2013

Một Số Thiển Ý Cần Chia Xẻ

Có lẽ tôi dành quá nhiều sự quan tâm và giấy mực cho cuộc chuyển hóa Dân chủ ở Miến Điện. Nhưng rõ ràng đó là một hình mẫu mà những người Việt Nam tranh đấu cho Dân chủ phải lưu tâm. Bởi, nếu thành công của họ sẽ cổ vũ chúng ta, thì những khó khăn hiện tại sẽ làm nản lòng không ít người quan tâm. Ngày 14 tháng 3 vừa qua, bà Aung San Suu Kyi đã xuất hiện tại mỏ đồng Monywa và đã phải đối diện với sự giận dữ của người dân địa phương, khi bà đến khuyên họ chấm dứt biểu tình chống dự án khai thác đồng liên doanh với Trung Quốc này, vì theo bà, điều đó sẽ làm tổn hại nền kinh tế quốc gia. Thứ nữa, đến nay, mâu thuẫn giữa người Phật giáo đa số và người Hồi giáo thiểu số vẫn chưa có cách giải quyết, những nhóm sắc tộc ở vùng biên giới- thân Trung cộng vẫn giữ lập trường chống đối chính quyền Miến Điện và cũng không có quan hệ tốt với bà Suu Kyi. Những khó khăn đó khiến không ít người kỳ vọng vào bà Suky, vào cuộc chuyển hóa ở Miến Điện cảm thấy hụt hẫng. Có nhiều nguồn dư luận cho là bà có xu hướng đi gần lại với giới quân phiệt, thiếu khả năng chính trị, thiếu kinh nghiệm nghị trường… Nhiều người còn cho là giải pháp kinh tế nên đi trước giải pháp chính trị để đảm bảo thành công cho nền dân chủ, rằng Dân chủ quá sớm cũng không phải là tốt. Tôi e rằng, một số người còn lấy những khó khăn trong bối cảnh chính trị tại Miến Điện hiện nay để chứng minh rằng: những người dân chủ đối kháng với chính quyền độc tài cũng không thể giải quyết khó khăn cho quốc gia, đứng một phía để chỉ trích luôn dễ dàng hơn làm người trong cuộc… Đứng trước những phân tích có lợi cho các chính quyền độc tài đó, cá nhân tôi có một vài thiển ý sau: 1. Thứ nhất, liên quan đến câu chuyện thỏa hiệp. Mong muốn một cuộc chuyển hóa ôn hòa, không đổ máu luôn là một điều đáng trân trọng; nhưng một sự thỏa hiệp với chính quyền độc tài bỏ qua Công lý (vẫn đảm bảo địa vị lãnh đạo, tài sản, cũng như không truy tố các lãnh đạo độc tài) luôn là một quyết định đầy thách thức, sẽ gây chia rẽ lớn trong hàng ngũ những người đấu tranh đòi Dân chủ và làm tổn thương niềm tin vào lẽ Công bằng. Những tội ác của các chính quyền độc tài có thể được một phe nhóm thỏa hiệp bỏ qua, nhưng điều đó không có nghĩa là nó cũng được những nạn nhân và dư luận dân chúng nói chung khoan thứ. Những bất công đã ăn sâu trong xã hội không thể nói gạt sang một bên là được. Trong trường hợp Miến Điện, khi chấp nhận đối thoại với chính quyền độc tài và thỏa hiệp để trở thành Nghị sĩ, bà Suu Kyi và đảng của bà đã tự đẩy mình ra xa khỏi những nhóm đấu tranh đối lập khác và những nạn nhân của chế độ. Ở đó, chỉ có nhóm của bà từ vị trí đối kháng trở nên những người đồng sự với chính quyền, còn nhiều phe phái và nhiều người dân thường khác vẫn chưa tìm thấy lý do để tin tưởng và hợp tác với chính quyền. Hơn nữa, sau nhiều năm bị quản thúc và đàn áp, thiếu trải nghiệm trên nghị trường, bà và đảng NLD sẽ phải xoay xở khó khăn trong môi trường chính trị ngột ngạt vì ưu thế nghiêng về tập đoàn quân phiệt. Bà đã trao cho họ thứ mà họ cần, đó là tính chính đáng; họ trao lại cho đảng của bà những chiếc ghế nghị sĩ bị siết chặt bởi sức ép tương quan lực lượng. Càng đi gần với chính quyền, bà càng xa lòng dân – thứ quý giá mà không phải lãnh đạo chính trị nào cũng có được. Đó là một cái giá không rẻ và người Việt chúng ta phải coi chừng! 2. Thứ hai, liên quan đến những chỉ trích về biểu hiện của bà Suu Kyi. Nền kinh tế và cả xã hội Miến Điện lụn bại và chưa thoát ra khỏi sự kềm tỏa của Trung Quốc, sau nhiều năm dưới chế độ độc tài. Họ đã và sẽ còn vô số nan đề cần giải quyết. Những vấn đề đó, hoặc do đặc thù của xã hội Miến Điện, hoặc do chính quyền độc tài tạo ra từ lâu, nay họ trao lại cho bà. Họ giải quyết không được, không sao, nhưng nếu bà vướng vào những rắc rối ấy, thì phe quân sự đã thành công trong việc làm giảm uy tín của bà. Bà trở thành bia đỡ đạn thay cho họ. Họ có thể vô hiệu hóa bà một cách rất… lịch sự. Qua câu chuyện này, trước khi có những nản lòng không cần thiết, chúng ta nên cùng nhau suy nghiệm lại. Thực ra, Dân chủ là một quá trình, không phải là một phép mầu có khả năng tháo gỡ mọi vấn nạn trong một sớm một chiều. Chúng ta nên tự hỏi, chúng ta đòi hỏi Tự do Dân chủ vì điều gì? Tất nhiên không phải là nhằm thủ đắc một cỗ máy sản xuất ra những chính trị gia kiệt xuất. Chúng ta đấu tranh vì một niềm tin rằng, chế độ dân chủ là chế độ khả dĩ nhất cho đến nay, giải quyết các vấn đề quốc gia dựa trên giá trị tự do, sự đồng thuận và lòng khoan dung. Chế độ Dân chủ không nhất thiết tạo nên những anh hùng trong chính trị, mà tạo ra cơ hội vận động nguồn năng lực trí tuệ quốc gia một cách sâu rộng nhất. Vì thế, dẫu cho quả thực bà Suu Kyi hay các chính trị gia dân chủ trong tương lai của Việt Nam thiếu một số kỹ năng chính trị cần thiết, điều đó cũng không làm thối chuyển niềm tin của chúng ta vào Dân chủ. Thí dụ, những năm dưới thời Lech Walesa và nhiều năm sau đó, Ba Lan đã gặp phải nhiều khó khăn kinh tế- chính trị, nhưng hãy nhìn Ba Lan ngày nay xem! Dân chủ có thể không ngay tức khắc đưa một nhóm lãnh đạo tài giỏi lên nắm quyền, nhưng nó sẽ mở ra cánh cửa lớn để con cháu chúng ta chọn được những nhà lãnh đạo như thế lên điều hành đất nước trong tự do và thượng tôn pháp luật. Đó mới là phép mầu thực sự của Dân chủ. Mọi khởi đầu luôn khó khăn, nhưng không bắt đầu, chúng ta sẽ không có cơ hội nào cả. 3. Thứ ba, liên quan đến các mối bất ổn xã hội. Các sắc tộc thiểu số ở vùng rừng núi Miến Điện giáp giới Trung Quốc đến nay vẫn mâu thuẫn với chính quyền Miến Điện, cũng không muốn có mối giao hảo với NLD và gần đây xung đột đã leo thang. Có ai dám đảm bảo, ở đây không có “bàn tay đen” của Trung Quốc nhúng vào? Và sẽ rất chủ quan nếu chúng ta nghĩ rằng, Việt Nam sẽ không vướng vào tình trạng tương tự. Cũng như Miến Điện, Việt Nam có đường biên giới dài với Trung Quốc. Trung Cộng không chỉ khống chế, mua chuộc lãnh đạo độc tài ở Trung ương, họ còn cài cắm người ở những khu vực biên giới và mua chuộc các sắc dân vùng biên giới. Dưới chế độ độc tài, mâu thuẫn giữa các sắc dân thiểu số với chính quyền đa số được kiềm chế với sắp xếp ngầm từ Trung Nam Hải, các mâu thuẫn chỉ hiện diện đủ để được dùng như lá bài cho Trung Quốc gây sức ép, tạo sự lệ thuộc lên các chính quyền Trung ương tay sai. Nhưng khi quá trình chuyển tiếp dân chủ xảy ra, các mâu thuẫn đó sẽ được khuếch trương và được bật đèn xanh cho bùng đổ nhằm phá hoại nỗ lực xây dựng Dân chủ. Trung Quốc luôn tỏ ra là bậc thầy trong việc vận dụng chiêu bài này trong quan hệ quốc tế, mà sự điên cuồng của Bắc Triều Tiên là một ví dụ đặc sắc. Bởi vậy, sẽ không mấy ngạc nhiên nếu xã hội Việt Nam im ỉm dưới chế độ độc tài, nhưng sẽ nổi dậy sùng sục từ mọi phía khi quá trình chuyển tiếp bắt đầu. Đó là vận mệnh của các tiểu quốc nằm cạnh gã hàng xóm khổng lồ bất hảo. 4. Thứ tư, liên quan đến chỉ trích rằng bà Suu Kyi đi gần lại với giới quân phiệt. Như một ai đó đã nói đại loại: không có nền Dân chủ không đảng phái. Điều đó cho thấy vai trò của các đảng phái chính trị trong việc tạo ra một không gian cạnh tranh cầu thị trong chính trị dân chủ. Nhưng chỉ có đảng phái chính trị thôi chưa đủ, bởi nếu xã hội dân sự (XHDS) không trưởng thành, chính trường sẽ chỉ là nơi ngã giá, chia phần của các đảng phái, và tự do của người dân chỉ là bargaining chip giữa họ. Người ta sẽ rất khó khăn để tập hợp lại, chia sẻ và cùng làm việc trong tinh thần vô vị lợi như trong các NGOs, nhưng họ rất dễ kết hợp lại thành phe phái để giành quyền lãnh đạo chính trị. Vì thế, người Việt không sợ Việt Nam tương lai thiếu đảng phái, chỉ sợ xã hội dân sự không đủ mạnh để giám sát các chính trị gia. Nhìn vào trường hợp Miến Điện, với khát khao và sự đấu tranh cho dân chủ, họ đã có một cuộc chuyển hóa ôn hòa. Nhưng với cuộc chuyển hóa đó, nhà lãnh đạo đấu tranh dân chủ nay đã trở thành chính trị gia. Nếu trước đó, bà Suu Kyi đại diện cho lực lượng đối lập và các thành phần xã hội phản đối chính quyền; thì nay khi đã trở thành một chính trị gia, theo logic dân chủ, chính bà cũng cần bị áp lực và giám sát. Nếu chỉ có đảng phái đối lập mà không có XHDS thì khi quá trình chuyển tiếp xảy ra, một khoảng trống lớn sẽ xuất hiện, sẽ không còn lực lượng nào đối trọng với quyền lực chính trị. Bởi vậy, có thể nói, không có XHDS sẽ không có dân chủ thực sự, cho dù có đa đảng và bầu cử tự do. Miến Điện đang trong quá trình chuyển tiếp, người Miến Điện phải nỗ lực xây dựng khối dân sự để tiến tới một nền dân chủ đúng nghĩa, vì chính trị luôn tiềm ẩn nguy cơ phản bội. Và đó cũng là bài học cho Việt Nam. Thiển nghĩ, sự độc lập nhất định của các nhà vận động dân sự khỏi sự khuynh loát của các phe phái chính trị là cực kỳ cần thiết trong tình hình Việt Nam hiện nay. Tôi không tin rằng giải pháp kinh tế đi trước cải cách chính trị (trong một thời gian không xác định) là tốt. Hãy nhìn vào một thí dụ điển hình: Trung Quốc. Là một quốc gia thành công (?!) trong giải pháp kinh tế của mình, Trung Quốc vẫn chưa cho thấy một triển vọng dân chủ khả quan nào cả. Bỏ qua mọi ngụy biện có lợi cho các chính quyền độc tài, Dân chủ không mang tới bất ổn mà mang tới khả năng giải quyết bất ổn một cách hài hòa, dù trước mắt nó không thể ngay lập tức xóa bỏ mọi di sản tồi dở chồng chất từ lịch sử và từ chế độ độc tài. Dân chủ cũng không phải là việc trao quyền lực từ tay nhóm người này sang nhóm người khác mà là sự vận hành một cơ chế thông minh, nhân bản, tự do và khoan dung nhất trong lịch sử nhân loại. Những rắc rối đang xảy ra ở Miến Điện càng khiến chúng ta thận trọng hơn khi nghĩ đến giải pháp thỏa hiệp và chúng ta càng nỗ lực hơn để có những chuẩn bị thích hợp cho công cuộc dân chủ hóa của mình. Một sự khởi động về phía dân chủ càng sớm, khả năng tận dụng cơ hội của đất nước sẽ càng lớn. Huỳnh Thục Vy Tam Kỳ tháng 4 năm 2013  http://chuacuuthenews.wordpress.com/2013/04/21/mot-so-thien-y-can-chia-se/#more-24643
......

Chủ nghĩa Phát-xít và chủ nghĩa Cộng sản

Nhớ, năm 1978, lúc đang học năm thứ ba ở trường Đại học Sư phạm, tôi và các bạn trong lớp đi thực tập ở trường cấp 3 Tân Lý Tây thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Đó là một xã nhỏ, chưa tới mười ngàn dân, lúc ấy còn khá nghèo, hầu hết các nhà vệ sinh đều nằm chênh vênh trên các hồ cá tra. Thấy sinh viên từ thành phố về, dân chúng có vẻ rất vui. Ủy ban nhân dân xã tổ chức một buổi tiếp đón khá nồng hậu ngay trong buổi tối đầu tiên lúc chúng tôi mới đến. Chủ tịch xã đứng lên phát biểu. Ông là một nông dân, có lẽ, trước 1975, vốn là du kích. Đứng trước hơn 100 đứa sinh viên, ông không giấu được sự lúng túng, nói năng cứ lấp vấp, lập bập, không đầu không đuôi gì cả. Nội dung chính vẫn là ca ngợi tính chất ưu việt của chế độ mới, những điều có lẽ ông nghe được trong các buổi học tập chính trị hoặc trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Nhưng vui nhất là, để nhấn mạnh tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, ông cứ lặp đi lặp lại là “chúng ta không giống bọn Mác-xít độc tài và tàn bạo giết hại cả hàng triệu người”. Bọn chúng tôi biết là ông nhầm giữa Mác-xít và Phát-xít. Nhưng không đứa nào dám cười. Chỉ sau đó, mấy đứa miền Nam mới thì thầm với nhau: “Thì Mác-xít hay Phát-xít cũng vậy thôi!” Chuyện cũ, cách đây đã hơn 35 năm, tưởng đã quên, bỗng dưng lại sống dậy khi mới đây, tình cờ đọc lại cuốn Intellectuals and Society (Basic Books, 2011) của Thomas Sowell, tôi bắt gặp một đoạn Sowell so sánh chủ nghĩa Cộng sản và chủ nghĩa Phát-xít (bao gồm cả Nazism) ở Đức. Một bên được xem là cực tả và một bên được xem là cực hữu; hai bên lúc nào cũng kết tội nhau và muốn tiêu diệt nhau (với Cộng sản, chủ nghĩa Phát-xít là biểu tượng của chủ nghĩa đế quốc; với Hitler, Cộng sản và Do Thái là hai kẻ thù chính), nhưng theo Sowell, giữa chủ nghĩa Cộng sản và chủ nghĩa Phát-xít có rất ít sự khác biệt, trừ trong lãnh vực tu từ. Những người Phát-xít, từ Ý đến Đức, đều công khai tuyên bố theo chủ nghĩa dân tộc; những người Cộng sản, trên lý thuyết, biểu dương chủ nghĩa quốc tế, nhưng trên thực tế, vẫn luôn luôn mang tinh thần dân tộc chủ nghĩa, cũng đều nhắm, trước hết, đến quyền lợi của quốc gia và dân tộc của họ. Và cả hai đều là những chế độ độc tài vô cùng tàn bạo. (tr. 99-101)   Một nhận xét tương tự được Vladimir Tismaneanu phân tích kỹ lưỡng hơn trong cuốn The Devil in History do University of California Press xuất bản năm 2012. Cái được gọi là “quỷ dữ” (devil) ấy được Tismaneanu nêu đích danh: chủ nghĩa Cộng sản và chủ nghĩa Phát-xít. Cả hai đều gắn liền với những quan điểm không tưởng về tương lai. Cả hai đều muốn chống lại các giá trị của giai cấp trưởng giả và dân chủ tự do. Cả hai đều muốn làm cách mạng triệt để bằng cách xóa bỏ truyền thống để xây dựng một hệ thống chính trị, xã hội và văn hóa hoàn toàn mới; nhưng khi làm như vậy, cả hai đều xóa nhòa ranh giới giữa cái thiện và cái ác, giữa cái tốt và cái xấu. Cả hai đều nhân danh tinh thần nhân đạo nhưng lại biến con người thành những con số để tha hồ giết chết hoặc đày đọa họ mà không hề có chút áy náy nào cả. Cả hai đều đề cao bạo động, một bên là tác giả của Gulags và một bên của Auschwitz, đều chiếm kỷ lục về tội sát nhân và diệt chủng: Trong hơn mười năm (1933-1945), chủ nghĩa Phát-xít giết hại khoảng 25 triệu người và trong vòng hơn 70 năm (1917-1990), chủ nghĩa Cộng sản giết hại khoảng từ 80 đến 100 triệu người.   Nhận xét ấy cũng được hai sử gia, một người Pháp và một người Đức, Francois Furet và Ernst Nolte, phân tích trong cuốn Fascism and Communism (University of Nebraska Press, 2004). Nó cũng lại được mổ xẻ trong cuốn Fascism, Communism and the Consolidation of Democracy: A Comparison of European Dictatorships do Gerhard Besier biên tập (LIT Verlag, 2006), cuốn Lenin, Stalin and Hitler: The Age of Social Catastrophe của Robert Gellately (Vintage, 2008); quan trọng nhất, trong cuốn The Origins of Totalitarianism của Hannah Arendt (được xuất bản lần đầu từ năm 1951), trong đó, ở phần ba, bà tập trung chủ yếu vào hai hiện tượng: chủ nghĩa Cộng sản và chủ nghĩa Phát-xít. Tất cả, từ nhiều góc độ khác nhau, hoặc chính trị hoặc lịch sử hoặc ý thức hệ, đều đi đến kết luận giống nhau: cả chủ nghĩa Phát-xít lẫn chủ nghĩa Cộng sản đều, nói theo Richard Overy, “nhà nước của sự khiếp hãi” hay “nhà nước của khủng bố” (states of terror), theo Eduard Kuznetsov và Dorin Tudoran, một “nền văn minh tội phạm” (criminal civilization), hoặc nói theo Leszek Kolakowski, một triết gia người Ba Lan, là sự đầu thai của quỷ dữ trong lịch sử, “một con quỷ sáng chế ra những nhà nước ý thức hệ (ideological states), nghĩa là, thứ nhà nước tự cho tính chính đáng của nó được đặt trên sự kiện là chủ nhân của nó cũng đồng thời là chủ nhân của chân lý. Nếu bạn chống lại nhà nước hay hệ thống nhà nước ấy, bạn sẽ bị xem là kẻ thù của chân lý.” (Dẫn theo Vladimir Tismaneanu, tr. 2-3, 11 & 26).   Về phương diện luật pháp, năm 2010, Quốc hội Hungary thông qua đạo luật cấm phủ nhận tội ác diệt chủng ở Holocaust của Nazi, sau đó, lại thông qua đạo luật cấm phủ nhận các tội ác của chủ nghĩa Cộng sản: Những người vi phạm, hoặc bằng cách phủ nhận hoặc bằng cách nghi vấn các tội ác ấy, có thể bị phạt từ một đến ba năm tù. Với Quốc Hội Hungary, tội ác của chủ nghĩa Phát-xít và chủ nghĩa Cộng sản ngang nhau.   Theo Timothy Snyder, việc so sánh chủ nghĩa Nazi (một biến thể của chủ nghĩa Phát-xít tại Đức) và chủ nghĩa Stalin (một hình ảnh tiêu biểu của chủ nghĩa Cộng sản) là điều cần thiết: Nó giúp chúng ta hiểu rõ hơn không những về hai hiện tượng khủng khiếp nhất của thế kỷ 20 mà còn về thời đại của chúng ta và kể cả bản thân chúng ta nữa. (Như trên, tr. 19)   Đó là thời đại, nói theo Nietzsche, “Thượng đế đã chết” và con người muốn thay thế Thượng đế để xây dựng những “thành phố của Thượng đế” (city of Gods) ngay trên trần gian này. Họ muốn thay đổi lịch sử, một bên, với giai cấp, một bên với chủng tộc. Họ sùng bái lãnh tụ, và bằng mọi cách, biến lãnh tụ thành thần linh, qua đó, biến đảng phái thành một thứ tôn giáo mới và xây dựng một chế độ toàn trị, khống chế toàn bộ đời sống tinh thần và vật chất của con người. Họ muốn thay đổi cả bản chất của con người bằng các biện pháp tuyên tuyền, nhồi sọ và khủng bố. Bất kể ngôn ngữ hay ho họ thường sử dụng, những “con người mới” họ muốn sản xuất chỉ là những công cụ mù quáng chỉ biết vâng dạ trước lãnh tụ và vì lãnh tụ, sẵn sàng giết người, kể cả đồng bào và người thân của mình, một cách không gớm tay.   Đó là thời đại của khoa học và kỹ thuật, của văn minh và tiến bộ vượt bậc, của lý trí và của rất nhiều lý tưởng nhưng đồng thời cũng là một thời đại của sự cuồng tín và mê tín, của sự thắng thế của thứ lý trí công cụ (instrumental reason) trên lý trí phê phán (critical reason), của sự độc tôn của sức mạnh và bạo lực. Hậu quả cuối cùng của tất cả những nghịch lý ấy là cả hàng trăm triệu người bị giết chết.   Dĩ nhiên, giữa chủ nghĩa Phát-xít và chủ nghĩa Cộng sản có không ít khác biệt. Chủ nghĩa Phát-xít chỉ xây dựng sức mạnh trên một người, người-được-thần-thánh-hóa (ở Đức là Adolf Hitler; ở Ý là Benito Mussolini); chủ nghĩa Cộng sản xây dựng sức mạnh trên cả việc thần thánh hóa lãnh tụ lẫn việc thiêng liêng hóa đảng phái, như một thứ thiên mệnh. Chủ nghĩa Phát-xít đề cao chủ nghĩa dân tộc trong khi chủ nghĩa Cộng sản lại đề cao chủ nghĩa quốc tế và sử dụng chủ nghĩa quốc tế để phục vụ cho tinh thần dân tộc chủ nghĩa. Hệ thống tuyên truyền của Cộng sản tinh vi và khôn khéo hơn Phát-xít: Trong khi chủ nghĩa Phát-xít chỉ đề cao thù hận, chủ nghĩa Cộng sản đề cao tình yêu và nhân danh tình yêu, kích động thù hận; trong khi chủ nghĩa Phát-xít chỉ nói đến việc trả thù, chủ nghĩa Cộng sản nhấn mạnh việc giải phóng, dù để đạt được mục tiêu giải phóng, họ sử dụng chuyên chính vô sản để trả thù. Cộng sản cũng có nhiều tham vọng hơn Phát-xít: Trong khi chủ nghĩa Phát-xít chỉ muốn quản lý hành động của con người, chủ nghĩa Cộng sản muốn quản lý cả tư tưởng và tình cảm thầm kín nhất của con người. Hậu quả là Cộng sản đa nghi hơn Phát-xít: Phát-xít thường chỉ giết những người bị họ xem là kẻ thù chứ hiếm khi thanh trừng trong nội bộ; Cộng sản, đặc biệt Cộng sản ở Nga dưới thời Stalin, vừa tàn sát kẻ thù vừa tàn sát các đồng chí của mình.   Đằng sau chủ nghĩa Phát-xít chỉ có vài tín lý đơn giản như một thứ tín ngưỡng dân gian; đằng sau chủ nghĩa Cộng sản là cả một hệ thống triết học phức tạp đủ để mê hoặc giới trí thức và văn nghệ sĩ: Hệ quả là có một thứ văn học nghệ thuật Cộng sản chứ không có thứ văn học nghệ thuật Phát-xít. Tuy nhiên, sự tồn tại của thứ văn học nghệ thuật Cộng sản không phải là một điều tốt: nó chỉ gieo rắc sự mê tín và cuồng tín, dung dưỡng các ảo tưởng, và cuối cùng, kéo dài thảm họa: Trong khi chủ nghĩa Phát-xít chỉ kéo dài hơn một thập niên, chủ nghĩa Cộng sản kéo đến hơn bảy thập niên; trong khi hầu như mọi người đều nhận ra tội ác của chủ nghĩa Phát-xít, không ít người vẫn còn ảo tưởng về chủ nghĩa Cộng sản; trong khi chủ nghĩa Phát-xít đã trở thành quá khứ, chủ nghĩa Cộng sản vẫn ở trong thì hiện tại, ít nhất là ở năm nước: Trung Quốc, Lào, Bắc Hàn, Cuba và Việt Nam.   Chữ “Việt Nam”, xuất hiện trong ngữ cảnh ấy, quả là một điều đau đớn.   Lý do chính khiến tôi viết bài này là vì tôi biết, ở Việt Nam hiện nay, có không ít người, kể cả trong giới trí thức, chưa nhận ra chủ nghĩa Cộng sản, tự bản chất, rất gần với chủ nghĩa Phát-xít, điều mà họ luôn luôn nguyền rủa. Nguồn: http://www.voatiengviet.com/content/chu-nghia-phat-xit-va-chu-nghia-cong...
......

'Sự cùng quẫn của tờ báo Đảng'

Văn bản của Hội Đồng Giám mục Việt Nam nhận định và góp ý vào bản Hiến pháp gửi tới Quốc hội được cho là đã làm 'rung chuyển' nhiều thành phần trong xã hội. Tiếng nói này của Hội đồng có vẻ không chỉ tác động tới cộng đồng Công giáo Việt Nam, mà có thể còn ảnh hưởng ngay cả với những công dân quan tâm đến tình hình đất nước, lo lắng cho tiền đồ dân tộc và trong chừng mực nào đó đã tạo ra sự hân hoan, phấn khởi ở một bộ phận người dân. Trước đó, bản Kiến nghị của 72 nhân sĩ, trí thức và quần chúng cũng đã gây nên một tiếng vang lớn báo hiệu dân tộc Việt Nam đã có 'những dấu hiệu chuyển mình - cơn chuyển mình vật vã, đau đớn để vượt qua sự sợ hãi vốn tạo thành thói quen của cả xã hội, thành phản xạ của mỗi công dân VN. Có vẻ những sự kiện trên đã làm cho nhà cầm quyền Hà Nội lúng túng và phản ứng của nhiều quan chức tỏ ra 'giấu đầu hở đuôi, tiền hậu bất nhất' đã bị dư luận xã hội phản ứng kịch liệt để khẳng định quyền của mình – quyền của những 'Con Người'. Lý do của sự 'lúng túng và hoảng hốt' này có vẻ dễ hiểu và trước đây, đã có nhiều đợt kêu gọi góp ý cho các văn bản của Đảng và Nhà nước rồi những màn tuyên truyền với các lập luận như ở Việt Nam: “Dân chủ gấp triệu lần dân chủ tư sản” theo cựu Thủ tướng Phạm Văn Đồng, hay “gấp vạn lần dân chủ tư sản,” theo lời của Phó Chủ tịch nước, bà Nguyễn Thị Doan. Thế nhưng, có vẻ đa số người dân chẳng mấy ai quan tâm vì họ thừa biết mục đích của những tuyên truyền ấy là gì trong khi các đợt góp ý, lấy ý kiến nhân dân đều “hoàn toàn thắng lợi rực rỡ” và việc tuyên truyền về chúng trở nên rầm rộ. Có vẻ tưởng rằng mọi chuyện cũng sẽ xuôi chèo mát mái như mọi lần trước, nên Chính quyền và Đảng có vẻ tăng tốc việc tổ chức “lấy ý kiến nhân dân sửa đổi Hiến Pháp”. 'Lương tâm và đòn bẩn' "Chính vì thế, đánh vào khối này còn khó hơn 'đục khối bê-tông', càng đánh trực diện vào nó, càng khơi động tinh thần đoàn kết, hiệp thông" Nhưng thời thế đã khác. Trước những tiếng nói hợp lòng dân, vì đất nước, dân tộc, nhà cầm quyền đã không thể đàng hoàng tranh luận, công khai phổ biến nên đã dùng những chiêu 'rất… bẩn'. Trước hết, là kéo dài thời gian góp ý đến cuối tháng 9/2013 thay vì kết thúc trong tháng Ba. Một trong những mục đích của việc kéo dài thời gian, là sau khi chi 'hàng đống tiền dân' từ ngân sách, nhà nước sẽ thu được một số lượng chữ ký áp đảo và coi như “đó là nguyện vọng nhân dân”. Bằng chứng là chỉ sau mấy tháng, nhà nước đã tuyên bố có cả chục triệu ý kiến góp ý. Lẽ dĩ nhiên là “đa số tuyệt đối” sẽ phải đồng ý với nhà nước. Chỉ riêng tỉnh Bình Dương, đã có gần 45 triệu chữ ký. Một con số không có thể có gì hài hước hơn khi mà ngay trước đó, báo chí nhà nước đã khẳng định nông dân chẳng quan tâm gì đến trò này – và trò này đã bi 'vạch mặt.' Ngoài ra, hệ thống tuyên truyền, truyền thông nhà nước còn 'lôi đám nhân sĩ, trí thức' ra 'đánh hội đồng' trước công luận nhưng lại không dám đưa ra cho người dân xem họ, những trí thức, nhân sỹ, đã thực sự nói gì? Ngón nghề này xưa nay vẫn được dùng có hiệu quả khi tạo lên cơn lên đồng tập thể theo ý muốn của nhà nước. Song giờ đây bài thuốc này xem ra 'mất linh', trong khi nhân dân vẫn 'khi thì âm ỉ, khi thì sôi sục, công khai' nói lên nguyện vọng của mình. Riêng với văn bản của Hội đồng Giám mục Việt Nam (HĐGMVN), nhà cầm quyền thừa hiểu rằng: tiếng nói của Hội đồng này là tiếng nói, tâm tư của 8 triệu giáo dân, chiếm tới khoảng 1/10 dân số cả nước. Họ cũng thừa biết xưa nay, giáo dân Công giáo luôn đồng lòng, nhất trí với Hội đồng Giám mục một cách hầu như là tuyệt đối trong những vấn đề cơ bản đối với vận mệnh giáo hội và đất nước, vì con người. Do vậy, tiếng nói của Hội đồng luôn được sự ủng hộ to lớn. Chính vì thế, đánh vào khối này còn khó hơn 'đục khối bê-tông', càng đánh trực diện vào nó, càng khơi động tinh thần đoàn kết, hiệp thông. Điều đó đã được thử thách suốt mấy chục năm nay dưới chế độ Cộng sản nói riêng và suốt mấy trăm năm, qua nhiều thời kỳ lịch sử khốc liệt với giáo hội Công giáo. Do vậy, họ dùng nhiều chiêu trò khác tinh vi hơn nhưng cũng được cho là 'bẩn thỉu' hơn. 'Dựng chuyện và bịa đặt' Bắt đầu là bài dựng chuyện và bịa đặt, con bài này đã được sử dụng nhiều trong các vụ việc liên quan đến các tôn giáo cũng như những 'thế lực thù địch' của nhà nước. Nếu như có một Hòa Thượng Thích Quảng Độ không được nhà nước ưa thích, thì lập tức có một vị Hòa thượng Thích Thanh Tứ lên diễn đàn Quốc hội 'mạt sát' được truyền hình cho cả nước xem. Nếu nhà nước không thích Bát Nhã, lập tức có các “ông sư, phật tử” nơi khác được điều đến thi tài trấn áp buộc họ phải rời nơi cứ trú. Nếu nhà nước muốn các phật tử vâng lời đảng, giữ nguyên nội dung điều 4 của Hiến pháp 1992, duy trì sự cai trị của Đảng CSVN và kiên quyết xóa bỏ quyền tư hữu đất đai của người dân, lập tức có các nhà sư như Thượng Tọa Thích Đức Thiện và Thích Thanh Dũng lên truyền hình tuyên truyền hộ về công lao của Đảng và rằng “xác định quyền tư hữu đất đai là trái với tinh thần từ bi của Đức Phật và bác ái của Chúa Giêsu”. Trong tay của Đảng, dường như có thể có đủ mọi quân bài và mọi thành phần nhằm thực hiện đầy đủ “sự lãnh đạo sáng suốt và tuyệt đối”. Thế nhưng, với Công giáo, vở kịch này có vẻ không dễ dàng diễn ra bởi khối thống nhất hiệp thông mạnh mẽ của Giáo hội. Vì thế Đài truyền hình dùng cách dựng ra một “Linh mục ở Bắc Ninh”. Màn kịch này nhanh chóng bị giáo dân 'bóc mẽ', sự bịa đặt bị phê phán là 'trắng trợn nhớp nháp' này đã bị 'vạch trần' trước muôn dân và dư luận quốc tế. Tiếp đến là một phóng sự về vùng Công giáo Nam Định với Góp ý Dự thảo Hiến pháp. Một linh mục được đưa lên màn hình, thế nhưng những điều nhà đài muốn nói thì lại không có, màn gán ghép sượng sùng đã bị lật tẩy nhanh chóng sau đó. Và tiếp đến là Báo Nhân Dân đăng “trang trọng” bài viết được cho là của một giáo dân “Nhiều điều chưa sáng trong một bản góp ý”. Bài viết được giới thiệu là trích lại từ website 'Sách hiếm', đây là trang web cùng với 'Giao điểm', được cho là luôn được nhà nước 'ưu ái' trích dẫn, đăng lại các bài viết. Người ta mệnh danh Phật giáo để 'điên cuồng xuyên tạc' và 'chống phá Công giáo.' Việc 'đánh phá Công giáo' ở những trang này có thể coi là sự bất chấp sự thật, bất chấp lý lẽ, bất chấp luân thường đạo lý, miễn đúng như định hướng mà Đảng CSVN đã đưa ra. Người ta có vẻ không cần quan tâm đến những gì Đức Phật đã dạy, những nguồn gốc sự đau khổ của con người Việt Nam, miễn là làm 'vừa lòng ông chủ' và cơn 'hận thù mù quáng' của họ. 'Mạo danh và đâm lưng' "Thực ra, để 'dựng ra' một chức sắc công giáo, thì Đảng vẫn có thể dễ dàng làm được, do đó việc tạo ra một ai đó gọi là 'giáo dân' không phải là điều khó khăn" Nếu ai đó quan tâm xem những trang website như ' Giao điểm', ' Sách hiếm' là của ai, có thể tìm thấy một 'văn bản yêu cầu' Tổng cục Hải Quan Việt Nam 'hỗ trợ' một Việt Kiều đưa 420 quyển tạp chí 'Giao Điểm' được in trong nước đưa ra nước ngoài để 'phục vụ tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta'. Chỉ cần như vậy cũng đã giúp thể hiện rõ 'Giao điểm', 'Sách hiếm' cũng như tờ Nhân Dân là ai và thiết nghĩ ai đó có lẽ khỏi cần 'nhọc công' bày đặt những điều được cho là 'các trò trích dẫn'. Thông thường, khi nhà nước có vấn đề nào đó với giáo hội Công giáo, người ta có thể quan sát thấy nhà nước liền sử dụng những người thuộc nhóm 'Giao điểm' như các ông Trần Chung Ngọc, Nguyễn Mạnh Quang, bị cáo buộc là 'mang danh Phật Giáo để đâm lưng Công giáo'. Năm 2008, các vị này được cho là đã 'ra tay thi thố lắm trò'. Thế nhưng, như cái kim trong bọc có ngày thò ra, nhân dân đã tỏ ra là 'cũng có mắt', thậm chí còn là 'những con mắt tinh tường' không dễ bị 'lòe bịp.' Còn nhớ đã có một bài viết được báo Nhân Dân đăng và một số báo khác đăng lại, nói rằng là của “một công dân theo Thiên chúa giáo” và được đăng với sự đồng ý của tác giả. Đọc qua bài viết được cho là 'ngây ngô' này, thiết nghĩ không phải mất thời giờ để bàn về chuyện liệu những người như tác giả bài viết này có trình độ về lý luận hoặc hiểu biết ra sao. Đơn cử, tác giả của bài báo được tờ báo Nhân Dân của Đảng trân trọng, viết những câu như: “Tôi không biết chủ nghĩa Mác – Lê-nin là chủ nghĩa vô thần”. “Hiện tại, Việt Nam là quốc gia tiến bộ về vấn đề nhân quyền – quyền con người nên nếu nhận định “trói buộc” nên bị “kìm hãm” là không thực và quá thiên kiến hay cố ý gán ghép”. Hoặc: “Dân trí ta còn thấp nên khó lòng đòi hỏi thực hiện tối đa các quyền dân chủ…” hay “Trên thực tế tôi nhận thấy 'tam quyền phân lập' kiểu Việt Nam chúng ta trong hiện tại là phù hợp với tâm cảnh người Việt Nam”… Thậm chí, vẫn theo tác giả này, thì: “Theo tôi được biết chủ nghĩa Mác-lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ tư tưởng quản lý xã hội và đảng cầm quyền chỉ lấy tư tưởng quản lý xã hội chứ không “đóng khung” tư tưởng của người dân.” Thiết nghĩ và e rằng, đọc những câu chữ ấy, thì đến trẻ con cũng không khỏi phải 'bật cười' về nhận thức cũng như trình độ của tác giả trên tờ báo Đảng. Thế nhưng, điều cần lưu ý là tác giả đã được Báo Nhân Dân đề cao chỉ vì là “một công dân theo Thiên chúa giáo” đã nói theo 'đúng ý Đảng', bằng những lập luận có thể được xem là vẫn thường thấy trên Nhân Dân và Quân đội Nhân dân. 'Giáo dân hay giáo gian?' Khi sự tự trọng của một cơ quan truyền thông quốc gia còn không coi là có giá trị nào để việc bịa đặt, thêu dệt trở thành đặc tính riêng của họ, thì vài ba nhân vật, dăm bảy phóng sự được cho là 'bịa đặt thêm' chẳng có gì là quan trọng. Điều này đã được thực hiện quá nhiều trong thực tế khi người ta quan sát thấy có những sự kiện bộ đội được huy động gỡ bỏ đai hiệu của họ để đóng vai giáo dân, rồi chính quyền bị 'bắt quả tang' sử dụng văn bản nhà nước 'nhét vào mồm linh mục' nói rằng một văn bản nào đó là văn bản 'tự nguyện hiến đất nhà thờ' cho chính phủ… Có thể gọi là đủ các chiêu thức. Chúng ta còn nhớ hồi năm 2008, trong biến cố ở 40 phố Nhà Chung, Tòa Tổng Giám mục Hà Nội đã yêu cầu chính quyền làm rõ việc giới chức 'chiếm, cướp, tịch thu hay mượn' của Nhà thờ để dẫn tới việc cơ sở tôn giáo này khi đó sắp bị 'bán, phá phách và làm biến dạng' để phục vụ điều được cáo buộc là 'bán và chia chác'. Khi đó, Báo chí Việt Nam đang 'im tịt' bỗng dưng đồng loạt đăng bài viết được ghi là của tác giả “Phùng Nhân Quốc - Một giáo dân Hà Nội”. Khi bị chất vấn liệu tác giả bài báo có phải là một 'giáo dân Phùng Nhân Quốc' có thực hay chỉ là 'một Giáo gian hạng xịn', một dạng được cộng đồng giáo dân nghi vấn là 'cái lưỡi nói theo ý chủ mà thôi, thì y như rằng sau đó, nhiều nguồn tin đã cho hay đây là bài của ông Hồng Vinh, Phó trưởng ban Văn Hóa tư tưởng Trung ương. Nếu cáo buộc này là đúng thì quả là chính quyền còn 'tài hơn Tề thiên đại thánh' khi bố trí để một Phó ban quan trọng như thế của Đảng biến thành một giáo dân hay là 'giáo gian." 'Vạch mặt nhiều lần' Có lẽ chính vì bị vạch mặt quá nhiều lần, lần này báo Nhân Dân tưởng vớ bở khi có một người có tên tuổi và địa chỉ đưa ra cho có vẻ có sự thật. Đó là ông Nguyễn Trọng Nghĩa, ngụ tại số 37, đường Ðiện Biên Phủ, xã Mỹ Trà, Thành phố Cao Lãnh, tỉnh Ðồng Tháp, được giới thiệu là giáo dân giáo xứ Cao Lãnh. Đọc qua bài viết của ông Nghĩa, quả thật chúng tôi buộc phải nghi ngờ về sức khỏe tâm thần của ông, bởi ở bài viết hàm chứa đầy đủ điều được cho là 'sự hỗn xược và ngu dốt' nếu đúng đó là một giáo dân. Đơn giản nhất là trong đất nước Việt Nam này, hẳn không ai không biết (ngoại trừ những người cộng sản vô thần) rằng chưa có một giáo dân nào dám hỗn xược xưng “tôi” trước một linh mục chứ chưa nói đến với Giám mục hoặc Hội đồng Giám mục Việt Nam. Điều đó không chỉ là quy định, mà là sự tôn kính tối thiểu cần có đã thấm vào máu của mỗi giáo dân. Tiếc rằng có vẻ báo Nhân Dân đã không thể hiểu được điều hiển nhiên này. Ở Giáo hội Công giáo không có quan niệm hỗn mang kiểu “đồng chí cha, đồng chí con, đồng chí vợ, đồng chí chồng”. Bức thư phần đầu xưng “Tôi”, phần sau xưng “Con” như một sự 'hoang tưởng' của một người có đầu óc không bình thường đã buộc chúng tôi tìm hiểu về nhân vật này. Và một số giáo dân Giáo xứ Cao Lãnh do linh mục Marcel Trần Văn Tốt, chánh xứ, Linh mục Phêrô Trần Trung Chỉnh làm phó xứ, cho chúng tôi biết như sau: Ông Nguyễn Trọng Nghĩa tại địa chỉ này năm nay 32 tuổi có một vợ và một con. Ông mới học xong Phổ thông Trung học thì làm Phó Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh của xã Mỹ Trà. Được một thời gian, do vi phạm khuyết điểm, nên ông buộc phải ra khỏi chức vụ đó. Ông được cho là đã 'bỏ đạo' đã hơn chục năm nay, hoàn toàn không liên hệ với nhà thờ, với giáo xứ và các việc thuộc Giáo hội Công giáo. Người dân địa phương cho biết ông có hiện tượng đầu óc bị 'man mát', hay không bình thường về thần kinh, sức khỏe tâm thần. Gặp gỡ linh mục Chánh xứ, ông nội của ông Nghĩa đã than phiền về sự mâu thuẫn giữa ông Nghĩa với ông nội và cha mẹ ruột, người ông nội cũng cho hay đã không gặp gỡ và tỏ ra lo lắng cho ông Nghĩa về mặt nhân cách và đạo đức. Thế có vẻ là đã quá rõ. Một người không còn giữ các lề luật Giáo hội, không tham gia, không còn liên hệ với giáo hội đã chục năm nay, bỗng nhiên được Báo Nhân Dân gọi là “Công dân theo Thiên Chúa giáo”? Chắc Báo Nhân Dân thừa biết rằng một tôn giáo cũng như bất cứ một tổ chức nào, khi anh đã không còn liên hệ, không tuân phục những nguyên tắc, quy định, nghĩa là anh đã đứng ra ngoài tổ chức đó. 'Không còn hiệp thông' Ở Giáo hội Công giáo không giống như tổ chức của Đảng Cộng sản vốn luôn tự cho là 'trong sạch, vững mạnh, liêm khiết và đạo đức' và rằng các đảng viên cộng sản là 'bộ phận tiên phong' hay nói cách khác 'là tinh hoa dân tộc,' điều mà chính Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã phải đặt dấu hỏi khi nói “một bộ phận không nhỏ” hay là có sự tồn tại của “cả một bầy sâu” trong Đảng. Ở đây, trong Giáo hội Công giáo, khi anh đã không còn hiệp thông với Giáo hội, nghĩa là anh đã tự đứng ra ngoài hàng ngũ công giáo. Chân lý đơn giản như vậy thôi. Nó cũng tương tự như khó có ai có thể nói ông Hoàng Văn Hoan còn là đảng viên Cộng sản Việt Nam sau khi ông đã đào thoát sang Trung Quốc, dù ông Hoan đã từng là Ủy viên Bộ Chính trị. Một người cả chục năm nay không liên hệ, hiệp thông với giáo hội, không tham gia các nghi lễ tôn giáo, các bí tích, thế mà ông ta vẫn viết: “con nhắc nhở các Ngài Giám mục và hàng giáo sĩ chúng ta luôn đọc “kinh sáng soi” trước khi làm việc gì! Con đọc kinh sáng soi nhiều lần trong ngày và trong 7 ngày để viết thư này,” một điều thiết nghĩ không còn gì có thể 'hài hước hơn.' Cuối cùng, vẫn biết rằng chẳng ai dư thời gian để đi đọc hoặc trả lời những lời lẽ này của người được cho là mắc chứng 'hoang tưởng' hay 'bị bệnh tâm thần', nhưng việc tờ báo Đảng, tiếng nói của Ban chấp hành Trung ương Đảng CSVN, lại lấy những thứ này như là chiếc 'phao cứu sinh' thì điều được cho là 'sự quẫn bách' đã đến mức tận cùng. Và quan trọng hơn, nó có thể ít nhiều thể hiện sự cùng quẫn, hoảng loạn và lúng túng từ đầu não của một bộ phận đáng kể hay toàn thể ê-kíp lãnh đạo chóp bu Việt Nam trong tình hình hiện nay. Bài viết thể hiện quan điểm riêng và lối hành văn của tác giả, một blogger và nhà báo tự do theo Công giáo, đang sinh sống tại Hà Nội. http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2013/04/130421_vn_nhandan_newspape...
......

Giáo dục VN-khi chính “nạn nhân” lên tiếng

Một lần nữa, những “căn bệnh trầm kha” của giáo dục VN lại được đưa ra mổ xẻ, lần này từ chính “nạn nhân” của hệ thống giáo dục ấy - một em học sinh lớp 12. Video clip “Sự trăn trở của một kẻ lười biếng” được đưa lên mạng ngày 13.4, đến ngày 19.4 đã có 151, 158 lượt người xem, 5, 648 phản hồi, 5, 692 người thích/375 không thích. Mở đầu, “diễn giả” tự giới thiệu: “Tôi là một học sinh lớp 12. Ở Việt Nam thì đây là giai đoạn khắc nghiệt nhất trong đời mỗi học sinh. Và chính sự khắc nghiệt này khiến cho những câu hỏi tích tụ qua bao tháng ngày dài sẽ phải bật ra ngoài thành những quan điểm…” xem Youtube "Sự trăng trở của kẻ lười biến" http://www.youtube.com/watch?v=sd0GMhPY3i0 Trong video clip dài hơn 1 tiếng, với ngôn ngữ đầy bức xúc, cậu học sinh đã nói lên những suy nghĩ của mình về giáo dục VN. Một nền giáo dục chỉ chạy theo thành tích, điểm số, bằng cấp, chỉ nhăm nhăm nhồi nhét kiến thức cho học sinh trong đó không ít kiến thức vô bổ. Học sinh học để đối phó với những kỳ thi là chính,học rất nhiều nhưng biết rất ít về con người, học xong lại quên hết… Có thể một vài quan điểm của em học sinh sẽ gây sốc như “chỉ cần học đến lớp 9 là đủ”, bởi theo em, ở tuổi 14, 15, nhiều người đã biết xác định được khả năng và lối đi riêng cho mình; không nên tạo ra điểm số, hay không nên tuyển người qua bằng cấp… Nhưng nhìn chung, những điều em nói về các căn bệnh của giáo dục VN, về tâm trạng của học sinh là chính xác. Tiếp theo sau vụ một số học sinh trường PTTH Nguyễn Hiền, TP.HCM xé đề cương thi môn Sử khi biết năm nay không phải thi tốt nghiệp trung học môn này, những lời tâm sự của em học sinh qua video clip trên liệu có thức tỉnh được những người có trách nhiệm trong ngành giáo dục và cả những người lãnh đạo nhà nước VN? Khi họ đã và đang áp đặt lên bao thế hệ trẻ VN một nền giáo dục ngu dân, làm khổ học sinh và làm thui chột mọi đam mê học hành, cá tính, tư duy độc lập lẫn tài năng nếu có, trong từng cá nhân. Để cuối cùng sau 12 năm học chỉ đào tạo ra những con vẹt học thuộc lòng, những “sản phẩm người” có tư duy nô lệ. Thật ra giáo dục VN là “chuyện biết rồi, khổ lắm, nói mãi”. Đã có biết bao nhiêu cuộc hội thảo về giáo dục với sự tham gia của nhiều giới trí thức, chuyên gia, phụ huynh và học sinh, biết bao nhiêu ý kiến, bài viết phê phán, đóng góp chân tình…nhưng cuối cùng, mọi chuyện vẫn đâu vào đó. Cái hỏng của giáo dục VN là từ gốc: hoàn toàn thiếu vắng một triết lý giáo dục. (Còn nhớ những nguyên tắc làm nền tảng cho triết lý giáo dục của miền Nam trước năm 1975 được ghi hẳn hoi trong Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa (1967) là Nhân bản, Dân tộc và Khai phóng). Là định hướng sai ngay từ đầu: học và dạy để làm gì.   Nếu nhìn vào giáo dục bậc trung học phổ thông và kể cả đại học ở VN, người ta dễ có suy nghĩ giáo dục hiện nay chỉ để có bằng cấp. Học lực được đánh giá qua điểm số. Suốt 12 năm học liên tục là bài kiểm tra, thi giữa học kỳ, thi học kỳ, thi kết thúc cuối năm, thi hết cấp…Chính vì chạy theo/coi trọng điểm số nên gây áp lực cho học sinh, và dẫn đến bệnh thành tích trong nhà trường. Có người sẽ đặt câu hỏi nếu không kiểm tra, thi cử, không có điểm số thì làm thế nào để xếp loại học sinh, xét tốt nghiệp? Thiết nghĩ,nếu chưa thể loại bỏ điểm số thì ít nhất ở bậc tiểu học cũng chưa nên chấm điểm học sinh, mà chỉ chấm đạt hay chưa đạt. Bởi vì mới ở bậc tiểu học mà đã bắt các em phải khổ sở vì điểm, nhiều em đâm ra tự ti nếu điểm kém, tự phụ nếu điểm cao…ngay từ khi còn ít tuổi thì không hay. Từ bậc trung học cơ sở mới bắt đầu chấm điểm, mà cũng với một tinh thần bớt coi trọng điểm số, chẳng hạn không công khai điểm của học sinh, điểm của em nào chỉ có mình em đó và giáo viên biết, như nhiều quốc gia khác vẫn làm thế. Vừa tránh cho em bị điểm kém phải xấu hổ với bạn bè vừa tránh việc ganh đua chạy theo điểm giữa các em với nhau. Bởi suy cho cùng, điểm số ở nhà trường trung học chưa thể đánh giá đúng, toàn diện năng lực của một học sinh và một con người sau này. Ở bậc tiểu học cũng nên xóa bỏ chuyện trường điểm, hay trường này được đánh giá tốt hơn trường kia, làm sao tất cả các trường tiểu học, trung học cơ sở trong một thành phố đều có cùng chất lượng đào tạo như nhau. Như vậy sẽ bớt được nạn năm nào phụ huynh cũng phải chạy cho con vào trường tốt, trường điểm, sinh ra tệ đút lót, và các nạn tiêu cực khác. Lẽ ra tất cả các trường trung học phổ thông trên toàn quốc phải có cùng một điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện học tập, chất lượng giáo viên…, mới là công bằng, nhưng đó là chuyện vẫn còn xa vời. Trước mắt, việc xóa bỏ trường điểm, trường chuyên ở bậc tiểu học, trung học cơ sở cũng đã bớt đi bao nhiêu sự bất công và nỗi khổ cho phụ huynh và học sinh. Trường chuyên, nếu còn giữ lại, chỉ nên ở cấp ba,khi bắt đầu đi vào phân ban cụ thể. Dư luận xã hội đã kêu ca rất nhiều về chương trình giáo dục ở bậc trung học của VN quá nặng nề, lạc hậu, bất cập. Nặng về lý thuyết mà thiếu thực hành khiến học sinh khó nhớ, thừa những kiến thức “chết”, vô bổ nhưng lại thiếu những kiến thức cần thiết như học về con người, về kỹ năng sống, phương pháp tư duy. Chưa kể, các môn khoa học xã hội như Văn, Sử, Địa, Giáo dục Công dân thì nặng tính tuyên truyền, tính chính trị khiến các em học không vào. Từ đó các em đâm chán ghét luôn sự học, điều mà em học sinh trong video clip nói trên cũng đã đề cập. Việc học thay vì là niềm vui, niềm đam mê thì lại trở thành nỗi khổ kéo dài đối với học sinh.   Ngược lại,những ai có con em học ở các nước phát triển đều nhận thấy, học sinh đi học thật nhẹ nhàng, thoải mái. Bậc tiểu học vừa học vừa chơi, chả bị điểm số hay sức ép gì, mà bậc trung học cũng không bị sức ép của bệnh thành tích từ gia đình và nhà trường. Học sinh chỉ cần học ở trường là đủ, không có chuyện phải đi học thêm quanh năm suốt tháng, học không có ngày nghỉ, không có mùa hè,không có tuổi thơ…như ở VN. Giáo dục cần thay đổi phương pháp dạy và học, bỏ lối dạy thụ động, ghi chép và học thuộc lòng quá nhiều, chỉ đào tạo ra những con người có tư duy nô lệ. Quan trọng là dạy cho các em phương pháp tự học, cho phép các em được tranh luận thoải mái với bạn bè, thầy cô, được có những suy nghĩ, chính kiến riêng, được thể hiện cái tôi, cá tính của mình. Các em phải được tôn trọng như những con người ngay từ khi còn bé chứ không phải như hiện nay người lớn cứ có lối suy nghĩ đã là học sinh thì phải vâng lời, không được phép nói khác với thầy cô, với sách giáo khoa. Và đã có những  trường hợp thầy cô xúc phạm các em, bé thì đánh đập, lớn hơn ở bậc trung học cơ sở, trung học phổ thông thì chửi mắng, sỉ nhục khiến các em phẫn uất mà tự tử. Đó là mới nói đến giáo dục ở bậc phổ thông trung học, bậc đại học còn lắm vấn nạn khác. Nhưng chung quy cũng từ lối tư duy coi trọng bằng cấp, đánh giá con người qua bằng cấp chứ không qua năng lực thực sự khiến ai cũng lao vào kiếm cho được mảnh bằng Cử nhân, Thạc sĩ, Tiến sĩ, kể cả chạy bằng, mua bằng. Xã hội có quá nhiều Tiến sĩ dởm mà ít Tiến sĩ thật, ít công trình nghiên cứu, khảo cứu khoa học có giá trị so với các nước khác. Ai cũng muốn làm thầy chứ không muốn làm thợ, rốt cuộc đào tạo nhiều vượt quá nhu cầu, dẫn đến Cử nhân, Thạc sĩ học xong bị thất nghiệp đầy rẫy, phải đi làm lao động phổ thông kiếm sống. Vừa tốn thời gian, tiền bạc của chính mình vừa tốn kinh phí đào tạo của xã hội, vừa lãng phí con người v.v… Giáo dục là nền móng của xã hội. Hãy nhìn vào tình trạng xã hội VN hiện nay và  đừng thắc mắc vì sao đạo đức ngày càng xuống cấp, tội ác ngày càng gia tăng, trong đó không ít thủ phạm dã man nhất, "máu lạnh" nhất vẫn còn ở lứa tuổi đang học trung học hoặc đã từng ngồi trên ghế giảng đường.   Dân Trí Nếu đặt triết lý giáo dục là nhân bản, khai phóng, nếu quan niệm giáo dục là đào tạo con người thì các nhà giáo dục sẽ biết sửa đổi từ đâu. Chỉ mong rằng sau những lời nói thống thiết của chính các em học sinh, những người có trách nhiệm sẽ quyết tâm sửa đổi. Đừng như bao lâu nay giáo dục càng cải càng lùi, càng sửa càng rách nát! Nguồn: https://www.facebook.com/notes/song-chi  
......

Đi tìm "thế lực thù địch"

Từ lâu, tôi đã nghe nhiều, rất nhiều cụm từ “thế lực thù địch”. Nghe đến nhàm, nhưng chẳng ai chỉ giùm tôi, bởi nó vô hình. Vậy thì phải đi tìm thôi. Tôi đã đi tìm thế lực thù địch từ những ngày hợp tác hóa, đầu những năm sáu mươi của thế kỷ trước, khi tôi còn ngồi trên ghế nhà trường xã hội chủ nghĩa. Cái ngày mà tôi chưa phân biệt được chủ nghĩa Mác đúng sai thế nào. Cái ngày mà khi có kẻng là xã viên hợp tác ra đồng, chờ phân việc, làm chiếu lệ vài giờ rồi về. Tối họp bình công chấm điểm thì cãi nhau om sòm, mà có nhiều nhặn gì đâu, giỏi lắm mỗi công một cân thóc. Để rồi “Ơi anh chủ nhiệm anh chủ nhiệm/ Hai tiếng thân yêu lời cảm mến/ Tay anh nắm chặt tay xã viên/ Xốc cả phong trào cùng tiến lên” đi vào trang sách học sinh theo thơ Hoàng Trung Thông. Cái ngày mà khi thu hoach thì bố mẹ đi trước, con cái theo sau (gọi là đi mót) cướp hết những thứ ngon. Cuối buổi thu hoạch về sân kho hợp tác chỉ những đống lúa xơ xác, hoặc những đống khoai chạc khoai rễ. Để rồi “Dân làm chủ dập dìu hợp tác / Lúa mượt đồng ấm áp làng quê/ Chiêm mùa cờ đỏ ven đê/ Sớm trưa tiếng trống đi về trong thôn” đi vào trang sách học sinh theo thơ Tố Hữu. Cái ngày mà đói triền miên, cả năm may ra có bữa no cơm và có thịt, đó là ngày tết. Để rồi “Những người lao động quang vinh/ Chúng ta là chủ của mình từ đây” đi vào trang sách học sinh theo thơ Tố Hữu. “Chẳng nhẽ chủ nghĩa cộng sản lại thế này ư?” Từ thắc mắc đó tôi đọc “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” và “Chính trị kinh tế học”. Vì còn tuổi vị thành niên, nên dù nghi ngờ nhưng tôi chưa dám nghĩ Mác sai, nhưng ít nhất là ta làm sai Mác. Mác nói, đại ý “phải phân biệt vô sản và vô sản áo rách (bọn khố rách, áo ôm)”. Ta đã dùng “vô sản áo rách” trong CCRĐ. Ta đã cưỡng bức vào hợp tác xã, trong khi lẽ ra phải hoàn toàn tự nguyện. Trong “Chính trị kinh tế học”, theo Khơ rút sốp “có thể đoạt chính quyền bằng nghị trường”, còn theo Bregiơnhep “chỉ có thể đoạt chính quyền bằng bạo lực”, ta theo bạo lực. Tại sao lại phải dùng bạo lực? Tôi tự hỏi vì tôi đã đọc đâu đó “bạo lực là sản phẩm của phía yếu, bất tài và vô lực”. Tất cả những nhà cầm quyền theo chủ thuyết “sức mạnh chính trị nằm trên đầu nòng súng” đã đưa đất nước họ (trục phát xít) gục ngã. Sau gục ngã có thể họ bị yếu, có thể họ thuộc bài nên đã điều chỉnh hướng đi. Các nước theo trục chủ nghĩa xã hội lại tiếp tục theo vết xe đổ đó, để đến nay tan rã. Thảm thay!!! Cái thời mà, thế hệ cha anh tôi, những người đã qua CCRĐ luôn thuộc nằm lòng câu “Trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”hoặc “chủ nghĩa cộng sản làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu”. Tôi vào đại học, vào bộ đội. Dù làm khoa học và công nghệ, nhưng tôi luôn tìm hiểu về chế độ, khi mà tuyên truyền và thực tế luôn ngược nhau. Tôi đọc mọi loại sách, từ các sách văn học, xã hội học và chính trị; tiếp cận với nhiều tầng lớp người từ cao xuống thấp, từ cổ đến kim. Do công tác đi đây đó nhiều, nhất là các công xưởng, lại sống hòa nhập nên tôi có điều kiện tiếp cận thực tế. Qua lý thuyết và thực tế tôi đã dần tìm ra thế lực thù địch. Đúng hơn là cái gì đã kìm hãm sự phát triển của nước. Còn nhớ những năm cuối thập niên bảy mươi của thế kỷ trước có lần tôi nói với bố tôi (đang là cán bộ cao cấp) rằng “đảng sai bố ạ”, bố tôi rằng “đường lối đúng, thực hiện sai”. Đáp “lý thuyết đúng là tự nó đem lại tốt đẹp cho xã hội, ta chẳng làm được gì cả, sao gọi là đúng? Nói vậy là bao biện”. Bố tôi lặng im. Lại hỏi “một xã hội sẽ ra sao nếu trí phú địa hào đào tận gốc, trốc tận rễ?” Rằng “câu hỏi đó đã được Gabriel García Márquez – chủ nhân của giải noben văn học 1982 đã hỏi trong một gặp gỡ các nhà văn Á - Phi - Mỹ La tinh, mà chẳng ai biết thế nào để trả lời”. Vài năm sau bố tôi nói “con đúng, bố sai – từ nay con thay bố giải quyết các việc trọng đại trong gia đình”. Cũng từ đó cho đến lúc lìa trần, ông dị ứng với vô tuyến, đài và báo chí (công cụ tuyên truyền) – những thứ mà trước đây là thực đơn hàng ngày của ông. Ông quay lại nghề tử vi, địa lý và kinh dịch – như là nghề gia truyền; nhưng khi đi theo đảng ông phải bỏ. Chính nghề này đã cứu ông cả vật chất, tinh thần và để lại nhiều ân đức trước khi qua đời. Cuối những năm sáu mươi, đầu những năm bảy mươi của thế kỷ trước, khi người ta cơ cấu những cán bộ chính trị đi tập huấn một thời gian về làm hiệu trưởng các trường cấp 2 và 3, tôi như đã thấy manh nha một cái gì? Sau đó, khi “chuột chạy cùng sào, nhảy vào sư phạm”; tôi đã thấy rằng: “xã hội ta sẽ thê thảm khi những người học yếu nhất vào giáo dục”. Rồi cải cách giáo dục, như một sự tàn phá đất nước nhanh nhất. Mười lăm năm đi học không có ai dạy cho ta yêu bố mẹ, anh em cả; nhưng được dạy nhiều về lý tưởng cộng sản “vì lý tưởng cộng sản, thanh niên anh dũng tiến lên”. Phải chăng bỏ qua cái thực thể hữu hình, chạy theo cái vô hình kiểu “bỏ hình bắt bóng” là đặc trung nền giáo dục của chúng ta? Rút cục ta đã đào tạo ra những thế hệ “ăn theo nói leo” là chính, ai không như thế được đội cái mũ “tiểu tư sản trí thức” ngay. Ta không dùng những người tài giỏi, nhưng lại coi trọng những người khôn vặt, láu cá nhiều mưu ma chước quỷ. Chính cái sự đào tạo và sử dụng người đã hủy hoại nhân cách của nhiều thế hệ. Từ đầu những năm tám mươi của thế kỷ trước lại đây, tôi đã chứng kiến rất nhiều những cuộc chạy chức quyền, chia các vai quyền lực từ các bàn nhậu. Mấy chục năm công tác tôi thấy quá rõ kinh phí bôi trơn cho guồng máy, thông thường là 40% chi phí đầu tư, nhiều chỗ còn hơn. Kinh phí vào công trinh chỉ xấp xỉ một nửa. Đất nước không đổ nát mới là sự lạ. Cách đây hơn năm thế kỷ Thân Nhân Trung đã viết: "...Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết..." Đất nước ta không đào tạo và sử dụng được hiền tài, chỉ dùng được những ai dễ sai bảo, biết ăn theo nói leo, thậm chí vô sản áo rách. Dùng hiền tài đâu có dễ, những người không tài làm sao sử dụng được hiền tài, các bậc hiền tài đâu chịu làm đầu sai. Những người có tri thức, biết được điều hay lẽ phải (tri là biết; thức là hay), sao lại có thể a dua theo bầy đàn không có tri thức dẫn lối? Trong hoàn cảnh ấy, hiền tài chỉ có hai con đường, hoặc vùng lên rồi bị diệt như “Nhân văn Giai phẩm” hay như “vụ xét lại chống đảng”. Hoặc co vào ở ẩn bất hợp tác như đa phần còn lại. Rút cục hiền tài không “can dự” được vào sự phát triển đất nước. Không phải vô cớ mà ở nước Đức có bia mộ ghi “ở đây đã an táng một người, mà người đó dùng được rất nhiều người tải giỏi”. Vậy là “thế lực thù địch” của đất nước chính là sự ngu tối. Mà cái ngu là tổ phụ của cái ác, tàn phá đất nước hơn tỷ lần cái ác. Con đường cách mạng đất nước ta (mà đặc biệt là cách mạng phát triển xã hội sau năm 1975) đang đi là con đường thiếu ánh sáng tri thức soi đường. Để rồi sau bao nhiêu năm đi vào bóng đêm. Đất nước sau gần bốn mươi năm thống nhất tựa như đổ nát. Nạn tham nhũng tràn lan làm rỗng ruột kinh tế, tai nạn giao thông chết người như có chiến tranh, giáo dục lụn bại, nhân cách đạo đức suy đồi, kẻ thù truyền kiếp phương Bắc uy hiếp trên biên giới, rừng núi, biển đảo và đồng bằng. Cách mạng đâu phải là sự nghiệp của bầy đàn khố rách áo ôm kiểu “mo cơm quả cà đi xây dựng chủ nghĩa cộng sản”. Cũng do ngu tối mà từ ngày độc lập, chúng ta chưa tìm được con đường đi cho đất nước. Không nghi ngờ gì nữa “thế lực thù địch” của đất nước chính là sự ngu tối, thế lực nào dung túng cho cái ngu, để cho cái ngu hoành hành thì đấy chính là thế lực thù địch của đất nước ta, dân tộc ta. Thời nay ai thiết người tàiChỉ cần tai tái, dễ sai hợp thờiThằng thông minh nó lắm lờiNó thuyết, nó giáo rối bời thằng nguThằng ngu tuy có lù khùMưu ma chước quỷ nó bù thông minhSự đời nghĩ lại mà kinhNhân tình thế thái, rối tinh rối mù. H.Q. Nguồn: http://www.boxitvn.net/bai/46402
......

NHỮNG NGUYÊN NHÂN CHÍNH DẪN ĐẾN THẤT BẠI

Ai cũng có ước mơ, nhưng phần lớn đều không thể hiện thực hóa được ước mơ của mình. Đó là thất bại phổ biến nhất thường thấy trong cuộc sống. Sự thất bại của số đông nói trên có thể xuất phát từ một số trong những nguyên nhân chính sau:  Không có mục tiêu rõ ràng cùng với khát vọng lớn lao trong cuộc sống - Cuộc sống không mục tiêu là hành trình lang thang vô định, không biết sẽ trôi dạt về đâu. Đó là lối sống theo kiểu “nước chảy bèo trôi”.Khi sống không mục tiêu rõ ràng, con người sẽ không biết tập trung trí tuệ, sức lực, thời gian vào việc gì, nên dễ bỏ lỡ cơ hội. Biểu hiện của cuộc sống không mục tiêu rõ ràng được Lou Holtz, tác giả, diễn giả về động lực sống mô tả: “Nếu bạn thấy chán ngán cuộc đời, nếu bạn thức dậy mỗi sáng mà không có một khát khao cháy bỏng làm một điều gì đó thì bạn đang thiếu mục tiêu cho mình”.   Thiếu niềm tin vào bản thân - Niềm tin là nguồn động lực không thể thiếu để biến ước mơ thành hiện thực. Biểu hiện phổ biến nhất của căn bệnh thiếu tự tin thể hiện qua cụm từ “tôi không thể” khi xuất hiện cơ hội hay khả năng nào đó. Người thiếu niềm tin sẽ tìm đủ mọi lý do để biện minh cho sự né tránh hành động, mà thực chất là tự đóng cánh cửa tiềm năng của bản thân. Một số người không dám nghĩ đến việc lớn vì thiếu niềm tin, nên thường hay ngụy biện “phải tỏ ra thực tế”. Người đoạt giải Nobel Hòa Bình Jody Williams cho rằng: “Sự khác biệt giữa một người bình thường và một người xuất chúng nằm ở cách nhìn đối với bản thân trong mối tương quan với cuộc đời. Có niềm tin vào chính mình, bạn có thể vượt qua bất cứ trở ngại nào trong cuộc sống”. Chính sức mạnh của niềm tin đã biến một số người thành anh hung và một số khác thành những con người cam phận thất bại. Nỗi sợ thất bại - Khi mang trong lòng nỗi sợ thất bại con người sẽ không dám hành động. K. D. Harrell, tác giả quyển “Attitude is Everything for Success” khẳng định: “Tiếng nói có sức hủy diệt mạnh mẽ nhất không đến từ người khác mà ở ngay bên trong bản thân chúng ta”. William Shakespeare thì nói một cách hình tượng về sự thât bại từ nỗi sợ: “Người bạc nhược chết nhiều lần trước khi chết”. Thiếu ý chí và lòng quyết tâm - Hành trình đến thành công là con đường dốc gập ghềnh mà đỉnh vinh quang chỉ xuất hiện khi ta đủ ý chí để vượt qua và chấp nhận trả giá. Hầu hết những người thành đạt đỉnh cao đều trải qua những khó khăn, sai lầm và thất bại. Người thành công thường gặp nhiều thất bại hơn người bình thường, nhưng luôn kiên trì theo đuổi mục tiêu sau nhiều lần thất bại. Louis Pasteur nhấn mạnh: “Sự nghiệp của người ta lớn hơn hay nhỏ hơn là do ý chí cao hay thấp”. Như vậy, điều quyết định cho tương lai không phải là hoàn cảnh hiện tại mà là ý chí và mục tiêu của con người hướng đến đâu. Thiếu kiên trì - Người thất bại thường buông xuôi, bỏ cuộc hay gục ngã ngay khi gặp thất bại đầu tiên. Khi đó họ tìm đủ lý do khách quan để biện minh cho sự thất bại và bỏ cuộc của mình. Cũng có người kiên trì hành động, nhưng không rút ra được những bài học cần thiết để thay đổi cách nghĩ cách làm, nên vẫn tiếp tục thất bại. Nhân cách tiêu cực - Ngày nay con người không thể đạt được những mục tiêu lớn lao nếu chỉ biết dựa vào sức lực của bản thân. Bài học mà người được mệnh danh là “phù thủy sáng tạo”, tỷ phú Steve Jobs rút ra trong cuộc đời là: “Những điều tuyệt vời nhất không bao giờ có thể đạt được chỉ với một người. Nó phải do cả một ekip hợp sức làm nên”. Con người với tính cách tiêu cực như thiếu hòa nhã, thiếu trung thực, ích kỷ, hẹp hòi, tự cao tự đại …là những người cô độc trong cuộc sống và công việc, nên thường thất bại.  Thiếu ý thức tự kỷ luật đối với bản thân - Cuộc sống là một hành trình đấu tranh không ngơi nghỉ, đấu tranh với bản thân và ngoại cảnh để thực hiện ước mơ và mục tiêu của mình. Trong đó đấu tranh để chiến thắng những nhược điểm của bản thân là cuộc đấu tranh khó khăn, dai dẳng nhất. Đức phật Thích Ca dạy rằng: “Thắng một vạn quân không bằng tự thắng chính mính”. Còn Plato, triết gia cổ Hy Lạp thì cho rằng: “Trong mọi thành công, chiến thắng chính bản thân mình là chiến thắng quan trọng và vĩ đại nhất. Bị khuất phục trước bản thân là thất bại nhục nhã và đáng xấu hổ nhất”. Sự thiếu ý thức tự kỷ luật rất dễ dẫn đến việc dễ dãi với bản thân trước những cám dỗ thường trực trong cuộc sống, làm chệch hướng bước đi của mình. Thiếu quyết đoán - Việc nắm bắt cơ hội không chỉ cần sự nhạy bén mà cả tính quyết đoán. Thiếu quyết đoán là biểu hiện của sự thiếu can đảm và thiếu tự tin ở bản thân. Người thiếu tính quyết đoán dễ đánh mất cơ hội và dễ bị lung lạc, do dự vì ý kiến của người khác. Thực chất của việc bỏ lỡ cơ hội là từ bỏ thành công. Phần đông những người thất bại là những người dễ vứt bỏ mục tiêu của mình trước những ý kiến chống đối hay những nguy cơ mơ hồ nào đó. Những thành công lớn của những vĩ nhân xưa nay trong tất cả các cuộc chiến, cuộc đấu tranh hay kinh doanh đều gắn liền với tính quyết đoán. Thiếu ý thức học hỏi để không ngừng hoàn thiện bản thân trong một thế giới phát triển ngày càng nhanh với những yêu cầu ngày càng cao để thích ứng. Thỏa mãn với kiến thức của mình đống nghĩa với việc chấp nhận để người khác vượt qua mình và có thể nhanh tay nắm bắt cơ hội hơn mình. Người thiếu ý thức học hỏi không sớm thì muộn sẽ là người tụt hậu.                                                                     Trên đây là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thất bại trong cuộc sống. Để có thể hiện thực hóa ước mơ của mình chúng ta hãy thẳng thắn cùng rà soát lại bản thân xem có phải một hay vài nguyên nhân nói trên là rào chắn ngăn cách mình với thành công không.       
......

An alle internationale Organisationen und Gesellschaften, die Frieden fördern

Vietnam, den 11 April 2013. An den Rat für Menschenrechte der Vereinigten Nationen Zugleich auch an - Die Regierungskommissionen für Menschenrechte in Asien - Die US-Regierung und -Parlament - Das EU-Parlament - Die britische Regierung und das britische Parlament - Die Regierung und das Parlament von Australias - Die Die britische Regierung und das britische Parlament - Die Regierung und das Parlament Canadas - Die Regierung und das Parlament Neuseelands - Die Internationale Gesellschaft für Menschenrechten in Deutschland - The Human Rights Watch in the USA  Betreff: Angriff, Gewaltsausübung, Kipnapping und Raubüberfälle gegen Privathabgut der Bürgerdurch vietnamesische Sicherhetskräfte. Sehr geehrte Damen und Herren,   Vietnam ist ein Mitglied der Vereinten Nationen. Wenn der vietnamesische Staat nicht in der Lage ist, seiner Bevölkerung Sicherheit zu gewährleisten, dann ist es nötig, die Vereinten Nationen um Hilfe zu bitten. Wir bitten Sie, die kommunistische Regierung in Vietnam unter Druck zu setzen, sodass sie Ihren Pflichten als Regierung eines Landes nachgeht. Falls die vietnamesische Regierung sich weigert, ihren Pflichten nachzugehen, könnte vielleicht die UNO die vietnamesische Regierung international vorstellen und sie in ihren Aktionen einschränken.   Die Belästigung war kontinuierlich in den letzten 2 Jahren, eine Serie von Festnahmen, Kidnapping und außerdem wurde ich, Bui Thi Minh Hang, ins Gefängnis gebracht ohne vorheriges Verfahren. Durch den Druck von vietnamesischen Bürgern in Vietnam und auch von der internationalen Gesellschaft, war die Regierung gezwungen, mich freizulassen. Trotz meiner Freilassung hat die vietnamesische Polizei mich weiterhin belästigt und mental terrorisiert. Sie haben mich sogar gekidnappt und meinen persönlichen Besitz in Anspruch genommen. Zum Beispiel: Einmal wurde ich um 5:00 Uhr am 1. Juli 2012 bei der Saigon Train Station gekidnappt. Sie haben mich in ihr Fahrzeug gezwungen, das von einem Vung Tau Sicherheitsagenten namens Thuong, und 4 weiteren einfach gekleideten Polizisten bewacht wurde. 6 Stunden lang sind wir umhergefahren, bis sie mich dann vor meiner Haustür abgesetzt haben; meine Klamotten waren durcheinander, da ich mich versucht hatte, zu wehren. Sie hatten mich gefilmt und Bilder von mir gemacht, der Grund ist mir unbewusst. Währenddessen haben sie mit einer Gruppe telefoniert und ihnen befohlen (Ich habe ihre Unterhaltung mitgehört), in mein Hotelzimmer einzubrechen (27,G Straße, Area 4, District 4, Saigon), wo ich 3 Tage auf Grund medizinischer Versorgung verbracht hatte.   Später fand ich heraus, dass sie fast alle meine Wertsachen gestohlen haben, was auch einen Laptop, meinen Reisepass und die Pässe meiner Kinder und mir umfasst. Ich habe nach einer Rückgabe dieser Sachen gefordert, aber nichts bewirken können.   Am 24. September 2012 bin ich nach Saigon gekommen, um die Gerichtsverfahren von 3 freiberuflichen Journalisten zu besuchen. Wieder wurde ich von Sicherheitskräften, darunter auch der oben genannte Herr Thuong, attackiert. Sie haben mich mit Gewalt genommen und in Vung Tau freigelassen. Seitdem verfolgen und terrorisieren sie mich ständig. Unbekannte Männer haben bereits Petrol und faulen, giftigen Abfall an mein Haus geworfen, mitten in der Nacht. Ich habe diese Vorfälle schon der örtlichen Polizei gemeldet, aber sie haben bis jetzt nichts gemacht. Ich habe viele Beweise, dass diese Handlungen von Sicherheitsleuten des Staats ausgeübt wurden.   Letztens bin ich nach Hanoi gekommen, um für Aktionen gegen Regierungsbeamte zu drängen – einer davon ist der Präsident von Hanoi, Mr Nguyen The Thao, der meinen 5 – monatigen Arrest ohne vorherige Verfahren beschlossen hatte. Dieser Arrest hat mich und meine Familie sehr belastet. Es hat meine Arbeit unterbrochen, sodass ich meine Rechnungen nicht bezahlen konnte. Nun könnte mein Zuhause, das meine Familie und ich unser Leben lang aufgebaut haben, von der Bank übernommen werden.   Nachdem ich ein ganzes Jahr gewartet habe, hat mich der Hanoier Gerichtshof endlich am 8. April 2013 eingeladen und mich um eine Zahlung gebeten, sodass das Verfahren stattfinden kann. Auf der Reise nach Hanoi wurde ich von Unbekannten attackiert. Als ich „Diebe, Hilfe!“ gerufen habe, kamen Menschen mir zur Hilfe und uns ist es gelungen, einen der Unbekannten zu fangen, der sich dann als Sicherheitsagent des Staates herausstellte.   Einer meiner Freunde, Mr Nguyen Chi Duc, hat mit mir an einigen Anti-China-Invasion Demonstrationen seit 2011 teilgenommen. Bei einen dieser Demonstrationen wurde er ins Gesicht getreten von einem Polizeichef namens Minh. Neulich kamen Sicherheitsmänner in Ducs Büro und haben ihre Ausweise vorgezeigt um Eintritt zu bekommen. Dann haben sie Duc angegriffen und ihm ernste Verletzungen zugefügt. Duc ist immer noch im Krankenhaus. Von diesem Vorfall wurde von internationaler Presse weit berichtet.   Die jetzige vietnamesische Regierung respektiert die Internaltìonal Erklärung für Menschenrechte  von 1948 und die Internationale Konvention für zivile und politische Rechte von 1966, welche Vietnam unterschrieben hat, nicht. Die vietnamesische Regierung trampelt auf den Grundrechten der vietnamesischen Bevölkerung. Beamte nutzen ihre Macht aus; Polizei und Sicherheitskräfte attackieren und nehmen Bürger frei nach Willen fest. Todesfälle durch diese Menschen werden immer gewöhnlicher, da die Gesetzwidrigkeit herrscht. Die Polizei bricht alle Regeln. Ihre Handlungen nehmen immer mehr kriminalen Charakter an, wie zum Beispiel in der Weise, wie  sie mich und auch viele andere behandelt haben.   Ich bin mir sicher, dass ihre Handlungen nicht dort aufhören werden. Ich befürchte, dass sie mich weiterhin verletzen werden, oder sogar töten, wenn ich mich weiterhin für Gerechtigkeit einsetze und meinen Fall publizieren möchte. Ich habe Angst um meine eigene Sicherheit, während sie mich sehr offensichtlich terrorisieren. Sie werden mich vielleicht sogar töten, um mich zum Schweigen zu bringen.   Ich glaube, dass ich als Mitglied der Vereinten Nationen Anspruch auf Schutz der UN habe. Hiermit bitte ich um diesen Schutz und rufe die UN und internationale Menschenrechtsorganisationen auf, Druck auf die vietnamesische Regierung auszuüben, um die Bürger Vietnams zu schützen.   Für mich trägt die vietnamesische Regierung  die Schuld daran, dass es sein Volk nicht schützen kann, und dafür muss sie von internationaler Gesellschaft beurteilt werden. Die Menschheit hat eine bittere Lektion von ihrer Geschichte gelernt: alle blutigen Revolutionen fanden aufgrund von sozialer Ungerechtigkeit statt. Lass dies eine Warnung für alle politischen Führer in Vietnam sein.   Mit freundlichen Grüßen, Bui Thi Minh Hang   Name: Bui Thi Minh Hang (weibl.) Geburtstag: 20.7.1964 Vietnamesische Bürgerin Tel. +84 913 784 415 Email:  linhhonchunhat@gmail.com
......

ĐƠN GỬI CÁC TỔ CHỨC QUỐC TẾ VÀ THÔNG BÁO ĐẾN TOÀN THỂ CỘNG ĐỒNG NHÂN LOẠI YÊU CHUỘNG HÒA BÌNH

Việt Nam Ngày 11-4-2013 Kính gửi: Hội đồng nhân quyền (Liên Hợp Quốc)  Đồng kính gửi:  -Uỷ ban liên chính phủ về nhân quyền (Asian)  -Chính phủ và quốc hội Hoa Kỳ  -Chính phủ và quốc hội cộng đồng Châu Âu  -Chính phủ và quốc hội Anh Quốc  -Chính phủ và quốc hội Uc Đại Lợi  -Chính phủ và Quốc Hội Gia -Nã- Đại  -Chính phủ và quốc hội Tân Tây Lan  -Human Ringhts watch ( Hoa Kỳ )  -Hiệp Hội Quốc Tế Nhân Quyền Đức quốc  -Uỷ ban Nhân Quyền Việt Nam  -Các tổ chức Quốc Tế khác quan tâm và liên quan đến Nhân Quyền tại Việt Nam  Trích yếu về việc công an Việt Nam tấn công- hành hung- Bắt cóc- cưỡng đoạt cướp tài sản riêng của công dân Việt Nam  Tên tôi là: Bùi Thị Minh Hằng Giới tính: Nữ  Sinh ngày 20-07-1964  Quốc Tịch Việt Nam  Số điện thoại:+84 913 784 415  Địa chỉ email: linhhonchunhat@gmail.com  Kính thưa các quý vị!  Việt Nam là một thành viên của liên hợp quốc , do đó nếu nhà nước Việt Nam không đảm bảo an toàn cho công dân Việt Nam thì chúng tôi cần thiết phải lên tiếng thông báo và kêu gọi đến liên hợp quốc. Đề nghị các quý vị cần tiến hành các biện pháp nhằm buộc nhà nước cọng sản Việt Nam phải thực thi trách nhiệm đó . Trong trường hợp Việt Nam từ chối hay lẩn tránh trách nhiệm thì thiết nghĩ Liên hợp Quốc cần thiết phải đưa Việt Nam ra cộng đồng Quốc tế và thực thi áp dụng các biện pháp chế tài. Liên tiếp trong thời gian dài gần 2 năm qua. Sau một loạt hành vi bắt cóc giam cầm trái luật không đưa ra xét xử đối với tôi : Bùi Thị Minh Hằng.  Trả tôi về dưới sức ép đấu tranh của đồng bào trong nước và cộng đồng quốc tế. Nhưng công an Việt Nam liên tục gây sức ép, khủng bố tinh thần. Thậm chí bắt cóc và cưỡng chiếm tài sản của tôi. Điển hình là vụ bắt cóc tôi lúc 5h sáng ngày 1-7-2012 tại Ga Sài Gòn. Họ cưỡng bức tôi lên xe của họ, trong đó có ông Thường an ninh Vũng Tàu và 4 công an thường phục khác...chở tôi đi lung tung trên đường 6 tiếng đồng hồ sau đó thả tôi xuống trước cửa nhà trong tình cảnh xộc xệch vì bị xô đẩy. Họ tổ chức quay phim chụp hình tôi không rõ với mục đích gì. Trong khi đó họ gọi điện chỉ đạo một nhóm người khác trên Sài Gòn vào khách sạn tôi thuê ở để đi khám chữa bệnh đã 3 ngày tại địa chỉ :  Nhà số 27 đường G phường 4 - Quận 4. Và tại đó họ tự tiện lục lọi lấy đi toàn bộ tài sản của tôi gồm máy tính laptop và rất nhiều tài sản cá nhân khác có giá trị , cùng hộ chiếu, giấy tờ tùy thân của tôi và các con tôi. Cho đến nay tôi đã đi đòi khắp nơi nhưng họ không trả lại những thứ họ cưỡng chiếm bất hợp pháp ấy  Tiếp đến ngày 24-9-2012 khi tôi lên Sài Gòn để tham dự phiên tòa xử những nhà báo tự do thì tiếp tục bị công an Sài Gòn đàn áp, tấn công, sau đó lại vẫn là ông Thường an ninh Vũng Tàu đẩy tôi lên xe và bắt tôi về ngược Vũng Tàu. Tại Vũng Tàu từ khi tôi được trả tự do nhưng tôi liên tục bị người của lực lượng công an , an ninh Việt Nam khủng bố, theo dõi, có hiện tượng người lạ mặt đổ xăng giữa đêm khuya vào nhà tôi. Đổ chất thải dơ bẩn nhiều lần . Xong dù tôi làm đơn trình baó và đề nghị điều tra nhưng công an đã không làm. Có nhiều bằng chứng cho thấy chính an ninh , công an, thực hiện những việc này và đó là lý do tôi cho rằng họ cố tình không điều tra những tố cáo của tôi. Gần đây tôi trở ra Hà Nội để thực hiện thúc đẩy việc thưa kiện của tôi đối với quan chức chính quyền Hà Nội mà cụ thể là vụ kiện chủ tịch thành phố Hà Nội Nguyễn thế Thảo vì đã ký quyết định oan sai bỏ tù tôi 5 tháng không qua xét xử . Gây nhiều hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống gia đình tôi. Cụ thể là căn nhà , tài sản duy nhất có giá trị của mẹ con tôi sau gần hết một đời gầy dựng đang có nguy cơ bị ngân hàng tịch thu vì công việc làm ăn bị gián đoạn , thất thoát trong thời gian nhà cầm quyền giam cầm tôi trái phép. Nhưng đã 1 năm qua tôi nộp đơn và thúc giục mà tòa án Hà nội mới đây ngày 8-4-2013 mới thông báo tôi đến để nọp án phí xét xử, Cũng trong ngày này tôi bị 1 nhóm người lạ mặt theo dõi, tấn công và chỉ sau khi tôi hô Cướp, 1 người trong bọn họ bị vây bắt và khi đó họ mới xác nhận với những người dân bắt họ rằng họ là an ninh Việt Nam. Ngay ngày hôm sau 9-4-2013 thì họ tiếp tục cho người đến tận cơ quan Nguyễn Chí Đức, một người quen biết từng đi biểu tình chống Trung Quốc cùng tôi từ 2011. Người thanh niên từng bị đại úy công an tên Minh đạp vào mặt khi anh này bị đàn áp, bắt bớ. Và tại cổng cơ quan , người trong bọn họ trình thẻ cho bảo vệ biết anh ta là công an Hà Nội. Sau đó nhóm người này đã tấn công Nguyễn Chí Đức khiến anh ta mang thương tích rất nặng hiện đang còn nằm điều trị (Thông tin và hình ảnh tại các trang mạng và nhiều hãng thông tấn đã đưa). Theo tuyên bố Quốc Tế về nhân quyền 1948, Công ước quốc tế về dân sự 1966 mà Việt Nam cam kết tham gia về các quyền con người thì ở Việt Nam hoàn toàn họ không tôn trọng những cam kết này với ngay chính công dân của họ. Nhà cầm quyền ngang nhiên chà đạp lên những quyền con người cơ bản nhất của người dân. Lãnh đạo có quyền hành thì cố tình làm sai luật pháp, bắt người tùy tiện và riêng trường hợp công an ,an ninh lạm quyền tấn công người dân , thậm chí gây chết người không còn là chuyện cá biệt mà càng ngày càng phổ biến, gia tăng một cách bất chấp luật pháp. Khắp nơi công an vi phạm pháp luật khi thực thi nhiệm vụ và thậm chí họ trở thành những kẻ cướp , côn đồ như những gì họ đã và đang làm với tôi và rất nhiều người. Việc họ nhằm vào tôi chắc chắn không dừng lại tại đây. Vì theo tôi nghĩ rằng họ có thể cướp đi tính mạng và an ninh thân thể tôi khi tôi vẫn quyết tâm theo đuổi vụ kiện để đòi công lý và đưa mọi việc ra ánh sáng. Lúc này tôi thật sự lo ngại cho tính mạng tôi trước tình hình khủng bố trắng trợn của lực lượng công an của nhà cầm quyền sai phạm vì muốn bưng bít những điều đó họ có thể ra tay trừ khử tôi.  Thưa các Qúy vị!  Công dân của một nước là thành viên liên hợp quốc thì đương nhiên ngoài việc được hưởng quyền của nước sở tại chúng tôi cũng được hưởng sự bảo vệ của chính các tổ chức thuộc liên hợp quốc. Vì vậy tôi viết đơn này kêu cứu và tha thiết đề nghị các cơ quan chức năng thuộc liên hợp quốc cần có biện pháp cấp thiết ngăn chặn mọi hành động chống lại công dân, chống lại nhân loại của nhà cầm quyền Việt Nam. Nhà cầm quyền Việt Nam phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước cộng đồng Quốc Tế về việc không có biện pháp bảo vệ cho chính công dân của mình. Kinh nghiệm và bài học xương máu trên thế giới cho thấy. Các vụ bạo động đẫm máu bắt nguồn từ những sự việc bất công trong xã hội  Đây cũng là lời cảnh báo cho những nhà lãnh đạo tại Việt Nam. Trân trọng khẩn báo và kính chào!  Công dân Việt Nam:  Bùi Thị Minh Hằng *************************** Letter to all international organizations and to all international communities that support peace. Vietnam, April 11, 2013. To: The Human Rights Committee of The United Nations. In regards to the acts of the Vietnamese police in attacking, beating, kidnapping, illegally seizing properties of the Vietnamese citizen. My name: Bui Thi Minh Hang Sex: Female DOB: 07/20/1964 . Country of citizenship: Vietnam . Phone: :+84 913 784 415  Email: linhhonchunhat@gmail.com  Dear Sir/Madam, Vietnam is a member of the United Nations . If Vietnam government cannot provide safety to its citizens, then it is necessary for us to notify and call on the United Nations. We urge you to use all necessary means to pressure the Vietnamese communist government to carry out their responsibilities. In case Vietnam government refuses or avoids to do so, then perhaps the United Nations can bring Vietnam government in front of international communities and apply all necessary sanctions against it. The harassment has been continuously the past two years, a sequel after a series of arresting, kidnapping, and putting me, Bui Thi Minh Hang, in jail without trial. Under the pressure of the Vietnamese people inside the country and the international communities, they were forced to release me. However, the Vietnamese police continued to harass and terrorize me mentally, even kidnapped me and seized my personal belongings. For example, they kidnapped me at 5 AM on July 1st, 2012 at Saigon Train Station. They physically forced me into their vehicle, guarded by a Vung Tau security agent named Thuong and four other plain clothed policemen. They drove me around and around on the streets for six hours, then dropped me off in front of my house; my clothes were messed up due to the struggles. They videotapped and took pictures of me with unknown intentions. Meanwhiles, they called on the phone to command a group of other people in Saigon (I overheard their phone conversation) to to break into my hotel room (at 27, G Street, Area 4, District 4, Saigon) where I’d spent three days for medical treatment. I later found out that they had stolen nearly all of my valuables including a laptop, a passport, personal IDs (mine and my children’s). I have asked these to be returned but to no avail.  On September 24th, 2012, I went to Saigon to attend the trials of the freelance journalists. Again, I was attacked by security people – one of whom was Mr Thuong mentioned above. They took me by force and released me in Vung Tau. Since then, they continuously monitored and terrorized me. Unknown men have thrown petrol and foul toxic wastes at my house in the middle of the night. I have formally reported these incidents to the local police but they did nothing. I have lots of proofs to show that the state security agents committed these appalling acts. Recently I returned to Hanoi to press for actions on my appeal against the government officials – one of whom is chairman of Hanoi, Mr Nguyen The Thao, who ordered my 5-month detention without trial. This detention has affected me and my family tremendously. It interrupted my job so I could not keep up with mortgage payments. Now my family home, which we had spent our whole life to build it, is facing the danger of being reposessed by the bank. After having waited for the whole year, finally, on April 8th, 2013, Hanoi Court asked me to come and pay a fee so that the trial may proceed. On the trip to get there, I was followed and attacked by unknown men. Upon hearing me screaming ‘robbers, help!’ people came to my aid and caught one of the men who then identified himself as a state security agent. A friend of mine, Mr Nguyen Chi Duc, had participated in some anti-China-invasion-scheme demonstrations with me since 2011. In one of those events, he was kicked in the face by a police captain named Minh. Recently, the security men went to Duc’s office and showed their ID cards to the guards to gain entry. They then attacked Duc and caused him to suffer severe injuries. Duc is still being treated in hospital. This incident has been widely reported by international press. The current Vietnamese government does not respect the International Declaration of Human Rights (1948) and the International Covenant on Civil and Political Rights (1966) of which Vietnam is a signatory. Vietnam government is trampling on the basic rights of the Vietnamese citizens. Officials deliberately abuse their power; police and security agents attack and arrest people at will. Deaths at the hand of these people are becoming more common as the state of lawlessness prevails. Police are violating the laws everywhere. Their actions are becoming more criminal as they have shown in actions against me and many others. I am sure that their acts will not stop here. I fear that they will hurt and even kill me if I keep requesting justice and publicize my case. I am very concerned for my own safety while they are so blatant in their attempt to terrorize me. They may try to kill me to silence me. I believe that as a citizen of a member nation of the UN, I am entitled to UN’s protection. I hereby request that protection and call on the UN and international human rights organization to pressure the government of Vietnam to stop acting against its citizens.  I hold the government of Vietnam totally responsible for the failure to protect Vietnamese citizens, and for that, it must face the judgement of the international community.  Humanity has learned a bitter lesson from history: all bloody revolutions were ignited by social injustice. Let this be a warning to the political leaders in Vietnam.  Your sincerely,  Bui Thi Minh Hang    
......

Thiên An Môn hay Dresden?

Bài trước trong mục này đã đặt một câu hỏi về sự tan rã nhanh chóng của các chế độ cộng sản Đông Âu: “Chế độ vững như bàn thạch, cho đến ngày nó sụp đổ. Tại sao người ta không thấy được những nhược điểm nằm bên dưới các chế độ tưởng như muôn năm trường trị như vậy?”   Một người đã nghiên cứu về trường hợp Đông Đức, còn gọi là Cộng Hòa Dân Chủ Đức, là Daniel V. Friedheim, đã thấy rằng nguyên nhân chính khiến chế độ sụp đổ không phải chỉ vì áp lực của người dân từ bên dưới; cũng không phải vì giới lãnh đạo cao cấp đã chấp nhận chịu thua. Theo ông, nguyên nhân chủ yếu là vì chính hàng ngũ cán bộ cấp trung đã chán ngán hệ thống xã hội và chính trị mà họ đang góp công duy trì. Trong một bài đăng trên tạp chí Chính Trị Đức (German Politics) vào Tháng Tư năm 1993, Friedheim trình bày trình tự sụp đổ của Cộng sản Đông Đức. Ông ghi nhận ý kiến của nhà xã hội học nổi danh Max Weber, thấy rằng bất cứ một chế độ nào cũng phải dùng một “hệ thống thuộc lại.” Một chế độ sụp đổ từ bên trên nếu nhóm người lãnh đạo hết tin vào khả năng kềm hãm dân chúng, như chúng ta thấy ở Tiệp Khắc, Bulgaria, Nga. Nhưng ở Đông Đức, sự sụp đổ diễn ra ngay ở trong hệ thống cai trị, tức là những người cán bộ trung cấp không còn thấy mình có thể tuân lệnh đảng Cộng sản mà đàn áp người dân nữa.   Bài luận văn trên dựa trên luận án tiến sĩ của Daniel Friedheim tại Đại Học Yale, sau khi tác giả đã thực hiện một cuộc phỏng vấn 119 quan chức và cán bộ thuộc chế độ cộng sản Đông Đức ngay sau khi nước Đức thống nhất.   Những người được chọn để phỏng vấn đều thuộc thành phần bộ máy bí mật có nhiệm vụ trấn áp khủng hoảng (Eisatzleitungen), ở trung ương và địa phương. Họ đứng đầu những ban bí thư đảng bộ, chỉ huy mật vụ, chính quyền, cảnh sát và quân đội; chính họ phải quyết định có sử dụng vũ lực đàn áp dân biểu tình hay không; khi dân Đông Đức biểu tình đòi dân chủ vào mùa Thu năm 1989. Chúng ta cần nhớ lại là vào Tháng Sáu năm đó, Cộng sản Trung Quốc đã dùng quân đội tàn sát các công nhân và sinh viên biểu tình ở Thiên An Môn. Tổng bí thư đảng Cộng sản Đông Đức Erich Honecker cũng dọa sẽ dạy bài học Thiên An Môn cho dân chúng. Từ Tháng Ba năm 1989 cảnh sát công an đã dùng lựu đạn cay và dùi cui đàn áp biểu tình. Đến Tháng Chín, người đứng đầu mật vụ (Stasi) là Erich Mielke đã báo động “tình hình vô cùng nghiêm trọng” và giải pháp duy nhất là phải “dùng bạo lực, chỉ có bạo lực thôi.” Trong Tháng Mười, dân đi biểu tình ngày càng đông ở Leipzig, Dresden, rồi Berlin.   Cuối cùng, chính một người trong hàng ngũ công an mật vụ đã mở cửa cho ngọn gió tự do dân chủ trỗi lên, trong một hành động bất ngờ, “đột hứng.” Ngày 8 Tháng Mười năm 1989, dân chúng tại thành phố Dresden đi biểu tình cùng với giới trí thức, nghệ sĩ, sinh viên, công nhân. Đoàn người biểu tình đứng đối diện với đoàn công an võ trang hằm hè. Bỗng đoàn công an ngạc nhiên khi thấy một người dân tách ra, đi từ từ tiến dần về phía họ; rồi hỏi có ai ra để nói chuyện hay không. Một viên sĩ quan công an đã tiến tới. Hai người nói chuyện “giữa trận tiền” một hồi; và đi tới hai quyết định: Đoàn biểu tình sẽ giải tán, và cử ra ngay 20 người đại diện. Họ sẽ họp bàn với phía công an; tối hôm đó sẽ công bố kết quả buổi họp tại bốn nhà thờ. Thế là 20 người bất ngờ được đề cử làm “đại biểu” của đoàn biểu tình. Trong đó có đủ thành phần: sinh viên, công nhân, thầy giáo, thợ mộc, thợ máy, y tá, vân vân, có cả một đảng viên cộng sản. Người nhỏ nhất là một thợ máy tập sự 17 tuổi, già nhất là một giáo sư về tôn giáo, 58 tuổi; đa số trong lứa tuổi 20, 30. Der Spiegel 2001 Biến cố được gọi là “Mô hình Dresden” sau đó đã được đem ra làm mẫu ở các thành phố khác khi công an mật vụ đứng trước đoàn biểu tình. Nhưng tại sao chính quyền Dresden sau đó lại chịu nhượng bộ, phải chấp nhận 20 công dân tình cờ thành những người đối thoại với họ? Friedheim đã tìm thấy chính các quan chức trung cấp trong guồng máy an ninh đã chán ngán vai trò đàn áp dân mà họ phải đóng. Người chỉ huy công an bỗng nghĩ ra đề nghị phái đoàn 20 người để thương thuyết, mặc dù không cấp trên nào cho phép anh ta làm như vậy. Lệnh trên là dùng vũ lực, chỉ dùng vũ lực! Sau này được phỏng vấn, anh nói rằng thực ra anh đã không đồng ý với lệnh trên bảo phải dùng vũ lực. Anh vẫn được lệnh đàn áp, nhưng bỗng nhiên nghĩ ra một cách trì hoãn lệnh. Khi anh ra lệnh các công an mật vụ buông cái khiên sắt họ ôm trước ngực, đặt tất cả xuống đất để bày tỏ thiện chí, tiếng vỗ tay hoan hô reo ầm lên trong đoàn biểu tình. Anh ta kể: Vai tôi bỗng nhẹ hẳn đi, trút được một gánh nặng! Tối hôm đó tôi về báo cáo, ông sếp tôi bảo: Bây giờ tao báo cáo lên trên chắc họ không tin có chuyện này!   Tại sao viên chỉ huy công an ở Dresden lại hành động như vậy; rồi các nơi khác cũng làm theo? Lý do chính là họ đã bớt tin vào chế độ cộng sản. Friedheim phỏng vấn các viên chức trung cấp trong guồng máy đàn áp cho thấy điều này. Một câu hỏi về chủ nghĩa cộng sản nói chung, viết: “Không có chế độ nào có thể đạt được những thành tựu về xã hội như chế độ cộng sản.” Với câu này, có 97% nói khi gia nhập đảng Cộng sản họ đã tin vào điều đó. Nhưng, tới mùa Thu năm 1989 thì chỉ có 65% nói họ còn nghĩ chế độ Cộng sản Đông Đức là tốt nhất thôi. Thật ra, tỷ lệ giảm từ 97% xuống 65% cũng không mất mát nhiều lắm, vì vẫn còn gần 2 phần 3 các quan chức trung cấp tin tưởng chế độ Cộng sản là con đường tốt nhất cho xã hội của họ.   Nhưng mặc dù đa số 65% vẫn tin ở chủ nghĩa cộng sản, đối với biện pháp đàn áp dân bằng bạo lực thì thái độ của các viên chức công an trung cấp lại thay đổi rất nhiều. Trong cuộc phỏng vấn trên, Friedheim hỏi họ: “Khi mới bước vào đảng, anh có tin rằng chính phủ có quyền dùng công an đàn áp các đám dân biểu tình hay không? Có 78% nói họ đã tin chính phủ có quyền đó. Tiếp theo là câu hỏi: “Sau khi đã chứng kiến các biến cố vào mùa Thu năm 1989, lúc đó anh còn tin chính phủ có quyền đàn áp hay không?” Số người vẫn tin tụt xuống, chỉ còn 8%. Chính các người công an trung cấp đã trưởng thành nên thay đổi thái độ.   Chúng ta càng thấy rõ điều này, khi họ được hỏi về vụ đàn áp kiểu Thiên An Môn. Yêu cầu họ chọn một câu đúng nhất để mô tả vụ đổ máu ở Thiên An Môn, Friedheim thấy: Chỉ có 1% các quan chức công an trung cấp nghĩ rằng vụ này “có thể diễn ra ở nước Đức” của họ. Có 26% số người được phỏng vấn thấy “bảo vệ chủ nghĩa xã hội mà phải đổ máu như vậy là không đáng.” Trong khi đó có 42% phần trăm đồng ý với nhận định rằng “một vụ đổ máu như thế chỉ có thể diễn ra tại Trung Quốc hay một nước Á Châu thôi.” Trong nhận định này, chúng ta thấy ẩn tàng một thái độ khinh miệt, cho là người Châu Á thì khát máu, dễ giết nhau, hơn người Đức.   Trong lịch sử vụ sụp đổ của chế độ Cộng sản ở Đông Âu, chúng ta biết có nhiều nguyên nhân cùng họp lại gây ra; nhưng riêng tại Đông Đức thì có lẽ yếu tố quan trọng nhất là sự sụp đổ của cây cột trụ chống đỡ cho đảng Cộng sản: Giới chỉ huy trung cấp trong guồng máy đàn áp. Tại thành phố Dresden, chính viên sĩ quan chỉ huy mật vụ Stasi và cấp trên của anh ta đứng đầu về nội an, cả hai đã bí mật liên lạc với vị giám mục địa phương để cùng tìm cách tránh đổ máu.   Chúng ta không thể đoán hiện nay tâm trạng những người trong guồng máy công an mật vụ của cộng sản Việt Nam có còn tin tưởng ở chủ nghĩa cộng sản và chế độ đến mức nào. Nhưng họ cũng là người, là người Việt cả. Họ cũng biết chuyện gì đang diễn ra trong xã hội, họ còn biết nhiều hơn về sự thật đằng sau cuộc tranh chấp giữa các người lãnh đạo đảng. Khi phải chọn lựa, liệu họ sẽ theo “Mô hình Thiên An Môn” hay “Mô hình Dresden?”   Có một cách để giới chỉ huy công an ở Việt Nam tránh không phải lựa chọn giữa Thiên An Môn hay Dresden. Là họ từ chối không tham dự vào bất cứ một hành động đàn áp nào, nếu những người đi biểu tình có lý do chính đáng. Nông dân biểu tình đòi bồi thường đất, chống cướp đất là chính đáng. Dân chúng biểu tình chống ngoại bang xâm chiếm biển đảo, đất đai và cướp phá thuyền của ngư dân Việt Nam, đó cũng là một lý do chính đáng. Các người chỉ huy công an ở Việt Nam phải từ chối không tham dự các cuộc đàn áp biểu tình chính đáng, chắc chắn họ sẽ thành công.   Công an cũng có quyền từ chối không tham dự vào những vụ trục xuất người dân để chiếm đất trao lại cho các nhà thầu xây dựng. Họ có thể đến hiện trường, có mặt đúng giờ, với đồng phục tề chỉnh; họ cứ đứng đó chứng kiến cảnh các quan chức đưa giấy tờ trục xuất dân ra khỏi ngôi nhà họ ở, hay thửa ruộng họ đang cày. Cứ đứng yên chứng kiến hai bên cãi cọ nhưng nhất quyết không can thiệp vào các cuộc tranh chấp đó. Cam đoan đồng bào sẽ vỗ tay hoan hô! Mà sẽ không phải thắc mắc chọn giữa Thiên An Môn hay Dresden nữa! Nguồn: http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=164843&zoneid=7#.UXAJfUrmz1k
......

CHỈ ĐỔI TÊN NƯỚC ĐỂ LÀM GÌ?

Lâu nay, mỗi khi được đoc bài phát biểu của số vị lãnh đạo cấp cao do ai đó trong  Hội đồng lý luận soạn thảo trước, suy ngẫm tôi hiểu vì sao đất nước ta, dân tộc ta sẽ còn bị trầm luân bởi vì họ:   “Nói những điều không biết Viết những điều không hiểu Sợ mất những điều không đáng có”   Ngay từ khi đọc thông tin công bố khuyên khích người dân cả nước không có vùng cấm tham gia góp ý sửa đổi Hiến pháp, những người tỉnh táo biết rằng “trò chơi” nửa vời, hình thức  này sẽ  tốn kém rất nhiều tiền thuế của dân và thời gian, công sức của giới trí thức. Trong bài viết :”Hiến pháp của ai”, tôi đã nêu 4 vấn đề cốt lõi bất cập của việc sửa Hiến pháp cho đến nay vẫn mang nguyên tính thời sự!   Mấy ngày gần đây, lại rộ lên thông tin ban soạn thảo Hiến pháp đưa ra phương án đổi tên nước. Có ý kiến tán thành hay phản đối là tùy theo nhận thức và góc nhìn của mỗi người đừng ném đá nhau làm gì. Chỉ cần nói chủ quyền là của dân, nếu dân quyết định đổi tên nước thì đó là việc không ai có quyền ngăn cản.   Nếu “mổ xẻ” sâu xa hơn thì việc đổi tên nước cũng chỉ như cốc nước tạm thời “an thần” cho người đang bị trọng bệnh nan y chưa có thuốc giải. Tiến sĩ Hoàng Lê Tiến đang làm việc ở xứ người nhưng luôn quan tâm đến vận nước mới gửi mail tâm sự nguyên văn như sau: “Nhiều khi Tiến tự hỏi, ở nước ta có bao nhiêu người thực sự hiểu chủ nghĩa Mác, rồi vào những năm cuối thể kỷ 20 chắc chúng ta chưa có tiến sĩ về chuyên môn này thế ai là người hướng dẫn tiến sĩ cho một loạt các tiến sĩ rồi sau đó qua hội đồng phong giáo sư nhà nước (trong hội đồng có bao nhiều người có chuyên môn về chủ nghĩa Mác). Cho nên mới có một loạt GS … như thế!. Cho nên phải nhắc lại câu nói của "Bác Hồ": đi lên chủ nghĩa xã hội “bò” qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa., Thế nhưng các chú đâu có hiểu tiếng Nghệ - bác nói bò qua thì các chú lại hiểu là “bỏ”, qua thế mới chết chứ!”   Tạm gác câu chuyện có tính truyền thuyết nói trên, trao đổi với vị trưởng thượng, chúng tôi hiểu vấn  đề không chỉ là đổi tên nước mà đã tới lúc phải từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa gắn với chế độ toàn trị. Chủ nghĩa xã hội theo học thuyết Mác-Lênin dựa trên ba trụ cột coi như nguyên lý : thứ nhất  là  đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản;  Thứ hai  là xóa bỏ tư hữu (về tư liệu sản xuất, trong đó có đất đai); Thứ ba  là không chấp nhận kinh tế thị trường (thay bằng kế hoạch hóa tập trung). Cuộc đổi mới từ Đại hội  Đảng lần thứ VI thực chất là thay đổi hai nguyên lý sau nhưng chưa triệt để. Còn nguyên lý thứ nhất thì không nói tới trong các văn kiện nữa (nhớ rằng nghị quyết Đại hội III, IV và V đều đặt "nắm vững chuyên chính vô sản" lên đầu tiên trong đường lối chung) nhưng về tư duy lãnh đạo cũng như hoạt động thực tế thì hầu như không thay đổi mà vẫn củng cố chế độ toàn trị.   Trước đây, khi được mời tham luận trong Hội nghị toàn quốc về cải cách hành chính quốc gia do Bộ Nội vụ và báo  điện tử của Đảng cộng sản Việt Nam tổ chức ở Hà Nội tôi viết bài “Suy nghĩ về cách tiếp cận và lộ trình cải cách hệ thống chính trị ở Việt Nam” đã đụng  chạm đến quan điểm chuyên chính vô sản! Đây chính là thực chất của chế độ chính trị ở những nước còn tự nhận đi con đường xã hội chủ nghĩa. Định nghĩa về chế độ toàn trị trong từ điển Larousse năm 2002 (cả tiếng Pháp nguyên gốc và bản dịch sang tiếng Việt   Định nghĩa trong từ điển Petit Larousse 2002   Totalitarisme: Système politique caracterisé par la soumission complète des existences individuelles à un ordre collectif que fait régner un pouvoir dictatorial. Encycl. La fusion des pouvoirs exécutif, législatif et judiciaire, l’existence d’un parti unique, la diffusion d’une idéologie hégémonique, la mobilisation des masses, le contrôle policier, la repression, l’élimination des catégories de la population designées comme boucs emissaires sont des traits partagés par les régimes totalitaires, dont l’étude a été developpée notamment par H.Arendt, soucieuse de penser les similitudes des régimes nazi et stalinien   Chủ nghĩa (chế độ) toàn trị: Hệ thống chính trị được đặc trưng bởi sự phụ thuộc hoàn toàn của các cá nhân vào một trật tự chung theo sự cai trị của một chính quyền độc tài. Từ điển bách khoa: Sự hợp nhất các quyền hành pháp, lập pháp và tư pháp, sự tồn tại một đảng duy nhất, sự phổ cập một ý thức hệ thống trị, sự huy động quần chúng, sự kiểm soát của cảnh sát, sự đàn áp, loại trừ các nhóm dân cư được coi như bung xung, đó là những nét chung của các chế độ toàn trị mà việc nghiên cứu được mở rộng, đặc biệt là nhờ H.Ariendt, quan tâm tới sự đồng dạng của chế độ phát xít và chế độ Stalin.   Ngẫm suy, nếu bây giờ ta đổi lại Việt Nam dân chủ cộng hòa thì rõ ràng cũng khác với VNDCCH năm 1954 - 1975 rồi. Thế giới đều nghĩ vậy, chỉ có ta không chịu nên mới có Việt Nam Cộng hòa là "bù nhìn" của đế quốc Mỹ mà thôi. Cái vòng nhân quả của thủ đoạn chính  trị tất nhiên là vậy đấy. Càng bày lý lẻ càng oan trái nhiều (nhại Kiều)!  Nhưng rõ ràng sau 30/4 /1975 thì hai Chính phủ  VNDCCH và Cộng hòa miền nam Việt Nam hiệp thương thống nhất đất nước, lập ra Chính phủ Cộng hòa XHCNVN. Về mặt pháp lý thì CHXHCNVN là nối tiếp và kế thừa VNDCCH và VNCH-CHMNVN chớ không phải chỉ liên tục của riêng VNDCCH. Và tất nhiên càng không phủ định VNCH.   Về chính trị đến đây ta  mới thấy vấn đề đại đoàn kết toàn dân,  HÒA GIẢI rồi mới HÒA HỢP  DÂN TỘC do Cố Thủ Tướng Võ Văn Kiệt  đề xuất là thấu tình đạt lý và cũng rất biện chứng, không thể không làm. Và nếu không làm thì lịch sử dân tộc nầy không thể là một dòng chảy thông suốt. Lý lẽ nầy, chắc trên thế giới không ai mà không công nhận, chỉ trừ Trung Quốc!  Nhưng ta và  Trung Quốc  từng cùng phe không công nhận VNCH, vậy coi trong văn kiện, lời hứa có gì mắc mớ với họ không mà thôi. Nhưng dù ta không có sơ hở gì đi nữa thì "mưu Tàu" thâm ác là vô biên. Việc ta phải ta cứ làm. Nhưng để cho chắc ăn từ hình thức lẫn nội dung  thì sửa lại "CỘNG HÒA VIỆT NAM" như phổ biến ở các nước đều có ý nghĩa hơn thực tế hơn quốc hiệu hiện thời CHXHCNVN. Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi cần nhớ rằng nếu chỉ đổi tên nước  mà không chuyển từ toàn trị sang dân chủ thì vô nghĩa, chưa kể các “ẩn số” hệ lụy đằng sau của việc đổi tên nước!   Thay cho lời kết   Lúc này,  ta vẫn còn đủ thời gian, lực lượng và cả uy tín để sửa sai, sửa cái chưa hợp lý, sửa cái dân chưa đồng tình. Cơ hội đi qua là không trở  lại, cần bình  tĩnh nhìn lại  đất nước ta từ ngày hội nhập chẳng những không rút ngắn khoảng cách mà còn tụt hậu xa hơn, cho dù ta có tiến bộ xa một trời một vực so với 1985. Nhưng nếu chỉ có ta so với ta thì có khác nào cứ lải nhải với con cháu về bài ca “ăn mày dĩ vãng” mà thế hệ trẻ chỉ so sánh với cái mà chúng thấy, quốc gia mà chúng biết. Hãy thật lòng, cho dù có đau,  nhìn cách Hunsen hành xử sau 1991 mà nên cả cơ đồ, Myanmar trở mình sau một giấc mơ thế kỷ  vv… là những bài học thực tế  vì  họ biết vượt lên chính mình!   T.V.T   Nguồn: http://xuandienhannom.blogspot.de
......

CHIẾN TRANH TIỀN TỆ ĐÃ ĐẾN HỒI QUYẾT LIỆT

Một số quan niệm cứ cho là, Liên Minh châu Âu không thể tan rã, vì nếu tan rã thì ngay cả nước Đức cũng chết vì bị cô lập kinh tế và đồng Đức Mã quá cao giá khó thể xuất khẩu hàng hóa. Cách đây 2 năm tớ có dịch bài "QUAY VỀ HỆ THỐNG BRETTON WOODS". Vấn đề đồng tiền mạnh yếu không chỉ phụ thuộc vào yếu tố khoa học kỹ thuật(KHKT) phát triển, xuất nhập khẩu mạnh yếu và sự cô lập kinh tế, mà còn là chính sách tiền tệ toàn cầu không còn một hệ thống tốt, để giữ giá đồng bạc của các quốc gia bình ổn, hòng tạo ra một sự ổn định kinh tế toàn cầu, trong một thế động tương đối cho phép. Chính vì không còn hệ thống giữ đồng tiền các quốc gia lưu thông buôn bán, mà khủng hoảng kinh tế trở nên có tính chu kỳ khoảng 7-8 năm một lần ở đâu đó có thừa hoặc thiếu hàng hóa. Sau đó, quy luật bàn tay vô hình của thị trường kiềm lại, nhà nước các quốc gia thò tay can thiệp qua cơn sóng gió. Rồi chúng lại quay trở lại. Sau khi Đức và Nhật được Mỹ bảo kê an ninh sau chiến tranh thế giới II. Hai nước này chỉ lo phát triển KHKT và kinh tế. Đến năm 1970 thị phần xuất khẩu của 2 nước này đã chiếm đến 20% toàn cầu. Họ chủ trương gở bỏ hệ thống Bretton Woods mà họ đã ký kết với Hoa Kỳ vào năm 1944, để cạnh tranh vị trí siêu cường của Mỹ. Họ đã quá sai lầm trong quyết định này. Nên sau đó Hoa Kỳ phải trả lại cho các quốc gia trên 24.000 tấn vàng thế chân ở kho vàng New York. Và từ đó, các nước cứ việc in tiền mà không theo bảo chứng vàng như hệ thống Bretton Woods đã đưa ra, là cứ 35USD in ra phải thế chấp 1 ounce vàng, 70 Đức Mã in ra phải thế chấp 1 ounce vàng, etc... cho các quốc gia có nền kinh tế phát triển đã bầu Hoa Kỳ làm lãnh tụ kinh tài toàn cầu. Chiến tranh tiền tệ bắt đầu xuất hiện trên toàn cầu ở các quốc gia đã phát triển.  Sau đó là một United States of European - Hiệp chủng quốc Châu Âu với cái gọi là Liên Minh Châu Âu - ra đời, nhằm copy mô hình của United States of America - Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ - để hợp quần gây sức mạnh, tạo ra một cực cạnh tranh siêu cường của Mỹ. Để dạy cho thế giới còn lại - đặc biệt là các đồng minh của Hoa Kỳ, cụ thể là Nhật và Đức -  một bài học về kinh tế chính trị học là nghệ thuật của sự có thể. Thập niên 1990 bắt đầu nước Nhật sụp đổ cho đến nay chưa ngóc đầu dậy, chỉ bằng một chiêu thức nâng giá đồng tiền Nhật của chú Sam. Bây giờ đến châu Âu, chú Sam chơi màn nâng giá đồng Euro là toàn bộ lao đao sụp đổ mấy năm nay không có hướng ra. Không chỉ nên nhìn ở chỉ có góc thương trường và kỹ thuật mà lầm. Mình nghĩ điều này cần phải đưa ra để các bạn trẻ hiểu vấn đề là, chiến tranh tiền tệ không chỉ diễn ra giữa Hoa Kỳ và Trung Hoa mà còn cả với toàn cầu. Khoảng 9 năm nay, chiến tranh tiền tệ đi đến hồi khốc liệt nên vàng dầu cứ tăng giảm miệt mài.  Tương lai gần sẽ là anh cả đỏ Trung Hoa sẽ dần sụp đổ với chiến lược đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương đang siết dần thòng lọng. Báo cáo cho hay tăng trưởng kinh tế của Trung Hoa đã giảm năm 2012, mà quý I năm 2013 còn tiếp tục giảm sút chỉ còn 7.7% - giảm hơn 0.2% so với quý IV năm 2012. Một tương lai Trung Hoa sẽ vượt Mỹ vào năm 2016 đang dần xa vời trong ảo tưởng. Và người ta dự đoán đến 2016 tăng trưởng Trung Hoa sẽ về 0% giống với Nhật Bản hiện nay. Với một tình hình căng thẳng về tăng trưởng gần như bằng không của nước Nhật trong suốt 20 năm qua, ông thủ tướng Abe đã quyết định tung gói kích cầu 180 tỷ đô la Mỹ. Nó làm giá đồng đô la tăng mạnh trong tuần qua, và giá vàng giảm với một biên độ lớn nhất trong 33 năm qua. Đồng thời giá dầu cũng giảm kỷ lục với 8USD/thùng - từ 94USD/thùng xuống còn 86USD/thùng ở ngày hôm qua. Hôm qua - 16/4/2013 - Hàn Quốc lại quyết định tung một gói kích thích kinh tế cho Hàn Quốc đang trên đà trì trệ bằng khoảng 17 tỷ đô la Mỹ. Gói này sẽ có thể tiếp tục đánh gục giá vàng và giá dầu xuống trong tuần này hoặc tuần sau. Với việc vàng rớt giá, tờ Business Insider đã tổng kết 10 quốc gia lỗ nặng vì dự trữ vàng quá lớn. Nước Mỹ vẫn là nước có dự trữ vàng lớn nhất thế giới với con số 8.133,5 tấn. Nhưng lâu nay nước Mỹ vẫn là nước có dự trữ vàng trên 8.000 tấn từ 1945 đến nay. Nên nếu vàng tăng giá thì họ lãi, còn có giảm giá thì họ vẫn không bị xem là lỗ. Có lỗ là lỗ ở các quốc gia mới nổi vừa mua lại vàng dự trữ ở giá cao >1600USD/oz - như Trung Hoa, Nga, Ấn là nặng nề nhất. Cứ mỗi cú mà Hoa Kỳ và đồng minh làm cho đồng đô la Mỹ lên xuống giá là, y như rằng gói dự trữ ngoại tệ và vàng của các quốc gia mới nổi teo dần như khối nước đá tan chảy dưới trời nắng gay gắt. Liệu còn bao nhiêu năm nữa thì Trung Hoa sẽ gục ngã trước cuộc chiến tranh tiền tệ mà, Hoa Kỳ và đồng minh Hoa Kỳ đang liên hiệp tác chiến, trong khi ngân hàng phát triển BRICS chỉ mới còn trên giấy, sau chiến thăm của Tập Cận Bình đầu tiên đến Nga và châu Phi, hòng tạo ra một thế lực mới trong các cực của tiền tệ, mà cuộc chạy đua chiến tranh và bong bóng bất động sản đã ngốn gần như hết cả gói dự trữ ngoại tệ 3.200 tỷ đô la Mỹ của Trung Hoa? http://bshohai.blogspot.de/2013/04/chien-tranh-tien-te-en-hoi-quyet-liet.html
......

Chiến tranh và góa phụ

Chiến tranh Việt Nam đã lại để lại hàng triệu goá phụ, và những đứa con côi cút bị mất cha, lìa mẹ. Có người tiếp tục bước thêm bước nữa để tìm hạnh phúc mới, nhưng nhiều người đã ôm con, thờ chồng, sống cuộc đời phòng không, chiếc bóng từ khi tóc hãy còn xanh. Họ là những cánh hoa thời loạn ly bị cuốn đi trong cơn giông bão của chiến tranh. Những tấm gương trung kiên, hy sinh thầm lặng mà không hề nhận được huy chương, không một bó hoa và tên của họ cũng không bao giờ được khắc trên bia đá để nhiều người tưởng nhớ.   Những nỗi buồn câm lặng Trong chương trình hôm nay, nhân kỷ niệm ngày 30 tháng 4 năm 1975, tôi xin gởi đến quý thính giả hình ảnh của những goá phụ đáng kính mà chiếc bóng cô đơn của họ đã ẩn sâu sau những bức tường của những căn nhà hiu quạnh với những nỗi buồn câm lặng, chịu đựng một cách can trường. Cuộc chiến Việt Nam đã chấm dứt cách đây 38 năm, nhà cửa đã mọc lên thay cho những hố bom. Những cánh đồng hoang lúa đã trổ bông. Cây đã nở hoa. Rừng xanh bao lần thay lá. Nhưng vết thương lòng của nhiều thế hệ vẫn còn rỉ máu. Lòng người vẫn chia cắt, ý thức hệ vẫn còn là một hố sâu ngăn cách chưa thể hàn gắn. Người dân trong nước vẫn chưa có cuộc sống bình yên, chưa tìm được tự do, hạnh phúc thật sự. Đã có rất nhiều tài liệu, sách vở viết về "Cuộc chiến Việt Nam”.Tất cả đều cho rằng đây là cuộc chiến tranh khốc liệt, đẫm máu và đầy nước mắt. Nhưng con số thương vong chính xác vẫn chưa thống kê một cách đầy đủ. Theo Tổ chức Vietnam Agent Orange Relief & Resposibility Campain có trụ sở tại New York cung cấp thì có khoảng 4 triệu người Việt Nam của hai bên đã thiệt mạng, bị thương, hoặc mất tích trong giai đoạn 1965-1975. Riêng quân đội Hoa Kỳ đã có 58,151 người hy sinh trên chiến trường miền Nam Việt Nam. (*) Chỉ riêng tại Miền Nam đã có 800.000 trẻ em mồ côi. Hàng triệu goá phụ và ít nhất 10 triệu người trở thành vô gia cư (**). Hai phụ nữ Việt Nam tại nghĩa trang quân đội Biên Hòa hôm 29/4/1975 AFP photo Những câu chuyện về cuộc đời của những goá phụ là những nỗi thống khổ và sự mất mát của họ đã vượt qua không gian và thời gian. Làm thế nào họ thích ứng sau đó và bây giờ? Làm thế nào họ được an ủi, hỗ trợ, hoặc những gì họ đã cố gắng tìm kiếm để tạo dựng lại cuộc sống, tìm cho mình và các con một tương lai hạnh phúc mới. Tất cả điều đó đã được khám phá trong những câu chuyện bi thảm dần dần được hé mở. Những bi kịch, đổ vỡ trong trái tim và cuộc đời họ rất thầm lặng như một mạch nước ngầm thấm sâu trong lòng đất. Sau năm 1975, cộng sản đã đưa hơn 1 triệu dân quân cán chính VNCH đi học tập cải tạo. Có người đã được trở về sum họp gia đình. Nhưng có 165.000 người đã chết trong nhà tù cộng sản. (***) Miền Nam lại có thêm những goá phụ với cõi lòng tan nát. Tôi được tiếp xúc với bà Trần Thanh Minh, người goá phụ có chồng là Giảng Viên Tâm Lý Chiến tại trường Võ Bị Đà Lạt, bị cộng sản bắt giam và ông đã chết trong tù. Bà một mình phải nuôi bốn đứa con nhỏ, cháu lớn nhất mới vừa 6 tuổi và cháu nhỏ nhất mới vài tháng tuổi. Bà đã kể lại hoàn cảnh của mẹ con bà sau cái chết của chồng: Thế là xong, là tuyệt vọng cả đời. Lúc đó, tôi sống cũng như chết rồi…. - Bà Trần Thanh Minh   “Ông xã tôi ra đi lúc đó tôi mới có 35 tuổi. Nhưng mà sau 20 năm ở lại với bao nhiêu những đau khổ, vật lộn với miếng ăn. Tôi đã đi bán bánh tôm, bánh cuốn ở Hồ Con Rùa. Tôi đã đi chạy thuốc tây. Tôi đã bán quà cho học trò ở trong những căng-tin trong trường. Có thể nói rằng ai sai cái gì làm cái đó. Mình làm hết cái khả năng của mình cũng không đủ nuôi con. Cho nên cái mong ước lúc bấy giờ, tôi chỉ cầu xin làm sao cho các con tôi đủ ăn, sống một cuộc đời không phải đói rét.” Trong bài hồi ký “Chuyện Buồn Người Vợ Tù” bà đã viết “Thế là xong, là tuyệt vọng cả đời. Lúc đó, tôi sống cũng như chết rồi….” Bà đã kể thảm cảnh chết đói của chồng khi đi học tập cải tạo tại Miền Bắc với tâm trạng bồi hồi và xúc động: “Cô Phong Thu biết tù cải tạo không tức là họ đưa đi vào rừng vào núi để làm một cái nhà tù lớn để ở trong đó lao động cuốc đất, trồng cây. Nhưng mà hơn một năm trời không có tin tức gì hết. Sau đó là nhà nước cho đi thăm nuôi. Nhưng tôi không được may mắn hơn mọi người. Khi ở trong Nam là còn được đi thăm. Nhưng khi họ chuyển nhà tôi đi ra Bắc. Tôi ra tới chỗ mới biết chồng tôi đã chết ở Vinh, Nghệ Tĩnh. Theo lời các anh kể lại là lúc bấy giờ không có ăn phải ăn lá cây chín ngày, không thuốc men là phải chết thôi. Tôi nghĩ là không thể nào quên được hết cái cảm giác trước khi tôi gục xuống thì tôi thấy như là có vật gì nó đập vào tôi, tối đen và có ánh sáng li ti phát ra. Tôi ngất đi.” Khi tôi hỏi bà suy nghĩ gì về cuộc chiến đã qua và bà có ý kiến gì với chính sách cai trị của nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội. Bà chỉ buồn bã nói: “Chuyện đã qua thì tôi không có chính trị cho nên tôi cũng chẳng có ý kiến gì nhưng tôi không đồng ý với những chính sách mới là tại sao cứ phải làm khổ nhau? Tại sao không dùng những chất xám, những bộ óc siêu việt để mà xây dựng lại đàng này lại đem người ta vào rừng sâu, nước độc rồi để cho người ta đói khát chết dần, chết mòn. Rồi để cho vợ con người ta khổ sở đi kinh tế mới. Không có một gia đình nào tôi thấy trọn vẹn hết. Người ta cố đi tìm tự do. Tại sao người ta phải đi tìm? Vì người ta khổ quá. Người ta không có ăn. Sống không được nói. Lúc nào cũng bị kiềm kẹp, lúc nào cũng lo sợ. Thành ra chính tôi đã dẫn những đứa con tôi đi vượt biên.” Bà đã đưa các con đi vượt biên 20 lần nhưng không thoát và phải đi tù nhiều lần. Trong nhà tù đói khát và hết sức khủng khiếp mà cho đến nay đã mấy chục năm bà vẫn không bao giờ quên. Vết thương lòng còn mãi   Giáo Sư Pauline Laurent, tác giả cuốn Grief Denied - A Vietnam Widow's Story. Photo courtesy of griefdenied.com Ngay cả trong lòng xã hội Mỹ, cuộc chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt 40 năm nhưng nỗi ám ảnh vẫn chưa thực sự kết thúc. Tôi có dịp trao đổi với Giáo Sư Pauline Laurent, tác giả quyển sách nổi tiếng “Nỗi Buồn bị Từ Chối- Câu chuyện về người goá phụ trong chiến tranh Việt Nam.” Grief Denied - A Vietnam Widow's Story). Bà đã kể cho tôi nghe câu chuyện cảm động về cuộc đời bà: “Chồng tôi tên là Sgt. Howard E. Querry chết trong cuộc tấn công Mini- Tết vào ngày 10 tháng 5 năm 1968. Đó là tuần lễ mà nhiều người lính Mỹ tử trận nhiều nhất trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam. Lúc đó, tôi mới 22 tuổi, đang mang thai đứa con đầu lòng được 7 tháng. Đơn vị anh đến gõ cửa và báo cho tôi biết chồng tôi đã hy sinh tại một thành phố gần Sài Gòn. Thi hài anh được đưa trở lại Hoa Kỳ hai tuần sau đó. Họ không cho tôi được mở nắp quan tài để nhìn anh một lần sau cùng. Thật khó khăn biết bao khi tôi chôn cất anh mà không được nhìn thấy thi thể của anh. Chúng tôi đã làm lễ chôn cất anh tại nhà thờ mà cách đây một năm chúng tôi đã làm lễ cưới tại đây. Chúng tôi cưới nhau vào tháng 9 năm 1967, anh hy sinh vào tháng 5 năm 1968, con gái tôi được sinh ra vào tháng 7 năm 1968.” Trẻ trung, thông minh, xinh đẹp và có một địa vị xã hội cao, nhưng bà Pauline đã không tái giá. Bà sống một mình nuôi con với sự an ủi, trợ giúp của cha mẹ và gia đình. Trái tim bà không còn rung động lần thứ hai vì cảm xúc yêu thương đã chết từ khi chiếc quan tài của người chồng thân yêu chôn sâu trong lòng đất. Bà đã bị bịnh trầm cảm nhiều năm bởi nỗi buồn của bà không được lộ ra ngoài, không có ai chia sẻ. Bà nói: “Tôi chưa bao giờ lập gia đình lần thứ hai. Trái tim tôi đã tan vỡ và không bao giờ còn chữa lành được vết thương kể từ khi anh qua đời và lúc đó tôi còn quá trẻ. Tình yêu đó vẫn chưa tan trong tim tôi. Tôi cũng có quen một vài người đàn ông sau này nhưng chưa ai làm cho tôi rung động và dẫn đến quyết định kết hôn và chung sống với họ. Không bao giờ tôi tìm được người đàn ông nào tuyệt vời như chồng tôi. Và anh cũng yêu tôi biết bao. Tôi sống chung với một vài người bạn gái nhưng chưa bao giờ chung sống với bất cứ người đàn ông nào.” Sau đó, bà đã viết sách để bày tỏ nỗi lòng của mình. Đó là giải pháp để bà tự chữa lành vết thương, giải thoát cho bà ra khỏi sự im lặng, nỗi buồn dai dẳng và bà đã nhiều lần có ý định tự sát. Bà tâm sự: “Tôi đã bỏ ra 10 năm để viết quyển sách (Grief Denied-A Vietnam Widow's Story - Nỗi Buồn Bị Từ Chối - Câu chuyện của một goá phụ trong cuộc chiến tranh Việt Nam”).Tôi bắt đầu viết khi tôi rơi vào trạng thái đau khổ, buồn chán và muốn tự sát. Tôi không thể tự kết liễu đời mình vì tôi còn nghĩ đến con gái của tôi. Quyển sách của tôi đang bán tại website: http://www.griefdenied.com. Nó cũng bán trên Amazon.com. Nội dung quyển sách nói về chuyện tại sao tôi im lặng, chịu đựng suốt cuộc chiến tranh Việt Nam, và tôi muốn nói cho mọi người hiểu những đau khổ của những người phụ nữ có chồng là một người lính Mỹ đã tử trận. Tôi cũng muốn nói cho mọi người biết làm thế nào để tự chữa lành vết thương trong trái tim mình. Phần sau cùng của quyển sách là niềm vui của tôi khi Alexis Monhoff, đứa cháu trai đầu tiên của tôi ra đời.” Tôi chưa bao giờ lập gia đình lần thứ hai. Trái tim tôi đã tan vỡ và không bao giờ còn chữa lành được vết thương kể từ khi anh qua đời và lúc đó tôi còn quá trẻ. Tình yêu đó vẫn chưa tan trong tim tôi. - Giáo Sư Pauline Laurent Còn nỗi lòng của bà Trần Thanh Minh thì sao? Bà đang mơ ước những gì vào cuối cuộc đời sau biết bao bể dâu, cay đắng? Bà đã viết rằng “Tôi chắc chồng tôi cũng nuối tiếc như tôi và đang chờ tôi đi với anh. Chúng tôi phải nối tiếp lại những ngày hạnh phúc ngắn ngủi xa xưa. Tôi không thể sống mãi trong cô đơn để run sợ trước những ám ảnh của dĩ vãng và những nhung nhớ khôn nguôi người chồng mà tôi mãi mãi yêu thương như buổi đầu gặp gỡ” (Trích trong bài hồi ký “Chuyện Buồn Người Vợ Tù của bà Trần Thanh Minh). Bà tâm sự: “Những người Mỹ nhân đạo đã đưa mẹ con tôi qua đây theo diện HO. Gia đình có người chết trong trại cải tạo thì họ cho tôi đi. Mẹ con chúng tôi qua đây được mười mấy năm. Cuộc sống rất là ổn định. Các cháu học hành thành tài, có gia đình hạnh phúc. Lúc này, tôi chẳng còn mơ ước gì hơn là mình sẵn sàng ra đi. Cũng hy vọng là ra đi để được đoàn tụ với người chồng mà tôi chỉ được chung sống có năm năm. Đó là nguyện ước cuối cùng của tôi. Tại vì sống ở trên đời này, mình không tìm thêm được một nửa người của mình nữa thành ra mình hy vọng nếu có thế giới bên kia thì mình sẽ được gặp lại phải không cô Phong Thu.” Tôi cũng hỏi bà Pauline về niềm hy vọng cho những goá phụ Việt Nam và Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh Việt nam, bà Pauline không nói gì về thù hận. Bằng một tấm lòng đầy vị tha và đầy tình người. Bà nói: “Tôi rất đau buồn cho người Mỹ cũng như người Việt Nam về những gì đã diễn ra. Bởi vì người Mỹ không có ai nói về cuộc chiến tranh Việt Nam cho nên vết thương lòng không thể hàn gắn lại được. Hãy tiếp tục tự chữa lành những vết thương lòng và hãy tha thứ, quên đi những bi kịch đau buồn của cuộc chiến tranh đó. Vì nó đã gây ra đau thương cho rất nhiều người, cả người Mỹ và người Việt Nam.” Người chết là hết. Họ trở về với cát bụi. Nhưng người còn sống luôn khắc khoải, sống trong nỗi tuyệt vọng, nhung nhớ và đón nhận mọi giông bão của cuộc đời. Xin dành một vòng hoa đẹp nhất, trang trọng nhất để vinh danh những người mẹ, những người vợ đã hy sinh thầm lặng một đời để thờ chồng và nuôi các con khôn lớn. Tình yêu của họ là một viên ngọc quý báu để người đời suy gẫm và biết trân trọng hạnh phúc mà mình đang có trong tay./. Tài liệu tham khảo: (*) http://www.VN-AgentOrange.org • info@... .(**) http://25thaviation.org/facts/id795.htm. (***) http://www.historylearningsite.co.uk/vietnam_boat_people.htm Những tài liệu liên quan: Chiến tranh Việt Nam, © 1996 bởi Paul Shannon. Với một số cập nhật. Tháng 4 năm 2000. Ngô Vĩnh Long, trong "Triển vọng Việt Nam," Bách khoa toàn thư của chiến tranh Việt Nam, ed. Stanley Kutler (New York: Scribner, 1996) Vietnam Agent Orange Relief& Responsibility Campaign • P.O. Box 303 Prince Station, New York, NY 10009 ) Nguồn: http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/women-and-the-war-pt-041620131207...
......

Trung lập: quyền lợi dân tộc hay quyền lợi giai cấp?

Trong cuộc sống, một người thường có nhiều bạn. Và trong số nhiều bạn đó, sẽ có bạn rất thân, thân nhất. Nhưng khi ta khẳng định ai cũng là bạn như nhau của ta – trong số đó bao gồm cả  kẻ thù của ta, thì điều đó đồng nghĩa với không ai là bạn của ta cả, ngoài một thực tế là ta có kẻ thù.  Chúng ta biết nước ta đang tiến hành một chính sách đối ngoại mà theo cách diễn tả phổ cập là trung lập, là làm bạn với tất cả các nước, là không đi theo hay liên minh với một nước nào cả.  Có người cho đây là một chiến lược khôn ngoan. Nhưng với những ai hiểu biết, thì đó là sai lầm sơ đẳng, sẽ rất nguy hại cho vận mệnh quốc gia, nhất là khi xẩy ra xung đột vũ trang.  Trung lập có phải là trò chơi của nước nhỏ?  Chúng tôi muốn tiếp tục cách tiếp cận dạng tiên đề như trong bài trước (Tái cơ cấu kinh tế: Bổ đề cơ bản), để vạch ra sự sai lầm của chiến lược trung lập của nước ta hiện nay. Trung thành với cách tiếp cận thống nhất, chúng tôi sẽ đặt những câu hỏi mang tính cột sống mà từ đó sẽ suy ra lời giải cho bài toán nêu ra ở trên. Chúng tôi xin nhấn mạnh lần nữa, trong các câu trả lời, chúng tôi chỉ đề cập đến các nguyên nhân chính.  1.Việt Nam có phải là một cường quốc lớn hay không?  Câu trả lời rõ ràng là: Không.  Điều này thì có lẽ tất cả mọi người đều thống nhất.  2. Khi tự cho mình là trung lập, có phải Việt Nam đã tự đặt mình trong vị thế độc lập với các nước còn lại? Câu trả lời rõ ràng là: Đúng.  Khi chúng ta nói chúng ta trung lập, có nghĩa là chúng ta không theo ai cả. Khi chúng ta nói chúng ta làm bạn với tất cả và chúng ta không liên minh riêng rẽ với ai, tức là không có ai thân thiết đặc biệt hơn đối với ta. Cho nên khi tuyên bố chúng ta trung lập, không liên minh với ai, chính là chúng ta đã tự đặt mình vào vị thế độc lập, ngang hàng với các cường quốc lớn hay các liên minh khác, tự chúng ta là một cực trên bàn cờ.  3. Khi chúng ta trung lập không liên minh với ai cả, có một cường quốc lớn tấn công nước ta, các nước khác có ai cùng tham chiến bảo vệ ta không?  Câu trả lời dứt khoát là: Không Rõ ràng các cường quốc lớn sẽ phải rất cân nhắc, sẽ không dám đơn phương tấn công một nước trung lập nếu đó là một nước lớn mạnh. Nhưng một cường quốc lớn có thể sẽ dễ dàng tấn công một nước trung lập nhỏ yếu khác.  4. Các cường quốc lớn có luôn tiến hành những chính sách để họ lớn mạnh hơn và giành ảnh hưởng nhiều hơn đối với các nước nhỏ?  Câu trả lời rõ ràng là: Có.  Từ các phân tích trên, mệnh đề dưới đây sẽ là câu trả lời đúng đắn cho vấn đề đã đặt ra: Trên bàn cờ quốc tế chỉ có các cường quốc lớn mới đủ năng lực để tự cho mình quyền trung lập, tức là quyền độc lập với các nước khác, quyền tự mình đứng riêng hay dẫn đầu một phe. Các nước nhỏ không đủ năng lực để tự bảo vệ mình trong tư cách của một quốc gia trung lập và sớm hay muộn sẽ bị phụ thuộc nhiều hơn vào một cường quốc lớn. Trò chơi trung lập là trò chơi của các cường quốc lớn, không phải là trò chơi của nước nhỏ.  Đến đây thi bạn đọc có thể thấy rõ đối với một nước nhỏ, việc tiến hành một chiến lược đối ngoại trung lập, làm bạn với tất cả, không liên minh với ai cả, là một sai lầm chiến lược. Điều này rất nguy hiểm cho vận mệnh quốc gia khi có một nước lớn láng giềng luôn ngang ngược o ép, tìm cách lấn chiếm lãnh thổ, bắt phải phụ thuộc.  Đằng sau sự lạ lùng của chính sách đối ngoại?  Hãy nhìn các cường quốc như Nhật, Đức, Pháp, Anh mà còn phải tự liên minh lại, hay liên minh với một cường quốc lớn như Mỹ, thì thấy chính sách trung lập của nước ta thật lạ lùng đến dường nào!  Ta sẽ đi tìm hiểu sự lạ lùng của chính sách đối ngoại của nước ta.  1. Lãnh đạo nước ta có biết  nhà cầm quyềnTrung Quốc không tốt với nước ta không?  Câu trả lời cũng rất rõ ràng: Có.  Không người Việt Nam nào là không biết tâm địa của các nhà cầm quyền Trung Quốc đối với nước ta.  2. Tại sao lãnh đạo nước ta không liên minh với Hoa Kỳ?  Câu trả lời là: Sợ Hoa Kỳ đòi cải cách dân chủ và nhân quyền sẽ dẫn đến chế độ đa đảng.  3. Tại sao lãnh đạo nước ta lại không liên minh với Nga?  Bởi Nga chưa đủ sức mạnh cần thiết để áp đảo Trung Quốc, và Nga có những lợi ích chiến lược với Trung Quốc mà Nga chưa thể hy sinh vì ta.  4. Tại sao biết nhà cầm quyền Trung Quốc không tốt mà lãnh đạo Việt Nam vẫn phải thân với họ?  Câu trả lời cơ bản sẽ như sau: Một là, Có những người trong lãnh đạo nước ta sợ Trung Quốc,  vì có thể Trung Quốc gây ảnh hưởng làm mất ghế lãnh đạo; Hai là, Muốn dựa vào Trung Quốc để duy trì chế độ một đảng dưới quan niệm lầm tưởng cùng tương đồng ý thức hệ, cùng thể chế một đảng như nhau;Ba là, Chưa thể liên minh riêng với Nga; Bốn là, Không dám liên minh với Hoa Kỳ vì sợ mất chế độ một đảng.  5. Trong 3 cường quốc lớn là Hoa Kỳ, Nga,  Trung Quốc, Nước nào đang là là mối nguy trực tiếp nhất đối với nước ta?  Câu trả lời là: Trung Quốc.  Như vậy bạn đọc có thể tự rút ra câu lời tại sao lại có sự chọn lựa chính sách đối ngoại lạ lùng như vậy của lãnh đạo nước ta.   Hệ lụy của chính sách trung lập  Như trên đã chỉ ra, chính sách trung lập của lãnh đạo nước ta hiện nay là do mâu thuẫn chính trong nội tâm của họ. Họ muốn bảo vệ thể chế một đảng nên lúng túng không thể lựa chọn liên minh. Nếu đứng trên phương diện lợi ích dân tộc thì câu trả lời đã quá rõ ràng.  Cần thiết phải chỉ ra rằng, tình cảnh “Con kiến mà leo cành đa” hiện nay sẽ dẫn đến những hệ lụy tất yếu sau đây, ảnh hưởng đến an nguy và lợi ích dân tộc.  Khi xung đột vũ trang xẩy ra với Trung Quốc, không cường quốc lớn nào hay liên minh nào liều mình bảo vệ nước ta.  Càng tránh xung đột vũ trang, chúng ta càng bị Trung Quốc chèn ép trắng trợn.  Chúng ta phải cam chịu để Trung Quốc chiếm Hoàng Sa và một phần Trường Sa và không dám kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế vì không có liên minh đủ mạnh hậu thuẫn.  Chúng ta sẽ bị Trung Quốc ngang ngược lấn chiếm khai thác dầu khí trên phần thềm lục địa của chúng ta.  Ngư dân chúng ta sẽ bị Trung Quốc xua đuổi hành hạ. Chúng ta không thể có biện pháp ngăn chặn hiệu quả và ngày càng trở thành thị trường tiêu thụ hàng hóa Trung Quốc.  Kết cục là chúng ta ngày càng phụ thuộc vào Trung Quốc toàn diện về chính trị kinh tế và sẽ mất thêm lãnh thổ cho Trung Quốc.  Câu hỏi tại sao? Khái niệm dân tộc có trước và sẽ trường tồn lâu hơn khái niệm giai cấp. Quyền lợi dân tộc lớn hơn quyền lợi giai cấp.Vậy tại sao chúng ta phải hy sinh quyền lợi dân tộc để bảo vệ quyền lợi giai cấp?Yêu nước là yêu dân tộc! N.N.C. Tác giả gửi trực tiếp cho BVN  http://boxitvn.blogspot.de/2013/04/trung-lap-quyen-loi-dan-toc-hay-quyen...
......

Bình Dương có nghĩa trang dành cho người Trung Quốc

Nghĩa trang nằm trên quốc lộ 13, gần khu dân cư 434 của tỉnh Bình Dương, cách khu công nghiệp Việt Nam-Singapore chừng 6km, diện tích gần 400 hecta (rộng tương đương 50% diện tích khu dân cư 434 với hơn 50 ngàn người). Có thể nói, đây là khu nghĩa trang rộng thoáng, đẹp và yên tĩnh thuộc vào bậc nhất nhì của quốc gia. Nó nằm cách khu nghĩa trang Quân Ðội Biên Hòa chừng 30km theo đường chim bay. Nhưng, nghĩa trang Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tàn tạ bao nhiêu thì nó khang trang bấy nhiêu. Với hàng chục ngàn ngôi mộ nằm thẳng thớm, cỏ cây được tỉa tót sạch sẽ, tưới mát mỗi ngày, nghĩa trang được chăm sóc hết mức. Có riêng đội bảo vệ và ban quản trang cho khu nghĩa trang này. Người lạ tuyệt đối không được bước vào nghĩa trang. Nếu không có người thân (hay nói cách khác, không phải là con cháu của người Hoa) thì không được bước vào bên trong cổng nghĩa trang dù chỉ ba bước. Bên trong có quán cà phê phục vụ ban quản trang, bảo vệ, có sân tenis và có cả một đài tưởng niệm nằm bên cạnh ngôi chùa lợp mái ngói xanh kiểu Tàu để hằng ngày tụng niệm cầu siêu cho các vong hồn... Ông H., nhân viên bảo vệ nghĩa trang cho biết: “Nghĩa trang này rất rộng, theo chỗ tôi thấy, nó trên 470 hecta chứ không phải là 400 như con số được biết. Mộ trong này rất khang trang, nó dành riêng cho cộng đồng người Hoa, không có bất kỳ ngôi mộ nào của người Việt ở trong này, bạn có thể ví von đây là lãnh sự quán cõi âm Trung Quốc tại Việt Nam.” Ðài tưởng niệm trong nghĩa trang. (Hình: Hoàng Hạc/Người Việt) “Tôi dám đoan chắc rằng không có cái nghĩa trang nào rộng và thoáng mát hơn nghĩa trang này, nó tồn tại được hơn trăm năm nay, càng lúc càng mở rộng, có nhiều cổ thụ xà cừ đã hơn một trăm năm nay. Ban quản trang ở đây đã làm qua mấy đời, tiếp tục cha truyền con nối vào đây làm việc, mức lương cũng hậu hĩ, mỗi tháng kiếm được cả chục triệu đồng mỗi người...” Một ông khác tên T., làm trong ban quản trang cho biết thêm: “An ninh ở đây được bảo vệ tuyệt đối, kín cổng cao tường, từ lúc tôi làm việc đến giờ, chưa có vụ mất trộm nào...” Chúng tôi hỏi ông T. thử trong nghĩa trang toàn mồ mả, lấy gì để trộm mà phải nói là không có vụ mất trộm nào, ông T. cười sảng khoái: “Mấy ông không biết đó thôi, ở đây rất nhiều tài sản quí, người chết toàn là nhà giàu, người Hoa nữa, nên người ta chôn cất theo nhiều thứ, không ngoại trừ vàng bạc, đá quí, chỉ cần bỏ lơ một đêm, tụi trộm nó vào đây đào sạch.” “Chính vì thế, chúng tôi ở đây, từ ban quản trang cho đến bảo vệ đều là người Hoa, chỉ có người Hoa mới tự bảo vệ nhau mà thôi!” Câu nói của ông T. làm chúng tôi hơi lạnh người, vì giữa xứ sở toàn là người Việt, dù sao ông và những người cùng làm việc trong nghĩa trang cũng chưa phải là người bản xứ, nhưng cách nói chuyện của ông cho thấy ông rất đề cao người Hoa và tỏ ra khinh thị người bản xứ, đây là vấn đề cực kỳ nhạy cảm và cũng có thể nguy hiểm cho bản thân ông cũng như nhóm làm việc ở nghĩa trang nếu như người chung quanh đây nổi giận vì cách nói chuyện có tính báng bổ của ông... Cổng vào nghĩa trang, sau lưng nó là bốt gác. (Hình: Hoàng Hạc/Người Việt) Bà L., bán cà phê trong nghĩa trang cho biết: “Trong khu nghĩa trang này có chừng hai chục ngàn ngôi mộ, trong đó có chừng một nửa là mộ rất khang trang, có giá xây dựng không dưới một trăm triệu đồng, trong đó chưa kể đến đồ vật quí giá chôn kèm theo. Ðây là khu mộ vĩnh cửu của người Hoa trên đất Việt, còn dư nhiều đất lắm!” Cách nói chuyện tự tin của ba L. về “khu mộ vĩnh cửu” của người Hoa ngay tại Việt Nam khiến chúng tôi nghĩ đến vấn đề biên giới, lãnh thổ và dân tộc. Trên một nghĩa nào đó, dường như người Hoa đã có chỗ đứng quá vững trên đất Việt Nam, họ tuy không nói ra nhưng đã tự khẳng định với nhau về chủ quyền đất đai ở nơi này. Khác với những nghĩa trang của chính người anh em trong gia đình Việt Nam như hàng nhiều nghĩa trang Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã bị đập phá, bứng bia, đạp tượng đài và bỏ cỏ cây mọc um tùm, rễ cây lấn vào âm phần chiến sĩ...! Ngồi một lúc nữa, chúng tôi rời quán cà phê nghĩa trang, cũng xin nói thêm, để vào bên trong nghĩa trang này ngồi nói chuyện, chúng tôi tốn cả buổi tìm hiểu và làm quen với mấy bảo vệ nghĩa trang, sau đó, nhờ một người lượm ve chai, tên Hùng, người Việt, trước đây là thầy dạy võ của đội bảo vệ này dắt vào quán cà phê bên trong ngồi uống. Nhìn những người Trung Quốc ngồi rất ung dung, tự tại trong khu nghĩa trang rộng lớn của họ ngay trên đất Việt Nam, tự dưng gợi lên trong chúng tôi một mối cảm hoài về những nông dân Văn Giang, gia đình anh Ðoàn Văn Vươn và nhiều người dân nghèo Việt Nam không có đủ tiền mua đất xây mộ cũng như hàng nhiều nghĩa trang Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bị đối xử rất tệ, bị mất dấu trên quê hương. Ðó có phải vì họ không phải là người Trung Quốc? Vì sao người Trung Quốc lại được biệt đãi, người chết cũng có được không gian rộng rãi, có chủ quyền hẳn hoi, trong khi người Việt với nhau lại bỗng chốc trở thành dân oan mất đất, ăn bờ ngủ bụi để vác đơn đi kiện, đến chỗ ngủ ngoài công viên cũng không được yên ổn. Thật là tội nghiệp cho người Việt Nam! Thế mới hiểu cái câu nói của ông T., bảo vệ nghĩa trang có ý nghĩa chừng nào: “Vì đây là tổng lãnh sự quán cõi âm Trung Quốc ở Việt Nam, nên nó được bảo vệ rất nghiêm ngặt!” http://www.nguoiviet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=164674&zoneid=310#.UW2-BUof6YY  
......

Phiên tòa phúc thẩm sắp tới xét xử tám nhà đấu tranh nhân quyền

Ngày 24 tháng 4 năm 2013 vào 7 giờ sáng, phiên tòa phúc thẩm sẽ diễn ra để xử các ông Hồ Đức Hòa, Thái Văn Dung, Paulus Lê Sơn, Nguyễn Xuân Anh, Trần Minh Nhật, Nguyễn Đình Cương, Hồ Văn Oanh và Nguyễn Văn Duyệt tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Các nhà đấu tranh nhân quyền nêu trên thuộc nhóm 17 nhà tranh đấu nhân quyền bị bắt trong thời gian 30 tháng 7 đến ngày 16 tháng 8  năm 2011. Họ đều là thành viên của Dòng Chúa Cứu Thế, và là những người tham gia tích cực trong việc vận động và bảo vệ những quyền lợi kinh tế, xã hội và văn hóa tại Việt Nam. Trong số người bị bắt đã có 14 người bị tuyên những bản án từ 3 đến 13 năm tù trong một phiên tòa diễn ra vào tháng Giêng vừa qua. Họ đã bị giam giữ và bị đem ra xử theo Điều 79 và 88 Bộ luật hình sự về tội 'lật đổ chính quyền' và 'tuyên truyền chống phá nhà nước'. Ông Đặng Xuân Diệu, một trong những người bị tuyên án vào tháng Giêng năm 2013 với bản án 13 năm tù giam đã không được kháng án. Ông đã viết đơn yêu cầu điều tra lại và mở phiên xử mới, tuy nhiên ông đã bị từ chối vì đơn được nộp sau thời hạn quy định là 15 ngày. Nhà đấu tranh nhân quyền này đã bị từ khước quyền thăm viếng và không được tham khảo với luật sư, và vì vậy mà có thể ông đã không kịp nộp đơn kháng án.    Các luật sư của tám nhà đấu tranh nhân quyền cho biết các thân chủ của họ đã phải đối diện với những hoàn cảnh tù đày khắc nghiệt. Các ông Paulus Lê Sơn, Trần Minh Nhật, Nguyễn Đình Cương và Hồ Văn Oanh đã bị giữ trong những phòng giam không có điện. Họ cũng chỉ được cung cấp thức ăn và nước uống giới hạn, đôi khi thực phẩm cũ thấy rõ. Paulus Lê Sơn không được uống thuốc và không có sách báo, giấy viết. Ông chỉ được có quyển Kinh Thánh sau ba ngày tuyệt thực để phản đối. Trần Minh Nhật được tin là bị một tù nhân khác hành hung cách đây hai tháng. Front Line Defenders một lần nữa kêu gọi các nhà chức trách Việt Nam hủy bỏ những bản án đối với các nhà đấu tranh nêu trên và thả họ ngay lập tức và vô điều kiện. Hồ Văn Oanh, Nguyễn Đình Cương,  Nguyễn Văn Duyệt, Nguyễn Xuân Anh, Paulus Lê Sơn, Thái Văn Dung, Hồ Đức Hòa, Trần Minh Nhật, Để biết thêm chi tiết, xin vui lòng xem bản thông cáo báo chí ngày 24 tháng 9 năm 2012, lá thư chung của Front Line Defenders và nhiều tổ chức NGO quốc tế khác đề ngày 27 tháng 8 năm 2012, và lời kêu gọi khẩn cấp của Front Line Defender ngày 14 tháng 11 năm 2011.
......

NÓI NHƯ VẸT

Nhìn lại 38 năm                                                        Từ nhỏ tôi từng nghe người ta nói, nuôi con nhồng hay sáo cho ăn thịt mỡ, ăn ớt, lấy lá tre cắt một chút lưỡi, dạy nó sẽ nói được tiếng người. Tôi chỉ nghe tiếng chim ca hót ngoài trời, nhưng chưa được nghe các loại chim nói tiếng người. Tết vừa qua gia đình tôi tới thăm anh chị ở Houston, các con của anh chị trưởng thành ra trường đi làm xa nên nhà rộng và trở nên vắng lặng. Lúc trước chúng tôi đến thăm có hai con chó rất đẹp, hiền dễ thương ngồi dưới chân tôi giờ nầy không còn nữa, anh chị cho biết đi làm cả ngày ngoài tiệm Furniture, 2 con chó ở sân sau bị bọn ăn trộm bỏ thuốc độc chết, cạy cửa nhà ăn trộm nên bây giờ nuôi chim cho vui. Ở Việt Nam đời sống còn nghèo nên có người ăn trộm, sang xứ văn minh nầy cũng không thiếu người lười biếng, không muốn đi làm mà thích đi ăn trộm mới là chuyện lạ…thỉnh thoảng cũng có những trường hợp cướp của giết người bị ngồi tù rục xương hay tử hình trên ghế điện. Đời sống tập hợp xã hội là vậy, sống đàng hoàng ở đâu cũng phải đổ mồ hôi để trả nợ áo cơm, tiền không rơi từ trên trời xuống. Người Việt tỵ nạn đến Mỹ với 2 bàn tay trắng làm nên sự nghiệp sau 38 năm thật thành công, nơi nào có người Việt sinh sống nơi đó trở nên phồn thịnh, nhà cửa vườn tược đều to lớn, có thể xứ Mỹ đất rộng nên đời sống phát triển và hội nhập dễ hơn các quốc gia Âu Châu? Ngoài vườn những cây hoa đào, cây táo đang nở rộ màu hồng mơn mởn bên hồ nước xanh dưới đáy còn rong rêu và những chiếc lá khô...Chủ nhà không có thời giờ dọn dẹp, thay nước vì sáng từ 9 gìờ đi cho đến 21 giờ về nhà, làm sổ sách cho tới nửa đêm, tuần lễ 7 ngày không nghỉ.   Nhà rộng hơn 300 m², trong khi ở Đức hai người chỉ cần khoảng 70-80 m² là đủ. Nhà của anh chị không có trẻ em, bỗng nhiên tôi nghe tiếng nói thánh thót cuối phòng khách “ba mẹ về“, con Papagei màu xanh xinh đẹp anh chị nuôi từ lúc nó còn nhỏ, dạy nó nói được mấy câu thông thường, phải nhốt nó trong cái lồng lớn nếu nó bay ra ngoài cắn phá tùm lum. Con vẹt lấy mỏ kéo trên song sắt chuồng làm tiếng chuông điện thoại reo và nó nói tiếp “VC xấu“ nghiã là Việt cộng xấu. Cả nhà đều cười, chính quyền CSVN thường kết tội những người đối lập là phản động…Còn con vẹt nầy gọi họ Việt cộng xấu, chắc chắn họ đập đầu nó từ lâu. Hàng ngày chị chăm sóc cho nó ăn và dạy nó nói, chị ghét bọn CS sau 30.4.1975 cướp tài sản đuổi gia đình chị đi vùng kinh tế mới, mẹ chị phải xuống Vĩnh Long làm nhà lá nhỏ bên một dòng sông sống tạm. Đứa em gái út không quen tắm sông bị nước cuốn chết. Người em khác vượt biên bị mất tích trên biển Đông…Gia đình chị và các em trai còn nhỏ, không có ai tham gia chính quyền VNCH, ba mất sớm mẹ mở tiệm bán vải và áo quần để nuôi các em ăn học, “giải phóng miền Nam“ gia đình chị là nạn nhân của chế độ, bị kết tội “tư sản mại bản“…May mắn sau khi chị thành hôn với anh cùng vượt biển tới Thái lan, định cư Hoa Kỳ từ năm 1978, lúc nào chị cũng bị ám ảnh với buổi sáng thuở nào đám thanh niên nam nữ là đoàn viên thanh niên CS tới ở trong nhà, kiểm soát sợ tẩu tán tài sản, sau đó tịch thu nhà đuổi đi kinh tế mới. Dù 38 năm trôi qua, hơn 34 năm sống ở đất nước tự do nầy, nhưng vẫn còn ghét CS vừa ăn cướp vừa la làng. Sau khi thống nhất đất nước, đảng CS cai tri sai lầm trầm trọng như: cải cách công thương nghiệp, đánh tư sản, đổi tiền, bế môn toả cảng, làm tàn lụi nền kinh tế miền Nam đi ngược lại với lợi ích dân tộc VN, nên chị dạy con vẹt chửi VC cho đỡ buồn…“    Đổi đời mỗi gia đình miền Nam không ít thì nhiều đều phải gánh chịu cảnh bi đát, khốn cùng trong những hoàn cảnh khác nhau như Sĩ quan, công chức của VNCH bị kết tội “ngụy quân, ngụy quyền“ tập trung đi cải tạo, khốn nạn thay có nhiều nơi tịch thu tài sản đuổi vợ con họ đi kinh tế mới…ngày nay nếu về thăm Việt Nam, trở lại căn nhà cũ không khỏi ngậm ngùi rơi nước mắt, tài sản của mình trước đây bị sang đoạt cho cán bộ CS. Dù nay có tin đồn có thể lấy lại được nhà nhưng nếu có lấy được thì cũng phải tốn tiền hối lộ, đút lót, đắt hơn mua một căn nhà mới!  Những câu chuyện nói như vẹt trong đời sống tại miền Nam sau 1975, có lẽ chúng ta khó quên. Cán bộ CS tuyên truyền nói như một cái máy, người nào cũng một luận điệu như nhau, “xã hội chủ nghiã ưu việt“, “đỉnh cao trí tuệ...“. Trong các trại tập trung cải tạo thì cán bộ quản giáo, chính trị viên cũng nhai đi nhai lại những đề tài giống nhau, đảng bảo sao nói vậy. Không khí sinh hoạt miền Nam bị chùng xuống, thảm thương bởi đàn vẹt bay từ phương Bắc vào Nam. Thời trước người quốc gia không thích CS thì gọi “nói như vẹm“, ngày nay phải nói là „cộng sản nói như vẹt“   Người làm việc cho cơ quan nhà nước các ngành như: Bưu điện viễn thông, du lịch... muốn tiến thân phải vào đảng, trường đảng đào tạo phải nói như đảng, đảng biến con người trở thành một công cụ, tư tưởng và suy nghĩ phải một chiều theo đảng dạy… Hiện nay chúng ta thấy nhà nước tổ chức bầu cử Quốc Hội, đó chỉ là trò giả dối và lừa bịp. Với hình thức bầu cử Quốc Hội, những dân biểu đều do đảng đưa ra "Khi Đảng đồng ý, chấp nhận thì mới thực hiện quyền tự ứng cử, đảng cử dân bầu." cử tri không biết mặt người được ứng cử là ai, họ đã và đang làm được gì cho dân, cho nước. Cử tri không có quyền lựa chọn nào hơn là bỏ cho người đã ghi sẵn trong danh sách, thật là trò hề thời đại. Tại sao nhà cầm quyền Việt Nam không dám cho phép thế hệ trẻ tài giỏi có đạo đức ra ứng cử, tranh cử độc lập để cử tri chọn lựa lãnh đạo đất nước?   Nhìn bề ngoài Việt Nam cũng có Quốc Hội, dân biểu đại diện cho dân nhưng đại đa số là nghị gật, dân biểu bù nhìn, như con vẹt nói theo đảng, làm theo đảng, chỉ một vài dân biểu dám nói lên một số nguyện vọng chính đáng của nhân dân như Dương Trung Quốc, Nguyễn Minh Thuyết? Nhưng có lẽ họ chỉ là “một con én không làm nên mùa xuân“    Những con vẹt đã quen với cái lồng của mình đâu biết bên ngoài là bầu trời bao la tươi đẹp, như con ngựa bị bịt mắt chỉ nhìn thấy một quãng đường...Việt Nam của thế kỷ 21 vẫn còn những con vẹt làm người của XHCN.   Thế giới văn minh, các quyền tự do căn bản của con người về dân sự và chính trị được tôn trọng và bảo đảm được ghi trong Công ước Quốc tế. Dù Việt Nam chính thức tham gia Công ước này vào năm 1982 nhưng những quyền tự do đó bị gạt bỏ ra ngoài và chủ trương cai trị giáo điều của đảng CSVN. Việt Nam không có tự do báo chí, không có những cơ quan truyền thông độc lập, hầu hết là báo quốc doanh, đều do nhà cầm quyền và đảng kiểm soát. Báo chí các đài truyền hinh, tuyền thanh là phương tiện tuyên truyền cho đảng mà thôi. Thế hệ trưởng thành sau 30.4.1975 bị nhồi sọ bởi tư tưởng CS, thành phần trẻ trí thức yêu nước chỉ đếm trên đầu ngón tay! Xã hội CS tạo ra con người sợ hải, vô cảm, chỉ biết đua đòi vật chất làm sao có được nhiều tiền dù đồng tiền dơ bẩn, bất lương ...dẫn dắt con người đến môi trường ăn chơi, hưởng thụ để nhà cầm quyền dễ bề cai trị. Lịch sử bị bóp méo, như cờ Trung cộng in trên sách tham khảo, sách tập đọc và gần đây là sách giáo khoa, sách đọc tiếng Việt của Nhà xuất bản Giáo dục, lại quên Hoàng Sa, Trường Sa, việc đài truyền hình VTV1 đưa hình cờ Trung cộng có thêm một ngôi sao, Người Việt xem phim Tàu, đọc sách Tàu, xài hàng Tàu, việc đó là nguy cơ sẽ bị nô dịch văn hóa Tàu. Hệ thống giáo dục chỉ trọng bằng cấp, nạn mua bán bằng dỏm, bằng ma...Làm giá trị những sinh viên tài giỏi chăm học có bằng thật bị lu mờ bởi vàng thau lẫn lộn ...vì vậy bằng Đại học Việt Nam cũng như giấy bạc lưu hành trong nước không có giá trị ở nước ngoài.   Sau 38 năm thống nhất đất nước, người Việt trong nước có miệng ăn không có miệng nói. Nói ra thì bị bịt miệng, bằng chứng linh mục Nguyễn Văn Lý trong phiên tòa tại Huế, bị công an bịt miệng kéo ra khỏi phòng xử trước các giới truyền thông thế giới. Đó là một hình ảnh chứng minh chế độ độc tài của CS Việt Nam không để cho bất kỳ ai khác nói lên tiếng nói đối lập. Hình ảnh nầy ở trong nước là chuyện bình thường, vì nó xảy ra khắp nơi trên đất nước, Nhưng bức hình bịt miệng nầy đối với người Việt sống ở các quốc gia tự do trên thế giới là một sự sỉ nhục đối với dân tộc Việt Nam.   Cán bộ tham nhũng hối lộ có hệ thống từ trên xuống dưới, cái dù che cái cán. Chúng bao che lẫn nhau, cướp đất, cướp nhà làm giàu trên xương máu của nhân dân. Thử xem lương tháng của cán bộ đảng CSVN bao nhiêu mà họ đưa con, cháu du học tại các đại học Mỹ đắt tiền, không dưới 30 ngàn dollar một năm, mua nhà, mua xe, sống vương giả xài tiền như nước. Trong lúc người dân đời sống không đủ ăn, bệnh không tiền mua thuốc, con cái thất học đi bán vé số, đánh giày, kiếm tiền sống lây lất qua ngày!   Đất nước phát triển về du lịch, những khu giải trí ăn chơi, nhà hàng khách sạn mọc lên như nấm, Sài Gòn ngày nay „đủ các món ăn chơi từ Thiên đường đến Hạ giới“. Ngược lại thiếu bệnh viện chăm lo sức khỏe cho dân nghèo, bệnh nhân phải nằm một giường 2 người, phải tự mua thuốc, phải lót tay tiền cho bác sĩ để được chửa bệnh! xã hội đầy dẫy bất công đời sống đạo đức bị băng hoại, nhìn lại Việt Nam phát triển còn chậm so với các nước láng giềng. Nhà cầm quyền Việt Nam được các quốc gia Tây phương và LHQ cứu đói giảm nghèo  mỗi năm hàng tỷ USD, chưa tính người Việt hải ngoại gửi về trên 8 tỷ USD. Mở cửa để hưởng tiền viện trợ nhưng cửa tự do dân chủ thì khép kín! Đời sống của người dân ở cao nguyên các vùng nông thôn còn nghèo đói, học sinh phải đu dây qua sông đi học...  Đảng CSVN luôn đánh bóng chế độ có tự do, nhưng thực tế đảng chủ trương đàn áp các nhà bất đồng chính kiến, tiếp tục thi hành chính sách độc tài, bắt bỏ tù hàng ngàn người điển hình là những vụ án phi công lý „bản án đã định trước khi ra tòa“ bị kết tội theo điều 79 âm mưu lật đổ chính quyền và điều 88 tuyên truyền chống lại nhà nước. Những người tù lương tâm như: Linh mục Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Thị Minh Hạnh, Nguyễn Văn Hải (Điếu Cày), Tạ Thị Phong Tần, Huỳnh Duy Thức, nhạc sĩ Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình, 14 Thanh Niên Công Giáo yêu nước... Đau đớn thay nhiều người bị án tù gần 30 năm như ông Nguyễn Hữu Cầu bị bỏ quên trong nhà tù không được ân xá. Công an cũng như côn đồ dùng vũ lực đàn áp, đánh đập người tham gia biểu tình chống Trung cộng và thường xảy những vụ đánh chết người, bắt đàn bà, con gái cỡi truồng để khám xét...những hành động thiếu đạo đức, thiếu văn hóa chỉ có ở Việt Nam.    Ngày 11.4.13, một cuộc điều trần về tình hình nhân quyền Việt Nam diễn ra ở văn phòng quốc hội Hoa Kỳ. Qua cuộc điều trần này cho thấy tình trạng nhân quyền ở Việt Nam ngày càng bị vị phạm một cách trầm trọng http://www.youtube.com/watch?v=xo0wR6Z1xeY&feature=player_embedded Thư của Hội đồng Giám mục Việt Nam nhận định và góp ý sửa đổi Hiến pháp 1992 http://danchua.org/3336.0.html, cũng như góp ý của 72 trí thức (gọi tắt là Kiến nghị 72) ký thỉnh nguyện thư đòi hỏi thay đổi điều 4 để đưa đất nước đến tự do dân chủ. Nhà cầm quyền CSVN sợ mất đảng, mất quyền lợi để vinh thân phì gia, nên ra lệnh cho tổ dân phố, công an khu vực đến từng nhà là hình thức ép người dân phải đồng ý với Hiến pháp 1992. Nhiều người cho biết họ lo sợ nếu góp ý trái với ý đảng CS, thì sẽ bị trù dập, gây khó dễ và bị mất việc. Cái sợ đã đưa không ít người đến thờ ơ, vô cảm. Họ thờ ơ đến nổi không biết tại sao nhạc sĩ Việt Khang, Điếu Cày... bị tù.   Dân tộc VN đã chịu quá nhiều khổ đau, đến bao giờ thoát được chế độ độc tài, đảng trị để có đời sống đủ các quyền tự do căn bản của con người ... Hơn hai thập niên qua kinh nghiệm ở các quốc gia Đông âu như: Đông Đức, Balan, Tiệp, Hung Gia lợi…các dân tộc nầy đã đoàn kết một lòng đồng loạt đứng lên đấu tranh lật đổ bạo quyền, đem lại tự do, độc  lập mà không cần đến súng đạn. Đối với Việt Nam, chỉ có giới trẻ trong nước cùng toàn dân không phân biệt tôn giáo đoàn kết tranh đấu bất bạo động và với sự tiếp tay của toàn thể người Việt hải ngoại để có thể đưa đất nước sớm đến tự do và dân chủ...   Nguyễn Qúy Đạiwww.hoamunich.wordpress.com   Hình báo trong nước
......

Lối thoát nào cho những người khôn ngoan?

Chỉ bị ngăn trở với Việt Nam bởi chưa đầy một trăm cây số đường biên giới Trung Quốc, dân tộc Mianmar lại đang chuyển mình dữ dội trên con đường đến với Tự do… Glasnost! Vào đầu tháng 4/2013, sau sự kiện những tờ nhật báo tư nhân đầu tiên ở Mianmar được xuất bản lần đầu tiên trong nửa thập kỷ qua, ngay cả vài nhà phân tích chính luận sắc sảo trên thế giới như báo Le Monde của Pháp vẫn chưa hết ngạc nhiên về điều được coi là đổi thay ngoạn mục ở đất nước này. Sự ngạc nhiên của Le Monde cũng làm cho thái độ kinh ngạc của giới phân tích quốc tế biến thành một thực thể chứ không còn là cảm giác huyễn hoặc của hai năm trước đây.   Rõ như ban ngày, chỉ sau hai năm kể từ khi chính quyền quân sự chính thức bị chôn vùi, tự do báo chí đã trở thành một thực dẫn sống động, trái ngược với tâm thế bị bịt miệng trong dĩ vãng.  Một lần nữa, các nhà bình luận phải nhắc lại từ “Glasnost” đã và đang diễn ra một cách kế thừa ở Mianmar. Trong ngữ nghĩa tiếng Nga, “Glasnost” có nghĩa là “Công khai hóa” – một chính sách minh bạch hóa đến mức tối đa các hoạt động của cơ quan nhà nước và tự do thông tin cùng tự do ngôn luận tại Liên Xô, được đề xướng bởi Gorbachev vào nửa cuối thập niên 1980. “Glasnost”, theo một mục tiêu khác củs Gorbachev, cũng nhằm giảm bớt việc lạm dụng quyền lực của bộ máy trung ương đảng, đồng thời báo chí ít bị kiểm duyệt và do đó tự do thông tin hơn. Một nhà báo người Mianmar – ông Myo Thanh – vẫn chưa hết bồi hồi khi ông không hề nghĩ là sẽ có một ngày được tự do như hiện nay, mà cứ nghĩ ông phải sống lưu vong suốt đời ở nước ngoài. Một nhận định trên báo chí Mianmar cũng đã lần đầu tiên phác ra một con số sơ kết cho hai năm “Glasnost”: người dân Mianmar đã được tự do đến 80%. Tất nhiên, vẫn còn nhiều thiếu sót rơi rớt của một nền hành chính đã từng bị lạm dụng quá nhiều trong ít nhất một thập kỷ, chẳng hạn như trên nguyên tắc, nhân dân được quyền biểu tình, nhưng giấy cho phép tổ chức biểu tình thì lại không được cấp. Hoặc còn những chủ đề cấm kỵ như vấn đề dân tộc thiểu số hay vai trò của quân đội… Nhưng 80% cũng là quá nhiều cho hiện tại và tương lai, nếu đối chiếu với quá khứ cách đây không quá lâu và với cả những dân tộc mà mức độ tự do chỉ ngang ngửa với tỷ lệ tăng trưởng GDP. Le Monde cũng không quên nêu ra một bình luận: đối với giới quan sát, khi tổng thống Thein Sein lên cầm quyền ở Mianmar, hiếm người có thể tưởng tượng đất nước này có thể chuyển biến như hiện nay. Đa số người dân và giới quan sát khi đó đều rất hoài nghi về việc thực hiện cải tổ. Còn những người bi quan nhất luôn lo ngại cái được gọi là cải tổ chỉ là sự tô vẽ lại hình ảnh cho chế độ cũ, hoặc một lớp sơn bóng dân chủ cho chế độ quân sự. Nhưng thực tế đã khác hẳn, cho dù các bộ trưởng vẫn là cựu quân nhân, và quân đội vẫn chiếm đến 25% ghế trong Quốc hội. Xã hội dân sự! Mọi chuyện bắt đầu biến động từ ngày 13/11/2011, khi lãnh tụ đảng đối lập Aung San Suu Kyi được cựu tướng lĩnh quân đội Thein Sein ra lệnh giải tỏa chế độ quản thúc. Liên đoàn quốc gia vì dân chủ của bà San Suu Kyi cũng vì thế được phục hồi hoạt động, từ vị thế bị đặt ra ngoài vòng pháp luật nhiều năm ròng trước đó. Hành động của Thein Sein có lẽ đã gây ra phản ứng chỉ trích về động cơ mị dân giả hiệu của ông, nếu không phải chính ông đã đề xướng một chủ trương chưa từng có: hòa giải dân tộc, kèm theo việc phóng thích nhiều tù nhân chính trị qua nhiều đợt liên tiếp. Trong quá khứ, nhiều đợt bắt bớ liên tiếp của chế độ cầm quyền độc tài đã làm cho nền chính trị và cả mặt bằng văn hóa của Mianmar bị biến dạng thảm hại. Không bao gồm nhiều trường hợp blogger trên mạng như ở Việt Nam, nhưng tại Mianmar lại thừa thãi số người muốn xuống đường.   Tiếp nối hành động trên, Thein Sein cũng bày tỏ một cử chỉ quá xa lạ với chế độ độc tài và quân phiệt: kêu gọi những người bất đồng chính kiến và đối kháng ở trong và ngoài nước cùng chung tay xây dựng đất nước. Điều đó cũng có nghĩa là vị thế của Liên đoàn quốc gia vì dân chủ được nâng lên một mức độ cao hơn nhiều: không những tồn tại một cách hợp pháp, tổ chức đối lập này còn nhận được đề nghị hợp tác từ phía chính quyền Thein Sein. Thậm chí những tướng lĩnh thủ cựu nhất trong quân đội cũng không phản ứng quá mạnh mẽ trước động thái này. Ngay sau đó, một cuộc bầu cử bổ sung vào Quốc hội Mianmar đã được tổ chức, với 35 đảng tham gia. Trong đó, Liên đoàn quốc gia vì dân chủ của bà Aung San Suu Kyi chiếm đến 42 ghế, đưa bà trở thành nhân vật số 2 của đất nước này, sau Thein Sein. Hành động có thể coi là sự phối hợp đầu tiên giữa San Suu Kyi với chính quyền đương nhiệm là một quyết định hủy bỏ hợp đồng thủy điện Myitsone có giá trị đến 3,6 tỷ USD mà chính quyền trước đó đã ký với Trung Quốc, với mục tiêu bảo vệ môi trường sinh thái của nhân dân. Ở Mianmar, hầu như ai cũng biết việc Trung Quốc thèm khát nguồn tài nguyên của đất nước này đến thế nào, và từ lâu đã làm nhiều cách để tạo được chân đứng tại quốc gia này, kể cả mục tiêu biến Mianmar thành một thứ “sân sau” của họ – cũng là một động cơ không thèm che giấu trong mối quan hệ “mười sáu chữ vàng” với Việt Nam từ nhiều năm qua. Vì thế, có thể coi hành động hủy bỏ hợp đồng khổng lồ với Trung Quốc là một thái độ dũng cảm nhất, mà nếu không có tiếng nói của các phong trào nhân dân và đảng đối lập, chính quyền của ông Thein Sein, dù có mang tính cải cách, cũng khó bề tự quyết. “Glasnost” ở Mianmar cũng đã được thực thi một cách công khai và theo một lộ trình được xác định, chứ không chỉ bằng những lời phủ dụ nói trước quên sau. Chế độ kiểm duyệt, vốn đã siết chặt báo chí Mianmar nhiều năm qua, đã chính thức bị hủy bỏ. Thay vào đó, quyền tự do thông tin của báo chí được ban hành. Với tư cách là một thành phần trong xã hội dân sự, báo chí được tự do trước và đã tạo nên hứng khởi cho những thành phần khác. Lần đầu tiên, chính quyền có cơ chế mời trí thức và chuyên gia mọi ngành làm tư vấn cho chính phủ, lắng nghe và thực hiện những đề nghị cải cách và phát triển của họ. Xã hội dân sự lại xuất phát từ phương Tây chứ không phải bởi Trung Quốc. Sự vận động lan tỏa rộng khắp của mô hình này ở Mianmar cũng cho thấy quan điểm ngả dần về Mỹ và châu Âu của chính quyền đương nhiệm, thay cho sự lệ thuộc khá lớn trước đó vào Bắc Kinh. Trong tâm trạng của giới trí thức và “một bộ phận không nhỏ” chính giới Mianmar, còn lâu mới có sự dung hợp giữa xã hội dân sự với Bắc Kinh, cũng chẳng thấy lối thoát nào cho những cá nhân tham nhũng sâu đậm của chính thể nếu cứ mãi đi theo lối mòn hủ bại của những kẻ “bốn tốt”. Và chắc hẳn đó là một sự lựa chọn khôn ngoan của những chính khách biết làm chính trị. Chia sẻ quyền lực! Với nhiều chính khách biết làm chính trị trong chính quyền độc đoán cũng như nền hành chính hủ hóa đầy tham nhũng, sự lựa chọn số một của họ không ngoài mục tiêu “sáng ngời” là phải giữ bằng được mạng sống trước cơn thịnh nộ của lớp dân chúng đói rách nhưng lại bị đè nén đến tận cùng. Khách quan mà xét, quy luật cùng chuỗi phản ứng xã hội của nhân dân luôn có thể làm đổi thay cả một chế độ chính trị – điều trước đó tưởng như không thể thay đổi và cũng chẳng bao giờ bị “hồi tố”. Chỉ giữ được thế đi dây chính trị, những người khôn ngoan trong chính thể mới có thể nghĩ đến câu chuyện bảo toàn khối tài sản kếch xù đã vơ vét được từ tiền đóng thuế của người dân và do tất cả những gì mà đời sống tham nhũng “ấm no” đã mang lại. Và cuối cùng, việc giữ được một phần quyền lực trong bối cảnh phải chia sẻ phần còn lại cho phong trào dân chủ đối lập và nhân dân cũng không phải là một phương án quá tệ, nếu so sánh với triển vọng phải sống lưu vong hoặc mất trắng. P.C.D.  http://anhbasam04.wordpress.com/2013/04/14/loi-thoat-nao-cho-nhung-nguoi...
......

Đến thăm ông Albrecht

Ts. Ernst Albrecht là cựu Thống đốc bang Niedersachsen (Ministerpräsident von Niedersachsen) từ 1976 tới 1990, thủ phủ Hannover. Trong thời gian cầm quyền, Ông đã có việc làm nhân đạo để đời với người tị nạn VN tại Đức. Trong giai đoạn cuối thập niên 70 và đầu thập niên 80, thảm cảnh thuyền nhân tị nạn Việt Nam (Boat-People), vượt biển chín phần chết một phần sống, đã làm dư luận thế giới xúc động. Người Việt quyết tâm bỏ nước ra đi trên những chiếc ghe bé nhỏ, theo ước lượng của Cao ủy Tị nạn LHQ, hàng chục ngàn người đã bỏ xác trên biển trước giông bão, hải tặc, đói khát… Ông Albrecht và gia đình Ông không những chỉ xúc động mà chính Ông đã quyết định hành động. Tuyên bố của Thống đốc Albrecht, bang Niedersachsen nhận đầu tiên 1.000 người tị nạn VN đến Đức vào cuối năm 1978, trước hết một phần từ con tầu tị nạn Hải Hồng và sau đó từ các ghe khác, được đa số dân chúng Đức nhiệt tình ủng hộ, là khởi đầu cho các nước Tây Âu nhận thuyền nhân tị nạn VN. Con tầu nhân đạo Cap Anamur, do Ts. Rupert Neudeck khởi xướng sau đó, bắt đầu hoạt động từ mùa hè 1979. Ngày thứ sáu 5.4.2013 đã có cuộc hội ngộ của 4 người Việt với ông Albrecht ở tư gia của Ông tại Burgdorf, ngoại ô Hannover. Bốn người VN đến thăm Ông, đại diện cho 2 thế hệ người Việt tại Đức: Hai người đã tuổi trên 60, thuộc thế hệ 1 ở Đức, từng sinh hoạt trong các lãnh vực Nhân quyền, Văn hóa, Xã hội tại Đức, hai người thuộc thế hệ 2, sinh ra và lớn lên tại Đức, nói, hiểu và đọc được tiếng Việt, ra trường và có cuộc sống tự lập. Thế hệ 2 đến thăm ông Albrecht, như người „cháu“ đi xa về thăm Ông Bà (nội/ngoại). Ông Albrecht sinh năm 1930, năm nay 83 tuổi. Từ vài năm nay Ông bị Alzheimer, (tại VN coi như bình thường, cho rằng vì tuổi già có lúc nhớ, lúc quên, lúc lẫn…) Tiếp „khách VN“ đến thăm, Ông rất vui và cười rất tươi bắt tay từng người. Ông Neudeck (người sáng lập con tầu Cap Anamur*) cho biết cứ nhắc đến „người VN“ là ông Albrecht bao giờ cũng „sáng“ ra, vì quyết định nhận 1.000 người Việt đầu tiên vào nước Đức năm 1978 là  „Lebenswerk“ nhân đạo để đời của Ông. Từ nhiều năm nay, trong các sinh hoạt lớn của người Việt, về thuyền nhân VN, nếu sức khỏe cho phép, Ông đều có mặt bắt tay thăm hỏi từng người. Cuộc hội ngộ hôm nay Ông rất vui, bà quản gia chăm sóc Ông đã sửa soạn cà phê, trà, bánh ngọt thịnh soạn mời „khách“. Ông hỏi thăm từng người từ đâu đến: Stuttgart, Ingolstadt và Hannover. Ông chân tình mời „khách“, cho biết nhà rộng rãi có phòng trống, có thể ở chơi và ngủ lại tại nhà Ông. Người con gái lớn của Ông là bà Ursula Von der Leyen ở chung nhà (đương kim Bộ trưởng Lao động liên bang trong nội các của bà Thủ tướng Merkel, hiện cùng với gia đình đang đi nghỉ dịp Lễ Phục sinh). Điều thích thú ngạc nhiên, trong lúc nói chuyện, Ông rút ví ra, nhân dịp đến thăm „đầu năm“, Ông „lì xì“ cho 2 cháu gái và 2 khách „không còn trẻ“ mỗi người tờ 5,-Euro. Câu chuyện „chính trị“ duy nhất Ông trao đổi với „4 khách VN“ là việc Hòa giải và Liên minh Âu châu, chính sách nầy nước Đức theo đuổi từ ban đầu, làm giảm cuộc xung đột giữa các nước, mang lại hòa bình lâu dài cho Âu châu. Trong phòng khách có một CD-Radio nhỏ, Ông vặn nhạc để mọi người nghe cho ấm cúng trong lúc thưởng thức cà phê-bánh ngọt. Ông cho biết vườn sau nhà rộng, có nuôi gà, có mấy con dê và ngựa. Hôm nay trời đẹp khô ráo, Ông hỏi có thích đi cùng với Ông ra thăm chuồng gà, cho các con thú ăn và đi dạo trong vườn ? Mọi người hoan nghênh đồng ý. Ông chuẩn bị sẵn bánh mì Toast và nước uống cho các con thú. Ông tuy gầy nhưng người còn rất tráng kiện, đi thoăn thoắt. Ông kể chuyện việc chăm sóc vườn, các con thú và hàng ngày đi dạo cho khỏe. Phòng khách có cây dương cầm, Ông hỏi có ai biết chơi nhạc, „cháu gái thế hệ 2“, Christine Lê, sau ít do dự, đã dạo vài khúc nhạc. Ông rất thích thú, vỗ tay tán thưởng, luôn cười rất tươi.   Thời gian đến thăm qua mau, cũng 90 phút nói chuyện và đi dạo với Ông. Làm kỷ niệm, Ông tặng mỗi người một quyển sách của Ông „Erinnerungen, Erkenntnisse, Entscheidungen“ („Những hồi tưởng, những nhận thức, những quyết định“) với chữ ký của chính tác giả. Trước lúc ra về, thì người em ruột của Ông, George Alexander Albrecht, vừa đến trước cửa, từ Weimar lái xe đến thăm anh. Được biết người em nầy còn là một nhạc trưởng nổi tiếng tại Đức. Chia tay chúng tôi chúc sức khỏe Ông. Tiễn khách ra cửa Ông bịn rịn siết chặt tay từng người. Chúng tôi bồi hồi, cảm xúc trước chân tình của Ông, „ân nhân“ của hàng ngàn người VN ở Đức và thầm nghĩ sẽ trở lại thăm Ông ngày không xa. T.C. ghi (10.4.2013) * Từ mùa hè 1979 con tầu nhân đạo Cap Anamur (do Ts. Rupert Neudeck khởi xướng) bắt đầu hoạt động tại vùng biển Đông, đến 1987 đã cứu hơn 11.000 thuyền nhân VN, đa số về Đức định cư. Từ năm 1985, khi chuyện „thuyền nhân VN“ bớt đi tính thời sự, sau các chuyến vớt người trên biển, người Việt vào Đức ngày gặp khó khăn. Ông Neudeck lúc đó có lần vận động „cầu cứu“ ông Albrecht. Với quyền hành Thống đốc bang Niedersachsen lúc đó, Ông cho ông Neudeck biết, nếu gặp khó khăn thì cứ mang thuyền nhân VN đến bang của Ông rồi giải quyết sau. Cách hành xử nhân đạo „không bàn giấy“ (unbürokratisch) của ông Albrecht lại càng làm cho người Đức yêu chuộng nhân đạo và người VN thêm quý Ông.  
......

Ngăn chận Ls. Nguyễn Văn Đài - công an Hà Nội lật lọng với cả phái đoàn ngoại giao Hoa Kỳ

Sáng hôm nay, 13-4-2013, sau khi cuộc đối thoại nhân quyền Việt Mỹ lần 17 diễn ra tại Hà Nội, nhà cầm quyền lại cho công an an ninh trở mặt tiếp tục ngăn chận không cho xe sứ quán Mỹ đón Ls. Nguyễn Văn Đài đến gặp phó trợ lý Ngoại trưởng Mỹ đặc trách nhân quyền Daniel Baer, đại diện dẫn đầu phái đoàn Hoa Kỳ đang có mặt tại Việt Nam. Theo lời Ls Nguyễn Văn Đài, từ đầu tuần qua, sứ quán Mỹ có lời mời luật sư đến tiếp kiến với ông Daniel Baer, phụ tá Ngoại trưởng Mỹ, sau khi ông tham gia đối thoại nhân quyền Mỹ-Việt vào chiều nay. Nhưng chiều hôm qua 12-4, Ls. Đài nhận được giấy báo từ cơ quan an ninh cho biết luật sư không được đi dự buổi đối thoại này. Ngay sau đó, Ls. Đài đã thông báo cho sứ quán Mỹ về sự ngăn chận của cơ quan công an an ninh Việt Nam, thì sứ quán Mỹ nói là trong cuộc gặp với một viên tướng Bộ Công an, ông này đã hứa là "phụ tá Ngoại trưởng Mỹ có thể gặp bất kỳ người Việt Nam nào", đồng thời phía sứ quán Mỹ cho Ls. Đài biết là sẽ nêu vấn đề này trong cuộc gặp vào buổi tối với Bộ Ngoại giao và Bộ Công an Việt Nam. Sáng nay, phía sứ quán Mỹ xác nhận cho biết là Bộ Ngoại giao và Bộ Công an đã đồng ý cho Ls. Đài đi gặp phụ tá Ngoại trưởng Mỹ, và Tòa Đại sứ  thông báo là sẽ cho viên chức chính trị đến để đón Ls. Đài vào chiều nay. Nhưng sáng nay, phía công an an ninh Việt Nam lại lật lọng, cho một lực lượng đông đảo an ninh và công an cảnh sát đến bao vây khu vực nhà Ls. Đài. Công an đã sử dụng cho dựng những biển báo "RESTRICTED AREA"; NO FOREIGNERS; NO CAMERA... (“khu hạn chế”, “cấm người nước ngoài”, “cấm quay phim chụp ảnh”...) trên con đường vào nhà Ls. Đài.   Đúng 2 giờ chiều nay, xe viên chức chính trị TĐS Hoa Kỳ Michael Orona đến đón Ls. Đài tới khách sạn gặp phụ tá Ngoại trưởng Mỹ đã không thể vượt qua được hàng rào an ninh dày đặc trước cổng vào nhà Ls. Đài. Công an an ninh còn huy động đông đảo với cả chục bà phụ nữ ra định nằm ăn vạ quan chức ngoại giao Hoa Kỳ, tạo nên hình ảnh phản cảm mà nhiều người cảm thấy rất xấu hổ cho đất nước Việt Nam trên mặt ngoại giao.   Theo tin tức ghi nhận được thì mặc dầu cuộc đối thoại nhân quyền được mô tả là mang tính xây dựng và rất tốt, nhưng hiện tượng thực tế xảy ra trong những ngày qua ở bên ngoài ngay trong lúc phái đoài Mỹ đang có mặt ở Việt Nam đã cho phía Hoa Kỳ thấy rõ là tình trạng vi phạm nhân quyền ở Việt Nam vẫn còn nặng nề không thể chối cãi.  
......

Thiên thần một cánh

Không biết do đâu, ngay từ lúc nhỏ tôi đã tin rằng thế giới chúng ta đang sống luôn có mặt của những “thiên thần” và “ác quỷ”. Sau này, khi đọc lịch sử về những vụ thảm sát kinh hoàng tại các quốc gia cộng sản, tôi mới thấy rõ cái thế giới của ác quỷ ra sao! Cái thế giới ấy, cái quá khứ nhuộm đầy máu và nước mắt của người dân Campuchia lại vừa bị khuấy động lên sau cái chết của cựu ngoại trưởng Ieng Sary vào ngày 14 tháng ba vừa qua. Sự qua đời của Ieng Sary được mô tả là một điều đáng tiếc cho sự trì hoãn của công lý. Công lý đã không được soi sáng và hoàn tất khi kẻ giết người và các nạn nhân của ông ta còn sống. Ieng Sary là một trong những thủ lĩnh cao cấp của chính quyền Pol Pot. Chỉ trong vòng 4 năm cầm quyền, chính quyền Pol Pot đã giết chết 1,7 triệu người dân, bằng ¼ dân số Campuchia thời đó. Họ đã biến thủ đô đất nước này trở thành một hoang mạc đẫm máu người. Nhiều người Campuchia vẫn tin rằng các linh hồn nạn nhân Khmer Đỏ vẫn còn lảng vảng trong thành phố cho tới khi nào những thủ lĩnh của chế độ diệt chủng này bị trừng phạt. Ieng Sary sinh ngày 24/10/1925 tại tỉnh Trà Vinh, miền Nam Việt Nam. Cha là một người Campuchia và mẹ là người Trung Quốc. Ieng Sary du học tại Pháp và trở thành một thành viên của Đảng Cộng sản Pháp năm 1951; trở về Phnom Penh năm 1957 và gia nhập đảng Cộng Sản Campuchia. Khi giữ chức ngoại trưởng, Ieng Sary đã thuyết phục nhiều trí thức Campuchia trở về từ ngoại quốc để xây dựng chính phủ cách mạng. Sau đó ông đã gởi họ thẳng tới những trại tù cải tạo, và thẳng tay hành quyết những kẻ nào có ý chống đối. Chính quyền Pol Pot chủ trương nhào nặn xã hội Campuchia theo một trật tự mới. Vận dụng một cách triệt để và máy móc tư tưởng Mao Trạch Đông, họ xây dựng xã hội theo đường lối “công xã nhân dân” ở Trung Quốc. Để thanh lọc và đưa xã hội vào “cái trật tự mới” đó, bộ máy Pol Pot đã tàn sát chính đồng bào mình, các nhà khoa học và trí thức… Quân đội của họ chủ yếu là những thanh niên tuổi từ 12 đến 17, theo nguyên tắc “càng trẻ càng trong sạch”. Khmer Đỏ đã biến thủ đô Phnom Penh thành hoang tàn và hỗn loạn với hình ảnh những người dân hoảng sợ chạy tứ tung, những đứa trẻ đói lả, những cái đầu bị chặt bêu trên sào gỗ, và thi thể người chết nằm la liệt ở khắp mọi nơi. Có người cho rằng Ieng Sary đã "thoát" được phiên tòa khi qua đời đang lúc bị xử. Nhưng thật ra tòa án lương tâm mới là một phiên toà đáng sợ nhất đối với con người. Phiên toà này thường bắt đầu vào lúc tuổi già, hoặc ngay cả khi còn trẻ khi có một biến cố hay nhận thức nào đó làm lương tâm họ thức tỉnh, và nó có thể kéo dài suốt ngày đêm trong những năm tháng còn lại của cuộc đời. Gần đây, trong rất nhiều thước phim tài liệu của các ký giả độc lập, các cựu hung thần Khmer Đỏ đã bộc bạch về sự ám ảnh ghê rợn liên tục này. Hình ảnh từng khuôn mặt đẫm máu của các nạn nhân vẫn hiện ra MỖI GIÂY PHÚT khi họ chợp mắt. Họ đã thố lộ rất thành thật vì hình dạng của họ đã được che mờ để khỏi bị nhận dạng và họ cũng không bị ép buộc phải khai báo tên tuổi của chính họ hay của các cán bộ khác. Ở những ngày tháng cuối đời, trước toà án lương tâm, không một ai có thể đổ tội cho lệnh trên được nữa. Những kẻ giết người sẽ phải trả lời cho bàn tay thấm máu của chính mình. Và câu hỏi thấm thía mà hàng đêm họ phải tự trả lời là: Cái giá sinh mạng và đau khổ của chừng ấy người có đáng cho mớ danh giá, ghế cai trị, và tài sản cho một người không? Khi nhắm mắt xuôi tay, bước sang thế giới bên kia họ còn mang theo được gì ngoài những vết máu trên tay? Và cái gì đang chờ đợi họ bên kia lằn ranh thế giới? Lê Đức Thọ, kẻ được xem là hung thần một thời của đảng CSVN trong suốt ba thập niên từ 1960 - 1980. Khi còn sinh tiền, Thọ đã từng bắt giam các đồng chí của mình trong vụ án “xét lại chống đảng” và không cho xét xử, đến nỗi nhiều người đã chết trong oan ức và tủi nhục. Em trai của Lê Đức Thọ, Thượng tướng Đinh Đức Thiện đã từng nói với Thọ: “anh làm ác vừa vừa chứ không thì ít bữa nữa người ta đào mả của bố mình lên”. Sau khi mất, mộ của Lê Đức Thọ được chôn cất tại nghĩa trang hàng đầu là nghĩa trang Mai Dịch ở Hà Nội. Tuy nhiên, hàng ngày ngôi mộ của Thọ vẫn thường xuyên bị người ta đem phân đến ném, sau này gia đình phải bốc dỡ xương cốt của ông để đưa về quê an táng tại Nam Định! Học thuyết cộng sản đã đem lại những vụ thảm sát kinh hoàng cho các quốc gia tuân thủ theo nó một cách máy móc như tại Liên Sô dưới thời Stalin, tại Trung Quốc dưới thời Mao Trạch Đông và tại Campuchia dưới thời Khmer Đỏ.  Trong chiến dịch cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam, theo thống kê chính thức của nhà nước Việt Nam được đăng trong cuốn Lịch sử kinh tế Việt Nam (tập hai), thì đã có 172.008 người - bao gồm cả số người chết, bị thương tật và gia đình của họ - bị quy vào thành phần địa chủ và phú nông, trong đó có 123.266 người bị giết oan. Cuộc cải cách ruộng đất này, kèm theo những chiến dịch khủng bố, đã gieo rắc kinh hoàng trên khắp các miền nông thôn miền Bắc.  Chủ thuyết Cộng Sản còn nhào nặn nên những lãnh tụ, sẵn sàng vì mục tiêu chính trị mà tạo nên các chiến dịch khủng bố đại chúng như vụ thảm sát đồng bào Huế trong dịp tết Mậu Thân.  Những vụ giết hại, ám sát các nhà ái quốc và ngay cả các đồng chí của họ qua các vụ thanh trừng. Nhân danh chủ nghĩa, cái ác mặc nhiên lên ngôi và tha hồ hoành hành. Từ những tội ác của các quan lớn như Lê Khả Phiêu trên đất Miên; Đỗ Mười trong chiến dịch san bằng giai cấp tại miền Nam; Tố Hữu trong các chiến dịch truy diệt bỏ tù các gia đình văn nghệ sĩ; hay chiến dịch không biết từ đâu ra và không ai chịu trách nhiệm, như chỉ thị Z30, v.v... cho đến các cấp thừa hành như viên trung tá Nguyễn Văn Ninh, người đã đánh chết ông Trịnh Xuân Tùng trong đồn công an phường Thanh Liệt. Và cứ thế, cái ác vẫn còn tiếp tục được dung dưỡng và bao che! Sau hàng loạt những cái chết xảy ra tại các đồn công an, sau cái chết tức tưởi của ông Trịnh Xuân Tùng nay lại đến cái chết thảm thiết của nông dân Hoàng Văn Ngài trong đồn công an tỉnh Dak Nông ngày 17/3/2013. Đến nỗi một người dân bình thường như ông Nguyễn Đình Hà, dân oan Dương Nội khi bị bắt vào đồn công an đã nhịn đói và không dám ăn bất cứ một thứ gì công an đưa cho chỉ vì sợ bị đầu độc. Lại nói về “thiên thần” và “ác quỷ”, có lúc tôi nhìn thấy cuộc đời trông giống như một trò chơi điện tử của trẻ con. Trò chơi thương mại được một anh kỹ sư nào đó xây dựng nên từ một câu chuyện cổ tích: thuở hoang sơ, khi thế giới loài người chưa xuất hiện thì đã có cuộc thánh chiến giữa các thiên thần và ác quỷ. Kịp đến khi loài người có mặt, cả thiên thần và ác quỷ đều muốn tranh giành loài người, chúng ra sức chiếm giữ linh hồn và niềm tin của từng người một để tăng thêm quyền lực và sức mạnh cho riêng mình. Bỗng dưng tôi lại nghĩ đến những khuôn mặt tươi trẻ và những việc làm tốt đẹp của Paulus Lê Sơn, Hồ Đức Hoà, Nguyễn Đặng Minh Mẫn và 14 thanh niên yêu nước. Họ tựa như những thiên thần trong cuộc đời này, và không hiểu sao tôi vẫn cứ xúc động hoài mỗi lần nghĩ đến câu nói của Paul Trần Minh Nhật trước phiên toà xét xử các anh: “Tôi chấp nhận tất cả những gì mà chế độ này đè nén, chấp nhận tất cả những hình phạt miễn sao công lý và sự thật được hiện diện tại đất nước Việt Nam này!” Nếu ngày xưa hầu hết các lãnh tụ cộng sản đều lớn tiếng tuyên bố mình là vô thần và ra sức tàn phá các tôn giáo thì ngày nay, đặc biệt trong thời gian gần đây, người ta thấy đầy rẫy những Lê Khả Phiêu đặt tượng Phật trong nhà, đi xì sụp cúng lễ tại đủ loại các chùa chiền. Và trong lúc các lãnh tụ cộng sản ra sức làm đủ mọi loại nghi lễ tôn giáo theo hướng gấp rút hối lộ thần thánh cho bãi đáp đời sau của họ thì những con người hiện thân của sự tốt lành đang bắt đầu lộ diện. Tôi nhớ đến câu danh ngôn đã được đọc ở đâu đó: “Chúng ta đều là thiên thần chỉ có một chiếc cánh, và ta phải ôm lấy lẫn nhau để học bay”. Cũng như Trần Minh Nhật, để công lý và sự thật được hiện diện, Nguyễn Đắc Kiên đang học bay cùng với những vòng tay nâng đỡ anh.  Tôi nghĩ đến hàng loạt những chữ ký trong Kiến nghị 72, Lời Tuyên Bố Công Dân Tự Do, Bản góp ý hiến pháp của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam… tất cả đã cho tôi thấy rất rõ một điều - người dân Việt Nam đang góp mặt cho Sự Thật và Công Lý. Tôi đã nhìn thấy những thiên thần và nghe được nhịp tim đồng hành của họ. Dân tôi đã quyết định không tiếp tục sống trong bóng tối. Họ đang vươn tay ôm lẫn nhau để giành lấy ánh sáng và biến quê hương trở thành một nơi đáng sống cho chính mình và các thế hệ tương lai. Tôi bâng khuâng nghĩ đến Ts Luật Cù Huy Hà Vũ. Nếu được nhắn với anh một lời, tôi xin được lập lại điều anh nói trước khi cánh cửa nhà giam đóng sập sau lưng anh: “Tôi cũng tin rằng nhân dân VN sẽ phá án cho anh.” - - -   (*) Chỉ thị Z30 năm 1983: đuổi gia chủ và gia đình ra ngoài đường để tịch thu tất cả nhà trên hai tầng. Chiến dịch này cho đến nay vẫn chưa biết do ai ban hành và ai là người phải chịu trách nhiệm. http://www.viettan.org/Thien-than-mot-canh.html
......

Các đại gia giấu tiền hải ngoại là ai?

Lần đầu tiên các bí mật được tiết lộ đã cho thấy danh tính hàng nghìn 'đại gia' đang cất giấu tiền lên tới hàng nghìn tỷ đô la ở hải ngoại. Hàng triệu thông tin nội bộ đã bị rò rỉ từ ngành công nghiệp tài chính ngoài nước Anh đã lần đầu tiên để lộ danh tính của hàng ngàn các tài khoản những người cực giàu vẫn giấu kín tên tuổi trên khắp thế giới, từ Tổng thống tới các nhà tài phiệt. Quần đảo Virgin Anh trở thành địa điểm các đại gia cất giấu tài sản từ những năm 1980 Tên tuổi của những người này được bới ra nhờ một dự án do Nghiệp đoàn quốc tế các nhà báo điều tra ( Bấm International Consortium of Investigative Journalists - ICIJ) có trụ sở tại Washington phối hợp với tờ Người Bảo vệ (The Guardian) của Anh và các tổ chức truyền thông quốc tế khác thực hiện. Những tiết lộ từ 2 triệu thư điện tử và các tài liệu khác, chủ yếu từ Quần đảo Virgin Anh (British Virgin Islands - BVI) - vùng lãnh thỗ vẫn được xem là nơi ẩn náu tài chính lý tưởng bên ngoài đảo quốc Anh. Việc nêu danh những người này có thể sẽ làm tổn hại nặng nề tới lòng tin của thế giới các đại gia khi không còn tin chắc rằng khối lượng tài sản khổng lồ của họ có thể được giấu kín trước con mắt của chính phủ và của láng giềng. Họ là ai? Con gái lớn của cựu TT Ferdinand Marcos và Imelda Marcos cũng có tên trong danh sách Ngoài người Anh để cất giấu tài sản ở vùng lãnh thổ hải ngoại này một loạt các viên chức chính phủ và các gia đình giàu có trên khắp thế giới cũng được xác định như từ Canada, Hoa Kỳ, Ấn Độ, Pakistan, Indonesia, Iran, Trung Quốc và Thái Lan và các nhà nước cộng sản trước đây. Các dữ liệu mà tờ Guardian đã chứng kiến cho thấy các công ty bí mật của họ chủ yếu đặt tại BVI. Một vài ví dụ chủ nhân của các công ty vùng lãnh thổ ngoài đảo quốc Anh được nêu danh trong các tài liệu bị rò rì này gồm: • Ông Jean-Jacques Augier, phụ trách tài chính trong cuộc vận động tranh cử của Tổng thống Pháp François Hollande hồi năm 2012, người có đối tác là một doanh gia Trung Quốc. • Cựu bộ trưởng Tài chính Mông Cổ (từ năm 2008-12), ông Bayartsogt Sangajav, người thành lập công ty "Legend Plus Capital Ltd" với một tài khoản Thụy Sĩ. Ông nói có lẽ sẽ từ chức. • Tổng thống Azerbaijan và gia đình. Ông Hassan Gozal, một trùm tư bản ngành xây dựng, kiểm soát các tài sản mang tên hai con gái Tổng thống Ilham Aliyev. • Vợ Phó Thủ tướng Nga, bà Olga Shuvalova, một thương gia và chính trị gia Nga. Chồng bà, ông Igor Shuvalov, bác bỏ cáo giác đã làm gì sai trái liên quan tới lợi ích của bà vợ ông ở hải ngoại. • Con một nhà độc tài ở Philippines: Maria Imelda Marcos Manotoc, thống đốc một tỉnh và là con gái cựu Tổng thống Ferdinand Marcos, người nổi tiếng về tham nhũng. • Hoa Kỳ: các khách hàng hải ngoại bao gồm Denise Rich, vợ cũ của thương gia dầu lửa nổi tiếng Marc Rich, người từng được Tổng thống Clinton tha bổng về tội trốn thuế. Ước tính tới hơn 20 ngàn tỷ USD thuộc về các đại gia lớn có thể đang được để ở các tài khoản hải ngoại. Quần đảo Virgin Anh do Anh quốc kiểm soát đã có tới hơn một triệu các công ty, tài sản hải ngoại kể từ khi chính quyền tại bắt đầu việc tiếp thị cho vùng lãnh thổ này vào những năm 1980. Danh tính thực của các chủ nhân chưa bao giờ được tiết lộ và thậm chí các nhà hoạch định luật về tài chính tại dây cũng không biết ai là người đứng đằng sau những tài sản này. Nguồn: http://www.bbc.co.uk/  
......

NHẬT KÝ CHUYẾN THAM DỰ PHIÊN TÒA ĐOÀN VĂN VƯƠN

Mấy ngày trước , dù biết mình liên tục bị đeo bám, theo dõi nhưng tôi vẫn thản nhiên di chuyển để làm những việc bình thường.   Bởi thật ra mình đâu có phải "Tội phạm" hay yếu nhân đâu mà phải quá lo lắng chuyện mình đi đâu ?làm gì ? Nhất là mình chẳng làm những chuyện vi phạm pháp luật?   Chập tối đi lang thang rồi nhớ ra ghé nhà thằng em ăn cơm cùng vợ chồng nó đến khuya thì bắt xe đi vòng vòng rồi sang Văn Giang vì nghe bà con nói sẽ khởi hành vào rạng sáng.   Mình muốn đồng hành cùng bà con từ điểm xuất phát để chứng kiến và chia sẻ "Đoạn trường" chuyến đi này, mà theo linh cảm của mình là đều biết trước. Xe khởi hành từ lúc 3 giờ sáng. Dự định số người đi sẽ vừa tròn 50 để không phải lo lắng chuyện "Qúa tải" xe mà bị gây khó dễ  dọc đường "Cẩn tắc" đến như thế , nhưng rồi những dự tính đều xảy ra...Xe chạy khoảng vài chục km ra đường đi Hải Phòng. Trời còn tối mịt mà đã bị công an dừng xe "Hỏi thăm" Trong khi trời thì mưa lất phất. Chẳng biết mọi khi các chú có nhiệt tình như thế này không?   Đã chuẩn bị tinh thần nên chẳng ai bất ngờ. Mỗi khi bị cảnh sát giao thông "Hỏi thăm" thì bà con lại tỉnh cả ngủ và vội vàng tác nghiệp Mọi ống kính quay chụp cứ nhằm thẳng nhân viên công lực nhà nước khiến cho các "chú" cũng ngại ngần. Và rồi ở những chặng đầu các chú đã phải "Chùn tay".   Xe chạy tiếp được chỉ chừng vài chục phút tiếp theo thì lại thêm một trạm thứ 2...Nhưng trước sự cứng rắn của người dân , họ đành phải để cho xe đi tiếp.   Chốt cuối cùng thì chắc chúng đã có sự chuẩn bị. Đó là trạm thu phí khu vực Quán Toan. Trời mưa lất phất và chưa sáng rõ mặt người , nhưng họ đã huy động cả một lực lượng hùng hậu nào quân phục- thường phuc. Nào là chìm nổi và Côn đồ giả dạng lên đến con số hàng trăm và tại đây, họ ngang ngược đưa ra cái LỆNH MỒM:" Cấm xe khách vào thành phố" .   Khi tôi gọi điện thông báo cho anh chị em thì được biết khắp các ngả họ cũng đã vây như thế và bà con Dân Oan Dương Nội cũng không đến được  Quanh đi vòng lại mãi để đấu tranh nhưng không có cách nào. Chúng tôi đành dừng xe giữa  đường để TỔ CHỨC SỰ KIỆN.   Bà con cùng mặc áo Dân Oan và cầm băng rôn khẩu hiệu ủng hộ người anh hùng nông dân Đoàn Văn Vươn ngay tại một chợ nhỏ trên đường quốc lộ. Sự kiện đã thu hút một số đông Nhân Dân địa phương và bà con vô cùng đồng tình. Nhiều tiếng nói phẫn nộ vang lên tố cáo những sai phạm , cướp bóc của chính quyền địa phương. Thế mới biết lòng dân giờ đây "tin yêu đảng" cỡ nào nhỉ?   Sau khi chia tay bà con Văn Giang buộc lòng quay về...mấy người chúng tôi được người dân địa phương nhiệt tình chỉ dẫn đường đi . Và thế là chúng tôi đã lọt vào trung tâm Hải Phòng dưới mạng lưới cú diều của những tên an ninh mật vụ bán nước hại dân- Côn đồ bỉ ổi.   Vào sát gần khu vực tòa án , chúng tôi mừng vui ôm chầm lấy những người quen biết đã có mặt trước đó như GS Ngô Đức Thọ- nhà văn Nguyễn Tường Thụy- LS Hà Huy Sơn- Bác sĩ Phạm Hồng Sơn..Anh Phan Khang- Anh Kim Môn- Mai Dũng......Thế rồi chưa kịp "hàn huyên" về chặng đường như "Đặc công" của mình thì thấy Nguyễn Chí Đức ở đâu đi đến, mọi người cùng rủ nhau tiến sang bên kia đường đối diện tòa. Nơi công an chăng dây ngăn cách hàng rào và bà con Dân Oan các tỉnh thành đang tập chung đông tại đó.....   Xúc động nhất là khi tôi vừa cùng các bác, các anh chị bước vào , đang chen qua những "Thanh kiếm lá chắn " của đảng thì bà con ào ra phía chúng tôi. Nhiều Dân oan tôi đã gặp tại vườn hoa Mai Xuân Thưởng - Hà Nội...Tôi ôm mọi người và nghẹn ngào trong giây lát. Tôi cố lấy lại bình tĩnh trước đám đông mà chắc chắn rất nhiều ĐỊCH.   Tôi muốn  ôm những bà con Dân oan thật chặt như để truyền cho nhau tinh thần ý chí. Chia sớt cho nhau những mất mát đau thương trong cuộc đời này.....Và rồi, chúng tôi hòa vào rất nhanh ...CHIẾN!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!
......

Vụ xử anh Vươn: có sự chỉ đạo “dền dứ” từ Bộ Chính trị

Ngoài chịu sự chỉ đạo của các cơ quan chủ quản, của Thành ủy Hải Phòng, Hội đồng xét xử còn liên tục nhận được chỉ đạo sát sao từ Bộ Chính trị. Theo một đồng chí tại Vụ 1A, Viện Kiểm sát Tối cao cho biết ngay khâu lượng hình đã phải trải qua nhiều cuộc họp chỉ đạo rất gay cấn. Quan điểm của Thành ủy Hải Phòng là phải diệt “bọn này” (chỉ nhà anh Vươn) để làm gương. Trung ương thì sợ phản ứng dây chuyền nên lưỡng lự.   Rốt cuộc, cách chỉ đạo làm án cũng lại giống vụ Nguyễn Tùng Dương năm xưa. Cần nhắc lại là vụ xử viên cảnh sát/tội phạm Nguyễn Tùng Dương tháng 10/1994 đã khiến công chúng phẫn nộ bởi sự bao che của chính quyền. Hàng vạn người đã biểu tình tại Hà Nội phản đối sự bất công. Đây là vụ biểu tình (tự phát) lớn nhất kể từ năm 1945 tại Hà Nội. Các cơ quan tố tụng như Viện Kiểm sát, Tòa án, Bộ Công an phải liên tục thỉnh thị chỉ đạo của Chủ tịch nước Lê Đức Anh. Cuối cùng ông Anh lệnh cho tòa cứ dền dứ để thử mức độ kiên nhẫn của công chúng. Riêng phiên cuối cùng cho rời hẳn sang một ngày khác. Chỉ đạo là nếu không biểu tình hoặc biểu tình ít thì xử Dương chung thân. Dân vẫn tập chung biểu tình thì xử Dương tử hình. Kết quả là dù đã dền dứ, đã hoãn đi hoãn lại mà ước tính có tới gần 5 vạn nhân dân vẫn biểu tình vây chặt Tòa án Tối cao buộc Lê Đức Anh phải chỉ thị Tòa án Tối cao xử Dương mức cao nhất là tử hình. Quá phẫn nộ với việc “dền dứ” này, hàng vạn nhân dân bức xúc xô đến đòi “xử” kẻ giết người ngay tại sân Tòa án Tối cao. Hàng nghìn cảnh sát được huy động tới đã biến sân Tòa án Tối cao thành bãi chiến trường.   Trở lại vụ anh Vươn, có thông tin cho rằng chỉ đạo từ trên là nếu dân không phản ứng mạnh thì xử anh Vươn mạnh tay theo đúng khung. Nếu dân phản ứng mạnh thì xử dưới khung. Hải Phòng đã “dền dứ” trong mấy ngày qua theo đúng kịch bản này giữa lúc dư luận trong nước và quốc tế kịch liệt lên án cách làm của chính quyền trong việc xét xử vụ anh Vươn.   **************   (BBT-TTĐQ)- Chiều nay, 5-4, TAND Hải Phòng đã tuyên phạt các ông Đoàn Văn Vươn (SN 1963): 5 năm tù; Đoàn Văn Quý (1966): 5 năm tù; Đoàn Văn Sịnh (SN 1957): 3 năm 6 tháng tù; Đoàn Văn Vệ (SN 1974): 2 năm tù về tội “Giết người” theo quy định tại điểm d, khoản 1, Điều 93 Bộ Luật Hình sự. 2 bà Phạm Thị Báu (tức Hiền, SN 1982, vợ Đoàn Văn Quý) bị 18 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 36 tháng và bà Nguyễn Thị Thương (SN 1970, vợ Đoàn Văn Vươn) bị 15 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 30 tháng về tội chống người thi hành công vụ quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 257 Bộ Luật Hình sự CSVN.   Mức án mà toà TAND Hải Phòng tuyên với các bị cáo nằm trong mức án mà Viện KSND TP Hải Phòng đề nghị ngày 4-4. Riêng bị cáo Vệ bị toà tuyên phạt 2 năm tù giam trong khi Viện kiểm sát đề nghị 20 - 30 tháng tù cho hưởng án treo.   Bà Nguyễn Thị Thương cho biết là sẽ kháng cáo lên tòa án tối cao.
......

Những cái vỏ bọc mong manh trước “quả bom” họ Đoàn

Ngày 2-4-2013, sau “cá tháng 4” một ngày, là một ngày sẽ đi vào lịch sử Việt Nam, ghi dấu cuộc chiến đấu “giáp lá cà” giữa SỰ THẬT và DỐI TRÁ. Đó là ngày xử án vụ Đoàn văn Vươn và gia đình về cái gọi  là tội “giết người, chống người thi hành công vụ”! Nhưng tôi tin lịch sử sẽ đặt lại tên vụ án này, vụ án điển hình về “Quyền tự vệ của người dân trước nạn cướp ngày được thể chế hóa”.   Một gia đình nông dân ở Tiên Lãng – Hải Phòng được nhận giao đất đã đem hết tiền của, nhân lực, mồ hôi và máu để “chế ngự thiên nhiên” làm đê chắn sóng, biến khu đầm hoang thành khu nuôi trồng thủy sản, đang thời kỳ thu hoạch… thì có lệnh thu hồi. Chủ nhân Đoàn Văn Vươn đã tin vào Công lý nên làm đơn khiếu kiện khắp nơi, nhưng luật pháp không đứng về phía người dân lao động thiệt thòi như anh mà ở phía kẻ có quyền, có tiền. Kết quả là ngày 05/01/2012, chính quyền địa phương đã huy động một lực lượng hùng hậu, gồm hơn 100 công an, dân phòng và cả bộ đội và chó nghiệp vụ để thi hành lệnh cưỡng chế, cưỡng đoạt công trình tạo dựng bằng mồ hôi và xương máu của gia đình, cướp đi nguồn sống của gia đình.   Bị dồn vào đường cụt, trong thế quẫn, gia đình anh đã chống trả kịch liệt để ngăn cản sự cướp đoạt nguồn sống, dùng mìn tự chế và đạn hoa cải bắn lại lực lượng cưỡng chế, khiến 4 công an và hai bộ đội bị thương. Đầu đuôi vụ án là như vậy.   Để tranh cãi thuần về mặt pháp lý, có thể xem Bản Cáo trạng do Viện phó VKSND Hải Phòng ký ngày 04/01/2013, rồi đối chiếu với tham luận của các luật sư Hà Huy Sơn, Nguyễn Văn Đài, Lê Đức Tiết, Trần Quốc Thuận và tuyên bố của các sinh viên Luật sẽ thấy sự luận tội của nhà cầm quyền là bất công, không đủ cơ sở pháp lý, không đúng người đúng tội. Nhưng chẳng cần nói gì nhiều, chính người đứng đầu cơ quan hành pháp, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong phiên họp ngày 10/02/2012 cũng đã kết luận rằng chính quyền địa phương đã sai hoàn toàn trong vụ Tiên Lãng!   Nhà nước dùng bạo lực sai, dân chống lại sự sai chính là giúp cho Công lý, giúp cho Nhà nước khỏi đi sâu vào tội lỗi, một Nhà nước có thiện tâm phải biết cảm ơn tiếng súng hoa cải Đoàn Văn Vươn mới phải lẽ! Tôi đồng ý với nhà báo Huy Đức : tiếng “bom” Đoàn Văn Vươn chỉ là tiếng trống kêu oan, vì các quan của ta quá điếc nên phải “nổ um lên” để nghe cho thấu. Nếu “Bao Công” mà bắt giam luôn người đánh trống kêu oan, để trị tội vì làm mất giấc ngủ trưa thì Bao Công ấy so với “Bao… Cao su” là cùng một giuộc. Trái lại phía công an Hải Phòng đã tổ chức đàn áp “tiếng trống kêu oan” của dân một cách đầy khoái cảm thú tính như “trận đánh phối hợp tuyệt vời, đáng viết thành sách”! Chỗ này nếu TBT Nguyễn Phú Trọng dùng chữ “suy thoái đạo đức” thì tuyệt!   Tiếng nổ là do áp lực bên trong tăng mà cái vỏ cứng bên ngoài ép lại, chịu không nổi thì bung ra thành mìn, thành bom. Những vụ người dân buộc phải bán ruộng đất với giá “cướp không” xảy ra khắp nơi, dân tình oán thán kêu trời không thấu, nhưng tất cả cứ bị nén trong cái vỏ “pháp quyền XHCN do ĐCS lãnh đạo, do nhà nước của dân do dân và vì dân thực hiện” nên ruộng đất là tài sản đặc biệt phải là sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý! Cái vỏ xem chừng rất “có lý có tình” dân cãi không lại. Nhưng thực tiễn đã phát ra tiếng nổ để bộc lộ bản chất của mối quan hệ: cướp ngày là quan, cướp có con dấu, có chủ trương, có nghị quyết, có tư tưởng, thậm chí có cả… một chủ nghĩa đứng đằng sau. Tranh cãi với những cái đầu xơ cứng hoặc não trạng đã quyết làm tay sai cho giai cấp mới rủng rỉnh đô-la thì vô ích, đành tranh cãi bằng “bom” thôi chứ biết làm sao? Áp lực tới hạn thì phải nổ, cái vỏ không chịu nổi cái ruột, nói theo triết học thì nó là phạm trù mâu thuẫn giữa nội dung và hình thức thôi.  Mâu thuẫn giữa dân với nhà nước trong sở hữu ruộng đất xảy ra đã nhiều, nhiều vụ rất căng, nhưng đến vụ Đoàn Văn Vươn mới nổ thành “bom” bởi mâu thuẫn được cô đọng thành điển hình cho những “mâu thuẫn cách mạng”. Ở anh Vươn có chất nông dân, có chất công nhân, có chất trí thức, có chất quân đội, có chất anh hùng (nhà nước đã coi anh Vươn là anh hùng lấn biển, vươn lên từ nghèo đói). Ngần ấy thứ điển hình quý báu của cách mạng, mà bị “cách mạng” ép đến phải vỡ toang ra, thì mọi thứ vỏ bọc mong manh hào nhoáng như dân chủ, công nông, trọng người tài, phát triển bền vững, hóa rồng, hóa hổ… đều vỡ tung hết.    Về vụ Đoàn Văn Vươn, sau khi gọi thẳng đó là vụ “Cướp ngày”, “phản cách mạng đã rõ ràng”, cụ bà Lê Hiền Đức đã viết như sau“Chừng nào ông Đoàn Văn Vươn và những người thân của ông còn phải nằm trong vòng lao lý, còn chưa được bồi hoàn các quyền lợi về vật chất, tinh thần đã bị xâm phạm thì chừng đó tôi còn nhìn chính quyền trung ương của Việt Nam chỉ như là sự PHÓNG TO của chính quyền huyện Tiên Lãng, chính quyền thành phố Hải Phòng mà thôi”.   Và hôm nay, với comment trên Anhbasam, KTS Trần Thanh Vân viết một câu gọn lỏn: “Phiên tòa này sẽ dẫn đến một cuộc khởi nghĩa nông dân. Không thể khác được!”. Xem như vậy thì gọi vụ án Đoàn Văn Vươn là một “quả bom” là còn nhẹ.   Quả bom này chất nổ nằm ở nông dân nhưng người có thể tháo vỏ, tháo kíp chính là Nhà nước, mong lắm thay! Vụ này là sự nhắc nhở thiết thực đến nhu cầu sửa đổi Hiến pháp hiện nay sao cho tháo gỡ một kíp nổ?   Những tiếng nói phản biện lâu nay thường xuất phát rôm rả từ các nhân sĩ – trí thức, nhưng trí thức kỳ thực chỉ là những người báo thức, là chất gây men. Nông dân mới đích là “quân chủ lực”, cách mạng chỉ được cái nói đúng! Chủ lực đã ra quân thì… trí thức chỉ biết đứng sau ủng hộ và cảm phục.   Tình hình đất nước lâu nay rất lạ, cứ nửa như thực nửa như mơ, như thật như đùa, bảo là “bên miệng hố” cũng được mà bảo “chẳng có gì mới” cũng được? Nhưng xin thưa: đùa gì thì đùa, không thể đùa với vận mệnh dân tộc. Cuối lời, để thần kinh có chút xíu thư giãn, xin mượn mấy câu “thơ tình” như thật như đùa của Thái Hữu Tình, vịnh cảnh say thuốc lào nghiêng ngả, tặng hai người anh hùng Điếu Cày và Đoàn Văn Vươn, muốn hút Điếu Cày phải có thuốc lào Tiên Lãng:   SAY THUỐC LÀOThuốc lào Tiên Lãng khói bayGiữa mùa hoa cải, điếu cày gọi sang Ba-zô-ka đã sẵn sàng (*)Rít lên mồi lửa, Thiên đàng… cũng xiêu…!   (*) Ba-zô-ka là tên một loại súng tự chế giống chiếc điếu cày, dân nghiện thuốc vẫn gọi điếu cày là ba-zô-ka.  3/4/3013H.S.P. DienDanCTM
......

Đêm Hội Nhạc Hát Cho Quê Hương Việt Nam Tại Nürnberg - Đức Quốc.

Nürnberg thành phố lớn nằm trong tiểu bang Bayern - Đức Quốc, là một thành phố lịch sử đã mở ra các phiên tòa năm 1946 để xét xử 24 nhân vật quan trọng tội phạm chiến tranh Đức Quốc Xã: Martin Bormann (1900-1945?), Đại tướng SS, Bí thư Đảng Quốc xã, Karl Dönitz (1891-1980), mang quân hàm Thủy sư Đô đốc, Hans Frank (1900-1946), luật sư cho Đảng Quốc xã, Đại tướng SS, Wilhelm Frick (1877-1946): Bộ trưởng Nội vụ (1933-36), Quốc vụ khanh (1936-1943)..., mỗi nước đồng minh Anh, Pháp, Nga và Hoa Kỳ được đề cử một chánh án. Qua các phiên tòa Nürnberg đã tuyên 12 án tử hình, 3 án tù chung thân, 4 án tù từ 10 – 20 năm. Đặc biệt tại ngay giữa trung tâm thành phố có các Trụ Cột Nhân Quyền được dựng lên với nhiều thứ tiếng khác nhau trong đó có trụ cột Nhân Quyền Việt Nam. Nơi đây được nhiều du khách đến thăm viếng và chụp ảnh lưu niệm. Vào ngày 30.03.2013, mặc dù đã cuối tháng Ba nhưng tuyết vẫn còn rơi trắng đường với thời tiết 3 độ C, một buổi sinh hoạt với chủ đề „Đêm Hội Nhạc Hát Cho Quê Hương Việt Nam“ do Hội Người Việt Tỵ Nạn Nürnberg – Mittelfranken tổ chức. 17 giờ 30 chương trình bắt đầu với nghi thức khai mạc lễ chào Quốc Kỳ, kế tiếp là anh Hội Trưởng Bùi Văn Tân mời hai vị đại diện tôn giáo là ông Phạm Văn Đức - Phật Giáo và ông Nguyễn Hữu Chỉnh - Công Giáo lên hướng dẩn đọc kinh cầu nguyện cho quê hương Việt Nam sớm có tự do nhân quyền. Anh Lê Văn Thận Phó Chủ Tịch Ngoại Vụ chào mừng quan khác và nói lên ý nghĩa của đêm Hội nhạc. Đi vào phần chính của đêm Hội nhạc, anh Nguyễn Ngọc Trinh đã giới thiệu và chiếu dương ảnh bài giảng của Linh Mục Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh trong thánh lễ cầu nguyện cho công lý và hòa bình tại Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn ngày 30.01.2012.  http://www.youtube.com/watch?v=BlIYXeA5HMY, Trong bài giảng LM Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh đã kêu gọi  “Những người đang tuổi trung niên chấp nhận hy sinh sự nghiệp, hy sinh hạnh phúc gia đình, những bạn trẻ đang tràn trề sức sống, hy sinh tương lai, hy sinh tất cả để tranh đấu cho tự do dân chủ, cho nền độc lập quốc gia, cho toàn vẹn lãnh thổ. Đó chính là niềm hy vọng của dân tộc, của tổ quốc trong hoàn cảnh bi đát hôm nay”, hãy  “vượt ra khỏi cái gia đình nhỏ bé của mỗi chúng ta để nói đến một gia đình rộng lớn hơn, đó là quê hương, là đất nước, là tổ quốc, là dân tộc.” Một đoạn Youtube được trình chiếu, cho thấy hình ảnh cảnh nhà cầm quyền CSVN đã âm mưu cấu kết với tài phiệt mở hãng xưởng cướp đất đai của người dân  Văn Giang - Hưng Yên, vào  ngày 24.04.2012  họ đã dùng công an và bọn côn đồ đàn áp đánh đập tàn nhẫn dã man người dân tại đây quyết tâm đứng ra bảo vệ tài sản của mình. http://www.youtube.com/watch?v=AHgJaFoq56I Tiếp theo Ban Tổ Chức kêu gọi mọi người hãy hưởng ứng ký tên ủng hộ quan điểm đề nghị sửa đổi Hiến Pháp của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, ký tên các bản lên tiếng cho tự do nhân quyền... Một số bài hát đã được trình bày nói lên thân phận con người, nỗi đau của đất nước đang bị giặc nội ngoại xâm, kêu gọi mọi người hãy mạnh dạn đứng lên đáp lời sông núi: Bài Nhớ Mẹ (Thiếu Tướng Lê Minh Đảo và Đại Tá Nguyễn Trọng Huề tác giả),  Việt Nam Tôi Đâu, Anh Là Ai, (Việt Khang), Triệu Con tim (Trúc Hồ) ca sĩ  Bích Huyền và các anh em trẻ đến từ Odenwald. Kịch thơ Hận Nam Quan, Tống Biệt Hành, Những Con Đường Hà Nội với giọng ngâm truyền cảm của anh Vũ Duy Toại, anh Nguyễn Ngọc Trinh phụ diễn. Bài Một Ngày Cho Nhân Quyền, Đứng Lên Tuổi Trẻ Việt Nam...do ca nhạc sĩ Ve Sầu Nguyễn Văn Nghệ sáng tác và trình diễn.                    Bài Vùng Dậy do anh Huỳnh Hà trình diễn đã làm sóng động hội trường. Các đoàn thể và thân hữu đến tham dự từ xa: anh Liêu Tuấn Tú, Hội Trưởng, anh Đào Văn Bất, anh Vũ Duy Toại, Hội Người Việt Tỵ Nạn Köln,          anh Lê Trung Ưng, Hội Trưởng và nhóm anh em trẻ Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản Odenwald, anh Lý Văn Xuân, Cơ Sở Đảng Việt Tân  München, người đến xa nhất là anh Huỳnh Hà từ Nettatal cách Nürnberg khoảng 500 cây số. Phần Tombola qua anh Huỳnh Hà & Bích Huyền đảm trách rất sôi động, mọi người khi ra về đều có trên tay món qua lưu niêm. Cũng không quên phần ẩm thực do các Anh Chị trong hội và thân hữu làm tặng rất phong phú, ngoài phần giải lao ăn uống tại chổ, lại còn chu đáo thêm một số thức ăn uống về đường cho các anh em ở xa. Tóm lại buổi tổ chức thành công tốt đẹp, địa điểm tổ chức Südpunk của thành phố cho mượn tuy bị giới hạn không còn chổ ngồi có người phải đứng, nhưng lúc chia tay ra về mọi người đều vui vẻ vì đã bỏ thời gian tham dự đóng góp một ngày nhiều ý nghĩa, hẹn sẽ gặp lại nhau vào lần sinh hoạt đấu tranh tới 30.04 tại Frankfurt và 30.04 Đen tại Odenwald. LVX  
......

Ý thức chủ quyền: Sự sai sót lẻ lẻ tình cờ hay sự cố ý có hệ thống ?

Trên báo Pháp Luật online số ra ngày 31.3.2013 có bài viết với nhan đề: „Ý thức chủ quyền có vấn đề „ của tác giả Phạm Chu Sa đã đưa ra nhiều sự kiện được phía nhà nước CSVN cho là những sai sót lẻ tẻ trong việc in ấn một số sách tham khảo của học sinh in bản đồ Việt Nam không có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, hoặc sách tập đánh vần cho học sinh chuẩn bị vào lớp 1 có in cờ Trung Quốc trước cổng trường!... Mới đây, các phóng viên văn hóa lại phát hiện hàng loạt sách dạy tiếng Anh hướng dẫn du lịch xuất bản từ năm 2005 đến nay, như: “360 độ tiếng Anh dành cho hướng dẫn viên du lịch”,“Thực hành đàm thoại tiếng Anh ngành du lịch”,“Đàm thoại tiếng Anh thực dụng cho ngành du lịch”; “Giao tiếp tiếng Anh trong dịch vụ văn hóa bảo tàng”… Mặc dù đây là những sách dạy tiếng Anh về du lịch nhưng hầu hết chỉ toàn giới thiệu đất nước, con người, lịch sử, văn hóa Trung Quốc! Câu hỏi đặt ra là tại sao sách dạy đánh vần cho học sinh lớp 1, sách dạy tiếng Anh về du lịch lại phải nhập từ Trung Quốc? Tại sao tại Hội chợ Du lịch quốc tế tại Đức vừa qua, gian hàng Việt Nam lại giới thiệu danh thắng Lạc Sơn Đại Phật của Trung Quốc? Rồi các sự kiện một resort ở Đà Nẵng ghi biển Đông là “South China Sea”… Không chỉ trong lĩnh vực văn hóa, du lịch mà sự việc còn lấn sang nhiều lĩnh vực khác, như mới đây nhất, hệ thống siêu thị Big C bán nho Việt Nam nhưng gắn cờ Trung Quốc! Nên nhớ, trước đó ít lâu, hệ thống Big C cũng đã từng bán áo phông in hình bản đồ Việt Nam không có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Những câu hỏi tại sao đã xâu chuỗi nhiều sự kiện khiến dư luận cho rằng đây không chỉ là sự sai sót lẻ lẻ tình cờ, mà là sự cố ý có hệ thống.
......

SỨC MẠNH QUẦN CHÚNG VIỆT NAM TUYÊN BỐ THẲNG VỚI BỘ CHÍNH TRỊ ĐẢNG CỘNG SẢN HÀ NỘI:

“PHẢI NHẤT THIẾT TIẾN ĐẾN BẦU CỬ TỰ DO QUỐC HỘI LẬP HIẾN ĐỂ THẢO HIẾN PHÁP MỚI DÂN CHỦ CHO VIỆT NAM” Từ đầu năm nay 2013, quốc hội đảng cử Hà nội đưa ra bản sửa đổi lại bản hiến pháp cũ năm 1992 để dân cho ý kiến. Lập tức nhiều người lên tiếng đòi bỏ điều 4, đòi công nhận quyền sở hữu đất đai của nông dân, đòi phi chính trị hoá quân đội. Hoảng sợ trước những đòi hỏi chính đáng đầy dũng khí từ những kiến nghị của nhóm 72 trí thức, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Giáo Hội Phật Giáo Hoà Hảo, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, nhà báo Nguyễn Đắc Kiên và tuyên bố của Công Dân Tự Do…, bạo quyền Hà nội vội vàng phát động chiến dịch tuyên truyền chống lại những đòi hỏi trên và để chắc ăn phái ngay cán bộ đến từng nhà ép dân ký đồng ý với bản Hiến pháp do chúng đưa ra. Đang điêu đứng khổ sở vì kinh tế khó khăn, đời sống cực nhọc vất vả, tham nhũng tràn lan, Tổ Quốc mất đất, mất đảo…, người dân rất bất bình khi phải nghe những lời tuyên truyền áp đặt và nhất là bị ép buộc phải ký đồng ý với bản hiến pháp mới. Bản này còn độc tài hơn bản cũ năm 1992, nhất là cho phép quan tham mặc sức lấy đất canh tác của nông dân, và bắt quân đội phải trung thành với chủ nghĩa ngoại lai Mác – Lê hơn là với Tổ Quốc của mình. Đi đâu người ta cũng nghe dân than những thủ đoạn cưỡng bức vô lối, khinh dân của bạo quyền cộng sản. Thế là bất chiến tự nhiên thành thế trận nhân dân bao vây cô lập bộ chính trị trên phạm vi toàn quốc. Càng trưng ra nhiều chữ ký ép được dân đồng ý, bộ chính trị chỉ càng đổ thêm dầu vào lửa đòi Dân Chủ Hoá của dân tộc ta mà thôi. Đây là cơ hội bằng vàng để các cá nhân, hội đoàn, tổ chức, phong trào, đảng phái (kể cả bộ phận lớn tiến bộ trong đảng cộng sản, mặt trận tổ quốc, quốc hội, quân đội, đoàn thanh niên cộng sản, hội liên hiệp phụ nữ…) lồng trong Sức Mạnh Quần Chúng lên tiếng khẳng định: A/ Hiến pháp tự biên tự diễn của 14 người trong bộ chính trị (cầm đầu là Trọng, Sang, Dũng, Hùng) hoàn toàn vô giá trị đối với dân tộc ta, dù có thu gom được hàng chục triệu chữ ký. Lý do đơn giản là hầu hết những chữ ký đó bị cưỡng bức, trái với ý muốn của họ. B/ Cương quyết bác bỏ bất cứ loại hiến pháp cộng sản cải tiến nào. C/ Tiếp tục đấu tranh không ngừng nghỉ, đưa Sức Mạnh Quần Chúng lên cao hơn nữa, buộc bộ chính trị phản động phải nhượng bộ trước ý dân, bằng cách chấp nhận những bước cải cách chính trị cần thiết nhằm tiến đến tổ chức bầu cử tự do Quốc Hội Lập Hiến. D/ Lộ trình tiến đến bầu cử tự do Quốc Hội Lập Hiến: Tiến trình Dân Chủ Hoá Việt Nam chủ yếu diễn ra dưới sức ép Dân Chủ của quần chúng nhân dân Việt Nam. Sức thống trị của cộng sản hiện nay càng ngày càng suy giảm, trong khi Sức Mạnh Quần Chúng ngày càng phát triển đi lên mạnh mẽ. Khi hai sức đối kháng này gặp nhau là lúc thực thi lộ trình tốt nhất. Bộ chính trị đang bị cô đơn hơn bao giờ hết, chỉ vì sai lầm đã áp đặt một bản hiến pháp mà dân không bằng lòng (dân châm biếm gọi là ‘hiếp pháp’). Nhân dân ta cần tiếp tục đưa Sức Mạnh Quần Chúng lên cao trào, làm tê liệt mọi khả năng tham mưu của bộ chính trị ; kéo theo buộc quốc hội - với tư cách là cơ quan quyền lực tối cao – phải đề ra hướng đi chính trị mới cho chính quyền thi hành: 1. Tôn trọng quyền tự do tiếp nhận thông tin của người dân, như nới lỏng kiểm duyệt, bỏ tường lửa ngăn chặn các trang web và radio trên mạng internet, các đài quốc tế RFA, RFI, VOA. 2. Tôn trọng quyền tự do phát biểu của người dân, như tố cáo tham nhũng, chỉ trích đường lối – chính sách của nhà cầm quyền, ngay cả trên những cơ quan truyền thông của nhà nước. 3. Thả hết tù nhân lương tâm, kể cả tù chính trị và tôn giáo. 4. Tôn trọng tự do tôn giáo theo những tiêu chuẩn của Liên Hiệp Quốc. 5. Quốc hội nhân danh là cơ quan quyền lực tối cao của dân tộc quyết định huỷ bỏ điều 4 hiến pháp. 6. Quốc hội thể theo nguyện vọng và quyền lợi của dân tộc chính thức long trọng tuyên bố trước quốc dân và quốc tế là: Quốc gia Việt Nam từ nay chấp nhận dấn bước trên con đường Dân Chủ Hoá, tôn trọng nhân quyền, dân quyền và tài quyền. 7. Quốc hội ra quyết định tách đảng cộng sản ra khỏi chính quyền: dẹp bỏ và chấm dứt mọi hoạt động của tất cả các đảng uỷ các cấp các ngành từ trung ương đến địa phương. 8. Quốc hội soạn thảo và thông qua luật ứng cử – bầu cử tự do, đa nguyên, đa đảng. 9. Bộ máy hành chính của chính quyền đã tách khỏi sự lãnh đạo của đảng cộng sản có nhiệm vụ tiến hành bầu Quốc Hội Lập Hiến để thảo Hiến Pháp Mới Dân Chủ cho Việt Nam. Bs Nguyễn Đan Quế Cao Trào Nhân Bản 31-3-2013
......

Liên minh chống Mỹ, hay liên lập với Hoa Kỳ?

Chuyến đi lịch sử Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đến Moscow hôm thứ sáu, mở đầu chuyến công du để cúng cố mối quan hệ ngoại giao mà Tổng thống Putin gọi là đang trong giai đoạn tốt đẹp nhất trong lịch sử mấy chục thế kỷ của cả hai nước. Chủ tịch họ Tập tuyên bố tại Moscow rằng sự kiện ông chính thức công du Liên Bang Nga ngay sau ngày nhậm chức lãnh đạo tối cao của Trung Quốc chứng tỏ tầm quan trọng của mối bang giao này. Tầm quan trọng đó được chứng tỏ không phải vì đây là chuyến xuất ngoại đầu tiên của ông Tập với cương vị chủ tịch Trung Quốc, mà qua sự ký kết trên 30 hiệp ước và sự đáp ứng nồng nhiệt của nhà lãnh đạo nước Nga, Tổng thống Vladimir Putin. Không phải chỉ có chủ tịch Tập Cận Bình mới đi Moscow trước tiên sau khi nhậm chức.  Người tiền nhiệm là ông Hồ Cẩm Đào cũng đã hành động y hệt sau khi vừa trở thành nhà lãnh đạo tối cao của Trung Quốc. Trung Quốc và Liên Bang Nga đã ký kết những hiệp ước kinh tế thương mại, năng lượng có vai trò chiến lược đối với cả hai nước Nga-Hoa, trong đó có cả hiệp ước về mua bán và sản xuất vũ khí. Đáp số cho bài toán sinh tử Đây là lần đầu tiên Trung Quốc mở được cửa kho nhiên liệu phong phú của Liên Bang Nga, ký được những hợp đồng về cung cấp dầu khí và khai thác dầu khí với những con số khổng lồ. Tập đoàn ROSNEFT sẽ cung cấp cho Trung Quốc mỗi năm từ 45-50 triệu tấn dầu trong vòng 25 năm. Số lượng thường niên này được tính là gấp ba lẩn những năm về trước. Công ty GAZPROM cũng ký bản ghi nhớ về việc cung cấp cho Trung Quốc ít nhất 38 triệu mét khối khí đốt kể từ 2018, nhiều hơn lượng cung cấp cho Đức. Trong danh mục nhiên liệu còn có than đá. Trung Quốc ký hiệp ước 2 tỉ đô la để khai thác than của Nga  ở miền Viễn Đông. Những  hợp đồng về nhiên liệu, năng lượng này chiếm vai trò chiến lược là vì đó là đáp số của bài toán năng lượng mang tính cách sinh tử đối với Trung Quốc. Con đường huyết mạch về nhiên liệu của Trung Quốc. Nhật Bản, Hàn quốc xuất phát từ Trung đông chạy về Ấn Độ Dương, đi qua eo biển Malacca, rồi qua hải phận biển Đông của Việt Nam, vùng thủy lộ mà Trung Quốc luôn luôn kêu gào là bị Hoa Kỳ khống chế, và bằng mọi cách nhất quyết dành lấy chủ quyền 80% diện tích hành lang sinh tử này. Trung Quốc đang đẩy mạnh sản xuất phát triển kinh tế nên vốn là nước khát dầu nhất thế giới. Một khi tình hình lên tới mức căng thẳng tối đa vì nhiều nguyên do khả dĩ trong tình trạng Đông Á ngày nay, thì Bắc Kinh phải dự trù việc Hoa Kỳ và Nhật Bản khóa cửa thủy lộ này, đồng nghĩa với hành động cắt mạch máu của Trung Quốc. Vì thế nguồn cung nhiên liệu từ Nga là lời giải cho bài toán chiến lược ấy. Ít nhất trong trưởng hợp khẩn cấp Bắc Kinh cũng không phải lệ thuộc hoàn toàn vào con đường huyết mạch này. Đối với nước Nga, cuộc “cách mạng năng lượng” hiện nay của thế giới, với khuynh hướng tìm những nguồn nhiên liệu khác thay thế cho xăng dầu đang đe dọa những thị trường và lơi nhuận khổng lồ của Nga hiện nay về dầu khí. Năng lượng chính là tài nguyên kinh tế chiến lược hàng đầu của Moscow. Sự hợp tác với Trung Quốc đã thỏa mãn nhu cầu chiến lược của cả hai cường quốc vừa hợp tác vừa đương đầu với Hoa Kỳ. Ý nghĩa đối với Mỹ, Nhật và phương Tây Kinh tế, thương mại, năng lượng chỉ chiếm một phần quan trọng trong công cuộc hợp tác chiến lược về mọi mặt giữa hai nước Nga-Hoa. Chuyến thăm của chủ tịch Trung Quốc còn làm nổi bật những dữ kiện về quân sự và chiến lược trong mối liên kết này, dù người Nga vẫn chinh thức nói không phải là liên minh chống Mỹ. Chủ tịch Trung Quốc tuyên bố tại Viện quan hệ quốc tế ở Moscow rằng mối quan hệ song phương vững mạnh giữa Trung Quốc với Nga không những đáp ứng quyền lợi chung mà còn bảo đảm cho tình trạng cân bằng chiến lược quốc tế và nền hoà bình thế giới. Ông Tập Cận Bình không nhắc đến Hoa Kỳ, nhưng không quên nói thêm rằng không một quốc gia nào hay một khối quốc gia nào có quyền “đơn phương xử lý mọi công việc của thế giới.”  Tàu ngầm Amur-1650   Điều mà cả Nga lẫn Trung Quốc vẫn lên án từ lâu là vị thế chủ đạo của Hoa Kỳ trên bàn cờ quốc tế; vì vậy Hoa Kỳ chính là nước bị coi là “đơn phương xử lý mọi công việc của thế giới.” Hai nhà lãnh đạo Nga-Hoa còn ra tuyên bố chung nói rằng họ phản đối bất kỳ quốc gia nào hay một khối nào đơn phương củng cố khả năng phòng thủ chống hỏa tiễn, gây hại cho sự ổn định chiến lược và nền an ninh quốc tế. Cuối năm ngoái Trung Quốc đặt hàng 4 chiếc tàu ngầm tối tân kiểu Amur-1650 và 24 máy bay SU-35 tấn công tầm xa tối tân nhất của Nga. Đây là lần đầu tiên Nga chấp thuận bán loại máy bay này cùng với bản quyền chế tạo cho Trung Quốc. Báo chí Nga và một phần dư luận phương Tây cho rằng Nga muốn tăng cường sức mạnh quân sự để Trung Quốc đủ khả năng để đối đầu với Hoa Kỳ ở Đông Á và Đông Nam Á, nơi mục tiêu của chính sách chuyển trục chiến lược sang châu Á của người Mỹ. Một sự kiện mang tính cách biểu tượng về công cuộc hợp tác vững bền về quân sự, không còn gì nghi ngại lẫn nhau, là việc chủ tịch Trung Quốc được mời thăm Trung tâm chỉ huy quân sự của Liên Bang Nga tại Moscow.  Truyền thông Trung Quốc được phép vào thu hình cảnh chủ tịch Tập Cận Bình dự khán buổi thuyết trình của Trung tâm, mặt hướng vào chiếc màn hình khổng lồ đang làm công tác theo dõi những mục tiêu tình báo quân sự. Hai nhà lãnh đạo họp báo chung còn nhấn mạnh rằng những nghị quyết và án lệnh của những quốc gia thắng trận chống lại những nước thất trận trong thế chiến thứ hai, nhắm vào Nhật và Đức, sẽ giữ nguyên giá trị. Điều này có nghĩa là Nhật Bản không thể đòi lại cả 4 hòn đảo tranh chấp với Nga.  Hai lãnh đạo Nga Hoa còn tuyên bố ủng hộ chủ quyền hợp pháp của nhau theo thực tế lịch sử.  Như vậy là Đài Loan và Điếu ngư phải thuộc về Trung Quốc. Vào tháng 6 sắp tới Nga và Trung Quốc sẽ mở cuộc tập trận chung rất lớn ở Đông Bắc Á.  Một hạm đội Trung Quốc, có thể là hạm đội Đông Hải, hay thành phần chủ lực của hạm đội, sẽ chia làm hai lực lượng, vượt eo biển Tsushima, ở giữa Nhật và đông nam Nam Hàn, và eo biển La Perousse giữa cực nam bán đảo Sakhalin của Nga với Hokkaido của Nhật, để hội quân với hạm đội của Nga trên biển Nhật Bản. Cuộc hội quân trên biển này giống như cuộc thao dượt để hình thành một đại hạm đội tương đương Đệ thất Hạm đội Hoa Kỳ, nhằm tấn công vào trung bộ nước Nhật,. Tuyến xuất phát của cuộc tấn công này là từ giữa vùng biển ngăn cách bán đảo Triều Tiên với quần đảo Nhật Bản, hay nhìn cách khác, giữa một quốc gia thuộc khối đồng minh Nga- Hoa với đồng minh Nhật Bản của Hoa Kỳ.  Sukhoi-35  Với tất cả những dữ kiện ấy, phải chăng Nga và Trung Quốc vừa bắt đầu công khai liên kết để tìm phương sách ngăn chống ảnh hưởng của Hoa Kỳ, sau một thời gian dài gây trở ngại cho Mỹ và phương Tây trong mọi chính sách nhằm đối phó với những nước chống Mỹ như Iran, Syria, Bắc Hàn? Không nhìn nhận chống Mỹ Đại diện đại sứ Liên bang Nga Evgeny Tomikhine  ở Bắc Kinh bác bỏ luận điểm nói rằng Trung Quốc và Nga lập liên minh chống Hoa Kỳ. Ông nói nước dịp này Nga chỉ phát triển hợp tác đối tác chiến lược, không hề lập một liên minh nào với Trung Quốc. Trong tuần qua Tổng thống Nga Vladimir Putin cho biết kim ngạch thương mại song phương đã tăng gấp hơn hai lần trong năm năm nay, đạt mức kỷ lục 88 tỉ đô la trong năm 2012. Nhưng đại diện toàn quyền Evgeny Tomikhine  cho biết con số đó chỉ bằng một phần năm kim ngạch thương mại giữa Nga với châu Âu. So với Hoa Kỳ, mức trao đổi thương mại giữa Trung Quốc với Nga càng kém xa giữa Bắc Kinh với Washington. Thêm vào đó, đại diện toàn quyền của nước Nga tại Bắc Kinh cũng cho biết nguồn đầu tư của Trung Quốc vào Liên Bang Nga so với đầu tư vào châu Âu cũng còn khá hạn chế, và hầu hết mối đầu tư của Trung Quốc là từ các công ty, tập đoàn quốc doanh của họ. Báo chí Anh ngữ của Trung Quốc, như tờ Global Times và một số báo phổ thông khác  cũng nhất loạt bác bỏ quan điểm gọi là “Nga Hoa liên minh chống Mỹ.” Trong khi đó thì điều đáng ghi nhận là đông đảo công luận Hoa Kỳ ít đề cập sâu rộng và nhất là ít có lời bình luận tiêu cực về chuyến công du của chủ tịch Trung Quốc sang Nga. Thực ra gọi đó là liên minh chống Mỹ có thể không hoàn toàn chính xác.  Trên thực tế hai nước Nga Hoa đang lập một khối đối trọng chiến lược để lấy lại sự cân bằng trên cán cân quốc tế với Hoa Kỳ và phương Tây cũng những đồng minh của họ như Nhật Bản, Úc, kể cả một số nước Đông Nam Á và Trung Đông. Đại diện toàn quyền Evgeny Tomikhine của Liên Bang Nga nói mối hợp tác Nga-Hoa không phải liên minh, nhưng mức độ hợp tác có thể còn cao hơn nhiều so với mức độ hợp tác giữa những đồng minh.  Điều đó có nghĩa là gì, nếu không phải là một “liên minh không chính thức”, nhằm tạo đối trọng với Hoa Kỳ? Báo chí Trung Quốc thì tất nhiên không bao giờ từ bỏ luận điểm về ý hướng hòa bình của Bắc Kinh, nên họ nói gì cũng không có giá trị. Việt Nam ra sao? Nhìn qua có thể cho rằng Việt Nam sẽ bị khó khăn nhiều trước sự hợp tác chiến lược của hai nước đàn anh cũ. Tuy nhiên mới hôm thứ ba phó giám đốc Trung tâm phân tích chiến lược và công nghệ Nga Konstantine Makiyenko đã khuyên Việt Nam mua các máy bay tiêm kích Sukhoi 35. Bộ trưởng Quốc phòng Nga, Sergei Shoigu vừa thăm chính thức Việt Nam từ ngày 4 đến ngày 5 tháng 3. Nhân chuyến thăm này, Bộ trưởng Quốc phòng Nga cũng đến thăm cảng Cam Ranh, vốn là căn cứ hải quân của Nga trước kia Tháng 12 năm ngoái Thủ tướng Medvedev thăm Việt Nam, họp báo tại Hà Nội, tuyên bố rằng Nga và Việt Nam có thể hợp tác khai thác dầu khí ở biển Đông. Trước đó nhiều giới chức cao cấp người Nga tuyên bố rằng các công ty Nga có toàn quyền hợp tác và khai thác biển Đông, không thể bị ngăn cấm. Việt Nam có vẻ như sẽ không để cho một nước nào sử dụng cảng Cam Ranh làm căn cứ hải ngoại, và đã tuyên bố nơi này trở thành một địa điểm thuận lợi cho tàu bè tất cả các nước ghé vào sửa chữa, bảo trì.  Nhưng các quan chức Việt nam từng nói rằng khi đàm phán với Nga về việc giúp Việt Nam nâng cấp các cơ sở hải quân, Việt Nam sẽ cho Nga những đối xử đặc biệt (lúc đó thì hai nước chưa thành đối tác chiến lược) bởi Nga phải gửi tàu vào đây để đưa các thiết bị, và kỹ thuật viên và kỹ sư cho mục đích này. Dù chính sách ra sao, Việt Nam vẫn có thể sẽ dành cho hải quân Nga những ưu quyền đặc biệt trong những tình huống đặc biệt. Từ những yếu tố ấy, có thể nói Việt Nam trong cương vị hiện nay cũng còn nhiều chỗ xoay sở, dù công cuộc hợp tác Nga Hoa đã tiến tới giai đoạn gọi là “lịch sử”. Lời giải: sự liên lập quốc tế Trở lại vấn đề ảnh hưởng đối với Hoa Kỳ, tưởng cần nhắc lại rằng từ tháng 11 năm 2010 Tổng thống Nga Medvedev đã cùng Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia-Bảo ký kết thỏa hiệp dùng tiền tệ của mỗi nước cho việc thương mại song phương. Công luận đã cho rằng vị trí của đồng đô la Mỹ sẽ sớm lung lay. Nhưng đến nay, sau gần ba năm, sách lược tiền tệ của Nga và Trung Quốc chưa thể hiện ảnh hưởng đáng kể đối với đô la Mỹ, trong khi trữ lượng ngoại tệ đô la cao nhất thế giới vẫn thuộc về Trung Quốc. Trung Quốc cũng bị ràng buộc vào giá trị của đồng đô la. Quan hệ thương mại, đầu tư giữa Mỹ và Trung Quốc rất lớn mạnh, trong khi Nga cũng cần hợp tác hoà bình với Mỹ vì quyền lợi của chính mình.  Do đó dù có tạo đối trọng với Hoa Kỳ ở châu Á, Trung Quốc và Liên Bang Nga không thể nào gạt Hoa Kỳ ra ngoài lề hợp tác quốc tế và cũng không có khả năng hành động như vậy. Nhìn rộng ra, sự liên lập kinh tế, sự hiện hữu của lực lượng quốc phòng, với một lực lượng hạt nhân ngăn đe cùng với công sức của Hoa Kỳ đóng góp vào việc duy trì nền thịnh vượng và trật tự chung của toàn thế giới mà Trung Quốc hay Liên Bang Nga cũng phải nhìn nhận, sẽ khiến Bắc Kinh và Moscow phải chấp nhận không để Hoa Kỳ lâm vào tình cảnh sa sút vì bất cứ lý do gì, chỉ vì sự thịnh vượng của chính họ cũng “liên lập” với Hoa Kỳ.  Trung Quốc ngày nay so với Trung Quốc thời Mao đã là một minh chứng hùng hồn nhất. Tuy nhiên, dù đến nay khối đối trọng mới là Trung Quốc- Liên Bang Nga chưa gây một chướng ngại nào cho Hoa Kỳ và đồng minh, người ta không thể “ngủ quên” và yên chí rằng chiều hướng đó sẽ mãi mãi diễn tiến như vậy. Hoa Kỳ vẫn phải đề phòng và ngăn ngừa khuynh hướng đó dần dần lớn mạnh trong những quốc gia đối tác ít thân thiện hơn, như Trung Quốc và Liên Bang Nga. http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/is-sino-russian-alliance-against-...
......

Sinh viên Nguyễn Phương Uyên gặp gia đình

VRNs (30.03.2013) – Sài Gòn – Hôm qua, ngày 29/03/2013 bà Nguyễn Thị Nhung cùng với chồng và con trai (em của Phương Uyên) lặn lội từ Bình Thuận xuống tận Tòa án tỉnh Long An đề nghị cho gặp mặt con gái sau hơn 5 tháng bị bắt giam.   Đấu tranh mãi với nhân viên Tòa án và đến 11g20  Tòa án mới ký quyết định cho thăm gặp.   Bà Nhung và gia đình phải chờ đến 2g30 chiều mới được gặp Phương Uyên. Cả gia đình gặp Phương Uyên được 30 phút. Theo bà Nhung kể lại thì Phương Uyên bị đau đầu nhiều, đau bụng, mắt cận đã lên đến 3,5 độ, nhìn mọi thứ rất khó, gầy và xanh xao. Cả gia đình bà Nhung cảm thấy thương và đau lòng cho tình trạng sức khỏe của Phương Uyên. Công an không nói gì thêm với gia đình bà Nhung về vụ việc của Phương Uyên. Nội dung gia đình trao đổi với Phương Uyên là chủ yếu nói cho cháu biết gia đình và nhiều người quan tâm yêu thương Phương Uyên. Hai vợ chồng bà Nhung khuyên Phương Uyên giữ gìn sức khỏe, ổn định tinh thần và đừng làm phụ lòng mong đợi của mọi người.   Hiện nay phía Tòa án tỉnh Long An vẫn chưa có quyết định đưa vụ án Phương Uyên ra xét xử. Trong khi đó, sinh viên Đinh Nguyên Kha là người cùng vụ án thì đã bị trích xuất lên bộ công an ở 237 Nguyễn Văn Cừ để gán ghép thêm “tình tiết mới”. Sinh viên Đinh Nguyên Kha   Việc điều tra của công an VN luôn có tính mờ ám và vi phạm pháp luật.   Lực lượng hung hãn này thường dùng chiêu bài lấy lời khai của những người liên hệ để kết tội bất cứ ai họ muốn. Việc làm sai từ tận gốc rễ này vẫn ngang nhiên tồn tại ở Việt Nam gây ra bao cảnh oan khiên cho người dân thấp cổ bé miệng.
......

Mỹ cấm các cơ quan chính phủ mua sản phẩm công nghệ của Trung Quốc

Ngày 26/03/2013, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã ký đạo luật về các khoản chi tiêu cho các cơ quan Chính phủ, dài 240 trang mang tên “Consolidated and Further Continuing Appropriations Act of 2013”. Đáng chú ý, đạo luật mới này bao gồm một điều khoản yêu cầu thắt chặt việc mua sắm các thiết bị CNTT có nguồn gốc từ Trung Quốc.   Theo đó, một điều khoản yêu cầu các cơ quan như Cục Quản trị Hàng không và Không gian Quốc gia Mỹ (NASA), Sở Tư pháp, Bộ Thương mại, Quỹ Khoa học Quốc gia phải tiến hành thẩm định về nguy cơ bị do thám điện tử trước khi mua các hệ thống CNTT; đồng thời không cho phép các cơ quan này mua các thiết bị công nghệ được sản xuất, chế tạo hoặc lắp ráp bởi các doanh nghiệp thuộc sở hữu, được điều hành hoặc trợ cấp bởi Trung Quốc. Điều này đồng nghĩa với việc không chỉ ngăn chặn nhập khẩu trực tiếp các sản phẩm công nghệ thông tin từ Trung Quốc, mà còn có thể ảnh hưởng đến cả các sản phẩm có liên quan tới Trung Quốc được sản xuất tại quốc gia khác, cụ thể như máy tính Lenovo sản xuất tại Đức hoặc thiết bị cầm tay của Huawei được thiết kế ở Anh. Theo đó, các cơ quan này chỉ có thể được mua các sản phẩm công nghệ nếu có sự kiểm tra và xác nhận của Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI)  hoặc các cơ quan chức năng của liên bang về việc sản phẩm không có nguy cơ gián điệp hoặc phá hoại trên không gian mạng. Tuy nhiên, điều khoản cũng có một ngoại lệ nếu người đứng cầu các cơ quan xác định việc mua các sản phẩm công nghệ là phục vụ cho lợi ích quốc gia của Mỹ.   Được biết, điều khoản nhận được sự tán thành từ đông đảo các quan chức cấp cao của Mỹ. Hạ Nghị sĩ đảng Dân chủ – ông Dutch Ruppersberger bày tỏ quan điểm ủng hộ điều khoản này, do thúc đẩy nâng cao nhận thức về một thực tế rằng Mỹ đang tiếp tục bị nhằm mục tiêu bởi các cuộc tấn công mạng và tiếp tục thiệt hại hàng tỷ USD. Cựu quan chức cấp cao tại Bộ An ninh Nội địa Mỹ (DHS) cũng cho rằng, động thái này là một sự đổi mới và ông dự đoán Mỹ sẽ duy trì hướng đi này trong một thời gian dài. Tuy nhiên, quy định mới có thể làm ảnh hưởng đến các đồng minh của Mỹ, những quốc gia có doanh nghiệp dựa vào các nhà sản xuất Trung Quốc. Được biết, hiện tại, Mỹ nhập khẩu tổng giá trị khoảng 129 tỷ USD các sản phẩm công nghệ tiên tiến từ Trung Quốc, mặc dù rất nhiều sản phẩm trong số này do các doanh nghiệp Mỹ gia công.  trandaiquang.net lược dịch (Nguồn: FoxNews)
......

Trí thức lỏng

Thế hệ trên dưới 60 được xem như thế hệ bắt đầu của một nền giáo dục dưới chính thể mới. Dạo đó không ít các nhà quản lý giáo dục hể hả tuyên bố một câu xanh rờn” chúng ta tự hào khi có thể giảng dậy tiếng Việt trên bục trường đại học”. Hậu quả của sự tự mãn quá lớn này đã để lại hậu quả là hầu hết các trí thức của ta được đào tạo trong nứoc từ năm 1954 đổ lại đây đều không xử dụng thành thạo nổi một ngoại ngữ. Điều này làm ta chạnh lòng khi nghĩ đến thế hệ cha ông ta thời Pháp chỉ mới ở trình độ sơ học yếu lựơc – tương đương lớp 5 hiện nay đã có thể nói và đọc tiếng Pháp như tiếng mẹ đẻ. Nhưng thôi, tạm coi hiện trạng mù ngoại ngữ này như một tồn tại lịch sử của một thời ấu trĩ trong giáo dục. Còn hiện nay trong xu thế người ta thích tự hào, kiêu hãnh, thích lập kỉ lục ởnhiều lĩnh vực nên Việt nam ta trong một vài năm gần đây thường oang oang những danh từ tự phong như “cường quốc thế giới về đóng tàu” khi Vinasin chưa bị đổ bể. Rồi gần đây các nhà quản lý văn nghệ lại hào phóng hô to” Việt nam ta là cường quốc thơ “khi phong trào nhà nhà, phố phố, ngưòi ngưòi làm thơ dẫn đến tình trạng lạm phát thơ.  Trở lại lĩnh vực giáo dục. Gần đây các nhà quản lý ngành này lại kiêu hãnh khoe “Việt nam là quốc gia đứng đầu Đông nam Á về số lưộng giáo sư, tiến sĩ”. Tinh sơ sơ Việt nam ta hiện nay với gần 90 triệu dân thì đã có tới 24000 tiến sĩ , 9000 giáo sư. Nếu chia bình quân số ngưòi có học vị này so với thế giới thì quả là đáng tự hào. Nhưng đáng buồn thay sau con số hoành tráng các nhà trí thức có học vị này là cả một thực tế thê thảm về trình độ học vấn của Việt nam ta cũng như trình độ thực của các nhà trí thức nứơc ta.  Theo con số được công bố thì Việt nam có tới gần 400 trường đại học, cao đẳng thuộc các ngành nghề , các viện tương đương …nhưng tệ hại thay không có trường nào lọt vào danh sách 500 trường đại học nghiêm chỉnh và danh giá trên thế giới. Đã gọi là các nhà trí thức có học vị cỡ tiến sĩ, giáo sư thì tiêu chuẩn đầu tiên là bài báo, công trình công trình nghiên cứu khoa học hàng năm và qui chuẩn nhất là các nghiên cức này được đăng kí bằng sáng chế tại Mỹ. Tình hình nay ở Việt nam ta ra sao?. Với 33 nghìn vị trí thức có học vị giáo sư, tiến sĩ đó nhưng giai đoạn từ 2000 đến 2006 nứơc ta vẻn vẹn có 19 bằng sáng chế. Giai đoạn từ 2007 đến 2010 Việt nam chỉ còn 5 bằng sáng chế. Năm 2011 với xấp xỉ 90 triệu dân, 33000 giáo sư, tiến sĩ thì số bằng sáng chế của Việt nam ta  đăng kí tại Mỹ lại là còn số không tròn trĩnh. Cũng trong năm 2011 này chưa nói đến các nứơc có trình độ kinh tế hiện đại, trí thức tiên tiến như Nhật Bản, Hàn Quốc… Mà chỉ so sánh với các quốc gia trong khu vực thì Đài Loan với 23 triệu dân có tới 8781 bằng sáng chế, Israel vẻn vẹn 7,3 triệu dân đã đăng kí 1981 bằng sáng chế. Còn các nứơc vùng Đông Nam Á thì năm 2011 cũng là năm bội thu về số lượng bằng sáng chế đăng kí tại Mỹ. Singapo với 4,8 triệu dân có tới 647 bằng. Malaixia với 27,9 triệu dân có 161 bằng, Thái Lan với 68,1 triệu dân có 53 bằng….  Nguyên nhân của thực trạng đáng buồn này do đâu ? Nứơc ta hiện nay ra ngõ không chỉ gặp nhà thơ mà còn gặp một vị tiến sĩ hay giáo sư. Nhưng trong 33000 giáo sư tiến sĩ đó thì có đến hơn 70 % không dính dáng gì đến nghiên cứu khoa học, thậm chí cả đời không viết một bài báo nào có tính khoa học. Đa số các vị có bằng cấp này đều làm chức vụ hành chính. Ông Phạm Bích San Tổng thư kí Các hội khoa học, kĩ thuật Việt nam đã ngao ngán nhận xét”chúng ta gần như không có ai có nghiệp khoa học…quên mình vì khoa học được ghi nhận bằng các giải thưởng quốc tế tầm cỡ”. Hình như sau hàng loạt nghị quyết khuyến khích hình thức về bằng cấp đã khiến cho thị trường bằng cấp thật giả càng có đà phát triển. Người ta tìm mọi cách để có được tấm bằng học vị làm điểm tựa tiến thân thay vì xả thân cho sự đào tạo, rèn luyện nghiêm chỉnh. Trên danh thiếp, trong lời giới thiệu người ta xính và coi như mốt thời thượng giới thiệu học vị đi liền với chức sắc. Những vụ phát giác ông thứ trưởng, ông giám đốc sở, ông vụ trưởng nọ kia dùng bằng giả… đã trở thành phổ biến ở nứơc ta. Phải chăng chính sự yếu kém của các nhà trí thức Việt nam như vậy nên chẳng những nền giáo dục nứơc ta đang là một nền giáo dục yếu kém, nhiều bất cập nhất mà Việt Nam cũng là một quốc gia có vị trí thấp trong thang bậc trí tuệ toàn cầu ( hạng 76 trên 141 quốc gia được đưa vào xếp hạng).   Nghĩ lại một thời không xa trí thức thế giới nghiêng mình khâm phục  trí tuệ và công trình của những nhà trí thức lớn của Việt nam như Giáo sư Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, Tôn Thất Tùng .. Chúng ta càng lo lắng khi căn bệnh trí thức lỏng của nứơc ta vẫn ngày càng phát triển và chưa có biện pháp nào hữu hiệu ngăn chặn.  Nguyễn Hiếu http://trannhuong.com/tin-tuc-15296/tri-thuc-long-.vhtm          
......

Hàn Quốc : Nữ bộ trưởng Pháp được đón chào như ngôi sao nhạc rock

Thứ bảy 23/03/2013, Fleur Pellerin - bộ trưởng Bộ Canh tân, Doanh nghiệp vừa và nhỏ, và kinh tế kỹ thuật số của Pháp - đến Hàn Quốc trong chuyến công du 5 ngày. Chuyến đi của bà đến Hàn Quốc được nồng nhiệt đón chào. Theo một số bình luận gia, hiện tượng nữ bộ trưởng gốc Hàn có thể sánh với làn sóng hâm mộ « Gangnam Style ».    Fleur Pellerin, sinh ra tại Hàn Quốc và được một cặp vợ chồng Pháp nhận làm con nuôi từ 6 tháng tuổi. Đây là lần đầu tiên bộ trưởng Canh tân Pháp trở về sinh quán, nơi bà trở nên rất nổi tiếng kể từ khi được bổ nhiệm vào chức vụ bộ trưởng trong chính phủ Pháp, sau khi ông François Hollande đắc cử tổng thống. Một trong các nhật báo lớn của Hàn Quốc nồng nhiệt nhận xét : « Đây là nữ công dân Pháp nổi tiếng nhất kể từ Sophie Marceau ». Từ Seoul, thông tín viên Frédéric Ojardias cho biết thêm chi tiết : « Fleur Pellerin đã được chào đón như một ngôi sao nhạc rock : phóng viên nhà báo vòng trong vòng ngoài tại sân bay, nhiều thanh niên Hàn Quốc đến xin chữ ký và chụp ảnh chung. Về sự hâm mộ của công chúng Hàn Quốc, Choi Jung-hwa giải thích : ‘‘Bà ấy đã hết sức thành công trong cuộc sống. Chúng tôi rất tự hào về bà ấy. Bà ấy đang đảm nhận một công vụ cao quý, có vị trí rất cao’’ Bản thân nữ bộ trưởng Pháp cho biết bà rất ngạc nhiên về sự đón tiếp này. ‘‘Bạn bè tôi cũng đã cho tôi biết trước là tôi rất nổi tiếng ở đây, thế nhưng điều này vẫn làm tôi ngạc nhiên. Ở Pháp, tôi không có thói quen gặp nhiều nhà báo đến như vậy. Ở đây không có vấn đề hiểu lầm. Tôi đã gặp gỡ các giới chức lãnh đạo cao cấp Hàn Quốc, nhưng không có gì là không rõ ràng trong chuyện tôi là một đại diện của chính phủ Pháp. Chắc chắn là có sự gần gũi hơn, vì tôi là người Hàn Quốc, nhưng chân thành mà nói tôi cho rằng điều này làm cho đối thoại dễ dàng hơn’’. Nũ bộ trưởng Pháp rõ ràng muốn sử dụng sự nổi tiếng của mình để bảo vệ sự cạnh tranh của các doanh nghiệp Pháp và thúc đẩy sự hợp tác giữa Pháp và Hàn Quốc ». Fleur Pellerin được tôn vinh như một biểu tượng quốc gia Hàn Quốc Về hiện tượng người Pháp nhận trẻ em Hàn Quốc làm con nuôi, tuần báo Le Point giải thích : « Trong những năm 1970, hàng loạt trẻ em Hàn Quốc bị bỏ rơi, do các khó khăn kinh tế và tâm lý bảo thủ trong xã hội, chống lại các bà mẹ độc thân (…) ». « 70% trẻ bị rơi là con của các mẹ độc thân », theo giải thích của một người tham gia vào diễn đàn của hiệp hội « Các cội rễ Triều Tiên ». Đầu những năm 1970, Hàn Quốc thực tế là điểm đến số một của các gia đình Mỹ và Châu Âu đi tìm con nuôi. Riêng tại Pháp, khoảng 11.000 đến 13.000 trẻ em Hàn Quốc đã được các gia đình đón nhận. Trong số đó, có những người trở nên nổi tiếng sau này, như nữ bộ trưởng Fleur Pellerin hay thượng nghị sĩ Jean-Vincent Placé, chủ tịch nhóm đảng Xanh tại Thượng viện. Việc Fleur Pellerin trở thành bộ trưởng của François Hollande vào mùa xuân năm ngoái được báo chí Hàn Quốc đặc biệt quan tâm. Báo chí Hàn Quốc đã tìm ra tên khai sinh của bộ trưởng Pháp là Kim Jong-suk. Kể từ thời điểm đó, bà Fleur Pellerin được tôn vinh như là một biểu tượng quốc gia, người gốc Hàn đầu tiên trở thành bộ trưởng Pháp. Báo chí Hàn Quốc dành cho bà nhiều chương trình đặc biệt. Dù Fleur Pellerin không nói được tiếng Hàn và cũng nói rõ là bà không có ý định thử tìm lại cha mẹ đẻ của mình, nhưng nữ bộ trưởng Pháp khẳng định rất mê « hát karaoke Hàn Quốc » và thích ca sĩ PSY, tác giả bài hát và điệu nhảy Gangnam Style, mà bà đã gặp tại Paris ngày 26/01/2013. Bên cạnh niềm yêu thích Karaoke, nữ bộ trưởng gốc Hàn còn được công chúng hâm mộ ghi nhận trong dáng hình dong dỏng cao, tóc đen, trang phục mầu đen và đôi môi son đỏ. Bộ trưởng Canh tân Pháp nói bà rất tự hào khi tới Hàn Quốc trong cương vị thành viên chính phủ Pháp. Báo Taegu dẫn lời một giáo sư đại học Kongbuk, « Fleur Pellerin liên tục khẳng định hoàn toàn là người Pháp và không hề bị phân biệt đối xử tại Pháp. Chúng ta không nên động lòng về suy nghĩ này của bà ấy. Thậm chí chúng ta còn nên mong muốn có một đất nước, nơi mà người ta không bị phân biệt đối xử vì mầu da. Đây là một trong những nền tảng của văn hóa Pháp, và phải chăng điều này một ngày nào đó cũng sẽ xảy ra tại Hàn Quốc ». Trong cuộc gặp không chính thức ngoại trưởng Hàn Quốc tại Paris, nữ bộ trưởng gốc Hàn đã tâm sự rằng, việc một người gốc Hàn như bà vào chính phủ Pháp có thể là một sự kiện kích thích cuộc tranh luận về chính sách đối với người nhập cư của Hàn Quốc. Bộ trưởng Fleur Pellerin công du Hàn Quốc lần này cùng với Nicolas Dufourcq - Tổng giám đốc Ngân hàng đầu tư quốc gia – BPI, David Appia, chủ tịch Cơ quan đầu tư quốc tế - AFII, và hơn 20 doanh nghiệp Pháp. Sứ mệnh chủ chốt : Thúc đẩy hợp tác cách tân công nghệ Điểm đến tiếp theo của chuyến công du Châu Á của nữ bộ trưởng Pháp là Nhật Bản, nơi bà đã từng thực tập trong thời gian một năm. Hôm nay 29/03/2013, từ Nhật Bản, Fleur Pellerin tuyên bố việc tìm hiểu các kinh nghiệm của Nhật Bản và Hàn Quốc là cần thiết để nghiên cứu các mô hình cách tân, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ số. Theo bà, cách tân công nghệ phải dựa trên một cách đi khác với nghiên cứu và cho đến giờ, Pháp đang bị bế tắc trong tiếp cận này. Pháp có thể lấy cảm hứng một phần từ Nhật Bản để xây dựng một chính sách canh tân thực sự. Cũng theo nữ bộ trưởng Pháp, mặc dù chuyến công du này còn « quá ngắn để nắm được tình hình » tại hai quốc gia thuộc nhóm các nước có nhiều cách tân nhất thế giới, nhưng nhận xét có thể đưa ra là, cả Nhật Bản và Hàn Quốc đều có được một giai đoạn thịnh vượng kinh tế cao, nhờ ở chính sách hướng đến các cách tân công nghệ và kể cả hiện nay « Canh tân công nghệ vẫn là trung tâm của nền kinh tế » các nước này. Mà các canh tân công nghệ tại hai quốc gia Đông Bắc Á đã được thực hiện trên cơ sở chất lượng các cơ sở hạ tầng viễn thông đã được triển khai, trong khi điều này không phải đã được nhận thức đầy đủ ở Pháp. Bộ trưởng Fleur Pellerin kêu gọi các doanh nghiệp vừa và nhỏ Pháp cống hiến nhiều phương tiện hơn cho canh tân sáng chế. Đây chính là một trong tâm trong chuyến công du của bà tại Hàn Quốc và Nhật Bản : khuyến khích sự hợp tác giữa doanh nghiệp Pháp và các đối tác quốc tế. Một trong các hợp tác cụ thể là, bộ trưởng Pháp khởi động nhóm hợp tác sản xuất « vải kỹ thuật » với Nhật Bản, được dùng trong lĩnh vực quần áo thể thao, vải bọc ghế xe hơi… Một nhóm làm việc song phương thứ hai khác cũng sẽ được khởi động là : smart-grids (hệ thống mạng tin học phân phối điện) và smart-communities (mạng quản lý chéo các nguồn lực, dịch vụ và điều động nhân sự). Chương trình làm việc thứ ba liên quan đến chế tạo người máy, một kế hoạch mà « Nhật và Pháp hoàn toàn có chung lợi ích trong việc hợp tác ». http://www.viet.rfi.fr/chau-a/20130329-han-quoc-nu-bo-truong-phap-duoc-don-chao-nhu-ngoi-sao-nhac-rock
......

Tôi Có Rủi Ro bị Ung Thư Da Không?

(VNC) Bạn có biết số người mắc bệnh ung thư da và tử vong vì bệnh ung thư da đang gia tăng ở Hoa Kỳ? Vấn đề này đặc biệt gây lo lắng cho nhiều người vì  phần lớn các dạng ung thư khác đang giảm xuống. Ánh nắng mặt trời là nguồn phát ra tia tử ngoại (hay còn gọi là tia cực tím – Ultraviolet radiation – UV) – loại tia huỷ hoại da và gây ra bệnh ung thư da. Mức ảnh hưởng của UV phụ thuộc vào cường độ ánh sáng, thời gian tiếp xúc với ánh sáng, và da có được bảo vệ hay không. Không có tia UV nào, cũng như không có cách phơi nắng nào, là an toàn cả. Phơi nắng có thể gây ung thư da ở mọi lứa tuổi. Da và mắt dễ bị tác hại của ánh nắng mặt trời nhất. Bạn cần đặc biệt cẩn thận đối với ánh nắng mặt trời nếu bạn:             Có nhiều nốt ruồi to nhỏ khác nhau;             Có tàn nhang hoặc rám nắng trước khi bắt nắng;             Có da mỏng, hoặc tóc vàng, tóc đỏ hoặc tóc màu nâu nhạt;             Thường xuyên ở ngoài trời. Một số hình ảnh ung thư hắc tố da (Ảnh: melanoma.blogsome.com)             Melanoma là một loại ung thư da nguy hiểm nhất, và là nguyên nhân của hơn 75% tử vong do bệnh ung thư da gây ra. Ngoài ra, ánh nắng làm cho da già đi trước tuổi, da nhăn, tăng nhãn áp (cataracts), và những rủi ro khác cho mắt. Làm Sao Để Không Bị Tia Tử Ngoại Tác Hại? Nếu bạn làm việc ngoài trời, có 5 biện pháp quan trọng mà bạn có thể áp dụng để bảo vệ da chống lại tác hại của tia tử ngoại UV và bệnh ung thư da: - Che kín. Mặc quần áo che phủ thân thể càng kín càng tốt. Hãy chọn những loại quần áo nào có thể ngăn cản ánh sáng. Để biết quần áo nào có thể bảo vệ bạn, hãy áp dụng phương cách này: đặt tay bạn vào giữa tấm vải và một nguồn sáng. Nếu bạn nhìn thấy được tay bạn xuyên qua lớp vải, thì vải không đủ khả năng bảo vệ bạn với tác hại của ánh nắng mặt trời. - Dùng kem chống nắng có độ SPF (Sun Protection Factor) 15 hoặc cao hơn. Chuyên gia đề nghị nên dùng sản phẩm có độ SPF tối thiểu là 15. Độ SPF là mức bảo vệ khỏi bị cháy nắng có trong kem chống nắng. 15 SPF ngăn được 93 phần trăm tia tử ngoại UV; 30 SPF ngăn được 97 phần trăm tia tử ngoại UV. Sản phẩm có nhãn hiệu “broad spectrum” (hệ quang phổ rộng) ngăn được cả hai loại tia tử ngoại UVB và UVA. Cả hai loại tia này đều có thể gây ung thư da. - Đội nón. Nón có vành to là lý tưởng nhất, vì nó bảo vệ được cổ, tai, mắt, trán, mũi, và da đầu. Nón lưỡi trai bảo vệ mặt và đầu, nhưng không thể bảo vệ phía sau cổ và tai, là những vùng bệnh ung thư thường phát triển. - Đeo kính mát cản tia UV. Kính mát cản tia UV có thể giúp bạn bảo vệ mắt chống lại tác hại của ánh nắng mặt trời. Kính mát lý tưởng không nhất thiết phải là loại đắt tiền, nhưng nó phải cản được 99 đến 100 phần trăm tia tử ngoại UVA và UVB. Hãy xem kỹ nhãn hiệu để phân biệt. Kính đậm không phải là kính tốt nhất. Ngăn chặn được tia UV là do chất hóa học vô sắc được tráng lên mặt kính, không phải là màu sắc hoặc độ đậm nhạt của mặt kính. - Hạn chế phơi mình  dưới ánh nắng chiếu trực diện. Tia UV mạnh nhất khi mặt trời lên cao, vào khoảng 10 giờ sáng đến 4 giờ chiều. Nếu bạn không nhận định được mức độ khắc nghiệt của ánh nắng, thì hãy xem bóng của bạn. Nếu bóng của bạn ngắn hơn bạn, thì tia nắng mặt trời rất mạnh. Hãy  tìm chỗ mát để tránh nắng. Bạn có thể kiểm tra chỉ số UV ở địa phương bạn. Chỉ số này thường được phổ biến trên báo chí , hoặc  đài truyền hình trong mục dự báo thời tiết. Chỉ số từ 1 đến 10 dự đoán độ phóng xạ của tia UV rọi xuống  mặt trái đất lúc 12 giờ trưa tại 58 thành phố. Số càng lớn thì mức phóng xạ càng cao. Chỉ số này giúp ta xác định khi nào cần tránh nắng và khi nào cần phải dùng đến những phương pháp đặc biệt. (Xin xem http://www.nws.noa a.gov/om/uvi.htm.) Tôi Có Cần Đi Khám Nghiệm Không?             Rất cần: Nếu được phát hiện kịp thời, bệnh ung thư da hầu như có thể chữa khỏi. Các triệu chứng chính báo hiệu bệnh ung thư da là những chấm trên da và thường hay thay đổi về kích thước, hình dạng và màu sắc trong vòng một tháng đến một, hai năm. Những loại ung thư da thường thấy – basal cell và squamous cell – thường có hình dạng như một mụn mầu lạt, giống như sáp, trong như ngọc hoặc có các vẩy đỏ góc cạnh; hoặc vết lở không lành; còn dạng melanoma thì bắt đầu bằng những mụt ruồi nhỏ. Việc khám nghiệm thân thể rất quan trọng. Ta cần đi bác sỹ khám bệnh nếu thấy da có những thay đổi bất thường.
......

ĐẢNG THẮNG - DÂN THUA - NƯỚC MẤT AI KHÓC ?

(VNC) Đợt 1 lấy ý kiến tòan dân về sửa đổi Hiến pháp 1992 của đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN) chốt lại ngày 31/03 (2013), và đợt thứ  2 sẽ nối tiếp cho đến ngày 30/09 (2013) để cho Quốc hội thảo luận hòan tất Hiến pháp mới vào cuối năm. Lịch trình này xem ra suôn sẻ nếu không có những đợt sóng người dân trong xã hội nổi lên chống đảng và chống Bản Hiến pháp vì quyền làm chủ đất nước của họ đã  bị đảng tiếp tục xoá đi để cai trị đất nước không ai đồng ý bằng lá phiếu. Nhưng  đảng không quan tâm lắm vì dân có chống đến đâu đảng vẫn tìm  thắng bằng mọi cách. Tuy không “cưỡng chế” hay “áp đặt”, nhưng chỉ cần có sự hiện diện của cán bộ phường, khóm và Công an khu vực cũng đã bảo đảm cho đảng có được hai chữ “đồng ý” của người dân, nếu họ không muốn bị phiền hà, xách nhiễu sau này. Ngay cả tại các buổi gọi văn chương cho sang là “thảo luận”, “tọa đàm”, hay “hội thảo khoa học” về Hiến pháp sửa đổi thì “đố” ai dám đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp loại đảng ra khỏi vai trò “lãnh đạo Nhà nước và xã hội” ?  Thế cho nên đảng sẽ  thắng lớn và người dân thì nhất định phải thua, có chạy đi đâu cũng không “thoát khỏi lưới”  nhà nước. Bằng chứng như lời tuyên bố của  Ủy viên Bộ Chính trị - Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Trưởng Ban Chỉ đạo Tổng kết thi hành Hiến pháp 1992 của Chính phủ thì đến ngày 25/03 (2013) “Bộ Tư pháp đã nhận được 29/30 báo cáo kết quả lấy ý kiến các bộ, ngành; 59/63 báo cáo kết quả lấy ý kiến của địa phương với tổng số 88 báo cáo, ước tính khoảng 5.000 trang. Kết quả tổng hợp cho thấy, các bộ, ngành, địa phương đã tổ chức 28.014 cuộc hội thảo, hội nghị lấy ý kiến và tiếp nhận khoảng 15 triệu lượt ý kiến góp ý của các cơ quan, tổ chức, cá nhân về các nội dung của Dự thảo sửa đổi hiến pháp 1992.”  Thống tấn xã Việt Nam (TTXVN)  viết tiếp : “Đa số các ý kiến góp ý cho rằng, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 đã bám sát quan điểm, định hướng nghiên cứu sửa đổi Hiến pháp được xác định tại các Nghị quyết của Đảng; thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, phù hợp với tình hình mới của đất nước. Dự thảo đã ghi nhận rõ một số nguyên tắc, nền tảng; định danh rõ các cơ quan thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; thể hiện tư duy mới trong các quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; bổ sung các thiết chế hiến định độc lập.” Như vậy thì Hiến pháp là của dân hay của đảng ? Văn kiện này chỉ nhằm “hiến pháp hóa” Cương lĩnh và các Nghị quyết của đảng thì đầu phải là Hiến pháp mà là Quy chế của đảng viên mới đúng chứ ? Tại sao đảng lại tham lam qúa như thế ? Ngòai Cương lĩnh, đảng còn có Điều lệ đảng và hàng trăm văn kiện khác như Quy định số 47-QĐ/TW ấn định “19 Điều đảng viên không được làm” và Quy định kê khai tài sản có từ 2007 (Số 37/2007/NĐ-CP ngày 9/3/2007), sau  được sửa đổi theo Nghị định 68/2011/NĐ-CP mà có dẹp nổi tham nhũng đâu ? Bây giờ đảng lại bầy ra Hiến pháp để bắt dân phải coi đảng như nhà nước và nhà nước là của riêng đảng thì dân là “bù nhìn”, là “thứ bung xung” cho đảng sử dụng cho quyền lợi của đảng chứ dân có “cái khố” gì mà “làm chủ”  như đảng tuyên truyền để  bịp người nước ngoài ? Nhưng tại sao lại chỉ mới có 15 triệu lượt người góp ý sửa đổi Hiến pháp trong khi riêng số công chức “chính quy” đã có khỏang 2.8 triệu. Vậy số  người ăn lương dân đông như kiến  “không có biên chế” trong các cơ quan “phụ diễn” hay “ngọai vi” từ trung ương xuống cơ sở còn lại chiếm bao nhiêu phần trăm trong số dân cả nước đã vượt trên 90  triệu người, tính đến năm nay (2013) ? Con số 15 triệu có phản ảnh trung thực đồi với công tác lấy ý kiến Hiến pháp không hay đã có tình trạng lơ là, không tha thiết trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên với việc sửa đổi Hiến pháp vì  ai cũng biết có đóng góp hay không cũng không thay đổi được kết qủa theo ý muốn của đảng ? Tình trạng thờ ơ còn thấy cả trong đội ngũ những người làm báo của đảng CSVN, căn cứ theo báo cáo tại cuộc họp tại Hà Nội ngày 26/03 (2013) của Hội Nhà báo.   Báo điện tử của Trung ương đảng viết : “Theo Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nhà báo Việt Nam Hà Minh Huệ, trong các ý kiến được gửi đến Hội, có 411 ý kiến trực tiếp góp ý vào các Chương, Điều, Khoản cụ thể. Tổng hợp các ý kiến đóng góp cho thấy, các cấp Hội, hội viên nhà báo cơ bản nhất trí với nội dung bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Việc sửa đổi Hiến pháp là để phù hợp với tình hình mới của đất nước trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến đổi sâu sắc, phù hợp với mục tiêu, định hướng phát triển toàn diện, bền vững nhằm xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.” Tại sao lại chỉ có 411 ý kiến trong khi Hội Nhà báo có đến 17,000 hội viên ? Sự chênh lệch qúa đáng này đã nói lên điều gì trong khi những người làm báo đảng cũng là  cán bộ đảng ? Chẳng nhẽ những người có bổn phận phải tuyên truyền cho chủ trương, đường lối của đảng mà cũng lãnh đạm với công tác chính trị quan trọng này sao ? Nhưng  theo báo đảng thì: “Đại đa số ý kiến nhất trí với quy định đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản và tài nguyên thiên nhiên khác là tài sản công, thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý theo quy định của pháp luật. Các ý kiến cho rằng đây là quy định nhằm bảo đảm phát huy quyền làm chủ của nhân dân đối với đất đai, đồng thời cũng phù hợp với thực tiễn trong việc quản lý đất đai.” Như thế là cán bộ báo chí đã “bảo hòang hơn vua rồi”. Khi Hiến pháp viết  “đất đai thuộc về tòan dân” là đã lấy mất quyền “tư hữu” của người dân rồi, nhưng khi Nhà nước lại cho mình quyền “đại diện sở hữu” tức là “qủan lý” giúp dân thì dân đầu còn quyền làm chủ đất đai nữa ? Nhưng ai cho phép Nhà nước được quyền “quản lý” thay dân mới được chứ ?  Nhà nước  vừa “đá bóng vừa thổi còi” y như đảng tự cho mình quyền lãnh đạo “nhà nước và xã hội”, có phải không ? Bằng chứng hai-năm-rõ-mười như thế mà đảng cứ lôi lời ông Hồ Chí Minh ra mà tuyên truyền ra rả ngày đêm rằng “ Ngoài lợi ích của nhân dân Đảng ta không có lợi ích nào khác”  thì nghe có  lọt lỗ tai  không ? “Liên quan đến Điều 70 của Chương IV (Bảo vệ Tổ quốc) quy định “Lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổ quốc và nhân dân…”, Hội Nhà báo báo cáo tiếp, “ Đa số các ý kiến thống nhất với điều này và không tán thành việc phi chính trị lực lượng vũ trang. Bởi thực tế cách mạng Việt Nam suốt từ ngày thành lập Đảng đến nay cho thấy, không thể tách rời lực lượng vũ trang khỏi sự lãnh đạo của Đảng.” Đúng là cái Hội nhà báo “không được tự do viết” này đã làm theo mọi điều đảng muốn. Sự thể bắt Quân đội phải “tuyệt đối trung thành với đảng” trên cả Tổ quốc và nhân dân là hòan tòan sai trái với 4 Hiến pháp trước đây (1946,1959,1980 và 1992). Việc Hiến pháp sửa đổi đặt Quân đội dưới quyền đặc quyền sử dụng như một công cụ của đảng đã biến đảng như “một hội kín”, “một băng đảng có vũ trang” để cho đảng lũng đọan quốc gia. Nhưng Hội Nhà báo không lẻ loi trong lý luận “cối chầy” này mà hội còn được Phó Giáo sư, Tiến sỹ  Lê Minh Thông Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội, Phó Trưởng Ban biên tập Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 “tát nước theo mưa” trong cuộc thảo luận trực tuyến với người dân sáng ngày 26/03 (2013) trên báo điện tử đảng. Ông Thông nói : “Một trong những điểm làm rõ hơn trong vấn đề này là tiếp tục khẳng định: lực lượng vũ trang trung thành với Đảng, Tổ quốc, Nhà nước và nhân dân. Điều này xuất phát từ thực tế, Đảng ta là người sáng lập lực lượng vũ trang, lãnh đạo lực lượng vũ trang. Đó là một sự thật lịch sử và tiếp tục sẽ là như vậy. Cho nên, việc khẳng định lực lượng vũ trang trung thành với Tổ quốc, với nhân dân, với Đảng là một điều đương nhiên. Lực lượng vũ trang phục vụ lợi ích của nhân dân, dân tộc và Đảng ta không có lợi ích riêng. Việc lực lượng vũ trang trung thành với Đảng, với nhân dân là thống nhất với nhau.” Nghe ông Thông nói mà  lùng bùng cả lỗi tai,chóng cả mặt. Quanh đi quẩn lại vẫn “Đảng ta không có lợi ích riêng “, nhưng dân đâu muốn đảng lấy “cái chung của đất nước” làm “của riêng cho đảng” đâu” ? Có giỏi thì đảng “nhả” cái Điều 4 ra coi ? Ông Thông đã trả lời cho thách đố này rằng : ‘’Về cơ bản, Điều 4 trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã kế thừa và giữ nguyên nhiều nội dung đã được quy định tại Điều 4 của Hiến pháp hiện hành. Việc Hiến pháp khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng là nội dung mang tính nguyên tắc. Đó là sự lựa chọn của lịch sử và của dân tộc ta. Mấy chục năm qua, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với tiến trình cách mạng nước ta đã và đang là một tất yếu lịch sử, tất yếu khách quan. Sự lãnh đạo ấy vừa có cơ sở đạo lý, vừa có cơ sở pháp lý. Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 1980 trước đây của Nhà nước ta đều khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Điều này cho thấy sự phù hợp với lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước cũng như thực tiễn đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tổng kết 20 năm thực hiện Hiến pháp năm 1992 cho thấy, quy định về vai trò và sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội vẫn giữ nguyên giá trị.’’ Cái  ‘’vớ vẩn’’ của lý luận quyết  bám cho bằng được  ghế lãnh đạo độc quyền của đảng  vẫn cứ quanh quẩn ở cái mỏ con vẹt  hót mãi  ‘’ Đó là sự lựa chọn của lịch sử và của dân tộc ta’’, nhưng ‘’lịch sử nào’’ và ‘’dân tộc’’ nào mới được chứ , hay đảng đã ‘’tự biên tự diễn’’ rồi nhét chữ vào tai dân bắt họ phải nghe ? Nhưng liệu dân còn nghe đảng bao lâu nữa, hay trên 7 triệu người Công giáo, 20 triệu tín đồ Phật giáo của Giáo hội Việt Nam Thống nhất, 3 triệu môn đồ của Giáo hội Phật giáo Hòa hảo thuần túy (Cụ Lê Quang Liêm) và hàng chục ngàn ‘’công dân tự do’’ và Trí thức, đảng viên, cựu đảng viên, cán bộ và công nhân viên đã dứt khoát bỏ đảng qua các Tuyên bố tẩy chay đảng và bác bỏ Hiến pháp của Nhà nước đang lan rộng trên cả nước ? Như thế thì dù đảng có thắng trong ‘’cuộc cờ chính trị Hiến pháp’’, nhưng lỡ khi Trung Cộng chiếm mất Biển Đông như quân Trung Cộng đang tự do  hòanh hành ở đó từ mấy tháng qua thì ai là người sẽ khóc ? E rằng đến lúc đó sẽ có ‘’một bộ phận không nhỏ’’ người dân sẽ lôi đảng ra mà lột xác chứ chẳng nói đùa đâu./.  
......

Vai trò và bổn phận của giáo dân trong việc góp ý sửa đổi Hiến pháp

Tối 27/3/2013, Cha Bề trên tu viện Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội Mát-thêu Vũ Khởi Phụng đã có buổi nói chuyện với các giáo dân tại nhà thờ Thái Hà về bổn phận và vai trò của người giáo dân trong việc góp ý sửa đổi Hiến pháp. Theo ngài, vì là những giáo dân công dân, nên mọi tín hữu Công giáo vừa có bổn phận và trách nhiệm đối với xã hội và đối với Giáo hội. Trong việc tham gia góp ý sửa đổi Hiến pháp, các giáo dân phải lấy tất cả lương tâm và trách nhiệm của mình, tìm hiểu cách kỹ lưỡng những gì cần góp ý và góp ý một cách thẳng thắn, không được đặt bút ký vội vã khi được các cơ quan nhà nước yêu cầu. Hội đồng Giám mục Việt Nam, đại diện cho tất cả mọi tín hữu Công giáo Việt Nam, đã chính thức lên tiếng góp ý trong bản “Nhận định và Góp ý sửa đổi Hiến pháp 1992”. Vì thế, mọi góp ý của các giáo dân phải tham chiếu bản nhận định này của Hội đồng Giám mục Việt Nam để không đi ngược lại với tiếng nói chính thức của toàn thể Giáo hội. Những ngày này, nhà cầm quyền Việt Nam đang ráo riết, bằng nhiều cách thức khác nhau như dùng hệ thống truyền thông tivi, báo, đài, cho người tới các khu phố, thôn, ấp, làng xã, tuyên truyền cho cái “trò hề” gọi là “nhân dân góp ý sửa đổi Hiến pháp” nhằm cố tình hợp pháp hóa “vai trò lãnh đạo của đảng”, phủ nhận những đóng góp đầy tâm huyết của các nhân sĩ trí thức, của các Giám mục đại diện Giáo hội Công giáo Việt Nam. Không chỉ có vậy, Đài Truyền hình Việt Nam trong chương trình thời sự tối 26/3/2013 đã bất chấp cả đạo lý và sự thánh thiêng của niềm tin Tôn giáo, dựng lên một “linh mục giả”, hòng làm giảm uy tín và tiếng nói trung thực của Giáo hội Công giáo Việt Nam mà đại diện tối cao là các Giám mục thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam.Linh mục giả Chắc chắn, những việc làm bất chấp lương tâm và đạo lý của Đài truyền hình Việt Nam – kênh truyền hình phủ sóng toàn quốc, ít nhiều đã có những tác động tiêu cực đến quảng đại quần chúng, cách riêng đối với những tín hữu Công giáo, khiến mọi người, ngay cả một số tín hữu vì thiếu thông tin, có thể hiểu sai về Giáo hội Công giáo, cách riêng các vị lãnh đạo tối cao của Giáo hội Công giáo Việt Nam. Do đó, thiết nghĩ, sau những gì truyền thông nhà nước đang cố tình dùng mọi kỹ xảo để bóp méo tiếng nói trung thực, thẳng thắn, đầy tâm huyết và có tính xây dựng của các Đức Giám mục thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam, mọi tín hữu Việt Nam đều có bổn phận và trách nhiệm phổ biến bản “nhận định và góp ý Hiến pháp của Hội đồng Giám mục” tới mọi người, đặc biệt mọi thành phần dân Chúa tại Việt Nam. Việc làm này thực sự cần thiết và không khó, chỉ cần mỗi người giáo dân nhận trách nhiệm phổ biến cho một người, thì không bao lâu mọi người đều biết được tiếng nói chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam. Thư chung của Hội Đồng Giám mục Việt Nam năm 1980 gửi cộng đồng Dân Chúa Việt Nam đã nói rõ về sứ mạng của người tín hữu Chúa Kitô ở Việt Nam: “Là Hội Thánh trong lòng dân tộc Việt Nam, chúng ta quyết tâm gắn bó với vận mạng quê hương, noi theo truyền thống dân tộc, hoà mình vào cuộc sống hiện tại của đất nước. Công đồng dạy rằng “Hội Thánh phải đồng tiến với toàn thể nhân loại và cùng chia sẻ một số phận trần gian với thế giới” (MV 40,2). Vậy chúng ta phải đồng hành với dân tộc mình, cùng chia sẻ một cộng đồng sinh mạng với dân tộc mình, vì quê hương này là nơi chúng ta được Thiên Chúa mời gọi để sống làm con của Người, đất nước này là lòng mẹ cưu mang chúng ta trong quá trình thực hiện ơn gọi làm con Thiên Chúa, dân tộc này là cộng đồng mà Chúa trao cho chúng ta để phục vụ với tính cách vừa là công dân vừa là thành phần Dân Chúa” (số 9). Đức Thánh cha Benedict 16 cũng đã nhiều lần nhắc nhở các tín hữu Việt Nam “Công dân tốt là giáo dân tốt”. Vì thế, trong thời khắc hết sức quan trọng này của tổ quốc và dân tộc, người công giáo tốt không thể bàng quan, ẩn mình trong những tháp ngà của sợ hãi, hèn nhát, vô cảm. Trái lại, họ phải chứng tỏ mình là người can đảm, lên tiếng tố cáo những bất công, ra sức bảo vệ Tổ quốc, Giáo hội và những quyền cơ bản của người dân, cách đặc biệt trong lần sửa đổi Hiến Pháp này. 29/3/2013  
......

Đại Sứ Quán Đức Tại Việt Nam

Lời chào của Bà Jutta Gisela Frasch Các bạn thân mến, Với tư cách là nữ Đại sứ Đức tại Việt Nam tôi nhiệt liệt chào mừng các bạn đến với trang Web của Đại sứ quán chúng tôi ở Hà Nội. Tôi rất vui mừng trước sự quan tâm của các bạn đến nước Đức và hy vọng rằng, với trang Web này chúng tôi có thể làm đất nước chúng tôi gần gũi hơn với các bạn   Đức và Việt Nam gắn kết với nhau bằng quan hệ hữu nghị lâu năm và quan hệ đối tác chặt chẽ. Nhiều người Việt Nam trong cuộc đời mình đã bắt rễ tại hai nước và thành thạo tiếng Đức. Họ đã tạo nên một nhịp cầu văn hóa có một không hai giữa hai nước chúng ta Việt Nam là một đối tác trung tâm của Đức tại Đông Nam Á. Chúng ta cùng nhau và cùng trao đổi ý kiến để đương đầu với những vấn đề cấp bách của tương lai. Sự chuyển đổi kinh tế tại Việt Nam là cơ sở cho mối quan hệ kinh tế mạnh mẽ giữa hai nước chúng ta. Ngày nay Đức là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam trong Liên minh châu Âu. Nhưng trong những lĩnh vực khác như trao đổi văn hóa, nghiên cứu khoa học hay hợp tác phát triển mối quan hệ giữa chúng ta cũng chặt chẽ hơn bao giờ hết. Trang Web của chúng tôi cung cấp cho các bạn những thông tin toàn diện về những vấn đề thường gặp. Vì thế trong từng mục các bạn tìm thấy những thông tin quan trọng về nước Đức, về các vấn đề lãnh sự và về công việc của chúng tôi ở Việt Nam. Ngoài ra chúng tôi muốn đem đến cho các bạn một cái nhìn tổng quát về những chủ đề thời sự ở nước Đức, cũng như về những lĩnh vực quan trọng trong quan hệ đối tác Đức-Việt và thông báo cho các bạn những dự án chung trong các lĩnh vực chính trị và kinh tế, văn hóa và khoa học, cũng như môi trường và công nghệ. Tôi chúc các bạn nhiều niềm vui với trang Web của chúng tôi và sẵn sàng chào đón những câu hỏi và gợi ý của các bạn. Jutta Frasch Đại sứ Cộng hòa Liên bang Đức ********* Tiểu sử bà Jutta Gisela Frasch, sinh ngày 24.03.1957 tại Bremen, có gia đình, 2 con   1975 Tốt nghiệp phổ thông 1975 – 1980 Học đại học ngành khoa học kinh tế 1980 Tốt nghiệp đại học ngành kinh tế 1981 – 1982 Dự khóa đào tạo thứ 17 của Viện Chính sách phát triển Đức 1983 – 1985 Tập sự để vào Bộ ngoại giao 1985 Thi vào Bộ Ngoại giao 1985 – 1988 Bộ Ngoại giao 1988 – 1991 Đại sứ quán Đức tại Belgrad 1991 – 1994 Thành viên phái đoàn về các biện pháp tạo dựng lòng tin và an ninh tại Viên 1994 – 1995 Chuyên gia quốc gia của Ủy ban Liên minh châu Âu tại Brussel 1995 – 1996 Cơ quan đại diện thường trực tại EU Brussel 1996 – 1997 Bộ Ngoại giao, Tổng vụ chính sách đối ngoại 1997 – 2000 Chuyên viên về châu Âu tại một đoàn nghị sĩ Quốc hội Liên bang 2000 – 2005 Bộ Ngoại giao, Vụ trưởng 2005 – 2008 Đại sứ quán Đức tại Warszawa, Phó Đại sứ 2008 – 2009 Chuyên gia tư vấn Viện Khoa học và Chính trị Berlin 2009 – 2010 Bộ Ngoại giao, cán bộ điều phối chính sách nhân sự quốc tế 2010 – 7.2012 Bộ Ngoại giao, Đặc trách về văn hóa và ngôn ngữ Đức ở nước ngoài, Phó tổng vụ trưởng Tổng vụ Chính sách văn hóa và giáo dục đối ngoại. Từ 7.2012 Đại sứ Cộng hòa Liên bang Đức tại Việt Nam http://www.hanoi.diplo.de/Vertretung/hanoi/vi/02/Botschafter__und__Abteilungen/Botschafter__grusswort__seite__vi.html  
......

Mỹ quan ngại về tình hình nhân quyền Việt Nam

  Chính quyền Hoa Kỳ một lần nữa bày tỏ quan ngại về tình hình nhân quyền xuống cấp tại Việt Nam và khẳng định rằng thăng tiến các quyền tự do cá nhân là trọng tâm then chốt trong chính sách của Mỹ tại Châu Á. Phát biểu trước một ủy ban quốc hội Mỹ ngày 21/3, Phó Trợ lý Ngoại Trưởng Hoa Kỳ đặc trách Dân chủ, Nhân quyền và Lao Động, ông Daniel Baer, nói dù chính quyền độc tài Việt Nam tự hào về thành tích phát triển internet, nhưng giá trị của các thành tích này bị giảm đi rất nhiều bởi chính sách của Hà Nội trong việc ngăn chặn quyền tự do trao đổi quan điểm của công dân. Ông Baer dẫn dụ trường hợp hàng loạt blogger tại Việt Nam bị Hà Nội dùng luật lệ về an ninh quốc gia để truy tố và bỏ tù chỉ vì họ đã thực hành một cách ôn hòa các nhân quyền căn bản của công dân. Giới chức của khối hành pháp Hoa Kỳ, Daniel Baer, mô tả việc Hà Nội lạm dụng các điều luật “an ninh quốc gia” để khống chế quyền tự do ngôn luận và tự do thông tin của người dân là “tàn bạo”. Ông Baer còn lưu ý rằng trong vài năm qua, Việt Nam cũng đình trệ các tiến bộ trong lĩnh vực tự do tôn giáo. Về phía lập pháp, các Thượng nghị sĩ trong Quốc hội Mỹ thúc giục chính quyền của Tổng thống Obama nhấn mạnh đến việc phát huy nhân quyền và dân chủ trong khuôn khổ chiến lược “trục xoay Châu Á” của Washington, vốn chủ yếu là nỗ lực tăng cường sự hiện diện quân sự và thúc đẩy thương mại của Mỹ trong khu vực trước sự trỗi dậy của Trung Quốc. Thất vọng về việc Hà Nội không cải thiện thành tích nhân quyền đã khiến Hoa Kỳ đình hoãn một cuộc đối thoại nhân quyền thường niên với Việt Nam hồi cuối năm ngoái. Hãng thông tấn AP trích dẫn nguồn tin từ các giới chức Mỹ cho hay cuộc đối thoại kế tiếp, theo kế hoạch, sẽ diễn ra tại Hà Nội vào giữa tháng tư năm nay. Phó Trợ lý Ngoại Trưởng Daniel Baer nhấn mạnh Mỹ sẽ tiếp tục khẳng định lập trường mạnh mẽ với Hà Nội về các mối quan tâm nhân quyền. Ông Baer cũng cho biết Hoa Kỳ sẽ nêu vấn đề tự do internet cùng các điều kiện về lao động trong các cuộc thương nghị “Đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP do Hoa kỳ hậu thuẫn. Đây là một hiệp định khu vực có sự tham gia của Việt Nam. Nguồn: AP/AFP - VOA
......

Quốc Hội Mỹ sẽ vinh danh "người tù Hỏa Lò" John McCain vào tháng 4

Người "tù Hỏa Lò Hà Nội" nổi tiếng John McCain hơn bốn thập niên trước đây, từng là ứng cử viên Tổng Thống Hoa Kỳ, sẽ được Quốc Hội Hoa Kỳ vinh danh trong tháng 4 tới đây trong một buổi lễ đánh dấu ngày ông thoát khỏi nhà tù cộng sản Việt Nam. Ông John McCain là sĩ quan phi công của lực lượng Hải Quân Hoa Kỳ đã bị bắn rơi trong một phi vụ trên miền Bắc VN trong cuộc chiến Việt Nam hồi năm 1968. Sau 5 năm rưỡi bị giam cầm ở nhà tù Hỏa Lò, mà người ta đặt cho cái tên là “Khách sạn Hilton Hà Nội”, ông được trả tự do vào ngày 14 tháng 3 năm 1973. Giờ đây ông John McCain đã là Thượng Nghị Sĩ Cộng Hòa trong Quốc Hội Hoa Kỳ. Hồi tuần qua, nhân dịp đánh dấu 40 năm ngày ông thoát cảnh lao tù, Tổng Thống Obama đã có cuộc găp gỡ có riêng tư với các Thượng Nghị Sĩ Cộng Hòa và bày tỏ lòng biết ơn đối với sự nghiệp phục vụ trong quân đội của ông John McCain.   Hôm qua 21-3, tin từ tiết lộ từ quốc hội Hoa Kỳ cho hay sẽ có bữa tiệc đặc biệt vào ngày 11-4, sau khi Quốc Hội quay lại làm việc sau 2 tuần nghỉ hằng năm. Hiện chi tiết chương trình đặc biệt vinh danh người tù Hỏa Lò nổi tiếng này chưa được công bố chính thức.   Riêng các quan sát viên thì dịp kỷ niệm ngày TNS John McCain được tự do sẽ là dịp hai Đảng ngồi lại với nhau ở Hoa Thịnh Đốn, một cơ hội khá hiếm hoi trong bầu không khí "đấu khẩu" nặng nề hiện nay.
......

Nước ngọt, nguyên nhân gây xung đột ?

4 tỷ người trên trái đất không có nước ngọt để dùng 24 giờ trên 24 ; 3 tỷ không có máy nước trong nhà. Theo dự phóng của Liên Hiệp Quốc thì đến năm 2020 nhu cầu về nước ngọt để phục vụ cho ngành công nghiệp sẽ tăng lên gấp đôi so với hiện tại ; nhu cầu tiêu thụ của các hộ gia đình sẽ tăng thêm 130 % ; 40 % trên tổng số 9 tỷ con người sẽ sống ở những vùng bị thiếu nước. Không phải ngẫu nhiên mà Liên Hiệp Quốc đặt 2013 là năm của « sự hợp tác quốc tế về nước ngọt ». Ở châu Á, để bảo đảm nhu cầu của nền nông nghiệp, Trung Quốc không ngần ngại chèn ép các nước láng giềng phương nam với những dự án xây đập trên dòng sông Mêkông.Tại Trung Cận Đông, Syria và Irak cùng đang lo lắng bị Thổ Nhĩ Kỳ cướp đi nguồn nước ngọt quý giá trước các dự án xây dựng đập thủy điện của Ankara trên thượng nguồn hai con sông Tigre và Euphrate. Nhìn sang Bắc Mỹ, khúc sông Rio Grande chảy qua Mêhicô bị đe dọa cạn kiệt. Với 8 dự án xây đập thủy điện trên sông Mêkông mà đến nay 4 trong số đó đã hoàn thành, Bắc Kinh thường xuyên bị các đối tác Đông Nam Á tố cáo là ích kỷ, giữ nguồn nước cho riêng mình. Năm 2010 Việt Nam, Thái Lan và Lào từng điên đảo khi thấy mực nước sông Mêkong xuống thấp đến mức kỷ lục. Theo nhiều chuyên gia, đến mùa khô hạn, Trung Quốc có thể hút đến 50 % lượng nước sông Mêkong. Khi ủy hội sông Mêkong được hình thành vào năm 1995, Bắc Kinh đã thận trọng đứng ngoài. Từ đó đến nay, ý thức được rằng thái độ làm ngơ của mình sẽ làm xấu đi hình ảnh của một đất nước Trung Quốc đang vươn lên, cho nên Bắc Kinh bắt đầu « đối thoại » với các nước có liên quan. Nhìn chung, đối với những nền kinh tế đang trỗi dậy như Trung Quốc, Brazil hay Ấn Độ sự đối đầu giữa dân cư thành thị và nông thôn để tranh dành nguồn nước ngọt cũng ngày càng trở nên gay gắt hơn. Theo như nhận xét của ông Gérard Payen, cố vấn cho tổng thư ký Liên Hiệp Quốc về vấn đề nước, những xung đột để tranh dành nguồn nước thường xuyên xảy ra ở cấp địa phương nhiều hơn là giữa hai quốc gia sát cạnh nhau. Hiện tại mới chỉ có 29 trên tổng số 103 quốc gia trên thế giới đã phê chuẩn Công ước Liên Hiệp Quốc về việc sử dụng nguồn nước ngọt, do vậy văn bản này dù đã ra đời từ năm 1997 vẫn chưa chính thức có hiệu lực. Trung Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ đương nhiên không phê chuẩn công ước quốc tế về nước ngọt khi biết rằng công ước Liên Hiệp Quốc về nước ngọt quy định các quốc gia ở thượng nguồn phải quản lý một cách chừng mực và phải chia sẻ với các nước ở hạ nguồn con sông tài sản thiên nhiên quý giá đó. Tranh chấp về việc sử dụng nước của con sông Nil tại châu Phi giữa 11 quốc gia ngày càng trở thành một hồ sơ nóng bỏng. Tình hình tương đối thư giãn hơn đối với dòng sông Senegal. 40 % nhân loại bị thiếu nước ngọt Từ cuối 2010, Liên Hiệp Quốc đã khẳng định rằng đến năm 2015 thì sẽ có đến 95 % dân số trên địa cầu được sử dụng nước ngọt. Thực tế không hẳn là như vậy vì theo thẩm định của các chuyên gia, hiện tại hãy còn 1,1 tỷ người trên thế giới thiếu nước sạch. Còn căn cứ vào các số liệu được Diễn Đàn Quốc Tế về Nước cung cấp vào năm ngoái : hiện còn 4 tỷ người trên trái đất không có nước ngọt để dùng 24 giờ trên 24 và có tới 3 tỷ không có máy nước trong nhà. Theo dự phóng của Liên Hiệp Quốc thì đến năm 2020 nhu cầu về nước ngọt để phục vụ cho ngành công nghiệp sẽ tăng lên gấp đôi so với hiện tại ; nhu cầu tiêu thụ của các hộ gia đình sẽ tăng thêm 130 % ; 40 % trên tổng số 9 tỷ con người sẽ sống ở những vùng bị thiếu nước. Nếu chúng ta nhìn vào 2 quốc gia đông dân nhất hành tinh là Trung Quốc và Ấn Độ thì Liên Hiệp Quốc cảnh báo : sông ngòi Trung Quốc ngày càng ô nhiễm ; hơn ¼ các cơ quan lọc nước của Trung Quốc cung cấp nước không bảo đảm chất lượng. Còn tại Ấn Độ, không một thành phố nào, hay một ngôi làng nào trên quê hương thánh Ghandi bảo đảm dịch vụ cung cấp nước sạch và an toàn cho người dân được 24 giờ trên 24 và 7 ngày trong tuần ! Trong lúc Ấn Độ khan hiếm nước như vậy thì lại có tới 70 % nguồn nước quý giá từ Hy Mã Lạp Sơn bị lãng phí chỉ vì hệ thống dẫn nước cổ lỗ ! Thế còn tại Việt Nam thống kê chính thức cho thấy hiện tại 92 % dân cư đã có nước ở trong nhà. Tỷ lệ đó chỉ là 52 % vào đầu thập niên 1990. Tuy nhiên theo một tổ chức phi chính phủ của Nhật thì ở thành phố 59 % các hộ gia đình đã lắp máy nước trong nhà, 41 % còn lại vẫn phải sử dụng nước giếng hoặc máy nước công cộng. Tại các làng quê Việt Nam, tỷ lệ nói trên rơi xuống còn 15 %. Điều đáng quan ngại hơn cả vẫn theo tổ chức này, thì không một nơi nào tại Việt Nam, nước ngọt được coi là bảo đảm chất lượng an toàn. Người dân ở đây phải lọc nước và đun sôi trước khi uống. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới Turn Down the Heat vừa được công bố gần đây, nếu như nhiệt độ trái đất tăng thêm 4 ° C thì sẽ có từ 43 đến 50 % nhân loại phải sống ở những vùng khô cằn. Nước bẩn là nguyên nhân gây nhiều bệnh tất và là khiến có tới 4000 trẻ em tử vong mỗi ngày. Vẫn theo báo cáo nói trên, thiệt hại kinh tế do không có được hệ thống lọc nước an toàn có thể lên tới 7 % GDP của một quốc gia.
......

Nếu họ cứ giữ hiến pháp như cũ thì làm gì?

1. Sóng nước dâng trào:   Bất kể kiểu hé cửa, rồi đóng, rồi lại mở của lãnh đạo đảng, sự chán, bực, và nóng của người dân quanh vụ sửa đổi hiến pháp đã vượt ngoài sức dự đoán của tất cả.   Bản kiến nghị của 72 nhân sĩ ra đời, xoáy thẳng vào những điểm cốt lõi như: điều 4 quy định quyền lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện của Đảng CSVN; tệ trạng chính trị hóa các lực lượng vũ trang; nhu cầu công nhận quyền sở hữu tư nhân về đất đai, v.v. Sự ra đời của trang blog Cùng Viết Hiến Pháp của các nhân sĩ như Ngô Bảo Châu, Đàm Thanh Sơn và Nguyễn Anh Tuấn. Đã có hẳn một bản Dự thảo hiến pháp hoàn toàn mới được viết ra với các hình thức tổ chức nền tảng chính trị tiên tiến của nhân loại. Bản Tuyên Bố của các Công Dân Tự Do xuất hiện ngay sau sự trừng phạt của nhà nước đối với nhà báo Nguyễn Đắc Kiên, cũng xoáy vào điều 4; nhu cầu đa nguyên, đa đảng cho đất nước; tam quyền phân lập; phi chính trị hóa quân đội. Và khẳng định mỗi người Việt Nam, nếu muốn, đều có quyền tuyên bố các điểm trên. Bản lên tiếng của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam với ba đề nghị cụ thể: Xóa bỏ đặc quyền của bất kỳ đảng nào; Tam quyền phân lập; Nhân dân kiểm soát việc thi hành pháp luật. Bản lên tiếng của Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ nhấn mạnh nhu cầu phải thay đổi tận gốc rễ mà đáng lẽ đã phải xảy ra từ lâu. Lời kêu gọi của Khối 8406: Đấu tranh đòi Nhà cầm quyền cộng sản phải tổ chức tại Việt Nam một cuộc Trưng Cầu Dân Ý có quốc tế giám sát. Cụ Lê Quang Liêm, đại diện Giáo Hội Trung Ương Phật Giáo Hòa Hảo Thuần Túy bày tỏ lòng ủng hộ các quan điểm cần thay đổi hệ thống chính trị hiện tại một cách cơ bản. Và rất nhiều các lên tiếng cá nhân khác.    2. Lãnh đạo đảng co chân, sợ nước:   Rõ ràng giới lãnh đạo đảng CSVN đã kinh ngạc trước làn sóng phản ứng của quần chúng. Vì chỉ mới 3 tháng trước, họ còn lo ngại rằng dân chúng đã quá quen thuộc với các tuồng tích cũ nên sẽ không ai nhập cuộc vỗ tay cho vở kịch lần này, nên ông Phan Trung Lý, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, còn được lệnh ra đứng quảng cáo tiếp thị: "Tất cả quyền lực thuộc về nhân dân nên nhân dân có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng và sửa đổi Hiến pháp. Nhân dân có thể cho ý kiến đối với điều 4 Hiến pháp như với tất cả các nội dung khác trong dự thảo, không có gì cấm kỵ cả."   Họ đinh ninh rằng nếu có ai chạm đến điều 4 thì cũng chỉ xin thêm dấu phẩy chỗ này, bớt dấu chấm chỗ nọ, hay đòi gắn thêm vài câu ca ngợi vai trò của đảng mà thôi. Chẳng ai ngờ, các tiếng nói nặng ký và độc lập trong dân lại đồng lòng và đồng loạt đòi vất hẳn điều 4, dẹp toàn bộ chuyên chính vô sản, thì đất nước mới khá lên được.   Thế là trong trạng thái cuống cuồng, ngày 25/2/2013, ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng vội dùng diễn đàn buổi làm việc với tỉnh ủy Phú Thọ để tung ra đòn phép cổ điển, đó là lên án ngay các góp ý, bất kể lời mời của ông chủ tịch ủy ban soạn thảo hiến pháp chưa đầy 2 tháng trước đó. Ông Trọng cố nhấn da diết nhiều lần: "Vừa rồi đã có các luồng ý kiến cũng có thể quy vào được là suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức… Đó là suy thoái chứ là gì nữa!..." Ông Trọng cũng khẳng định dùm cho toàn thể đảng viên và toàn dân luôn rằng chẳng ai có tư tưởng muốn bỏ Điều 4 Hiến pháp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; chẳng ai muốn đa nguyên đa đảng, tam quyền phân lập hay phi chính trị hóa quân đội cả.   Một lần nữa, ông Trọng và giới lãnh đạo thượng tầng ngạc nhiên khi đòn phép cổ điển này không đem lại các tác động cổ điển. Thay vì làm cho toàn đảng toàn dân rút vào hầm sợ hãi, bài diễn văn của ông Trọng lại đổ thêm cả chục lít xăng vào sự bực tức của người dân. Họ không còn thấy nhu cầu lý luận với ông Trọng nữa vì đã thấy rõ khả năng tiếp thu dữ kiện và lý lẽ của ông. Nhiều người thú nhận trên các diễn đàn Internet, đây là lần đầu tiên họ thực sự đồng ý với danh hiệu "lú" của ông tổng bí thư, mà trước đó họ cho là "bà con nói quá đáng".   Có lẽ vì vẫn tin vào cẩm nang cổ điển, 5 ngày sau, lãnh đạo đảng lại cho ông Nguyễn Sinh Hùng, Ủy viên Bộ chính trị và Chủ tịch Quốc hội, ra căn dặn đảng ủy Hà Nội và răn đe cả nước: "Phải nắm vững tình hình; đấu tranh, ngăn chặn tuyệt đối việc lợi dụng góp ý Dự thảo Hiến pháp để tuyên truyền, vận động người dân vào các mục đích cá nhân, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, chống phá Đảng, Nhà nước". Ông còn cho biết sẽ đóng sổ góp ý sớm vào ngày 7/3/2013 tại Hà Nội, nơi có làn sóng góp ý sửa hiến pháp cao và dữ dội nhất.   Nhưng cũng như ông Trọng, lời hăm dọa của ông Hùng chỉ hất thêm vài chục lít xăng vào lửa. Ngọn lửa trong dân chúng nóng đến độ chỉ vài ngày sau, chính ông Nguyễn Sinh Hùng phải công bố quyết định gia hạn góp ý hiến pháp trên toàn quốc, kể cả Hà Nội, đến cuối tháng 9/2013.   Tuy chứng kiến vài bước lùi tạm thời đó của lãnh đạo đảng, nhưng nhìn toàn bộ cách ứng xử của họ chẳng còn mấy ai trong dân chúng tin là những kiến nghị sẽ được cứu xét, chứ chưa nói gì đến áp dụng. Chính vì thế mà đã có những câu hỏi nổi lên giữa vòng những người tâm huyết với tương lai dân tộc:  Nếu giới lãnh đạo đảng cứ chờ cho đến hết thời gian góp ý rồi ném toàn bộ vào thùng rác và giữ tất cả các điểm cơ bản nêu trên trong bản hiến pháp mới như cũ, thì chúng ta làm gì? Có uổng công không?   Có lẽ để trả lời câu hỏi này, trước hết cần nhìn thử tác động của những gì vừa xảy ra trước khi bàn đến tương lai cần làm gì.  3. Cơn sóng thứ nhất đã làm được gì?   Ngay cả trong trường hợp không cần làm gì thêm nữa ngay tại điểm này, thì cơn sóng góp ý sửa đổi hiến pháp hiện nay đã đem lại rất nhiều hữu ích.   Chưa bao giờ người dân Việt được biết rõ ý nhau và đồng thuận cao về bản chất tệ hại của hệ thống chính trị hiện tại đến như vậy. Khi không có phương tiện để trưng cầu dân ý, con số hàng chục ngàn những chữ ký tán đồng Kiến Nghị 72 và Tuyên Bố Công Dân Tự Do đặt nền tảng hệ trọng để vô hiệu hóa mọi trò nham nhở sắp tới của nhà cầm quyền nhằm cố tạo hình ảnh dân chúng ủng hộ bản hiến pháp của họ, từ các trò ép dân ký giấy ủng hộ, đến các buổi hội thảo "trong luồng và trong chuồng" của các hội đoàn dân sự do Mặt Trận Tổ Quốc quản lý. Chỉ cần nhìn các đòn phép công phu trong mấy tuần qua để cố làm sứt mẻ uy tín của số chữ ký ủng hộ 2 văn kiện nêu trên, cũng đủ thấy lãnh đạo đảng e ngại hiện tượng này tới mức nào.   Cơn sóng góp ý hiện nay cũng thu hút giới trí thức trở lại với các vấn nạn của đất nước ở mức chưa từng thấy. Đặc biệt trong giới sinh viên, nhiều bài vở xuất hiện trên mạng cho thấy các anh chị em này không còn chấp nhận những lý lẽ xảo trá và dữ kiện một chiều mà lãnh đạo đảng tuông ra qua miệng thày cô. Những người ở vai thày cô cũng bắt đầu nghe văng vẳng tiếng lương tâm sau nhiều năm tiếp tay đầu độc học sinh của mình một cách đương nhiên.   Và cũng quan trọng không kém, cơn sóng góp ý đã làm trơ ra nhiều sự thật. Sự thật thứ nhất là sự lạc hậu và tham lam của giới lãnh tụ ở chót đỉnh dù biết mình không có khả năng – ngay cả khả năng suy luận chứ chưa nói gì đến khả năng điều hành. Họ không chống đỡ được bất kỳ lý lẽ nào do giới trí thức yêu nước đặt ra qua Kiến Nghị 72, và chỉ biết quay về đường cũ quen thuộc là vung lên vũ khí hăm dọa.   Sự thật thứ hai là tình trạng thê thảm của các bộ óc đảng. Với đầy những hàm tướng, tá và danh hiệu tiến sĩ, giáo sư, họ được đảng trông cậy đẩy ra bảo vệ đảng về mặt lý luận trong mắt quần chúng. Nhưng càng đọc, người ta chỉ càng thấy đây là một bọn "chây mặt ra để kiếm ăn". Các bài viết, bài nói của họ chỉ bao gồm loại lý luận quơ quào tại chỗ, vội vã nói lấy được. Nên càng nói họ càng cứ chân lãnh đạo đảng mà bắn, cứ tát thẳng tay vào các quan điểm tuyên truyền “chính thống” xưa nay của đảng. Hãy xem qua vài thí dụ:   Khi thiếu tướng công an Nguyễn Xuân Mười viết: “Hiến pháp và pháp luật nước ta chính là sự thể chế hóa cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng", ông vạch ra và nhắc nhở mọi người phải nhớ rằng lãnh đạo đảng gian xảo khi tuyên bố đảng hoạt động bên dưới hiến pháp và pháp luật. Rõ ràng ý định của lãnh đạo đảng có trước rồi hiến pháp và luật pháp chỉ được soạn cho đúng nhu cầu thi hành ý định của đảng mà thôi. Khi tiến sĩ Hồ Trọng Ngũ, Phó chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng – An ninh của Quốc hội phán: “Kinh nghiệm trước đây của nhiều nước trong hệ thống XHCN cũng đã mắc sai lầm khi phi chính trị hoá quân đội, công an dẫn đến không có lực lượng bảo vệ Cách mạng, bảo vệ Đảng trong những tình huống lâm nguy", người nghe không hiểu ông nhất định không đọc tin tức hay cố tình nói dối. Vì chưa hề có đảng cộng sản tại nước XHCN nào phi chính trị hóa quân đội. Tất cả các chế độ XHCN đã xụp đổ đều có đầy đủ quân đội trong tay. Có nơi quân đội còn do 2, 3 phe lãnh đạo cộng sản khác nhau nắm và đánh lẫn nhau như tại Bulgaria, Liên Xô,... Và vì thế ông Ngũ càng nhắc người nghe phải lấy quân đội ra khỏi tay các thế lực chính trị nội địa. Quân đội chỉ lo việc bảo vệ đất nước chống ngoại xâm. Khi Thiếu tướng, GS Bùi Phan Kỳ, chuyên viên Viện Chiến lược quốc phòng Việt Nam, bảo: "Nếu phi chính trị hóa, quân đội sẽ thành đội quân robot vũ lực, đội quân đánh thuê", người nghe chỉ bật lên thắc mắc: thế đội quân bị đảng ra lệnh đứng yên nhìn quân Trung Quốc sát hại đồng bào mình, làm nhục quốc gia mình liên tục là loại quân đội gì? Và loại tướng sẵn sàng đi nói điều ngang ngược để kiếm ăn như ông thì có gọi là đội quân đánh thuê, nói thuê không? Khi ông Bùi Phan Kỳ nói tiếp rằng: "Lực lượng vũ trang ngày nay không chỉ còn nhiệm vụ trên mặt trận như thời chiến", ông chẳng cần che đậy gì nữa về ý đồ của lãnh đạo đảng, đó là nhiệm vụ của quân đội phải bắn dân cho đảng khi cần thiết. Khi hầu như bài nào cũng khẳng định không thể đưa các khái niệm tổ chức chính phủ của các nước khác, của thế giới ngày nay vào hiến pháp Việt Nam, các tác giả chỉ ép người đọc phải phì cười vì Hiến Pháp 1992 là bản dịch gần như nguyên văn bản Hiến Pháp của Liên Xô thời đó. Và khi bài viết nào cũng khẳng định quân đội phải trung thành với Đảng, người đọc, dù là dân hay bộ đội, đều bị nhắc phải hỏi lại: thế đảng có trung thành với quân đội không? Tại sao lãnh đạo đảng bỏ mặc các chiến sĩ Trường Sa cho Trung Quốc bắn năm 1988? Tại sao cả bia mộ của các liệt sĩ trong trận chiến 1979 cũng bị đập phá chỉ vì sợ mất lòng Trung Quốc? Tại sao hàng chục ngàn liệt sĩ chống Trung Quốc theo lệnh đảng nay bị xóa khỏi lịch sử Việt Nam? Quả thật, nếu không có cơn sóng hiện nay, dân tộc sẽ không thể thấy cả bức tranh về lãnh đạo đảng, guồng máy đảng rõ như vậy.  4. Dân tộc rất cần cơn sóng thứ nhì:   Nhưng rõ ràng tới đó vẫn chưa đủ. Dân tộc Việt Nam vẫn cần một bản hiến pháp đúng nghĩa bất kể những người cầm quyền độc tài hiện tại có đồng ý hay không. Tất cả các góp ý, các bản dự thảo độc lập của mọi thành phần dân tộc cần được giới trí thức Việt Nam tổng hợp và khai triển thêm để trở thành một bản Hiến Pháp Tương Lai Của Dân Tộc (Hiến Pháp Dân Tộc).   Tại sao chúng ta cần bản Hiến Pháp Dân Tộc này?   Trong những năm tháng trước mặt, bản Hiến Pháp Dân Tộc sẽ là tấm gương phản chiếu liên tục mức độ lạc hậu và vô ích của bản Hiến Pháp Đảng. Khi mỗi vụ việc lớn (tương tự như Bô-xít, Vinashin,...) xảy ra, khi những tệ nạn lớn (như tham nhũng, cướp đất, công an giết dân,...) lan tràn, người dân có thể thấy nếu đất nước có được loại chính phủ như trong Hiến Pháp Dân Tộc, các sự việc đó đã rất khó hoặc không xảy ra, và nếu có xảy ra thì chính phủ có thể giải quyết hữu hiệu.   Bản Hiến Pháp Dân Tộc sẽ là một nguồn lực tinh thần, một liều thuốc bổ rất lớn cho dân tộc trong giai đoạn hiện nay. Khi ước mơ về cùng một tương lai, hoạt động cho cùng một mục tiêu trong văn bản này, mọi thành phần dân tộc sẽ đứng gần nhau hơn, thôi thúc nhau đi nhanh tới lằn mức dân chủ, để Việt Nam chóng có ngày cất cánh cùng nhân loại.   Bản Hiến Pháp Dân Tộc là cơ hội phục hồi và nối kết giới trí thức Việt Nam. Đây là những sĩ phu của đất Việt, những con người lại đảm đương vai trò truyền thống, dẫn đầu dân tộc đi qua các giai đoạn lịch sử đen tối.   Và sau hết, kinh nghiệm tại nhiều nước vừa thoát khỏi độc tài gần đây cho thấy, nhiều dân tộc lấy làm tiếc đã không biết chuẩn bị trước nền tảng hiến pháp mới ngay trong giai đoạn tháo gỡ độc tài vì đây là việc đòi hỏi nhiều thời gian nghiên cứu và xây dựng sự đồng thuận. Hệ quả của việc chờ đến ngày đổi đời mới ngồi xuống suy nghĩ về hiến pháp dẫn đến sự phí phạm thời gian quí báu để ổn định ngay tình hình, để ngăn chận các thế lực độc tài mới xuất hiện, để có thể dồn sức lực vào việc băng bó các vết thương xã hội, và bắt tay ngay vào việc phát triển đất nước. Dân tộc chúng ta hiện có cơ may chứng kiến các kinh nghiệm đổi đời ở nhiều nước. Chúng ta cần cùng nhau áp dụng những bài học "miễn phí" quí giá này.   Vì vậy, để trả lời câu hỏi “Nếu họ cứ giữ hiến pháp như cũ thì làm gì?", có lẽ đã đến lúc dân tộc chúng ta không cần đi sau, hay trông mong gì vào thiện chí đổi thay của giới lãnh đạo đảng CSVN nữa. Đã đến lúc khối trí tuệ của dân tộc, đặc biệt là 72 ngọn đuốc soi đường đầu tiên, cùng đồng lòng suy nghĩ, bàn thảo về một bản Hiến pháp hoàn toàn mới, với chi tiết cụ thể cho một đất nước Việt Nam tự do và dân chủ.   Mối đoàn kết dân tộc cần được xây dựng từ bây giờ qua việc cùng soạn thảo Hiến Pháp Tương Lai Của Dân Tộc Việt Nam.
......

Trần Việt Hùng - Tao đã có hai trong một

Thì ra là thế! Thằng đảng nói rằng nó là người lãnh đạo lập ra cái đất nước XHCN chết tiệt này thì nó có quyền làm xếp. Tương lai vận mệnh của bọn em út cùi bắp đều phải do chúng xếp đặt. Định mệnh thời nay không còn do Trời ban mà do đảng cho, tốt xấu thế nào còn tùy. Vì là xếp nên nó được lựa chọn nhiều thằng cơ bắp, lại trang bị thêm súng ống, dao rựa, còng số 8, xe tăng, đại bác... để bảo vệ xếp. Thằng nào léng phéng thì coi chừng. Nghe nói mai mốt chúng nó ra nghị định bắn thẳng nếu thằng nào, con nào dám chống lại chúng. Xếp nói rằng xếp làm như vậy là vì quyền lợi của đám dân đen! Hic! Nghe nói mà tui cảm động muốn khóc. Thằng xếp nó lãnh đạo đám dân đã 68 năm rồi (từ 1945), sao mà tui thấy khổ hoài. Ruộng đất ngày càng eo hẹp, việc làm ăn bết bác, cuộc sống khó khăn chồng chất. Con cháu lớn lên, đứa nào học hành đàng hoàng lên tới bậc đại học, nhưng thiếu quyền, thiếu tiền đành phải ra làm thợ; đứa nào học hành làng nhàng buộc phải đi làm cu li. Đồng lương bạc tháng eo xèo, lại sống trong cảnh nước sông, gạo chợ, nên chúng nó đành chấp nhận cuộc sống tạm bợ trong cái xóm nhà trọ công nhân tối tăm, lầy lội. Mà cuộc đời đen đúa này đâu phải mình tui gánh. Thời ba má tui cho tới thời tui sống được là nhờ đảng đem bo bo (một dạng thức ăn gia súc chưa qua chế biến) về nuôi. Cả xóm tui cũng thế, đồng bào cả nước gần 80 triệu người cũng rứa. Khổ lắm! Nói mãi cũng thế thôi! Ngó qua nhà xếp mà bắt ham. Nó cao ngất ngưỡng năm tầng, bảy tấm; lại có thêm hồ bơi, hầm rượu và cả sân pis để đẳng xề (dance). Xe xếp mới tậu trông thật là sang. Bởi vì chiếc Mẹc-xế-đì bị xếp chê là lạc hậu, nên đổi chiếc Ron-roi chạy cho êm đít. Xếp ăn xài sang lắm, uống toàn rượu ngoại, bo cho cánh chân dài cả xấp mà không cần đếm... Nói chung, vua chúa ngày xưa kể cả Tây, Ta, Tàu cũng phải ganh tỵ điên tiết vì chúng nó sống hơn vua. Thôi, cuộc đời như thế, định mệnh như thế là do đảng an bày. Mình ngó lên làm gì, chỉ thấy tủi thân. Mấy chục năm lao lực cật lực mà nghèo vẫn hoàn nghèo; còn người ta lên xếp có mấy năm mà cuộc sống hoành tráng đến mức khó tin. Cách mạng mà! Đổi đời mà! Nghĩa là thằng đang sống hạnh phúc thì nó đến "cách" cái "mạng" trở thành thằng sống dưới đáy bùn của xã hội. Thằng nghèo lếch thếch bởi lười nhưng do xu nịnh, cơ hội chuyên đi đổ bô cho đảng nên được chiếu cố cho lên chức, lên quan rồi đổi đời trở thành giàu có. Thằng học lớp 3, lớp 4 trường làng bỗng nhiên thành giáo sư tiến sĩ nhờ có cả đống tiền để mua bằng cấp. Thằng vô lại, thiếu trình độ chuyên môn nhưng có tiền nên mới mua được một chức quan... Cách cái mạng thật hay, giống như ảo thuật, đổi trắng thành đen dễ như trở bàn tay; đổi đời thật lạ, chuyện giàu nghèo không phải ở chuyện mua may bán đắt hay lao động cần cù, chí thú làm ăn mà do giỏi thói cúi luồn, xu nịnh, bè phái, đè đầu cưỡi cổ người nghèo để mà lên hương. Thôi thì định mệnh không phải do Trời, không phải từ nguyên căn kiếp trước, mà là do đảng định đoạt. Ta còn được sống, được thở, cho dù sống nhục hơn chó, nhưng cũng còn sống là may lắm rồi. Xin cảm ơn đảng và bác Hồ. Tháng rồi, đứa cháu nội vừa mới được sinh ra. Nhìn thằng bé kháu khỉnh thơ ngây nằm ngoạy ngọ trông chiếc nôi làm bằng đống giẻ rách. Nhìn thấy ông nội đầu tóc xồm xoàm, thằng bé đột nhiên cười vô thức. Đột nhiên ông nội bật khóc. “Trời ơi! Sao con chọn cửa nhà này để mà sinh ra?! Cái sinh linh bé bỏng này có tội gì đâu mà khi mới mở mắt chào đời đã trở thành “ông chủ”; có tội gì đâu khi cả thế hệ của nó phải gánh nợ Vinashin, Airline lên tới hàng tỉ đô la; nó có tội gì đâu khi phải bị đảng định đoạt vận mệnh đói nghèo như cha ông của nó và cũng như hàng chục triệu ông chủ khác đang sống lây lất như những Zombies (xác sống). Đời chúng nó sẽ khổ, hoặc sẽ vô cùng bất hạnh nếu như ông cha của nó trao chúng lòng yêu nước thiết tha và nồng nàn; dạy cho chúng tình yêu nhân loại, lòng thủy chung, vị tha; dạy cho chúng thành một con người đúng nghĩa: biết yêu thương, thù hận đúng chỗ; biết giữ gìn uy tín, danh dự; biết bảo vệ sự thanh cao, trong sáng của cuộc đời; biết vận dụng nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, liêm sỉ để phụng sự cho quốc gia, dân tộc... Những người có những đức tính như thế không thể nào lớn lên trong chế độ này đâu, con ơi! Đời cha tao cho đến đời tao, rồi đến đời con tao, cả ba đời rồi còn gì đều sống dưới sự lãnh đạo của xếp. Ân huệ của xếp ban cho chúng tao là cả đời lam lũ, cất mặt không lên được để nhìn đời, cho dù tao đây là thằng tốt nghiệp cử nhân, con tao cũng là cử nhân chính quy hẳn hoi. Cháu tao sau này lớn lên nếu nó được học hành đàng hoàng lên tới bậc tiến sĩ, giáo sư tất nhiên nó sẽ thành đạt, nhưng phải ở... nước ngoài. Còn nếu như ở Việt Nam dưới chế độ “cọng hành xả hẹ” con mẹ gì đó, thì cháu tao cũng chỉ là thằng tiến sĩ đầu đường, xó chợ, bởi vì, cha nó nghèo lấy đâu tiền để mua chức, mua quyền. Không! Cả ba đời nhà tao đều đã cống hiến cho xếp như thế là quá đủ rồi. Tao phải tự “cách” cái “mạng” cho cháu tao thôi. Này xếp! Tao chống mày đó. Hãy lùa cái đám chó hùa với đống giáo Mác, lưỡi Lê, Mèo (Mao), Cáo ra đây. Tao bây giờ khác rồi, không còn sợ súng đạn, còng trói, nhà tù của bây nữa. Nghe tao nói đây: Hãy trả cho gia đình tao, xóm giềng của tao, đồng bào của tao cái quyền làm người, quyền tự do như Trời đã định. Ai muốn làm xếp bọn tao phải do bọn tao bầu. Mầy không được quyền chỉ định ai đó, rồi sau đó dựng lên một kịch bản bầu cử dân chủ để lấy vải thưa che mắt thánh. Mầy không được đem cái quá khứ đen tối của bọn mày ra, rồi đổi trắng thay đen, làm cái cớ để được lãnh đạo toàn dân. Vụ này con cháu đời sau, lịch sử nó ghi. Đây là một điều kiện bắt buộc, mày không có quyền đòi hỏi gì cả, “Cái gì của Ceasar thì phải trả lại cho Ceasar”. Nếu mày không chấp nhận, vẫn tham quyền cố vị, lại xua cả bầy chó hùa ra cắn tao. Tao nói trước, tao sẽ liều mạng với bây. Mầy nên nhớ “Ra đường nhất sợ anh hùng, nhì sợ thằng liều”. Tao bây giờ có cả hai trong một rồi đó. http://danluan.org/tin-tuc/20130320/tao-da-co-hai-trong-mot
......

Tức nước vỡ bờ

Tạp Chí Dân Chủ (Journal of Democracy) mới ra một số đặc biệt với chủ đề là “Trung Quốc tới cảnh tức nước vỡ bờ,” trong tiếng Anh viết là “China at the Tipping Point.” Tipping Point là sắp lật đến nơi, một ẩn dụ về tình trạng một vật nặng (thí dụ, hòn đá, tảng tuyết) nghiêng dần dần tới một độ nghiêng nào đó thì trọng tâm lệch ra ngoài và lật đổ, kéo theo những hòn đá hay các đám tuyết khác. Trong tiếng Việt chúng ta dùng hình ảnh tức nước vỡ bờ; khi nước dâng lên cao quá sẽ tới lúc bờ đê phải sụp đổ. Tình trạng sắp lật đến nơi của cộng sản Trung Quốc cũng không khác gì ở Việt Nam. Khối người dân uất ức, chán ghét và khinh bỉ chế độ ngày càng đông hơn. Hiện nay đại đa số dân Việt cũng như dân Trung Quốc đã chán và khinh đám quan chức nắm quyền rồi. Nhưng nhiều người còn sợ, đại đa số thì thờ ơ, lãnh đạm. Nhưng đến lúc số người uất ức đông đúc hơn, nỗi phẫn uất của họ mạnh hơn và vượt lên trên nỗi sợ hãi, thì số người dân công khai đòi thay đổi các chính sách của đảng sẽ lên cao, lôi cuốn theo những người khác, giúp họ hết sợ. Và phong trào này sẽ đưa tới những đòi hỏi phải thay đổi cả chế độ. Các đảng cộng sản ở Trung Quốc và Việt Nam biết như vậy, và họ đang tìm cách ngăn không cho hiện tượng đó xẩy ra, càng lâu càng tốt. Họ ngăn cản được bao lâu, điều này không thể đoán trước được. Nhưng một điều ai cũng thấy, là lòng dân đang ngày càng phẫn uất, như mực nước ngày càng dâng cao hơn. Cuộc biểu tình tại Vĩnh Phúc trong mấy ngày qua cho thấy lòng phẫn uất đã đưa tới hành động. Cái chết của anh Nguyễn Tuấn Anh cũng chỉ một trong trăm, ngàn cái chết oan khuất khác đã xẩy ra,. Một số được đăng trên báo chí từ mấy năm qua. Ông Trịnh Xuân Tùng bị một trung tá công an đả thương đến nỗi thiệt mạng. Ông Nguyễn Lập Phương chết một cách bí ẩn trong đồn công an ở Hải Phòng sau bốn ngày bị giam. Ông Ðặng Ngọc Trung chết một ngày sau khi bị bắt giam ở đồn công an Bình Phước. Cả ba vụ đều xẩy ra vào đầu năm 2011. Nhưng ba vụ này chưa gây ra những cuộc biểu tình đông đảo khiến chế độ phải đưa hàng ngàn công an tới trấn áp như trong vụ Vĩnh Phú này. Trong vụ Vĩnh Phú, có đủ những sự kiện tiêu biểu cho các tội ác của chế độ cộng sản hiện nay, ở Việt Nam cũng như ở Trung Quốc. Thứ nhất là đám con cái các quan chức lộng hành, tự coi họ có quyền sống bất chấp pháp luật. Giống như Lý Khải Minh, một sinh viên Trung Hoa lái xe cán chết người trong một trường đại học thuộc tỉnh Hà Bắc trong năm 2010. Sau đó Lý Khải Minh còn đưa tay dọa những người bạn của nạn nhân tới ngăn không cho hắn bỏ đi: “Có giỏi thì kiện đi! Bố tao là Lý Cương!” Lý Cương là phó giám đốc công an địa phương. Một vụ cãi nhau trong quán rượu đã khiến anh Nguyễn Tuấn Anh tử vong, chỉ vì anh đụng phải con cái của bọn cường hào. Vì họ nghĩ rằng cả các khâu điều tra, truy tố và xét xử của bộ máy tư pháp sẽ không dám đụng tới họ. Thứ hai, là cả bộ máy chính quyền, công an, tòa án nằm trong tay một đảng cộng sản, từ trên xuống dưới. Họ đồng lõa với nhau ăn gian nói dối, bất chấp công lý và đạo đức, để bảo vệ đặc quyền của các quan chức và gia đình họ. Trong vụ Vĩnh Phúc, các bác sĩ hay y tá của tổ chức pháp y đã làm giấy chứng nhận là anh Nguyễn Tuấn Anh chết vì say rượu rồi ngã xuống nước chết đuối. Nhưng gia đình cho biết thi thể nạn nhân có nhiều vết tích bầm tím, miệng thì gẫy răng, cho thấy anh đã bị đánh gần chết trước khi bị đẩy xuống nước. Khi gia đình phẫn uất kêu oan thì cả bộ máy công an được sử dụng để đàn áp. Từ trước đến nay, người dân có thể thờ ơ, lãnh đạm trước những nỗi khổ của những người phải kêu oan khi bị mất ruộng, mất đất, hay bị bắt giam vô lý. Nhưng có dân chúng nước nào có thể chịu đựng cảnh lộng hành của một giai cấp quyền thế coi mạng người như rác mãi hay không? Có người dân ở đâu có thể thản nhiên trước cảnh cả guồng máy cai trị được sử dụng chỉ để bảo vệ đặc quyền của một nhóm quan chức tham ô mãi hay không? Hàng ngàn công an từ Hà Nội kéo nhau về Vĩnh Phú đàn áp một gia đình mất con là một hình ảnh đánh thức lương tâm của tất cả mọi người dân Việt Nam. Một vụ Vĩnh Phúc khiến người ta nhớ lại tất cả những vụ giết người trước đó. Ai cũng phải tự hỏi bao giờ sẽ đến lượt mình? Ai sẽ là nạn nhân sắp tới, chịu số phận giống như Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Lập Phương, hay Trịnh Xuân Tùng? Nếu vụ Vĩnh Phúc chưa là lúc tức nước vỡ bờ thì sẽ còn nhiều vụ khác. Tại Trung Quốc, đảng cộng sản biết phản ứng nhanh chóng để làm dịu nỗi phẫn uất của dân. Trong vụ Lý Cương năm 2010, sau khi các công dân mạng khắp nước phản đối, Cương được lệnh phải lên ngay truyền hình toàn quốc khóc lóc nhận lỗi đã không biết dậy con. Nhưng từ đó tới nay, còn bao nhiêu chuyện khác xẩy ra và được đưa lên mạng, lòng người dân vừa ghét, vừa khinh đảng cộng sản ngày càng lên cao. Trong tuần trước, 500 triệu người Trung Hoa trong lục địa vào mạng coi hình ảnh hàng ngàn con heo chết trôi trên con sông ở Thượng Hải. Đó chính là một hình ảnh tiêu biểu cho một chế độ chỉ biết làm giầu mà không thèm bảo vệ môi trường sống của người dân. Dân Trung Quốc lên mạng cũng phơi bầy cảnh chênh lệch giầu nghèo khiến nỗi bất mãn ngày càng sâu xa. Năm nay, các đại biểu quốc hội Trung Quốc đi dự phiên họp đầu tiên đã ăn mặc rất khiêm tốn, vì năm năm trước các công dân mạng đã trình ầy hình ảnh của các đại biểu với những bộ y phục đắt tiền, những đồng hồ của đàn ông và ví sách tay đắt tiền của phụ nữ. Tuần báo Economist tuần này cho biết trong Quốc hội Trung Cộng có 70 người là tỷ phú đô la Mỹ; còn trong quốc hội Mỹ không ai có tài sản đến một tỷ đô la. Người giầu nhất Trung Quốc hiện nay, với tài sản 13 tỷ, cũng là một đại biểu quốc hội từ năm 2002. Ông Tống Khánh Hậu (Zong Qinghou, 宗慶後) vốn là một người tự lập thân ở tỉnh Triết Giang. Chỉ được đi học trung học, ông đi làm công việc lao động ở một trường học tại Hàng Châu; rồi mở quán bán nước ngọt trong trường. Chung vốn với hai giáo sư, ông mở một công ty bán sữa, từ đó tiến tới một đại công ty tên là Wahaha (Oa Cáp Cáp, nghĩa là cô gái uống nước, 娃哈哈). Tống Khánh Hậu dùng quan hệ với đảng Cộng sản để mua bán với một công ty sữa lớn của Pháp là Groupe Danone, rồi dùng quan hệ với Danone để làm các cán bộ đảng kính trọng. Năm 1996 Wahaha liên kết với Danone mở nhiều công ty chung, trong đó Danone bỏ vốn 70 tỷ đô la Mỹ và được cho 51% cổ phần. Nhưng đến năm 2007, Danone tố cáo Tống Khánh Hậu đã đem tiền của các công ty chung đó mở các xí nghiệp riêng, cùng bán một thứ sản phẩm sữa. Vụ này được đưa lên báo chí khắp thế giới. Hai bên đi tới thỏa hiệp để khỏi phải ra tòa. Tạp chí Kinh Tài ở Trung Quốc còn cho biết Tống Khánh Hậu bị công an hỏi thăm về tội trốn thuế. Nhưng Tống Khánh Hậu đã trở thành một đảng viên cộng sản ngay khi đảng này mở cửa nhận các nhà tư bản, và đắc cử đại biểu quốc hội từ năm 2002, cho nên không ai nói đến tội trốn thuế nữa. Không biết đi học lại từ lúc nào mà trong tiểu sử của ông ghi ông có bằng MBA của Đại học Triết Giang. Năm 2008, mấy tờ báo loan tin cả Tống Khánh Hậu và vợ là Thi Ấu Trân (Shi Youzhen, 施幼珍) đều có “thẻ xanh,” tức là di dân thường trú ở Mỹ; và con gái hai người, Kelly Zong (Tống Phức Lợi, 宗馥莉) là công dân nước Mỹ. Điều này không đáng ngạc nhiên. Trong năm 2011 đã có 150,000 người dân Trung Cộng xin làm di dân thường trú ở Mỹ. Theo Nhật báo Wall Street Journal thì trong 12 tháng, tính đến tháng Chín năm 2012 đã có 225 tỷ đô la được chuyển từ Trung Quốc sang các nước Mỹ, Canada, Úc, vân vân. Trong khi đó thì luật lệ chỉ cho phép mỗi người dân Trung Cộng được đem ra ngoài mỗi năm tối đa 50,000 đô la! Tại Trung Quốc cũng như ở Việt Nam, các nhà tư bản đỏ đang chuyển tiền bạc ra nước ngoài, cho con cái đi du học nước ngoài, lấy vợ hay chồng ngoại quốc, trở thành dân thường trú và lấy quốc tịch ngoại quốc. Nơi nhận được nhiều tiền và đông người nhất là nước Mỹ. Con cái ông Nguyễn Tấn Dũng đã đi theo con đường du học và kết hôn đó; và chắc còn nhiều trường hợp khác. Tại Hương Cảng, khi các đại biểu đối lập tố cáo mấy nhân viên cấp “phó chưởng quan” trong chính quyền đang giữ quy chế di dân thường trú tại Mỹ, nhiều người đã xin trả lại “thẻ xanh” cho chính phủ Mỹ. Ở Trung Quốc và Việt Nam chưa thấy trường hợp nào. Đây có thể coi là là một chiến thuật trong kế hoạch rút dù, hay hạ cánh an toàn, của các lãnh tụ cộng sản. Cô Huỳnh Thục Vi coi đó là một cảnh “tháo chạy” của họ để chuẩn bị cho ngày chế độ sụp đổ. Chắc họ chưa lâm vào cảnh “tháo chạy;” nhưng vẫn cẩn thận, chuẩn bi sẵn sàng. Bởi vì họ cũng đầy đủ tin tức và có trí thông minh để hiểu rằng chế độ này không thể tồn tại mãi được. Nỗi bất mãn ngày càng gia tăng, sẽ đưa tới cảnh tức nước vỡ bờ. Hai đảng cộng sản ở Trung Quốc và Việt Nam đang tìm cách thay đổi chế độ cho bớt tàn ác, giảm bớt niềm uất hận của dân. Nhưng họ sẽ lâm vào một thế lưỡng nan. Thế lưỡng nan là: Không thay đổi thì sẽ đến cảnh tức nước vỡ bờ; nhưng nếu thay đổi thì lại mở đường cho dân đòi hỏi thay đổi nhiều hơn. Đây là một bài học của chế độ quân chủ Pháp trước cuộc cách mạng 1789. Như Alexis de Tocqueville đã nhận xét, trong cuốn “Chế độ cũ và Cách mạng” (L'Ancien Régime et la Révolution, 1856), chế độ quân chủ sụp đổ không phải vì vua Louis XVI chống lại việc thay đổi, mà vì ông ta chấp nhận thay đổi. Dân Việt Nam và dân Trung Hoa hiện nay có trình độ cao hơn dân Pháp vào thế kỷ 18. Các mạng lưới thông tin trên internet của họ cũng rộng lớn hơn. Nỗi uất ức của họ mạnh không kém. Không ai đoán trước được lúc nào sẽ đến cảnh tức nước vỡ bờ. Nhưng không cách nào tránh được. http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=163364&zoneid=7#.UUoxIkrKS6Q
......

Cái “tội” vì là con gái của người bất đồng chính kiến?!

Tôi- Huỳnh Khánh Vy là một trong những trường hợp sống động của một nguyên tắc sống dưới chế độ Cộng sản: Bạn càng im lặng nhẫn nhịn, bạn càng bị đè bẹp bởi chính sách đàn áp của cộng sản. Họ không để cho một người sống khép kín như tôi được sống một cuộc sống bình thường, giản dị và yên tĩnh. Sau một thời gian suy nghĩ, hôm nay tôi quyết định lên tiếng. Một phần để bày tỏ quan điểm cá nhân mà xưa nay vì nhiều lý do nên tôi phải yên lặng. Một phần nữa là để công khai những trò xấu xa mà chính quyền CSVN dùng để sách nhiễu tôi cũng như gia đình.   Trước tiên phải kể tới việc tôi được sinh ra trong một gia đình được coi là “ phản động”. Năm 1992, ba tôi bị chính quyền CSVN bắt giữ với tội danh “tuyên truyền chống chế độ XHCN” theo điều 88 (bây giờ là “chống Nhà nước”). Ông bị kết án 10 năm tù giam và 4 năm quản chế. Lúc bấy giờ chị em tôi vẫn còn rất nhỏ. Chị tôi, Huỳnh Thục Vy mới lên 8, tôi 6 tuổi và em trai tôi Huỳnh Trọng Hiếu 4 tuổi. Tuy mới 6 tuổi nhưng hình ảnh ba bị đám công an còng tay bắt đi vẫn hằn sâu trong ký ức non nớt của tôi. Rồi sau đó, gia đình tôi sống trong lo lắng và hoang mang. Cô tôi- Huỳnh Thị Thu Hồng không ít lần bị mời lên đồn công an để “làm việc” và họ đã hù dọa sẽ bắt bỏ tù luôn cả cô tôi. Bởi ai cũng biết rằng tình hình Việt Nam lúc đó rất tối tăm, cộng sản VN chưa bị áp lực từ cộng đồng quốc tế như bây giờ, nên họ rất hung hăng và lộng hành. Đến năm 2002, ba hết hạn tù nhưng vẫn còn 4 năm quản chế nên ba không thể làm bất cứ việc gì, gánh nặng kinh tế đều đổ dồn lên vai hai cô tôi. Do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, cùng với sự sách nhiễu không ngừng của nhà cầm quền cộng sản, nên việc học hành của 3 chị chúng tôi đều bị gián đoạn. Năm ba tôi ra tù, chị Thục Vy của tôi học lớp 12 nhưng chị phải bỏ không thi đại học sau khi tốt nghiệp cấp 3, do hoàn cảnh gia đình không cho phép, dù chị là một học sinh học rất khá của một trường tốt nhất tỉnh Quảng Nam lúc đó. Em trai tôi-Huỳnh Trọng Hiếu thì bị cấm thi tốt nghiệp cấp 2 sau khi học hết lớp 9 với xếp loại giỏi, vì lý do mà Hiệu trưởng và Hiệu phó đưa ra là “thiếu tuổi” và nhà trường tuyên bố: nếu không học lại một năm lớp 9 nữa thì vẫn tiếp tục không được thi tốt nghiệp. Sau sự việc này, con trai thầy Hiệu phó của trường em trai tôi nhận được việc làm ngay trong một công ty quốc doanh lớn, rồi được thăng chức thành trưởng phòng không lâu sau đó, rồi được cấp đất ở thành phố Tam Kỳ. Sự việc này dường như khó tin nhưng đó là sự thật-một sự thật về sự đàn áp bẩn thỉu mà chính quyền này đã áp đặt lên việc học hành của em trai tôi. Nhưng lúc đó gia đình tôi không biết kêu gọi sự giúp đỡ của ai. Từ một vùng quê nghèo khổ, cả gia đình tôi phải sống trong sự sách nhiễu thường xuyên, trong sự nghèo đói và bị bỏ rơi. Tôi là người duy nhất trong gia đình được đi học đại học sau 3 năm đi làm công nhân cho một công ty của Nhật Bản. Gia đình đã đặt rất nhiều hy vọng vào tôi, rằng sau khi tốt nghiệp đại học tôi có thể có việc làm tốt và chia sẻ bớt gánh nặng kinh tế của gia đình. Nếu tôi cũng lên tiếng, tôi sẽ bị đuổi học và ai sẽ là người hiểu cho hoàn cảnh thất học của tôi? Đó là lý do khiến cho tôi phải yên lặng, không hề tham gia bất cứ hoạt động lên tiếng nào cùng với gia đình. Mặc dù, tôi nhận thức rõ những bất công cũng như tội ác kinh khủng của CSVN đã gây ra với đất nước và dân tộc này. Tôi nghĩ rằng nếu mình yên lặng thì họ sẽ để yên cho tôi và như vậy tôi có thể đi làm và giúp đỡ gia đình và đó cũng là cách tôi ủng hộ những việc làm của ba, của chị Hai và em trai tôi. Nhưng mọi việc không như tôi nghĩ, đến tháng 12 năm 2011 sau hai trận bố ráp của an ninh tỉnh Quảng Nam và sau đó là ba Quyết định xử phạt được áp đặt cho ba, chị Hai và em trai tôi là những trò xấu xa đối với vợ chồng tôi. Đầu tiên, an ninh thành phố Đà Nẵng tới Công ty tôi thực tập (ở Đà nẵng) đe dọa Giám đốc để họ không ký giấy thực tập Tốt nghiệp cho tôi. Cũng may Hồ sơ thực tập của tôi đã được ký trước đó hai ngày. Tiếp đó, họ đến khoa Ngoại Ngữ trường đại học nơi tôi đã từng theo học, để “làm việc” với Khoa trước khi tôi bảo vệ luận văn tốt nghiệp. Luận văn Tốt nghiệp của tôi là Bản dịch thuật một báo cáo hằng năm của Human Rights Watch về tình hình đàn áp Nhân quyền ở Ai Cập trước khi chế độ Hosni Mubarak sụp đổ. Họ cố tình can thiệp, đẹ dọa Nhà trường nhằm mục đích không cho tôi tốt nghiệp, nhưng do kết quả học tập cũng như sự bảo vệ của cô giáo chủ nhiệm, tôi đã được ra trường với kết quả bảo vệ luận văn không cao như tôi nghĩ. Đến ngày 1/7/2012 hai vợ chồng tôi cùng với vợ chồng chị Thục Vy và em trai tham gia biểu tình chống Trung Quốc để bày tỏ lòng yêu nước, bảo vệ chủ quyền quốc gia. Đổi lại, những gì chúng tôi nhận được từ chính quền CSVN là sự bắt bớ và đánh đập, chị gái tôi bị bắt cóc đưa về Quảng Nam, riêng chồng tôi bị tịch thu laptop chuyên dụng trị giá gần 20 triệu với lý do là “khấu trừ vào tiền phạt” của chị Thục Vy. Cũng từ khi đó, họ tăng cường sách nhiễu vợ chồng tôi như: nửa đêm đến đập cửa quát tháo đòi kiểm tra tạm trú, chặn xe giữa đường kiểm tra xe và đòi tịch thu giấy tờ xe, cho côn đồ lấy cắp máy tính ở nhà trọ của vợ chồng tôi, áp lực với chủ nhà không cho tôi thuê nhà, gọi điện sách nhiễu giám đốc Công ty nơi chồng tôi làm việc, nghe lén điện thoại…Còn buồn cười hơn nữa là ngày đám cưới tôi có một tên an ninh Đà Nẵng tới “hỏi thăm” và đi theo chúng tôi tới tận nhà hàng, đợi đến khi hết tiệc mới ra về. Những sách nhiễu đó không đủ để truyền thông quan tâm đến vợ chồng tôi nhưng là quá nhiều để vợ chồng tôi có thể sống một cuộc sống bình thường. Bao lâu nay, vợ chồng tôi vẫn âm thầm chịu đựng những sách nhiễu bẩn thỉu như thế, vì không có sự quan tâm của truyền thông, cũng vì chúng tôi là những người vô danh. Những lần lên tiếng của ba và chị tôi về tình hình bị sách nhiễu của vợ chồng tôi cũng không được ai quan tâm, chúng tôi cảm thấy vô cùng cô đơn. Tôi thực sự muốn biết mình đã làm gì khiến chính quyền này phải “bận tâm” như vậy. Gần đây, tôi làm hồ sơ xin học bổng du học tại Úc. Cách đây hơn hai tuần tôi có nhờ giáo viên chủ nhiệm-người mà xưa nay tôi thầm kính trọng về tư cách- làm người viết thư giới thiệu tôi. Ban đầu cô vui vẻ đồng ý nhưng hai hôm sau tôi đến gặp, cô nói có một vài việc gia đình nên chưa ký được. Cô hẹn tuần sau sẽ ký. Nhưng hai ngày sau thì tôi sinh em bé. Tôi nhờ chồng liên lạc với cô. Qua điện thoại, cô nói đã có việc rắc rối và cô mời chồng tôi lên Khoa Ngoại ngữ của trường nói chuyện. Chồng tôi lên, được cô cho biết là công an Đà Nẵng đã gửi công văn xuống cho trường yêu cầu không được dùng con dấu của trường vào mục đích khác(?!) và cấm sinh viên dùng Facebook. Tôi nghĩ việc xác nhận và giới thiệu cho một sinh viên cũ của mình là một việc hoàn toàn bình thường và không có gì là khó khăn cả. Nhưng cả đến việc nhỏ như vậy chính quyền CS cũng phải dùng tới một công văn chỉ đạo cấm đoán. Chắc hẳn, họ phải thù ghét gia đình tôi đến tột cùng nên muốn chặn mọi đường sống và tiến thân của chúng tôi như thế. Đến lúc này thì tôi thấy mình không thể yên lặng thêm được nữa, dù tôi có yên lặng họ cũng không để yên cho vợ chồng tôi. Thế nên hôm nay tôi quết định lên tiếng và từ nay về sau tôi sẽ còn tiếp tục nói để họ thấy rằng tôi không bị đè bẹp như họ nghĩ. Tôi sẽ lên tiếng bảo vệ cuộc sống của vợ chồng tôi, cũng là để bảo vệ cuộc sống của cô con gái mới sinh của mình, góp phần vạch trần những bất công trong xã hội cộng sản này, đặc biệt là những sách nhiễu nhắm vào những gia đình bất đồng chính kiến như gia đình tôi. Tôi sẽ làm tất cả để sát cánh cùng gia đình mình lên tiếng phản đối những thối nát của hệ thống cộng sản này. Và tôi rất mong công luận sẽ ủng hộ, bảo vệ vợ chồng tôi. Khánh Vy ngày 17/3/2013 Nguồn http://www.danchimviet.info/archives/74222/cai-toi-vi-la-con-gai-cua-nguoi-bat-dong-chinh-kien/2013/03
......

BÃO NỔI LÊN RỒI

Mùa xuân vừa đến và cảnh vật dường như còn chứa đựng cái vẻ êm đềm, nhẹ nhàng của những ngày đầu năm se lạnh, nhưng đâu đây dường như có những cơn sóng ngầm đang âm ỉ trào dâng, và tôi nghe những cơn gió hình như đang thổi ngày càng mạnh mẻ. Phải chăng những dấu hiệu của một cơn bão đang nổi lên rồi?   Mùa xuân và bão tố, một kết hợp ít sự chờ mong. Nhưng không, tôi thấy vạn niềm vui trong ánh mắt của dân tôi đang khát khao đợi chờ. Tôi cảm nhận một sự háo hức, nức lòng của anh em tôi trên những trang báo điện tử vì họ đang thể hiện tiếng nói tự do của mình mà bao năm qua vẫn còn rụt rè, e sợ. Đúng vậy! Cơn bão đòi hỏi dân chủ nhân quyền cho dân tôi đang đến. Nó đang còn là những cơn gió tụ họp lấp ló từ xa, nhưng tôi đã cảm nhận dược sức mạnh vô cùng của nó. Đó là những cơn gió của “Triệu con Tim, Một Tiếng Nói”, của “Kiến Nghị 72”, của “Lời Tuyên Bố Của của các Công Dân Tự Do”, của “Nhận Định và Góp Ý Sửa Đổi Hiến Pháp của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam”, và của những gì mà ta chưa biết đến.   Khi tôi gởi thư để ký tên vào bản “Lời Tuyên Bố của các Công Dân Tự Do” hôm Thứ Sáu, thì số chữ ký đang ở khoảng 800, nhưng hôm nay, Chủ Nhật, ngồi viết lên cảm nghĩ của mình, tôi đã thấy con số 3,300. Chỉ trong vòng một, hai ngày mà số người ký tên đồng tuyên bố đã tăng thêm 2,500. Một con số kỷ lục mà tôi chưa được thấy trong những năm qua. Nó đã nói lên một điều là hình như chúng ta đã tìm được một đáp số cho bài toán đồng thuận mà trong bao năm qua nhiều người đang mải mê tìm kiếm. Mà thật là thú vị khi người giải bài toán khó đó là một nhà báo trẻ vừa bị mất việc vì sự lý giải của mình. Nguyễn Đắc Kiên, anh quả thật là một cánh én báo mùa xuân của dân tộc!   Để biện luận cho sự xác định của mình, tôi xin được nêu ra một vài chữ ký. Chữ ký của bác sĩ Nguyễn Đan Quế, của Linh Mục Phan Văn Lợi, Linh Mục Guise Đinh Hữu Thoại, của Linh Mục Peter Nguyễn Văn Hùng, Linh Mục Nguyễn Văn Khải, Luật sư Lê Thị Công Nhân, Nhà Đấu Tranh cho Dân Chủ Nguyễn Gia Kiểng, Blogger Huỳnh Thục Vy, Phạm Thanh Nghiên, Nhà thơ Bùi Chát, Blogger Mẹ Nấm, Blogger Huỳnh Ngọc Chênh, Nhạc sĩ Tô Hải, Mục Sư Nguyễn Trung Tôn, Luật sư Nguyễn Bắc Truyển, Nhà báo Bùi Tín, Nguyễn Văn Bông tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo, và nhiều Bloggers, nhiều trí thức trong và ngoài nước, nhiều sinh viên và mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam. Chúng ta có thể nói đây là một đáp số chung vì nó chỉ khẳng định một hướng đi đúng đắn cho dân tộc và xác định những quyền căn bản của con người đã được Liên Hiệp Quốc và nhân dân Việt Nam công nhận. Nó không chứa đựng những gì thuộc về quá khứ mà có thể là nguyên nhân của những nghi kỵ hay bất đồng. Nó là thể hiện một tình yêu quê hương và một ý nguyện trong sáng cho tương lai dân tộc, dựa trên kinh nghiệm phát triển thực tế của cộng đồng nhân loại. Bài toán thật sự khó khăn vì trên căn bản nó là một đề tài đã được hóa giải ở nhiều nơi trên thế giới nhưng lại là vùng cấm ở một vài xứ độc tài Cộng Sản mà thật không may đang có Việt Nam ta. Lời giải của nó thật không có gì khác hơn là mỗi công dân mạnh dạn thể hiện ý chí của mình bằng những lời khẳng định về ước vọng sống và quyền hạn của mỗi cá nhân, bất chấp những đe dọa và sự trù dập, như những lời khẳng định của nhà báo Nguyễn Đắc Kiên qua lá thư trả lời những phát biểu phản tiến bộ của ông tổng bí thư đảng Cộng Sản Nguyễn Phú Trọng.   Bão nổi lên rồi!   Nhưng trận cuồng phong nầy có đủ sức đánh đổ chế độ độc tài toàn trị hay không, là còn tùy thuộc vào hành động của mỗi người công dân Việt Nam trong và ngoài nước.   Hành động đầu tiên là ký tên vào “Lời Tuyên Bố Của của các Công Dân Tự Do” để mạnh dạn khẳng định ước vọng và quyền hạn của mình. Số người ký tên càng đông thì sức mạnh của sự liên kết cho một lý tưởng càng trở nên to lớn, và những đòi hỏi chính đáng của mình càng sẽ dễ dàng biến thành hiện thực. Số đông sẽ làm cho người dân bình thường mới hôm nào đây còn e sợ, thì giờ đây đã trở nên mạnh bạo và dũng cảm. Nhưng chúng ta cũng không quên rằng mỗi một cá nhân dù cho nhỏ bé đến đâu cũng có thể làm cho cả một chế độ độc tài run sợ vì cái chính nghĩa của mình và nhờ những phương tiện truyền thông đang nối kết con người gần lại với nhau. Cho nên một ngàn người mà kiên quyết liên kết với nhau thì cũng làm nên chuyện lớn, và một triện người cùng chung lý tưởng thì dân tộc chắc chằn sẽ thoát khỏi cảnh bị đọa đày và đất nước sẽ thoát khỏi nguy cơ bị xâm chiếm.   Từ sự thành công của “Lời Tuyên Bố của các Công Dân Tự Do”, chúng ta có thể dùng chung một phương tiện để tiến hành những bước kế tiếp, chẳng hạn rủ nhau xuống đường để đòi quyền lập hiến. Khi một ngày đã được xác định, thì mọi người cùng gởi emails về 3 địa chỉ đáng tin cậy để cùng hẹn nhau xuống đường. Số người đồng ý tham gia sẽ được cập nhật và đăng tải trên ba trang mạng độc lập mà không cần đăng tên tuổi. Như vậy tuy chúng ta sẽ không có yếu tố bất ngờ nhưng sẽ có ưu thế sồ đông mà không một lực lượng nào có thể đàn áp nổi. Đây chỉ là một thí dụ của một chiến lựợc đơn thuần, nhưng chắc chắn các công dân tự do sẽ tìm ra nhiều cách để đi những bước kế tiếp.   Về phía những người lãnh đạo của đảng Cộng Sản, họ cũng phải tự hiểu rằng thời điểm cho một sự thay đổi đã đến. Nều họ biết thức thời và tìm con đường hòa hợp tốt nhất thì hãy chịu sự thay đổi như những đòi hỏi của các công dân tự do hay ít nhất cũng bắt đầu những đổi thay như đã và đang xảy ra ở Miến Điện. Cái thời điểm cho sự thay đổi tốt nhất là ngay từ khi thấy có những khởi đầu của một cuộc cách mạng. Còn nếu cứ bám giữ sự độc tài toàn trị và mạnh tay đàn áp nhân dân thì phần nhiều cái kết cục sẽ rất bi thương như chúng ta đã thấy trong các cuộc cách mạng mùa Xuân Ả Rập, hay ở các nước Đông Âu ngày nào.   Đây là thời điểm cho một sự thức tỉnh như lời Nguyễn Đắc Kiên đã nói trong bài thơ Vì Người Ta Cần Ánh Mặt Trời:  bao thế hệ đã ngậm ngùi mắc nợ, lũ chúng ta lẽ nào lại mắc nợ mai sau, còn chần chừ gì mà không tỉnh dậy mau, sống cho xứng danh xưng con người trên mặt đất. tôi chưa thấy một đêm nào dài thế, cũng chưa thấy có ngày mai nào không thể. vì người ta cần ánh mặt trời, tỉnh dậy đi lũ chúng ta ơi!  “tỉnh dậy đi lũ chúng ta ơi!” – có lẽ không chỉ là lời lay tỉnh cho nhân dân Việt Nam đang chịu nhiều đau khổ, mà còn cho cả những người lãnh đạo đất nước hiện nay.
......

Tưởng niệm Gạc Ma - Vòng tròn bất tử trên biển bằng những ngọn nến!

Rút kinh nghiệm từ những chuyện trước đây, bị “kẻ xấu cản phá” như buổi nói chuyện về biển đảo của bác Nguyễn Nhã, buổi liên hoan mừng ngày 8/3, buổi đặt hoa tưởng nhớ những đồng bào và chiến sĩ đã hy sinh trong chiến tranh biên giới năm 1979, mấy anh chị em chúng tôi lẳng lặng làm một chuyến ra biển thả hoa đăng, tưởng nhớ 64 liệt sĩ hy sinh năm 1988 tại các đảo thuộc Trường Sa.   Đến việc tâm linh cũng không dám công khai rủ nhau trên mạng, sợ hỏng việc. Lựa chán rồi mấy anh chị em mới chọn Hải Phòng làm nơi thả hoa đăng., kết hợp thăm các gia đình liệt sĩ. Có người biết việc làm của chúng tôi, nhưng bận không đi được đều đóng góp ít nhiều. Mỗi người một việc, rốt cục chúng tôi cũng lên đường “Hải Phòng tiến” vào chiều 13/3. Để tránh sự chú ý của những kẻ phá bĩnh, mọi người muốn khi nào làm lễ tưởng niệm mới mặc áo phông, nhưng tôi cứ diện chiếc áo có in những dòng chữ, ghi dấu các địa danh và sự kiện ngày 14/3 ngay từ đầu. Khi xe đã lăn bánh, mọi người mới tạm thở phào nhẹ nhõm, cảm thấy hệt như mình đang đi ra trận vậy.   Mặc dù đã chuẩn bị chu đáo thế, dọc đường xe vẫn phải dừng lại, để mấy vị đàn bà rẽ vào chợ mua thêm ít đồ. Trong khi tôi cũng lượn lờ vào chợ, ngắm nghía hàng quán thì bỗng một chị trong đoàn bảo:    -           Này! Dân ở đây họ biết cả đấy. Chị nghe thấy họ xôn xao bảo nhau:  Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam đấy. Thế là chị hỏi: sao các bác biết? Họ chỉ, cái áo chị kia mặc áo in những chữ Hoàng Sa, Trường Sa, Việt Nam đấy còn gì?   Tất cả chúng tôi cùng a lên thích thú, cảm thấy hân hoan và ấm lòng. Vậy là người dân ho đã biết và không thờ ơ, dù chỉ với những dòng chữ trên một chếc áo phông bình thường của khách qua đường.   Một cô còn lo lắng hỏi:   -           “Nó” sắp lấy hết đảo của mình chưa ạ?   Bà bên cạnh gắt:   -           Lấy là lấy thế nào?   Hay! “Nó” lấy được hay không là do dân ta cả thôi. Chả cần tuyên truyền gì. Dân ta muôn năm.   Xe lại tiếp tục bon bon. Mọi việc khởi đầu có vẻ tốt đẹp. Đêm qua trời chợt đổ mưa khiến ai nấy đều lo lắng. Sớm nay vẫn còn lất phất mưa bay. Vậy mà trời gần trưa bỗng hửng nắng, hoàn toàn khô ráo và mát mẻ.   Đến Hải Phòng là hơn 5 giờ chiều. Đã có đại diện hai gia đình liệt sĩ nhập vào đoàn . Tất cả chúng tôi vào nghỉ ở khách sạn Xây dựng. Để tiết kiệm tối đa, đám đàn bà còn mang theo lỉnh kỉnh đồ ăn, Xuống nhà hàng chỉ gọi cơm canh và thêm chút thức ăn. Vậy mà khách sạn chẳng khó chịu gì, vẫn vui vẻ phục vụ. Sau đó, chúng tôi mượn khách sạn một hội trường nhỏ, treo băng rôn đàng hoàng để làm lễ tưởng niệm, tặng quà cho gia đình liệt sĩ. Cảm động nhất là giây phút Nguyễn Xuân Diện đọc bài văn tế. Giọng Xuân Diện có lúc nghẹn ngào, run rẩy, những cặp mắt bỗng đỏ hoe, đây đó tiếng sụt sịt của đám phụ nữ…   Trời về khuya trở nên ẩm ướt vì sương đêm. Chúng tôi đi ra bến Nghiêng, nơi xuất phát  của “Đoàn tàu không số” năm xưa để thả hoa đăng. Khi xe chở vòng hoa tới, ai nấy đều trầm trồ vì nó quá to và đẹp. Vì đa phần các anh đều hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ, nên vòng hoa kết toàn màu trắng tinh khôi.   Ban đầu chúng tôi chỉ định đốt nến rồi thả hoa và hoa đăng ngay trên bờ biển, nhưng rồi lại đổi ý, thuê tàu ra xa bờ để thả. Trong khi còn “cò kè mặc cả”, một người mà chúng tôi tưởng là nhà tàu hóa ra là an ninh thuộc đồn biên phòng Đồ Sơn. Điều khiến chúng tôi ngạc nhiên là họ không hề có ý ngăn cản việc làm của chúng tôi mà còn rất nhiệt tình giúp đỡ. Trong số tiền thuê tàu từ 1 triệu rưỡi xuống còn 1 triệu, nhân viên an ninh nói sẽ trả cho nhà tàu 500 ngàn, còn chúng tôi chỉ phải trả 500 ngàn. Cậu an ninh còn nói, thủ trưởng của cháu giao cho cháu thu xếp chỗ nghỉ cho đoàn, nếu các cô chú chưa kịp đặt khách sạn. Từ ngạc nhiên đi đến cảm động. Từ nghi kỵ đi đến thân tình. Ban đầu khi cậu này lẵng nhẵng bám theo đoàn, chúng tôi còn tưởng an ninh nên cứ đuổi quầy quậy. Hóa ra là an ninh thật, nhưng là an ninh quân đội, và là an ninh tốt!   Sương mù mỗi lúc một dày đặc. Chúng tôi đi trên tấm ván hẹp dẫn lên tàu (hoặc là ca nô). Riêng chiếc vòng hoa to quá, chúng tôi không biết làm thế nào để đem lên theo. Đang loay hoay thì cậu an ninh đồn biên phòng Đồ Sơn bảo: để cháu! Và cậu ta đội chiếc vòng hoa lên đầu, băng băng chạy trên tấm ván hẹp. Vòng hoa được đặt trên sàn tầng 2. Trong khi chúng tôi đốt nến, đặt hoa đăng lên xung quanh vòng hoa, cậu an ninh bảo: hương đâu? Sao không có hương?   Ừ nhỉ. Chẳng ai nghĩ ra. Làm gì có ai có kinh nghiệm trong chuyện này. Cậu an ninh lại bảo: để cháu! Câu ta phóng lên bờ. Lát sau quay trở lại với đầy đủ tiền vàng, hương và …thuốc lá.   Sáu mươi tư liệt sĩ. Sáu mươi tư ngọn nến và hoa đăng đặt quanh vòng hoa đại, làm thành một vòng tròn bất tử. Nguyễn Xuân Diện quỳ xuống sàn tàu, đọc lại bài văn tế. Mọi người cùng quỳ quanh vòng hoa, chắp tay trước ngực. Sương đêm ướt đẫm, mịt mù. Nhà tàu phải đưa đèn pin để một người soi cho Diện đọc. Con tàu tròng trành đi vào trong làn sương dày đặc, mang theo khói hương nghi ngút và những ngọn nến lung linh trong đêm, mang theo tiếng rì rầm cầu nguyện Nam mô a di đà Phật. Trong đoàn chúng tôi có hai người theo đạo công giáo. Họ cũng quỳ xuống đọc kinh, tưởng nhớ các liệt sĩ theo nghi thức bên công giáo.   Có lẽ không mấy ai có dịp chứng kiến những giây phút như thế này trong đời. Ai nấy đều rưng rưng trong lòng, như cảm nhận được anh linh các liệt sĩ đã phù hộ độ trì cho chúng tôi được an lành đến với các anh.   Cậu an ninh nói: thuốc lá cháy như thế này là các anh ấy về đấy.   Chúng tôi nghẹn ngào: đúng rồi, các anh ấy về đấy. Nếu không làm sao chúng tôi gặp được nhiều may mắn đến thế này.   Gió rất mạnh, nhiều lần thổi tắt nến, nhưng hương và thuốc lá vẫn cháy nghi ngút. Chúng tôi thắp cho các anh hai tuần thuốc lá xong, mới thả vòng hoa xuống biển. Con tàu quay mũi, đưa chúng tôi vào bờ. Khi chúng tôi trả đủ môt triệu chứ không bớt như lúc đầu mặc cả, cậu an ninh nhất định không chịu lấy, bảo không nói 2 lời.   Về khách sạn, chúng tôi ngồi lựa ảnh, post lên mạng. Tôi định viết bài, kể lể ngay, nhưng nhiều khi cảm xúc tràn ngập quá cũng không viết nổi. Khi tôi đóng máy tính lại là đã gần 3 giờ sáng ngày 14/3. Cứ để nguyên quần áo đi đường, đăt lưng xuống là tôi chìm ngay vào giấc ngủ.   Ngày 14/3, chúng tôi chọn đường về Hà Nội qua ngả Thái Bình, để thăm thêm 3 gia đình liệt sĩ nữa. Mỗi một lần chủ khách chia tay là một lần bịn rịn, lưu luyến dù là lần đầu gặp mặt. Hai mươi lăm năm qua, hẳn chẳng có mấy khách phương xa nào quan tâm đến sự hy sinh của chồng, cha, con em họ. Hai mươi lăm năm qua, bao nhiêu người trong gần 90 triệu người Việt Nam biết đến video clip, do quân Trung Quốc quay cảnh bắn bộ đội ta ở Gạc Ma vào ngày 14/3/1988?   Ngay cả những người trong gia đình anh hùng liệt sĩ Trần Đức Thông ở Thái Bình, là những người có ít nhiều chức vị trong xã hội, cũng chưa một lần biết đến clip do lính Trung Quốc quay và đưa lên mạng, khoe khoang về hành động man rợ của chúng. Họ không thể hình dung ra người thân của họ đã ngã xuống như thế. Nhưng lệnh không đươc nổ súng, ngay cả khi quân thù nã đạn vào con em họ thì nhiều người biết. Đau đến nghẹn cả thở.    "Máu ai loang cả mạn tàu!  Máu ai hòa theo nước biển!   Xót thay!   Nam nhi hề, vai khoác chiến y,  Chiến sĩ hề, ai về đầu bạc?  Chuyện nhục vinh thì cứ luận bàn,  Đường sinh tử có ai không thác?  Luận anh hùng ai kể bại thành,  Xét chí khí nên coi cao thấp.   Hôm nay,   Thắp nén tâm hương ,  Tưởng người tiết liệt.  Gương hiếu trung mãi mãi  chẳng phai mờ,  Máu hào kiệt ngàn đời không đổi sắc.  Hiếu với dân chẳng quản máu xương rơi,  Trung với nước đâu chờ bia đá tạc!   Ô hô! Có linh xin hưởng!"   (http://phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=15442)   Kể thêm chuyện bên lề:     -          Khi in băng rôn, chủ hiệu đã giảm giá từ 150 ngàn xuống còn 50 ngàn, khuyến mại thêm lời dặn: lần sau những gì liên quan đến phản đối Trung Quốc thì cứ đem đến đây.   -           Khi làm thủ tục trả phòng ở khách sạn Xây dựng, do anh em trong đoàn “cẩu thả”, đem dép từ phòng này sang phòng khác, làm nhân viên dọn phòng tưởng mất. Trong khi mọi người còn đang truy tìm, ông giám đốc khách sạn biết chuyện bèn “quát” nhân viên không được hỏi, để yên cho “đoàn” đi.   -           Sau khi đoàn về Hà Nội rồi, cậu an ninh ở bến Nghiêng - Đồ Sơn (thuộc đồn biên phòng Đồ Sơn) gọi điện cho một người trong đoàn, thú nhận rằng cảm thấy rất xấu hổ về bản thân khi chứng kiến lễ tưởng niệm này. Cậu nói mặc dù cũng là lính hải quân, có biết về Gạc Ma, nhưng lại chưa hề biết về sự hy sinh của lớp “đồng đội” năm xưa như thế nào. Cậu đề nghị lần sau nếu có những hoạt động như thế, thì cho cậu tham gia với.   -           Ở đâu người ta cũng hỏi chúng tôi thuộc tổ chức nào, đoàn thể nào. Xem ra vẫn còn thói quen của mấy chục năm, về một cuộc sống mà cái gì cũng chịu sự quản lý và lãnh đạo của đảng và nhà nước, nên ngay cả việc chia sẻ tình cảm cũng phải chờ chỉ đạo, theo kiểu khi nào nhà nước hô: Khóc! Thế là nhất loạt mới được òa lên khóc, chứ không được khóc tùy tiện. Nguồn: http://chimkiwi.blogspot.com/2013/03/
......

Gia Đình Các Thanh Niên Yêu Nước Gặp Đại Diện 6 Sứ Quán: Hãy Giúp Xoá Bỏ Điều 79

Sáng ngày 14/3/2013 gia đình 14 Thanh Niên Yêu Nước (TNYN) vừa bị kết án nặng nề tại phiên toà sơ thẩm Vinh liên quan đến điều 79, đã cùng nhau đến Đại Sứ Quán Canada, Hà Nội để gặp gỡ các vị đại diện ngoại giao của các nước Canada, Hoa Kỳ, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Na-Uy và Liên Hiệp Âu Châu. Sau phần giới thiệu nhân sự hai bên, anh Hồ Văn Lực đại diện phái đoàn gồm 7 thân nhân, trình bày các dẫn chứng cụ thể để cho thấy mức độ vi phạm nhân quyền và vi phạm chính luật pháp của chế độ trong toàn vụ bắt cóc, giam cầm, và xét xử các TNYN. Các gia đình cũng gởi đến từng đại diện các nước này danh sách 28,480 chữ ký ủng hộ Bản Lên Tiếng của các gia đình, đòi trả tự do lập tức cho các nạn nhân. Anh Hồ Văn Lực, sau đó, đã đưa ra các đề nghị cụ thể đến đại diện các Toà Đại Sứ như sau: - Cử đại diện ngoại giao đến tham dự phiên tòa phúc thẩm sắp tới của các TNYN, - Áp lực nhà cầm quyền phải để cho gia đình thăm viếng những Thanh Niên Yêu Nước và để luật sư tiếp xúc với các TNYN theo đúng luật tố tụng hình sự, - Ủng hộ người Việt Nam trong nỗ lực xóa bỏ điều 79 luật hình sự (tội âm mưu lật đổ nhà nước) mà nhà cầm quyền đang lạm dụng để chà đạp nhân quyền tại Việt Nam, và - Lên tiếng trước công luận thế giới về việc công an, an ninh Việt Nam đàn áp thân nhân, bạn bè đến tham dự phiên toà, ủng hộ tinh thần yêu nước, thương dân của các Thanh Niên Yêu Nước.    Đại diện các sứ quán lần lượt bày tỏ niềm cảm thông sâu xa với các gia đình. Các vị này đều cho biết đang theo dõi rất sát sự việc và cảm kích trước con số hơn 28 ngàn chữ ký ủng hộ trong một thời gian rất ngắn. Các đề nghị cũng đã được trân trọng đón nhận và cố gắng đáp ứng vì phù hợp với quan điểm về nhân quyền của các nước này. Một điểm được nhấn mạnh là tính phổ cập của nhân quyền. Đây là giá trị của cả nhân loại, kể cả dân tộc Việt Nam. Gặp gỡ các đại diện ngoại giao các nước tại Toà Đại Sứ Canada   Được biết đại diện các sứ quán đã chủ động đề nghị tụ tập lại một nơi để tiết giảm công sức của các gia đình mà họ biết đã lặn lội từ Vinh ra Hà Nội. Buổi tiếp kiến, nhận hồ sơ đã diển ra trong vòng 50 phút trong tinh thần cởi mở, thông cảm và gắn bó. Buổi gặp gỡ đã chấm dứt vào lúc 10:30AM ngày 14 tháng 3 năm 2013 trong tinh thần đề cao giá trị con người và nhân quyền không biên giới.  http://thanhnienconggiao.blogspot.com.au/2013/03/tin-nong-gia-inh-cac-th...
......

Liên minh các tổ chức phi chính phủ kêu gọi LHQ áp lực VN thả blogger bị cầm tù Lê Quốc Quân

THÔNG CÁO BÁO CHÍ 13 tháng 3 năm 2013   Hôm nay, một liên minh rộng lớn của các tổ chức nhân quyền đã kêu gọi các tổ chức giám sát của Liên Hợp Quốc về tự cho bày tỏ và các quyền con người hãy can thiệp và bảo đảm thả ngay lập tức blogger và người bảo vệ nhân quyền Lê Quốc Quân.   Lê Quốc Quân đã bị kiên giam trong tù kể từ khi ông bị bắt vào ngày 27 Tháng 12 năm 2012 về những cáo buộc trốn thuế. Ông đã được phép gặp luật sư của ông chỉ có hai lần và đã bị từ chối gặp gia đình ông. Lê Quốc Quân từ lâu đã bị nhà chức trách Việt Nam đặt tầm ngắm vì công việc nhân quyền của ông. Là một luật sư, ông biện hộ cho nhiều nạn nhân của vi phạm nhân quyền, nhưng đã bị trục xuất ra khỏi luật sư đoàn trong năm 2007 vì nghi ngờ tham gia “hoạt động lật đổ chế độ”. Bất chấp những mối đe dọa như vậy, ông tiếp tục vận động nhân quyền và kết quả là ông đã bị bắt nhiều lần kể từ đó. Trong tháng 8 năm 2012, ông đã phải nhập viện sau khi bị đánh đập dã man gần nhà của mình bởi những kẻ tấn công không xác định. Vụ tấn công đã không được điều tra.   Các tổ chức Media Legal Defence Initiative, Lawyers’ Rights Watch Canada, Lawyers for Lawyers, Access Now, Media Defence – Southeast Asia, Electronic Frontier Foundation, RSF, Frontline Defenders, English PEN, Avocats Sans Frontières Network, Index on Censorship và Article 19 đã yêu cầu Báo cáo viên đặc biệt của LHQ về tự do ngôn luận, những người bảo vệ nhân quyền và tự do lập hội, thay mặt cho Lê Quốc Quân, hãy tiến hành một cuộc can thiệp khẩn cấp với chính quyền Việt Nam.   Chi tiết trong bản kiến nghị, liên minh lập luận rằng ông Lê Quốc Quân bị bức hại vì trang blog hợp pháp và ủng hộ nhân quyền của ông, việc này vi phạm quyền tự do phát biểu và tự do lập hội của ông. Họ lập luận xa hơn rằng Việt Nam vi phạm trắng trợn của các nguyên tắc trong Tuyên ngôn LHQ về Người Bảo vệ Nhân quyền.   Kiến nghị cũng đã gửi song song đến Nhóm công tác LHQ về Giam giữ Độc đoán, yêu cầu chính thức tuyên bố rằng Lê Quốc Quân bị giam giữ tùy tiện và yêu cầu Chính phủ Việt Nam thả ngay lập tức.   Cả hai kiến nghị có thể được tải về từ trang web của Media Legal Defence Initiative: nhấn vào đây để tải lá thư cho Báo cáo viên đặc biệt và ở đây cho Nhóm công tác LHQ về giam giữ độc đoán.   Để biết thêm thông tin, xin vui lòng liên hệ:  Nani Jansen, Senior Legal Counsel, Media Legal Defence Initiative: nani.jansen@mediadefence.org and +44 780 540 4089  Gail Davidson, Executive Director, Lawyers’ Rights Watch Canada: lrwc@portal.ca and +1 604 738 0338  Adrie van de Streek, Executive Director, Lawyers for Lawyers: info@lawyersforlawyers.nl and +31 626 274 390  Mike Rispoli, Campaign and Media Strategy, Access Now: mike@accessnow.org and +1 732 890 5564  HR Dipendra, Director, Media Defence – Southeast Asia: dipendra3000@gmail.com and +60 13 366 1222 Eva Galperin, Senior Policy Analyst, Electronic Frontier Foundation: eva@eff.org and +1 415 436 9333  Benjamin Ismail, Head Asia-Pacific Desk, Reporters Without Borders: asie@rsf.org and +33 1 44 83 84 84 Mary Lawlor, Executive Director, Frontline Defenders: mary@frontlinedefenders.org  Jo Glanville, Director, English PEN: jo@englishpen.org and +44 20 7324 2535  François Cantier, Honorary President of Avocats Sans Frontières France, Avocats Sans Frontières Network: coordination@asf-network.com and +33 5 34 31 78 50  Kirsty Hughes, Chief Executive, Index on Censorship: enquiries@indexoncensorship.org  Agnes Callamard, Executive Director, Article 19: info@article19.org and +44 20 7324 2500  
......

Thử tìm hiểu những mắt xích bị đứt trong trận Trường Sa 14/3/1988

Trận Trường Sa ngày 14/3/1988 đã xẩy ra cách đây một phần tư thế kỷ, nhưng cho đến nay, để tìm hiểu thêm về trận đánh này người ta vẫn thấy có những khoảng trống khó hiểu. Quân sự của CSVN có ghi chép một số sự kiện về biến cố này, tuy nhiên với thói quen cố hữu cạo sửa, uốn nắn lịch sử cho mục tiêu tuyên truyền và nắm quyền của đảng, những ghi chép này có thể không hoàn toàn trung thực theo như nghĩa “sử” của nó. Còn đảng CSVN vẫn khoe rằng họ lãnh đạo đất nước đi “từ chiến thắng này sang chiến thắng khác” nhưng hai biến cố lớn và quan trọng là Trường Sa 1988 và trận biên giới phía bắc trước đó lại không được khoe ra và hoàn toàn không được một sử sách nào của họ đề cập đến. Có lẽ hình ảnh rõ rệt và duy nhất về trận đánh Trường Sa là video tuyên truyền của Trung Cộng được tung trên mạng internet từ năm 2008. Qua đó, người ta thấy những người lính Việt Nam đang lom khom dưới biển, nước ngập tới lưng. Sau mấy tiếng “tả, tả, tả!....” (đánh, tấn công), các súng lớn súng nhỏ trên tàu chiến Trung Cộng thi nhau xả đạn vào những người lính và ba con tàu của Việt Nam. Tường thuật của 9 chiến sĩ VN sống sót trở về đi vào chi tiết và cận cảnh hơn, làm nổi rõ thêm sự tàn bạo của lính Trung Cộng được ghi lại trong video kể trên. Trên một số diễn đàn Anh ngữ thảo luận về biến cố Trường Sa, người ta đã không khỏi ngạc nhiên về những gì họ thấy được trong video của Trung Cộng. Không ít người gọi đây là “cuộc tàn sát” chứ không thể nào coi là một trận hải chiến theo đúng nghĩa của nó. Từ đó câu hỏi được đặt ra là: “Tại sao phía VN (lãnh đạo VN) lại để những người lính của mình phải chiến đấu trong hoàn cảnh như vậy? Và ai phải chịu trách nhiệm về việc này?” Đây cũng là câu hỏi được nhiều người VN đặt ra, nhất là vào thời điểm cận kề ngày giỗ của các tử sĩ Trường Sa. Trước khi thử đi tìm câu trả lời cho câu hỏi vừa kể, thiết tưởng cũng nên biết qua một vài đặc điểm liên quan đến các trận đánh trên biển. 1/ Trên mặt biển mênh mông, ngoại trừ trường hợp thời tiết xấu cản trở tầm nhìn, tầm quan sát trên mặt biển rất xa. Độ xa này tuỳ thuộc theo độ cao của đài chỉ huy chiến hạm. Trong trường hợp thời tiết tốt, tầm quan sát chỉ bị giới hạn bởi độ cong của quả đất (tức là có thể thấy tàu bè khác ở tận chân trời). Ngay cả trường hợp thời tiết xấu hay trong đêm tối thì qua phương tiện radar và bảng “vận chuyển chiến thuật” có sẵn trên các chiến hạm (ra đời sau thế chứ hai), người ta dễ dàng tính toán được chính xác hướng đi và vận tốc tàu địch. Vì vậy, các trận đánh trên mặt biển (không có tàu ngầm tham chiến) thường thì cả hai bên đều thấy và theo dõi nhau từ rất xa, và vì vậy có nhiều thời gian thay đổi vận chuyển (hướng, vận tốc,v.v....), đội hình và chuẩn bị khá kỹ lưỡng cho việc nổ súng khi tàu địch trong tầm tác xạ. 2/ Các khẩu hải pháo của chiến hạm phần lớn là súng phòng không, sơ tốc lớn (sơ tốc: Vận tốc đầu đạn khi ra khỏi nòng súng) nên có sức công phá mạnh và đạn đạo tương đối thẳng (dễ trúng đích), có nhịp bắn nhanh và tương đối chính xác trong tầm sát hại. Các loại pháo 37 ly, 40 ly được đề cập đến trong trận Trường Sa thuộc loại này. Vì vậy, súng cá nhân với tầm bắn trên 1 cây số và tầm sát thương 200m trở lại không đóng vai trò quan trọng trong một trận chiến trên biển. 3/ Các ổ hải pháo trên chiến hạm không xoay tròn 360 độ được, mà bị giới hạn ở một góc độ nào đó để không hướng và bắn vào đài chỉ huy của chiến hạm mình khi lâm chiến. Do đó, khi tàu neo (hoặc đậu) tùy theo hướng gió và giòng nước, con tàu gần như nằm ở một hướng độ nhất định nào đó. Vì không xoay tròn 360 độ được, khi tàu neo, một vài ụ súng có thể không hướng về phía chiến hạm địch được. 4/ Do đặc tính về không gian và tầm hoạt động rộng lớn và chiến trường trên biển cũng thường ở rất xa căn cứ, đòi hỏi thời gian di chuyển; vì vậy các chiến hạm thường thực hiện những công tác dài ngày theo kế hoạch đã định trước với loại chiến hạm và các khí tài phù hợp cho nhiệm vụ. 5/ Ngoại trừ đang ở trong cuộc chiến với nước thù địch, mọi quyết định lâm trận với một lực lượng ngoại quốc thường đến từ giới chức cao nhất của quốc gia với một số mục tiêu cụ thể. Thí dụ như tổng thống Mỹ quyết định mở các trận chiến ở Trung Đông, thủ tướng Anh với trận Falkland (1982); hoặc Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu với thủ bút ra lệnh hai điểm cho trận chiến Hoàng Sa a/ Kìm chế và đuổi tàu Trung Cộng ra khỏi lãnh hải Việt Nam, b/ Trong tường hợp bất khả kháng thì toàn quyền hành động để bảo vệ chủ quyền đất nước. Với các điểm khá phổ quát liên quan đến trận chiến trên biển vừa liệt kê ở trên, kiểm điểm lại những gì đã diễn ra ở trận Trường Sa thì dường như tất cả đều có sự bất thường nào đó. ’Trung Quốc là bạn hay thù. Chúng đánh ta, ta có đánh trả không?’ Cấp trên vẫn im lặng hoặc trả lời không rõ ràng. Trong một bài viết mới đây trên trạng mạng Việt Study (1), tác giả Lê Ngọc Thống đã rất chính xác khi đặt vấn đề: “Trước một kẻ thù to lớn, hung hăng, hiếu chiến, điều quyết định đầu tiên là Hải quân Việt Nam có dám đánh lại chúng hay không? Vì chỉ khi dám đánh mới nghĩ ra cách đánh để thắng.” Ở trận Trường Sa 1988 tiền đề này gần như không ai đặt ra. Mắt xích lãnh đạo chỉ huy bị đứt ở cấp cao nhất. Trong hồi ức về trận chiến này, dưới bút danh Phạm Trung Trực, một sĩ quan hải quân trong chiến dịch CQ 88 bảo vệ Trường Sa lúc đó đã thuật lại rằng: “Cuối tháng 2-1988 Hải quân Trung Quốc tăng thêm 4 tàu hộ vệ tên lửa, hộ vệ pháo xuống hoạt động ở khu vực quần đảo Trường Sa.Tình hình trở nên hết sức căng thẳng. Bộ Tư Lệnh hải quân liên tục báo cáo lên trên xin ý kiến chỉ đạo. Một trong những nội dung đề nghị cấp trên giải đáp ngay: Trung Quốc là bạn hay thù. Chúng đánh ta, ta có đánh trả không? Cấp trên vẫn im lặng hoặc trả lời không rõ ràng.” Với thái độ vô trách niệm này của hàng lãnh đạo (tức Bộ Chính Trị), các cấp kế tiếp chẳng ai thấy cần thiết phải làm gì thêm, chưa nói đến việc “phải nghĩ ra cách đánh để thắng”. Lãnh đạo như vậy là đã tệ rồi, nhưng thực tế thì còn tệ hơn nhiều. Trên trang mạng AnhBaSam gần đây có đăng vài giòng tin ngắn về lệnh của cấp bộ chỉ huy kế tiếp (tức bộ quốc phòng) trong trận Trường Sa như sau: “Bộ trưởng Quốc Phòng lúc đó là Lê Đức Anh đã ra lệnh cho các chiến sĩ của ta không được nổ súng bắn vào quân TQ tấn công chiếm đảo vì sợ ’bị khiêu khích’. Chỉ một nhóm chiến sỹ đã cưỡng lệnh này và bắn vào kẻ xâm lược.” Với mệnh lệnh rất rõ ràng và cụ thể như vậy, có lẽ bộ tư lệnh hải quân bị ở vào thế mắc kẹt. Vì vậy, tuy có quyết tâm cao như thành lập bộ chỉ huy tiền phương để giải quyết mọi tình huống, chuyển các phương án chiến đấu phù hợp với tình hình từ “sẵn sàng chiến đấu” vào cuối tháng 10/1987 sang sẵn sàng “chiến đấu cao” vào đầu tháng 3/1988, đưa người và phương tiện ra đảo xây dựng công sự, nhận định xác đáng về vị trí chiến lược của đảo Gạc Ma, v.v... nhưng lại hoàn toàn không có một lực lượng nào để ngăn chặn sự lấn chiếm trong khi Trung Cộng này càng gia tăng cường độ gây hấn; cũng như để yểm trợ và bảo vệ cho các chiến sĩ của mình đang làm nhiệm vụ xác lập chủ quyền đất nước. Cuối cùng, để đối đầu với lực lượng thật hùng hậu của địch, phía hải quân VN chỉ đưa đến chiến trường 3 tàu vận tải với lệnh: ngăn chặn sự lấn chiếm của Trung Quốc bằng cách nhanh chóng xây dựng các cơ sở vật chất trên một số đảo. Điều này cho thấy mệnh lệnh ở trên đã giới hạn quan niệm hành quân của hải quân rất nhiều, dù rằng các cấp chỉ huy hải quân chắc chắn đều biết rõ những đặc điểm chiến đấu trên biển như đã nêu ở trên để có thể thực hiện một phương án tối ưu nào đó, vừa bảo vệ được tối đa các hòn đảo, vừa hạn chế thiệt hại đến mức tối thiểu. Cũng có thể là do nhân sự và phương tiện chiến đấu hạn chế, nhưng nhiều phần đây có lẽ là cách để các chiến sĩ của ta không có cách nào bắn vào quân Trung cộng tấn công chiếm đảo, để không trái lệnh của bộ trưởng quốc phòng. Bắn vào quân Trung Quốc là điều rất dễ xẩy ra nếu hải quân có một lực lượng chiến đấu đúng nghĩa ở trên mặt biển, vì dù ở thế yếu hơn các chiến sĩ hải quân chắc chắn không cam chịu nhục nhã trước sự gây hấn và lấn chiếm của quân xâm lược. Cũng vì những mệnh lệnh như trên mà các chiến sĩ ở chiến trường đã hoàn toàn bị bất ngờ khi bị địch bắn xối xả vào lúc tàu đang neo đậu và một phần binh sĩ đang ở dưới biển. Cần nêu ra một vài chi tiết ở đây để có thể thể nhận thấy rằng các chiến sĩ hải quân có khả năng rất cao trong tình thế nguy nan lúc đó. Với quân số tổng cộng tại chỗ của cả HQ 604, 605, và 505 là khoảng hơn 80 người; nhân số này thực ra chưa đủ, hoặc chỉ tròm trèm với cấp số nhân sự cho một dương vận hạm như HQ 505 hoạt động bình thường. Khi súng nổ một số lớn binh sĩ đang ở dưới nước, nhân số còn lại trên tàu hẳn là rất ít ỏi; thế nhưng trong tình huống đó họ đã thực hiện cùng một lúc 3 nhiệm sở trong vòng 28 phút của trận chiến: Nhiệm sở neo (nhổ neo), nhiệm sở tác chiến (chống trả sự tấn công của Trung Quốc), nhiệm sở vận chuyển và ủi bãi. Chính báo cáo của Trung Quốc cho biết họ có 6 người bị tử thương, 21 bị thương, nên có thể tin rằng những thiệt hại này do HQ 505 gây ra cho địch, vì tại chiến trường lúc đó chỉ có chiến hạm này có loại pháo 40 ly và 20 ly, là loại súng có nhịp bắn nhanh, chính xác và tầm sát hại lớn. Với những phân tích vừa kể, không còn nghi ngờ gì nữa, chính thái độ vô trách nhiệm của cấp lãnh đạo cao nhất, rồi sau đó mệnh lệnh không được bắn vào quân xâm lược là nguyên nhân dẫn đến việc không có một phương án hành quân để bảo vệ các chiến sĩ VN và chống trả lại địch hữu hiệu. Đồng thời cũng đặt các chiến sĩ tại mặt trận vào một tình thế hoàn toàn bất ngờ trước sự hiếu chiến và tàn bạo của kẻ thù. Với những mệnh lệnh không rõ ràng đó của cấp trên, có thể khiến các chiến sĩ tại mặt trận cho rằng tuy xẩy ra sự giành giật các hòn đảo qua lại, nhưng sẽ không có nổ súng (vì mình không được phép bắn vào địch). Như vậy, đã rất rõ ràng ai là người chôn vùi các chiến sĩ Trường Sa. Thái độ này của giới lãnh đạo CSVN càng thể hiện rõ sau này qua việc bỏ trống sự kiện Trường Sa trong sử sách, cấm các phương tiện truyền thông nhắc nhở, cấm các buổi tổ chức tưởng niệm, thậm chí chữ “anh hùng” trên bia một anh hùng Trần Văn Phương cũng bị đục bỏ. Năm ngoái blogger Mai Thanh Hải đã nghẹn ngào vì khóc cho các chiến sĩ Trường Sa mà cũng bị cấm, còn giáo sư Hà Văn Thịnh thì uất nghẹn: “Tháng baSao tôi chẳng được quyền kể về các anh?Lỡ gọi tên có thể là tù tộiAnh dũng hiên ngang bị vùi trong bóng tốiViệt Nam ơi, nhức mỏi đến bao giờ?’(Trích bài thơ ’Tháng 3, ngày 14, Việt Nam ơi’ ) - - - (1) Lê Ngọc Thống http://www.viet-studies.info/kinhte/LeNgocThong_DamDanhBietDanh.htm
......

Ngày sinh một bông hoa đẹp của đất nước

Từ đầu năm đến giờ phong trào đấu tranh cho quyền con người và dân chủ của Việt Nam đã tạo nên được những dấu ấn quan trọng nhờ hình ảnh rất đẹp của những người phụ nữ. Đầu tiên là Huỳnh Thục Vy đoạt giải Hellman Hammet. Kế đến là Tạ Phong Tần được vinh danh là Phụ nữ Quốc tế Can đảm. Và Nguyễn Hoàng Vi trở thành 1 trong 7 phụ nữ tiêu biểu của thế giới về bảo vệ quyền tự do ngôn luận. Những bước tiến của quá trình dân chủ Việt Nam có rất nhiều dấu chân quan trọng của phái yếu nhưng rất kiên cường của tổ quốc. Từ lúc ban đầu còn ít ỏi như Lê Thị Công Nhân, Phạm Thanh Nghiên đến nay họ đã trở thành một lực lượng hùng hậu có mặt ở mọi lĩnh vực và ngóc ngách của cuộc sống. Họ thật đẹp, cả thể chất lẫn tâm hồn.   Đỗ Thị Minh Hạnh Hôm nay, 13 tháng 3 là sinh nhật thứ 28 của cô bé Đỗ Thị Minh Hạnh. Cũng là sinh nhật thứ 3 của cô bé ở trong tù. Tôi vẫn quen gọi Hạnh là cô bé dù bản lĩnh và sự phi thường của cô chẳng bé chút nào. Những hình ảnh của một cô bé hồn nhiên, trong sáng của Hạnh vẫn đọng lại mãi trong tôi ngay từ những ngày đầu quen biết Hạnh. Khoảng cuối tháng 2/2010, sau khi vừa nhận bản án sơ thẩm 5 năm tù vì tội “lật đổ chính quyền nhân dân” cùng với anh Thức, anh Định và bạn Tiến Trung, tôi đang mong mỏi muốn biết tình hình liên quan về phản ứng của dư luận sau vụ xét xử chúng tôi thì Hạnh xuất hiện như một người đưa tin “bất đắc dĩ”. Ngay sau Tết Canh Dần 2010 Hạnh bị bắt cùng với hai người bạn nữa là Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và Đoàn Huy Chương cũng vì “tội xâm phạm an ninh quốc gia”. Cả ba đều bị tạm giam điều tra tại B34 (Nguyễn Trãi, Q1, Tp.HCM) như anh Thức, anh Định, Trung và tôi. Hạnh ở phòng 16, tôi phòng 18 cùng dưới đất. Phòng Hạnh có 2 người, ở chung với một chị bị kết án ma túy. Hạnh hay hát, nhiều bài khác nhau. Nhưng tôi còn nhớ nhất là bài Tự nguyện: "Nếu là chim tôi sẽ là loài bồ câu trắng. … Là người tôi sẽ chết cho quê hương". Tôi và Hạnh thường nói chuyện từ xa với nhau mà không nhìn thấy mặt (từ lóng trong tù gọi là be). Hạnh cho tôi biết dư luận trong nước và phản ứng quốc tế sau phiên tòa sơ thẩm (vào ngày 20/1/2010) của chúng tôi. Trong đó có nhắc đến Ngoại trưởng Mỹ Clinton và các Dân biểu, Nghị sĩ Quốc hội Mỹ chính thức lên tiếng phản đối gay gắt. Rồi các bạn, các lực lượng dân chủ trong nước lên tiếng kêu gọi biểu tình bảo vệ chủ quyền của đất nước, bảo vệ quyền lợi của công nhân, chống độc quyền chính trị. Hạnh nói: "Chúng em và mọi người phải tiếp tục hành động để họ biết rằng luôn còn có những người nối tiếp các anh, phong trào dân chủ hoàn toàn không bị dập tắt như họ tuyên truyền." Hạnh kể lại câu chuyện đấu tranh cho công nhân nhà máy giày Mỹ Phong ở Trà Vinh và dẫn đến bị bắt như thế nào. Giới chủ nhà máy bóc lột, đánh đập và chửi bới công nhân thậm tệ ra sao. Nhưng công đoàn quốc doanh không lên tiếng bảo vệ họ mà lại bênh vực giới chủ nước ngoài. Cùng hoạt động và bị bắt chung với Hạnh có Nguyễn Hoàng Quốc Hùng và Đoàn Huy Chương. Chương bị bắt trước mấy ngày và ở phòng 13, cách xa phòng Hạnh nên không thể "be" được với nhau. Tôi trở thành người liên lạc cho hai bạn, chia sẻ những thông tin hạn chế mà hai bạn có thể nói công khai với nhau. Tôi cũng chia sẻ kinh nghiệm đấu tranh với bên điều tra để bảo vệ lẽ phải của mình với hai bạn trẻ này và động viên các bạn hãy giữ vững tinh thần. Khi bị đi điều tra về Hạnh có lần hơi lo lắng nói rằng họ có bằng chứng tụi em nhận tiền của các anh chị hải ngoại. Họ buộc tội là nhận tiền như vậy nên làm theo xúi giục của nước ngoài, là có ý đồ xấu nhằm phá hoại đất nước. Tôi cùng phân tích với Hạnh và Chương rõ là cáo buộc đó là vô lý và vô luật. Các em hoàn toàn có thể vận động sự ủng hộ từ bất cứ ai, vì mục đích tốt đẹp của các em để đấu tranh cho công nhân, vì công lý. Đó không hề là việc sai trái và phạm pháp. Họ biết đây là một sức mạnh liên kết "nguy hiểm" với họ nên dùng mọi thủ đoạn để làm người dân định kiến đó là phạm pháp và phản động. Từ đó sợ hãi và đánh mất thế mạnh của mình. Sau đó khoảng vài tuần tôi bị chuyển lên lầu 1, phòng 15 thì không còn nói chuyện được với Hạnh. Nhưng vẫn còn nghe tiếng hát của cô bé vang vọng rất thường xuyên. Sau khi trải qua phiên tòa phúc thẩm (11/5/2010), tôi bị chuyển tiếp lên lầu 2, phòng 11. Đi ngang qua phòng 15 cùng tầng tôi thấy một thanh niên to cao, đẹp trai. Tôi hỏi có phải là Hùng không. Bạn trả lời đúng là Hùng. Trước đó, tôi được Hạnh và Chương cho biết còn có Hùng bị bắt, có lẽ ở phía trên và nhờ tôi nếu có lên trên thì nhắn với Hùng là Hạnh và Chương giữ vững chí khí đến cùng. Tôi đã chuyển lời giúp các bạn. Sau này khi gặp lại Hùng và Chương ở Xuân Lộc, tôi đã rất mừng vì cả 3 bạn đều đồng lòng cương quyết không nhận tội và giữ chí khí đến cùng trong cả 2 phiên tòa. Tháng 7 năm 2011 anh Thức và tôi gặp lại Hùng và Chương vừa được chuyển từ trại giam Phước Hòa (Đồng Tháp) tới khu cách ly tại K1 Xuân Lộc. Lúc này Hùng đã gầy đi nhiều. Nhưng tôi vẫn nhận ngay ra 2 bạn qua giọng nói. Hạnh hát hay lắm, giọng rất ngọt ngào và ẩn chứa một tâm hồn trong sáng, lạc quan. Nếu không có sự chuẩn bị tinh thần trước từ lâu là sẽ vào tù thì không ai có thể có được một tâm trạng yêu đời để mà hát được suốt ngày ngay từ lúc vừa bị bắt như Hạnh được. Hơn nữa còn phải có một ý chí mãnh liệt như thế nào người ta mới toát ra được một cái hồn lạc quan và tự tin trong giọng hát. Lúc bị bắt Hạnh chưa tròn 25 tuổi, nhưng cô bé đã dấn thân đấu tranh vì quyền con người đã từ hơn 5 năm trước. Giữa cuối năm 2011, khi ở chung với Hùng và Chương tại trại giam Xuân Lộc, tôi được nghe kể nhiều hơn về Hạnh và cảm thấy càng thán phục cô bé. Hạnh sinh ra trong một gia đình trung nông ở Đà Lạt. Từ nhỏ đã có năng khiếu ca hát và đạt nhiều giải thi tiếng hát thiếu niên. Cũng tham gia đoàn TNCS nhưng Hạnh sớm nhận ra những nghịch lý và sự thiếu chân thật trong những lý tưởng và hoạt động của đoàn. Hạnh nhận thấy xã hội đang tạo ra nhiều bất công nhưng các công tác đoàn chỉ chủ yếu nhằm xoa dịu nỗi đau và sự phẫn nộ của người dân đối với những bất công đó, chứ không nhằm để xóa bỏ bất công và căn nguyên của nó. Hạnh cho rằng Đảng dùng Đoàn để che mắt nhân dân để nhân dân không thấy được chính Đảng tạo ra bất công và áp bức. Chưa đầy 20 tuổi mà cô bé đã nhận thức được như vậy và từ bỏ Đoàn để dấn thân vào một cuộc đấu tranh vì sự công bằng. Hùng kể rằng lúc đầu chỉ có một mình, khi chứng kiến những trái ngang và cường quyền, bức xúc quá cô bé bộc phát tự in ra những gì mình viết để phản đối những sai trái đó rồi tự mình lên xe buýt phát cho mọi người. Những thôi thúc về dân chủ, công bằng khiến cô bé lên mạng tìm hiểu về những điều này và những người đang đấu tranh vì những điều đó. Từ đó Hạnh quen biết với những nhà hoạt động dân chủ như tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, nhà văn Dương Thu Hương, v.v… Năm 2005, cô bé một thân một mình ra Hà Nội, trên những chuyến xe giá rẻ để gặp những nhà hoạt động đó. Vì vậy mà Hạnh đã bị câu lưu ở đó và buộc gia đình phải ra bảo lãnh với cam kết không được tái phạm gặp “các phần tử phản động”. Nhưng đó là một chuyến đi và cột mốc đã làm cho Hạnh hiểu sâu sắc hơn về dân chủ và con đường đấu tranh cho nó. Từ đó cô bé đã dấn thân đầy bản lĩnh và kiên cường vì công bằng và những quyền con người cơ bản cho công nhân Việt Nam. Cuộc dấn thân đó đã mang đến cho Hạnh bản án 7 năm tù giam nhưng cũng nhờ vậy mà đã tạo nên cho phong trào đấu tranh vì công nhân Việt Nam một hình ảnh biểu tượng thật giá trị. Một cô gái trẻ với vóc dáng nhỏ nhắn, xinh xắn lại sở hữu một ý chí to lớn đấu tranh vì người khác và bất khuất trước cường quyền. Trước khi trợ giúp cho các công nhân nhà máy Mỹ Phong đình công bảo vệ quyền lợi và danh dự của mình – sự kiện đã dẫn đến bản án dành cho Hùng, Hạnh và Chương, Hạnh đã có rất nhiều những hoạt động đấu tranh vì yêu nước. Vào lúc giới trí thức phản đối việc khai thác bauxite Tây Nguyên đầu năm 2009. Hạnh cùng Hùng lặn lội lên tận những vùng núi non hiểm trở của Tây Nguyên để chụp ảnh thực địa của vùng đất này rồi đưa lên mạng giới thiệu, vận động công chúng ký tên vào lời kêu gọi của giới trí thức đòi chính phủ phải ngừng chủ trương đầy tai họa này. Nhưng như một duyên số, dù xuất thân từ gia đình nông dân Hạnh lại rất gắn bó và thấu cảm với cuộc sống của những người công nhân và đấu tranh vì quyền lợi và nhân phẩm của họ. Nhưng Hạnh đã bị cáo buộc và cầm tù vì những việc làm chính nghĩa và nhân văn như vậy. Cáo trạng và bản án kết tội Hùng, Hạnh, Chương nói rằng các bạn đã lợi dụng sự thiếu hiểu biết của công nhân để xách động gây rối an ninh và phá hoại môi trường thu hút đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Khi còn ở chung với Hùng và Chương ở Xuân Lộc, đọc những dòng cáo buộc nói trên tôi cứ thấy lòng trĩu nặng. Một giai cấp tiên phong có độc quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội mà đảng CSVN tự nhận là đại diện duy nhất của giai cấp đó lại bị chính những người đại diện của mình hạ thấp thành những người thiếu hiểu biết dù đã được Đảng rèn luyện hơn 80 năm rồi. Trong khi những kẻ đại diện đó tự xưng mình là đỉnh cao trí tuệ. Càng trĩu nặng hơn nữa khi nghe Hùng và Chương kể rằng sau khi xảy ra vụ đình công tại nhà máy giày Mỹ Phong nói trên, giới chủ của nhà máy người Đài Loan - Trung Quốc gọi những nữ công nhân ở đó đến và chửi rằng “Không có bọn tao thì chúng mày đã phải đi làm đĩ hết. Thế mà còn không biết ơn, lại còn đình công”. Hùng kể rằng nghe câu đó Hạnh đã phải rất cố gắng để nước mắt không trào ra, để giữ bình tĩnh mà trợ giúp cho các nữ công nhân sáng suốt tiếp tục cuộc đấu tranh của mình. Điều đáng nói là khi mà giới chủ nhà máy đã sắp phải nhượng bộ trước yêu cầu chính đáng của công nhân Mỹ Phong là phải xin lỗi, tăng lương và cải thiện điều kiện làm việc thì an ninh Việt Nam xuất hiện. Cuộc đấu tranh bảo vệ quyền lợi và nhân phẩm công nhân mà đáng lẽ đảng CSVN phải đứng ra lãnh đạo lại bị chụp cho cái mũ “phá rối an ninh” xâm phạm an ninh quốc gia theo điều luật 89 bộ luật hình sự. Những nhà hoạt động vì công nhân Hùng, Hạnh, Chương bị biến thành tội phạm. Các nữ công nhân Mỹ Phong bị biến thành tòng phạm, muốn không bị truy tố thì phải viết đơn tự nhận mình là kẻ thiếu hiểu biết để cho những kẻ xấu phản động lợi dụng, và xin được hưởng khoan hồng. Hơn nữa phải đồng ý đứng ra làm chứng để chống lại những người đã trợ giúp mình bảo vệ quyền lợi và nhân phẩm của mình. An ninh Việt Nam lại chứng tỏ “sức mạnh” của mình và ghi nhận thêm thành tích “bảo vệ đất nước”. Ba năm sau thì có lẽ không thể không ghi nhận thêm vào thành tích đó sự suy giảm nghiêm trọng đầu tư nước ngoài, giới chủ trốn về nước để lại những khoản nợ lương, nợ ngân hàng và tình trạng thất nghiệp cơ nhỡ của hàng triệu công nhân Việt Nam. Cô bé Đỗ Thị Minh Hạnh đã ở tù hơn 3 năm. Theo như gia đình thì cô bị ngược đãi nặng nề đến mức bị điếc một bên tai. Nhưng Hạnh vẫn giữ vững tinh thần và khí tiết để khích lệ cho bao nhiêu bạn trẻ tiếp bước con đường đấu tranh giành lại quyền con người và sự bình đẳng. Vừa rồi đọc được tin Nhóm Công tác chống cầm tù tùy tiện của Liên Hợp Quốc (WGAD) đã ra phán quyết rằng việc bắt giữ và kết án Hùng, Hạnh, Chương là tùy tiện và vi phạm luật pháp quốc tế, WGAD yêu cầu trả tự do ngay vô điều kiện cho 3 bạn trẻ này và bồi thường cho họ, tôi vui mừng vô hạn. Được biết Ủy ban bảo vệ người lao động ở Ba Lan cùng với luật sư Lâm Chấn Thao và Freedom Now đang tiếp tục đấu tranh để lấy lại tự do cho các bạn, tôi dâng tràn hy vọng và sẽ tiếp sức cho cuộc đấu tranh này một cách quyết liệt. Hôm nay sinh nhật Hạnh, tôi nghĩ sao chúng ta - những người đang cùng nhau đấu tranh vì quyền con người, vì tự do và nhân phẩm không cùng nhau tạo nên những giải thưởng để vinh danh những người phụ nữ trẻ Việt Nam đã dũng cảm dấn thân và hy sinh cho mục tiêu cao cả đó. Lịch sử dân tộc ta luôn có sự đóng góp tiên phong và quan trọng của phái đẹp. Một giải thưởng như vậy sẽ ghi dấu một cột mốc ý nghĩa trước thềm vận hội mới dân chủ và thịnh vượng của đất nước Việt Nam. Tôi viết bài này ngoài lòng mến mộ của mình đối với cô bé Hạnh, còn vì một lời nhắn gửi của Nguyễn Hoàng Quốc Hùng khi chia tay tôi hết án tù chuẩn bị về trong vòng quản chế. Hùng nói ngày sinh nhật Hạnh và nhờ tôi tặng cho cô bé một món quà. Chúc mừng sinh nhật Đỗ Thị Minh Hạnh - một bông hoa rất đẹp của đất nước. Chúc cô bé luôn khỏe và sẽ sớm trở về trong vòng tay gia đình, bè bạn và tổ quốc thân yêu. Lê Thăng Long 13/3/2013  
......

Lời Cám Ơn Của Các Gia Đình Thanh Niên Yêu Nước Bị Chính Quyền Cộng Sản Việt Nam Kết Án và Cầm Tù

     Kính thưa quý vị lãnh đạo tinh thần các Tôn giáo,      Các tổ chức nhân quyền quốc tế,      Các hãng thống tấn, truyền thông trong nước và nước ngoài,      Tổ Chức Phóng Viên Không Biên Giới, và      Toàn thể cộng đồng người Việt Nam trong nước và hải ngoại.   Chúng tôi gồm các gia đình có con em đang bị chính quyền cộng sản Việt Nam giam cầm và kết án một cách oan sai. Trước hết, chúng con xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo đã cầu nguyện, lên tiếng bảo vệ cho con em chúng con trong suốt thời gian qua, kể từ khi con em chúng con bị bắt, bị giam cầm, bị đem ra xét xử và kết án một cách bất công.     Chúng tôi cảm ơn các tổ chức nhân quyền quốc tế, các hãng thống tấn - truyền thông trong nước và nước ngoài, tổ chức phóng viên không biên giới, đã luôn luôn sát cánh cùng chúng lên tiếng, đấu tranh cho con em chúng tôi.   Chúng tôi chân thành cảm ơn quý vị ân nhân và toàn thể cộng đồng người việt trong nước và hải ngoại đã quan tâm giúp đỡ chúng tôi về cả tinh thần và vật chất.   Đặc biệt, trong thời gian gần đây, chúng tôi có “Bản lên tiếng yêu cầu trả tự do cho 14 thanh niên yêu nước” đã được đông đảo những người yêu công lý, hòa bình, sự thật ủng hộ ký tên, trong đó có cả anh chị em sinh viên, học sinh trong và ngoài nước, với gần ba mươi ngàn chữ ký ủng hộ làm tăng tinh thần, sự tự tin cho chúng tôi tiếp tục đấu tranh đòi tự do cho con em. Chúng tôi xin khắc ghi công ơn của quý vị với tất cả lòng thành kính tri ân.   Sau cùng, chúng tôi xin phép được tuyên bố kết thúc việc kêu gọi ký tên vào Bản Lên Tiếng vào ngày 12 tháng 03 năm 2013. Chúng tôi sẽ gửi danh sách chữ ký này đến cấp có thẩm quyền để yêu cầu trả tự do cho con em chúng tôi.   Xin quý vị tiếp tục cầu nguyện, giúp đỡ, lên tiếng đấu tranh cho con em chúng tôi.   Chúng tôi xin chân thành cảm ơn.   Việt Nam, ngày 10 tháng 3 năm 2013   Đại diện các gia đình ký tên:   Hồ Đức Hiền bố của Hồ Đức Hoà   Trần Thị Liệu mẹ của Nguyễn Văn Oai   Nguyễn Văn Thu anh trai của Nguyễn Văn Duyệt   Đỗ Văn Phẩm cậu của Paulus Lê Sơn   Nguyễn Văn Lợi bố của Minh Mẫn   Hồ Thị Truyền chị gái của Hồ Văn Oanh   Thái Văn Hoà anh trai của Thái Văn Dung   Nguyễn Thị Hoá   Đinh Thị Chanh   Đặng Xuân Hà anh trai của Đặng Xuân Diệu   Trần Khắc Hiển http://thanhnienconggiao.blogspot.de/2013/03/loi-cam-on-cua-cac-gia-inh-...  
......

Pages