp cảnh tham ô và động loạn liên miên từ trước đời Sùng Trinh 1611-1644. Kết luận thì lãnh thổ Trung Quốc thời Nguyên Mông rộng lớn chừng nào thì co cụm dúm dó chừng đó vào thời nhà Minh của Hán tộc. Rồi chỉ mở rộng là nhờ dị tộc Mãn Thanh.   ĐẠI THANH 1644-1911 Mối duyên, hay cái nợ, của Hán tộc với các sắc tộc Nữ Chân, Khất Đan hay Liêu Kim không kết thúc với nhà Nguyên hoặc được Trường thành Liêu Đông của nhà Minh ngăn trở. Các sắc tộc thiểu số trên vùng Đông Bắc đã tranh đua với nhau, thoát khỏi ách Nguyên Mông và quật khởi. Đó là Mãn Tộc, tự xưng nhà Hậu Kim rồi đổi thành nhà Thanh. Họ vượt trường thành vào làm chủ Trung Quốc từ năm 1644. Ngẫm lại thì thế giới bên ngoài biết quá ít về các sắc tộc hay bộ lạc như Mông Cổ, Tây Hạ hay Thông Cổ Tư, hoặc Mạt Hạt, Nữ Chân, Khất Đan, Cao Ly hay Mãn Châu, v.v…. Có lẽ Hán tộc cũng tránh nói đến cái phần kém vinh quang của họ trên những khu vực hoang vu cằn cỗi nơi “quan ngoại”, ngoài Vạn lý Trường thành. Cho đến khi bàng hoàng vì bị một sắc dân thiểu số từ đó bước vào cai trị trong 267 năm. Các sắc dân này cũng có đại anh hùng, như Đại Hãn Nỗ Nhĩ Cáp Xích và con trai là Hoàng Thái Cực, hai người sáng lập nhà Đại Thanh. Họ là tổ phụ của những Khang Hy và Càn Long nổi tiếng trên thế giới và góp phần nhân đôi diện tích của Trung Quốc vào đời Minh! Quả thật là nhà Đại Thanh đã là đại cường Đông Á trong thời kỳ đầu, với các cuộc viễn chinh mở rộng bờ cõi nhờ các chiến công quân sự tại Tân Cương, Tây Tạng, Nepal và Miến Điện. (Trường hợp nước ta với Quang Trung Nguyễn Huệ là ngoại lệ tê tái, y như các chiến công đời Trần). Thế giới khi ấy chỉ có ba Đế quốc xứng tài là Đế quốc Ottoman theo Hồi giáo, Đế quốc Moghul của văn hóa Ba Tư và Đế quốc Đại Thanh của Mãn tộc. Dưới triều Mãn Thanh, Hán tộc lại là loại công dân hạng nhì, thắt bím nằm im dưới các sắc tộc thiểu số. Trong tổ chức quân sự và dân sự, là “bát kỳ”, dưới tám lá cờ, các tộc Mãn và Mông vẫn lãnh đạo ở trên, Hán tộc là nô bộc chỉ được tham dự về sau, và ở cấp thấp. Trong sinh hoạt trị quốc, chữ Hán có được dùng, nhưng chỉ là phương tiện điều hành cho cấp dưới, chứ các văn từ quan trọng nhất đều viết bằng tiếng Mãn. Việc Hán tộc đã “Hán hóa” của dị tộc cũng là một huyền thoại khác. Nhà Thanh áp dụng tư tưởng Khổng Nho vì có lợi cho bộ máy thống trị – và cũng khiến xứ sở lụn bại dần – chứ vẫn khinh thường người Hán. Chỉ những ai đã nhiều đời phục vụ các tộc Nữ Chân, Kim Liêu về trước hay Mông Mãn về sau mới được trọng dụng. Họ là thành phần bị gọi là “Hán gian”…. Chính là sự miệt thị này mới giải thích phản ứng dội ngược của Hán tộc trong cuộc cách mạng gọi là “Dân Quốc” vào năm 1911 – và những thảm kịch về sau. Chuyện về sau, khi sẽ nói sau…. Khi điểm lại “ngàn năm Trung Quốc”, từ 960 đến 1911, ta thấy ra quy luật của sự nhập nhằng, lồng trong mặc cảm tự ti được che giấu bằng tinh thần tự tôn nhờ chiến công của người khác. Trong 319 năm của nhà Tống, có hơn 200 năm bị ngoại thuộc từng phần rồi toàn phần. Cộng với gần trăm năm thống trị của Mông Cổ và 267 năm của Mãn Thanh, Trung Quốc thực tế bị ngoại tộc khuất phục trong khoảng 600 năm. Xin viết lại cho dễ nhớ: 600 năm cúi đầu trong 950 của Đế chế Trung Quốc. Nói cách khác, đa số các Hoàng đế Trung Quốc không phải là người Hán. Hai phần ba thời gian vinh quang của Trung Quốc ngàn năm là một chuỗi dài nhục nhã cho Hán tộc. Khi các dị tộc man rợ này cai trị thiên triều thì họ mở cơ hội cho nhiều sắc tộc khác tham gia. Khi Hán tộc có thể một mình một chợ thi thố tài năng thì chủ nghĩa duy chủng thắng thế, Hán tộc là nhất. Trung Quốc có sự “ổn định” huy hoàng – trăm năm đầu của nhà Tống và nhà Minh. Sau đó là nội loạn, ngoại xâm và lụn bại. Ngày nay, khi lãnh đạo Trung Quốc lấy chiến công chinh phục của dị tộc để nói về chủ quyền của họ, từ vùng Mãn Châu qua Nội Mông, Tân Cương hay Tây Tạng, họ nhập nhằng với lịch sử. Và với địa dư. Những vùng đất nằm ngoài Vạn lý Trường thành, dù là xây vào đời Chiến Quốc, hay Tần, hay mở rộng vào đời Minh, không thể là lãnh thổ của Trung Quốc. Lãnh đạo Bắc Kinh còn nhập nhằng với các sắc tộc khác khi lại đề cao Hán tộc và coi thường những sắc tộc đã bị đồng hóa lần mòn, mà vẫn chưa thấy yên tâm trong bụng…. Nếu hiểu ra tâm lý đó, ta có thể hiểu được những động thái ngày nay của Bắc Kinh, rất hung hăng với bên ngoài, để che giấu mối lo ở bên trong.   Đặt vào bối cảnh địa dư chiến lược của trường kỳ, ta mới thấy sự kiêu hùng của Đại Việt từ các chiến công lẫy lừng vào đời Tống, đời Nguyên, đời Minh đến thời Thanh làm Càn Long phải tâm phục…. Còn đâu cái nét kiêu hùng? Nguyễn-Xuân Nghĩa Nguồn:vietthuc.org
......

Phỏng vấn nhà văn Võ Thị Hảo về Nghị định 72

Nghị định 72/2013/NĐ-CP về quản lý, cung cấp sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng đã gặp phải nhiều chỉ trích từ các tổ chức nhân quyền và một số công ty kinh doanh mạng cho rằng nhà cầm quyền Việt Nam vi phạm trầm trọng quyền tự do thông tin và được thông tin. Giới blogger Việt Nam cũng đã phản ứng mạnh mẽ, lên án NĐ 72 vi phạm nghiêm trọng các quyền căn bản của công dân, đặc biệt là quyền tự do ngôn luận qua việc lưu truyền thông tin trên mạng. Riêng nhà văn Võ Thị Hảo nhận định rằng "Nếu thực hiện theo thông tin này thì con người chỉ có thể bàn về ăn, ngủ, mặc; thế hoá ra con người trở lại ngu xuẩn như loài vật, chỉ biết cúi vào cái máng của mình à?". Mời quí vị theo dõi cuộc trò chuyện giữa nhà văn Võ Thị Hảo và phóng viên Vân Quang về nghị định 72 mà nhà nước CSVN vừa ban hành. Vân Quang: Là một nhà văn, nhà báo, trong các tác phẩm của mình, chị rất quan tâm đến vấn đề dân khí của đất nước. Chị rất ưu tư và băn khoăn nhiều vấn đề khi dân khí đang ngày càng suy đồi một cách nghiêm trọng, chị có thể cho biết là nguyên cớ nào mà dân khí ở nước ta ngày càng suy đồi như thế? Võ Thị Hảo: Vâng, theo tôi thì dân khí Việt Nam ngày càng suy đồi, tại vì dân Việt Nam ngay từ thời phong kiến đã không có tự do ngôn luận và nhân quyền; đến thời thuộc Pháp thì cũng có bị hạn chế nhiều tự do, nhưng dù sao cũng có thể ra được báo chí tư nhân và có được những đảng phái đối lập. Từ năm 1946 đến giờ thì chuyển sang thể chế này thì tôi thấy rằng 67 năm nay, dù hiến pháp Việt Nam năm 1946 có qui định về tự do báo chí, tự do xuất bản, về quyền con người; thế nhưng lại thường xuyên bị vi phạm. Và người nói thật thì hoặc là họ không được nói, hoặc họ bị bức hại. Hệ thống tuyên truyền thì bị cấm đoán rất nhiều; ngay cả lời nói, phát biểu của một số nguyên thủ cũng còn bị cắt, bị sửa. Tôi thấy rằng người dân sợ hãi. Đã có truyền thống nô lệ từ trước; không có tự do báo chí, tự do xuất bản, rồi quyền con người cũng bị xâm hại, bởi vậy lâu ngày quá người ta càng sợ hãi, càng suy đồi. Tôi nghĩ đấy là những nguyên nhân rất quan trọng. Khi mà không có được sự giám sát, không có tam quyền phân lập thì rất khó để chân lý và sự thật được bảo vệ, và khi mà sự thật và chân lý rất khó để được bảo vệ thì con người ta càng sợ hãi, và bởi vậy dân khí càng đi xuống. Vân Quang: Thưa chị, dân khí đi xuống, nhưng bây giờ nhiều phương tiện thông tin đại chúng có thể giúp về vấn đề khôi phục lại để nâng cao dân khí thì lại đang bị nhà nước Việt Nam cản trở, thí dụ vấn đề internet chẳng hạn. Mới đây vào ngày 15 tháng 7, ông Nguyễn Tấn Dũng đã ban hành Nghị định 72, mà theo mọi người thì đây là nghị định bịt miệng người nói và cản trở vấn đề phát triển trao đổi thông tin giữa mọi người với nhau, giao dịch để giúp nâng cao dân khí, chị nghĩ gì về nghị định này ạ? Võ Thị Hảo: Nghị định 72 đối với tôi là một điều tôi không thể tưởng tượng nổi là có một nghị định như thế này. Bình thường tôi cũng không để ý lắm, bởi vì tôi mải mê vào công việc của mình, song đến một ngày khi mà Nghị định 72 được ký ban hành thì tôi ngạc nhiên quá; tôi nghĩ rằng chắc mình đang nằm mơ bởi vì không thể tưởng tượng được là có một cái nghị định mà lạ như thế. Tôi thấy rất lạ là các cơ quan chuyên môn lại có thể tư vấn, đưa cho thủ tướng ký một cái nghị định vi hiến đến như vậy, nó lại còn tệ hơn cả điều 258 của Bộ luật hình sự Việt Nam, cũng là một điều bóp nghẹt tự do ngôn luận và cũng vi hiến nữa. Thế thì nó trái với qui định hiện hành của Hiến pháp Việt Nam về tự do ngôn luận cũng như về tự do báo chí, tự do thông tin, về quyền con người. Sự việc này rất là lạ vì lẽ ra, các cơ quan truyền thông chính thống - chẳng hạn như báo chí, báo chí của nhà nước - gọi là báo lề phải, người ta phải mất tiền cho dân đọc, cho dân bình luận, để cho mọi người càng bình luận, càng đọc để rộng rãi thì càng mừng chứ; như thế mới là có tác dụng của tuyên truyền. Tôi không thể tưởng tượng được có những qui định lạ như là: các trang thông tin cá nhân thì không được đưa thông tin tổng hợp, rồi tự trích dẫn thông tin từ các cơ quan báo chí hay các trang web của cơ quan nhà nước; nếu mà thế thị bị xử lý, theo một trả lời của một ông có chức lớn trong ngành quản lý phát thanh và truyền thông. Tôi không thể tưởng tượng được, như thế thì lạ quá; bởi vì là con người, cho dù đưa thông tin cá nhân hay những lời lên trang web của mình, hay là nói chuyện ở ngoài xã hội thì con người vốn là tổng hợp của các vấn đề trong xã hội, thì làm sao lại có thể không đề cập đến những câu chuyện của xã hội? Chẳng hạn như hôm nay, có người giết một người, hoặc là có người đưa thực phẩm độc vào trong bún hay trong gạo; hoặc có người thấy người ta chìm thuyền chết cả bao nhiêu người mà không cứu. Tất cả những cái ấy, người ta phải bàn luận chứ. Nếu mà thực hiện theo thông tin này thì con người chỉ có thể bàn về ăn, ngủ, mặc; thế hóa ra con người trở lại ngu xuẩn như loài vật, chỉ biết cúi vào cái máng của mình à? Sao kỳ lạ như vậy, tôi không thể tưởng tượng nổi; nó vi hiến, vi phạm luật báo chí và vi phạm các cam kết quốc tế về truyền thông. Tôi không thể tưởng tượng được. Tôi nghĩ rằng nghị định này ra đời chưa được sự kiểm tra của những người có chuyên môn, của Bộ tư pháp, và vì vậy mới xảy ra một trường hợp đưa ra một nghị định mà lại vi hiến đến mức này. Tôi nghĩ là Bộ tư pháp và Quốc hội cần vào cuộc để thẩm tra lại () cái nghị định này. Chẳng hạn như việc cấm tất cả các trang ở nước ngoài không được đưa những thông tin có hại cho đảng, nhà nước. Thế thì qui định như thế nào là có hại? Nếu đưa những thông tin về sự thật thì tôi nghĩ rằng nó không những không có hại mà có lợi cho đảng và nhà nước, cho chính phủ chứ! Tại vì nếu mà chính phủ muốn vững mạnh thì cần phải nghe những thông tin về sự thật để điều chỉnh lại mình. Thế thì tại sao lại đưa ra một cái nghị định với những qui định lạ đời như thế này, tôi không tưởng tượng nổi. Vân Quang: Để dân khí được nâng cao, để người dân không thể vô cảm trước tình hình, hiện trạng của đất nước, cũng như trong cuộc sống xã hội hiện nay, thì theo chị chúng ta phải có những biện pháp như thế nào, và làm thế nào vượt qua những điều mà chúng ta đang bị cản trở? Võ Thị Hảo: Về vấn đề dân khí, tôi biết là có những kiểu cầm quyền, những kiểu thể chế, họ sẽ ứng xử khác nhau với trình độ dân khí. Chẳng hạn như những nhà cầm quyền mạnh mẽ, tự tin và biết tôn trọng quyền con người và quyền tự do - quyền đương nhiên của mỗi một công dân, không bất cứ ai được quyền tước bỏ - thì họ sẽ rất mừng khi người dân có mức độ dân khí cao, người công dân có tự trọng, dám mở miệng, dám cảnh báo và nói sự thật; bởi vì sự thật là cái gốc của mọi sự tồn tại. Nếu nền tảng cao nhất của mọi sự tồn tại không có sự thật thì chúng ta xây nhà trên bùn, thì đương nhiên là nhà đổ. Nhưng với những thể chế không tự tin và chỉ muốn tước đoạt quyền tự do, quyền đương nhiên của con người, thì đương nhiên luôn luôn sợ hãi và làm mọi cách để cho dân khí tồi tệ đi; và dân càng tối tăm, càng sợ hãi, càng nô lệ thì họ càng mừng. Nhưng tôi nghĩ đấy là một sai lầm, và nếu cứ áp dụng những cách đó mãi thì sẽ không tồn tại được. Đấy là điều mà lịch sử hàng bao nhiêu năm nay đã chứng minh rồi. Tôi nghĩ là để làm cho dân khí lên cao thì đương nhiên là phải cải cách thể chế, phải trả lại cái quyền tự do cho con người và phải để cho nền kinh tế tư nhân phát triển, ruộng đất phải thuộc về tay người dân, người dân phải có quyền sở hữu về ruộng đất. Cuối cùng bao nhiêu sông cũng chảy vào biển, cuối cùng thì người dân cũng đóng góp cho đất nước này vững mạnh mà thôi, cho con người Việt Nam đỡ hèn kém nhục nhã, đỡ ác với nhau đến mức mà xã hội loạn như thế này. Tôi nghĩ rằng đấy là việc cần phải làm. Tất nhiên, trong đó nếu dân khí Việt Nam suy đồi thì cũng một phần tại những công dân Việt Nam; mỗi người phải tự thấy có trách nhiệm, phải tự thấy rằng mình phải xác tín quyền làm người của mình. Tôi đã nói nhiều lần rồi, ở đây tôi chỉ lập lại, tức là phải đặt mình ngang hàng với một con vịt, con gà chứ; có quyền kêu lên tiếng của một sinh vật đang sống, chứ không phải một sinh vật đã chết. Điều này trước hết là do có những người muốn bóp nghẹt quyền của con người, và họ có sức mạnh trong tay, có công cụ để đàn áp, có thể bức hại con người. Nhưng một mặt nữa là con người Việt Nam, mỗi người đã chưa ý thức về trách nhiệm con người của mình, trách nhiệm sinh vật của mình, và để làm cho càng dễ bị đàn áp hơn vì chúng ta thờ ơ với nhau quá. Tôi nghĩ rằng tất cả đều phải cố gắng, mỗi người hãy mở miệng ra để xác tín rằng chúng ta đang sống và chúng ta chỉ làm điều tốt thôi, không có gì là đối lập với chính phủ cả; và đấy là giúp chính phủ nhận ra sự thật và làm điều tốt. Tôi nghĩ như vậy và đương nhiên là phải cải cách thể chế càng sớm càng tốt, không thể để như thế này được. Vân Quang: Xin cảm ơn nhà văn, nhà báo Võ Thị Hảo về cuộc nói chuyện thân tình này. Xin chúc chị mạnh khỏe, xin cảm ơn chị. Võ Thị Hảo: Xin cảm ơn anh và chúc sức khỏe cũng như sự bình an cho các bạn. Nguồn: RadioCTM
......

Báo chí CSVN lại loan tin sai lời nói của Đại sứ Mỹ về nhân quyền VN

Mỹ bác tin Ðại sứ Shear nói nhân quyền Việt Nam 'cải thiện đáng kể' Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Hà Nội cho biết việc báo chí Việt Nam loan tin đại sứ Mỹ David Shear phát biểu rằng nhân quyền Việt Nam “đã có những cải thiện đáng kể” là sai sự thật.   Ngày 7/8, đại sứ Mỹ tại Việt Nam David Shear có cuộc họp báo với giới truyền thông nội địa về chuyến công du Hoa Kỳ mới đây của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và các vấn đề liên quan đến quan hệ Việt-Mỹ. Ðại sứ Mỹ tại Việt Nam David Shear Hàng loạt các báo nhà nước khi tường thuật về nội dung sự kiện này nói rằng “Một trong những điều kiện để dẫn tới việc [Mỹ] dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm bán võ khí là vấn đề nhân quyền. Trao đổi với báo chí ngày 7/8, đại sứ David B. Shear cho rằng xung quanh vấn đề này từ đầu năm 2013 đến nay Việt Nam đã có những cải thiện đáng kể.” Đại sứ quán Hoa Kỳ khẳng định báo chí Việt Nam đã đưa tin sai, đại sứ David Shear không hề phát biểu rằng nhân quyền Việt Nam “cải thiện đáng kể.” Tòa đại sứ Mỹ nói sau khi phát hiện hôm 8/8,  đã yêu cầu đính chính và đề nghị xin lỗi. Tuy nhiên tính đến 4 giờ sáng ngày 10/8 (giờ Hà Nội), các trang báo điện tử trong nước bao gồm Tiền Phong, Đất Việt, Dân Trí, Sài Gòn News..v..v.. vẫn còn giữ nguyên các bản tin vừa kể. Đại sứ quán Mỹ cho biết đại sứ David Shear đã nhiều lần tuyên bố Hoa Kỳ sẽ không bán võ khí sát thương cho Việt Nam chừng nào Hà Nội chưa cải thiện nhân quyền. nguồn: http://www.voatiengviet.com
......

Mạng lưới Blogger Việt Nam tiếp xúc với Tổ chức Front Line Defenders

Trong thời gian hơn 1 tuần qua, các đại diện của Mạng lưới Blogger Việt Nam (MLBV) đã liên tục gặp gỡ, và trao Tuyên Ngôn 258 đến với đại diện Hội đồng Nhân quyền LHQ và các Tổ chức nhân quyền, truyền thông quốc tế. Loạt bài sau đây, được đăng tải trong những ngày sắp tới, tường thuật lại những buổi tiếp xúc này. Buổi gặp gỡ với tổ chức Front Line Defenders Vào lúc 4 giờ chiều ngày 1 tháng 8, tại Bangkok - Thái Lan, các đại diện của MLBV gồm có các blogger Phạm Đoan Trang (Hà Nội), Nguyễn Thảo Chi (Sài Gòn), Nguyễn Nữ Phương Dung (Sài Gòn), Nguyễn Anh Tuấn (Đà Nẵng), Nguyễn Lân Thắng (Hà Nội) đã gặp gỡ với đại diện của Front Line Defenders (FLD) tại văn phòng của Prachathai - tờ báo đối lập hàng đầu ở Thái Lan. Các blogger Việt Nam đã trình bày với tổ chức nhân quyền này tình hình tự do thông tin ở trong nước, sự đàn áp leo thang đối với các blogger, người viết - điển hình là việc bắt giam mới nhất đối với blogger Trương Duy Nhất, Đinh Nhật Uy và nhà văn Phạm Viết Đào. Nội dung trao đổi cũng xoay quanh Điều 258, những vi phạm nhân quyền được biến thành luật định cũng như mục đích của cuộc vận động xóa bỏ điều luật này của blogger Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam đang xin được là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc - nhiệm kỳ 2014-2016. Song song với việc trình bày Tuyên bố 258, đại diện các blogger Việt Nam cũng đã thảo luận với FLD về sự hợp tác lâu dài trong tương lai để cùng nhau cải thiện tình trạng nhân quyền tại Việt Nam. Cụ thể là hỗ trợ blogger Việt Nam trình hồ sơ lên các quy chế kiểm xét nhân quyền của LHQ và tổ chức các khóa đào tạo về an toàn thông tin cho giới blogger Việt Nam. Nhân dịp này đại diện của FLD cũng đã trình bày những hoạt động của FLD trong thời gian qua liên quan đến Việt Nam. FLD cũng bày tỏ sự quan tâm sâu sắc đến trường hợp của blogger Nguyễn Hoàng Vi, người đã bị đánh đập vì tham gia Dã ngoại Nhân quyền và phổ biến Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và hiện vừa mới nhập viện vì tình trạnh sức khỏe suy yếu do hậu quả của những trấn áp vừa qua của công an. Blogger Nguyễn Lân Thắng và Đoan Trang   Đại diện của FLD đã hứa sẽ chính thức đưa ra tuyên bố phản đối điều luật 258 và vận động các tổ chức nhân quyền quốc tế khác cùng lên tiếng. Đồng thời FLD sẽ nghiên cứu và tổ chức những khóa học về an toàn thông tin dành cho các blogger Việt Nam.   Tổ chức Front Line Defenders là một tổ chức quốc tế được thành lập vào năm 2001 với mục tiêu chính yếu là bảo vệ những người hoạt động, tranh đấu cho nhân quyền trên thế giới đang gặp những đe dọa.   Trong thời gian qua, FLD đã hoạt động chặt chẽ với 1 số blogger Việt Nam nhằm trao đổi thông tin, trình bày với thế giới những vi phạm nhân quyền tại Việt Nam, và hỗ trợ một số blogger bị hành hung và gặp khó khăn trong việc chữa trị.   Buổi trao đổi đã diễn ra trong không khí thân tình. Đại diện của FLD rất vui mừng vì có cơ hội trực tiếp gặp gỡ blogger Việt Nam và ngược lại các bạn trẻ cũng rất phấn khởi khi có cơ hội đại diện các bạn bè blogger để nói lên tiếng nói chung. Qua cuộc gặp, hai bên nắm rõ tình hình hoạt động của nhau, thống nhất với nhau về tình trạng vi phạm nhân quyền ở VN, hứa giúp đỡ nhau để thúc đẩy, cải thiện tình hình nhân quyền cũng như những hoạt động tranh đấu cho quyền tự do ngôn luận của blogger Việt Nam.   Mạng lưới Blogger Việt Nam sẽ tiếp tục tường trình những buổi tiếp xúc vừa qua với các tổ chức quốc tế khác.   Mạng lưới Blogger Việt Nam tuyenbo258.blogspot.com - tuyenbo258@gmail.com nguồn: http://tuyenbo258.blogspot.com/ *Network of Vietnamese Bloggers met with Front Line Defenders   Network of Vietnamese Bloggers - During the past weeks, representatives of the Network of Vietnamese Bloggers (NVB) have eventually met, and submitted the Statement 258 to, representatives of UN Human Rights Council, human rights organizations, and international press. The following series of articles, gradually published in the coming days, recount the meetings. The meeting with Front Line Defenders   At 4 pm on August 1, 2013, in Bangkok, Thailand, representatives of NVB including Pham Doan Trang (Hanoi), Nguyen Thao Chi (Saigon), Nguyen Nu Phuong Dung (Saigon), Nguyen Anh Tuan (Da Nang), Nguyen Lan Thang (Hanoi) met with representatives of Front Line Defenders (FLD) in the office of Prachathai – a leading opposition newspaper in Thailand.   The Vietnamese bloggers informed FLD about the current situation of freedom of speech in Vietnam, the escalating crackdown on bloggers and writers - typically, the latest arrests of blogger Truong Duy Nhat and Dinh Nhat Uy, and writer Pham Viet Dao.   The agenda focused on Article 258, the violations of human rights that have been legalized in Vietnam, and the campaign of the group seeking the elimination of Article 258 during the time Vietnam competes for a membership in the UN Human Rights Council for the 2014-2016 session.   Along with the presentation of Statement 258, the NVB representatives also discussed with FLD about the long-term cooperation in the future to jointly improve the human rights situation in Vietnam. Specifically, FLD will support Vietnamese bloggers to forward documents to UN and human rights organizations and provide training courses on information security for bloggers in Vietnam.   On this occasion, representatives of FLD also presented its Vietnam related activities in recent years and expressed its deep concern in the case of blogger Nguyen Hoang Vi, who had been beaten for participating in “Human Rights Picnic” and distributing the popular Universal Declaration of Human Rights. Recently, Vi has been hospitalized for treatments and improving her health after police attacks.   Representatives of FLD promised to issue a statement to formally object Article 258 and lobby other human rights organizations to raise their voice as well. FLD will also make research and organize courses on information security for Vietnamese bloggers.   Front Line Defenders is an international organization, founded in 2001 with the primary objective of protecting the activists those who advocate for human rights around the world and are facing with danger and threat.   In recent years, FLD worked closely with a number of Vietnamese bloggers to exchange information, present to the world the human rights violations in Vietnam, and support a number of bloggers those who were assaulted and have faced with difficulty in getting treatment.   The meeting took place in a friendly atmosphere. Representatives of FLD delighted with the opportunity to meet in person with Vietnamese bloggers. Meanwhile, the young Vietnamese bloggers were very excited to have the opportunity to represent their friends and other bloggers to express their unified voice. Through the meeting, the two parties understood each other's operational status, agreed on the status of human rights violations in Vietnam, promised to help each other to promote and improve the human rights situation in Vietnam as well as advocate for freedom of speech of Vietnamese bloggers. Network of Vietnamese Bloggers will continue to report on the recent meetings with other international organizations. Network of Vietnamese Bloggers tuyenbo258.blogspot.comtuyenbo258@gmail.com   Hà Nội: Sứ quán Thụy Điển niềm nở đón tiếp đoàn đại diện Blogger VN trao "Tuyên Bố 258" http://diendanctm.blogspot.de/2013/08/ha-noi-su-quan-thuy-ien-niem-no-on... http://diendanctm.blogspot.de/2013/08/mang-luoi-blogger-vn-se-gap-sq-thu... OHCHR: “Blogger Việt Nam hãy lên tiếng” http://diendanctm.blogspot.de/2013/08/ohchr-blogger-viet-nam-hay-len-tie... Tuyên bố 258 của mạng lưới blogger Việt Nam đã đến tay Cao Uỷ LHQ. Hội đồng Nhân quyền LHQ nhận Tuyên bố 258 của bloggers VN http://www.rfa.org/vietnamese
......

"Snowden" : biên giới mong manh giữa quyền tự do và an ninh công cộng

Tình báo Mỹ, Anh, Pháp, Đức và cảnh sát quốc tế Interpol đồng loạt báo động : Tây phương đang nằm trong tầm nhắm của Al Qaida. Khủng bố quốc tế đang sửa soạn tấn công vào quyền lợi của các nước Âu Mỹ trong vùng « Trung Đông, Phi Châu và xa hơn nữa ». Khả năng theo dõi điện đàm thông tin điện tử của CIA, NSA vi phạm tự do cá nhân bị tố giác qua vụ Snowden lại là phương tiện hiệu quả để ngăn chận khủng bố : công luận vẫn bất đồng ý kiến. Một người biểu tình trước trụ sở của NSA tại Frankfurt, Đức ngày 20/07/2013. REUTERS/ Kai Pfaffenbach Những tiết lộ của cựu điệp viên Mỹ Edward Snowden về các chương trình theo dõi điện đàm và thông điệp điện tử do CIA và NSA Mỹ thực hiện trên toàn cầu cho thấy Hoa Kỳ xây dựng một hệ thống kiểm soát và khai thác dữ kiện trên toàn cầu. Hôm 05/08/2013 đại diện các quốc gia trong khối Thị trường chung Nam Mỹ Mercosur gồm ngoại trưởng bốn nước Brazil, Achentina,Venezuela và Uruguay đã trao cho Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc bản tuyên bố « bất bình vì chương trình gián điệp của Mỹ ». Trái với phản ứng mạnh của Nam Mỹ hoặc là của Liên hiệp châu Âu, yêu cầu Washington giải thích về thông tin ngay chính đồng minh Tây Âu cũng bị theo dõi, hai chính phủ Trung Quốc và Nga không có phản ứng chính thức. Theo giới phân tích, khi Matxcơva cấp cho cựu điệp viên Edward Snowden quy chế tỵ nạn để tạm cư, ngoài lý do « nhân đạo », tổng thống Putin chắc hẳn là phải có dụng ý khai thác kiến thức của chuyên viên điện toán CIA Mỹ mới 33 tuổi này. Về phần Trung Quốc, quyền tự do cá nhân, tự do thông tin được Bắc Kinh tôn trọng như thế nào thì mọi người đã rõ. Nhưng đối với công luận Tây phương, tự do thông tin, tự do cá nhân là một thụ đắc về nhân quyền có giá trị « linh thiêng và bất khoan nhượng ». Trong chiều hướng này, tại Pháp, tổ chức Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền FIDH đã nhờ tư pháp làm sáng tỏ vấn đề. Luật sư Patrick Baudoin, chủ tịch danh dự của Liên đoàn FIDH phân tích và đặt câu hỏi chính xác : « Vi phạm quyền an ninh cá nhân là điều không thể chấp nhận được. Đã vậy, việc vi phạm nầy còn tác động cho đến tương lai. Chuyện gì sẽ xẩy ra nếu như hệ thống theo dõi thông tin do các nền dân chủ sáng lập ra lại rơi vào tay một chế độ độc tài ? » Nhà báo Pháp Olivier Berger thì nhấn mạnh đến hiệu năng của chương trình bí mật xâm nhập thông tin điện tử PRISM của cơ quan anh ninh Mỹ NSA mà Edward Snowden tiết lộ : nhờ nó và các phương tiện tương tự mà các cơ quan tình báo Tây phương đã phát hiện được âm mưu khủng bố của Al Qaida nhắm vào các cơ quan ngoại giao Tây phương tại các nước Hồi giáo. Trong bối cảnh Anh, Pháp, Mỹ, Đức và Canada huy động các biện pháp an ninh để phòng ngừa khủng bố ra tay trong tháng 8 này, mời quý thính giả trở lại hồ sơ Snowden từ hành động cho đến hệ quả ngoại giao Mỹ -Nga mà động thái đầu tiên của tổng thống Barack Obama là tẩy chay cuộc gặp thượng đỉnh với ông Vladimir Putin nhân hội nghị G20 vào tháng 9. RFI đặt câu hỏi với nhà phân tích Hà Ngọc Cư, báo Ngày Nay, Houston, Hoa Kỳ. Nhà báo Hà Ngọc Cư tại Hoa Kỳ 08/08/2013 Nghe (11:37) More Nhà báo Hà Ngọc Cư : « …sau biến cố 11/9/2001, tình báo Mỹ được quốc hội cho phép thu thập, canh chừng các cú gọi điện thoại và luồng thông tin trên internet. Như vậy là việc làm của NSA là hợp pháp. Cho nên , khi ông Snowden tố cáo cơ quan này thì đó không phải là (cơ quan tình báo) vi phạm tự do thông tin…. Nước Mỹ cho cho mọi mọi người « quyền tố giác ». Người tố giác được luật pháp bảo vệ. Cơ quan bị tố giác không có quyền trả thù các nhân người tố giác như là cách chức, bãi chức, trừ lương, trù dập. Ở đây, ông Snowden không tố giác cơ quan NSA thi hành các việc gì trái luật mà ông lại đem tất cả bí mật an ninh của Mỹ ra cung cấp cho nước ngoài.. » Nguồn: http://www.viet.rfi.fr/quoc-te/20130808-vu-snowden-bien-gioi-mong-manh-g...
......

Rối như canh hẹ

Gần đây, trên một số chương trình thời sự của Đài Tiếng nói Việt nam, bắt đầu được nghe tin và bình luận về một số vấn đề "bức xúc" hiện nay. Kể ra, báo "lề phải" của Đảng và Nhà nước đã bắt đầu không chỉ "tô son vẽ phấn" cho diễn biến đời sống xã hội, bắt đầu dám nói đến những cái gai góc của đời sống xã hội ấy. Cho dù đây mới chỉ là "nốt nhạc dạo đầu" của những sự thật mà vai trò của báo chí cách mạng không thể làm ngơ.   Qua đó, chúng tôi cảm thấy trong thời gian này đất nước ta có nhiều vấn đề gay cấn quá thể. Qua báo chí "lề phải", nhất là qua các trang báo địa phương và Đài phát thanh truyền hình địa phương, thì mọi điều vẫn diễn ra "thành công, ổn định" cả, chẳng có gì phải quan tâm. Nhưng, theo dõi nhiều hội nghị của trung ương, của Bộ, ngành thì bật ra những điều lo lắng quá, rối rắm quá. Tôi tạm thời nói lại câu cửa miệng của bà ngoại tôi lúc nuôi tôi còn bé rằng : "Làm gì mà cứ rối như canh hẹ !" Cái mớ canh hẹ của tình hình xã hội ta trong thời điểm hiện nay là như thế nào ? Chẳng cần phải có "một góc nhìn nào khác" mà chỉ nhìn vào thực tế, nghe thực thế, nghe chính các báo đài "lề phải" cũng chắt lọc ra không ít vấn đề "rối như canh hẹ". Về tình hình phát triển kinh tế của đất nước, thì chỉ nghe báo cáo của Chính phủ trong các cuộc họp hàng tháng, có thể có những cái đáng mừng hơn thời kỳ ảm đạm, nhưng lại chưa thật mừng vì không biết tin vào con số nào. Cũng một vấn đề, mà báo cáo Chính phủ một khác, báo cáo ở Quốc hội một khác. Ví dụ như vấn đề phòng, chống tham nhũng "quốc nạn" hiện nay chẳng hạn. Tham nhũng đã được Trung ương Đảng chỉ mặt vạch tên, gọi thẳng, nhưng mới chỉ là sự "di lý" từ Chính phủ chỉ đạo sang Bộ Chính trị mà thôi. Có khôi phục Ban Nội Chính, Ban Kinh tế trung ương, và nghe đâu có thành lập chân rết các Ban này ở cấp tỉnh, thành nữa, nhưng sao "tham nhũng vẫn còn nhiều" và diễn biến phức tạp, tinh vi, to lớn, nghiêm trọng hơn trước rất nhiều, thì càng chống càng "giương" lên mà thôi. Những vụ tham nhũng lớn và rất lớn liên quan đến nhiều cấp nhiều ngành, nhiều ông to bà lớn thì nêu đã nhiều, dân ngóng chờ đã nhiều mà không thấy Ban chỉ đạo hoặc cơ quan chức năng, dù của Đảng hay của Chính phủ thì vẫn là một, chưa xử lý dứt điểm cho dân nhờ, cứ tổng kết lại nêu lên "bức xúc", "quyết liệt", "quyết liệt" họp xong, nói xong lai đâu vào đấy. Bọn tham nhũng vẫn nhởn nhơ. Tiền bạc của cải của Nhà nước, của nhân dân vẫn thất thoát (Nói thất thoát cho có vẻ văn chương) chứ thực chất vẫn bị bọn tham nhũng "móc túi" nhiều nhiều lắm. Một đồng ngân sách cúng là tiến thuế của dân, hoặc ODA gì gì đó sau này cũng do dân phải nai lưng trả nợ chứ có phải là trên trời rơi xuống đâu ! Lại còn nợ xấu, nợ đẹp, lại còn lãng phí hàng trăm hàng nghìn tỷ đồng, lại còn phải "đền" nhà đầu tư nước ngoài hơn 150 tỷ đồng vì cái tội "chậm giải phóng mặt bằng" cầu Nhật Tân, lại còn hàng chục công trình, hàng chục khu công nghiệp dở dang, bất động sản không chỉ đóng băng mà còn vỡ nữa. Tiền của ấy lấy đâu ra, ai chịu trách nhiệm? Nông dân nước ta còn chiếm 70% dân số cả nước, mấy năm qua được biểu dương kết quả "tam nông", trong đó có xuất khẩu 7,5 triệu tấn gạo... Bảo rằng nông dân sẽ được lãi 30%. Nhưng thực tế, cả nước nông dân đang chịu cái khổ "được mùa rớt giá" vì đầu vào cái gì cũng đắt, đầu ra lại phụ thuộc vào "thương lái" và đủ thứ ăn chặn... Người làm ra lúa gạo và nông sản xuất khẩu thì không được hưởng lợi. Lợi chỉ rơi vào tay ai đó mà thôi. Ôi chân lấm tay bùn, một nắng hai sương mà làm gì. Hầu hết nông dân mang tuổi "Sửu", tuổi "Sửu" cầm tinh con trâu ăn giả làm thật.Nghịch lý đấy nhưng ai sửa lại cho "xuôi" lý, cho "giai cấp nông dân" được mát mày mát mặt bây giờ ? Thông tin đại chúng dai dẳng đưa tin vì văc-xin phòng viêm gan B tiêm cho ba cháu sơ sinh ở Hướng Hóa, Quảng Trị, bị qua đời khi chưa được chào đời đầy 24 tiếng đồng hồ. Nhiều cơ quan vào cuộc điều tra nguyên nhân, nhưng Bà Bộ trưởng Y tế có mặt ở đấy cũng không thèm bớt chút thì giờ đến ủy lạo gia đình họ. Hay vì dân Hướng Hóa, các bà mẹ ở Hướng Hóa không xứng đáng để Bà Bộ trưởng đến thăm? Tiếp theo đó lại có tin hàng nghìn người chung một tờ kết quả xét nghiệm máu ở Trung tâm Y tế huyên Hoài Đức của Hà Nội. Có lẽ đây là "thành tích" kỷ niệm 5 năm ngày mở rộng Hà Nội ra cả tỉnh Hà Tây quê lụa ? Khi xảy ra một số tai nạn giao thông nghiêm trọng trong đó có tai nạn đường thủy ở huyện Cần Giờ, ông Bộ trưởng "bay" ngay vào hiện trường. Ít ra cũng cần có động tác như vậy, nhưng tại sao lại có tai nạn như vậy xảy ra bên cạnh rất nhiều tai nạn rất thảm khốc trên các tuyến đường bộ? Trên thế giới này, có nước nào nhiều tai nạn giao thông như nước ta không ? Gần đây, theo tin của Đài Tiếng nói Việt Nam, thì hàng vạn văn bản pháp quy do các ngành, các cấp ban hành vừa không đúng Luật vừa không khả thi, vẫn được đưa ra "bắt" dân phải thi hành. Tôi được biết, những văn bản này đều do người có trình độ soạn thảo và nhiều cấp nhiều ngành cùng xem đi xét lại trước khi cho ban hành, vậy mà vẫn còn có những sai sót không đáng có. Ví dụ trong 8 ngày Bộ Giáo dục đào tạo cho ra và rút lại văn bản quy định cộng thêm điểm thi cho thí sinh là "Bà mẹ Việt nam anh hùng". Đấy là cấp trung ương, cấp bộ, cấp ngành, còn về đến cấp tỉnh thành, quận huyện và cấp cơ sở thì văn bản loạn đến mức nào. Chỉ khổ dân thôi. Qua thông tin đại chúng, tôi có cảm giác đất nước bây giờ thiếu "quan trị, quan nhậm" thiếu người cầm cương thống nhất và có tâm có tầm vì lợi ích quốc gia dân tộc, và lợi ích của nhân dân, dường như mạnh nhóm lợi ích nào nhóm ấy làm, không ai bảo được ai. Ví dụ, theo các nguồn tin cho hay thì giá thành một kWh điện có 900 đồng, vẫn bị ngành điện nâng lên hơn 1500 đồng, họ vẫn bảo là phải bù chi phí. Mong có điện khí hóa toàn quốc, dân nai lưng đóng thuế góp phần xây dựng mạng lưới phát điện, chuyển tải điện, nay có điện dùng (mặc dù chưa phải 100%) thì bị chính ông ngành điện muốn tăng giá thế nào thì tăng, không nộp đủ tiền điện hàng tháng thì bị cúp điện. Trong khi một số nơi dân bị "mất điện luân phiên" hay "bị sự cố", thì những "ông quan, ông vua" ở những khu vực "ưu tiên" hoặc bản thân những anh công nhân điện, chẳng bao giờ bị mất điện. Giá điện tăng, giá xăng dầu tăng, giá ga tăng, cứ bảo là không ảnh hưởng nhiều lắm, song thị trường cứ tăng giá theo vùn vụt, chẳng ai có thể ngăn được. Họ bảo không ảnh hưởng, như cụ thể, tại một cái chợ nông thôn quê tôi cách Hà Nội 30 km, sáng 8-8-2013, một mớ rau muống lên 8.000, 9.000 đồng, chưa nói đến sữa cho trẻ em người già, người ốm, cứ tăng vùn vụt trong khi thu nhập của dân chỉ tăng trên giấy, tăng trong các báo cáo chứ đời sống thì sắp sửa xuống đến độ âm rồi ! Cũng nghe tin từ thông tin đại chúng, trên các phương tiện báo chí của Đảng và Nhà nước, đây đó có hiện tượng cán bộ xã hội đỏ móc với "xã hội đen" đánh lộn thầu công trình chia nhau tiền tỷ, tranh nhau nơi nuôi ngao, hàng trăm dân đánh nhau như "trong phim" hành động, có người chết và bị thương. Chỗ này chỗ kia có những đám bạc lớn sát phạt nhau. Người ta còn phát hiện cán bộ ngành bảo vệ pháp luật cũng đánh bạc to lắm, con ông bí thư xã một canh cá độ mất tiền tỷ. Xã hội đen đến tận nhà siết nợ, làm cả gia đình sợ run, đành phải "nôn" tiền trả nợ cho con, "con dại cái mang" mà. Viết đến đây, tôi đã thấy cần dừng lại kẻo phơi bày ra nhiều "canh hẹ" quá làm khổ người lỡ đọc được bài của tôi. Đúng là "rối như canh hẹ" nhưng chờ mãi chẳng có ai có quyền giải quyết thấu đáo, chẳng thấy ai vào cuộc cho đến nơi đến chốn và xã hội thì cứ vẫn "rối như canh hẹ". Có người bảo chính là do ta "độc" nên ăn của độc đấy thôi. nguồn: http://bolapquechoa.blogspot.com/2013/08/ * Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả
......

Thái độ khác biệt giữa Nhật - Phi với Việt Nam về sự lấn át của Trung Quốc ở Biển Đông

Lập trường của chính phủ Hoa Kỳ là không đứng về bên nào cả trong vấn đề tranh chấp chủ quyền những quần đảo ở biển Đông và biển Hoa Đông, nhưng lên án bất cứ quốc gia nào sử dụng vũ lực quân sự để mưu đồ thay đổi hiện trạng ở hai vùng biển này. Ngoài ra Hoa Kỳ còn có những hiệp ước Bảo an với một số quốc gia ở Á châu như Nhật Bản, Philippines nên sẵn sàng bảo vệ mỗi khi các nước này bị tấn công. Mới đây, hồi tháng 6, tại California, trong cuộc hội đàm tay đôi giữa Chủ tịch Tập Cận Bình và Tổng thống Obama, Hoa Kỳ đã kêu gọi Trung Quốc nên tự chế. Sau khi ông Bình trở về nước thì Trung Quốc lại tiếp tục đưa tàu hải giám, tàu thăm dò hải dương lẫn máy bay đến vùng quần đảo Senkaku. Lẽ đương nhiên lực lượng phòng vệ của Nhật sẵn sàng ứng chiến nếu Trung Quốc ngang nhiên xâm phạm hải phận và không phận. Trong khi đó ở vùng biển Đông thì 9000 tàu cá Trung Quốc được các tàu hải giám, tàu chiến hộ tống đến bắt cá ở ngay trong lãnh hải Việt Nam khiến các ngư dân của ta không dám kéo ra hành nghề, thế nhưng chính quyền CSVN chỉ phản đối chiếu lệ chứ không có một hành động cụ thể nào để bảo vệ ngư dân. Philippines thì không bị Trung quốc uy hiếp như Việt Nam vì quân đội của quốc gia này quyết chiến đấu bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của mình. Tin mới nhất cho hay là lực lượng hải quân và không quân Philippines sẽ dời căn cứ đến cảng Subic trên đảo Luzon (trước đây là căn cứ hải quân Mỹ) để có thể đối phó kịp thời mỗi khi Trung Quốc xâm phạm không phận và hải phận. Việc di chuyển này sẽ làm cho Philippines tốn phí một ngân sách khá lớn trên 5,1 tỷ peso (115 triệu USD), nhưng Quốc hội Philippines đã chấp thuận. Đứng trước tình trạng Trung Quốc leo thang gây bất ổn ở biển Đông và biển Hoa Đông bằng vũ lực quân sự nên vào ngày 29/07/2013 vừa qua, Thượng viện Hoa Kỳ đã thông qua một quyết nghị lên án việc sử dụng vũ lực để dành chủ quyền lãnh thổ đối với những hòn đảo trên biển Đông và Hoa Đông. Tokyo và Manila hoan nghênh quyết nghị này và coi đó như là một dấu hiệu tích cực trong chiến lược xoay trục của Hoa Kỳ sang vùng Á châu- Thái Bình dương nhằm kiềm chế hành vi hung hãn của Trung Quốc. Việt Nam là quốc gia trong vùng bị Trung Quốc lấn áp nhiều nhất, thế mà Hà Nội vẫn im tiếng không đả động gì đến quyết nghị này, ngược lại còn đón tiếp Ngoại trưởng Bắc Kinh – kẻ lên tiếng kịch liệt phản đối quyết nghị này vì cho rằng Hoa Kỳ đã không dựa vào lịch sử và sự thực để rồi lên án Trung Quốc một cách vô cớ. Trung Quốc một mặt kháng nghị Hoa Kỳ, mặt khác thì hăm he các nước trong vùng bằng cách loan báo cho biết sẽ gia tăng hoạt động kiểm soát biển Đông và biển Hoa Đông. Trong phiên họp Quốc hội Nhật vào ngày 01 tháng 8 vừa rồi, Thủ tướng Abe đã tuyên bố rằng Nhật Bản sẽ quyết sử dụng vũ lực quân sự để bảo vệ lãnh hải và lãnh thổ của mình nếu như Trung Quốc có bất cứ hành động đổ bộ nào lên khu vực đảo Senkaku. Thủ tướng Abe không phải tuyên bố suông để được lòng dân mà còn ra lịnh tăng cường thêm lực lượng tuần duyên ở vùng đảo Senkaku. Cùng ngày hôm đó Thủ tướng Abe đã điện đàm trực tiếp với Tổng thống Akino của Philippines để yêu cầu hiệp tác với nhau khi hữu sự. Ông Akino không những vui vẻ chấp thuận mà còn phát biểu rằng Nhật và Philippines có chung một mối đe dọa từ Trung Quốc nên chuyện hiệp tác với nhau để chống lại kẻ xâm lược là điều cần thiết. Vào chiều tối cùng ngày (01/08/2013), trên báo điện tử của nhà cầm quyền Việt Nam có cho đi một bản tin về việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng điện đàm với Thủ tướng Nhật. Bản tin này viết rằng Thủ tướng Abe sang để cám ơn những tình cảm tốt đẹp mà chính phủ và nhân dân Việt Nam [đã dành cho ông trong chuyến thăm Hà Nội vào đầu năm nay], khẳng định chính phủ Nhật coi trọng quan hệ với Việt Nam như một đối tác tin cậy ở khu vực, hai Thủ tướng đã trao đổi một số vấn đề quốc tế và khu vực mà hai bên cùng quan tâm, đồng thời nhất trí thúc đẩy quan hệ hợp tác ASEAN-Nhật Bản. Đúng là ông Abe đã điện đàm với ông Nguyễn Tấn Dũng, nhưng hai vấn đề chính mà Thủ tướng Nhật muốn yêu cầu Việt Nam hợp tác thì báo điện tử của Việt Nam lại lờ đi không nói đến, may nhờ trên trang mạng của bộ Ngoại giao Nhật có ghi rõ nên xin trình bày ra đây cho mọi người biết. Chuyện thứ nhất, ông Abe muốn trong thời gian làm Thủ tướng của mình phải giải quyết cho xong vụ người dân Nhật bị Bắc Triều Tiên bắt cóc và yêu cầu Việt Nam ủng hộ và hợp tác với Nhật Bản trong vấn đề này. Chuyện thứ hai là yêu cầu hợp tác trong việc ngăn chận Trung Quốc sử dụng vũ lực quân sự ở biển Đông và biển Hoa Đông. Người dân Việt Nam biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược biển đảo của Việt Nam còn bị nhà nước CSVN ngăn cấm, bắt ở tù thì làm gì nói đến chuyện hợp tác với Nhật chống bá quyền phương Bắc nên báo điện tử của Việt Nam đã lờ đi chuyện này. Có người cho rằng Thủ tướng Nhật khờ khạo, chọn lầm đối tượng, thật ra thì trên cương vị Thủ tướng Nhật, ông Abe phải tìm đủ mọi cách ngăn chận sự hung hãn của Trung quốc ở biển Hoa Đông và biển Đông, có thêm được một quốc gia hợp tác thì càng tốt còn không thì Nhật vẫn phải cùng với các quốc gia đồng minh khác đương đầu. Những sự việc trên cho thấy rõ thái độ khác biệt của ba nước Nhật - Phi - Việt trong cách hành xử bảo vệ quyền lợi quốc gia của mình. Nhật và Phi thì luôn tìm đủ mọi cách để hợp tác, để có đồng minh chống lại bá quyền Trung Quốc. Còn CSVN thì yên lặng và ngoan ngoãn đứng nhìn từng bước lấn áp của Trung Quốc.
......

Việt Nam có một chính sách đối ngoại nào không ?

Lý do gì đã khiến lãnh đạo cộng sản Việt Nam chọn theo hẳn Trung Quốc và thách thức Hoa Kỳ và ASEAN ? Và  một cách công khai thay vì chỉ thỏa hiệp ngầm ? Có thể là do Tập Cận Bình ép buộc vì ông ta đang cần một thắng lợi ngoại giao để thực hiện những thay đổi nội bộ quan trọng, nhưng tại sao lãnh đạo Việt Nam lại chấp nhận ? Hèn nhát hay khờ khạo ? Ngoại giao Việt Nam tỏ ra đặc biệt sôi động trong hai tháng qua. Chủ tịch nước đi Trung Quốc cuối tháng 6, một tuần sau đi Indonesia và một tháng sau đi Mỹ. Những chuyến công du ở cấp nguyên thủ quốc gia chắc chắn là phải được thỏa thuận từ lâu, sự dồn dập này nằm trong một kịch bản: Hà Nội biết trước rằng họ cần trấn an các đối tác quốc tế quan trọng cũng như dư luận quốc nội sau những thỏa hiệp rất nghiêm trọng với Trung Quốc. Tại sao Indonesia và Hoa Kỳ lại là những nước cần được thăm viếng ngay sau chuyến đi Trung Quốc ? Đó là vì hai nước này có tầm quan trọng đặc biệt đối với Việt Nam. Indonesia không phải là một nước phát triển giàu mạnh, trao đổi kinh tế và văn hóa với Việt Nam không đáng kể nhưng lại là nước có trọng lượng và tiếng nói áp đảo trong khối ASEAN vì dân số (gần một nửa dân số ASEAN) và vị trí chiến lược (3/4 hàng hóa đường biển của thương mại quốc tế đi ngang Indonesia). Có thể nói ASEAN quan trọng đối với thế giới chủ yếu vì Indonesia. Văn phòng ASEAN đặt ở Djakarta. Việt Nam cần ASEAN như một không gian sinh tồn bắt buộc và vì ASEAN cũng là thị trường xuất khẩu thứ ba của Việt Nam sau Hoa Kỳ và Châu Âu. ASEAN có lý do để lo ngại sau những gì mà ông Trương Tấn Sang vừa thay mặt chính quyền Việt Nam thỏa thuận với Trung Quốc. Mục tiêu chính của ASEAN là liên kết các nước Đông Nam Á để cùng đương đầu với áp lực của Trung Quốc trong vùng. Vậy mà Việt Nam đã thỏa thuận với Trung Quốc rằng "Hai bên nhất trí tăng cường điều phối và phối hợp tại các diễn đàn đa phương như Liên Hợp Quốc, Tổ chức Thương mại Thế giới, Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương, Diễn đàn hợp tác Á-Âu, Diễn đàn khu vực ASEAN, Hội nghị cấp cao ASEAN và Trung Quốc, Hội nghị cấp cao ASEAN và Trung-Nhật-Hàn, Hội nghị cấp cao Đông Á... (1). Thỏa thuận này trên thực tế có nghĩa là từ nay Hà Nội sẽ nhận chỉ thị của Bắc Kinh trong mọi quan hệ đối với ASEAN và các định chế chung quanh ASEAN; nó biến Việt Nam thành nội ứng của Trung Quốc trong lòng ASEAN và một cách tự nhiên nó khiến các thành viên ASEAN nhìn Việt Nam như một kẻ phản trắc. Trong dự tính của ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam ông Sang cần đi Indonesia ngay sau chuyến đi Bắc Kinh vì ASEAN đang bị một cú sốc lớn. Hoa Kỳ lại càng quan trọng hơn. Phải nói thẳng nếu không có Hoa Kỳ thì Trung Quốc đã chiếm hết Biển Đông rồi. Hoa Kỳ là bảo đảm cho hòa bình trên thế giới và trong vùng. Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu thuận lợi nhất đem lại thặng dư thương mại hơn 15 tỷ cho Việt Nam trong năm 2012 và quan hệ với Hoa Kỳ cũng quyết định quan hệ đối với Châu Âu, Nhật và các nước dân chủ khác. Ngoại thương với Hoa Kỳ và các nước này chiếm sấp sỉ 80% ngoại thương Việt Nam; điều này có nghĩa là nếu quan hệ với Hoa Kỳ vì một lý do nào đó xấu đi thì quan hệ của Việt Nam với các nước dân chủ cũng sẽ giảm sút, kéo theo những hậu quả năng nề, kể cả và trước hết về kinh tế. Quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam dĩ nhiên là bị thương tổn nặng sau những thỏa hiệp Trung - Việt vừa rồi. Từ hơn mười năm qua một sự kiện quan trọng đã diễn ra, đó là Hoa Kỳ, Châu Âu và các nước dân chủ dần dần nhìn Trung Quốc như một đe dọa. Không phải vì Trung Quốc tăng trưởng mạnh. Trước đây Đức và Nhật đã tăng trưởng rất mạnh nhưng thế giới không hề lo âu mà còn vui mừng. Lý do thực sự khiến Hoa Kỳ và các nước dân chủ lo ngại là vì, trái với dự đoán và hy vọng của họ, Trung Quốc mạnh lên mà vẫn không chuyển hóa về dân chủ, không những thế còn tăng cường sức mạnh quân sự, bênh vực các chế độ độc tài và ngày càng tỏ ra hung hăng. Một phong trào bài Hoa không chính thức nhưng có thực đang hình thành trên khắp thế giới. Hầu như không có ngày nào không có những phát giác về sự độc hại của hàng hóa Trung Quốc, về sự bất chấp những chuẩn mực lao động và môi trường và về những vi phạm nhân quyền tại Trung Quốc; không có tuần nào không có những nghiên cứu báo động cho thấy Trung Quốc sẽ qua mặt Hoa Kỳ trong vòng hai thập niên, thậm chí ngay vào năm 2020. Phong trào bài Hoa này đã là thành quả nổi bật nhất của giai đoạn Hồ Cẩm Đào và đã có tác dụng là biến Trung Quốc thành một đe dọa cho thế giới. Tại sao Hoa Kỳ chuyển trọng tâm chiến lược và sức mạnh quân sự sang Thái Bình Dương nếu không phải là vì lo ngại Trung Quốc? Trong một bối cảnh thế giới như thế việc Việt Nam chấp nhận làm một chư hầu trọn vẹn của Trung Quốc, "thúc đẩy", "mở rộng", "tăng cường" và "làm sâu sắc thêm" mối quan hệ đối với Trung Quốc vốn đã là một quan hệ lệ thuộc, cam kết "điều phối" và "phối hợp" với Trung Quốc, nói cách khác nhận mệnh lệnh của Trung Quốc, trong khối ASEAN và trong các quan hệ đối với thế giới, kể cả tại Liên Hiệp Quốc, không thể không làm Hoa Kỳ bất bình. Càng bất bình vì về mặt quân sự Hà Nội và Bắc Kinh cũng đã thỏa thuận sẽ "tăng cường trao đổi và điều phối trong các vấn đề an ninh đa phương khu vực. Trao đổi nghiên cứu hình thức mới, nội dung mới trong triển khai hợp tác quốc phòng, làm sâu sắc thêm hợp tác giữa quân đội hai nước" (1). Tất nhiên Hà Nội có nhu cầu phân bua. Nhưng ông Sang và lãnh đạo Việt Nam còn gì để nói với Indonesia và Hoa Kỳ? Sự thực đã quá rõ ràng qua tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc. Có lẽ Hà Nội cũng muốn bày tỏ thái độ hữu nghị đối với hai nước chiến lược này, làm như không có gì xẩy ra. Tương tự như một cô gái tới gặp bạn trai sau khi vừa chính thức đính hôn và cố làm như mọi sự vẫn như cũ. Giả dối và vô duyên. Cả Indonesia và Mỹ đều đã chứng tỏ họ đã nhìn Hà Nội một cách khác. Ở cả hai nước ông chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã chỉ được tiếp đón một cách lạnh nhạt và rẻ rúng, ở mức độ tối thiểu cần thiết. Cảm tưởng rõ rệt là họ không muốn gặp ông Sang và chỉ chấp nhận tiếp ông bởi vì cuộc thăm viếng đã được thỏa thuận từ trước. Tại cả hai nước dù mang theo một phái đoàn đông đảo ông Sang đã không ký kết được một hợp tác cụ thể nào cả, ngoài một tuyên bố chung ước lệ nói đến tăng cường "hợp tác toàn diện". Nhưng "hợp tác toàn diện" chỉ là một cụm từ rỗng nghĩa nếu không được cụ thể hóa bằng những hiệp ước và hợp đồng rõ rệt. Việt Nam không thể và cũng không cần hợp tác trên mọi mặt với Mỹ, thí dụ như dự án đưa người lên Hỏa Tinh. Chúng ta chỉ cần hợp tác trên một số mặt thôi, điều quan trọng là hợp tác đến mức độ nào. Hai chuyến đi Indonesia và Mỹ của ông Sang đều có cùng một kết quả là một con số không bẽ bàng. Một tuần lễ trước khi ông Sang tới Mỹ ngân hàng US EXIM Bank, định chế tài trợ xuất khẩu của chính quyền Mỹ, đã từ chối tài trợ cho dự án xây dựng nhà máy nhiệt điện Thái Bình trị giá 1,6 tỷ USD viện cớ nhà máy này gây ô nhiễm cho môi trường. Ô nhiễm có thể chỉ là lý cớ, lý do thực sự có thể là Mỹ không muốn trợ giúp một chư hầu của Trung Quốc. Người ta vẫn để ông Sang đến nhưng tiếp ông một cách rẻ rúng như một lượng không đáng kể, nghe ông nói một cách lơ đãng, nhắc lại một cách ngắn gọn những lập trường nguyên tắc rồi nhanh chóng chia tay vì Việt Nam không còn gì đáng chú ý. Tổng thống Obama cũng cho biết hai bên đã đề cập tới việc Việt Nam xin gia nhập khối Hợp Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP-Trans-Pacific Partnership) và nói là sẽ có gắng giải quyết vấn đề này trong năm nay. Cách giải quyết này rất có thể sẽ là một sự từ chối và như thế sẽ là một thiệt hại lớn cho Việt Nam. TPP là tổ chức hợp tác kinh tế của một số nước Châu Á và Châu Mỹ được thành lập năm 2006 với thỏa thuận ngay lập tức giảm ít nhất 90% và trong tương lai xóa bỏ hoàn toàn hàng rào quan thuế. Gia nhập TPP mở ra cho Việt Nam vô số cơ hội; ngay trước mắt quần áo và giầy dép Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ và các nước TPP sẽ được giảm thuế một cách đáng kể, trong tương lai có thể không còn phải trả thuế. Mỹ tuy chưa phải là thành viên nhưng lại có tiếng nói quyết định trong việc thu nhận thành viên mới vì mọi thành viên TPP đều thân Mỹ và cần Mỹ. Người ta có thể nghĩ TPP là một tổ chức ra đời do sáng kiến của Mỹ để cô lập Trung Quốc, dù Mỹ không chính thức ra mặt. Ngoài bốn nước sáng lập viên New Zealand, Chili, Brunei, Singapore, còn tám nước đang xin gia nhập : Úc, Mã Lai, Peru, Canada, Nhật, Mexico, Mỹ và Việt Nam; tất cả đều chắc chắn được chấp nhận trừ Việt Nam. Chính phủ Mỹ đã từng lặp lại nhiều lần, kể cả qua lời đại sứ Mỹ tại Việt Nam David Shear, rằng cải thiện tình trạng nhân quyền là điều kiện để Việt Nam được chấp nhận vào TPP, nhưng tình trạng nhân quyền tại Việt Nam đã không cải thiện mà còn tiếp tục xấu đi. Sự câu kết với Trung Quốc càng làm cho khả năng Việt Nam gia nhập TPP nhỏ lại. Trừ khi có một đảo ngược chính sách ngoạn mục, như hủy bỏ nghị định 72 và phóng thích một số đông đảo tù nhân chính trị, Việt Nam không có hy vọng. Chắc chắn chẳng bao lâu nữa ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam sẽ nhận ra rằng chính sách phục tùng toàn diện đối với Trung Quốc, và do đó gián tiếp đứng vào thế kình địch với Hoa Kỳ và các nước dân chủ, gây thiệt hại nhiều hơn họ tưởng. Như đã nói ở trên, quan hệ hợp tác với Hoa Kỳ đi song song và nhịp nhàng với quan hệ hợp tác với Châu Âu, Nhật và các nước dân chủ khác. Các quan hệ này chỉ có thể xuống cấp từ nay với những hậu quả nghiêm trọng. Việt Nam là một trong số một vài nước lệ thuộc ngoại thương nặng nề nhất thế giới, hơn hẳn cả Trung Quốc. Tổng số xuất nhập khẩu của Việt Nam gần bằng 200% GDP trong khi mức trung bình thế giới của tỷ lệ này chỉ là 50%. Đã thế 90% xuất khẩu của Việt Nam là sang các nước dân chủ. Ngoại thương của Việt Nam và kinh tế Việt Nam nói chung sẽ ra sao trong những ngày sắp tới còn là một dấu hỏi và một lo âu lớn. Cho đến nay Mỹ và Châu Âu vẫn làm như không biết rất nhiều mặt hàng xuất khẩu mang nhãn Made in Vietnam thực ra chỉ là hàng Trung Quốc và Việt Nam hành xử như một trạm xuất khẩu của Trung Quốc. Sự dễ dãi này còn tiếp tục bao lâu? Trong thế đối đầu đang hình thành Việt Nam có mọi lý do để dành ưu tiên cho quan hệ đối với Hoa Kỳ ngay cả nếu muốn giữ quan hệ hữu nghị với Trung Quốc. Chúng ta có rất nhiều điều để học hỏi ở Hoa Kỳ và các nước dân chủ phát triển, về khoa học và kỹ thuật cũng như về văn hóa, tổ chức và phương pháp. Hoa Kỳ đã là thị trường lớn và thuận lợi nhất của chúng ta và còn đầy hứa hẹn vì chúng ta chưa chiếm được 1% tổng số nhập khẩu của họ. Chúng ta bán cho Hoa Kỳ và Châu Âu 40 tỷ USD hàng hóa mỗi năm, gấp bốn lần kim ngạch xuất khẩu sang Trung Quốc, 80 tỷ USD nếu kể các nước dân chủ khác. Hoa Kỳ cũng không dòm ngó đất đai và biển đảo của chúng ta mà còn có thể bảo vệ chúng ta trước những âm mưu lấn chiếm từ bên ngoài. Quan hệ chặt chẽ với Hoa Kỳ không chỉ giúp chúng ta tăng cường sự hợp tác đối với Châu Âu và các nước phát triển khác mà còn là điều kiện để chúng ta có thể chung sống hòa bình với Trung Quốc. Ngược lại chúng ta không có gì đáng kể để học hỏi và chỉ có thể thiệt thòi trong quan hệ đối với Trung Quốc. Hai xã hôi đồng dạng, chỉ khác nhau về mức độ. Những gì Trung Quốc có chúng ta đều có nhưng ở mức độ ít hơn và thấp hơn, những gì chúng ta làm ra Trung Quốc đều làm được nhưng tốt hơn và rẻ hơn. Quan hệ chỉ có thể thua thiệt. Một thí dụ cụ thể và đau nhức là thâm thủng ngoại thương. Chúng ta thâm thủng nặng đối với Trung Quốc và dù cả hai nước đều tuyên bố cần cân bằng cán cân thương mại, con số thâm thủng đã chỉ tiếp tục tăng lên. Năm 2012 chúng ta thâm thủng 17 tỷ USD. Con số này sẽ là ít nhất 22 tỷ năm 2013. Và quan hệ "đối tác chiến lược toàn diện" với Trung Quốc đã không ngăn cản Trung Quốc tiếp tục lộng hành trên Biển Đông. Vậy thì lý do gì đã khiến lãnh đạo cộng sản Việt Nam chọn theo hẳn Trung Quốc và thách thức Hoa Kỳ và ASEAN? Và ngay cả nếu chọn lựa một cách tai hại như thế thì cái gì đã khiến họ nói ra một cách công khai trước dư luận Việt Nam và thế giới trong bản tuyến bố chung Việt Nam - Trung Quốc thay vì chỉ thỏa hiệp ngầm ? Có thể là do Tập Cận Bình ép buộc vì ông ta đang cần một thắng lợi ngoại giao để thực hiện những thay đổi nội bộ quan trọng, nhưng tại sao lãnh đạo Việt Nam lại chấp nhận ? Hèn nhát hay khờ khạo ? Lý do đầu tiên đã được nhắc lại nhiều lần là họ đặt quyền lợi của đảng lên trên quyền lợi đất nước. Tiếp tục cầm quyền là ưu tư lớn nhất của họ và những người lãnh đạo cộng sản Việt Nam dù xung đột với nhau đến đâu cũng đều đồng ý là phải dựa vào Trung Quốc để giữ chế độ; đi với các nước dân chủ thì phải chấp nhận dân chủ hóa và họ biết đảng cộng sản không có tương lai trong một nước Việt Nam dân chủ. Điều này không cần bàn cãi thêm nữa. Chỉ cần nói thêm rằng nó cũng là một di sản văn hóa của chủ nghĩa cộng sản. Trong chủ nghĩa này không có quyền lợi quốc gia, chỉ có quyền lợi giai cấp. Ngày nay quyền lợi giai cấp được thay thế bằng quyền lợi của những người cầm quyền. Nhưng còn hai lý do quan trọng khác. Lý do thứ nhất là Đảng Cộng Sản Việt Nam chưa từng biết đến một chính sách đối ngoại đúng nghĩa. Ý thức hệ quyết định chính sách đối ngoại và đồng minh, một khi ý thức hệ đã được chọn lựa thì các đồng minh và kẻ thù cũng đã được chọn lựa (2). Cho tới thập niên 1980 ĐCSVN tự coi là mũi nhọn tiến công của chủ nghĩa Mác-Lênin và dĩ nhiên coi mọi nước xã hội chủ nghĩa là anh em, Hoa Kỳ và các nước dân chủ là thù địch. Bộ chính trị không cần nghiên cứu về thế giới để tìm ra một chính sách đối ngoại, bởi vì đường lối đối ngoại đã vạch sẵn rồi. Sau năm 1985 họ chọn "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" theo Trung Quốc và chính sách đối ngoại cũng đã quyết định xong, đó là chính sách trao đổi kinh tế với các nước dân chủ nhưng phủ nhận chế độ chính trị. Chính sách này cũng buộc họ phải coi các chế độ Cuba và Triều Tiên là anh em trong khi Hoa Kỳ và các nước dân chủ là những nguy cơ tiềm ẩn. Lý do thứ hai là các cấp lãnh đạo cao nhất của đảng cộng sản đều thiếu hẳn sự hiểu biết về thế giới. Trong tiệc chiêu đãi tại bộ ngoại giao Hoa Kỳ ngày 25/7 vừa ông Trương Tấn Sang nói: "Sau hơn 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới, từ một nước kém phát triển, Việt Nam đã vươn lên trở thành một nước có thu nhập trung bình với tốc độ tăng trưởng khá và đã đạt trước thời hạn nhiều mục tiêu thiên niên kỷ". Việt Nam có thu nhập trung bình ? Thu nhập trung bình trên thế giới là 10.000 USD trên mỗi đầu người, tại Việt Nam con số này chỉ là 1.200 USD. Và Việt Nam đã đạt mục tiêu thiên niên kỷ nào ? Tại sao một nguyên thủ quốc gia có thể nói một câu ngớ ngẩn như thế trước một cử tọa chọn lọc như thế ? Câu nói này tiêu biểu cho trình độ hiểu biết về thế giới của những người lãnh đạo cộng sản Việt Nam từ trước đến nay. Đảng Cộng Sản Việt Nam và chế độ cộng sản Việt Nam đã là những sản phẩm của sự thiếu hiểu biết và sự thiếu hiểu biết đã luôn luôn hướng dẫn họ. Theo lời thuật của chính ông, Hồ Chí Minh đã khám phá ra chủ nghĩa cộng sản sau khi đọc một bài báo, ông đã say mê như người mất trí mà không biết rằng chủ nghĩa này đã bị cả lý luận lẫn thực tế phủ nhận từ lâu rồi. Năm 1975 khi Đảng Cộng Sản Việt Nam tưng bừng áp đặt chủ nghĩa Mác-Lênin trên cả nước và ca tụng nó như là một chủ nghĩa bách chiến bách thắng, đỉnh cao của trí tuệ thì nó đã bị vất bỏ từ đúng một thế kỷ rồi sau đại hội Gotha tại Đức năm 1875, và 15 năm sau nó sẽ sụp đổ hoàn toàn. Đầu thập niên 1980 họ còn tin tưởng vào thắng lợi không thể đảo ngược của Liên Xô để rồi ngay sau đó hoảng hốt nhìn Liên Xô tan vỡ và quay sang đầu hàng Trung Quốc. Năm nay, 2013, giữa lúc Trung Quốc sắp lâm vào khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng và có nguy cơ tan vỡ luôn họ chọn lệ thuộc hoàn toàn vào Trung Quốc. Ngay cả nếu đảng cộng sản chỉ biết có quyền lợi của mình thì đây cũng là một chọn lựa dại dột. Càng dại dột vì cả Việt Nam lẫn thế giới đều đã thay đổi. Như đã nói, mục đích của các chuyến đi Indonesia và Hoa Kỳ của ông Trương Tấn Sang cũng là để trấn an dư luận Việt Nam, trước hết là khối cán bộ đảng viên trẻ có học thức, rằng Việt Nam vẫn còn quan hệ đa phương bình thường với nhiều nước, nhưng kết quả đã ngược hẳn. Năm 1985 khi họ đem Nguyễn Văn Linh lên cầm quyền để đầu hàng Trung Quốc thì sự đầu hàng này được che đậy bởi chính sách "đổi mới". Dù sự đổi mới này chỉ là cóp nhặt theo Trung Quốc nó cũng đã ít nhiều có tác dụng cởi trói và cải thiện mức sống, vì thế đã làm mất cảnh giác. Năm nay sự thần phục Trung Quốc diễn ra trong bối cảnh kinh tế suy sụp và đàn áp gia tăng, nó lập tức bị nhận diện và bị lên án. Không phải là trong chế độ không có những người hiểu biết về thế giới. Bộ ngoại giao Việt Nam có khá nhiều chuyên viên quốc tế, nhưng họ không có tiếng nói. Tuy vậy sự thiếu hiểu biết về thế giới không phải là độc quyền của đảng cộng sản. Nó là đặc tính chung cố hữu của chính trị nước ta. Triều Nguyễn giữa một buổi giao thời mãnh liệt và mặc dù những bài học cay đắng liên tục vẫn chỉ biết cố bám vào một Trung Quốc đang bối rối và bất lực. Chế độ Việt Nam Cộng Hòa trước đây dù sự sống còn tùy thuộc hoàn toàn ở Hoa Kỳ cũng không có lấy một cơ quan nghiên cứu, theo dõi và tranh thủ chính sách của Hoa Kỳ. Bao giờ cũng thế và dưới mọi chính quyền, chính sách đối ngoại của nước ta luôn luôn được quyết định một cách tùy tiện bởi những người thiển cận nhưng độc đoán, không biết và cũng không muốn biết về thế giới. Việt Nam chưa bao giờ có chính sách đối ngoại đúng nghĩa. Đảng cộng sản chỉ làm đậm hơn và lố bịch hơn một tâm lý ếch ngồi đáy giếng sẵn có. Tương lai Việt Nam có lẽ sẽ không quá đen tối vì một lý do ngoài dự tính của những người cầm quyền. Có nhiều dấu hiệu cho thấy là chính Tập Cận Bình cũng đang tìm cách từ bỏ chính sách đối đầu của Hồ Cẩm Đào để hòa dịu với Hoa Kỳ và các nước dân chủ. Như thế Trung Quốc sẽ bớt chèn ép Việt Nam trên Biển Đông, dù chỉ là để không gây lo ngại cho Hoa Kỳ và các nước ASEAN. Cũng rất có thể chính sự thay đổi tại Trung Quốc sẽ buộc Việt Nam phải hội nhập vào thế giới dân chủ và chấp nhận dân chủ hóa. Chúng ta có triển vọng thoát khỏi bế tắc, nhưng cần rút ngay ra một bài học lịch sử. Đó là từ nay nhất định không chấp nhận những người lãnh đạo thiếu văn hóa và tầm nhìn. Nguyễn Gia Kiểng (8/2013) Tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc sau chuyến công du của Trương Tấn Sang. Chủ nghĩa thực tiễn và trường hợp Obama, Thông Luận số 245, tháng 3-2010 Nguồn: ethongluan.org
......

Thanh Niên Yêu Nước Nguyễn Xuân Anh Đã Trở Về Với Nhà Tù Lớn

Nghệ An: Vào lúc 15:00 ngày 7/8/2013, Thanh Niên Yêu Nước Nguyễn Xuân Anh, một trong 14 Thanh Niên Công Giáo và Tin Lành (TNCG & TL) đã mãn hạn tù. Như vậy, sau hai năm bị giam tù, anh đã được rời nhà tù nhỏ để trở về với nhà lớn cùng với hơn 90 triệu nhân dân Việt Nam. Đúng ngày này hai năm về trước (7/8 2011-7/8/2013), anh đã bị Công an Việt Nam bắt cóc và kết án hai năm tù giam với tội danh gán ghép: “hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân” phạm vào điều điều 79 BLHSVN cùng với 13 TNCG & TL khác. Những người yêu chuộng Công lý và Sự thật tặng hoa và tỏ bày sự kính trọng, yêu mến đối với anh Không hiểu vì lí do gì mà cách đây 5 ngày, phía Công an Việt Nam đã thông báo là đến ngày 18/8/2013 họ mới bàn giao anh cho gia đình. Tuy nhiên, trước bản chất gian manh của chính quyền, họ đã không lừa được người thân và bạn bè của anh Nguyễn Xuân Anh. Và một nhóm người bạn yêu chuộng Công Lý và Sự Thật đã có mặt kịp thời để đón mừng anh trở về với gia đình, bạn bè. Dù sức khỏe không được tốt nhưng anh vẫn luôn  nở nụ cười tươi vốn có của mình và đón nhận những bó hoa tươi thắm cùng với tấm lòng ngưỡng mộ, yêu thương của gia đình và bạn bè. Ấm áp trong vòng tay gia đình và bạn bè Quây quần bên mâm cơm đạm bạc Nguồn: http://thanhnienconggiao.blogspot.com.
......

Sứ quán Thụy Điển tại Hà Nội niềm nở đón tiếp đoàn đại diện Blogger VN trao "Tuyên Bố 258"

Bất chấp sự theo dõi, ngăn cản của an ninh công an, một số blogger đại diện cho Mạng lưới blogger Việt Nam sáng hôm nay, 7-8-2013, đã vượt vòng vây đến được địa điểm Đại sứ quán Thụy Điển ở Hà Nội để trao tay bản Tuyên bố 258 như đã hẹn.   Đại diện Mạng lưới bloggers Việt Nam trao Tuyên bố 258 cho bà Elenore Kanter, phó Đại sứ Thụy Điển hôm 7-8-2013   Từ đêm qua và sáng sớm hôm nay, nhiều blogger đã bị công an bủa vây chặt và mời đi làm việc hầu ngăn chận cuộc gặp đã hẹn trước này.   Tin tức ghi nhận blogger Nguyễn Vũ Hiệp (tức FB Florencia Knightingale) bị hơn khoảng 20 công an chặn trước cửa không cho đi ra ngoài sau khi đưa giấy mời anh đi làm việc, nhưng anh đã từ chối. Blogger Lê Dũng cũng bị công an theo sát khi anh bước ra đường. Công an quận Hà Đông cũng đã gây áp lực với gia đình blogger Nguyễn Thu Trang để ngăn cản cô không đến tòa đại sứ Thụy Điển để cùng trao Tuyên bố 258. Trong khi đó, hàng chục công an, an ninh  thường phục đã túc trực ở các địa điểm hai bên đường khu vực sứ quán Thụy Điển. Đến giờ hẹn, các quan chức và nhân viên Đại sứ quán Thuỵ Điển đã ra tận cổng ngoài chờ sẵn để đón các blogger Việt Nam, và nếu cần sẽ can can thiệp. Các quan chức Đại sứ quán cho biết họ để cổng mở, và rất vui được đón các blogger Việt Nam. Có mặt tại cổng, Bà Phó đại sứ Thụy Điển cho biết nếu cần taxi chở các blogger Việt Nam có thể vào thẳng bên trong sứ quán. Vào lúc gần 10 giờ sáng, sau khi blogger Nguyễn Thu Trang đã tìm cách thoát được đến địa điểm, đoàn đại diện gồm 5 blogger Nguyễn Thu Trang, Nguyễn Đình Hà, Nguyễn Văn Viên, Lê Hồng Phong và bác Nghiêm Ngọc Trai đã vào được bên trong sứ quán. Theo các blogger, Bà  Bà Elenore Kanter, Phó Đại sứ, và các tùy viên sứ quán Thụy Điển đón tiếp đoàn đại diện Mạng lưới blogger VN rất là thân thiện. Họ rất vui vẻ và đặc biệt Bà Phó Đại sứ đã tỏ ra rất quý các bạn blogger Việt Nam. Sau khi nhận bản Tuyên bố 258 củ mạng lưới blogger chống lại việc đàn áp tự do ngôn luận tại Việt Nam, hai bên đã trao đổi chia sẻ với nhau trong vòng hai giờ đồng hồ với rất nhiều vấn đề liên quan đến tình trạng vi phạm nhân quyền tại Việt Nam hiện nay, cũng như về tình hình phát triển và kỷ niệm 40 năm của đại sứ Thụy Điển tại Việt Nam. Các viên chức ĐSQ Thụy Điển ra tận cổng ngoài chờ đón các blogger VN tránh CA gây khó cản trở Trong dịp này, các blogger VN đã đặc biệt trao đổi một số thông tin của Việt Nam gần đây về nhân quyền, như sự kiện mới đây chính phủ Việt Nam đã ra nghị quyết 72 để hạn chế tự do thông tin của công dân trên internet và các trang mạng xã hội. Các blogger cũng trao đổi với bà phó Đại sứ về vấn đề nhà cầm quyền đàn áp, bắt xử với những bản án nặng nề dành cho các blogger bất đồng chính kiến tại Việt Nam khi họ nói lên tiếng nói trung thực của mình.   Đoàn đại diện trao tuyên bố 258 của mạng lưới blogger VN ra về Ngoài ra, 5 đại diện blogger VN cũng trao đổi với bà phó Đại sứ và các tùy viên chính trị Thụy Điển về vấn đề người dân khiếu kiện đất đai và nạn tham nhũng tại Việt Nam hiện nay, và mong muốn đại sứ quán Thụy Điển cũng như các tổ chức quốc tế có thể nghe được ý kiến trung thực của người dân Việt Nam, không giống những gì mà chính phủ tường trình với Liên hiệp quốc.   Đáp lại, Bà phó Đại sứ chia sẻ rằng tất cả những thông tin bà nhận được hôm nay sẽ được bà chuyển đến chính phủ Thụy Điển và liên hiệp Âu Châu để cho mọi người biết.   Theo tin từ blogger thành viên Mạng luới blogger VN đang có mặt tại Bangkok thì chương trình vận động quốc tế của mạng lưới blogger Việt Nam đang tiếp tục với buổi gặp gỡ cùng đại diện Google khu vực Đông Nam Á, để thông tin về tình hình tự do thông tin của Việt Nam, đặc biệt là chi tiết Nghị định 72 vừa được ban hành, cùng với nội dụng Tuyên bố 258 của blogger VN. (nguồn hình FB donghailongvuong Nguyễn Chí Đức, Lan Le, MangluoibloggerVN)   Thư của một blogger gửi Đại sứ quán Thụy Điển Dưới đây là thư của blogger Nguyễn Vũ Hiệp (tức Facebook Florencia Knightingale) gửi Đại sứ quán Thụy Điển tại Việt Nam để xin lỗi vì anh đã không thể có mặt tại cuộc tiếp xúc sáng nay của Đại sứ quán với đại diện Mạng lưới blogger Việt Nam. Blogger Florencia Knightingale là người ngoài cùng bên trái. * * *Thân gửi bà Elenore Kanter, quan chức Đại sứ quán Thụy Điển tại Việt Nam, Tôi vừa làm lỡ cuộc hẹn của chúng ta sáng nay. Chân thành xin lỗi bà và quý cơ quan vì sự việc đáng tiếc ấy. Xem chừng buổi trò chuyện bất thành của chúng ta đã làm một số thế lực bất lương khó chịu. Một tốp cảnh sát và mật vụ hùng hậu vừa gửi tới tôi một giấy mời “làm việc” đột xuất, vì một lý do bí ẩn nào đó mà họ nhất định không chịu nói ra. Tuần trước, một “lời mời” đường đột tương tự đã tình cờ làm lỡ cuộc gặp của tôi với Đại sứ quán Hoa Kỳ. Rút kinh nghiệm đau thương, sáng nay, tôi cương quyết từ chối.   Vì vậy, lúc này đây, tôi đang bị giữ ở nhà bằng vũ lực. Các anh mật vụ cho biết: họ được lệnh quản thúc tôi tại gia. Cơ bắp của họ chỉ cho tôi có hai lựa chọn: hoặc đến trụ sở công an để “làm việc” – vì cái lý do mà chỉ có họ mới biết; hoặc ngồi trong nhà, chờ buổi sáng trôi qua, và viết thư xin lỗi này.   Tôi không hiểu vì lý do nào mà những ngày này, sau khi giáng xuống vô vàn bản án chính trị thẳng tay, chính phủ nước tôi lại sợ một bản tuyên bố về quyền con người đến thế. Chúng tôi, các blogger Việt Nam, tin rằng họ sẽ phải sớm trả lời trước nhân dân và thế giới tiến bộ. Mong Đại Sứ quán Thụy Điển, một người bạn đáng tin cậy của những người Việt Nam yêu tự do, hòa bình và công lí, giúp tôi chuyển câu hỏi này tới chính phủ nước tôi. Gửi trực tiếp thật khó, vì đôi tai của họ thường đóng kín với người dân thường. Thân mến, F.K. nguồn: http://tuyenbo258.blogspot.com/2013/08/  
......

Thương người em nhỏ, bây giờ ở đâu?

Phải chăng cô là nạn nhân của sự ngăn cản thông tin. Khi chưa có nghị định 72 mới ra vừa xong của CP, cách đây vài năm. Cô giáo Nguyễn Thị Bích Hạnh trên bục giảng, đã gợi ý học sinh của mình chịu khó lên mạng để tìm kiếm thông tin bổ sung cho môn học. Lập tức từ phía tuyên giáo của chính quyền nổi lên một cơn thịnh nộ. Báo Dân Trí lên án hành động này và quy kết cho đó là "đã vi phạm nghiêm trọng trong việc xuyên tạc đạo đức nhà giáo; sử dụng bục giảng làm nơi tuyên truyền những nội dung trái với quan điểm của chính sách Nhà nước; xuyên tạc đường lối của Đảng, chủ trương pháp luật của Nhà nước, vi phạm quan điểm nội dung giáo dục trong việc cập nhập khai thác, truyền bá trang web phản động, phản giáo dục". Cô Nguyễn Thị Bích Hạnh, Thạc sĩ Văn chương, giảng viên môn văn, bị Sở GD tỉnh Quảng Nam quyết định cho thôi việc chỉ vì giới thiệu học sinh tìm hiểu thêm thông tin trên Internet Cô giáo Bích Hạnh bị đuổi việc, lâu dần không ai nhắc đến cô nữa. Một chiều nắng năm 2010, tôi đến Yên Thành của đất Nghệ An, đi theo Lê Quốc Quân về quê hắn dự đám giỗ bố hắn. Quân dẫn tôi đi thăm làng quê hắn, đến một góc làng có một ngôi nhà lúp xúp thì hắn dừng lại ngó vào, qua hàng rào tre mục lưa thưa, tôi thấy một mảnh vườn phía trước trồng rau cải bắp và vài loại nữa. Quân nói. - Ông biết cô giáo Bích Hạnh không.? - À tôi có nghe, cô ấy ở Quảng Nam à.? Quân lắc đầu. - Không , nhà cô ấy ở đây, cô ấy dạy học trong Quảng Nam, nhưng vì bảo học sinh tìm kiếm thông tin trên mạng, bị bọn nó đuổi dạy, giờ về nhà rồi, xin việc chẳng nơi nào nhận. Quân đẩy cái cổng tre, chúng tôi vào nhà. Ngôi nhà thấp lè tè, nền đất, trong nhà có bộ bàn ghế cũ để giữa nhà đã long tróc. Ở góc nhà có một bộ máy tính bàn sản xuất từ đời nào, một giá sách nhỏ. Tò mò tôi lại gần ngó vài thứ giấy tờ trên bàn, đó là những tờ giấy của ai đó đang soạn về một chương trình giáo dục. Nhà chẳng có ai, ở quê người ta thường để cổng như vậy, hơn nữa thì ngôi nhà này có gì mà để trộm bõ công vào lấy. Chúng tôi ngồi ở ghế giữa nhà một lúc, thì cô giáo Bích Hạnh đi từ ngoài cổng qua sân, tay cầm thúng, tay cầm liềm. Quân cất tiếng chào, cô giáo chào chúng tôi, cất đồ vào bếp và quay lên nhà rót nước mời chúng tôi uống. Hỏi thăm công việc, cô cho biết chưa xin được nơi nào, chẳng đâu người ta nhận, giờ về nhà làm ruộng vườn cùng mẹ. Tôi nhìn thân hình gầy gò, mảnh mai của cô, hình dung người con gái chịu khổ quyết chí học hành đến lúc có bằng thạc sĩ , vừa chớm ước mơ đứng trên bục giảng vài bữa thì bị tai họa giáng xuống. Mọi ước mơ, mọi công sức học hành giờ tan tành. Trở về nhà mẹ bên miếng ruộng, mảnh vườn tần tảo sống qua ngày. Thế rồi dòng đời trôi, tôi cũng không gặp cô nhiều, thỉnh thoảng lại đi cùng Quân về quê. Chuyện trò hàng xóm, tiện nhắc đến cô thì biết cô vẫn ở nhà làm vườn, ruộng, viết sách gì đó. Nghệ An xảy ra vụ án chống chính quyền của mười mấy thanh niên xứ Nghệ. Theo dõi tin tức về những người bị bắt, hoàn cảnh từng gia đình, từng con người. Họ ở khắp nơi trên tỉnh Nghệ An, có người ở tít tận cuối tỉnh giáp Lào, người giáp Thanh Hóa. Từ đầu này Nghệ an đến đầy kia hàng trăm cây số. Trên cái xe máy cà tàng tôi đến từng nhà người bị bắt, nghe chuyện gia đình họ. Người con đứa lên ba, đứa trong nôi. Người sắp cưới vợ, người đang nuôi mẹ già, người đang học hành dang dở...tìm hiểu hoàn cảnh khó khăn của gia đình họ, để bạn bè và những người quan tâm giúp đỡ là một phần nhỏ tôi thấy sức mình có thể làm được trong lúc họ bị tù đày. Thế nhưng, giờ tôi thấy mình đã bỏ sót một gia đình. Đó là gia đình cô giáo Bích Hạnh, thật sự chuyện này tôi cũng mới biết không lâu. Hóa ra trong vụ ấy, có người bỏ trốn được, anh ta đã bị phát lệnh truy nã của cơ an an ninh điều tra bộ công an. Thái Văn Tự, người đã bỏ trốn, nhờ có sự bỏ trốn của anh mà cơ quan an ninh điều tra đã bế tắc không khai thác được thêm thông tin về những người khác nữa. Bây giờ thì chẳng ai biết Thái Văn Tự ở đâu. Tự là chồng của cô giáo Bích Hạnh. Họ cưới nhau lúc nào tôi cũng không biết, dù tôi có gặp Tự trước đó vài lần.  Là một kỹ sư ngành tàu biển, đang có công việc và đồng lương tốt, Thái Văn Tự bỏ việc để theo đuổi con đường mà Tự và những người bạn cùng quê hương đã chọn. Mong cho đất nước có tự do, dân chủ và bác ái. Giờ thì Thái Văn Tự bặt tăm chim trời cá nước. Những người bạn anh vào tù được người đời nhắc đến, Thái Văn Tự ẩn dật nơi nào không ai rõ, kể cả vợ con anh ta. Cô giáo Bích Hạnh mang thai và sinh đứa con trai khi chồng cô đang trốn lệnh truy nã, giờ bên mảnh vườn, ruộng xơ xác nắng lửa miền Trung ấy, cái căn nhà lụp xụp thấp tè cũ kỹ ấy phải cưu mang thêm một sinh linh nhỏ bé nữa. Đằng sau những người đấu tranh, là những mảnh đời,  những số phận của mẹ già, vợ dại, con thơ cùng gánh chịu những gian khó với họ. Thế nhưng đất nước chưa bao giờ dứt những người đấu tranh. Những lớp người này vào tù ngục, lại có lớp khác đứng lên tiếp tục đòi hỏi tự do, công bằng , chủ quyền cho đất nước, cho dân tộc. Sẵn sàng đối diện với thể chế khắc nghiệt luôn đưa họ vào nhà tù hay khắc chế bằng mọi phương thức. Cảm ơn những người phụ nữ gày gò, sớm hôm bên mảnh ruộng vườn, tần tảo nuôi con. Không một lời ca thán, dãi bày như cô giáo Bích Hạnh. Từng ấy năm qua, một mẹ một con sống nhờ mảnh vườn, ruông , cô giáo Bích Hạnh âm thầm vượt bao khó khăn mà chưa bao giờ cô muốn kể cùng ai. Chẳng biết bao giờ cô và cháu nhỏ gặp lại người chồng, để sống yên bình như bao gia đình khác. Con đường phía trước của cô thật mịt mờ, nhưng cô giáo Nguyễn Thị Bích Hạnh ấy vẫn tràn đầy nghị lực sống,vẫn kiên cường đối diện vật lộn với miếng cơm , manh áo hàng ngày như bao thân nhân của những người tranh đấu khác. Cô vẫn gầy guộc như cánh hạc, giữa cuộc đời giông tố và khắc nghiệt này. Mong cho mẹ con cô vượt qua được mọi gian khó....những  gian khó mà chưa ai biết được ngày nào sẽ qua. nguồn: Facebook Người Buôn Gió
......

Rainsy 'học cao và ghét Việt Nam'

Không bằng lòng với kết quả bầu cử 28/7/2013 ở Campuchia, ông Sam Rainsy, lãnh đạo đảng Cứu nguy dân tộc Campuchia, phủ nhận kết quả bầu cử do có nhiều sai phạm bầu cử nghiêm trọng và yêu cầu điều tra.   Kết quả sơ bộ của cuộc bầu cử quốc hội sẽ được một ủy ban điều tra xem lại và chính thức công bố vào ngày 10/8. Sam Rainsy tuyên bố ủng hộ Trung Quốc bảo vệ đảo trên Biển Đông Sau khi công bố kết quả, các đảng phái có thể khiếu nại trong vòng một tháng, nếu không có đơn khiếu nại thì kết quả chính thức sẽ được công bố vào ngày 14/8. Đây là một thành công lớn đối với ông Sam Rainsy vì, mặc dù không ra ứng cử, yêu cầu của ông đã được chính quyền Hun Sen lắng nghe. Nhưng ông nổi tiếng hơn cả ở Việt Nam, vì các phát biểu của mình về người Việt và cả về Biển Đông. Ông Sam Rainsy là ai và vì sao có những phát biểu như vậy? Hai lần ân xá Ngày 12/7/2013 Sam Rainsy đã được quốc vương Norodom Sihamoni ân xá theo đơn xin của đương kim thủ tướng Hun Sen "vì lợi ích của đất nước và trên tinh thần hòa giải dân tộc". Ông Rainsy năm nay 64 tuổi (sinh năm 1949), đang sống lưu vong tại Pháp nhằm trốn tránh bản án xử vắng mặt 11 năm tù giam về tội tuyên truyền thông tin sai lạc và phá hoại tài sản quốc gia. "Nhắc lại, ngày 25/10/2009, ông Sam Rainsy tới khu vực đang phân giới cắm mốc giữa tỉnh Long An của Việt Nam và tỉnh Svay Rieng của Campuchia, nhổ sáu cọc dấu tạm thời mang về Phnom Penh." Chính quyền Việt Nam đã lên án hành động này của Sam Rainsy và gọi nó là "phá hoại mối quan hệ giữa Việt Nam và Campuchia" và yêu cầu chính quyền Campuchia có biện pháp "xử lý thích đáng" đối với hành vi đó. Trước sự phá hoại này, chính quyền huyện Chantrea, tỉnh Svay Rieng làm đơn kiện ông ra tòa và Sam Rainsy bị kết án 2 năm tù ngày 27/01/2010. Để tránh bị bỏ tù, ông Sam Rainsy bỏ chạy sang Pháp định cư, vì ông mang hai quốc tịch (Pháp và Campuchia). Không bao lâu sau, ngày 23/9/2010 tòa án Phnom Penh tuyên phạt ông Sam Rainsy một bản án vắng mặt nặng nề hơn, 10 năm tù về tội giả mạo và công bố một bản đồ sai lạc về biên giới nhằm cản trở công tác phân giới cắm mốc của Campuchia với Việt Nam. Không vì lý do rõ ràng nào ông Sam Rainsy luôn tỏ ra hận thù với chính quyền cộng sản Việt Nam và dân tộc Việt Nam. Gia đình ông và vòng đai thân thuộc của ông không hề bị chính quyền Việt Nam và người Việt Nam có hành vi nào gây thương tổn hay thiệt hại về vật chất cũng như tinh thần. 'Thành công lớn nhất' Xuất thân từ một gia đình quyền quý, thân phụ ông là Sam Sary, một chính trị gia lỗi lạc dưới thời cố quốc vương Norodom Sihanouk trong thập niên 1950. Sau khi thân phụ ông bị thất sủng và bị ám sát năm 1965, ông Sam Rainsy được gia đình đưa sang Pháp tị nạn, lúc đó mới 16 tuổi. Tại đây Sam Rainsy theo học những trường nổi tiếng như Lycée Janson de Sailly, sau đó là Sciences Po tại Paris và INSEAD (Intitut européen d’administration des affaires) tại Fontainebleau. Tốt nghiệp ngành tài chánh ngân hàng, Sam Rainsy được tuyển dụng vào làm việc trong những ngân hàng lớn của Pháp, như BNP Paribas. Cưới bà Tioulong Saumura, con gái cựu Thủ tướng Nhiek, là 'thành công lớn nhất' trong đời ông Sam Rainsy Thành công lớn nhất đời ông có lẽ là đã kết hôn với bà Tioulong Saumura (sinh năm 1950), ái nữ của ông Nhiek Tioulong, cựu chỉ huy trưởng lực lượng bảo vệ hoàng gia Campuchia thời vua Norodom Sihanouk, thủ tướng chính phủ năm 1962, đại sứ và nhiều lần làm bộ trưởng trong các chính quyền Campuchia trong suốt thập niên 1960. Bà Tioulong Saumura thông thạo các ngoại ngữ Pháp, Anh, Nhật và Nga vì đã theo học các truờng lớn tại các thủ đô Paris, Tokyo và Moskva, và tốt nghiệp các trường kinh tế tài chính lớn của Pháp như Institut d’Etudes Politiques de Parisnăm 1974, INSEAD de Fontainebleau năm 1980 và đã lần lượt nắm giữ những chức vụ lớn trong ngành ngân hàng và công ty bất động sản lớn của Pháp. Sam Rainsy đã thành hôn với Tioulong Saumura năm 1971 và sinh được ba người con, tất cả đều mang tên Pháp: Sam Patrice, Sam Muriel và Sam Rachel. Hai người có cùng một đam mê là chính trị, năm 1981 cả hai cùng gian nhập đảng FUNCINPEC do Norodom Sihanouk thành lập và con trai trưởng là Norodom Ranariddh điều hành. Sự thù ghét Việt Nam của Sam Rainsy có lẽ bắt nguồn từ sau khi ông quen biết với gia đình Norodom, nhất là với Norodom Ranariddh (sinh năm 1944) tại Pháp, giáo sư môn chính trị học tại Đại học Aix-en-Provence. Trong suốt thời gian trị vì, và có lẽ do bị thực dân Pháp cố tình nhồi nhét cho rằng chính Pháp đã cứu Campuchia ra khỏi họa thôn tính của Việt Nam hồi cuối thế kỷ 19, nên Norodom Sihanouk luôn luôn thù ghét Việt Nam và đã bằng mọi cách triệt hạ uy tín của các chế độ miền Nam Việt Nam trước năm 1975 và chính quyền cộng sản Việt Nam sau 1975. Chính sự thù ghét này đã làm nảy sinh nhiều phong trào "cáp duồn" (chặt đầu người Việt) và thả trôi sông trong những năm 1970 và 1979, buộc quân đội Việt Nam tiến vào Campuchia can thiệp. "Tại Pháp, Sam Rainsy tuy có nhiều bạn bè trong giới chính trị nhưng ít ai ủng hộ lập trường bài Việt của ông." Norodom đã lợi dụng sự can thiệp này để tố cáo Việt Nam xâm chiếm Campuchia và kêu gọi quốc tế lên án Việt Nam và bênh vực ông. Bất chấp những tội ác do Khmer Đỏ gây ra cho dân tộc Campuchia, Norodom Sihanouk và những phe phái Khmer khác đã cùng nhau hợp tác chống lại phe Hun Sen, thân Việt Nam. Cái bất bình thường của giới chính trị gia Khmer là ở chỗ đó, vì không có hậu thuẫn của quần chúng bình dân phe nào cũng dùng lá bài chống Việt Nam để tranh phiếu. Tại Pháp, Sam Rainsy tuy có nhiều bạn bè trong giới chính trị nhưng ít ai ủng hộ lập trường bài Việt của ông. Những dân biểu trong Đảng xã hội Pháp như ông François Brottes, dân biểu quốc hội tỉnh Isère, chỉ yêu cầu chính phủ Pháp cưu mang Sam Rainsy khỏi bị kết án tại Campuchia. Bài xích để tranh cử Cũng như những đối thủ tranh cử thất bại khác, Sam Rainsy đã dùng chiêu bài tố cáo Việt Nam xâm chiếm Campuchia và xua đuổi cộng đồng người Việt ra khỏi lãnh thổ để tranh cử. Người Khmer đã bỏ phiếu cho Sam Rainsy không phải vì chống Việt Nam mà vì những hứa hẹn về tự do dân chủ và đời sống sung túc, khác với hứa hẹn đảng cầm quyền do Hun Sen lãnh đạo là ổn định và phát triển.  Ông Sam Rainsy dùng lá bài Việt Nam để tranh thủ sự ủng hộ của dân chúng Năm 1993, sau khi đắc cử dân biểu quốc hội tỉnh Siem Reap với tư cách là thành viên đảng FUNCIPEC, Sam Rainsy được giao giữ chức vụ bộ trưởng tài chánh nhưng bị thất sủng năm 1994 và bị loại ra khỏi đảng FUNCINPEC. Không chấp nhận hợp tác với bất cứ đảng phái nào khác, năm 1998, Sam Rainsy lập ra một đảng mang tên mình, Đảng Sam Rainsy. Bắt đầu từ đây người ta thấy có cái gì không bình thường trong con người Sam Rainsy, hoặc là ông quá tự cao để không chấp nhận hợp tác với bất cứ một ai, hoặc ông quá tự kỷ vì chỉ thấy có mình là thông minh sáng suốt. Lý do sau cùng này có lẽ đúng vì nếu so sánh trình độ kiến thức và học vị của những cấp lãnh đạo trong chính quyền Campuchia hiện nay, không ai có nhiều bằng cấp cao như Sam Rainsy. Và chính đó cũng là một vấn đề đối với Sam Rainsy, ông không được quần chúng bình dân và nông dân ủng hộ, và thành phần dân tộc này chiếm 80% dân số Khmer. Sau nhiều lần thất bại trong các cuộc tranh cử, khẩu hiệu chống Việt Nam lần đầu tiên được Sam Rainsy sử dụng năm 2003, sau khi tố cáo đảng FUNCIPEC là tham nhũng và đảng Nhân dân Campuchia của Hun Sen là tay sai của Việt Nam. Số người dồn phiếu cho ứng cử viên Sam Rainsy tăng hẳn lên. Tuy nhiên sự bài xích người Việt trong các chương trình tranh cử cũng đã để lại nhiều dấu ấn trong sinh hoạt thường ngày của người Khmer. Chênh lệch mức sống Cũng nên biết, đời sống thường ngày của người Khmer đã được phục hồi là do chính người Việt mang đến chứ không phải người Thái Lan. "Nhiều người gốc Khmer đi bỏ phiếu đều tự nguyện làm quan sát viên để ngăn cản người Khmer gốc Việt có tên trong danh sách bỏ phiếu." Người Thái chỉ mang hàng hóa đến Campuchia để bán và mang tiền về nước, trong khi người Việt đến để phục hổi lại các ngành nông nghiệp, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, hành chánh, an ninh và xây dựng bị Khmer Đỏ hủy diệt khi cầm quyền. Với thời gian, những người Việt này đã gần như trở thành người Khmer và sinh sống như người Khmer, và có mức sống tương đối khá giả hơn những người Khmer ở thôn quê và các khu ngoại ô. Chính sự chênh lệch về mức sống này đã là đề tài tranh cử của các phe phái chính trị Khmer. Trong lần tranh cử quốc hội lần này, những khẩu hiện bài xích người Việt càng hung hãn hơn. Đảng Cứu nguy dân tộc Campuchia của ông tung ra một cương lĩnh tăng cường biện pháp siết chặt quản lý người nước ngoài nhập cảnh trái phép, đặc biệt là người Việt Nam, và được hưởng ứng mạnh. Nhiều người gốc Khmer đi bỏ phiếu đều tự nguyện làm quan sát viên để ngăn cản người Khmer gốc Việt có tên trong danh sách bỏ phiếu. Như để chuẩn bị cho những lần tranh cử sau đó, Sam Rainsy đang tìm cách lấy lòng Trung Quốc. Trả lời kênh truyền hình Phượng hoàng của Hong Kong ngày 29/7, Sam Rainsy nói rằng đảng Cứu nguy dân tộc Campuchia của ông sẽ xem Bắc Kinh là một đồng minh quan trọng...chúng tôi nghĩ là Trung Quốc có thể mang lại ảnh hưởng có tính cân bằng. Trung Quốc luôn luôn là đồng minh của Campuchia, giúp Campuchia bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mình". Ông Rainsy nói Khmer Đỏ chỉ tồn tại ba năm nhưng Campuchia và TQ sẽ hợp tác lâu dài Không những thế, Sam Rainsy cũng nói rất rõ rằng đảng Cứu nguy dân tộc Campuchia sẵn sàng ủng hộ Trung Quốc đối với tranh chấp trên Biển Đông: “Đảng của chúng tôi ủng hộ Trung Quốc trong việc bảo vệ toàn bộ lãnh thổ của các bạn. Tất cả mọi hòn đảo do Trung Quốc bảo vệ là lãnh thổ của Trung Quốc. Chúng tôi lên án bất cứ hành động xâm lược nào. Những hòn đảo ấy là của Trung Quốc và chỉ thuộc về Trung Quốc mà thôi”. Trong cơn men tranh cử, ông Sam Rainsy sẵn sàng tuyên bố bất cứ điều gì để tranh thủ cử tri Khmer, bất chấp những chủ trương hay tuyên bố đó có thể gây phương hại đến quan hệ hữu nghị với Việt Nam. Sam Rainsy cũng bất chấp ký ức đau thương của người dân Khmer khi nói rằng chế độ Khmer Đỏ chỉ tồn tại có ba năm, nhưng Campuchia và Trung Quốc sẽ tiếp tục hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau trong nhiều thế kỷ nữa. Nói chung, những khẩu hiệu bài xích Việt Nam của Sam Rainsy chỉ là những chiêu bài tranh cử, đó không phải là những suy nghĩ chính chắn của một người có trình độ học thức cao. Nguồn: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/
......

Viết tiếp câu chuyện về blogger Điếu Cày

Thông tin được những người bạn của tù nhân lương tâm Nguyễn Văn Hải tức blogger Điếu Cày đăng trên facebook, blog cá nhân theo lời kể của Nguyễn Trí Dũng, con trai Điếu Cày, đồng thời một vài báo, đài bên ngoài cũng đã nhanh chóng đưa tin: Chiều ngày 2 Tháng Tám, Nguyễn Trí Dũng đã được vào trại giam thăm bố vỏn vẹn vài phút. Điếu Cày cho biết đã ngưng tuyệt thực từ ngày 27 Tháng Bảy sau khi một cán bộ cấp cao của VKSND Nghệ An vào tận trại giam gặp mặt và chấp nhận giải quyết đơn khiếu nại của anh về việc trại giam bắt anh ký giấy nhận tội, khi anh không nhận thì ra lệnh biệt giam 3 tháng. Cuộc tuyệt thực sinh tử kéo dài hơn 1 tháng đã thành công và Điếu Cày gửi lời cảm ơn đến tất cả mọi người đã chia sẻ, ủng hộ anh và gia đình. Blogger Điếu Cày. (Hình: Người Việt) Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, người đã dũng cảm tìm cách báo tin Điếu Cày tuyệt thực ra ngoài, đã bị trại giam kỷ luật nhưng hôm nay cũng được cho gặp vợ. Cả tù nhân Nguyễn Kim Nhàn cũng vậy. Như thế là cả hai tù nhân kiên cường, bất khuất Nguyễn Văn Hải, Nguyễn Xuân Nghĩa đều còn sống. Đó là điều mọi người mong mỏi và vui mừng nhất. Như thế là cả hai tù nhân kiên cường, bất khuất Nguyễn Văn Hải, Nguyễn Xuân Nghĩa đều còn sống. Đó là điều mọi người mong mỏi và vui mừng nhất. Những thông tin ít ỏi ấy càng trở nên quý giá, kịp thời giữa hoàn cảnh những người tù bị cô lập, tình trạng sức khỏe của họ hoàn toàn bị bưng bít trong nhiều ngày qua. Và sự thật về những hình ảnh, video clip mà báo CAND, đài VTV đưa tin “Điếu Cày không tuyệt thực” cũng đã rõ ràng trước ánh sáng. Trước đó, từ nhà cầm quyền cho đến toàn bộ mạng lưới truyền thông báo, đài lề đảng đều hoàn toàn im lặng trước câu hỏi có hay không việc Điếu Cày tuyệt thực, nguyên nhân vì sao và tình trạng của anh thế nào. Một phần bởi vì sức khỏe của Điếu Cày vốn dĩ kém hơn tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ nhiều, sau hơn 5 năm tù đày trong điều kiện vô vùng khắc nghiệt. Và khác với Cù Huy Hà Vũ, cuộc tuyệt thực của anh chỉ được dư luận bên ngoài biết đến khi đã kéo dài sang ngày thứ 25. Lúc đó anh đã rất yếu, đi phải có người dìu hai bên, ngồi còn không nổi như con trai anh tường thuật lại khi được vào thăm bố ngày 20 Tháng Bảy. Chính vì vậy, báo đài của đảng không thể làm một video clip bôi nhọ anh vẫn “béo khỏe” như đã làm với tù nhân lương tâm Cù Huy Hà Vũ. Họ phải đợi đến ngày 29 Tháng Bảy khi anh đã ăn lại được vài ngày, tạm đi lại được để mà tung ra những bài báo như “Lật tẩy ‘chiêu tuyệt thực’ của Nguyễn Văn Hải” đăng trên báo CAND. Sau đó đến lượt đài Hà Nội, đài VTV đưa tin, hình ảnh tuyên bố Điếu Cày không tuyệt thực. Trong cái video clip đó họ cũng gán ghép rất nhiều điều không đúng với sự thật. Từ câu chuyện này, rất nhiều điều “thú vị” đã tự bộc lộ ra. Thứ nhất, điều kiện giam giữ tù nhân, đặc biệt tù nhân chính trị, hết sức tồi tệ trong các nhà tù lớn nhỏ ở Việt Nam là điều mà mọi người có thể đoán biết nhưng vẫn không sao hình dung hết được nếu không thật sự trải qua. Chỉ đôi khi những thông tin ít ỏi mới lọt ra bên ngoài. Gần đây, từ vụ nổi dậy của tù hình sự tại trại giam Z30 A Xuân Lộc, Đồng Nai vào Tháng Sáu cho đến những cuộc tuyệt thực của Cù Huy Hà Vũ, Điếu Cày, thanh niên Công Giáo Paul Trần Minh Nhật... phản đối cách hành xử tàn ác, nạn vi phạm pháp luật, vi phạm nhân quyền trầm trọng của các quản giáo, cán bộ trại đối với tù nhân, thì vấn đề này lại được xới lên. Thứ hai, cách hành xử, đối phó của nhà nước CSVN với dư luận trong và ngoài nước trước một sự kiện cụ thể, ví dụ như vụ Tiến Sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ hay blogger Điếu Cày tuyệt thực, đã cho thấy khuôn mặt thật về họ nhiều hơn mọi bản cáo trạng, mọi lời tố cáo mà người dân có thể nghĩ ra. Đối với người tù chính trị đã hoàn toàn nằm trong tay họ, đang phải chịu đựng những bản án nặng nề, phi lý phi nhân nhất, tưởng như đã quá đủ, nhưng họ vẫn tiếp tục hành hạ, trừng phạt người tù ấy trong trại giam và sách nhiễu thân nhân họ bên ngoài. Khi người tù không còn cách nào khác buộc phải đem chính sinh mạng của mình ra tuyệt thực đòi công lý, thì họ lại tìm mọi cách bưng bít thông tin, trây lì, né tránh dư luận... Cho đến khi không thể né tránh được nữa và người tù có nguy cơ mấp mé bên bờ vực cái chết, họ mới tạm lùi bước để người tù chấp nhận ăn uống trở lại. Đồng thời họ sử dụng mạng lưới truyền thông báo đảng để bôi nhọ, vu khống người tù, hòng gây hoang mang mất lòng tin cho mọi người bên ngoài. Để “bảo vệ” cái chân dung đã quá lem luốc của chế độ trước người dân và trước thế giới, nhà cầm quyền không từ một thủ đoạn, trò bẩn nào. Thật ra bản chất đảng và nhà nước Cộng Sản từ xưa đến nay vẫn vậy. Nhưng nếu trước đây, người miền Nam có lên tiếng về vô số thủ đoạn, sự dối trá mà đảng Cộng Sản đã tiến hành để lừa bịp thế giới, tạo tính chính danh và giành chiến thắng trong cuộc chiến hai miền bằng mọi giá, thì vẫn có những người thiên tả trên thế giới không tin. Và ít nhất, đa số dân miền Bắc lúc ấy không tin. Nhưng bây giờ, bản chất của chế độ ngày càng bộc lộ quá rõ. Cũng như khả năng bịa đặt, vu khống, dựng chuyện bất chấp sự thật, đạo lý và pháp luật của hệ thống báo, đài lề đảng qua những câu chuyện như thế này, sẽ giúp cho nhận thức của người dân trưởng thành hơn. Một người có suy nghĩ đều có thể tự đặt câu hỏi ai bịa đặt, ai bị lật tẩy qua những vụ việc này. Nếu Điếu Cày không tuyệt thực, tại sao bao nhiêu ngày trước đó trại giam cứ lẩn tránh câu hỏi của gia đình, tại sao không công khai cho gia đình, báo đài quốc tế vào tận trại giam xem xét, đưa tin. Đó là cách hành xử của bất cứ một nhà nước văn minh, chính danh nào khác. Khi bài báo về vụ Điếu Cày không tuyệt thực được đưa lên, gia đình bạn bè đến chất vấn thì cả tổng biên tập, cả tay nhà báo viết bài đều lẩn như chạch. Nếu quả thật có bằng chứng Điếu Cày không tuyệt thực, nếu viết đúng với lương tâm, với sự thật, việc gì họ phải lẩn tránh? Một điều rõ ràng là nhà cầm quyền Việt Nam vẫn biết sợ dư luận trong và ngoài nước. Bởi vì vị thế của Việt Nam trên thế giới quá yếu, cả về kinh tế, quân sự, quốc phòng, lại không có đồng minh thực sự hỗ trợ khi cần. Việt Nam không phải như Trung Cộng để có thể bất chấp dư luận, dùng sức mạnh kinh tế để mua chuộc nước nào có thể mua chuộc, dùng sức mạnh quân sự để hăm dọa, lấn lướt nước nào có thể lấn lướt. Mà ngay cả Trung Quốc cũng đang bị Mỹ và đồng minh bao vây, nói gì đến Việt Nam. Đối với người dân trong nước, Việt Nam cũng không được như Trung Quốc, đảng Cộng Sản Trung Quốc còn viện dẫn thành tựu về kinh tế trong mấy chục năm qua để mỵ dân. Trong khi đó, người dân Việt Nam ngày càng phẫn nộ đủ thứ chuyện, xã hội như một cánh đồng cỏ khô dưới ánh nắng mặt trời chỉ một mồi lửa nhỏ là bùng cháy. Họ biết như vậy và không dại gì đẩy tới mức đó cả. Trong cả hai cuộc đấu tranh tuyệt thực, Điếu Cày đều đã chiến thắng. Nhưng có lẽ gia đình, bạn bè, tất cả những ai quan tâm đến anh cũng đều không mong muốn anh lại phải một lần nữa đem chính sinh mạng của mình ra để đấu tranh. Nếu các quản giáo, cán bộ trại và nhà cầm quyền nói chung không vi phạm pháp luật, không chà đạp nhân quyền những người tù một cách trầm trọng thì tù nhân đâu phải dùng đến biện pháp cuối cùng này. Và đã chắc gì trong những năm tháng tù đày còn lại, họ sẽ thôi nhũng nhiễu anh và các tù nhân lương tâm khác? Đối với những người bên ngoài cũng qua vụ này học thêm được nhiều điều để khôn ngoan, chủ động hơn trong những cuộc đấu tranh đấu trí tiếp theo với nhà cầm quyền, và cho phong trào dân chủ nói chung. Sự kiên nhẫn của nhân dân đã đến giới hạn. Sự kiên nhẫn của thế giới dành cho nhà nước độc tài toàn trị Việt Nam cũng đã đến giới hạn. Điều này có lẽ trong chuyến công du đến Hoa Kỳ gặp Tổng Thống Obama mới đây, bản thân ông chủ tịch nước Trương Tấn Sang thấm thía hơn ai hết. Nếu chưa thể cải cách nhanh chóng như Myanmar, chí ít cũng nên dừng tay lại, bớt đi những hành xử tàn ác, đê tiện với chính người dân của mình, như cách hành xử qua những vụ Cù Huy Hà Vũ, Điếu Cày vừa rồi chẳng hạn. Nguồn: http://www.nguoi-viet.com
......

Suy ngẫm "Những Tách Cà Phê"

Một nhóm sinh viên cũ gặp lại và hẹn nhau cùng trở về trường đại học cũ để thăm một vị giáo sư ngày xưa. Họ là những người rất thành công và đang có những chức vụ, địa vị cao trong xã hội. Trong khi ngồi hàn huyên tâm sự với nhau, mọi người bắt đầu than phiền về những sự căng thẳng trong việc làm cũng như trong đời sống của mình. Vị giáo sư mời những học trò cũ của mình uống cà phê. Ông đi vào nhà trong và mang ra một bình cà phê lớn, cùng với những ly tách đủ loại: bằng sứ, bằng plastic, bằng thủy tinh, có những tách nhìn rất tầm thường và có những tách nhìn rất đắt tiền và sang trọng. Vị giáo sư mời những học trò cũ của mình tự rót lấy cà phê uống. Khi mỗi người đã có một ly cà phê trong tay, vị giáo sư nói: -    Nếu các anh chị để ý, những tách cà phê đẹp và đắt tiền được chọn lấy trước hết, chỉ còn lại những ly tách rẽ tiền và tầm thường. Đối với các anh chị việc ấy cũng thường thôi! Chúng ta ai mà lại chẳng muốn chọn cho mình những gì hay và đẹp nhất, nhưng đó cũng là nguyên nhân của sự căng thẳng và những khó khăn của các anh chị trong cuộc sống. -   Những gì anh chị muốn, thực sự là cà phê, chứ đâu phải là chiếc tách, nhưng các anh chị lại có ý đi lựa cho mình những chiếc tách đẹp nhất và thỉnh thoảng cũng nhìn sang người bên cạnh, xem họ có những chiếc tách nào. -   Cũng vậy, nếu cuộc sống là cà phê, thì những công việc, tiền bạc, địa vị trong xã hội là những chiếc tách. Chúng chỉ là những phương tiện để chứa đựng sự sống của mình, chứ phẩm chất của sự sống không hề khác biệt. -    Và nhiều khi chúng ta vì quá chú ý và tập trung vào những chiếc tách, mà lại quên thưởng thức hương vị cà phê thơm ngon trong ấy. -    Vì vậy cho nên các anh chị nhớ, đừng để những chiếc ly tách sai xử mình. Hãy thưởng thức hương vị cà phê thơm ngon của cuộc sống. Hạnh phúc không có nghĩa là mọi vấn đề chung quanh chúng ta phải được hoàn toàn.   Hạnh phúc có nghĩa là chúng ta biết nhìn xa hơn, vượt ra ngoài những sự bất toàn ấy !   SUY NGẪM: Con người nên  thay đổi sự suy nghĩ, sao cho thích hợp với hoàn cảnh và với những người chung quanh, khi vô phương thay đổi hoàn cảnh hay thay đổi những người chung quanh. Trong câu chuyện trên, cà phê là thứ sẽ thuộc về mình, ly tách là thứ phải để lại, thuộc về người.  Cho nên, bằng lòng thưởng thức, thích những gì mình có, hạnh phúc hơn là  : thích những gì mình không có, hay không thể có. Bloger Caroline Thanh Hương  
......

Lại cấm !

Cán bộ quản lí Nhà nước yếu kém và lười biếng, sợ việc, sợ trách nhiệm, quen lối quản lí bằng mệnh lệnh hành chính vừa dễ dàng, vừa nhàn nhã, lại phô trương được quyền uy vì thế cứ cái gì phức tạp, khó quản lí liền ra lệnh cấm đoán là xong . Nghị định 72/2013 qui định: Trang thông tin cá nhân trên mạng internet chỉ được đưa tin của chính mình, không được trích dẫn, tổng hợp tùy tiện thông tin từ các cơ quan báo chí là sản phẩm của cách quản lí đó! Đó là một mệnh lệnh hành chính vi Hiến, là sự cấm đoán tước đoạt quyền Con Người. Cấm.... cấm... cấm hết internet.. Nghị định 72/2013 được ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng kí ngày 15. 7. 2013 và ban hành ngày 31. 7. 2013. Các ông lãnh đạo bộ Thông tin – Truyền thông đề xuất và viết dự thảo Nghị định, ông Thủ tướng kí Nghị định 72/2013 đều là những ông Cộng sản bự, các ông có nhớ ông Mác, người khai sinh ra chủ nghĩa Cộng sản, khai sinh ra mô hình Nhà nước Cộng sản của các ông viết về Con Người như thế nào không? Ông Mác viết rất chí lí rằng: Con Người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Chỉ có con vật mới chỉ biết bản thân nó. Con Người là sinh vật xã hội. Phần sinh vật là phần di truyền do cha mẹ sinh ra. Phần xã hội do Con Người đó tự sinh ra mình bằng cách tiếp nhận nền văn hóa xã hội của loài Người để hình thành nên Con Người xã hội của mình. Con Người xã hội không thể tách ra khỏi xã hội. Con Người xã hội sống không thể chỉ cho riêng mình. Ngay từ thời xã hội Việt Nam còn trì trệ trong nền văn minh nông nghiệp cơ bắp: Trên đồng cạn, dưới đồng sâu / Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa, còn khép kín trong văn hóa làng xã: Phép vua thua lệ làng, con người xã hội đã được đề cao: Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách, nước nhà thịnh suy, mọi người Dân đều phải quan tâm, đều phải có trách nhiệm. Đi qua nền văn minh nông nghiệp, bước vào nền văn minh công nghiệp, Con Người xã hội không phải chỉ quan tâm lo toan đến những vấn đề của quốc gia, dân tộc mình mà còn phải bận tâm nghĩ suy, tham gia kiến giải những vấn đề của hành tinh, của loài người. Ngày nay loài người đã đi qua nền văn minh công nghiệp, bước vào nền văn minh tin học. Không phải chỉ rút ngắn mọi khoảng cách không gian, thời gian, nền văn minh tin học còn nâng Con Người xã hội lên vị trí rất cao. Với văn minh tin học, mọi người Dân bình thường đều tiếp cận được với những vấn đề đang đặt ra của đất nước mình và của thế giới. Văn minh công nghiệp đã thỏa mãn được những nhu cầu rất cao của Con Người sinh vật. Văn minh tin học lại đáp ứng những nhu cầu ngày càng cao của Con Người xã hội, nâng cao vị trí của Con Người xã hội, mở rộng những vấn đề quan tâm, lo toan của Con Người xã hội. Thế mà giữa thời văn minh tin học ở một Nhà nước vẫn tự nhận là đỉnh cao trí tuệ lại có nghị định buộc trang thông tin cá nhân trên mạng toàn cầu chỉ được đưa tin về chính mình, không được trích dẫn, tổng hợp thông tin từ các cơ quan báo chí! Cấm người Dân không được trích dẫn tổng hợp thông tin từ các cơ quan báo chí thực chất là cấm người Dân bàn luận, kiến giải những vấn đề các cơ quan báo chí đã thông tin. Những trang facebook, blog, website dù của cá nhân nhưng không phải chỉ là những trang nhật kí cá nhân, chỉ chứa đựng thông tin cá nhân. Nếu chỉ là trang nhật kí, thông tin cá nhân thì chả cần dùng internet, chẳng cần phải lên mạng toàn cầu. Facebook, blog, website là công cụ không thể thiếu của Con Người xã hội thời văn minh tin học để Con Người xã hội được bộc lộ chính kiến về những vấn đề xã hội, để Con Người xã hội của những người Dân bình thường được thể hiện mình, được tham gia bàn bạc, kiến giải những vấn đề xã hội của đất nước, của loài người. Facebook, blog, website cho người Dân được sử dụng tốt nhất quyền tự do ngôn luận đóng góp cho xã hội. Nghị định 72/2013 buộc những trang thông tin cá nhân trên mạng internet chỉ được đưa tin cá nhân, không được trích dẫn, tổng hợp lại thông tin trên báo chí đã vi phạm điều 69 Hiến pháp hiện hành: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Nghị định 72/2013 đã chống lại một tư tưởng Nhân văn hiếm hoi của chính Nhà nước Cộng sản Việt Nam, tư tưởng Dân biết, Dân bàn, Dân làm, Dân kiểm tra. Nếu không chống lại thì nghị định 72/2013 đã vạch trần sự giả dối, nói một đằng làm một nẻo của Nhà nước Cộng sản Việt Nam khi những quan chức lãnh đạo Nhà nước Cộng sản Việt Nam miệng leo lẻo nói Dân biết, Dân bàn, Dân làm, Dân kiểm tra nhưng tay lại ném vào mặt Dân nghị định 72/2013 cấm Dân không được bàn luận những vấn đề xã hội  trên những trang thông tin cá nhân mạng internet. Nghị định 72/2013 cũng tước đoạt một quyền cơ bản trong những quyền đương nhiên của Con Người, quyền: “Mọi Người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm. Quyền này bao gồm sự tự do quan điểm mà không bị xen vào quấy rầy và được tự do tìm kiếm, thu nhận và quảng bá tin tức và tư tưởng qua mọi phương tiện truyền thông bất kể biên giới.” (Tuyên ngôn quốc tế Nhân Quyền được Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua từ năm 1948 và Nhà nước Việt Nam kí kết thực hiện từ năm 1982) Nghị định 72/2013 buộc các trang mạng xã hội của cá nhân chỉ được đưa thông tin cá nhân, không được trích dẫn, tổng hợp thông tin của các cơ quan báo chí đã thô thiển, thấp hèn hóa Con Người, là một nghị định lạc lõng với thời đại. Những trí thức thực sự có tầm hiểu biết sâu rộng, đương nhiên trang mạng cá nhân của họ không thể thiếu những bài viết về những vấn đề xã hội với những phát hiện sâu sắc ở góc nhìn văn hóa. Những bài viết đó vô cùng có ích cho xã hội, càng có ích cho nhà quản lí xã hội. Cấm trang mạng cá nhân của trí thức không được bàn những vấn đề xã hội, chỉ được đưa thông tin cá nhân, nghị dịnh 72/2013 là một nghị định ngu Dân. Một nghị định Nhà nước thời tin học mà cấm trang thông tin cá nhân trên mạng internet không được đưa thông tin xã hội, chỉ được đưa thông tin về chính mình thì Con Người xã hội của người soạn thảo nghị định nhỏ bé đến mức như không có. Không có Con Người xã hội, chỉ có Con Người sinh vật, Con Người đó lại ở vị trí quản lí Nhà nước là thảm họa cho người Dân, là điều xỉ nhục cho một đất nước văn hiến. Nghị định 72/2013 là sự hốt hoảng của một Nhà nước độc tài trước sự lớn mạnh nhanh chóng, mạnh mẽ của những trang cá nhân nói tiếng nói thẳng thắn, trung thực của người Dân về những vấn đề xã hội hàng ngày và những vấn đề khẩn thiết của đất nước. Thẳng thắn, trung thực, những tiếng nói đó không thể đồng thuận, nương nhẹ với những chủ trương, chính sách và việc làm của một Nhà nước tham nhũng đang đi ngược lại lợi ích của người Dân Với một Nhà nước dân chủ, người Dân tham gia luận bàn, kiến giải những vấn đề xã hội được thông tin trên báo chí là điều quá bình thường, lành mạnh. Càng có nhiều ý kiến phản hồi ngược chiều về những vấn đề xã hội của người Dân, Nhà nước càng mở rộng tầm nhìn, càng có thêm nhiều góc nhìn và điểm sáng tư duy, càng năng động kịp thời điều chỉnh những hoạt động của Nhà nước phù hợp với cuộc sống và lòng Dân. Với Nhà nước độc tài, quen độc quyền chân lí, độc quyền lẽ phải, coi mọi ý kiến khác biệt đều là “thế lực thù địch” và khi “thế lực thù địch” xuất hiện đông đảo, mạnh mẽ trên các trang mạng cá nhân thì hốt hoảng đến rối trí vội ban hành nghị định 72/2013: Cấm! Cấm! Cấm! Tôi mong cơn hốt hoảng mau qua đi, những người soạn thảo nghị định 72/2013 bình tĩnh, tỉnh táo, khôn ngoan trở lại mà ngôn ngữ dân gian nói là “khôn hồn” thì chỉnh sửa lại ngay ghị định 72/2013, bãi bỏ ngay nội dung tước đoạt quyền Con Người, thấp hèn hóa Con Người và ngu Dân khi qui định, trang mạng xã hội của cá nhân chỉ được đưa thông tin cá nhân, không được trích dẫn, tổng hợp thông tin trên các cơ quan báo chí. P.Đ.T. nguồn: http://www.basam.info
......

Thời đại truyền thông “một mình một chợ” của Cộng Sản Việt Nam đã hết!

Trong tháng 7/2013, việc ra đời công khai Mạng Lưới BloggerViệt Nam (MLBGVN) có thể xem như là một cột mốc kế tiếp đánh dấu sự thay đổi về chất cho những người đấu tranh cho tự do ngôn luận, cho một nước Việt Nam tốt đẹp hơn trong thời đại toàn cầu hóa, phổ cập Internet. Dĩ nhiên để có thành quả ngày hôm nay đã có những mất mát của những con người ở các thế hệ, thời điểm khác nhau phải chịu đày đọa, tù tội khi nói/viết lên công khai chính kiến của mình. Tôi rất tự hào được ký tên trong bản tuyên bố của MLBGVN nhưng cũng tự thấy mình còn có những khiếm khuyết nhất định. Thành thực mà nói chuyện viết lách không phải là sở trường và cũng không phải là nhu cầu chính khi tôi quan tâm đến các vấn đề xã hội, chính trị. Mong ước thầm kín của tôi đó là sớm dứt điểm ra khỏi Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) và đầu quân cho một chính đảng theo đường hướng của các lãnh tụ Quốc Gia tiền bối. Đó là một nhu cầu chính đáng và tự nhiên của những người có ước vọng tham gia hoạt động chính trị. Tôi nhận thấy MLBGVN còn phôi thai cần phải được sự hưởng ứng của những nhà báo giàu kinh nghiệm, những người có chuyên môn trong giới truyền thông/truyền hình, các nhà văn/nhà thơ khả kính…Từ đây cho ra đời những tạp chí định kỳ theo tuần/tháng/quí, chuyên đề nhằm phổ biến rộng rãi cho người đọc trong và ngoài nước. Có những giải thưởng định kỳ thi đua nhằm thúc đẩy người viết hoàn thiện hơn, đi sâu sát hơn vào các vấn đề xã hội và bao quát hơn các vấn đề lớn của đất nước. Bằng không dù danh sách ký tên MLBGVN có đông đến mấy chỉ gây ồn ào một thời gian vì mục đích ký tên cho có hay ủng hộ tinh thần cho nhau là chính. Tôi hi vọng sự ra đời của MLBGVN là một tiền đề gây được sự chú ý của liên hiệp quốc, các nước trên thế giới và quan trọng nhất là được sự ủng hộ đông đảo người đọc trong nước. Từ đó theo đà tiến lan tỏa cảm hứng ra đời các nhà xuất bản/tờ báo, các tổ chức văn hóa/nghệ thuật, các hiệp hội hoạt động có tính chất xã hội độc lập. Tôi cho rằng vì là Mạng Lưới cho nên tự thân mỗi cá nhân, nhóm nhỏ khi kết nối vào MLBGVN sẽ có tính chất như những Nút Mạng độc lập. Nếu chúng ta muốn người ta biết đến sự đóng góp của mỗi cá nhân thì từng Nút Mạng phải gia tăng nỗ lực hoạt động, viết lách có hiệu quả thiết thực. Mỗi khi một ai đó (kể cả tôi) vì lý do nào đó dừng cuộc chơi, đi ngược lại tiêu chí chung cũng không làm ảnh hưởng đến sự phát triển, vận hành của MLBGVN. Thậm chí ngay các những blogger “phò Đảng”, Dư Luận Viên cũng phải được xem như những Nút Mạng của MLBGVN (nếu kết nối). Nếu đâu đó còn e ngại MLBGVN chưa tuân thủ luật pháp của nước Việt Nam? Xin thưa: nói cho đúng luật pháp hiện hành là luật pháp mang danh nghĩa nước CHXHCNVN; là luật pháp do ĐCSVN độc quyền chấp bút và thao túng. Luật pháp này không thể hiện ý chí, khát vọng của đông đảo tầng lớp nhân dân trong tình hình hiện nay. Quốc Hội này, Chính Phủ này, Tòa Án này, Quân Đội này là “của Đảng, do Đảng và vì Đảng” Vài lời mạo muội đóng góp xin gửi tới MLBGVN và các blog/web thông tin để rộng đường dư luận. (*) Ghi chú : bài viết thể hiện chính kiến của cá nhân với việc ra đời của MLBGVN nguồn:http://donghailongvuong.wordpress.com/2013/08/01
......

TRAO TUYÊN BỐ 258 ĐẾN LHQ TẠI BANGKOK: CHÚNG TÔI KHÔNG ĐÙA ĐÂU.

Ngày 24/7/2013 một số blogger đã có cuộc gặp với Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội để trao bản Tuyên bố của mạng lưới blogger Việt Nam, gọi tắt là Tuyên bố 258.   Hôm nay, 31.07.2013 blogger Nguyễn Lân Thắng đã đến văn phòng Cao Uỷ Nhân Quyền Liên Hợp Quốc tại Thái Lan để trao tận tay Tuyên bố 258 cho đại diện Cao Uỷ. Xin thông báo với Bộ Công an: Chúng tôi không đùa đâu. Các vị hãy biết rằng bây giờ đã qua rồi cái thời chính quyền có thể đóng chặt cửa lại để hành hạ, đàn áp người dân thế nào tuỳ ý. Bây giờ không còn là thời Cải cách ruộng đất, Nhân văn Giai phẩm, Xét lại, cải tạo tư sản, v.v.   Những gì các blogger Việt Nam đã nói, đã làm, cho đến nay có thể “chẳng thay đổi được gì”, cũng như cộng đồng quốc tế không thể làm gì để buộc các vị phải hành xử văn minh hơn. Nhưng chắc chắn, các vị sẽ không cảm thấy dễ chịu khi những việc mình làm bị bóc trần ra ánh sáng, đúng không? To the Vietnamese Ministry of Public Security: WE ARE NOT KIDDING AT ALL. Just you know that gone is the time when the Vietamese government can feel free to suppress its citizens in a closed country. Gone is the time of Land Reform, Humanities-Literary Works, Anti-revisionism, bourgeois eradication, etc. What the Vietnamese political bloggers have said and done so far may “not change anything” yet, just as the international community may fail to pressure you into behaving in a civilized way. However, you won’t be able to feel comfortable when your wrongdoings are exposed to light, will you? Nguồn: FB Đoan Trang
......

Lật tẩy hay bị lật tẩy?

Bài báo có tựa “Lật tẩy chiêu tuyệt thực của Nguyễn Văn Hải” do nhà báo Vũ Đại Phong viết và đăng trên tờ Công An Nhân Dân Hà Nội đang phải đối mặt với rất nhiều câu hỏi, trong đó tấm hình đi kèm được chú thích chụp blogger Điếu Cày rất khỏe mạnh trong nhà giam bị cho là đã qua chỉnh sửa và điều này đã đi ngược lại với tiêu chuẩn đạo đức báo chí. Mặc Lâm tìm hiểu sự việc qua phân tích của chuyên gia IT về vấn đề này.   Biểu tình trước cổng trại giam Thanh Chương- Nghệ An đòi trả tự do cho Điếu Cày- Nguyễn Văn Hải hôm 23/7/2013. Photo courtesy of blog badamxoe Bài báo có tựa “Lật tẩy chiêu tuyệt thực của Nguyễn Văn Hải” do nhà báo Vũ Đại Phong viết và đăng trên tờ Công An Nhân Dân Hà Nội đang phải đối mặt với rất nhiều câu hỏi, trong đó tấm hình đi kèm được chú thích chụp blogger Điếu Cày rất khỏe mạnh trong nhà giam bị cho là đã qua chỉnh sửa và điều này đã đi ngược lại với tiêu chuẩn đạo đức báo chí. Mặc Lâm tìm hiểu sự việc qua phân tích của chuyên gia IT về vấn đề này.   Trong thời đại computer đã phát triển vượt bậc như hiện nay, một tấm hình được xem là “hot” nếu xuất hiện trên mặt báo và có khả năng thay đổi nội dung một câu chuyện hay chứng minh đuợc sự thật mà công chúng đang tranh cãi thì tấm hình ấy chắc chắn sẽ đuợc săm soi rất kỹ để tìm hiểu nó chụp vào thời gian nào, trước hay sau sự việc diễn ra và quan trọng nhất tấm hình ấy có được chỉnh sửa bằng kỹ thuật Photoshop hay không.   Tờ báo Dân Trí của Việt Nam đã từng mang tiếng chỉnh sửa hình ảnh trong vụ Trần Khải Thanh Thủy với mục đích tăng thêm tội trạng cho bà và bẻ hướng câu chuyện theo ý đồ của phóng viên nếu không muốn nói kể cả của cơ quan công quyền. Sự việc gần đây nhất là tấm ảnh của phóng viên Vũ Đại Phong của báo Công an Nhân dân Hà Nội khi mang hình ảnh của Blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải vào bài viết của mình để chứng minh người tù này vẫn mạnh khỏe và không phải là đang tuyệt thực như dư luận đang tố giác sự vô tâm của nhà giam Tổng cục 8.   Tấm hình nhanh chóng bị tố cáo là chỉnh sửa, lắp ghép một cách vụng về và từ đó làm động cơ cho gia đình người blogger nổi tiếng này cùng với bạn hữu tới thẳng tòa soạn báo Công an Nhân Dân đòi làm sáng tỏ vào sáng ngày 31 tháng Bảy vừa qua.   Bà Dương Thị Tân vợ cũ của blogger Điếu Cầy cho biết sự việc xảy ra khi đến tòa soạn báo Công an Nhân Dân:   Cũng như mọi khi giống như là từ lúc mẹ con tôi đi Nghệ An đến nay tất cả mọi nơi đều lẩn tránh, đều có chung luận điệu là không có người giải quyết công việc của gia đình tôi, hoặc thế này hoặc thế kia nhưng nói chung là lẩn tránh, thậm chí họ còn đóng cửa không có một người nào để chúng tôi có thể hỏi. Người ta cũng chỉ trả lời một cách rất đơn giản là sếp của họ đi vắng và người phóng viên viết bài đó cũng đi công tác xa tại Tây nguyên. Chúng tôi không chấp nhận cách trả lời như vậy và chúng tôi yêu cầu gặp người chịu trách nhiệm xuất bản bài báo đó.   Không chấp nhận chuyện đó nên anh em bạn hữu chúng tôi đi ra ngoài cửa của tòa soạn đó và căng băng rôn để phản đối những việc làm của báo Công an Nhân dân đã có hành vi xuyên tạc, vu khống bôi nhọ thân nhân tôi cũng như những bằng hữu của chúng khi bài báo cho là một nhóm người chuyên tụ tập kích động gây rối các thứ trong bài báo đó.   "Người ta cũng chỉ trả lời một cách rất đơn giản là sếp của họ đi vắng và người phóng viên viết bài đó cũng đi công tác xa tại Tây nguyên. Chúng tôi không chấp nhận cách trả lời như vậy... - Bà Dương Thị Tân"   Trong kỹ thuật computer graphic design, việc chỉnh sửa hình ảnh trông đẹp và thực hơn nhờ vào các tính năng cắt ráp rất thành công của phần mềm Photoshop. Người xem dễ dàng chấp nhận một tấm ảnh sau khi qua chỉnh sửa trở nên hoàn toàn khác với tấm ảnh nguyên mẫu mà chính người trong ảnh cũng bất ngờ nếu không được huấn luyện chuyên môn.   Tuy nhiên có một sự thật là cho dù tay nghề của người sử dụng phần mềm Photoshop chuyên nghiệp cách nào cũng không thể giấu được các công đoạn mà phầm mềm này thực hiện. Dưới sự phân tích của một chuyên gia, để phát hiện một bức ảnh cắt dán thì  tấm ảnh sẽ đuợc phóng to để lộ ra vết cắt chung quanh của chủ thể muốn cắt. Mặc dù chủ thể đã được làm mờ đi nhưng vẫn để lại những khác biệt của các Pixels hiện ra trong vùng bị cắt. Những chấm nhỏ li ti được gọi là Pixels này là các phân tử tạo nên hình ảnh trong Photoshop và do đó chúng có cùng cấu tạo từ màu sắc, ánh sáng trên từng vùng nhất định cho nên khi bị cắt dán, những khác biệt của các Pixels sẽ lộ ra vì không một bức ảnh nào lại có thể trùng khớp với một bức ảnh khác ở độ sáng cũng như màu sắc.   Hai nữa, cấu tạo hình ảnh của Photoshop trên màn hình computer căn bản trên ba channel khác nhau. Ba channel đỏ, lá cây và xanh (Red, Green, Blue) khi nằm chồng lên nhau sẽ tạo ra hình ảnh thật nhưng khi tách rời chúng từng phần một sẽ hiện lên sự lắp ghép cắt dán ấy rất rõ ràng vì mỗi màu đều nằm riêng ra trên channel của màu ấy.   Kỹ thuật thứ ba để phát hiện các công đoạn chỉnh sửa là Histogram trong chuơng trình của Photoshop. Histogram sẽ ghi nhận mọi hoạt động chỉnh sửa màu sắc, khẩu độ ánh sáng trên một chủ thể và từ Histogram người ta dễ dàng nhận ra bức ảnh được sửa khi nào và vùng nào bị sửa.   Lắp ghép vụng về   Tấm hình trên báo cand online với lời chú thích: Nguyễn Văn Hải trong buổi khám sức khỏe định kỳ (ngày 26/7) và nhận khẩu phần ăn từ cán bộ trại (ngày 28/7). Photo courtesy of cand online   Nhận xét tấm hình đang gây ồn ào của bài viết mang tên “Lật tẩy chiêu tuyệt thực của Nguyễn Văn Hải” do nhà báo Vũ Đại Phong sáng tác, chuyên gia IT về hình ảnh và an ninh mạng Hoàng Ngọc Diêu cho biết: Tôi nhìn qua thì tôi thấy có hai điểm rất rõ ràng và hiển nhiên. Thứ nhất là cái vai của anh Điếu Cày trên hình nền nó bị mờ đi vì ai đó đã cố tình làm mờ đi để tiệp với hình nền nhưng vì họ làm rất vụng về cho nên khi mình chuyển qua một channel thì mình thấy nó hiện ra rất rõ. Thứ hai là cái Histogram trên mặt và trên ngực của anh Điếu Cày nó khác nhau rất nhiều. Nếu tấm hình đựơc chụp cùng một ánh sáng cùng một góc độ thì không có thể nào cái skin tone, cái màu da ở trên trán và trên ngực lại khác biệt nhau đến như vậy. Đây là điểm mà tôi tìm ra ngay lập tức không cần phải phân tích gì nhiều.   Khi được nhắc tới chi tiết cánh tay trong tấm hình bị cắt một cách vụng về và tác giả của nó lắp ghép với sự thiếu sự hiểu biết về cơ thể học cũng như luật phối cảnh của hội họa, chuyên gia Hoàng Ngọc Diêu cho biết:   Đó cũng là một chi tiết rất thú vị vì nói một cách khoa học thì khi đưa tay ra nắm thì ngón cái phải xòe ra để giữ cái ca chứ không thể ào nó cụp lại như trong tấm hình này. Nhìn cái hình thì rõ ràng mình thấy ngón tay cái nó bị cụt mất. Đây là do người cắt ghép tấm hình khá vụng về nên cắt nó bị biến mất một miếng nên không còn thấy nguyên vẹn ngón tay cái nữa. Còn chi tiết cánh tay của người nào đó đưa vào tấm hình nhìn rất kỳ quái, nó không phải là màu da bình thường nó giống như bị over expose, được cắt ở đâu đó rồi dán vô nên không phù hợp với ánh sáng, màu sắc của hình nền.   Sự bức xúc của dư luận và gia đình blogger Điếu Cày trước bài báo của nhà báo Vũ Đại Phong cũng như sự im lặng của Tổng biên tập tờ báo Công an Nhân dân Hà Nội cần được làm rõ, có như thế nền báo chí cách mạng mới khả dĩ có thể thuyết phục người đọc trong tình hình ngành công an đang tự đánh mất niềm tin một cách trầm trọng như hiện nay.   Nguồn: rfa.com
......

Chính khách, quan chức Việt cần phải thay đổi não trạng

Ai cũng biết, quan chức VN từ cấp thấp nhất cho đến cấp lãnh đạo cao nhất đều không do dân thực sự bầu ra, cũng không qua những vòng tuyển chọn, thử thách công khai, minh bạch mà do rất nhiều con đường “khó hiểu” khác nhau: do lý lịch, thân thế, con em cháu cha, do quan hệ thân quen, do chạy tiền mua chức mua quan, thậm chí chỉ là do sống lâu lên lão làng v.v… Chính vì vậy, hiếm khi có những nhân vật có kiến thức thật sự, có tài, có lòng với đất nước, với nhân dân. Phần lớn trong số họ hoặc là những con sâu tham nhũng, chuyên đục khoét của cải của đất nước, nhân dân, những kẻ chỉ biết nhăm nhăm nghĩ cách nào để vơ vét cho đầy túi tham, hoặc là những kẻ cơ hội, đội trên đạp dưới, gió chiều nào xoay chiều ấy, hoặc bất tài, ăn hại, hoặc tư cách tồi tệ, ăn chơi phung phí, hoặc quan liêu, vô cảm trước nỗi khổ của nhân dân… Bức chân dung đen của đa số quan chức, nhân vật lãnh đạo ở VN thật phong phú, đa dạng. Nhưng nhìn chung, họ đều có những đặc điểm: dốt nát, vô cảm, và rất thiếu lòng tự trọng. Dốt nát cho nên cứ mỗi lần họ mở miệng ra là người dân lại choáng, sửng sốt, phẫn nộ hoặc không thể nào nhịn được cười. Và ngay lập tức những giai thoại châm biếm, khôi hài đen về câu nói của một vị quan chức nào đó lại lan truyền rất nhanh trong dân chúng. Không thể nào kể hết những câu nói thuộc loại “đỉnh cao trí tuệ” của quan chức Việt. Cứ thử nhìn lại từ các nhân vật trong Bộ Chính trị, các Bộ trưởng, Thứ trưởng…trở xuống, có được mấy khuôn mặt là không từng ít nhất vài lần trong nhiệm kỳ của mình, đã phát biểu một câu cực kỳ dốt nát nào đó? Có thể có người bênh vực sẽ bảo rằng đó là vì chính khách ở VN không được đào tạo một cách bài bản nên vụng về đường ăn nói. Còn chính khách ở nước khác, nhất là ở các nước dân chủ phát triển, một khi muốn bước vào con đường chính trị thì phải học hành đàng hoàng. Không chỉ học để có kiến thức rộng, chuyên môn vững chắc, tầm nhìn xa, tư duy nhạy bén, mà còn phải học làm chính khách. Từ học ăn học nói-nói với nhân dân, nói trước đám đông, tranh cãi hùng biện với các đối thủ, trả lời phỏng vấn của phóng viên báo chí, nói năng khi đi ra bên ngoài tiếp xúc với những nhân vật quan trọng, nguyên thủ quốc gia các nước …Cho đến cách hành xử với tất cả mọi đối tượng trong mọi hoàn cảnh khác nhau. Đây đúng là một điểm yếu của chính khách, quan chức Việt. Nhưng vấn đề là họ không chỉ dốt nát về kiến thức, chuyên môn hoặc vụng về trong đường ăn nói, thiếu kinh nghiệm ứng xử…Cái chính là họ rất liều, nói lấy được, nhiều lúc rất tự tin, hùng hồn là khác, mà dân ta vẫn quen gọi là “chém gió”, họ nói bất kể người nghe có tin hay không… Chẳng hạn, tình hình nhân quyền ở VN tồi tệ ra sao, VN có tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị hay không, người dân trong nước cũng như thế giới quá rõ. Thế nhưng, các quan vẫn cứ cãi chày cãi cối rằng ở VN dân chủ gấp vạn lần các nước tư bản, ở VN không có tù nhân chính trị mà chỉ có những kẻ vi phạm pháp luật, người dân đi biểu tình phản đối TQ xâm lược hay Việt kiều đi biểu tình phản đối nhà cầm quyền VN “hèn với giặc ác với dân” thì họ phản bác rằng đi biểu tình vì bị các thế lực thù địch xúi giục, vì hận thù cá nhân, và vì được cho tiền… Trong từng lĩnh vực cũng thế, những người chịu trách nhiệm cao nhất cứ thế mà phát biểu bất chấp thực tế, đúng sai. Trong ngành Y, 2 năm gần đây bao nhiêu trẻ em chết vì tiêm vaccine nhưng các vị trong Bộ Y tế vẫn tuyên bố vaccine loại này an toàn, cứ tiếp tục tiêm. Thực phẩm bẩn nhưng vẫn trong ngưỡng an toàn, bà con cứ việc ăn. Hàng ngàn điểm 0 trong một kỳ thi đại học là chuyện bình thường. Nợ xấu cũng trong ngưỡng an toàn, không lo. Đánh thuế nhiều, vô lý, dân kêu thì lại bảo đóng thuế là yêu nước, lạm phát cao nhưng không ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân, giá vàng trong nước cao hơn hẳn nước ngoài là có lợi cho dân. Rồi tình hình biển Đông vẫn chưa có gì mới, nào biển của ta, ta cứ đánh bắt, mặc cho ngư dân thường xuyên bị tàu TQ rượt đuổi, bắn phá, đánh đập, cướp sạch từ hải sản, ngư cụ, xăng dầu…mà không ai bảo vệ v.v… Họ cũng bất chấp hậu quả, cứ nói, cứ hứa…Bởi vì chỉ có trong một cơ chế chính trị như ở VN thì quan chức dù nói sai nói bậy, nói liều, hứa mà không làm…cũng chẳng sao, chả ai bị cách chức, hay bị kỷ luật gì. Cứ xem ngay ông Thủ tướng khi mới nhậm chức từng hứa nếu không trừ được tham nhũng sẽ từ chức, bây giờ sau hơn một nhiệm kỳ của ông, nạn tham nhũng càng phát triển tràn lan với mức độ thiệt hại kinh khủng cho đất nước nhưng ông Thủ tướng thì đã quên béng lời hứa và vẫn điềm nhiên tại vị. Chính khách, quan chức Việt cũng hầu như không bao giờ thừa nhận mình sai, không bao giờ nhận lỗi, càng rất hiếm khi có được một lời xin lỗi. Khi bị dư luận “bắt giò” sự dốt nát hay cái sai sót, phản ứng đầu tiên là họ bảo vệ cái sai của mình đến cùng dù càng nói thì càng sai, hoặc ngụy biện, chống chế đủ kiểu. Cùng lắm không thể nói càn được nữa thì họ đánh bài lờ, hoặc có nhận lỗi nhưng quấy quá cho xong và sau đó, tình hình vẫn không có gì cải thiện. Một cái bệnh rất nặng khác của quan chức Việt là bệnh quan liêu, vô cảm, xa rời nhân dân, xa rời thực tế. Mười mấy ngàn người chết vì tai nạn giao thông hàng năm hay 27,000 trẻ em sơ sinh chết hàng năm vì những nguyên nhân khác nhau, hàng trăm ca bệnh tử vong vì nạn dịch tay chân miệng, hay hai chục trẻ sơ sinh chết vì tiêm vaccine không làm cho những tư lệnh đầu ngành là ông Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải hay bà Bộ trưởng Bộ Y tế mảy may động lòng, dù miệng họ có tỏ ra đau xót bằng lời nhưng vẫn không có một hành động nào để thay đổi hiện trạng. Nhìn rộng hơn, sự lạc hậu của đất nước so với các nước láng giềng sau mấy mươi năm, nỗi khổ của nhân dân không làm cho những người lãnh đạo cao nhất trăn trở để biết đặt quyền lợi của đất nước, dân tộc lên trên hết, tìm một con đường, một lối thoát cho nước cho dân mà cũng là cho chính mình. Chính khách, quan chức Việt cũng là những người rất thiếu liêm sỉ, lòng tự trọng. Dù bất tài, dù làm sai, gây ra bao nhiêu thiệt hại nghiêm trọng nhưng họ không bị cách chức, càng kiên quyết không từ chức. Nhìn sang TQ, một quốc gia có mô hình thế chế chính trị rất giống với VN do hai đảng cộng sản “anh em” lãnh đạo, quan chức ở quốc gia này cũng tham nhũng, bất tài, sa đọa, tha hóa, nhưng ít ra nhà cầm quyền TQ cũng xử lý mạnh tay. Có khá nhiều quan tham, dâm quan TQ phải rớt chức, vào tù, thậm chí bị tử hình. Nhưng ở VN rất hiếm quan chức bị xử lý nặng về tội tham nhũng, hối lộ, lạm dụng quyền lực, tử hình lại càng không. Giả sử bây giờ các chính khách, quan chức ở VN có được đào tạo bài bản để làm quan, biết cách ăn nói, ứng xử lấy lòng dư luận, nhưng nếu họ không thành tâm, trung thực, hết lòng với dân với nước, thì mọi lời nói, hành vi giả dối bề ngoài cũng chẳng đánh lừa được ai mãi. Điều đầu tiên, họ phải thay đổi não trạng. Với những người lãnh đạo đảng và nhà nước, phải thay đổi lối suy nghĩ tự cho chỉ có đảng và nhà nước, nói chính xác chỉ có 16 vị trong Bộ Chính trị, là được quyền quyết định mọi chuyện có liên quan đến vận mệnh đất nước, còn 90 triệu người dân không có quyền được biết, được bàn, được giám sát, phản đối. Phải thay đổi lối nghĩ luôn luôn đặt quyền lợi của đảng, của chế độ và bản thân lên trên quyền lợi của đất nước, dân tộc, cái quyết tâm chỉ bảo vệ đảng, bảo vệ chế độ đến cùng bất chấp sự tồn vong của đất nước, nỗi khốn cùng của nhân dân. Với đa số quan chức, là thay đổi cái quan niệm tự cho mình là quan thì có quyền muốn nói gì thì nói, làm gì thì làm, coi dân như con, không những thế như cỏ rác, trong khi ngược lại, quan chức ở các nước dân chủ đều hiểu rất rõ rằng quan là do dân bầu ra, dân nuôi bằng đồng thuế mồ hôi nước mắt của mình để đại diện cho dân mà làm việc và nếu không làm việc được thì dân có quyền yêu cầu cách chức, từ chức. Hay quan điểm làm quan là để vinh thân phì gia, một người làm quan cả họ được nhờ, làm quan thì phải trung thành với đảng, với thể chế, trong khi làm quan là làm công bộc cho dân, cho nước. Một khi não trạng bên trong đã thay đổi thì mọi lời nói, hành vi ứng xử, cung cách làm việc phục vụ nhân dân của họ sẽ khác. Lẽ tự nhiên là thế. Nguồn: songchi's blog
......

Hai bức ảnh nói lên nhiều điều

Chỉ 2 bức ảnh có khi nói được nhiều điều còn hơn vài trang giấy.Đó là 2 bức ảnh chụp cùng một nơi, Phòng Bầu dục của Tòa Bạch Ốc, nơi làm việc của Tổng thống Hoa Kỳ.   Hình Tổng thống Obama tiếp bà Aung San Syu Kyi tại Tòa Bạch Ốc hồi tháng 9 năm 2012 (trái). Và Tổng thống Obama gặp Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang tại phòng Bầu dục của Tòa Bạch Ốc, ngày 25/7/2013 (phải).   Bức đầu chụp khi Tổng thống Barack Obama tiếp bà Aung San Syu Kyi hồi tháng 9 năm 2012, ngay sau khi bà đến thăm và được mời phát biểu tại trụ sở Quốc Hội, tại đây bà đã được trao tặng Huy chương Vàng của Quốc Hội (Congressional Gold Medal), vinh dự cao quý nhất của cơ quan lập pháp Hoa Kỳ dành cho một nhân vật dân sự. Bức thứ hai chụp khi Tổng thống Obama tiếp Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang ngày 25 -7- 2013, sau khi hội đàm và ra tuyên bố chung về nâng cao quan hệ toàn diện giữa 2 nước. Trong bức ảnh thứ nhất, nét mặt cả chủ lẫn khách đều tươi tắn, thân thiết, tuy là lần đầu tiên gặp nhau trong cuộc đời hoạt động của mình. Chủ và khách đều là những người đã được trao tặng giải thưởng Nobel Hòa Bình hiếm hoi. Tại đây Tổng thống Obama đã gắn lên ngực Bà Khách Quý tấm huân chương Tự Do. Tiếp đó, sau khi trúng cử tổng thống Mỹ nhiệm kỳ thứ hai, ông Obama đã chọn Miến Điện làm nơi đến công du đầu tiên và đã đến thăm bà Aung San Syu Kyi ngay tại căn nhà nhỏ của bà bên bờ hồ ở Rangoon. Trong bức ảnh thứ hai, giữa lúc ông Sang cám ơn Tổng thống Obama đã quan tâm chăm sóc bà con người Mỹ gốc Việt (nói nhịu là «người Việt gốc Mỹ »), những nạn nhân bi thảm do chính ách chiếm đóng tàn bạo của đảng CS của ông gây nên, thì ông Obama đã không che dấu nổi sự sốt ruột và chán nản của mình. Ông kéo thật cao cổ tay áo trái để lộ mặt chiếc đồng hồ lớn chĩa vào mặt ông Sang, ngụ ý nhắc rằng: biết rồi, khổ lắm, nói dài thế, không còn thời gian cho ông, tôi đang bận việc khác. Ba chục nhà báo quốc tế có mặt nhìn ra cảnh này. Nét mặt bực mình của tổng thống Hoa Kỳ hiện rõ bao nhiêu thì nét mặt ông Sang càng hiện ra nét bẽ bàng bấy nhiêu. Không bẽ bàng sao được khi ra sân bay đón một vị mang danh chủ tịch nước chỉ có trơ trọi viên đại sứ Hoa Kỳ từ Hà Nội chạy về đón, một đại diện Bộ Ngoại giao không thấy nêu tên và chức vụ, không có đội danh dự, không có trống kèn và súng nổ chào mừng, cũng chẳng có treo cờ 2 nước tại Tòa Bạch Ốc như lẽ ra lễ tân phải như thế. Không bẽ bàng sao được khi mọi điều tốt đẹp vẫn còn là những thách thức ở phía trước, chưa có điều gì chắc chắn cả. Có vào TPP (Tổ chức Đối tác Xuyên Thái Bình Dương) hay không còn tùy ở Việt Nam có sớm thay đổi luật buôn bán tự do, cho lao động quyền lập công đoàn tự do hay không, có điều chỉnh khái niệm tệ hại lấy quốc doanh làm chủ đạo nền kinh tế hay không. Và mong được đón tiếp Tổng thống Obama để thủ lợi riêng mọi mặt cho đảng CS thì…còn xơi, nếu như vẫn giữ trong tù hàng mấy chục nhân vật yêu nước chống bành trướng, vẫn bịt mồm làng báo, vẫn kỳ thị tôn giáo, vẫn bắt luật pháp và tòa án phải tuân theo quyết định của đảng. Hai bức ảnh rất nên mang về treo trong phòng Chủ tịch nước ở Ba Đình Hà Nội, để ông Trương Tấn Sang và các quan chức tùy tùng tìm hiểu cho ra lẽ, vì sao lại có chuyện trong Tòa Bạch Ốc nhất bên trọng, nhất bên khinh thế nhỉ! Qua ngắm 2 bức ảnh, giới trí thức và mọi công dân yêu nước sẽ ngộ sâu thêm một điều thiết yếu, phải thay gấp cả hệ thống chính trị từ độc quyền đảng trị sang đa nguyên dân chủ pháp trị. Không có con đường tắt nào cả. nguồn: Blog / Bùi Tín
......

Hoa Thịnh Đốn: Một dân oan chận phái đoàn Trương Tấn Sang đòi đất bị chiếm

Dân Oan Đòi Đất Trước Phái Đoàn Ông Trương Tấn Sang Ở Hoa Kỳ Ông Trương Tấn Sang tới Hoa Kỳ gặp những cuộc biểu tình lớn. Khoảng 1000 người Mỹ gốc Việt đã tụ tập trước Toà Bạch Ốc để đòi hỏi trả tự do cho những nhà đối kháng như luật sư Lê Quốc Quân, nhạc sĩ Việt Khang... Bà Lý Lệ Hoa trương biểu ngữ biểu tình trước cửa khách sạn của ông Trương Tấn Sang Nhưng trong số biểu tình viên tham dự không có ai tạo nên ấn tượng đặc biệt như bà Lý Lệ Hoa, một người xưng là dân oan có tài sản đất đai lên đến hàng triệu đô la ở Việt Nam đã bị nhà nước trưng dụng không bồi thường. Hiện nay đất đai của bà Lý Lệ Hoa thuộc về công ty Becamex ở Việt Nam. Uất ức vì không được đền bù thoả đáng, nay phải sang Hoa Kỳ làm lại từ đầu kể cả những công việc chân tay, bà Lý Lệ Hoa đã có sự chuẩn bị và tìm tới khách sạn của phái đoàn ông Trương Tấn Sang để căng biểu ngữ biểu tình. Với sự miệt mài và ý chí của một người khiếu kiện, bà Lý Lệ Hoa đã thuê trước căn phòng sang trọng trong khách sạn Marriott Wardman Park Hotel nơi ông Sang và phái đoàn dùng làm nơi hội họp và nghỉ lại. Bà đã phát thỉnh nguyện thư khiếu kiện trong vòng vây của mật vụ Hoa Kỳ và an ninh Việt Nam. Phái đoàn Việt Nam rất lấy làm khó chịu nhưng không làm sao đưa bà Lý Lệ Hoa tầm mắt của nhà Trương Tấn Sang vì bà là khách hàng của khách sạn. "Đưa thư cho phu nhân chủ tịch" Trong một cơ hội hiếm có vào sáng 24-7-2013, bà Lý Lệ Hoa đã đưa tận tay bức thư khiếu kiện tới tận tay vợ ông Trương Tấn Sang khiến nhân viên hai phía Mỹ - Việt đều bối rối ra sức giải tỏa căng thẳng. Bà đã bị nhân viên cảnh sát gõ cửa phòng và được yêu cầu không được đưa thỉnh nguyện thư trong phạm vi khách sạn. Bà Lý Lệ Hoa cũng quả quyết người bà trao thư chính là bà Trương Tấn Sang sau khi đối chiếu các bức hình trên internet. Lời thư nhã nhặn, bà Lý Lệ Hoa xưng là công dân của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gởi lên chủ tịch nước mong được đền bù chính đáng. Trong khách sạn, một mình giữa vòng vây của quan chức phái đoàn Việt Nam và an ninh Hoa Kỳ, bà Lý Lệ Hoa đội nón lá đi qua đi lại vào những nơi khánh tiết long trọng tạo nên một hình ảnh kỳ lạ về nghi thức lễ tân và diện mạo của phái đoàn Việt Nam. Những nhân viên bảo vệ có sự cảm thông khi đọc các dòng biểu ngữ đòi công lý của bà. Họ cố gắng quan sát để phòng những hành vi ngoài kiểm soát nhưng một mặt phải thoả mãn ý nguyện của khách hàng trong khách sạn. Bà Lý Lệ Hoa cũng cho biết số chi phí máy bay và khách sạn đều do vay mượn để thực hiện vụ "dân oan khiếu kiện" này với quyết tâm cho ông chủ tịch nước Việt Nam thấy được thảm trạng và sự bất công về tình trạng thu dụng và chia chác đất đai ở Việt Nam.
......

Thánh lễ cầu nguyện cho những thanh niên yêu nước tại Hamburg

Thánh lễ cầu nguyện cho những thanh niên yêu nước tại Hamburg Giới thiệu về nhóm "Bạn của Đặng Xuân Diệu"   Vào ngày 27.7.13, lúc 15 giờ, trong không khí oi bức của ngày hè, hai linh mục Phêrô Nguyễn Văn Khải và Vincent Maria Phạm Cao Quý đã cử hành thánh lễ đồng tế trong thánh đường Maria Himmelfahrt trong quận Rahlstedt, thành phố Hamburg, Đức Quốc. Giáo dân Việt Nam trong giáo xứ đã vận động được sự đồng ý của cha xứ để có một buổi thánh lễ dành riêng cho người Việt Nam.   Thánh lễ đã diễn ra trong bầu không khí thật trang nghiêm với đề tài "Cầu nguyện và ý nghĩa của cầu nguyện" do cha Khải làm phó tế, thuyết giảng. Khoảng 100 giáo dân trong ngôi thánh đường rộng thênh thang đủ giúp buổi lễ thành công ngoài dự trù của ban tổ chức - Nhóm "Bạn của Đặng Xuân Diệu. Xen kẽ vào nghi lễ, lời kinh và lời giảng là những bài thánh ca trầm bỗng, du dương, lắng đọng vang lên do Ca đoàn Thánh Linh đảm trách. Tấm ảnh của người thanh niên Công Giáo yêu nước Đặng Xuân Diệu với câu nói sau cùng của anh khi bị nhà cầm quyền cộng sản kết án đã được trang trọng kết trước bục giảng. Đặng Xuân Diệu đã bị phiên tòa bất công, bỏ túi tuyên án 13 năm tù và 5 năm quản chế về tội "âm mưu lật đổ chính quyền" (điều 79). Như bao phiên tòa "công khai" khác, cáo trạng buộc tội của quan tòa chứa đầy khuất tất, không thuyết được ai. Hình ảnh 14 thanh niên yêu nước được dán trước bàn làm lễ. Trước đó là thánh giá được cấu thành từ 14 đóa hồng trắng tinh đựng trong lọ hoa nhỏ. Cha Khải, đôi lúc, như nhiều người đã biết, đã giảng như một nhà hùng biện. Bài giảng của Cha thường đi sát với nhu cầu thiết thân của giáo dân.   Sau một giờ đồng hồ, nến đã được phát cho giáo dân - không đủ - và theo sáng kiến của hai Cha, mọi người rước nến đi thành hàng dài sang hội trường nắm cách nhà thờ một khoảng sân khá rộng. Tại đây, sau chừng 20 phút giải lao, chương trình hội thảo đã bắt đầu bằng chùm dương ảnh (dias show) giới thiệu về anh Đặng Xuân Diệu và những hoạt động của anh về mặt xã hội, cũng như hình ảnh các thành viên của nhóm Bạn ĐXDiệu đã đến thăm gia đình anh trong dịp sinh nhật anh vào ngày 8.7 vừa qua. Ban tổ chức cũng đã kêu gọi mọi người hỗ trợ gia đình ĐXD về vật chất lẫn tinh thần như gọi điện thoại về an ủi gia đình của ĐXD. Ngay tại chỗ, quỹ nhóm Bạn ĐXD đã được sự hưởng ứng khá nồng nhiệt.     Một quầy hàng bán thức ăn tươm tất và ngon miệng đã được các thân hữu cũng như thành viên Ca đoàn Thánh Linh nhiệt thành thực hiện. Tiền thu được sẽ được gửi về gia đình những thanh niên yêu nước. Cha Nguyễn Văn Khải cũng không quên cung cấp danh sách gia đình những thanh niên đó để mọi người có thể gọi điện về trò chuyện, thăm hỏi.   Nhờ tài diễn thuyết hấp dẫn, hầu như tất cả mọi người đều ở lại đến phút cuối của buổi hội thảo "Vấn đề tự do tôn giáo tại Việt Nam" đã diễn ra trong bầu không khí thoải mái, cởi mở, súc tích. Những câu hỏi của cử tọa đã được cha Khải giải đáp thỏa đáng. Ngày sinh hoạt bổ ích đã chấm dứt sau 20 giờ trong sự lưu luyến chia tay của giáo dân đối với hai cha Quý và Khải. Nhóm Friends of Đặng Xuân Diệu
......

ERKLÄRUNG der vietnamesischen Organisationen

Anlässlich des Treffens zwischen dem US-Präsident Barack Obama und dem vietnamesischen Staatspräsident Truong Tan Sang im Weißen Haus  geben wir als Vertreter der unten zeichnenden Volksorganisationen folgende Stellungnahme ab: In der vergangenen Jahren  wurde die Sozialistische Republik Vietnam (SRV) von zahlreichen bekannten internationalen Menschenrechtsorganisationen wie Amnesty International (AI), Human Rights Watch (HRW), Freedom House, United States Commission on International Religious Freedom (USCIRF) mehrmals als ein Land mit den schlimmsten Menschenrechtverletzungen in der Welt bezeichnet  und insbesondere als Feind des freien Internets ( CPJ und RSF) angeprangert. Dies macht die Erklärung des vietnamesischen Blogger-Networks, am 18.07.2013 von 69 Bloggerm in Vietnam unterzeichnet, deutlich. Die Sozialistische Republik Vietnam (SRV) hat die Grundfreiheiten des vietnamesischen Bürgers, die in den von Vietnam unterschriebenen  internationalen Menschenrechtsabkommen verankert sind, total missachtet. Damit macht sich Vietnam unwürdig für die Bewerbung eines Sitzes im UN-Menschenrechtsrat. Wir, als Vertreter der Volksorganisationen in und außerhalb Vietnams, begrüßen die Ankündigung des Weißen Hauses, in der Präsidenten Barack Obama die Menschenrechtsfrage in den Verhandlungen mit Staatspräsident Truong Tan Sang zur Sprache bringen wird. Wir fordern, dass die Ergebnisse der Verhandlungen ernst genommen werden und dass das vietnamesische Regime die Durchführung konkreter Maßnahmen wie folgt realisiert: 1. Abschaffung des vagen Begriffs „nationale Sicherheit“ und deren Bestimmungen, insbesondere Artikel 79,87,88,89 und 258  im vietnamesischen Strafgesetzbuch. 2. Freiheit aller Blogger, die derzeit in Gewahrsam sind (35 Personen, laut  Reporter ohne Grenzen) nur weil sie die verschiedenen Probleme, die dem Land drohen, ausgesprochen  und ihre Meinungsfreiheit auf friedliche Weise in Anspruch genommen haben. 3. Sofortige Freilassung folgender Gewissengefangenen: - Dieu Cay Nguyen Van Hai, dessen Name Präsident Obama bereits beim Pressetag des letzen Jahres erwähnt hat. Zur Zeit befindet er sich in einem Hungerstreik im Gefängnis Nr. 6 der Provinz Nghe An, zum 17.07.2013 waren dies 25 Tage - Dr. Cu Huy Ha Vu., der einen 25- tägigen Hungerstreik am 21.06.2013 beendet hat. - Pater Nguyen van Ly, einer der bekanntesten Gewissensgefangenen in Vietnam - Rechtsanwalt Le Quoc Quan, ehemaliger Stipendiat vom NED-Washington, ein Forscher über die zivile Gesellschaft - Herr Tran Huynh Duy Thuc, ein Unternehmer, zu 16 Jahre Strafe verurteilt aufgrund seiner Weigerung, Beschuldigungen durch die Behörde, anzuerkennen - Frau  Ta Phong Tan, Dissidentin, ehemalige Sicherheitsoffizierin, deren Mutter sich für ihre Freilassung verbrannt hat. - Drei Gewerkschafter: Doan Huy Chuong, Nguyen Hoang Quoc Hung, und Do Minh Hanh. Sie haben sich für die Gründung unabhängiger Gewerkschaften zum Schutz der  Arbeitnehmerrechte engagiert. - Zwei Musiker: Viet Khang und Tran Vu An Binh. Sie haben patriotische Lieder  komponiert. - Die Studentin Nguyen Phuong Uyen und der Student Dinh Nguyen Kha, verhaftet aufgrund der Verteilung von Flugbättern  „Chinese go home“ . - Pastor Nguyen Cong Chinh, ist seit 11 Jahren in Haft, weil er sich für die Verkündigung des Evangeliums bei den Minoritäten  in Gia Lai, Kontum, einsetzte. - Und vor allem, Herr Nguyen Huu Cau, ein ehemaliger Offizier der Streitkräfte  der Republik Vietnam, der inzwischen 35 Jahre im Gefängnis verbracht hat, fast erblindet ist und unter einer Vielzahl von schweren Erkrankungen leidet. 4. Respektierung der Religionsfreiheit, Aufhebung aller Gesetze, die dazu bestimmt sind, Menschen bei der religiösen Ausübung zu beschränken, Nichteinmischung in die internen Angelegenheiten aller Religionen sowie die Beendigung der Unterdrückung der Geistlichen und deren Gläubigen. 5. Freilassung aller Gewissensgefangenen, die derzeit im Gefängnis wegen ihres Glaubens sind, Anhänger des  Caodaismus, Hoa Hao Buddhismus, Mahayana Buddhismus, Theravada Buddhismus (wie im Fall der Khmer Krom Buddhisten in Soc Trang Provinz), Katholizismus (wie in der Con Dau-Gemeinde in Da Nang oder die Nghe An-katholischen Studenten), Mennoniten, Protestanten oder House Church Protestantismus. Eine ernsthafte und wirksame Intervention des US-Präsidenten Barack Obama für diese Gefangenen wird bezeugen, dass die Vereinigten Staaten Wort gehalten haben, dass die US-Regierung die Demokratie und Menschenrechte, als Grundsteine der Republik, über die Interessen von Wirtschaft und Militär setzt. In der Tat werden Demokratie und Menschenrechte den langfristigen Beziehungen nicht schaden, vor allem sind sie von strategischer Natur, denn ein solches Bündnis muss, um dauerhaft zu sein,  auf gemeinsamen Werten und gegenseitigem Vertrauen basieren. Wir erwarten, dass diese Erklärung sowohl in Vietnam als auch außerhalb von Vietnam  bekannt gemacht wird. Wir appellieren an die Massenmedien, die Verbreitung dieser Botschaft an die Auslandsvietnamesen  und  die internationale Gemeinschaft zu unterstützen. Vietnam, 22. Juli 2013 Unterzeichnet von folgenden Organisationen: - Dai Viet Revolutionäre Partei (Dinh, Quang Tien - 2. Vizepräsident)- - Demokratische Volkspartei (Do, Thanh Cong - Sprecher) - Internationales Institut für Vietnam (Doan, Viet Hoat - Vorsitzender) - Nationale Kraft zur Rettung des Vaterlands (Tran, Quoc Bao - Vorsitzender) - National Congress der Vietnamesischen-Amerikaner (Nguyen, Ngoc Bich - Vorsitzender) - Nationale Partei Vietnams (Tran, Tu Thanh - Präsident, Übersee Zentrale Koordinierungsrat) - Neo Dai Viet-Partei (Le, Minh Nguyen - stellv. Vorsitzender) - Sammlung  für Demokratie (Nguyen, The Binh - Repräsentation) - Viet Tan-Partei (Do, Hoang Diem - Vorsitzender) - Vietnam-Netzwerk für Menschenrechte (Nguyen, Ba Tung - Präsident) - Vietnam-Zentrum für Menschenrechte, Paris (Tran, Thanh Hiep - Präsident) - Zusammenkunft für Demokratie in Vietnam (Lam, Dang Chau -  Koordinierungsrat) *********************************** 22.07.2013 TUYÊN BỐ Của Các Tổ Chức Quần Chúng Việt Nam Nhân dịp có cuộc gặp gỡ giữa Tổng Thống Barack Obama và Chủ Tịch Trương Tấn Sang tại Tòa Bạch Ốc, chúng tôi, đại diện những đoàn thể quần chúng Việt Nam ký tên dưới đây, xin đưa ra trước công luận Tuyên Bố này. Trong những năm gần đây, CHXHCN Việt Nam đã bị các tổ chức nhân quyền quốc tế có uy tín như Ân Xá Quốc Tế (AI), Hội Theo Dõi Nhân Quyền (HRW), Nhà Tự Do (Freedom House), Ủy Ban Hoa Kỳ Về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế (USCIRF), v.v… nhận diện là một trong những nước vi phạm nhân quyền tồi tệ nhất trên thế giới và là kẻ thù của truyền thông điện tử toàn cầu (CPJ và RSF). Điều này cũng được xác nhận trong “Tuyên Bố của Mạng Lưới Bloggers Việt Nam ” do 69 bloggers tại Việt Nam cùng ký tên (tính đến ngày 18/7/2013 ). Việc CHXHCN Việt Nam không tôn trọng các quyền tự do căn bản của công dân Việt Nam như đã được bảo đảm trong các văn kiện luật pháp nhân quyền quốc tế mà Việt Nam đã ký kết tham gia cho thấy Việt Nam không tôn trọng các cam kết quốc tế và không xứng đáng ngồi vào chiếc ghế thành viên Hội Đồng Nhân Quyền LHQ mà Việt Nam đang ứng tuyển. Từ những nhận định đó, chúng tôi, đại diện những đoàn thể quần chúng trong và ngoài Việt Nam, trước hết hoan nghênh tuyên bố của Tòa Bạch Ốc cho biết Tổng Thống Barack Obama sẽ nêu lên vấn đề nhân quyền trong buổi gặp gỡ Chủ Tịch Trương Tấn Sang. Chúng tôi kêu gọi cuộc thảo luận sẽ không dừng lại ở lời nói, và sẽ dẫn đến kết quả là chính quyền Việt Nam sẽ thực hiện những việc cụ thể như dưới đây: 1/ Hủy bỏ những điều khoản gọi là “an ninh quốc gia”, đặc biệt là các điều 79,87, 88,  89 và 258 trong Luật Hình Sự hiện nay của Việt Nam. 2/ Thả tất cả các bloggers đang bị giam giữ (35 người theo con số của Reporters Sans Frontieres) chỉ vì đã nói tới những vấn đề đang tác hại đến đất nước, và do đó, không làm gì hơn là thực thi một cách hòa bình quyền tự do tư tưởng và tự do phát biểu ý kiến của họ. 3/ Trả tự do ngay lập tức cho những tù nhân lương tâm sau đây: - Blogger Điếu Cầy Nguyễn Văn Hải, người mà chính Tổng Thống Barack Obama đã nhắc đến trong ngày Báo Chí Quốc tế năm ngoái, và là người mà hiện nay đang tuyệt thực đến ngày thứ 25 (tính đến July 17) tại trại giam số 6, tỉnh Nghệ An. - Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, đã tuyệt thực 25 ngày (tính đến June 21); - LM Nguyễn Văn Lý, một trong những tù nhân lương tâm nổi tiếng nhất tại Việt Nam ; - LS Lê Quốc Quân, một cựu Fellow của NED ở Washington DC , chuyên nghiên cứu về xã hội dân sự; - Ông Trần Huỳnh Duy Thức, một doanh nhân bị kết án 16 năm tù chỉ vì không chịu nhận những tội danh do chính quyền gán ghép; - Bà Tạ Phong Tần, một cựu sĩ quan an ninh trở thành đối kháng, một người mà bà mẹ đã phải tự thiêu để đòi tự do cho con; - Ba nhà hoạt động lao động, Đoàn Huy Chương, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và Đỗ Thị Minh Hạnh, những người muốn thành lập các nghiệp đoàn độc lập để bảo vệ công nhân; - Hai nhạc sĩ Việt Khang và Trần Vũ An Bình, không làm gì khác hơn là biên soạn những bản nhạc yêu nước; - Các sinh viên Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha, bị giam giữ chỉ vì rải truyền đơn đòi “Người Hoa, Hãy Về Nứơc”; - Mục Sư Nguyễn Công Chính, bị giam giữ 11 năm vì giảng Thánh Kinh cho các sắc dân thiểu số tại Gia Lai, Kontum; - Và đặc biệt, tù nhân lương tâm Nguyễn Hữu Cầu, một cựu sĩ quan Quân Đội VNCH, đã bị giam cầm suốt 35 năm qua, đã bị mù vì mắc nhiều bệnh tật trầm trọng. 4/ Tôn trọng quyền tự do tôn giáo bằng cách hủy bỏ tất cả những luật lệ giới hạn quyền hành đạo, ngưng can thiệp vào công việc nội bộ của các Giáo hội, và ngưng đàn áp các giáo sĩ và tín đồ. 5/ Trả tự do cho tất cả những tù nhân lương tâm hiện bị giam giữ vì lý do tôn giáo, dù họ là Cao Đài, Hòa Hảo, Đại Thừa, Tiểu Thừa Phật giáo (như trường hợp các tín đồ Phật Giáo Khmer Krom tại tỉnh Sóc Trăng), Công giáo (như trường hợp Cồn Dầu, Đà Nẵng hay các sinh viên Công giáo tại Nghệ An)), các hệ phái Tin Lành (Evangelist, Mennonite, hay Tin Lành tại gia). Việc Tổng Thống Barack Obama can thiệp một cách nghiêm chỉnh và mang lại kết quả cụ thể cho các tù nhân lương tâm trên đây sẽ cho thấy Hoa Kỳ tuân thủ cam kết của mình, luôn đặt dân chủ và nhân quyền, những hòn đá tảng của nền cộng hòa Mỹ, lên trên những toan tính lợi ích tầm thường, dù thương mại hay quân sự. Thực ra, dân chủ và nhân quyền không hề tác hại đến mối quan hệ lâu dài, mang tính chiến lược, vì một liên minh như thế, muốn được bền vững, phải được xây dựng trên những giá trị và niềm tin cậy chung. Chúng tôi mong rằng bản Tuyên Bố này được phổ biến rộng rãi trong cũng như ngoài Việt Nam . Chúng tôi kêu gọi các cơ quan truyền thông công cộng hãy giúp chuyển tải thông điệp này đến cộng đồng Việt Nam hải ngọai và cộng đồng quốc tế. Việt Nam, ngày 22 tháng 7 năm 2013 Những đoàn thể cùng ký tên: - Đại Việt Cách Mạng Đảng (Đinh Quang Tiến, Đệ nhị Phó Chủ tịch) - Đảng Dân Chủ Nhân Dân (Đỗ Thành Công, Phát ngôn nhân) - Đảng Tân Đại Việt (Lê Minh Nguyên, Phó Chủ tịch) - Đảng Việt Tân (Đỗ Hoàng Điềm, Chủ tịch) - Họp Mặt Dân Chủ (Lâm Đăng Châu, TB Phối Hợp) - Lực Lượng Dân Tộc Cứu Nguy Tổ Quốc (Trần Quốc Bảo, Chủ tịch) - Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam (Nguyễn Bá Tùng, TB Phối Hợp) - Nghị Hội Toàn Quốc Người Mỹ Gốc Việt (Nguyễn Ngọc Bích, Chủ tịch) - Tập Hợp vì Nền Dân Chủ (Nguyễn Thể Bình, Đại diện) - Trung Tâm Nhân Quyền Việt Nam , Paris (Trần Thanh Hiệp, Chủ tịch) - Viện Quốc tế vì Việt Nam (Đoàn Viết Hoạt, Chủ tịch) - Việt Nam Quốc Dân Đảng (Trần Tử Thanh, Chủ Tịch, Hội Đồng Điều Hợp Trung   Ương Hải Ngoại) * * * DECLARATION OF VIETNAMESE MASS ORGANIZATIONS On the occasion of the meeting between US President Barack Obama and SRV President Truong Tan Sang in the White House, we, the undersigned Vietnamese mass organizations, issue to the public this declaration. In recent years the Socialist Republic of Vietnam (SRV) has been identified by Amnesty International (AI), Human Rights Watch (HRW), Freedom House, United States Commission on International Religious Freedom (USCIRF), etc., as one of the worst perpetrators of human rights violations in the world and especially as an enemy of the Internet (CPJ and RSF, among others)--a finding supported by the latest "Statement from a Network of Vietnamese Bloggers" signed by 69 bloggers inside Vietnam (as of July 18, 2013). The SRV's total disregard of the most basic human rights for its citizens as guaranteed in international covenants to which Vietnam is a signatory made a farce of its international commitments and makes it unworthy of a place in the UN Human Rights Council which it is coveting. In view of the above, we, representatives of the Vietnamese mass organizations both inside Vietnam and in the Vietnamese Diaspora, welcome the announcement by the White House that President Barack Obama will make a point to discuss "human rights" in his upcoming meeting with SRV President Truong Tan Sang. We urge that the discussion will go beyond words and result in the Vietnamese government carrying out the concrete actions as follows 1/ To abolish vague “national security” provisions, especially articles 79, 87, 88, 89 and 258 in Vietnam's Criminal Code. 2/ To release all bloggers (RSF mentions 35 names) currently in jail simply because they have spoken up on various issues plaguing the country and therefore doing nothing more than exercising peacefully their rights of freedom of opinion and expression. 3/ To immediately release the following prisoners of conscience: - Dieu Cay Nguyen Van Hai, whose name has been mentioned by President Obama himself at last year's Press Day and who is undergoing a hunger strike in Camp 6, Nghe An Province, reaching its 25th day as of July 17, 2013; - Dr. Cu Huy Ha Vu, who completed a 25-day hunger strike on June 21 last; - Father Nguyen Van Ly, one of the most famous prisoners of conscience in the country; - Lawyer Le Quoc Quan, a former NED Fellow in Washington and a specialist on Civil Society; - Mr. Tran Huynh Duy Thuc, an entrepreneur who was given a 16-year jail sentence simply because he refused to admit to crimes allegedly accused by the government; - Ms. Ta Phong Tan, a former public security officer turned dissident, whose mother had to immolate herself to demand her daughter's release; - the three labor activists Doan Huy Chuong, Nguyen Hoang Quoc Hung and Do Thi Minh Hanh, who tried to form independent trade unions to protect the workers' rights; - the musicians Viet Khang and Tran Vu An Binh, who did nothing more than compose patriotic songs; - the students Nguyen Phuong Uyen and Dinh Nguyen Kha, who simply distributed flyers saying "Chinese, Go Home!" ; - Pastor Nguyen Cong Chính, being imprisoned for 11 years for preaching the Gospel to ethnic groups in Gia Lai, Kontum. - And especially, Mr. Nguyen Huu Cau, a former ARVN (Army of the Republic of Vietnam) officer who has so far spent 35 years in jail and has gone blind with a variety of very severe ailments. 4/ To respect the freedom of religion by repealing all legislation that are intended to restrict the people’s religious practices; to stop interfering with the internal activities of all religions, and to stop the persecution of clergy and faithful. 5/ To release all prisoners of conscience who are currently in jail because of their faith, whether it be Cao Dai, Hoa Hao Buddhism, Mahayana Buddhism, Theravada Buddhism (as in the case of Khmer Krom Buddhists in Soc Trang Province), Catholicism (as in the case of Con Dau parishioners in Da Nang or Nghe An Catholic students), Evangelism, Mennonite Protestants, or House Church Protestantism. A serious and effective, result-producing intervention on these prisoners' behalf by the President will prove that the United States is true to its word, that his administration puts democracy and human rights, the cornerstones of our republic, above many other mundane considerations whether mercantile- or defense-oriented. In fact, democracy and human rights do not undermine long-term alliance, especially of a strategic nature, because such an alliance, to be lasting, must be based on common values and mutual trust. We wish therefore to publicize this declaration as widely as possible, both in Vietnam and outside of Vietnam, and we call upon the public media to help us carry this message to the Vietnamese Diaspora and to international community. Vietnam, July 22, 2013 Signed by the following organizations: - Assembly for Democracy in Vietnam (Lam, Dang Chau) - International Institute for Vietnam (Doan, Viet Hoat, Chairman) - National Congress of Vietnamese Americans (Nguyen, Ngoc Bich,  Chairman) - Neo Dai Viet Party (Le, Minh Nguyen - Vice-Chairman) - Rallying For Democracy ( Nguyen , The- Binh - Representative) - The Dai Viet Revolutionary Party (Dinh, Quang Tien -  2nd Vice President) - The People’s Democratic Party (Do, Thanh Cong – Spokesperson) - The People's Force to Save Vietnam (Tran, Quoc Bao, Chairman) - Vietnam Center for Human Rights, Paris (Tran, Thanh Hiep, President) - Vietnam Human Rights Network (Nguyen, Ba Tung, President) - Vietnam Nationalist Party (Tran, Tu Thanh, Chairman, Overseas Central Coordinating Council) - Viet Tan Party (Do, Hoang Diem, Chairman)
......

Nhục quá bác Sang ơi!

Trương Tấn Sang mang danh chủ tịch nhà nước Việt Nam, bị hàng ngàn người Việt biểu tình phản đối khi vừa bước chân tới nước Mỹ. Chưa thấy ai nói những lời trâng tráo như Trương Tấn Sang! Được dịp gặp tổng thống Mỹ, ông ta nói, “Cám ơn nước Mỹ đã tạo điều kiện cho người gốc Việt ở Mỹ được thành công trong cả hai mặt kinh tế và chính trị! Ông ta làm như không biết rằng hàng triệu người Việt đang sống ở nước Mỹ đều từng chạy trốn khỏi cái địa ngục mà đảng Cộng sản của ông trùm lên trên cả đất nước Việt Nam từ năm 1975! Những thuyền nhân tị nạn không ai nhờ ông làm đại diện cho họ để ngỏ lời cảm ơn cả; đại diện của họ là những người đi biểu tình trong công viên La Fayette chống chế độ tham ác mà ông là đại diện. Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích nhận xét, khi nhắc đến cả mặt “hoạt động chính trị” (political activities) của người Việt sống tại Mỹ, nghĩ lại thấy là “ông Sang qua câu đó, cám ơn các biểu-tình-viên đang la ó phái đoàn của ông ngay ở ngoài cổng Tòa Bạch Ốc!” "Quốc trưởng một nước đến mà Tổng thống, Phó Tổng thống kể cả Bộ trưởng Ngoại giao cũng chẳng thèm ra đón tiếp. Đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội phải bay về Mỹ để ra phi trường đón ông chủ tịch nước Tư Sang của CHXHCNVN" Nhà báo Đức Tuấn kêu lên: “Nhục quá bác Sang ơi!” trong blog của anh. Kêu lên như thế là Đức Tuấn quá lạc quan về tư cách con người ông Sang. Ông này không hề biết nhục. Người không bao giờ biết nhục là cái gì mới mở miệng nói một câu như vậy. Nói trâng trâng làm như cả nước Mỹ và ông tổng thống của họ không hề đọc lịch sử, không hề biết tại sao lại có hàng triệu người Việt liều chết vượt biển tìm tự do, trong đó có những người Việt đang sống ở Mỹ! Nói nghênh nghênh ngáo ngáo không khác gì mấy anh quản giáo bảo tù nhân phải “biết ơn cách mạng” vì mỗi ngày đều cho mình đi lao động! Chỉ một con người sống cả đời trong hàng ngũ cán bộ cộng sản, leo từng bước lên đến ngôi vị chủ tịch nhà nước thì mới đủ cơ hội tập được cái thái độ trơ tráo không biết hổ thẹn để phát ra được những câu như thế mà không biết mình sẽ bị cười vào mặt. Đáng lẽ sau khi nghe Trương Tấn Sang nói những lời trơ trẽn đó, ông Barack Obama phải hỏi lại: “Thế ông chủ tịch đã viết thư cảm ơn các hãng tàu thủy quốc tế cứu giúp người Việt Nam tị nạn gặp nguy khốn trên đường vượt biển cho lên tàu hay chưa? Ngài có tặng huy chương cho Tầu Cap Anamour hay không? Họ đã chữa bệnh gần 40 ngàn người và cứu mạng sống hơn 10 ngàn người Việt sắp chết đuối trên mặt biển đó!” Ông Obama cũng có thể cũng thắc mắc trong lòng: Khi sang Bắc Kinh ông Trương Tấn Sang có ngỏ lời cảm ơn chính quyền Trung Cộng đã đón nhận những người Việt gốc Hoa bị chế độ cộng sản Việt Nam tịch thu tài sản, đuổi về Trung Quốc hay không? Phần lớn các đồng bào Việt gốc Hoa này đã sống ở Việt Nam bao nhiêu đời, chỉ nói tiếng Việt chứ không biết tiếng Trung Hoa, nhiều người đã đi lính, bị thương, nhưng vẫn bị tống ra biển bất kể sóng to gió lớn! Cũng chỉ một chế độ cộng sản mới có cái chính sách trục xuất người ta một cách táng tận lương tâm như vậy. Những người đã đánh mất lương tâm thì cũng không biết hổ thẹn. Không biết trong gia sản của Trương Tấn Sang, có lúc được coi là người giầu nhất Sài Gòn, có bao nhiêu phần là do “đóng góp” của những người tị nạn cộng sản? Bao nhiêu ngôi nhà ở Sài Gòn đã bị tịch thâu rồi “hóa giá,” bỏ vào túi các quan cộng sản mỗi người được bao nhiêu? Thời đảng Cộng sản tổ chức vượt biên bán chính thức thì bọn Trương Tấn Sang, Nguyễn Tấn Dũng kiếm được bao nhiêu “cây” do đám đàn em bán bến dâng nộp? Nghe Trương Tấn Sang tới nước Mỹ mở miệng nói những lời trâng tráo như bây giờ, người ta chỉ cần nhắc lại lời phê phán tên Sở Khanh trong chuyện Kiều: “Đem người đẩy xuống giếng khơi / Nói rồi, rồi lại ăn lời được ngay!” Những lời cảm ơn trâng tráo trên đây là điều dư luận còn ghi lại sau chuyến công du của Trương Tấn Sang. Bởi vì chẳng có gì khác đáng nhớ hết. Nói như Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích, kết quả chuyến đi này là “Về tay không!” Nhưng về đến nước nhà, bộ máy tuyên truyền của đảng Cộng sản là báo Nhân Dân cũng trâng tráo không khác gì Trương Tấn Sang. Bản tuyên bố chung được báo này dịch ra có đoạn viết: “Hai nhà lãnh đạo hoan nghênh việc thiết lập cơ chế đối thoại thường kỳ giữa hai bộ trưởng ngoại giao, và khuyến khích các cuộc đối thoại và trao đổi giữa các cơ quan đảng của hai nước.” Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích hỏi: “Hai đảng nào?” Ở nước Việt Nam mới có một đảng độc quyền cai trị ngồi trên đầu nhà nước, chứ ở nước Mỹ có đảng chính trị nào được phép làm như vậy đâu! Ông Obama thuộc đảng Dân Chủ, đảng này làm gì có “cơ quan” nào ngồi trên đầu chính phủ để “đối thoại và trao đổi” với mấy ông bà trong đảng cộng sản? Nếu có, chắc ông Obama sẽ bị đàn hặc và truất phế ngay lập tức! Phải nói là chuyến đi của Tư Sang về tay không, vì kết quả cụ thể duy nhất là lời hứa hẹn hai chính phủ sẽ ráo riết tiến tới trong vụ Việt Nam gia nhập Hiệp định Thương mại Xuyên Thái Bình Dương TPP để kết thúc vào cuối năm nay. Nhưng nếu muốn được Mỹ đồng ý cho tham dự vào hiệp định đó, cqn cộng sản Việt Nam sẽ phải nhượng bộ trong cuộc đàm phán về hàng dệt may đang xuất cảng sang Mỹ. Năm ngoái Việt Nam xuất cảng 17 tỷ hàng hóa qua Mỹ, hàng dệt may chiếm khoảng 7 tỷ đô la. Hiện nay hàng dệt may của Việt Nam được đánh thuế thấp khi sang Mỹ, theo điều khoản ưu đãi của WTO cho các nước chậm tiến. Trong khuôn khổ TPP, các sản phẩm xuất cảng của các nước thành viên phải có xuất xứ từ các nước trong khối TPP mới được hưởng ưu đãi về thuế. Người Mỹ lo rằng Trung Quốc sẽ chuyển hàng vải sợi sang cắt may Việt Nam để được hưởng ưu đãi. Đã có hơn 160 nghị sĩ Dân Chủ lẫn Cộng Hòa ký tên vào bức thư yêu cầu chính phủ Mỹ phải bảo đảm các loại hàng dệt may phải được sản xuất “với nguyên liệu từ một quốc gia là đối tác tự do mậu dịch của Mỹ, thì mới được nhập vào thị trường Hoa Kỳ với mức thuế ưu đãi.” TPP là một sân chơi bình đẳng, không phân biệt quốc gia phát triển hay đang phát triển, nên không có chính sách ưu đãi như khi Việt Nam đàm phán xin gia nhập Tổ chức Mậu dịch Thế giới (WTO). Chính phủ Mỹ và một số nước thành viên tương lai của TPP vẫn chưa công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường. Vào Tháng Sáu, ông Nguyễn Vũ Tùng, phó đại sứ Việt Nam ở Washington, cho biết đề nghị mới nhất của Mỹ “thực sự, thực sự rất khó để chúng tôi chấp nhận.” Như vậy thì muốn giữ lời hứa kết thúc cuộc đàm phán về TPP vào cuối năm nay, đảng Cộng sản Việt Nam sẽ phải hy sinh quyền lợi của các công ty dệt may để được chính phủ Mỹ chấp nhận! Nhưng Đại Sứ Mỹ David Shear tại Hà Nội mới tuyên bố rằng, “Nếu muốn quan hệ mậu dịch sát hơn, ta cần đến hiệp định TPP. Nhưng muốn những nỗ lực hợp tác ngoại giao đó thành công cần có cần thấy có sự tiến bộ về nhân quyền ở Việt Nam.” Trong khi Tư Sang ở Washington, hàng trăm nhà trí thức nước ta đã ký lá thư gửi đích danh ông ta, yêu cầu phải giải quyết ngay vụ nhà báo Điếu Cày đang tuyệt thực vì bị bạc đãi trong nhà tù. Ông Điếu Cày có thể chết bất cứ lúc nào trong khi vợ và các con ông còn chưa được gặp mặt. Trương Tấn Sang được tiếp đón theo cung cách chưa có một vị nguyên thủ quốc gia nào phải chịu khi đến thăm nước Mỹ lần đầu. Chỉ vì xin được sang Mỹ gấp quá. Theo Giáo Sư Carl Thayer, thuộc Đại Học Quốc Gia Úc: “Chuyến đi Mỹ của phái đoàn ông Trương Tấn Sang chỉ có hai tuần lễ để chuẩn bị. Đây là điều rất bất thường trong các quan hệ ngoại giao quốc tế.” Tại sao phải đi gấp như vậy? Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích đoán rằng sau khi Sang đi Bắc Kinh ký kết những thứ mà Bùi Tín gọi là các “văn kiện đầu hàng” thì “về nước bị mắng nhiếc quá nên Tư Sang mới vội vã xin sang hội kiến với ông Mỹ, mong để đối trọng với ông Tàu.” Chắc không riêng mình Tư Sang lo chạy chọt xin đi gấp. Cả Bộ Chính Trị đảng Cộng sản cũng lo. Sau khi nghe dư luận khắp nước phê phán các cam kết của Hà Nội với Bắc Kinh, họ cảm thấy sợ thật. Nhất là ngay sau khi Tư Sang ở Tàu về, mới đầu Tháng Bảy, tàu Trung Quốc lại tấn công, cướp phá các tầu cá Việt Nam đang khai thác hải sản tại vùng biển Hoàng Sa. Bộ Chính Trị không biết “ăn làm sao, nói làm sao bây giờ?” Cho nên cả guồng máy ngoại giao của nhà nước phải thu xếp xin cho Tư Sang qua Mỹ, hy vọng dân Việt Nam sẽ quên mối nhục Thành Đô nối dài. Một mình Tư Sang không đủ sức vận động chuyến đi này. Ông Nguyễn Ngọc Bích kể lại những điều bất bình thường khi Tư Sang tới Mỹ: Không có tiếp đón long trọng, không thảm đỏ, không duyệt binh, không đại bác, không viên chức cao cấp nào từ phía Mỹ ra nghênh đón ngoại trừ ông đại sứ Mỹ ở Hà Nội, không ở nhà khách quốc gia, không có khoản đãi bằng một bữa tiệc linh đình (quốc yến, “state dinner”), không trưng cờ hai nước ngoài đường, phái đoàn Tư Sang phải thuê khách sạn ở gần Sứ quán Trung Cộng, vân vân. Ông Bích viết: “Chỉ cần so với sự tiếp đón long trọng (chính phủ Mỹ) dành cho bà Aung San Suu Kyi cách đây ít tháng là thấy hết cả sự bẽ bàng của chuyến đi. Dù như là một lãnh tụ đối lập ở trong tù ra chưa được bao lâu, bà Suu Kyi đã được mời đến nói chuyện cả với lưỡng viện Quốc Hội.” Khi biết hình thức đón tiếp như vậy, chắc Đức Tuấn cũng phải nhắc lại: “Nhục quá bác Sang ơi!” http://www.nguoi-viet.com/
......

Đi Mỹ về ... tay không

Thế là xong!  Ông Trương Tấn Sang xin... và cũng được Tổng-thống Obama cho gặp hôm thứ Năm 25/7/2013 ở Tòa Bạch Ốc.  Nhưng tính-cách lụp chụp của chuyến đi này đã làm cho mọi sự vỡ lở.             Theo kịch-bản cũ đã được dự-tính từ lâu thì ông Sang nhắm sang Mỹ tháng 9 để ký tắt Hiệp-định Đối-tác Xuyên Thái-bình-dương, rồi Hiệp-định sẽ thành hình (nghĩa là được Quốc-hội Mỹ phê-chuẩn vào tháng 10 nếu mọi sự xảy ra tốt đẹp), và Tổng-thống Obama sẽ sang VN vào tháng 11--đánh dấu một đỉnh thành công trong sự-nghiệp hòa-giải của cá-nhân ông cũng như của Hoa-kỳ đối với Việt-nam (Cộng-sản). Khổ nỗi, ông Sang đi sang Trung-quốc gặp ông Tập, bị nó thuốc cho câu "16 chữ vàng, 4 chữ tốt" (như ông thầy xoa đầu con trẻ... rồi cho ăn cứt gà), mang về 10 hiệp-định mà cựu-Đại-tá Bùi Tín gọi là các "văn kiện đầu hàng" hay cựu-Đại-sứ Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh gọi là "hoàn toàn lợi cho Trung quốc."  Còn Khối 8406 thì than: "60 chữ 'hợp tác,' 29 chữ 'nhất trí' và 7 chữ 'toàn diện'" trong một bản Tuyên-bố chung mấy trang thì không thể khá được!             Về nước bị mắng nhiếc quá nên Tư Sang mới vội vã xin sang hội-kiến với ông Mỹ, mong để đối-trọng với ông Tàu.  Nhưng vì cập rập nên đã không có đoàn tiền-trạm ("advance party") đi sang nghiên cứu trước đủ các khía cạnh của chuyến viếng thăm, không có tiếp đón rềnh rang (không thảm đỏ, không duyệt binh, không đại-bác, không viên-chức nào cao-cấp từ phía Mỹ ra nghênh đón ngoại-trừ ông đại-sứ Mỹ ở Hà-nội, không ở nhà khách quốc gia, không có khoản-đãi bằng một bữa tiệc linh đình ("state dinner"), không trưng cờ hai nước trên đường, phải ở khách-sạn thuê gần sứ-quán Trung-Cộng, v.v. trong khi chỉ cần so với sự tiếp đón long trọng dành cho bà Aung San Suu Kyi cách đây ít tháng là thấy hết cả sự bẽ bàng của chuyến đi.  Dù như là một lãnh-tụ đối-lập ở trong tù ra chưa được bao lâu, bà Suu Kyi đã được mời đến nói chuyện cả với lưỡng viện Quốc-hội (ngày 8/9/2012), không khác gì Tổng-thống Ngô Đình Diệm của miền Nam năm xưa sau khi Tổng-thống Eisenhower ra tận phi-trường đón. Một cuộc bài binh bố trận tuyệt vời             Dù được tin khá muộn (2 tuần trước), cộng-đồng VN vùng DC-Maryland-Virginia (tức vùng thủ-đô Hoa-kỳ) đã cấp-kỳ liên-lạc với cộng-đồng khắp nước để tổ-chức biểu tình nói lên tiếng nói của người Mỹ gốc Việt.             Cùng lúc, tổ-chức Boat People S.O.S. (Ủy-ban Cứu Người Vượt Biển) của Tiến-sĩ Nguyễn Đình Thắng đã lập-tức làm việc với cựu-Dân-biểu Liên-bang Cao Quang Ánh để phối-hợp một trận-tuyến chung với các nhà lập pháp Hoa-kỳ.  Chưa bao giờ trong đời hoạt-động ở Mỹ của tôi, tôi được chứng-kiến một sự làm việc chặt chẽ như vừa rồi giữa cộng-đồng người Mỹ gốc Việt và các dân-biểu nghị-sĩ ủng-hộ cho tiếng nói của chúng ta:             Thứ Hai, 22/7, Tiến-sĩ Nguyễn Đình Thắng hướng-dẫn một phái-đoàn các tôn-giáo VN vào gặp Ủy-hội Hoa-kỳ về Tự do Tôn-giáo Quốc-tế rồi sang Bộ Ngoại-giao gặp Trợ-lý Thứ-trưởng Daniel Baer (lo Văn-phòng Dân-chủ, Nhân-quyền và Lao-động).             Thứ Ba, 23/7, Dân-biểu Loretta Sanchez gọi họp báo trước tiền-đình Quốc-hội cùng với bốn dân-biểu khác (Ed Royce, Chris Smith, Al Lowenthal, Susan Davis) và đại diện của các NGO (tổ-chức phi-chính-phủ Freedom House, Reporters sans Frontières...) và các tổ-chức nhân-quyền hay đoàn-thể lớn của VN (như phần tôi lên đọc Tuyên-bố của 12 tổ-chức quần-chúng VN).             Cùng ngày, 23/7, bà Dân-biểu Zoe Lofgren đã cùng với 3 dân-biểu khác (Al Lowenthal, Susan Davis, Peter Scott) lấy được lời cam-kết của chính TT Obama là ông sẽ đặt vấn-đề nhân-quyền ra ngày hôm sau với Chủ-tịch nước Trương Tấn Sang.             Thứ Tư, 24/7, Dân-biểu Chris Smith, một nhà vô địch về nhân-quyền VN trong Hạ-viện Hoa-kỳ, đã tổ-chức một cuộc họp báo ngay trong Tòa nhà chính của Quốc-hội, Phòng 309 của Capitol Building (một chuyện rất hãn-hữu), để đưa ra những bằng-chứng tệ-hại về vi-phạm nhân-quyền của Hà-nội.  Tham-dự cuộc họp báo này (do cựu-DB Cao Quang Ánh phối-hợp) có các dân-biểu: Ileana Ros-Lehtinen, Bill Cassidy, Ed Royce, Frank Wolf, và đứng đằng sau các dân-biểu là một dàn các đại diện cộng-đồng và tôn-giáo về để nói lên tình-trạng bị bức-bách của các tôn-giáo VN.             Cùng ngày, năm Thượng-nghị-sĩ (John Cornyn của Texas, Richard J. Durbin của Illinois, John Boozman của Arkansas, Barbara Boxer của California, Marc Rubio của Florida) cũng đã có thư cho TT Obama khuyến cáo phải đặt nặng vấn-đề nhân-quyền khi gặp ông Trương Tấn Sang để đảo ngược tình-hình nhân-quyền ngày càng tồi tệ.             Thứ Năm, 25/7, khoảng 1000 đồng-bào, đến từ khắp các tiểu-bang trên đất Mỹ và đến từ cả Canada (Toronto, Montreal, Vancouver...), thậm chí cả Pháp, có mặt ở Lafayette Park ngay trước Tòa Bạch Ốc để trương cờ vàng ba sọc đỏ và biểu-ngữ, hô những khẩu-hiệu đả đảo ông Trương Tấn Sang và phái-đoàn, cùng đòi hỏi phải thả ngay những tù-nhân lương-tâm nổi tiếng ở trong nước (Điếu Cày, Lê Quốc Quân, Nguyễn Văn Lý, Việt Khang, Nguyễn Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha, Tạ Phong Tần, Đỗ Thị Minh Hạnh v.v.).             Khác với kỳ Nguyễn Minh Triết sang năm 2007 phải đi vào bằng cửa hông, kỳ này Mỹ cho phái-đoàn ông Sang đi vòng trước mặt đoàn biểu tình có lẽ với dụng-ý để cho ông Sang và tùy tùng của ông thấy sức mạnh chính-trị của cộng-đồng người Mỹ gốc Việt.  Độc-nhất chỉ có một mình xe chở ông Sang là được lái vào đến tận thềm tòa nhà bên trong của dinh Tổng-thống Mỹ còn phái-đoàn tùy tùng thì phải xuống xe ở ngoài cổng chính để đi bộ vào.  Đi bộ vào như vậy phải mất 4-5 phút là ít và trong thời-gian này, phái-đoàn phải nghe đầy tai nhức óc những tiếng đả đảo, lên án của đoàn biểu tình.  (Về sau, chúng tôi được biết là ngay vào bên trong Tòa Bạch Ốc, các tiếng hô vang của đồng-bào ở ngoài nghe cũng vẫn rất rõ.) Cuộc gặp kéo dài hơn dự-tính             Cuộc gặp giữa TT Obama và ông Sang diễn ra dài hơn thời-gian dự-định dù như ngay sau đó, TT Obama đã phải lên đường đi Florida diễn-thuyết.  Những điều trao đổi có được ghi lại khá đầy đủ trong 3 trang chữ nhỏ của bản "Tuyên-bố chung" giữa hai ông do Tòa Bạch Ốc đưa ra sau đó.  Bản Tuyên-bố này cũng được tờ Nhân Dân in lại đầy đủ trong bản dịch tiếng Việt ngày hôm nay, tuy-nhiên đến đoạn này thì cũng phải cho phép tôi ngờ vực một chút: "Hai nhà lãnh đạo hoan nghênh việc thiết lập cơ chế đối thoại thường kỳ giữa hai Bộ trưởng Ngoại giao, và khuyến khích các cuộc đối thoại và trao đổi giữa các cơ quan đảng của hai nước." (NNB gạch dưới)  Hai đảng nào?  Phía VN thì ta biết tờ báo định nói đảng nào rồi nhưng phía Mỹ?  Hay tờ Nhân Dân tính cho Đảng Dân-chủ của ông Obama cũng cùng một ruộc với đảng CS của Hà-nội?             Ở đây không phải là chỗ để đi vào chi-tiết bản Tuyên-bố chung của hai bên Mỹ-Việt.  Chuyện này thì tôi cho sẽ có nhiều bình-luận-gia làm dài dài trong những ngày tới.  Tôi chỉ muốn nêu ra một hai điểm.             Trước hết là sự đánh giá của một tiếng nói ở trong nước.  Nguyên Anh trên Danlambao viết: "Chuyến công du Mỹ của người đứng đầu nhà nước CSVN Trương Tấn Sang đã hoàn toàn thất bại! Ngoài nhận được một lời hứa từ nguyên thủ cường quốc Hoa Kỳ sẽ xem xét cho VN gia nhập TPP vào cuối năm nay Trương chủ tịch không còn cái gì đem về VN khi Mỹ đã nắm hết thóp tình hình chính trị VN hiện nay. "Về quân sự Mỹ không bán khí tài và các quân cụ. "Về kinh tế chỉ là một hứa hẹn. "Về quốc phòng Mỹ không ký kết bất cứ văn kiện nào cam kết sẽ hỗ trợ VN khi anh Tư mong muốn họ sẽ đảm bảo an ninh khu vực bao gồm Biển Đông & Hoa Đông. "Cuối cùng anh Tư sẽ về với hai bàn tay trắng!" Và Nguyên Anh cho là ông Tư Sang đã lỡ một cơ-hội ngàn đời để gỡ bí cho Việt-nam.  Đó cũng là kết-luận của tôi khi tôi được thông-tấn-xã của Dòng Chúa Cứu Thế phỏng vấn tôi từ trong nước.  So với chuyến đi sang Tàu ông Sang đem 10 hiệp-định bất-bình-đẳng về, kỳ này ông Sang không đem được bất cứ cái gì cụ-thể về chỉ trừ những lời chia xẻ rất thẳng thắn của ông Obama về vấn-đề nhân-quyền: "Chúng tôi đã thảo luận những thách thức mà tất cả chúng ta đối mặt trong các vấn đề nhân quyền. Chúng tôi nhấn mạnh Hoa Kỳ tiếp tục tin rằng tất cả chúng ta phải tôn trọng các vấn đề như tự do bày tỏ, tự do tôn giáo, tự do hội họp. Và chúng tôi đã có đối thoại rất thẳng thắn cả về tiến bộ mà Việt Nam đang đạt được và những thách thức còn tồn tại." (NNB gạch dưới) Vì VN(CS) không có những nhượng-bộ về mặt này nên ông Sang đã phải về... tay không. Đạo đức giả của ông Sang còn có thể thấy ngay được cả trong hai lần ông cám ơn TT Obama đã giúp cho người Mỹ gốc Việt ổn định cuộc sống, thành đạt và đóng góp vào xứ này, kể cả về mặt "hoạt động chính trị" ("political activities") mà người thông-dịch của ông quên dịch.  Chứ không thì khá buồn cười!  Khi nghĩ lại là ông Sang qua câu đó, cám ơn các biểu-tình-viên đang la ó phái-đoàn của ông ngay ở ngoài cổng Tòa Bạch Ốc! DienDanCTM
......

Nhục Quốc Thể

Đón Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang tại sân bay chỉ là ông đại sứ David Shear. BẠN NGHĨ GÌ?   Bloger Trần Phương: Quốc trưởng một nước đến mà Tổng thống, Phó Tổng thống kể cả Bộ trưởng Ngoại giao cũng chẳng thèm ra đón tiếp. Đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội phải bay về Mỹ để ra phi trường đón ông chủ tịch nước Tư Sang của CHXHCNVN. Quả thực Bắc Bộ phủ sau bao năm trị vì đã đưa vị trí VN xuống tới mức không còn xuống được nữa. Thực là nhục cho quốc thể.   Bloger Hồ Hải: Tình hình mình thấy chuyến đi anh Tư kỳ này thất bại hoàn toàn ngay từ đầu cho thấy tất cả. Có cái gì đó rất khó hiểu cho cả 2 phía Việt Nam và phía Hoa Kỳ mà mình nghĩ có thể là: 1. Về phía Việt Nam ông đại sứ Việt tại Hoa Kỳ đã không chu đáo trong việc sắp xếp đón tiếp và nơi ăn chốn ở cho ông chủ tịch. Tại sao như vậy? 2. Về phía Hoa Kỳ thì họ chả mặn mà trong chuyến đi này qua cách họ đón tiếp và sắp xếp nơi ăn ở của ông chủ tịch. Tại sao vậy? Theo mình, về phía Việt Nam có thể do chuyến đi quá cập rập, nên chuẩn bị không tốt thì vô lý. Vì để chuẩn bị cho một bó hoa, một đoàn người Việt vào sân bay đó chủ tịch đâu khó? Hay là các anh lo đấu đá mà dẫn đến sự ê chề này? Về phía Hoa Kỳ quá nhạt lạnh trong nghi lễ đón tiếp một nguyên thủ quốc gia. Có phải vì Hoa Kỳ cho rằng khi chế độ mày không xem dân mày ra gì thì tao cũng chả cần phải quan tâm đến chuyện mày đến đây để nói hay làm cái gì. Hơn nữa, mày mới qua gặp Trung Hoa, thì chắc mày muốn đến để làm theo lệnh Trung Hoa, mà trước đó thằng Trung Hoa nó đã đến gặp tao tính hết mọi việc rồi. Thật là đau trong chuyện này. Mình thực sự thương cho chủ tịch, dù mình rất không hài lòng mà các anh đối xử với dân với nước trong 38 năm qua. Ai da, mình lại cảm tính mất rồi. Huhuhu, —  cảm thấy buồn.
......

Chúng ta sẽ không bao giờ mất anh

Nhà tù không hẳn là địa ngục nhưng phận tù đày là kiếp đày đọa nhất của mọi kiếp người. Và trong kiếp đày đọa ấy, vẫn có thêm một sự đọa đày.   Nếu anh Điếu Cày Nguyễn Văn Hải vẫn bị biệt giam trong buồng kỷ luật thì có nghĩa, anh đã bước sang ngày thứ 32 tuyệt thực trong “nhà tù của nhà tù”. Còn tôi, ngồi đây để gõ mấy con chữ vô nghĩa này, để nói về sự may mắn của mình. Tôi may mắn cả khi là một người tù. Tôi đã không phải bỏ mạng như người tù lương tâm Nguyễn Văn Trại, Trương Văn Sương sau hàng chục năm bị giam cầm. Hay người tù lương tâm, linh mục Nguyễn Văn Vàng, khi chết vẫn đang bị cùm và bị bỏ đói. Tôi không phải thoi thóp để nhìn quỹ thời gian của mình đang dần vụt mất như người tù thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu gần bốn mươi năm trời không nhìn thấy ngày trở về. Tôi may mắn hơn rất nhiều những người trong một khoảnh khắc bại trận đã bị biến thành tù nhân chỉ vì không biết dùng thủ đoạn và sự tàn ác với dân tộc mình để chiến thắng. Trong số những cựu quân nhân cán chính dưới thời Việt Nam Cộng Hòa, có người bị cầm tù đến tận hôm nay, đã hàng chục năm trời sau cái lần gọi là “giải phóng” ấy. Có người đã gửi lại thân xác (nguyên vẹn hoặc không nguyên vẹn) nơi chốn ngục tù. Nhiều đồng đội của họ vẫn còn bị cầm tù nơi nghĩa trang lạnh lẽo. So với những người tù hình sự (có tội hoặc không có tội), tôi cũng may mắn hơn. Họ, hầu hết không dám nhìn thẳng vào mặt những tên cai tù. Và nhìn sang những đứa trẻ phải theo mẹ vào tù để chung kiếp đọa đày, nhiều bé đã ra đời trong bốn bức tường giam, vẫn còn may mắn hơn nhiều bào thai khác không có cơ hội cất tiếng khóc chào đời dù trong chốn ngục tù. Tôi may mắn hơn các bé vì tôi là người tù đã ngoài ba mươi tuổi. Còn trước anh, Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, tôi thấy mình tầm thường và nhỏ bé. Trong buồng biệt giam, nơi có thể nghe rõ cả tiếng thở dài của người bạn tù buồng bên cạnh, Điếu Cày đối mặt với sự tĩnh lặng đến ghê người. Và lắng nghe cơ thể của mình - một hình hài đã trở nên quá mong manh - thay đổi qua từng ngày tuyệt thực. Nhưng anh đâu chỉ đối mặt với nỗi cô đơn tinh thần. Để đánh bại anh, chúng sẽ “lôi” Điếu Cày ra khỏi những suy tưởng của riêng mình, bắt anh chấp nhận một cuộc đấu cả bằng sức (vốn đã không còn) lẫn bằng trí. Một người luôn “dị ứng” và mẫn cảm với mọi sự sỉ nhục như Điếu Cày, hẳn sẽ không tiếc dù là chút sức lực cuối cùng để ném sự khinh bỉ và ghê tởm vào những tên cai tù, đang lăm lăm dùi cui và bản nhận tội viết sẵn dành cho anh. Tất cả chúng ta đang hướng về anh, tôi cũng như bạn. Nhưng tôi sẽ làm cái việc lần đầu tiên tôi làm: Kết thúc bài viết khi nó vẫn đang dang dở. Và tin rằng, chúng ta sẽ không bao giờ mất anh. Anh đã chiến thắng và anh sẽ sống. Nhà tù đã quỳ gối quy hàng trước anh, một người tù kiên gan và bền chí. Và chính anh, đang nâng đỡ chúng ta trong những phút giây yếu đuối này. Nguồn: thanh nghien pham
......

Nếu Blogger Điếu Cày ký vào bản nhận tội?

Vụ án Điếu Cày đặt ra những dấu hỏi tất yếu. Vụ bắt cóc ngay trên đường phố cho thấy tính dối trá, không dám chính danh của công quyền, khi bắt thì lu loa là buôn ma túy, khi xử án lại truy tố tội trốn thuế, một thứ tội “vớ vẩn” mà hàng chục nghìn doanh nhân thời nay đều mắc phải và có thể bị khởi tố bất cứ lúc nào nếu nhà nước muốn. Hết 30 tháng tù giam Điếu Cày không được về nhà, bị bắt lại ngay và truy tố tiếp tội tuyên truyền chống nhà nước (Điều 88). Rất lạ, hành vi gọi là “tuyên truyền chống nhà nước” không thể phát sinh trong 30 tháng ngồi tù, vậy sao trước đây không xử lại phải xử tội “trốn thuế”? Cuộc tù tiếp theo 12 năm đã là quá nặng, nhưng đáng nói hơn là sự khắt khe ngược đãi, điều kiện giam giữ khắc nghiệt và sự thăm hỏi giao lưu với người thân bị cản trở đến mức cực kỳ khó khăn nếu chưa muốn nói là tùy tiện, bất chấp luật pháp một cách vô nhân đạo. Không ai tin vào những cái cớ bề ngoài, ai cũng tự hỏi thực chất vụ án là gì, khiến cho nhà nước đối xử đặc biệt nghiệt ngã đối với một cựu chiến binh của chính chế độ, “tội” gì mà ghê gớm quá vậy? Qua thực tiễn, nghiệm ra rằng chỉ có mấy “tội” này là nặng nhất, bị nhà nước ta “ghét” nhất: thứ nhất là tội xúc phạm đến tình hữu nghị 16+4, hai là tội lập tổ chức “ngoài sự lãnh đạo”, ba là tội bướng – nhất định giữ khí phách, lương tâm và danh dự cá nhân, không chịu phục tùng. Ba “tội” hàng đầu này Điếu Cày đều dính cả, trọng tâm là tội thứ nhất, nói nôm là “tội chống Tàu xâm lược”! (Nếu các nhà lãnh đạo đất nước mắc được ba “tội” này thì đáng quý biết bao!). Tấm hình Điếu Cày cùng các bạn trẻ trương khẩu hiệu song ngữ “Hoàng Sa - Trường Sa là của Việt Nam” trước nhà hát thành phố HCM có sức cổ động lòng yêu nước của người Việt thế nào, phía Trung Quốc nhất định phải đọc. Phải chăng đây mới là xuất xứ thật của vụ án Điếu Cày? Sự điển hình cả về chất lượng “lương tâm” của người tù lương tâm cũng như sự đối xử khắc nghiệt của nhà nước Việt Nam đã khiến cho blogger Điếu Cày được Tổng thống Mỹ Barack Obama vinh danh trong ngày Tự do Báo chí Thế giới (3/5/2012) khi nhắc tới những ngòi bút bị tù đày vì đã can đảm đấu tranh cho dân chủ - nhân quyền: "Chúng ta không được quên [các nhà báo] như blogger Điếu Cày, người bị bắt giữ năm 2008 trùng hợp với một khối lượng đàn áp báo chí công dân ở Việt Nam". Trên cái nền của các sự kiện ấy, hãy đặt dấu hỏi vì sao đúng lúc này tự dưng trại giam cương quyết bắt Điếu Cày phải ký giấy nhận tội? Vì không chịu ký nên bị nhận một lệnh biệt giam ba tháng, dẫn đến cuộc tuyệt thực kinh hoàng một tháng này. Không phải ngẫu nhiên mà “sự cố Điếu Cày” nổ ra đúng lúc có hai cuộc viếng thăm của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang sang Trung Quốc và sang Hoa Kỳ. Thử tưởng tượng Tập Cận Bình biết tin Việt Nam quyết đàn áp một người chống Tàu Bành trướng ắt phải vui lòng, và lạy trời, nếu tên tù đó lại ký giấy nhận tội thì món quà này quả có giá trị không xoàng. Nhưng trong chuyến thăm Hoa Kỳ, nếu có được một bản nhận tội như thế để trình ra cho Tổng thống Obama biết rằng cái anh tù nhân lương tâm Điếu Cày mà ông từng vinh danh và can thiệp chẳng qua chỉ là một kẻ phạm luật hình sự Việt Nam, tội gây rối để chống chính quyền, hắn nhận tội rồi đây này! Thế thì đây là “cú tát nảy đom đóm”, liệu ông Obama còn có thể nói gì về nhân quyền Việt Nam, rồi từ nay dám lên tiếng bênh vực nữa hay thôi? Không biết “cú” này có bàn tay đạo diễn phương Bắc hay do ta tự nguyện hiến dâng? Tình thế nghiêm trọng không thể xem thường. Nhưng không, Điếu Cày không ký gì hết! Anh đã cứu một bàn thua chính trị cho đất nước và cho cả người bạn Obama. Giá trị của một khí phách kiên cường của người tù lương tâm ưu tú Điếu Cày Nguyễn Văn Hải biết lấy gì đo? Rất có thể Điếu Cày không có thông tin, không hiểu hết tình huống, anh không ký nhận tội chỉ vì bản tính anh như thế, lương tâm anh như thế, không, và quyết không chịu nói một lời nhận tội để phản bội đất nước, phản bội đồng đội và tự phản mình, mặc dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt như thế, nếu anh có một chữ ký “trá hàng” cũng đáng được thông cảm, không ai nỡ trách. Ít người làm được, vì cái giá phải trả cho khí phách kiên cường quá lớn. Ngót một tháng tuyệt thực, bốn gói mì tôm do quản giáo quẳng vào vẫn còn nguyên không lay động nổi lòng người chiến sĩ. Người tù đã lả đi, yếu lắm. Không thể tự đi, tự ngồi, cái đầu vẫn hiên ngang tự bên trong nhưng sức nặng bên ngoài của cái vỏ đã cần đến hai cánh tay gầy trơ xương chống đỡ mới không gập xuống. Con anh nhìn bố mà không thể nhận ra hình hài bố mình. Xót thương, xót lòng tất cả những người Việt Nam còn lương tâm và lý trí. Nhưng tất cả chúng ta càng nhận ra anh, rõ nét và mãnh liệt hơn bao giờ hết, vì hình hài này đang sống trong tất cả chúng ta, cho tất cả chúng ta. Từng phút một, hình hài đáng quý trọng ấy có thể giã từ chúng ta, làm thế nào loại trừ để khả năng đáng ân hận ấy không thể xảy ra, không được xảy ra? Câu hỏi xé lòng! Đà Lạt, 22/7/2013 H. S. P. Tham khảo: gocomay.wordpress.com Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.
......

36 Dân Biểu Hoa Kỳ lên tiếng về tình trạng nhân quyền tại Việt Nam.

Ngày 23 tháng 7, 2013 Tổng Thống Barack Obama Tòa Bạch Ốc 1600 Pennsylvania Avenue NW Washington, DC 20500 Kính thưa Tổng Thống Obama,   Chúng tôi viết thư để bày tỏ sự quan tâm sâu sắc về những vi phạm nhân quyền đang xảy ra liên tục tại Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Chính quyền Việt Nam luôn coi thường những quyền tự do căn bản, bao gồm các quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận và tự do tôn giáo. Chính quyền Việt Nam vẫn tiếp tục các hành vi bắt bớ và giam cầm tùy tiện những công dân chỉ vì họ chỉ trích chính quyền, trong đó có nhiều nhà hoạt động dân chủ và nhân quyền được nhiều người biết đến. Chính quyền Việt Nam cũng thường xuyên có những hành vi đàn áp các dân tộc và các tôn giáo thiểu số với những bằng chứng kỳ thị và đàn áp mà không ít lần đã dẫn tới những hành vi bạo lực đối với các dân tộc như Khmer Krom, Montagnards, Hmong, và các tín đồ Công giáo, Tin lành, Phật giáo, và còn nhiều nhóm người khác nữa. Vào ngày 25 tháng 7, Ông sẽ có cơ hội để đưa các vấn đề này lên hàng đầu trong buổi hội kiến với Chủ Tịch Nước Việt Nam Trương Tấn Sang tại Tòa Bách Ốc. Trước tình hình nhân quyền tại Việt Nam ngày một xấu đi, chúng tôi kêu gọi Tổng Thống bày tỏ lập trường mạnh mẽ trong việc áp lực chính quyền Việt Nam phải tuân theo các quyền tự do căn bản đã được quy địnhi trong chính Hiến Pháp của nước Việt Nam. Chúng tôi kêu gọi Tổng Thống hãy yêu cầu ông Sang phải có những giải pháp để cải thiện tình trạng nhân quyền và chấm dứt đàn áp các tiếng nói đối kháng tại Việt Nam. Đây là quan điểm được sự ủng hộ nhất trí của lưỡng đảng trong Quốc Hội. Vào ngày 27 tháng 6, Uỷ Ban Đối Ngoại Hạ Viện đã đồng thuận thông qua H.R. 1897, Dự luật Nhân Quyền Việt Nam. Đây là một dự luật với nhiều biện pháp mạnh mẽ cho thấy sự quan ngại của Hoa Kỳ về những vi phạm nhân quyền tại Việt Nam. Thêm vào đó, chúng tôi kêu gọi Tổng Thống hãy đặt việc cải thiện nhân quyền làm điều kiện với Việt Nam trong dự tính tham gia Hiệp Định Thương Mại Xuyên Thái Bình Dương. Chúng tôi tin rằng Hoa Kỳ phải tỏ rõ sự cương quyết trong việc cổ võ cho quyền căn bản và quyền tự do cho tất cả mọi người, trong đó có người dân Việt Nam. Chúng tôi mong được tiếp tục làm việc cùng với nội các của Tổng Thống để chúng ta cùng tiếp tục cải thiện nhân quyền tại Việt Nam. Kính, Các Dân Biểu Quốc Hội Hoa Kỳ đồng ký tên: ALAN LOWENTHAL WILLIAM R. KEATING JANICE HAHN GERALD CONNOLLY JAMES P. MCGOVERN ERIC SWALWELL RANDY WEBER JULIA BROWNLEY TED DEUTCH LOIS FRANKEL LORETTA SANCHEZ GRACE MENG RAUL RUIZ, M.D. ZOE LOFGREN MARK TAKANO JUDY CHU SUSAN DAVIS JUAN VARGAS GRACE NAPOLITANO JARED HUFFMAN MICHAEL M. HONDA MICHAEL MICHAUD SHEILA JACKSON LEE ELIOT ENGEL HENRY A. WAXMAN GEORGE MILLER ILEANA ROS-LEHTINEN BRAD SHERMAN DANA ROHRABACHER JAN D. SCHAKOWSKY CHRISTOPHER H. SMITH SCOTT PETERS ADAM SCHIFF LINDA SANCHEZ DORIS MATSUI JOHN GARAMENDI GENE GREEN  
......

Dân biểu Hoa Kỳ họp báo về tình trạng nhân quyền tại Việt Nam

Vào sáng ngày 23/7/2013, tức 2 ngày trước cuộc hội kiến giữa Chủ tịch nước CHXHCNVN Trương Tấn Sang và Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama, một cuộc họp báo của các dân biểu Hoa Kỳ đã diễn ra ngay trước tiền đình Quốc Hội Mỹ. Các dân biểu hiện diện bao gồm bà Loretta Sanchez, ông Chris Smith, ông Alan Lowenthal, bà Susan Davis, và ông Ed Royce - Chủ tịch Ủy ban Đối Ngoại Hạ Viện. Cùng có mặt là các vị đại diện của các tổ chức nhân quyền quốc tế: Freedom House, Reporters Without Borders (Phóng Viên Không Biên Giới); và đại diện các tổ chức đấu tranh cho nhân quyền Việt Nam: Nghị Hội Toàn Quốc Người Mỹ Gốc Việt, Ủy Ban Vận Động Chính Trị cho Nhân Quyền Việt Nam, Đảng Việt Tân, Đặc biệt có sự hiện diện của ông Đoàn Hữu Định, Chủ tịch Ban Chấp Hành Cộng Đồng Người Việt tại Washington DC, Virginia, và Maryland và cũng là trưởng ban tổ chức cuộc biểu tình vào ngày 25/7 khi cuộc hội kiến đang diễn ra tại Nhà Trắng. Từng diễn giả đã trình bày chi tiết và đưa ra các trường hợp cụ thể về tình trạng vi phạm nhân quyền ngày càng trầm trọng tại Việt Nam. Các dân biểu thay mặt cho cộng đồng cử tri đồng thanh yêu cầu Tổng Thống Obama hãy đứng với dân tộc Việt Nam và có thái độ mạnh mẽ đối với những kẻ đang chà đạp nhân quyền tại đất nước này. Đặc biệt một bức thư chung của 35 gia đình Tù Nhân Lương Tâm gởi Tổng Thống Obama đã được công bố trong dịp này. Cuộc họp báo hôm nay đã bắt đầu chuỗi hành động  tranh đấu cho nhân quyền Việt Nam trong 2 ngày sắp tới để dàn chào chuyến viếng thăm Hoa Kỳ của ông Trương Tấn Sang. Quốc Huy, Hồng Giang tường trình từ Washington DC Những tiếng nói chung cho Nhân Quyền Việt Nam trước ngày hội kiến Bên cạnh các bài phân tích, bình luận về cuộc hội kiến sắp tới giữa Chủ tịch nước CHXHCNVN Trương Tấn Sang và Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama, chúng tôi đặc biệt ghi nhận sự xuất hiện của các bản lên tiếng chung dồn dập từ nhiều hướng sau đây: -         Bức thư chung mang chữ ký 82 nhà trí thức Việt Nam gởi ông Trương Tấn Sang, với lời kêu gọi hãy đừng bỏ lỡ "thời cơ thuận lợi để đẩy tới công cuộc 'giải Hán hóa' mà dân tộc ta bao đời nung nấu, quyết thoát khỏi quỹ đạo Trung Quốc hội nhập vào thế giới dân chủ, văn minh." (http://diendanctm.blogspot.com/2013/07/tri-thuc-vn-uu-tu-ve-van-nuoc-gui...) -           Bức thư chung của 35 gia đình Tù Nhân Lương Tâm gởi ông Obama, với lời kêu gọi: "Tổng thống yêu cầu Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và nhà nước Việt Nam trả tự do cho tất cả tù nhân lương tâm đang bị giam giữ, trước khi Mỹ đặt bút ký quan hệ đối tác với Việt Nam." (http://diendanctm.blogspot.com/2013/07/gia-inh-cac-tu-nhan-luong-tam-vie...) -           Bản lên tiếng chung của 12 tổ chức quần chúng  người Việt phân tích rằng: "Việc Tổng Thống Barack Obama can thiệp một cách nghiêm chỉnh và mang lại kết quả cụ thể cho các tù nhân lương tâm trên đây sẽ cho thấy Hoa Kỳ tuân thủ cam kết của mình, luôn đặt dân chủ và nhân quyền, những hòn đá tảng của nền cộng hòa Mỹ, lên trên những toan tính lợi ích tầm thường, dù thương mại hay quân sự." (http://diendanctm.blogspot.com/2013/07/cac-to-chuc-quan-chung-len-tieng-...) -           Bức thư chung của 18  tổ chức nhân quyền quốc tế gởi ông Obama, với lời kêu gọi can thiệp cụ thể cho luật sư nhân quyền Lê Quốc Quân đang bị giam cầm: "Vì tầm quan trọng to lớn của sự chú ý của thế giới về nỗ lực đem lại tự do cho ông Quân cũng như giúp cho ông được trở lại với các hoạt động nhân quyền cần thiết, chúng tôi hy vọng Ông nắm bắt cơ hội qua cuộc viếng thăm của Chủ tịch Sang sắp tới để yêu cầu ông Quân được thả ngay lập tức." (http://diendanctm.blogspot.com/2013/07/diendanctm-hom-nay-23-7-2013-tai....) Ngoài ra, chúng tôi cũng được biết  một bức thư về tình trạng nhân quyền Việt Nam, mang chữ ký của 37 dân biểu, nghị sĩ Hoa Kỳ, vừa được Dân biểu Lowenthal trao tận tay Tổng Thống Obama vào sáng hôm nay.    Diễn văn bằng Anh ngữ trong cuộc họp báo. Ông Hoàng Tứ Duy, phát ngôn viên đảng Việt Tân: "Để phát huy hết tất cả tiềm năng của người dân và nền kinh tế VN, xã hội VN phải là một nơi mà người sinh viên có thể tìm thông tin online mà không bị chặn, một blogger viết bài mà không bị bắt". Opportunity for President Obama to redefine U.S.-Vietnam relations Viet Tan July 23, 2013 The United States is correct in recognizing Vietnam as a strategic nation. With its dynamic population and enormous economic potential, Vietnam has the potential to contribute to a stable and prosperous region. But Vietnam is also the new Myanmar in terms of repression. The Hanoi regime continues to detain peaceful activists, censor the Internet and block the development of civil society. The number of political trials has increased over the last year. When they meet this week, President Obama should remind Truong Tan Sang that the key to unleashing Vietnam’s economic potential and ensuring its security is empowering its people. This can only happen through true political freedom, starting with the release of activists such as human rights attorney Le Quoc Quan, blogger Dieu Cay and musician Viet Khang. If the U.S. is to develop a strategic relationship with Vietnam, it must be a Vietnam where university students can freely blog about the country’s foreign policy challenges and citizens can peacefully demonstrate for their country’s territorial interests. It must be a Vietnam in which the role of the military is to defend the homeland, not a political regime. Likewise, if the U.S. is to complete a high standard Trans-Pacific Partnership Agreement with Vietnam, Hanoi must respect the rule of law and international norms. Unfortunately, this is not the case in the Socialist Republic of Vietnam where the government applies tax evasion charges to silence dissent and flaunts its international commitments on human rights. Virtually all Vietnamese welcome closer ties with the U.S. In many ways, the interests of Americans and Vietnamese are aligned on economic engagement, regional security and political openness. President Obama has the opportunity now to stand with the Vietnamese people. Truong Tan Sang is the president of the Socialist Republic of Vietnam, but the people have never elected him to office. In the short term it may be necessary for Washington to deal with autocrats. To advance long-term U.S.-Vietnam interests, President Obama must heed the words from his second inaugural address: “our interests and our conscience compel us to act on behalf of those who long for freedom.” Contact: Duy Hoang +1.202.596.7951 http://www.viettan.org/Opportunity-for-President-Obama-to.html Quốc Huy, Hồng Giang, Thế Quyên tổng hợp Nguồn: DiendanCTM
......

18 NGO gởi thư đến TT Obama yêu cầu thả Ls. Lê Quốc Quân

(Ấn bản anh ngữ đính kèm bên dưới) Kính gởi Tổng Thống Hoa Kỳ Tòa Bạch Ốc 1600 Pennsylvania Ave. NW Washington, DC 20500 Bản sao kính gởi:Ngoại trưởng John Kerry Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ Ngày 23 tháng 7, 2013 Thưa ông Tổng Thống, Các tổ chức ký tên dưới đây trân trọng yêu cầu Ông nêu vấn đề với nhà cầm quyền Việt Nam về việc bắt giữ và giam cầm tùy tiện ông Lê Quốc Quân, một luật sư, blogger và nhà đấu tranh nhân quyền nổi bật. Chúng tôi được biết ông Trương Tấn Sang, Chủ tịch nước Việt Nam sẽ hội kiến ông vào ngày 25 tháng 7, 2013, và chúng tôi thành khẩn mong Ông dùng cơ hội này để trao đổi về trường hợp của Lê Quốc Quân. Ông Quân là một luật sư đủ tư cách và là một blogger năng nổ hiện đang bị giam cầm vì đã thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp và lập hội ôn hòa, và vì các hoạt động tranh đấu nhân quyền của ông. Trước khi bị bắt, trên trang blog nổi tiếng của mình, ông đã phơi bày các vụ vi phạm nhân quyền mà các cơ quan truyền thông của Nhà nước Việt Nam thường phớt lờ. Trước khi bị tịch thu giấy phép hành nghề luật sư năm 2007, ông Quân đã bào chữa các vụ án nhân quyền tại tòa; ông đã bị bắt giam trong 100 ngày khi ông trở về Việt Nam năm 2007 sau chuyến đi Hoa Kỳ, tại đó ông từng là một cựu nghiên cứu sinh của chương trình Reagan-Fascell tại Học viện Quốc gia Hỗ trợ Dân chủ (National Endowment for Democracy). Vào tháng 4 năm 2011, ông bị bắt giữ một lần nữa và sau đó được trả tự do mà không bị buộc tội. Vào tháng 8 năm 2012, ông Quân bị đả thương nghiêm trọng trong một vụ hành hung mà ông nghi là do bàn nhân viên Nhà nước. Ngày 27 tháng 12 năm 2012, ông Quân lại bị bắt và bị buộc tội “trốn thuế”. Ông đã bị biệt giam trong vòng hai tháng đầu tiên và tuyệt thực 15 ngày. Ngay lúc này ông Quân vẫn đang bị giam cầm và không được phép gặp gia đình. Phiên xử dự kiến diễn ra vào ngày 9 tháng 7, 2013, nhưng đã bị hoãn vào giờ chót mà chưa được thông báo ngày xử mới. Việc bắt và giam giữ ông Quân vi phạm những cam kết quốc tế, đặc biệt ở điều khoản 19, 21 và 22 của Công Ước Quốc Tế về Các Quyền Dân Sự và Chính Trị. Các điều khoản này buộc nhà nước có nhiệm vụ phải bảo vệ quyền tự do ngôn luận, hội họp và lập hội của ông Quân. Cách đối xử với ông cũng đi ngược lại nhiệm vụ của nhà nước phải bảo đảm và bảo vệ các quyền hạn của người hoạt động nhân quyền, như đã liệt kê trong bản Tuyên Ngôn của Liên Hiệp Quốc về Những Nhà Bảo Vệ Nhân Quyền. Nhiều thông tin chi tiết hơn về ông Lê Quốc Quân và sự can thiệp bất hợp pháp đối với các quyền con người của ông được trình bày trong bức Thư Tố Cáo kèm theo đây, bức thư gần đây đã được gởi đến những Báo Cáo Viên Đặc Biệt của Liên Hiệp Quốc. Vì tầm quan trọng to lớn của sự chú ý của thế giới về nỗ lực đem lại tự do cho ông Quân cũng như giúp cho ông được trở lại với các hoạt động nhân quyền cần thiết, chúng tôi hy vọng Ông nắm bắt cơ hội qua cuộc viếng thăm của Chủ tịch Sang sắp tới để yêu cầu ông Quân được thả ngay lập tức. Xin cảm ơn Ông đã lưu tâm đến những yêu cầu của chúng tôi. Xin hãy liên lạc với chúng tôi nếu Ông có câu hỏi hoặc cần thêm thông tin. Trân trọng, Media Legal Defence Initiative (MLDI) Nani Jansen Senior Legal Counsel Access Jochai Ben-Avie Policy Director Action des chrétiens pour l’abolition de la torture (ACAT) François Picart Chairman Article 19 Agnes Callamard Executive Director Réseau Avocats Sans Frontières / ASF Network Anne Lutun ASF Network Coordinator Electronic Frontier Foundation Eva Galperin Global Policy Analyst English PEN Robert Sharp Head of Campaigns and Communications Front Line Defenders Mary Lawlor Executive Director Human Rights Watch John Sifton Asia Advocacy Director International Federation for Human Rights (FIDH) Karim Lahidji President Lawyers for Lawyers (L4L) Adrie van de Streek Executive Director Media Defence - Southeast Asia HR Dipendra Director National Endowment for Democracy Sally Blair Senior Director, Fellowship Programs PEN American Center Larry Siems Director, Freedom to Write and International Programs Reporters Without Borders Christophe Deloire Director-general Southeast Asian Press Alliance Gayathry Venkiteswaran Executive Director Vietnam Committee on Human Rights Vo Van Ai President World Movement for Democracy Art Kaufman Senior Director -------------------------------------------------------------------------------- The President of the United States The White House 1600 Pennsylvania Ave. NW Washington, DC 20500 Copy to:The Honourable John Kerry Secretary U.S. Department of State 23 July 2013 Dear Mr President, The signatory organisations respectfully request that you raise with the Vietnamese Government the arrest and arbitrary detention of Mr Le Quoc Quan, prominent lawyer, blogger and human rights defender. We understand that President Truong Tan Sang of Vietnam will meet with you on 25 July 2013 and we sincerely hope that you will take this opportunity to discuss Mr Quan’s case with him. Mr Quan is a qualified lawyer and active blogger who is currently detained for exercising his rights to freedom of expression, association, and peaceful assembly, and for his activities as a human rights defender. Prior to his arrest, Mr Quan exposed human rights abuses commonly ignored by Vietnamese state media on his popular blog. He defended human rights cases in the Vietnamese courts until he was disbarred in 2007, when he was arrested and detained for 100 days upon his return from the United States where he had been a Reagan-Fascell Democracy Fellow at the National Endowment for Democracy in Washington, D.C. In April 2011, Mr Quan was arrested again and ultimately released without charges. In August 2012, he was severely injured in a violent attack committed by what he believes were State agents. On 27 December 2012, Mr Quan was arrested and charged with alleged ‘tax evasion.’ He was detained incommunicado for the first two months and went on hunger strike for fifteen days. At this moment, Mr Quan is still imprisoned and is not allowed visits from his family. His trial was scheduled to take place on 9 July 2013, but was postponed at the last moment until further notice. Mr Quan’s arrest and detention are in violation of Vietnam’s obligations under international law, in particular Articles 19, 21 and 22 of the International Covenant on Civil and Political Rights, which impose duties on the government to protect Mr Quan’s rights to freedom of expression, association and peaceful assembly. His treatment also contravenes state duties set out in the UN Declaration on Human Rights Defenders, to ensure and protect the rights of human rights defenders. More detailed information about Mr Quan and Vietnam’s unlawful interference with his human rights is set forth in the attached Letter of Allegation recently sent to the Special Rapporteurs of the United Nations. Given the great importance of international attention to the effort to secure Mr Quan’s freedom, and to enable him to return to his indispensable human rights work, we hope you will seize the opportunity of President Sang’s upcoming visit to request the immediate release of Mr Quan. Thank you for your kind consideration of our request. Please do not hesitate to have your staff contact us should you have any questions or need any additional information about this important case. Most respectfully, Media Legal Defence Initiative (MLDI) Nani Jansen Senior Legal Counsel Access Jochai Ben-Avie Policy Director Action des chrétiens pour l’abolition de la torture (ACAT) François Picart Chairman Article 19 Agnes Callamard Executive Director Réseau Avocats Sans Frontières / ASF Network Anne Lutun ASF Network Coordinator Electronic Frontier Foundation Eva Galperin Global Policy Analyst English PEN Robert Sharp Head of Campaigns and Communications Front Line Defenders Mary Lawlor Executive Director Human Rights Watch John Sifton Asia Advocacy Director International Federation for Human Rights (FIDH) Karim Lahidji President Lawyers for Lawyers (L4L) Adrie van de Streek Executive Director Media Defence - Southeast Asia HR Dipendra Director National Endowment for Democracy Sally Blair Senior Director, Fellowship Programs PEN American Center Larry Siems Director, Freedom to Write and International Programs Reporters Without Borders Christophe Deloire Director-general Southeast Asian Press Alliance Gayathry Venkiteswaran Executive Director Vietnam Committee on Human Rights Vo Van Ai President World Movement for Democracy Art Kaufman Senior Director Nguồn: NGOs
......

Pages