Tuyên bố về quyền con người

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.” Những lời nói bất hủ trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Hoa Kỳ đã được Chủ Tịch Hồ Chí Minh trích dẫn đưa vào bản Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam năm 1945. Lời nói bất hủ có ý nghĩa là: Mọi người Việt Nam sinh ra đều có quyền bình đẳng, ai cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do dân chủ. Đó là những quyền bất khả xâm phạm và là những lẽ phải không ai có thể chối cãi được. Thế mà gần 70 năm đã qua, kể từ ngày bản Tuyên ngôn Độc lập được công bố tại quảng trường Ba Đình. Nhân dân Việt Nam chưa bao giờ được hưởng những quyền tự do dân chủ. Đảng CS cầm quyền đã tạo ra sự bất bình đẳng và phân biệt đối xử trong xã hội. Đảng CS đã hạn chế và tước đoạt hầu hết các quyền con người về chính trị của Nhân dân: Về quyền chính trị: Người dân bị tước đoạt quyền làm báo chí tư nhân, bị tước đoạt quyền lập hội, lập đảng, bị tước đoạt quyền biểu tình. Bất kỳ người dân nào sử dụng quyền tự do ngôn luận một cách ôn hòa để chỉ trích những sai lầm, khuyết điểm, yếu kém của đảng CS, chính phủ thì đều bị sách nhiễu, cầm tù; Những công dân sử dụng quyền lập hội, lập đảng hoặc tham gia các tổ chức chính trị đảng phái cũng bị sách nhiễu, cầm tù. Về giáo dục: Đảng CS áp đặt hệ thống giáo dục lạc hậu, ngu dân, thay đổi thường xuyên, gây tốn kém cho nhân dân và ngân sách quốc gia. Nền giáo dục của VN thua kém rất xa so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Về kinh tế: Đảng CS thực thi chính sách kinh tế sai lầm, yếu kém trong quản lý và điều hành nên hàng loạt các tập đoàn, tổng công ty nhà nước làm ăn thua lỗ, phá sản. Doanh nghiệp trong nước bị thua thiệt ngay tại thị trường nội địa. Biết bao nhiêu tài sản, tài nguyên quốc gia bị thất thoát, bị chiếm đoạt trái phép. Về thuế má: Đảng CS đặt ra hàng trăm thứ thuế, phí, lệ phí, khiến người dân Việt Nam phải gồng mình đóng thuế, phí. Nhiều sản phẩm tiêu dùng có mức thuế cao gấp nhiều lần các nước trong khu vực, khiến cho người dân khó có điều kiện hưởng thụ. Hàng hóa tiêu dùng: Đảng CS vô trách nhiệm và yếu kém trong kiểm tra, giám sát nên để hàng hóa tiêu dùng, thực phẩm độc hại được nhập khẩu hay sản xuất trong nước đang hàng ngày hàng giờ làm hại sức khỏe, tính mạng của nhân dân, làm suy nhược nòi giống. Bởi thế, Nhân dân Việt Nam cần phải dũng cảm đứng lên đấu tranh đòi lại những quyền làm người đang bị tước đoạt. Chúng tôi tin rằng người dân Việt Nam ở ngoài nước và cộng đồng quốc tế sẽ hết lòng ủng hộ cuộc đấu tranh đòi lại quyền con người này. Chúng tôi tuyên bố rằng không một thế lực nào có quyền tước đoạt các quyền con người của nhân dân Việt Nam. Nhân dân Việt Nam phải được hưởng mọi giá trị cao quí nhất của quyền con người. Nguyễn Văn Đài
......

Muôn năm? Vinh quang? Vĩ đại?

Cứ làm một bài toán đơn giản: cùng hạ một cái cây, có được cùng một lượng gỗ, Việt Nam đi xuất khẩu bán thô thu được 10đ; các nước phát triển đem ra cưa xẻ, tẩm sấy, đóng thành bàn ghế tủ giường, xuất khẩu bán được 10.000đ. Như vậy là cùng hao tổn một lượng tài nguyên tương đương nhau, cùng xuất khẩu một khối lượng gỗ tương đương nhau, nhưng số tiền thu được rất khác nhau, do có được đầu tư công nghệ, tức đầu tư chất xám, trí thông minh, óc sáng tạo, tài khéo léo.., hay không... Ngoài ra, mạt cưa, gỗ vụn thì Việt Nam phung phí đem chụm lò, các nước phát triển tận dụng làm ván okan, ván ghép; gỗ cao su và các loại gỗ tạp khác thì Việt Nam chê nhiều khói, ít than không thèm đem chụm lò, các nước phát triển xử lý làm ván ghép, ván ép... v.v ... Ơ, mà tại sao họ phát triển !? Tại vì họ biết sử dụng chất xám, trí thông minh, óc sáng tạo, tài khéo léo..., biến những thứ tưởng chừng như vô ích, vô dụng thành hữu ích, hữu dụng! "Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm" là vậy! Cho nên, chất xám quyết định sự phát triển, rồi sự phát triển tác động lại chất xám, chứ sự phát triển không quyết định chất xám! Không có tư duy triết học, lẫn lộn giữa vật chất và ý thức, hiện tượng và bản chất, nguyên nhân và kết quả, thì đói nghèo ngu dốt là hậu quả tất yếu!!! Người Việt có câu: MỘT NGƯỜI BIẾT LO BẰNG MỘT KHO NGƯỜI BIẾT LÀM! Tuy vậy, suốt mấy ngàn năm qua người Việt có rất ít người "biết lo", thậm chí những người "biết lo" có khi còn bị cho là "dài lưng tốn vải", "chỉ biết nói mà không biết làm", có thời còn bị liệt vô thành phần "trí thức tiểu tư sản" cần phải "đào tận gốc trốc tận rễ"... Người Việt chỉ thích "tay làm hàm nhai" theo kiểu "lao động (tay chân) là vinh quang", chỉ biết "trên đồng cạn dưới đồng sâu", "con trâu đi trước cái cày đi sau", "bán mặt cho đất bán lưng cho trời"..., không hề có một phát kiến phát minh gì to tát, cả về vật chất lẫn tinh thần! Việt Nam cứ đem toàn bộ tài nguyên và sản vật, từ than đá, dầu mỏ, quặng mỏ, gỗ..., đến cá, lúa, cà-phê, trái cây... đi bán thô với giá rẻ mạt, thậm chí lỗ, thì bao nhiêu "rừng vàng biển bạc" cho đủ!? Việt Nam là nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, mà nông dân vẫn nghèo! Tự hào là tự hào cái gì!? Khoan nói đâu xa, Thái Lan chỉ cần mua lúa gạo của Việt Nam về chà xát, đánh bóng, gắn thương hiệu, là đã nâng giá trị xuất khẩu lên để hưởng lợi rồi... Còn nói xa, xa đến mức không thể đuổi kịp, người Nhật giáo dục rằng đất nước của họ chỉ là những hòn đảo nằm trên vành đai núi lửa và động đất, sóng thần, bão lũ, khí hậu khắc nghiệt, đất đai hạn hẹp, tài nguyên khan hiếm, phải nỗ lực thì mới có thể xây dựng được cuộc sống ấm no, đất nước giàu mạnh... Nước Nhật vẫn phải nhập khẩu lương thực, nhưng ngũ cốc do họ trồng thì được dành để nghiên cứu phát triển các chế phẩm sinh học, mang lại lợi nhuận cao gấp hàng triệu lần; nước Nhật vẫn phải nhập khẩu khoáng sản, nhưng họ dùng để chế tạo ra các sản phẩm công nghệ cao, mang lại lợi nhuận cao gấp hàng ngàn lần... So sánh về giá trị xuất khẩu mà chỉ biết tính "khối lượng", từ việc bán thô, bán rẻ, bán lỗ; mà không tính đến "chất lượng", có được nhờ chất xám, trí thông minh, óc sáng tạo, tài khéo léo..., đem lại lợi nhuận cao nhất có thể cho nhân dân và đất nước... là vô cùng ấu trĩ!!! Cái kiểu giáo dục rằng Việt Nam "rừng vàng biển bạc" có giống với kiểu dạy dỗ con cái rằng "nhà mình giàu lắm, con chẳng cần phải học hành lao động cực khổ gì cả, chỉ cần nằm ngửa mà ăn" không!? Nước, nhà không mạt mới lạ!   "Vinh quang", "vĩ đại", "thần thánh" ... cái gì!? Hãy sớm mà thức tỉnh đi, để còn nỗ lực theo kịp đà phát triển văn minh của nhân loại!! Nguồn: Facebook Canh Le
......

Ngày độc lập nào?

Từ lâu tôi luôn tự hỏi phải chăng ngày 2 tháng 9 năm 1945 thật sự là ngày độc lập của nước Việt Nam mới sau gần một thế kỷ làm thuộc địa của Pháp? Trước khi trả lời câu hỏi nghiêm túc này, cần lần giở lại các trang sử hiện đại của nước nhà, để ghi nhận một số sự kiện quan trọng sau đây: Cảnh ngày 2-9-1945 tại Sài Gòn Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp. Tranh thủ sự ủng hộ của người Việt, cùng những nước Á châu khác đang bị Nhật chiếm đóng, Nhật trao trả độc lập cho Việt Nam. Ngay sau đó, vào ngày 11/3/1945, vua Bảo Đại ký đạo dụ "Tuyên cáo Việt Nam độc lập", tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884 cùng các hiệp ước nhận bảo hộ và từ bỏ chủ quyền khác, khôi phục nền độc lập của đất nước, thống nhất Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ. Đây là thời điểm đáng lưu ý. Ngày 7/4/1945, vua Bảo Đại chuẩn y thành phần nội các mới, trong đó học giả Trần Trọng Kim trở thành Thủ tướng đầu tiên của một nước Việt Nam độc lập. Tháng 6/1945, chính phủ Trần Trọng Kim đặt quốc hiệu là Đế quốc Việt Nam. Đến khi Nhật đầu hàng phe Đồng minh, Thủ tướng Trần Trọng Kim vào ngày 16/8/1945 khẳng định bảo vệ nền độc lập vừa giành được. Sau đó, vào ngày 18/8/1945, vua Bảo Đại tái xác nhận nền độc lập của Việt Nam đã công bố vào ngày 11/3/1945. Cần lưu ý, tuy là một chính quyền thực tế và chính danh từ tháng 3/1945, nhưng Đế quốc Việt Nam không đủ lực lượng quân sự để kiểm soát tình hình. Đất nước rơi vào tình trạng hỗn loạn về chính trị. Nhiều tổ chức và đảng phái hình thành trước đó đã tranh thủ thế đứng chính trị riêng trước vận hội mới của Việt Nam, trong đó Việt Minh dường như là lực lượng được tổ chức hoàn bị nhất, khả dĩ tranh giành quyền lực vượt trội. Từ ngày 19/8/1945 tại các địa phương trên cả nước, Việt Minh tiến hành đảo chính cướp chính quyền, buộc nhà nước Đế quốc Việt Nam chuyển giao quyền lực, một sự kiện mà sau đó được gọi là “Cách mạng tháng Tám”. Trước tình thế đó, vua Bảo Đại quyết định thoái vị và giải tán chính phủ Trần Trọng Kim. Dù tồn tại không bao lâu và phải dung hòa ảnh hưởng của các thế lực quốc tế cùng chủ thuyết Đại Đông Á của Nhật, nội các Trần Trọng Kim đã cố gắng đặt nền móng xây dựng một thể chế chính trị độc lập và mang đến niềm hy vọng về nền tự chủ đầu tiên cho Việt Nam sau ngần ấy năm lệ thuộc Pháp. Ngày 2/9/1945, chớp thời cơ về một khoảng trống quyền lực và sự yếu kém của các đảng phái chính trị khác tại Việt Nam khi ấy, đại diện Việt Minh là ông Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trong một buổi lễ long trọng tại Hà Nội, và sau đó tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sơ lược lại một giai đoạn lịch sử đầy biến động như trên để thấy rằng nhiều điều bấy lâu nay bộ máy tuyên truyền và giới sử nô mặc định là đương nhiên đúng rất cần xem xét lại một cách công tâm, chẳng hạn nội các Trần Trọng Kim có thật là “bù nhìn” không, và ngày 2/9/1945 phải chăng là ngày độc lập trên phương diện thực tế và pháp lý? Như đã nói trên, sau khi bị quân đội Nhật đảo chính tại Đông Dương, nước Pháp trên thực tế đã đánh mất quyền kiểm soát về chính trị và quân sự ở các nước này, dù họ chưa bao giờ muốn từ bỏ thuộc địa béo bở như thế. Với tư cách là một đại diện chính danh và hợp pháp của một chính quyền đã và đang cai trị đất nước liên tục từ năm 1802, vua Bảo Đại ngay lập tức tuyên cáo Việt Nam độc lập. Ông đã thủ giữ vai trò đại diện đương nhiên của quốc dân và quốc gia trong sự chuyển tiếp từ thể chế chính trị cũ sang thể chế mới, mà không một nhân vật chính trị nào đương thời hội đủ tư cách thay thế được. Do đó, xét về phương diện thực tế và pháp lý, Việt Nam đã thực sự độc lập từ ngày 11/3/1945. Vậy không lý gì đến ngày 2/9/1945 người ta lại cần tuyên bố độc lập một lần nữa, mà người tuyên bố đơn thuần chỉ là thủ lĩnh của một phong trào chính trị, dù là mạnh nhất trong số nhiều tổ chức và đảng phái khác nhau cùng tồn tại khi ấy, và người đó cũng chưa bao giờ được quốc dân lựa chọn hoặc công nhận, dù mặc nhiên hay bằng một thủ tục hợp pháp, là đại diện chính danh của quốc gia tính đến thời điểm ấy. Cần lưu ý, trước thời điểm 2/9/1945 danh tính Hồ Chí Minh chưa từng được biết đến rộng rãi như một nhân vật chính trị có uy tín, còn Nguyễn Ái Quốc chỉ nổi danh như một trong các nhà cách mạng đương thời tranh đấu cho nền độc lập của Việt Nam mà thôi. Hai tên ấy của một con người vốn luôn thích bí ẩn, dù về sau rất nổi tiếng, vẫn chưa đủ mang đến cho ông tư cách chính danh và hợp pháp vào lúc đó để có thể đứng ra đại diện tuyên bố độc lập cho quốc gia. Tất nhiên, chân lý thuộc về kẻ mạnh, nên khi thắng cuộc người ta có thể diễn giải mọi sự kiện lịch sử theo ý riêng của mình, rằng ngày 2/9/1945, chứ không phải ngày 11/3/1945, trở thành ngày độc lập của nước Việt Nam mới. Tuy nhiên, với cách đọc sử không lệ thuộc vào ý thức hệ, từ lâu tôi đã bác bỏ lối tường thuật và nhận định lịch sử theo hướng bóp méo vì mục đích chính trị như vậy. Cho nên, nếu gọi đó là ngày khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, còn có thể đồng ý, nhưng nếu áp đặt đấy là ngày độc lập thì dứt khoát không đúng, bởi với tôi chỉ có thể là ngày 11/3/1945 khi vua Bảo Đại tuyên cáo Việt Nam độc lập mà thôi.   nguồn: facebook.LSLeCongDinh
......

Ông Nguyễn Bá Thanh Đi Mỹ.

Tin ông Nguyễn Bá Thanh bị ung thư máu và được đưa đi Mỹ chữa trị, đã được người con trai xác nhận và báo Thanh niên Online loan tải nhằm trả lời những thắc mắc của độc giả. Ông Nguyễn Bá Thanh Tuy chuyện ông Thanh bị bệnh và đưa đi chữa ở Mỹ là “chuyện riêng của gia đình” như ông Nguyễn Bá Cảnh, con trai ông Thanh nói với báo Thanh niên; nhưng nếu sống trong một “xã hội mở”, những tin tức liên quan đến ông Thanh không thể úp úp mở mở như hiện nay. Ban bí thư hay ít ra là Ban nội chính trung ương phải thông báo chính thức về trường hợp của ông Thanh vì ông Thanh là “người của công chúng”. Nhưng đó chỉ là chuyện nhỏ. Sự kiện ông Nguyễn Bá Thanh bị ung thư và phải đưa đi Mỹ chữa trị mới là vấn đề lớn khi cuộc đua quyền lực giữa các phe nhóm đang ở hồi quyết liệt mà đích nhắm là đại hội đảng lần thứ 12 vào năm 2016. Ngay sau khi lên nhân chức Trưởng ban nội chính và phó trưởng ban phòng chống tham nhũng, ông Nguyễn Bá Thanh đã sang Bắc Kinh vào ngày 16/12/2013 để học hỏi kinh nghiệm “đả hổ diệt ruồi” của ông Tập Cận Bình đang tìm cách vây bắt phe nhóm Bạc Hy Lai - Chu Vĩnh Khang. Nói cách khác, cả hai ông Nguyễn Phú Trọng và ông Nguyễn Bá Thanh đã áp dụng rất bài bản chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” của ông Tập Cận Bình trong việc truy tìm và tận diệt tham ô nhũng lạm trong bộ máy chính quyền, nhất là ở các tập đoàn kinh tế mà ông Nguyễn Tấn Dũng bỏ công gầy dựng từ năm 2006 đến năm 2010. Tuy không ồn ào trên bề nổi; nhưng ông Nguyễn Bá Thanh đã phá tung nhiều mắc xích liên hệ đến các vụ tham ô nổi tiếng như vụ Dương Chí Dũng, Bầu Kiên. Vụ giàn khoan HD 981 có làm cho kế hoạch “đả hổ” của ông Nguyễn Bá Thanh bị lu mờ ít nhiều trong cộng luận; nhưng bên trong phe nhóm ông Nguyễn Tấn Dũng có sự rúng động. Bây giờ, tin ông Nguyễn Bá Thanh bị bệnh sẽ khiến cho liên minh Nguyễn Phú Trọng - Nguyễn Bá Thanh mất động lực. Nó không chỉ làm gãy đổ con đường tiến thân của ông Nguyễn Bá Thanh vào đại hội 12 mà còn đe dọa đến sự tồn vong của phe nhóm bám Trung. Lý Thái Hùng  
......

Sài Gòn: 59 Thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa được khám chữa bệnh

Trong khuôn khổ chương trình Tri ân Thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa (TPB VNCH), hôm nay (26/8/2014) Văn phòng Công lý & Hòa bình (CL& HB) thuộc Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn (DCCT SG), tổ chức khám chữa bệnh miễn phí cho TPB VNCH. Chương trình khám chữa bệnh được sự tham gia của hơn 20 Bác sỹ và các thiện nguyện viên từ nhiều nhóm và hội đoàn khác nhau như nhóm Enter, nhóm Thánh ca tiếng Anh, nhóm Jesu yêu bạn và các chức sắc tôn giáo thuộc Hội đồng Liên tôn như Phật giáo, Cao Đài, Tin lành, Phật Giáo Hoà Hảo,… Từ sáng sớm, 59/63 anh TPB đã tập hợp đông đủ và được ban tổ chức bố trí xe chở đi xét nghiệm máu tại 2 trung tâm xét nghiệm uy tín của Saigon, khám cận lâm sàng, sau đó về lại VP CL& HB để được các nhân viên văn phòng CL& HB tham vấn về nhu cầu trang bị xe lăn, chân giả, bảo hiểm y tế … hầu có kế hoạch giúp đỡ.     Sau giờ cơm trưa thân tình, các anh TPB VNCH được các y bác sỹ tiến hành khám sức khỏe tổng quát và tư vấn về tình hình sức khỏe cũng như bệnh tình…cụ thể 6 phòng khám đã được bố trí: mắt, răng, tai mũi họng, Nội, Ngoại tổng quát, Ngoại chỉnh hình.   Chú Trần Văn Na là TPB VNCH thuộc Địa phương quân vùng IV, trong cuộc chiến chú bị gãy chân phải, mang thương tật 60%, hôm nay chú Na cảm thấy rất hạnh phúc khi được các bác sỹ khám sức khỏe, chú Na bày tỏ lòng biết ơn các linh mục DCCT VN đã tổ chức chương trình, qua chương trình này mà anh em TPB VNCH có những giây phút được bác sỹ chăm sóc sức khỏe rất tận tình, chú Na cho biết đội ngũ Y Bác sỹ khám tổng quát hết, bác sỹ tư vấn rất ân cần, hồ sơ bệnh lý được lưu lại để tiếp tục theo dõi điều trị. Nhóm của chú Na có 8 người và đã được khám chữa bệnh trong đợt này. Tuy nhiên chú cho biết thêm là còn rất nhiều người bạn của chú đều là TPB VNCH mang thương tích và nhiều bệnh nặng hơn rất nhiều và chú mong muốn những người bạn ấy sớm được khám chữa bệnh trong lần tới. Trong vai trò là một thiện nguyện viên phục vụ công tác ghi danh thu thập hồ sơ bệnh lý bạn Ánh cho biết, hôm nay trên danh sách có 63 chú TPB đến khám chữa bệnh. Bạn Ánh rất vinh dự và hạnh phúc khi may mắn có được cơ hội giúp đỡ các chú TPB VNCH, bạn cho biết hầu hết các chú TPB VNCH có hoàn cảnh rất thương tâm như gia đình khó khăn, tật nguyền đi lại khó khăn…, và bạn rất muốn được giúp đỡ các chú nhiều hơn nữa. Trong vai trò là người Điều dưỡng chị Mai cảm thấy khâu tổ chức rất chu đáo, tổ Khám bệnh rất tự hào trong việc làm ngày hôm nay. Chị Mai thấy các ông TPB VNCH rất vui, dường như các ông TPB VNCH rất vinh dự khi được đến đây để khám chữa bệnh, họ vui mừng kể lại quá trình họ bị thương rồi mang thương tật, chiến tích, trúng đạn ngày tháng năm nào… , rồi cuộc sống của họ phải trải qua từ đó tới nay đã hơn 40 năm.   Các chức sắc tôn giáo HĐLT VN chụp hình với cha Giám Tỉnh và cha Phó Giám Tỉnh DCCT VN trong chương trình “Cám ơn Anh, người Thương binh VNCH” (hình PeLy) Cuối buổi khám chữa bệnh cho TPB VNCH, toàn thể hơn 20 Y Bác Sỹ, các hội nhóm thiện nguyện cùng ngồi lại với ban tổ chức chương trình để cùng nhau thảo luận chung về tình hình, cũng như đề ra kế hoạch tiếp tục khám chữa bệnh cho TPB VNCH trong những lần tới. 1. Cảm nhận của các hội nhóm sau buổi khám chữa bệnh - Nhóm Enter, anh Cao cho biết nhóm trẻ Enter đây là lần đầu tiên được tham gia chương trình trong vai trò là những người dẫn dắt khiêng bế các chú TPB VNCH vào các vị trị khám chữa bệnh, nhóm Enter rất tự hào và xúc động trước những hoàn cảnh của TPB VNCH. - Nhóm Ca đoàn tiếng Anh, anh Trung bày tỏ lòng cảm ơn ban tổ chức, đã cho nhóm cơ hội được phục vụ trong việc khám chữa bệnh cho TPB VNCH ngày hôm nay, cám ơn các Y Bác sỹ, cám ơn sự đón nhận chút công sức của anh em Ca đoàn, nhóm Ca đoàn mong muốn góp chút công sức để báo đáp lại công lao của các anh TPB VNCH. - Nhóm nhân viên văn phòng Công lý & Hòa bình, anh Tùng bày tỏ lòng biết ơn sự cộng tác của các nhóm và đặc biệt sự hưởng ứng cộng tác của đội ngũ Y Bác sỹ đến khám chữa bệnh cho TPB VNCH. Những năm qua văn phòng CL& HB, đứng đầu là cha Giuse Đinh Hữu Thoại, cha Antôn Lê Ngọc Thanh, được sự trợ giúp của Cha Giám tỉnh Vinhsơn Phạm Trung Thành, Cha Phó Giám tỉnh kiêm Chính xứ Giáo xứ ĐMHCG đã khởi xướng chương trình Tri ân TPB VNCH. Các TPB VNCH hầu như bị bỏ rơi trong suốt 40 năm qua, nên việc chúng ta tổ chức khám chữa bệnh cho các anh là một việc làm rất thiết thực. Chúng ta chẳng những khám chữa bệnh thôi mà còn cảm thông với những nỗi đau và mất mát cả về thể xác lẫn tâm hồn các anh ấy. Hiện nay Văn phòng CL& HB đã có danh sách hơn 700 anh TPB VNCH nên mong lắm tất cả đều được khám chữa bệnh trong những lần tới. 2. Các Bác sỹ chia sẻ cảm nhận sau buổi khám chữa bệnh   - Răng Hàm Mặt: Hầu hết các Thương binh đều có sự cố về răng, bởi lẽ tuổi tác khá cao với lại lâu nay ít đước quan tâm chăm sóc nên răng của họ rất yếu cần được điều trị và chăm sóc.   - Nội Tim Mạch: Các Thương binh huyết áp cao nhiều quá, hầu như không có ai huyết áp thấp. Chúng ta cần có hướng để giúp họ có được bảo hiểm y tế để họ được hỗ trợ điều trị từ các bệnh viện, vì việc điều trị bệnh huyết áp đòi hỏi phải lâu dài. Điều chúng ta lo lắng là hầu hết các Thương binh đều không biết hay ít quan tâm đến bệnh này. - Ngoại: Phần lớn các Thương binh đều bị vết thương ở chân và tay, những vết mổ đều đã ổn. Tất nhiên có một số người chưa được dùng chân giả mà họ dùng tay để di chuyển trên 2 cái ghế nhỏ, bây giờ vết thương ở chân đã ổn nên chúng ta cần tìm cách trang bị cho họ cái chân giả hay những đôi nạng, vì khi họ không được trang bị những công cụ hỗ trợ đi lại này thì dễ mà phát sinh thêm những bệnh liên quan khác. Chúng ta cần phân nhóm để có cách điều trị riêng cho mỗi nhóm. - Da Liễu: Bệnh Da không có nhiều, chỉ có một vài trường hợp mà hầu hết là các bệnh mãn tính nên chúng ta nên tập trung giúp họ để họ được điều trị. - Mắt: Đa số các Thương binh đều lớn tuổi nên hầu hết đều có vấn đề về mắt, một số cần phải được mổ cườm, một số bị cận thị, lão thị, loạn thị… chúng ta cần giúp họ điều trị các bệnh về mắt. - Tai Mũi Họng: Có một số trường hợp bị Xoang cần phải được mổ nội soi, ngoài ra có trường hợp bị viêm Amidan nặng có nguy cơ bị ung thư. - Lao – Phổi: hầu hết của các Thương binh khám bệnh lý này không có bệnh gì đáng kể về phổi. Qua khám cho một số trường hợp xét thấy hầu hết họ bị stress nặng. Họ cho biết từ năm 1975 tới giờ họ chẳng bao giờ được khám chữa bệnh trong lúc “ông nhà nước” thì cứ nói hoài là giúp chương trình này chương trình nọ cho người nghèo…, nhưng họ đã chờ đợi sốt mấy chục năm qua mà chưa được gì nên những tháng năm qua phải lê lết đi bán vé số, rồi trong quá trình ấy họ còn bị xã hội phân biệt đối xử, bị cướp giật mất vé số… 3. Kết luận chương trình Cha Giám tỉnh Vinh Sơn Phạm Trung Thành bày bỏ lòng biết ơn sự hưởng ứng của các Y, Bác sỹ, cám ơn tất các anh chị em đã có mặt phục vụ trong sự kiện này. Đây là lần đầu tiên tổ chức khám chữa bệnh cho TPB VNCH, nên những TPB được mời đến khám chữa bệnh hôm nay thuộc “lớp thượng lưu” trong danh sách hơn 700 TPB VNCH mà chúng tôi đang có. Hầu hết các bệnh nhân đến đây hôm nay thuộc vùng Sài Gòn. Nếu được các Bác sỹ hưởng ứng trong những lần sau thì chúng ta sẽ di chuyễn dần sẽ tiếp cận với các anh TPB có những hoàn cảnh và bệnh tình bi đát hơn. Cảm giác chung của các anh TPB hôm nay, họ rất xúc động, xúc động vì cách tiếp đón của chúng ta, xúc động về cái cách mà chúng ta giúp các anh và đặc biệt là chỉ cần một vài câu hỏi của Bác sỹ mà nó mang ý nghĩa tinh thần cao cả vô cùng. Chỉ cần cử chỉ cầm tay đo huyết áp thôi mà họ đã cảm thấy sung sướng vô cùng, bời vì cả một đời của người TPB trong suốt hơn 40 năm qua có bao giờ được một Bác sỹ ân cần hỏi thăm đâu, có bao giờ được trân trọng đâu. Hôm nay đến đây họ được trân trọng, được ngồi phòng máy lạnh, được nhìn, được gặp gỡ nhau, với sự ân cần của chúng ta họ đã rất phấn khởi, nhiều người đã phát khóc lên. Thay mặt cho nhà Dòng, tôi xin cám ơn các Bác sỹ, và nhân đây xin kính mời các Bác sỹ tiếp tục đồng hành với chúng tôi trong những lần sau. Với con số trên 700 người mà cứ mỗi lần chỉ khoảng 60 người thì chúng ta còn phải tổ chức hàng chục lần nữa. Trường hợp bệnh nhân có dấu hiệu ung thư, hay bệnh nhân phải điều trị răng, cắt kính… là chuyện phải làm. Với tư cách là người chịu trách nhiệm cho chương trình này cha Vinh Sơn xin xác nhận là sẽ đi đến cùng của vấn đề. Tuy nhiên cần phải có sự tham vấn về chuyên môn như vấn đề mua bảo hiểm y tế cho TPB, ban tổ chức sẵn sàng mua nhưng mua sao cho có lợi cho việc khám chữa bệnh cho TPB thì cần sự tư vấn chuyên sâu thêm. Mình cần nâng đỡ, an ủy tận tâm các anh, vì hầu hết họ đã trên 60 tuổi rồi, và hơn 40 năm qua sống trong tủi nhục. Vấn đề bệnh tình cao và nặng nhất của TPB thì ngày hôm nay chúng ta chưa chạm tới, đợt này chúng ta chỉ mang tính tập dần. Qua lời cám ơn cha Giám tỉnh kêu gọi các Y Bác sỹ cùng hưởng ứng để tháng sau chúng ta lại tiếp tục chương trình, còn vấn đề chân giả, tay giả hay xe lăn cho TPB ban tổ chức sẵn sàng cung cấp. Ngay sáng nay tại văn phòng Công lý & Hòa bình đã tiến hành cho các TPB chọn lựa mẫu xe. Còn về kinh phí mua bảo hiểm hay trang bị giả, tay giả hay xe lăn cho TPB tôi cho rằng DCCT VN không có nhưng luôn luôn có Chúa quan phòng nên rốt cuộc rồi cũng thu xếp được. Lần nào làm cũng thiếu hụt nhưng sau ít hôm rồi cũng có Chúa mời gọi người khác đem đến bù đắp cho.   Cha Giám tỉnh Vinh sơn Phạm Trung Thành hội ý với một số Bác sỹ   Các mẫu xe lăn, xe lắc được đưa ra để TPB VNCH chọn lựa Anthony Le VRNs Nguồn: chuacuuthe.com
......

Hiểu sai về phi chính trị hoá quân đội

Một cách hiểu sai về "phi chính trị hóa quân đội"! Trên Tạp chí Cộng sản số 862 (8-2014) có một bài viết của tác giả Ngô Xuân Lịch về chủ đề Chống "phi chính trị hóa" quân đội. Tôi đọc xong hai lượt mà vẫn chưa bị thuyết phục với những lý giải ông đưa ra về chủ đề đó! Tôi mang bài viết này cùng trao đổi với nhóm bạn thân vốn cùng là sỹ quan quân đội, và nay là đồng đội Cựu chiến binh đang cùng sinh hoạt trong Hội CCB của phường. Chúng tôi gồm 7 anh em, đã từng làm Chíinh trị viên trong quân đội thời chống Mỹ, từ cấp đại đội đến cấp tiểu đoàn, sau khi về nghỉ hưu gặp nhau trong Hội CCB và kết thân từ đấy. Chúng tôi rất quan tâm đến tình hình đất nước nên thường xuyên bàn thảo về các vấn đề nóng của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội. Lần này theo đề nghị của tôi, và nhận thấy vấn đề khá hấp dẫn về cả mặt lý luận và thực tiễn nên tất cả nhóm vào cuộc ngay. Sau đây là tóm tắt những nội dung trao đổi của chúng tôi: - Tác giả coi "luận điệu" "phi chính trị hóa quân đội" là một thủ đoạn, một âm mưu trong chiến lược "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, nhằm làm suy yếu quân đội, chống phá chế độ. Do đó tác giả kêu gọi phải kiên quyết đấu tranh chống lại luận điệu phản động đó, làm thất bại âm mưu nguy hiểm đó. Tác giả đã nhắc lại ý kiến này của "bọn thù địch" như sau: "Quân đội sinh ra là để bảo vệ nhân dân, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ cương vực, lãnh thổ, không phải là để bảo vệ bất cứ một đảng phái hay một thể chế chính trị nào?" - Nhưng rất nhiều bạn đọc nghe xong ý kiến đòi hỏi đó thì lại thấy "bọn thù địch" nói quá đúng, không thể gọi đó là luận điệu "phi chính trị hóa quân đội" được, càng không được coi đó là luận điệu phản động, chống đối. Bởi vì "chính trị" thường được hiểu là những vấn đề xoay quanh chuyện giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước. Quân đội là một công cụ của quyền lực nhà nước được sử dụng vào mục đích đó, với chức năng đặc thù là chống lại sự xâm lăng của kẻ thù từ bên ngoài để bảo vệ đất nước (phân biệt với chức năng đặc thù của Công an là bảo vệ an ninh trong nước). Nói như vậy là thực sự đề cao tính chính trị của quân đội, tính chính trị đích thực. Ai cũng thấy "bảo vệ nhân dân, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ lãnh thổ" là rất chính trị rồi, một tính chính trị cao hơn hẳn "bảo vệ một đảng phái, một thể chế chính trị", chứ đâu có phải là "phi chính trị", là "trung lập"? Bởi một đảng phái, một thể chế chính trị có thể bị thay thế, có thể bị mất đi, nếu nó phản tiến bộ, một đảng phái chỉ là một bộ phận rất nhỏ trong nhân dân, thể chế chính trị chỉ là sản phẩm của một giai đoạn lịch sử ngắn, còn Nhân dân, Tổ quốc, Lãnh thổ là Tất cả, là mãi mãi trường tồn và thiêng liêng! Quyền lực nhà nước, trong đó có quân đội, sinh ra chính là để bảo vệ cái vĩ mô trường tồn và thiêng liêng đó: Nhân dân, Tổ quốc, Lãnh thổ! Ở đây tác giả cố tình hiểu và bắt người đọc phải hiểu "tính chính trị" của Quân đội nhân dân Việt Nam chỉ là bảo vệ ĐCSVN cầm quyền và cái thể chế chính trị tương ứng là CNXH (chưa có thật)! Đó là một nhận thức sai lầm, một cách nhìn thiển cận, một thái độ hẹp hòi, chỉ xuất phát từ lợi ích riêng của Đảng, chống lại lợi ích chung của đất nước, ngược với xu hướng phổ quát của thế giới văn minh. Và bởi thế "bọn thù địch" mới chống lại đòi hỏi đó, và họ đòi hỏi phải "phi chính trị hóa" quân đội, tức là trở lại đúng cái "luận điệu phản động" mà họ đã nêu, như tác giả trích ở trên. Rất tiếc là nhận thức sai lầm này của giới cầm quyền đã tồn tại khá lâu, đã tác quái, lũng đoạn trên nhiều phương diện của đời sống chính trị- xã hội, gây ra nhiều hệ lụy cho sự phát triển tiến bộ của đất nước và sự trưởng thành của quân đội nói riêng. Nếu hiểu "tính chính trị" sai lệch như thế thì rõ ràng ở Việt Nam ta phải "phi chính trị hóa" rất nhiều lĩnh vực, trong đó có quân đội. - Trong bài viết, tác giả đã tập trung phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của sự sai trái của cái "luận điệu" "phi chính trị hóa quân đội". Cơ sở lý luận mà tác giả viện dẫn là lý luận Mác-Lênin về vai trò của quân đội, trong đó có đoạn ... Trong xã hội có giai cấp, bất kỳ quốc gia nào, dù thời chiến hay thời bình, đều tổ chức ra quân đội để bảo vệ chế độ chính trị và lợi ích của giai cấp cầm quyền... Cái "nguyên lý" ấy không thể đúng ở Việt Nam hiện nay nữa rồi, bởi vì cả thể chế chính trị và giai cấp cầm quyền đều đã tha hóa, biến chất, không còn tốt đẹp và cần thiết cho sự phát triển của đất nước nữa mà phải bảo vệ! Tác giả tự cho là mình hiểu rất sâu sắc "nguyên lý" đó, thế mà lại không nhìn ra cái chế độ chính trị hiện nay, đi cùng với giai cấp cầm quyền hiện nay là gì, là ai? Đâu có phải là một thể chế dân chủ đích thực, dân chủ gấp ngàn lần dân chủ tư sản, đâu có phải là giai cấp công nhân tiền phong như trong cương lĩnh chính trị của Đảng! Chả nhẽ quân đội hiện nay lại cam tâm bảo vệ cái chế độ độc tài toàn trị đang làm nghèo đất nước, làm khổ nhân dân, thậm chí phản quốc! Chả nhẽ quân đội ngày nay lại cứ nhắm mắt bảo vệ lợi ích của các bọn nhà giàu bất chính, của một bầy "sâu mọt" quan chức tha hóa, tham lam đang đẩy công nhân, nông dân xuống đáy cùng của xã hội để ngày càng bị bị áp bức, bóc lột thậm tệ, - mà trong đó chủ yếu là những người ruột thịt của chính cán bộ, chiến sĩ của quân đội? ... Giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay đâu còn là giai cấp lãnh đạo, đâu còn có lý luận chính trị tiên tiến và độc lập để lãnh đạo đất nước, mà chỉ còn là một cái "áo khoác ngoài" bị mượn khéo để lừa bịp về cái tính chính trị "Của dân, do dân, vì dân" của thể chế mang tên CHXHCN và về bản chất giai cấp công nhân cùng với tính nhân dân của quân đội mang tên Nhân Dân! Hơn nữa, quân đội Việt Nam hiện nay, xét về mọi phương diện thì thực chất là của dân, do dân, chứ không phải là của Đảng, như họ vẫn tự nhận! - Bản lĩnh chính trị của quân đội không thể là sự trung thành mù quáng với Đảng cầm quyền, nay đã biến chất, với cái chủ thuyết CNXH mơ hồ, không có thật, với cái thể chế toàn trị phản tiến bộ. Giáo dục cho quân đội như vậy và áp đặt quân đội phải làm như vậy là một sự lừa dối thô bạo, bất chấp đạo lý, bất chấp thực tiễn, bất chấp sự thật lịch sử! Đó cũng là một biểu hiện rất coi thường bản lĩnh thật của quân đội, coi thường trình độ quân trí! Chính cái "luận điệu" của "bọn thù địch" đã nói rất rõ và đúng cái bản lĩnh chính trị cần có của Quân đội nhân dân Việt Nam. Bọn "thù địch" đó không phải là phản động đâu, họ không chống lại QĐND của họ đâu, mà chính họ là Nhân dân, hậu phương đáng tin cậy của quân đội, họ đang cổ vũ quân đội của họ hướng về cái mục đích chiến đấu đích thực và cao cả đấy! - Về cơ sở thực tiễn, tác giả lại lấy ngay bài học về sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu để minh họa cho cái sự sai lầm của "luận điệu" "phi chính trị hóa quân đội". Đọc đến chỗ này thì những ai đã từng sống ở thời điểm đó, đã từng đọc những thông tin "hai chiều", và có cái đầu tỉnh táo một chút thôi, cũng đều thấy rõ đây mới là một thứ luận điệu xuyên tạc lịch sử với ý đồ không trong sáng! Hoặc là do trình độ tư duy của tác giả quá hạn chế, nên đã lẫn lộn đúng – sai, thật – giả! Sự thật lịch sử không phải là như vậy, cả thế giới này ai mà chả biết, chính một tác giả có uy tín của Tạp chí Cộng sản đã có bài viết rất chân thực nói về sự kiện này (PGS Hà Mỹ Hương - TCCS số 829, tháng 11/2011). Sự thật ấy chứng tỏ khi quân đội và nhân dân đã mất lòng tin ở Đảng cầm quyền thì quân đội cùng với nhân dân quay lưng lại với Đảng, không thể bảo vệ Đảng một cách mù quáng nữa. Chúng ta còn nhớ, vào thời điểm ấy ở Liên Xô, khi ĐCS Liên Xô đã mất chính quyền, chính quyền mới đã ra sắc lệnh cấm ĐCS hoạt động và tịch thu tài sản của Đảng,... thì quần chúng nhân dân vẫn dửng dưng, không có một động thái gì để bảo vệ Đảng, kể cả khi có cả một đám đông khổng lồ nhân dân tập trung ở Quảng trường lớn cạnh trụ sở Ban Chấp hành TW ĐCS Liên Xô! Còn Quân đội Liên Xô thì "án binh bất động", như là "trung lập", để không trở thành lực lượng đối đầu với nhân dân. Sự thật ấy (cả ở các nước Đông Âu) không chứng tỏ quân đội do bị "phi chính trị hóa" nên đã mất sức chiến đấu, mà là một chứng minh hùng hồn về bản lĩnh thật của họ, họ đã rất tỉnh táo và sáng suốt trước sự tha hóa của Đảng Cộng sản (thực chất là của giới lãnh đạo Đảng). Đó là một bài học lịch sử rất đáng suy ngẫm của quân đội ta, trước hết là với các tướng lĩnh chỉ huy quân đội! - Còn có một thực tiễn nữa rất đáng liên hệ mà sao tác giả lại quên? Đó là những câu chuyện về một bộ phận QĐNDVN, đã từ bỏ chức năng chính của mình, để tham gia đàn áp nhân dân trong các vụ cưỡng chế thu hồi đất đai của dân ở Hải Phòng, Nam Định, Hưng Yên, Hà Nội,... và nhiều nơi khác nữa! Đây mới chính là những hành động mất bản lĩnh chính trị, phi chính trị, và thậm chí có thể gọi là phản động, của một số đơn vị quân đội dưới sự chỉ huy ngu dốt của cán bộ chỉ huy, do bị sức ép từ phía Đảng! Trong những câu chuyện này thì chính quân đội đã chống lại lợi ích chính đáng của nhân dân để bảo vệ lợi ích đen tối của một bộ phận sâu mọt trong Đảng, quân đội đã phản bội lại nhân dân, từng sinh ra và nuôi dưỡng mình! Với hành động mù quáng ấy thì làm sao mà chứng tỏ cho được cái bản chất giai cấp công nhân và tính nhân dân của quân đội Việt Nam hiện nay, như tác giả đã nhấn mạnh lại trong bài viết? Cả hai sự thật lịch sử nêu trên, từ thực tiễn trong nước và quốc tế, đã phản bác thẳng thừng lập luận ngụy biện của tác giả, đã chứng minh rằng cái "nguyên lý" cũ rích được ông nêu ra làm căn cứ ấy không còn giá trị! - Liên quan đến chủ đề này, chúng ta cũng cần lý giải cho rõ cái sự đúng - sai về chuyện thay đổi khẩu hiệu mà ngày xưa Hồ Chủ tịch đã từng nêu ra để răn dạy quân đội là "Trung với Nước, hiếu với Dân,....", nay bị đổi lại là "Trung với Đảng, hiếu với Dân,..."? Người ta giải thích cho dân và cho cán bộ, chiến sĩ quân đội bằng thuật ngụy biện, đánh tráo khái niệm, nói lấy được,... theo cùng một lô gích của tư duy như đã nêu ở trên về tính chính trị của quân đội! Họ đưa ra nội hàm mù mờ về khái niệm Đảng, Trung với Đảng, để rồi người nghe không thể hình dung nổi: Đảng là ai mà quân đội phải trung thành? Trung thành với Đảng là trung thành với những cái gì của Đảng? Lâu nay hình như giới cầm quyền đã cố tạo ra một hình tượng cao đẹp, thậm chí là thiêng liêng, vĩnh hằng, nhưng rất mơ hồ về Đảng. Nhưng bây giờ thì buộc người nghe phải hiểu theo thực tế đang hiện hữu: Đảng chính là những ông bà chóp bu ở các cấp đang nắm giữ mọi quyền lực, Trung với Đảng là phải bảo vệ mọi đường lối, chính sách của các ông bà ấy đẻ ra, kể cả những chính sách sai lầm, phải bảo vệ mọi lợi ích của các ông bà ấy, mà quan trọng nhất là quyền lực độc tôn cai trị đất nước, rồi đến tài sản khủng của bọn họ, rồi cả đến sinh mạng của bọn họ và con cháu họ nữa chứ! Người nghe cũng buộc phải hiểu: Đảng là ở trên Nhân Dân và Đất Nước, Đảng quan trọng hơn Nhân Dân và Đất Nước, mất Nước thì đành chịu chứ không thể mất Đảng. Nhận thức bị áp đặt đó hoàn toàn sai, rất xa lạ với bản chất đích thực của quân đội, khác hẳn với nhận thức đúng đắn lâu nay về Đảng và quân đội của toàn xã hội, và không đúng với lời dạy của Hồ Chủ tịch đối với Quân đội ta, như đã phân tích nhiều ở phần trên. Chả thế mà cả quân đội và công an từ khi còn non trẻ đã rất tự giác tiếp nhận và thực hiện những điều răn dạy thiêng liêng "Vì nước quên thân, vì dân phục vụ", "Vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh", "Đoàn Vệ quốc chúng ta từ nhân dân mà ra,...". Ngày trước Hồ Chủ tịch cũng không nói quân đội trước hết là phải Trung với Đảng, dù Hồ Chủ tịch lúc ấy là người đứng đầu Đảng, vì hiểu rất sâu sắc Đảng cũng từ dân mà ra, Đảng chỉ là một bộ phận rất nhỏ của dân tộc, mục đích phục vụ của Đảng là vì dân vì nước, lợi ích của đất nước là trên hết, Đảng không có lợi ích riêng nào khác với lợi ích dân tộc. Trung với nước chính là phẩm chất cao nhất của quân đội, Trung với nước cũng chính là trung với Đảng rồi (nếu Đảng còn tốt đẹp)! Vậy thì việc sửa đổi này là quá sai, mang ý đồ xấu! - Khi chúng ta phải bàn lại về bản chất quân đội, về tính chính trị đích thực của quân đội thì không thể không nêu lại yêu cầu phải giữ cho quân đội ta, Quân đội nhân dân Việt Nam, luôn trong sạch và tỉnh táo chính trị. Không trong sạch thì không thể phát triển hùng mạnh được, không tỉnh táo thì sẽ chệch hướng, sẽ mất hẳn tính nhân dân và tính dân tộc. Trong quá trình xây dựng và phát triển lâu nay, do luôn bị chi phối bởi cái tư duy "chống phi chính trị hóa" sai lầm, nên quân đội đã như là một cái "bóng" rất "nét" của Đảng. Mệnh lệnh của Đảng là phải chấp hành nghiêm và ngay lập tức, không phải và không được bàn cãi đúng – sai! Đảng làm cái gì, có cái gì thì quân đội cũng bắt chước làm theo! Vì vậy mới có câu hỏi đặt ra: Đảng hư hỏng thì quân đội có hư hỏng theo không, trong Đảng mất dân chủ thì trong quân đội có vậy không, Đảng độc quyền thì quân đội có chuyên quyền, phát xít không, trong Đảng có chuyện đảng viên bóc lột người dân lao động để làm giàu bất chính thì trong quân đội có chuyện cán bộ bóc lột sức lao động của chiến sĩ theo kiểu "nước sông, công lính" để vụ lợi không, Đảng tham nhũng tùm lum thì trong quân đội có tham nhũng không, trong Đảng có chuyện "con ông cháu cha" thì trong quân đội có chuyện "4C" không...? Tai mắt mhân dân khẳng định là CÓ, và có nhiều, chỉ có điều là không ai dám phanh phui ra. Chẳng hạn, riêng chuyện tham nhũng và lãng phí trong quân đội, thì ngoài việc tự kiểm tra, thanh tra rất hình thức, thì đố các cơ quan chức năng của Chính phủ, của dân (Quốc hội) dám xông vào đấy mà soi xét, mà lục vấn (nếu chóp bu Đảng không cho phép)! Quân đội cũng được Đảng ban phát cho nhiều đặc quyền, đặc lợi (chỉ với cán bộ thôi), từ lương bổng cho đến các chính sách ưu đãi thân nhân, cấp nhà cấp đất,... từ chuyện được nhận các công trình ngon lành,... đến việc phong cấp hàm quá nhanh quá thoáng quá nhiều, việc xét tặng danh hiệu nhà nước, phong học hàm khoa học quá dễ,...! Không biết đã đến mức "chiều quá sinh hư", như ngày xưa đã từng có nạn kiêu binh chưa? Chả thế mà ai trong quân đội (và công an nữa, nhưng chỉ là cán bộ thôi) cũng rất tự nguyện theo Đảng đến cùng, hết lòng bảo vệ Đảng, "Đảng còn là mình còn"! Nhân dân rất mong Quân đội nhân dân của họ phải luôn trong sạch, dù bên trên nó là Đảng có vướng vào cái sự hư hỏng, đen bẩn. Trong thâm tâm người dân vẫn tin Quân đội hơn tin Đảng! - Khi đọc các giải pháp chống lại luận điệu "phi chính trị hóa quân đội" mà tác giả đưa ra, chúng ta đều thấy hầu hết đó là các công việc cũ mà quân đội đang làm. Chỉ có một điểm mới là phải kết hợp với việc chống "luận điệu phi chính trị hóa" quân đội, và giọng điệu "lên gân" với "bọn thù địch"! Chúng ta chỉ xin góp vào 5 ý kiến sau: * Phải thay đổi ngay cái lý luận xuất phát về "tính chính trị" của QĐND Việt Nam, bỏ hẳn cách hiểu quân đội chỉ cần trung thành với ĐCS và thể chế chính trị XHCN. * Phải thay đổi cách giáo dục tư tưởng, chính trị trong quân đội, bỏ hẳn cách giáo dục áp đặt, nhồi sọ rất chi là phản động, vì không tôn trọng tính Người, không phát huy được sự tự giáo dục. * Cải tiến chế độ công tác chính trị trong quân đội theo hướng phát huy dân chủ nội bộ, phát huy tính chủ động của cán bộ chỉ huy, bất kể là cán bộ quân sự hay chính trị. Nên chăng có thể bỏ dần chế độ cán bộ chính trị, bắt đầu từ chính trị viên ở cấp đại đội, không cần phân biệt cán bộ chính trị với cán bộ quân sự, vì trong thực tiễn cán bộ chỉ huy nào cũng đều làm tốt được công tác chính trị cả. * Phải đặt thành vấn đề lớn là chống tham nhũng trong quân đội. Bởi quân đội đang quản lý một nguồn lực rất lớn của đất nước, hàng năm đang sử dụng một khoản kinh phí rất nhiều, và trong quân đội chưa có dân chủ thực sự, vẫn tồn tại thói độc quyền, vẫn có "vùng cấm" mà cấp dưới và người ngoài quân đội không được phép biết! * Phải cho quân đội được quyền đối thoại lại với lãnh đạo cấp trên (Đảng, Nhà nước) khi được giao nhiệm vụ khác với chức năng truyền thống. Quân đội có quyền từ chối nhiệm vụ sai lầm và chịu trách nhiệm với cấp cao hơn và với nhân dân về sự từ chối đúng đắn đó. - Tóm lại, có thể nói: Nội dung cốt lõi của bài viết là cố tình xuyên tạc nội hàm khái niệm, là đánh tráo khái niệm xung quanh vấn đề bản chất, và tính chính trị đích thực của QĐNDVN. Cái mẹo ấy hướng vào mục tiêu là gán cho những nhận thức đúng, những đòi hỏi đúng cái tội "luận điệu" "phi chính trị hóa quân đội", và gán cho chủ sở hữu của chúng là bọn phản động, bọn thù địch, chống phá chế độ,..Mục đích của bài viết là cố bảo vệ sự an toàn và tính chính danh cho những việc làm trái khoáy xuất phát từ nhận thức sai trái đó, hòng biến QĐNDVN trở thành chỉ là công cụ của các nhóm lợi ích trong Đảng, có thể chống lại nhân dân, có thể quên mất Tổ quốc, và trở thành phi chính trị thực sự! - Cùng với kiểu phản công tương tự, giới chức cầm quyền của Đảng cũng đang rêu rao về sự nguy hiểm của khuynh hướng"diễn biến hòa bình" và "xã hội dân sự". Họ cũng đánh tráo các khái niệm để vu cáo lực lượng đấu tranh đòi dân chủ hóa đời sống xã hội, đòi thay đổi thể chế một cách ôn hòa, ... cũng là bọn phản động, chống phá nhà nước, âm mưu lật đổ chế độ,... Vì vậy chúng ta phải tỉnh táo, tìm mọi cách để chống lại các thủ đoạn áp đặt tư tưởng, bóp méo nhận thức, như các bài viết kiểu trên. - Chúng ta nêu lại những nội dung trao đổi này cốt để nhiều người được biết đến một thủ đoạn tuyên truyền xảo quyệt lâu nay là đánh tráo khái niệm, áp đặt nhận thức của giới cầm quyền đối với nhân dân, mang ý đồ xấu. Vấn đề "phi chính trị hóa quân đội" và "diễn biến hòa bình" chỉ là một ví dụ gần đây. Rất mong nhiều người cùng tham gia trao đổi, vì đây là hình thức phản biện xã hội rất phổ biến và cần thiết của một xã hội dân sự mà Việt Nam đang hướng tới! Tháng 8 năm 2014 M.A. *Từ ngữ và văn phong trong bài thể hiện quan điểm riêng của tác giả. Nguồn: boxitvn.blogspot.com
......

Âm mưu triệt hạ Chùa Liên Trì

HỘI ĐỒNG LIÊN TÔN VIỆT NAM TUYÊN BỐ VỀ VIỆC NHÀ CẦM QUYỀN CỘNG SẢN VIỆT NAM TRIỆT HẠ CHÙA LIÊN TRÌ Kính gởi: - Chức sắc và tín đồ các Tôn giáo tại Việt Nam. - Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước. Đồng kính gởi: - Tiến sĩ Heiner Bielefeldt, Báo cáo viên Đặc biệt của Liên Hợp Quốc về tự do tôn giáo. - Các Chính phủ dân chủ năm châu, các Tổ chức nhân quyền quốc tế, các Cơ quan báo chí hoàn vũ. Ngày 18-08-2014, nhà cầm quyền phường An Khánh, quận 2, thành phố Sài Gòn đã gởi đến Hòa thượng Thích Không Tánh, Phó Viện trưởng kiêm Tổng ủy viên Từ thiện Xã hội thuộc Tăng đoàn Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất, một “Thư mời” mang tính triệu tập cùng bản “Phụ lục đính kèm” (không có nơi phát hành, không ghi người hữu trách, không dẫn căn cứ pháp luật) về kế hoạch giải tỏa, san bằng Chùa Liên Trì (thuộc khu đô thị mới Thủ Thiêm) mà Hòa thượng đang là Viện chủ. Theo “Phụ lục đính kèm” với lời lẽ đe doạ sẽ “thực hiện biện pháp hành chính để thu hồi…” thì lệnh cưỡng chế, giải tỏa Chùa Liên Trì sẽ được tiến hành từ ngày 08 tháng 9 sắp tới. Trả lời thái độ cường quyền này, Hoà thượng Thích Không Tánh đã có thư phúc đáp đề ngày 21-08-2014 với hai đề nghị và hai tuyên bố. Đề nghị Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Ủy ban Nhân dân thành phố “ngưng cho công an canh gác, cô lập, sách nhiễu, áp chế Chùa Liên Trì”, cũng như phải “tôn trọng Tự do Tôn giáo, Tín ngưỡng, Nhân quyền mà đình chỉ việc giải toả Chùa Liên Trì nhằm lấy đất đầu tư kinh doanh…”. Tuyên bố không nhận số tiền 5.418.076.120 đồng của UBND Quận 2 nhằm “giải toả triệt tiêu Chùa Liên Trì” cũng như sẽ “tổ chức tuyệt thực và cầu nguyện cho Tự do Tôn giáo, Tín ngưỡng, Nhân quyền Việt Nam…” Trước sự kiện này, trong tinh thần hiệp thông tôn giáo và ý thức bảo vệ lẽ phải, Hội đồng Liên tôn Việt Nam tuyên bố như sau: 1- Khu đô thị mới Thủ Thiêm (rộng 930ha, trong đó tọa lạc Chùa Liên Trì) từ mấy chục năm qua được giới đầu tư kinh doanh bất động sản xem là “vùng đất vàng”. Cũng bởi tính chất gợi lòng tham ấy, công cuộc giải tỏa 15 ngàn hộ dân và cơ sở tôn giáo trong khu vực này – với lối thu hồi kiểu ăn cướp và cách bồi thường kiểu giết dần mòn- đã kéo dài quá lâu, làm phát sinh rất nhiều cuộc khiếu kiện (11 ngàn đơn đã nộp), gây ra rất nhiều vụ cưỡng chiếm bạo hành và còn dẫn đến nhiều nhiều án tù đày lẫn nhiều cái chết thương tâm của dân oan mất đất tuyệt vọng. Công luận từ lâu đã cho dự án xây dựng khu đô thị mới Thủ Thiêm là vụ án cướp đất tàn bạo nhất tại VN dưới chế độ cộng sản, được phối hợp thực hiện bởi những cái gọi là “ủy ban nhân dân”, “tòa án”, công an, côn đồ và đảng ủy. 2- Là một trong ba cơ sở tôn giáo còn sót lại nơi vùng đất sờ đâu cũng thấy tiền này (trong đó có nhà thờ Công giáo Thủ Thiêm và dòng Mến Thánh Giá, cả hai đã quyết không di dời dù bị cưỡng bức, riêng cơ sở của Hội thánh Tin lành Mennonite thì từ lâu đã bị xóa sổ), Chùa Liên Trì đang là nạn nhân mới nhất của mưu đồ tối đa hóa lợi nhuận cho các nhóm lợi ích lẫn mưu đồ tối thiểu hóa hoạt động “chống phá” của một tu sĩ Phật giáo như Hòa thượng Thích Không Tánh (vốn đã 3 lần bị tù bởi chế độ với tổng án 16 năm trời). Thật vậy, từ lâu, trong tư thế Tổng Vụ trưởng Tổng vụ Từ thiện Xã hội thuộc Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất, Hòa thượng đã biến Chùa Liên Trì làm cơ sở thực hiện Đại Bi Tâm của Phật tử, thường xuyên tổ chức các buổi cứu tế cho người nghèo khổ, già yếu, tật bệnh và nhất là anh em Thương binh Việt Nam Cộng Hòa, một thành phần bất hạnh mà cho đến tận hôm nay, chế độ và nhà cầm quyền CS vẫn tiếp tục căm thù, áp bức, kỳ thị, đẩy ra ngoài lề xã hội. Kể từ đầu năm nay, Chùa Liên Trì lại nhiều lần mở rộng cửa từ bi để trở thành nơi sinh hoạt hàng tháng cho các tổ chức xã hội dân sự độc lập, đối tượng của một trong 14 điều cam kết mở rộng của nhà cầm quyền Việt Nam trước Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc vào tháng 10 năm ngoái. Thế nhưng, vài cuộc sinh hoạt dân sự gần nhất đã phải đối mặt với hàng rào nhân viên an ninh vây bọc và những đống đá choán đổ gần hết con đường độc đạo dẫn vào chùa mà xe hơi không thể qua được. Đúng là ngôi chùa và vị viện chủ của nó đã trở thành cái gai trong mắt một nhà cầm quyền độc tài chưa bao giờ chấp nhận các tổ chức dân sự độc lập, và một nhà cầm quyền vô thần đấu tranh mãi mãi không đội trời chung với các tổ chức tôn giáo độc lập. 3- Vì đã hiện diện tại Thủ Thiêm hơn nửa thế kỷ nay, tỏa ánh đạo vàng từ bi hỉ xả cho nhân dân bản địa, Chùa Liên Trì do đó vẫn có quyền tồn tại và phải được tồn tại nơi khu đô thị mới này, vốn theo kế hoạch là một khu cư dân chứ không phải khu quân sự hay khu công nghiệp. Mà dân thì nơi nào cũng cần cơ sở tôn giáo, nên không cần và không thể giải tỏa chùa (cũng như mọi cơ sở của các giáo hội). Nếu làm như thế là cản trở và chà đạp trắng trợn nhu cầu tôn giáo của nhân dân! Thế nhưng, dù hai năm trước đây, ngày 17-9-2012, Hòa thượng Thích Không Tánh đã viết thư gửi Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam yêu cầu không giải tỏa chùa Liên Trì, nay họ vẫn nhất định xóa sổ cứ điểm tâm linh đó và xem ra lần này quyết thực hiện cho kỳ được. Phải chăng để có thể ung dung làm điều tội lỗi, thậm chí tội ác, mà không sợ sự quấy rầy của tôn giáo (như tại các khu đô thị cư dân bên Tàu cộng và Hàn cộng)? Phải chăng để có thể tiếp tục phá hủy truyền thống đạo đức văn hóa dân tộc như họ đã và đang làm hơn nửa thế kỷ nay? 4- Cùng với Tăng đoàn Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất quốc nội lẫn hải ngoại, cùng với bao nhiêu tiếng nói của cá nhân và tập thể trong nước lẫn ngoài nước, người Việt lẫn người ngoại quốc, Hội đồng Liên tôn cực lực phản đối kế hoạch phá hủy Chùa Liên Trì, cướp bóc đất Liên Trì của nhà cầm quyền Cộng sản, cũng như hoàn toàn ủng hộ các đề nghị và tuyên bố của Hòa thượng Viện chủ. Nhà cầm quyền độc tài và vô thần đừng tưởng muốn làm gì -dù trái đạo lý, nghịch lòng dân, vô pháp luật- trên đất nước này thì làm. Hãy dừng bàn tay tội ác, đừng dại chuốc lấy quả báo khủng khiếp cho mình, đừng gây thêm khổ đau vô vàn cho Dân tộc này nữa! 5- Chúng tôi cũng kính mong các chính phủ dân chủ, các tổ chức nhân quyền, các cơ quan báo chí, các cộng đồng người Việt khắp nơi, đặc biệt ngài Heiner Bielefeldt, Báo cáo viên Đặc biệt của Liên Hợp Quốc về tự tôn giáo hay tín ngưỡng, hãy lên tiếng phản đối, tìm cách ngăn chặn việc làm phi tôn giáo, phi nhân quyền của Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam. Sự tồn vong của Chùa Liên Trì cũng là sự tồn vong của tôn giáo, sự tồn vong của những giá trị tâm linh, sức mạnh tinh thần vốn rất cần thiết cho một Việt Nam đang từng ngày bị băng hoại bởi chủ nghĩa và chế độ duy vật vô thần, độc tài toàn trị. Làm tại Việt Nam ngày 30 tháng 8 năm 2014 Hội đồng Liên tôn Việt Nam: - Cụ Lê Quang Liêm, Hội trưởng PGHH (đt: 0199.243.2593).- Hòa thượng Thích Không Tánh, Phật Giáo (đt: 0165.6789.881)- Thượng tọa Thích Viên Hỷ, Phật Giáo (đt: 0937.777.312).- Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi, Công Giáo (đt: 0984.236.371)- Linh mục Giuse Đinh Hữu Thoại, Công Giáo (đt: 0935.569.205)- Linh mục Antôn Lê Ngọc Thanh, Công Giáo (đt: 0993.598.820)- Chánh trị sự Hứa Phi, Cao Đài (đt: 0163.3273.240)- Chánh trị sự Nguyễn Kim Lân, Cao Đài (đt: 0988.971.117)- Chánh trị sự Nguyễn Bạch Phụng, Cao Đài (đt: 0988.477.719)- Mục sư Nguyễn Hoàng Hoa, Tin Lành (đt: 0949.275.827)- Mục sư Nguyễn Mạnh Hùng, Tin Lành (đt: 0906.342.908)- Mục sư Lê Quang Du, Tin Lành (đt: 0121.2002.001)- Mục sư Nguyễn Trung Tôn, Tin Lành (đt: 0162.838.7716)- Mục sư Đinh Thanh Trường, Tin Lành (đt: 01202352348)- Mục sư Đinh Uy, Tin Lành (đt: 01635847464)- Ông Phan Tấn Hòa, PGHH (đt: 0162.630.1082)- Ông Tống Văn Chính, PGHH (đt: 0163.574.5430)- Ông Lê Văn Sóc, PGHH (đt: 096.419.9039)   Nguồn: fvpoc.org
......

ĐẶC SẢN CÔNG LÝ CỦA CHXHCNVN

1. Theo tin DCCT (nguồn: http://www.chuacuuthe.com/2014/08/cong-an-danh-chet-nguoi-dan-bi-18-than...): Ông Y Két Bdap trú buôn Kmar, xã Ea Bhốk, huyện Cư Kuini đã bị hai công an viên trên đánh chết ngày 28.11.2013 vì bị tình nghi ăn trộm bò. Trong đồn, ông Y Két bị trói vào cửa sổ và công an dùng gậy cao su tra tấn, buộc ông nhận tội, cho đến chết. 2 công an dùng nhục hình chỉ bị xử 18 tháng tù. 2. Vụ án Đồng Tháp mà dân cư mạng mỉa mai là "2 xe đi hàng 3" xử bà Bùi Thị Minh Hằng 3 năm tù về tội gây rối giao thông. Vụ án vô lý đến nỗi Đại sứ quán Đức tại Hà Nội vốn rất hiền lành và nhân bản đã phải ra một thông báo phản đối. Xin trích lời ông đặc sứ Christoph Strässer:   "Tôi lo ngại về hình phạt tù giam nhiều năm đối với ba nhà hoạt động nhân quyền vì tội "gây rối trật tự công cộng". Như vậy ba nhà hoạt động này bị giam trong tù nhiều năm chỉ vì cản trở giao thông trong một thời gian ngắn. Điều đó hoàn toàn không tương xứng và kỳ lạ. Rất tiếc là nó cho thấy rằng, tình hình nhân quyền ở Việt Nam vẫn rất khó khăn: Những người khác chính kiến vẫn tiếp tục bị trấn áp, đe dọa hoặc bắt giam. Tôi yêu cầu các cơ quan chức trách Việt Nam đình chỉ án phạt tù và thả ngay ba người này. Việt Nam là thành viên Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc và đã ký kết nhiều công ước Liên hiệp quốc về nhân quyền. Việt Nam phải coi đó là thước đo." Nguồn: http://www.hanoi.diplo.de/Vertretung/hanoi/vi/05-Aussenpolitik_20u_20D-V...
......

Những phiên tòa nối tiếp phiên tòa

Vào ngày 10 tháng Chín, 2008, nhà báo tự do Nguyễn Văn Hải tức blogger Điếu Cày đã bị Tòa án Nhân dân TP.HCM kết án 30 tháng tù vì tội “trốn thuế”. Nhưng những người hiểu chuyện đều biết, Điếu Cày bị tù vì đã dám lên tiếng trước những bất công oan trái của xã hội, quan trọng hơn, dám chống Tàu! Cùng với các sinh viên, văn nghệ sĩ và bạn bè trong nhóm “Câu lạc bộ Nhà báo Tự Do” Điếu Cày đã dám viết lên những chữ “Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam”, dám biểu tình kỷ niệm 34 năm ngày mất Hoàng Sa 19 tháng 1,1974-19 tháng 1, 2008, ngay trước cửa Nhà hát Thành phố, khi mà trận hải chiến Hoàng Sa còn là điều “nhạy cảm” không được công khai nhắc đến, đối với nhà cầm quyền lúc bấy giờ. Đến tháng 10, 2010, lẽ ra Điếu Cày phải được trả tự do nhưng bản án của ông lại bị gia hạn để “điều tra thêm”. Và rồi tháng 4, 2012 ông bị tòa án xét xử thêm về tội “tuyên truyền chống nhà nước” theo Điều 88 Bộ Luật Hình sự, cùng với nhà báo Tạ Phong Tần tức blogger Công lý và Sự thật, và luật gia Phan Thanh Hải tức blogger Anh Ba Sài Gòn. Ông Nguyễn Văn Hải bị kết án 12 năm tù, bà Tạ Phong Tần 10 năm còn ông Phan Thanh Hải nhẹ nhất với 3 năm tù.   Sáu năm sau, ngày 26 tháng Tám, 2014, một phiên tòa bỏ túi khác diễn ra tại Tòa án Nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, xử ba nhà tranh đấu Bùi Thị Minh Hằng, Nguyễn Thị Thúy Quỳnh và Nguyễn Văn Minh. Kết quả bà Bùi Thị Minh Hằng 3 năm tù giam, anh Nguyễn Văn Minh 2 năm rưỡi và cô Nguyễn thị Thúy Quỳnh 2 năm, về tội “gây rối trật tự công cộng khiến ách tắc giao thông nghiêm trọng”. Và giữa hai phiên tòa này là những phiên tòa ô nhục khác, trong những vụ án có tính chất chính trị hay đàn áp tôn giáo, với lần lượt nhiều người theo nhau đi vào nhà tù nhỏ. Từ giới luật sư, kỹ sư, doanh nhân, nhà báo, blogger cho tới dân thường, các thanh niên Công giáo, Tin Lành, phật tử của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, người dân tộc thiểu số… Người bị kết án nặng 16 năm như kỹ sư Trần Huỳnh Duy Thức, 12 năm như blogger Điếu Cày, người nhẹ cũng hai, ba năm.   Nhưng có những lý do khiến bài viết này phải nhắc đến bản án của blogger Điếu Cày, người đầu tiên bị tù vì những gì đã viết và đăng tải trên mạng, và vụ vừa mới xảy ra của nhà hoạt động nhân quyền Bùi Thị Minh Hằng. Thứ nhất, vì một số điểm chung giữa họ. Cả hai, ông Nguyễn Văn Hải hay bà Bùi Thị Minh Hằng đều là những người dân bình thường, sinh ra và lớn lên trong môi trường của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trước đó đang có một cuộc sống kinh tế khá thoải mái, sung túc do tự kinh doanh.   Cả hai, do vậy, không có gốc gác con em “ngụy quân ngụy quyền” để có thể có mối thù riêng với chính quyền, cũng chẳng nhờ kiến thức sách vở hàn lâm mà hiểu ra những chủ trương, chính sách sai lầm của nhà cầm quyền. Chính từ thực tế cuộc sống, những oan ức của người dân, những bất công phi lý trong xã hội khiến họ cũng như rất nhiều người Việt Nam khác nhìn ra sự thật. Và từ lòng yêu nước thôi thúc họ phải xuống đường, cùng với những người khác, cảnh báo mối họa xâm lược từ Trung Cộng. Với blogger Điếu Cày, nỗi đau còn từ những ngày lặn lội lên tận thác Bản Giốc, tận mắt chứng kiến và ghi lại qua những tấm ảnh, một phần “thân thể của đất nước” nay đã thuộc về nước khác. Trong nỗi đau có cả cảm giác bị phản bội của một người từng cầm súng bảo vệ cái chế độ này. Tội lớn nhất của họ, không chỉ là tội “tuyên truyền chống nhà nước”, mà trong mắt của một nhà cầm quyền luôn khiếp sợ Tàu, đó là tội chống Tàu! Cả hai phiên tòa, dù cách nhau 6 năm, nhưng những gì diễn ra trong, ngoài, trước và sau phiên tòa thì chẳng có gì thay đổi. Vẫn những sự đàn áp, khủng bố của đám công an chìm nổi các loại được lệnh phải ngăn chặn bằng mọi giá những người đến dự các phiên tòa được gọi là “công khai”, cho tới toàn bộ diễn biến khôi hài, bất chấp pháp luật của phiên tòa và bản án được tuyên. Có khác chăng, và cũng là tín hiệu đáng mừng, số lượng người hiểu chuyện và tìm cách vượt vòng vây đến với phiên tòa của bà Bùi Thị Minh Hằng bây giờ nhiều hơn trước kia.   Ngày càng nhiều người vượt qua nỗi sợ hãi, ngày càng nhiều người dám lên tiếng, dấn thân. Đồng thời, những bản án như vậy chỉ khiến cho bản thân người bị kết án trở nên trưởng thành hơn về nhận thức chính trị, có lòng tin mạnh mẽ hơn vào việc làm của mình, của bạn bè. Nhìn vào sự vững vàng của blogger Điếu Cày trong suốt thời gian bị cầm tù khắc nghiệt vừa qua hay khuôn mặt, thái độ bình thản của Bùi Thị Minh Hằng, Nguyễn Thị Thúy Quỳnh và Nguyễn Văn Minh, người ta cảm nhận được điều đó.   Không những thế, bạn bè, gia đình, người thân của họ cũng từ chỗ có thể chưa hiểu việc làm của họ, nhưng khi chứng kiến quá trình bắt giữ, xét xử, kết án bất chấp luật pháp, quá trình giam giữ phi nhân trong tù, sẽ hiểu ra và ủng hộ. Như chị Dương Thị Tân, vợ cũ của blogger Điếu Cày và con trai, hay Trần Bùi Trung, con trai của Bùi Thị Kim Hằng. Như ông Trần Văn Huỳnh phụ thân anh Trần Huỳnh Duy Thức, bà Trần Thị Ngọc Minh mẹ của cô Đỗ Thị Minh Hạnh, bà Nguyễn Thị Kim Liên mẹ của Đinh Nguyên Kha, Đinh Nhật Uy hay bà Nguyễn Thị Nhung mẹ của Nguyễn Phương Uyên… Và rất nhiều sự hy sinh khác phía sau của những người mẹ, cha, vợ, con…của những tù nhân chính trị, kể làm sao cho hết từ cái thời Nhân Văn Giai Phẩm, vụ án xét lại những năm 60-70 của thế kỷ XX, qua thời hàng ngàn hàng vạn quân dân cán chính của chế độ miền Nam phải đi “học tập cải tạo” dài ngày cho tới những vụ án có tính chất chính trị sau này. Chính nhà cầm quyền, bằng vào sự thiển cận hẹp hòi và những chính sách sai lầm, hà khắc đã tự đẩy người dân về phía đối nghịch, ngày càng nhiều. Một tín hiệu vui khác, giữa những ngày mà dư âm của phiên tòa xử Bùi Thị Minh Hằng và hai người bạn vẫn đang làm mọi người phẫn nộ thì thông tin về việc blogger Điếu Cày có khả năng được thả ra, vốn đã loan truyền trước đó, lại nổi lên. Rất có thể trong những ngày sắp tới, một vài tù nhân lương tâm nổi tiếng sẽ được thả, như 5, 6 trường hợp tù chính trị gần đây, để nhà cầm quyền đổi lại những điều mà họ đang rất cần như được gia nhập Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (viết tắt TPP) hay được Mỹ bỏ cấm vận bán vũ khí sát thương…Mà cũng có thể sẽ chỉ là mừng hụt. Nhưng cho dù blogger Điếu Cày và vài tù nhân lương tâm khác có được thả ra, thì cũng vẫn có những người khác đang hoặc chuẩn bị bước vào tù thay thế họ, như nhóm Bùi Thị Minh Hằng mới đây chẳng hạn. Quyền được lên tiếng cùng với những cái quyền tối thiểu nhất của một con người, một công dân vẫn tiếp tục là điều xa xỉ, ở Việt Nam. Sinh mạng, sự an toàn của mỗi tù nhân chính trị tiếp tục trông chờ vào dư luận bên ngoài, sức ép từ quốc tế và những cân nhắc có tính đổi chác không hề biết xấu hổ của nhà cầm quyền, trong khi những người khác tiếp tục là những “tù nhân dự bị”. Bởi vì trước mắt, chẳng có bất cứ dấu hiệu gì cho thấy nhà nước này thật sự muốn thay đổi, dù chỉ một lần, thử đặt quyền lợi của đất nước, dân tộc lên trên quyền lợi của đảng. Có lẽ đã từng có những hy vọng nhen nhóm nào đó trong người dân khi mới đây, Trung Cộng ngang nhiên đưa giàn khoan khủng xâm phạm lãnh hải Việt Nam, làm thổi bùng lên cơn phẫn nộ của cả nước và khiến nhà cầm quyền có những dịch chuyển mơ hồ về phía Hoa Kỳ và các nước dân chủ tiến bộ trên thế giới. Nhưng nếu có, hẳn cũng tắt ngúm trước thực tế Hà Nội tiếp tục kết án những người yêu nước, cử “đặc phái viên” sang Tàu tạ tội, cam kết khôi phục mối quan hệ giữa hai bên và thỏa thuận cho phép Trung Cộng khai thác vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam. Cùng với những diễn biến khác nữa, chỉ chứng minh rằng điều duy nhất mà nhà nước cộng sản Việt Nam mong muốn, là tiếp tục đu dây giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ cùng các nước dân chủ để hưởng lợi từ hai bên, đồng thời kéo dài sự tồn tại của chế độ bất chấp mọi quy luật của thời đại và ý nguyện của người dân. Nguồn: FB Song Chi
......

Bàn về các Thái Tử Đảng

Gần 20 năm trước, trong phần kết luận của tiểu luận “Chia Tay Ý Thức hệ”, Tiến sĩ Hà Sĩ Phu đã nhận định rằng: “Càng suy nghĩ về nội dung cũng như về hiện tình của Ý thức hệ Mácxít, tôi càng thấy rõ đây là một Ý THỨC HỆ PHONG KIẾN TRÁ HÌNH của triều đại phong kiến cuối cùng, đang kìm hãm sự tiến bộ xã hội, và được dùng làm BÌNH PHONG cho những yếu tố tiêu cực ẩn nấp.” Nếu qua nhận định vừa kể, ông Hà Sĩ Phu chỉ hiện thực hoá ý thức hệ Mác Xít thành một ý niệm khác gần gũi và dễ hiểu hơn nhưng vẫn mang tích cách trừu tượng, thì đảng Cộng Sản Việt Nam đã cụ thể hoá sự trừu tượng đó trong việc họ công khai xây dựng triều đại Cộng Sản thành một triều đại phong kiến theo nghĩa đen, qua các “quy hoạch cán bộ cấp chiến lược” (hội nghị trung ương 7, tháng 5/2013) nhằm đưa con cháu của những người từng có nhiều quyền hành hoặc đương quyền vào những vị trí lãnh đạo cao cấp, chuẩn bị cho đường tiến thân lên vị trí cao hơn ở kỳ họp đảng sắp đến. Kết luận của hội nghị trung ương IX của đảng vào tháng 5 vừa qua còn tái khẳng định đó là “chủ trương lớn của đảng”. Tuy nhiên, đối với dân chúng thì đó chỉ là cách để củng cố triều đại phong kiến kiểu cộng sản.   Điểm cũng cần nói tới là, đây không chỉ là “chủ trương lớn” của riêng đảng CSVN, mà là hiện tượng chung của bốn nước cộng sản còn rơi rớt lại trên quả đất này (Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Triều Tiên và Cuba – không kể nước Lào nhỏ bé). Cả 4 nước đều có những cách làm tương tự như vậy để chuẩn bị và củng cố vai trò lãnh đạo cho thành phần con cháu lãnh đạo đảng đương thời, gọi là "thái tử đảng" (ký giả phương Tây có chữ riêng cho họ: princelings). Danh sách các “thái tử đảng” Việt Nam đã lên đến mấy chục người (mà người ta có thể dễ dàng tìm kiếm trên mạng internet) mới đây lại vừa được bổ xung thêm ông Nguyễn Bá Cảnh, con của ông Nguyễn Bá Thanh, ủy viên Bộ Chính Trị, trưởng ban Nội Chính Trung Ương; hầu kịp thời chạy đua và hợp thức hoá họ lên hàng ngũ cán bộ cấp trung ương trong kỳ đại hội đảng sắp tới. Nhân dịp này báo chí lề đảng tha hồ trổ tài nịnh hót mấy thái tử đảng là con cháu của những lãnh tụ chóp bu hiện nay, như là những nhà lãnh đạo tương lai “tuổi trẻ tài cao, học hành đến nơi đến chốn”, v.v.... Thậm chí có báo còn đăng hình ảnh để chứng minh các thái tử đó không những “tuổi trẻ tài cao” mà còn “đẹp trai như tài tử Holywood” (quên mất sự thường tình ’xấu đẹp tuỳ người đối diện’ của các mục tìm bạn bốn phương). Sự khen ngợi đến độ lố bịch này đã khiến dây thần kinh xấu hổ của lãnh đạo đảng được hồi phục lại trong giây lát để dẹp bài báo đó xuống, nhưng sự mỉa mai và bất phục vẫn được lan truyền với tốc độ của ánh sáng trên mạng. Tuy cùng là “thái tử đảng” nhưng mấy năm trước “thái tử” Nông Quốc Tuấn (con của nguyên tổng bí thư Nông Đức Mạnh) chỉ được báo chí lề đảng tâng bốc bâng quơ. Một phần vì báo chí biết rằng ông Nông Đức Mạnh sắp về vườn; phần khác vì quả thực ông Tuấn (đã hơn 40 tuổi) không thuộc hàng trẻ tuổi nữa, lại không học hành đến nơi đến chốn mà bắt đầu bằng việc đi xuất khẩu lao động ở Đức; không những thế ông Tuấn còn bị chỉ trích là bất tài, thiếu năng lực. Một điểm chung là các “thái tử đảng đẹp trai như tài tử” này đều được đi du học ở những nước “tư bản thối nát”, chẳng một ai đi học ở các nước “xã hội chủ nghĩa anh em tiến bộ” như Trung Cộng, Bắc Hàn, Cu Ba. Đây là điều khiến nhiều người thắc mắc, khi mà đảng CSVN phát động phong trào đấu tranh chống các “thế lực thù địch” (được đảng xác định là xuất phát từ các nước tư bản) và chống “tự diễn biến”; nhưng con cái của lãnh đạo đảng lại đi học ở những nước tư bản, thừa hưởng sự giáo dục của những nước ấy thì họ chống thế lực thù địch và chống tự diễn biến như thế nào? Thực ra thì còn nhiều thắc mắc khác liên hệ đến thái tử đảng, chẳng hạn như cương lĩnh đảng vẫn ghi rõ “đảng là đại diện của giai cấp công nhân và nhân dân lao động” nhưng thành phần lãnh đạo đảng hiện nay ai là người thuộc hai giai cấp vừa kể? Làm sao để các thái tử đảng đang sống xa hoa trên hàng núi của cải biến thành những công nhân và nhân dân lao động bần cùng, hầu trở thành giai cấp lãnh đạo đúng như cương lĩnh? Tuy thắc mắc như vậy nhưng đến nay người ta cũng hiểu rằng những lãnh đạo chóp bu của đảng vẫn “mở máy” nói về tư bản, về xã hội chủ nghĩa, nhưng thực sự có lẽ họ cũng chẳng tin vào những điều họ nói. Chẳng hạn như ông Nguyễn Phú Trọng vẫn cho rằng, tình trạng tham nhũng trong đảng bất trị hiện nay là do “tác động tiêu cực” của mặt trái nền kinh tế thị trường, mà ông ta không hề tự hỏi tại sao hàng trăm quốc gia tư bản theo nền kinh tế thị trường mấy chục năm qua, thậm chí cả thế kỷ qua, vẫn trị được “mặt trái” của nền kinh tế đó một cách hữu hiệu. Như đã đề cập ở trên, từ 20 năm trước ông Hà sĩ Phu đã nhìn ra cái chế độ hiện nay chỉ là một triều đại phong kiến trá hình, được dùng làm bình phong cho các yếu tố tiêu cực ẩn nấp (ngày nay danh từ thời thượng cụ thể hóa sự tiêu cực đó là các ’nhóm lợi ích’). Cho đến nay càng ngày người ta càng thấy rõ, chỉ duy trì được chế độ phong kiến trá hình này để làm bình phong thì đảng mới duy trì và củng cố được quyền lực, chứ công khai minh bạch thì đảng sẽ.... vắn số. Quyền lực mới là vấn đề quan trọng đối với đảng. Vì vậy, việc “cơ cấu” các thái tử đảng (và cán bộ trung, cao cấp theo quy hoạch cán bộ cấp chiến lược) tuy đậm nét phong kiến, nhưng là điều cần thiết, không chỉ để củng cố, mà còn duy trì quyền lực đó lâu dài. Hồi tháng 3 vừa qua có đợt luân chuyển 44 cán bộ, trong đó có đến 22 người được “cơ cấu” vào Ban Chấp hành Trung ương đảng CSVN khóa XII (tức cơ quan cao nhất của đảng CSVN) và vào những chức vụ quan trọng khác, chính là cách thực hiện việc kế thừa quyền lực vừa kể. Ở đây cũng cần mở một dấu ngoặc để nói về sự kế thừa quyền lực ở cấp bộ thấp hơn. Đầu tháng 8 vừa qua, có vụ 40 người đã nộp “phí chống trượt”, nhưng không chen chân nổi với đám 5 C (con cháu các cụ cả) trong kỳ thi vào cao học tại Trung tâm Giáo dục Thường xuyên tỉnh Thanh Hóa. Tương tự, tháng 10 năm ngoái, lần đầu tiên Cục Quản lý Thị Trường tổ chức thi tuyển thì 10 người trúng tuyển (trong số 300 người dự thi) đều thuộc dạng 5C. Những sự kiện vừa kể cho thấy việc “kế thừa quyền lực” được thực hiện xuyên suốt từ trên xuống dưới. Nếu ở cấp trung ương có các thái tử đảng, thì ở địa phương với những chức vụ cò con thì có những người thuộc dạng 5C. Trở lại chuyện các thái tử đảng, một nhu cầu trọng yếu khác nữa khiến lãnh đạo hiện nay phải cài cắm cho được con mình vào những vị trí then chốt là để bịt chặt những chuyện thâm cung bí sử, những hồ sơ cũ, những vụ tham nhũng, hãm hại người khác động trời của chính họ không lọt ra ngoài. Nhu cầu này lại càng cần thiết một khi họ đã "hạ cánh"? (Như chuyện bà Võ Thị Thắng [2] vừa qua đời, nhưng cho đến chết vẫn chưa biết tại sao ? và những ai trong bộ chính trị đã rắp tâm hãm hại mình?). Đó là chưa kể đến những hồ sơ liên quan đến sự bán chác đất đai, biển đảo với người “vừa là đồng chí vừa là anh em” đang được dư luận râm ran bàn tán hiện nay. Đã có một dạo dư luận, kể cả một số “học giả nước ngoài”, hy vọng rằng, với kiến thức và kinh nghiệm các thái tử đảng thu thập được khi du học ở các nước tư bản, thế hệ lãnh đạo mới này sẽ làm đất nước “thay da đổi thịt” theo con đường tiến bộ. Hy vọng này có thể đúng đối với những quốc gia bình thường (theo nghĩa không có một chế độ độc tài theo dạng nào đó quyết bám giữ quyền lực), nhưng với một chế độ phong kiến trá hình như ở Việt Nam thì như đã phân tích ở trên: “quyền lực là tất cả”, cho nên áp dụng một điều bình thường vào một chế độ bất thường là điều bất khả. Thí dụ tương tự rõ nhất là trường hợp lãnh tụ Kim Chính Ân của Bắc Hàn. Ông Kim Chính Ân du học ở Thuỵ Sĩ nhưng chẳng áp dụng một điều nào học hỏi được khi ông ta nắm quyền lực trong triều đại phong kiến trá hình ở Bắc Hàn. Thực tế từ hơn hai thập niên qua cũng cho thấy đảng đã mở những chiến dịch mời gọi trí thức Việt Nam ở nước ngoài về giúp xây dựng đất nước, nhưng một số nhỏ nhoi những trí thức làm theo lời mời gọi đó đều đã thất vọng bỏ đi sau khi va chạm thực tế. Thực tế đó là quyền lực của đảng từ trung ương đến mọi ngóc ngách địa phương. Một trường hợp tương tự là “12/13 quán quân Olympia không về nước” mới được báo chí đăng tải gần đây. Gameshow “Đường lên đỉnh Olympia” quy tụ những học sinh giỏi nhất nước, đã phát sóng từ 14 năm qua. Khi đoạt giải sẽ được đi du học ở Úc. 12 trong số 13 người của chương trình này đã ở lại Úc hoặc những nước tiến bộ khác để phục vụ hoặc tiếp tục con đường học vấn mà không quay về Việt Nam, hầu họ có thể sống “cho ra con người”, và đặc biệt là không phải va chạm với quyền lực của các thái tử đảng khi họ muốn thực thi sở học để phục vụ đất nước. Quyền lực đó của đảng to lớn như thế nào thì chỉ cần nhớ lại sự phân cấp trên – dưới: “cương lĩnh đảng cao hơn hiến pháp” được chính ông Nguyễn Phú Trọng nói ra là biết. Khi loan tin về các thái tử đảng, báo chí không quên nhắc nhở rằng, họ là những người được đào tạo bài bản ở các trường đại học (trong đó có những trường nổi tiếng) ở các nước tây phương tiên tiến, hầu nhắc nhở độc giả tự hiểu rằng “dù vậy họ vẫn trở về nước phục vụ quê hương”, chứ không như hai thành phần trí thức nêu trên. Sự trái ngược này khiến nảy sinh ra một câu hỏi khác: “Nếu không phải là con cái những lãnh đạo chóp bu thì liệu rằng các thái tử đảng đó có trở về nước hay không? Và động cơ nào thúc đẩy họ về nước?” Câu trả lời thực ra không khó. Những sinh viên du học khác, sau khi học hành vất vả kiếm được mảnh bằng về nước nhưng nếu không nằm trong những thứ tự ưu tiên cao để xin được việc: “Nhất hậu duệ - Nhì quan hệ - Ba tiền tệ - Bốn trí tuệ - Còn lại là mặc kệ”, mà chỉ có trí tuệ thôi thì có nhiều triển vọng sẽ thất nghiệp đứng đường như hơn một trăm ngàn cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp hiện nay. Còn các thái tử đảng dù có học hành đến nơi đến chốn hay không (khó ai biết được) thì cũng đã có đầy đủ 3 ưu tiên cao nhất kể trên mà có khi chẳng cần đến trí tuệ, và đều được “cơ cấu” vào những vị trí béo bở để chuẩn bị cho việc kế thừa quyền lực từ thế hệ trước, hầu duy trì triều đại phong kiến trá hình hiện nay cùng với quyền lực của đảng. Một câu trả lời của nhà thơ Nguyễn Duy được thuật lại trong một bài viết đăng trên trang blog Quê Choa gần đây (3) có lẽ là gợi ý cho câu trả lời xác đáng nhất và thú vị nhất cho câu hỏi động cơ nào thúc đẩy các thái tử đảng trở về nước. “Nhà văn Nguyễn Quang Lập hỏi nhà thơ Nguyễn Duy, người đi Mỹ nhiều lần, có lần ở cả 6 tháng và không phải là cưỡi ngựa xem hoa: ’Ông hãy nói cho tôi biết chỉ một câu về nước Mỹ’. Nguyễn Duy cũng trả lời không cần suy nghĩ: ’Đó là đầy đủ tất cả những điều mà Mác mơ ước’“. Ước mơ của Mác là thiên đường cộng sản, trong đó người ta “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu”. Chưa vội nói đến thiên đường cộng sản, trong trường hợp Việt Nam ông Nguyễn Phú Trọng đã băn khoăn là không biết sang thế kỷ sau nước mình có thể tiến được lên xã hội chủ nghĩa chưa, để mấy...ngàn (hay tỷ) năm sau đó mới tiến lên được xã hội cộng sản. Chuyện tiến lên tiến xuống các cung bậc những loại xã hội do Mác định đặt ra là chuyện của dân. Còn lãnh đạo đảng và gia đình họ thì đã tiến lên và vượt qua khỏi thiên đường cộng sản rồi. Vì dù có năng lực hay không thì họ cũng đã và đang thụ hưởng thừa mứa những nhu cầu. Các thái tử đảng nằm trong thành phần ít oi này. Bởi vậy chẳng dại gì mà họ không trở về nước để thụ hưởng. Không những thụ hưởng thừa mứa, mà họ còn nắm trong tay đầy quyền lực, chẳng khác gì các vua chúa, thái tử của những triều đại phong kiến ngày xưa. Ông Nguyễn Văn An nói thành phần lãnh đạo đảng là “vua tập thể” chẳng có gì là quá đáng. Bởi vậy cũng nên sửa lại một câu nói của bà phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan cho phù hợp với triều đại phong kiến cộng sản hiện nay; “Chế độ ta phong kiến gấp trăm lần các nước khác và vua chúa khác. Chúng chỉ có MỘT hoàng tộc [ngay cả Bắc Hàn cũng chỉ có một hoàng tộc], trong khi chế độ ta có vua tập thể nên có rất nhiều hoàng tộc”. Mà tất cả những thành viên trong các hoàng tộc đó họ “ăn của dân không từ một thứ gì”. - - -   Chú thích: (1) Một vài “thái tử đảng” tiêu biểu: Nguyễn Minh Triết (Phó Bí thư tỉnh đoàn Bình Định), Nguyễn Thanh Nghị (Phó Bí thư tỉnh ủy Kiên Giang, uỷ viên dự khuyết trung ương đảng). Cả hai đều là con của đương kim Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Lê Trương Hải Hiếu (Phó Chủ tịch quận 1, quận sầm uất, giàu có nhất Sài Gòn) là con của Bí thư thành phố Sài Gòn Lê Thanh Hải. Nguyễn Bá Cảnh (được chỉ định làm Ủy viên Ban chấp hành đảng bộ Đà Nẵng), là con của Trưởng Ban Nội chính Trung ương Nguyễn Bá Thanh. (2) “VÕ THỊ THẮNG: có một nụ cười khác”, Đào Hiếu, http://daohieu.wordpress.com/2014/08/23/vo-thi-thang-co-mot-nu-cuoi-khac-2/ (3) http://quechoablog.wordpress.com/2011/10/17/n%C6%B0%E1%BB%9Bc-m%E1%BB%B9... Nguồn: viettan.org
......

14 tổ chức NGO quốc tế lại lên tiếng cho Ls. Lê Quốc Quân

Kính gởi:Ông Trương Tấn Sang Chủ tịch CHXHCN Việt Nam 02 Hùng Vương, Quận Ba Đình Hà Nội Việt Nam Ông Nguyễn Tấn Dũng Thủ tướng CHXHCN Việt Nam 01 Hoàng Hoa Thám street, Quận Ba Đình Hà Nội Việt Nam Ngày 26 tháng 8 năm 2014 Về việc bắt giam tùy tiện Ls. Lê Quốc Quân Kính thưa quí Ông, Các tổ chức ký tên trong thư này yêu cầu quí ông trả tự do cho ông Lê Quốc Quân, một luật sư nhân quyền và blogger được nhiều nể trọng. Ông Lê Quốc Quân bị bắt vào ngày 27 tháng 12 năm 2012 vì bị cáo buộc về tội trốn thuế. Sau khi bị bắt, ông bị biệt giam và không được phép gặp luật sư trong hai tháng. Lời yêu cầu của gia đình đi thăm bị liên tiếp từ chối. Ông Quân lần đầu tiên gặp người nhà trong phiên xử ngày 2 tháng 10 năm 2013, khi ông bị kết tội trốn thuế lợi tức công ty và kết án 30 tháng tù giam và nộp phạt 1.2 tỷ đồng (khoảng USD 59,000). Vào năm 2013, Ủy Ban Điều Tra về Bắt giữ Tùy tiện của Liên Hiệp Quốc đã lên án việc ông Lê Quốc Quân bị giam cầm là vi phạm quyền tự do ngôn luận và quyền được xét xử bình đẳng. Ủy Ban cho rằng ông Lê Quốc Quân trở thành mục tiêu tấn công vì việc hoạt động và viết blog, và kêu gọi thả ông ngay lập tức hoặc bản ản phải được xem xét lại bởi một tòa án độc lập. Ủy Ban còn đề nghị Việt Nam phải bồi thường thiệt hại cho ông Lê Quốc Quân vì việc bắt giữ tùy tiện này. Nhà cầm quyền Việt Nam đã không phản hồi về phán quyết này. Vào ngày 18 tháng 2 năm 2014, Tòa phúc thẩm tại Hà Nội vẫn giữ nguyên bản án đối với ông Lê Quốc Quân. Phán quyết của Ủy Ban Điều Tra về Bắt giữ Tùy tiện của Liên Hiệp Quốc đã không được lưu tâm đến. Với ngày Quốc Khánh Việt Nam ngày 2 tháng 9 năm 2014 sắp tới đây, chúng tôi một lần nữa kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam hãy tuân theo phán quyết của Ủy Ban Điều Tra về Bắt giữ Tùy tiện của Liên Hiệp Quốc và thả ông Lê Quốc Quân ngay lập tức và vô điều kiện. Chúng tôi cảm ơn sự quan tâm của ông. Một bản sao của lá thư này đã được gởi đến Tổng thống Hoa Kỳ và đại diện Liên Hiệp Châu Âu tại Hà Nội. Trân trọng,   Amnesty International USA Lawyers’ Rights Watch Canada (LRWC) Article 19 Media Defence – Southeast Asia (MDSEA) Center for International Law (Centerlaw), Philippines Media Legal Defence Initiative (MLDI) Electronic Frontier Foundation National Endowment for Democracy (NED) English PEN Reporters Without Borders Front Line Defenders Réseau Avocats Sans Frontières / ASF Network Lawyers for Lawyers (L4L) World Movement for Democracy (BBT-WebVT chuyển ngữ) Nguồn: viettan.org
......

Tinh thần Bùi Thị Minh Hằng - Kỳ 1: Đào thoát

Phiên sơ thẩm xử Bùi Thị Minh Hằng, Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Thị Thúy Quỳnh (từ giờ xin viết tắt là BTMH, NVM và NTTQ) đã kết thúc với bản án rất nặng. Đây là vụ án được quan tâm đặc biệt. Sự quan tâm đó đến cả từ hai phía: phía thực hiện kịch bản mang ba người bỏ tù cho bằng được và phía bảo vệ họ.   Chưa bao giờ, một vụ án được nhiều người quan tâm đến thế. Ước tính khoảng 200 người gồm bạn hữu, dân oan từ khắp 3 miền đã đổ về Cao Lãnh. Họ đi bằng đủ các phương tiện, bằng đủ mọi cách để đến với BTMH, NVM và NTTQ bằng được, bất chấp hiểm nguy, vất vả. Về phía nhà cầm quyền, họ đã huy động một lực lượng cảnh sát, mật vụ khổng lồ với phương tiện đầy đủ để ngăn chặn, bố ráp, bắt bớ sao cho không một người nào ủng hộ Bùi Thị Minh Hằng bén mảng được đến khu vực tòa án. Một số người còn bị đánh đập dã man.   Xin mở đầu ghi chép này bằng câu chuyện của tôi. Kỳ 1: Đào thoát Sau 9 ngày công an tỉnh Đồng Tháp bắt BTMH, NVM và NTTQ, không thấy thả ra, tôi đã xác định bằng giá nào cũng phải có mặt tại Đồng Tháp để tham gia phiên tòa. Tôi đã nói với nhiều bạn bè ở Hà Nội, Sài Gòn về ý định này. Càng gần đến ngày xử, tôi càng nhận được những thông tin có thêm nhiều người ở Hà Nội sẽ đi Cao Lãnh với cùng mục đích. Thoạt đầu, tôi nghĩ chỉ một nhóm 5 người vào được Cao Lãnh là tốt lắm rồi. Ấy thế mà con số cuối cùng đã lên tới 20. Tất cả những người đến được Cao Lãnh đều không thể ra khỏi nhà một cách công khai. Có người phải ẩn náu tạm đâu đó mấy hôm, chờ ngày ra sân bay. Có người phải tìm mọi cách thoát khỏi nhà bằng con đường bí mật, mạo hiểm. Nhà của mình, muốn đi làm việc chính đáng mà không thể ra một cách công khai. Kẻ chính phải trốn, phải chui lủi trước sự lùng sục, bố ráp của bọn tà.  Không biết ngoài đất nước này, còn nơi đâu như thế nữa không. Tuy nhiên, chúng tôi trốn không phải vì sợ bị bắt mà mối lo duy nhất là không đến được với những người bạn của mình bị đưa ra xét xử một cách vô luật. Đang háo hức chờ ngày đi Cao Lãnh thì ngày 12/8 tôi đột nhiên bị bệnh, đã tưởng phải bỏ cuộc. Rất may bệnh của tôi, nhờ được sơ cứu và cấp cứu kịp thời nên tôi chỉ phải nằm viện 1 tuần. Còn tôi, sau khi qua giai đoạn cấp cứu, ngày nào tôi cũng gạ gẫm bác sĩ xin ra viện. Có lần đến nhà vệ sinh, gặp bác sĩ, tôi cố đi ra vẻ hùng dũng như người khỏe mạnh bình thường thì suýt bị ngã, may mà thằng con đi theo trông chừng đỡ kịp. Rất nhiều bạn bè khuyên tôi mới bệnh dậy cần phải ở nhà dưỡng bệnh, đề phòng bệnh tái phát. Nhưng chẳng có thể ai khuyên được tôi. Tôi bảo, nếu không đi, ở nhà có khi còn bệnh thêm. Biết khuyên tôi không được, bạn bè tôi góp tiền lo cho vợ tôi cùng đi để chăm sóc tôi. Tôi cảm động lắm nhưng ai lại làm thế. Vợ tôi biết tính chồng, không dám khuyên ngăn gì. Cô ấy hiểu, khuyên gì chứ khuyên đừng đến với Bùi Thị Minh Hằng thì thế nào cũng dẫn đến cãi nhau.   Kế hoạch của tôi là ngày 24/8 sẽ bay vào Sài Gòn, nghỉ lại đó rồi ngày 25 sẽ đi Cao Lãnh để 26 đến tòa án. Sáng ngày 23 tình hình còn yên tĩnh. Nhưng khi đang ăn cơm trưa, một cháu gõ cửa vào báo có 7,8 người đang canh tôi. Việc tôi bị canh mỗi khi có sự kiện, điều đó chẳng có gì lạ. Thường là họ canh cứ canh, còn tôi đi cứ đi. Họ có thể đi theo, có thể theo dõi xem tôi đi lúc nào, bằng phương tiện gì. Chưa bao giờ tôi bị chặn, ép xe đuổi về hoặc bị "mời" đi uống nước. Tôi xác định sáng 24 sẽ vẫn ra sân bay như bình thường.   Nhưng đến chiều, vợ tôi phát hiện ra có cả xe cảnh sát cũng đỗ cùng với đám người canh cửa. Mỗi khi nhà tôi có ai mở cửa ra ngoài, tất cả đám đều nhốn nháo bật dậy, đứa thì leo lên xe máy sẵn sàng, đứa thì chạy về phía ô tô đang đỗ.   Từ sự xuất hiện của ô tô cảnh sát, tôi hiểu, chắc chắn lần này, tôi không thể ngang nhiên đi trước mặt họ như những lần trước. Họ sẽ cưỡng bức tôi lên xe mang về đồn câu lưu cho đến khi tôi muốn đi Đồng Tháp cũng không kịp nữa thì mới thả ra. Việc bắt bớ với tôi đã thành quen. Nhưng lần này bị bắt, tôi sẽ không thể tham gia vào một sự kiện lớn như thế này.   Thời gian nặng nề trôi. Đến tối, tôi vẫn chưa biết nên như thế nào. Vợ tôi hỏi: - Bây giờ làm sao hở anh? Sáng mai thì không được rồi. Tất nhiên đến nước này thì phải tính đến chuyện "dạt vòm". Nhưng ra khỏi nhà bằng cách nào bây giờ? Tôi tính đủ mọi phương án: Cải trang ư? Lúc này, bất cứ người nào ra khỏi nhà, họ cũng đều phải xác định bằng được người đó là ai. Phương án này nhanh chóng cho qua. Phía trước nhà tôi là đường quốc lộ, phía sau là một cánh đồng, đi qua cánh đồng này khoảng 300 mét thì tới con đường làng. Nhưng đây là cánh đồng hoang, cây dại mọc um tùm, không có bờ, cũng chẳng có lối mòn, nơi chỗ cao chỗ thấp mấp mô, chỗ đất cứng, có chỗ lún sụt, trời lại tối om, rắn rết chẳng biết thế nào. Phía sau nhà tôi là một hàng rào lưới B40 sát một con mương nhỏ, nhưng người vừa ở bệnh viện ra như tôi sao đủ sức vượt qua. Đến kẻ trộm cũng chẳng dám đột nhập vào nhà tôi theo hướng ấy. Phương án này cũng được bỏ qua. Chán nản, tôi bảo vợ:   - Hay là kiếm cho anh cái quan tài, anh chui vào đấy rồi gọi mấy đứa con về khiêng đi, giả như đến gửi ở nhà tang lễ Phùng Hưng. Anh vừa đột quỵ, giờ chết ai chẳng tin. Vợ tôi bảo: - Quan tài chúng cũng khám, nó tha gì. Tôi lên sân thượng, nhìn về phía đám đang canh tôi. Nào mật vụ, nào xe máy, nào ô tô lúc nào cũng sẵn sàng. Đầu óc tôi căng lên. Chợt phát hiện ra cái thang đám thợ xây hồi làm nhà xong rồi vứt luôn ở đấy, tôi phác nhanh một kế hoạch. Tôi bảo vợ: - Gọi thằng Phan (cháu vợ tôi) rủ thêm một thằng bạn nó về đây. Bảo nó đi xe nào có cốp to ấy. Vợ tôi không hiểu tôi định làm gì nhưng cũng không dám hỏi lại, liền rút điện thoại ra bấm số. Tôi cũng mở máy tính, nhắn tin cho thằng Khải dặn đón tôi ở đầu đường Hoàng Quốc Việt.   30 phút sau thì tụi thằng Phan có mặt. Tôi chia đồ đạc của tôi làm ba phần. Tư trang nhẹ nhưng cồng kềnh, chia làm 2, còn 1 phần là laptop, ipas. Cứ một phần tư trang nhét vào 1 cái cốp xe. Hai cốp xe nhét 2 nửa tư trang. Một thằng nhét laptop, một thằng nhét ipas vào bụng. Tôi dặn:   - Chúng mày đi ngược hướng rồi tìm đường khác vòng lại đầu kia. Đi song song và thong thả thôi, vừa đi vừa nói chuyện, coi như dạo chơi. Khi nào chắc chắn không có đứa nào theo thì đến chỗ ấy đợi tao. Đợi lâu đấy. Xong nhét cho mỗi đứa mẩu giấy, có ghi số sim rác của tôi:   - Không được liên lạc với bất cứ ai khác ngoài tao, nghe chưa.   30 phút sau, chúng nó nhắn tin đã đến vi trí. Tôi nhắn lại: - Dồn đồ đạc vào cho thằng Phan giữ, còn thằng kia đi chỗ khác, xa ra, đợi. Tôi tạm biệt vợ. Lúc ấy là 9 giờ tối ngày 23/8. Tôi người không, cầm theo cái thang bắt đầu di chuyển trên các trần nhà hàng xóm. Nhà nào liền nhau thì bước nhẹ nhàng, nhà nào cách hơi xa, tôi dùng thang bắc cầu. Có nhà cao thấp không bằng nhau thì dùng thang tụt dần xuống hoặc leo lên. Nhà nào cách nhau xa quá thì thả thang tụt xuống đất rồi lại bắc thang trèo tiếp. Có nhà chỗ thấp nhất cao hơn cái thang, tôi phải bám tay vào mép trần rồi dùng chân khèo lên. Bỗng có tiếng chó sủa inh ỏi. Tim tôi đập thình thịch. Họ mà ra túm được tôi với cái thang trong tay, nghĩ là trộm thì tôi ăn no đòn, hả hê rồi thì giao cho công an. Nhưng lại nghĩ, khi họ nhận ra tôi sẽ chẳng ai tin rằng người như tôi lại đi ăn trộm, nhưng đem giao cho công an vẫn là cái chắc vì họ cho rằng tôi đang hoạt động khủng bố theo lệnh từ nước ngoài. Đám đang canh tôi tha hồ nhàn và chỉ đám ấy mới biết tôi chẳng phải đi ăn trộm hay khủng bố. Tôi bình tĩnh cầm hòn đá ném ngược hướng tôi di chuyển. Tiếng chó sủa im bặt. Chắc cu cẩu chạy đến hít hít, ngửi ngửi xem có phải là khúc xương không. Đến đoạn khuất tầm mắt tụi canh tôi rồi, tôi nới vứt thang lại, lợi dụng bóng tối của các tán cây, bờ tường mò đến điểm hẹn. Tôi ngồi phắt lên sau xe, bảo thằng Phan: - Chạy lẹ, nhưng phải đảm bảo an toàn. Tao mà gãy chân, hỏng việc thì tao bỏ luôn cô mày. - Đi đâu chú - Cứ đi, không phải hỏi. Tao bảo rẽ là rẽ. Tôi lấy điện thoại của thằng Phan gọi cho thằng bạn nó: - Quay về nhà chơi với cô. Đợi thằng Phan, 1 tiếng rưỡi nữa nó sẽ về. Tôi nhắm hướng, chỉ cho nó đi theo đường mà tôi chưa đi bao giờ. Tôi không dám đi đường quen vì vẫn sợ chúng nó đuổi theo. Cuối cùng thì cũng đến đầu Hoàng Quốc Việt. Thằng Khải đã đón sẵn tôi ở đấy. Tôi  giúi vào tay thằng Phan tờ 100 k bảo: - Thôi mày về đi, giờ thì đi thong thả thôi nhé. Nói xong tôi nhảy phốc sang xe thằng Khải. Thằng Khải không đưa tôi về nhà mà ngoặt vào một ngõ nhỏ, rồi vào một ngách, lại một tiểu ngách... Cứ thế, lúc rẽ phải, lúc rẽ trái. Những con hẻm hẹp, tưởng xe này đi thì xe kia phải chờ. Ngoằn nghèo hồi lâu, nó dừng trước một ngôi nhà. Nó mở cửa, bật điện lên. Tôi theo nó vào nhà, thấy toát lên mùi hôi hôi, ngai ngái của căn nhà lâu không có người ở. Nó bảo: - Nhà cháu bị theo dõi rồi, chú không ở đó được. Đây cũng là nhà của cháu nhưng cháu chỉ để đấy, thỉnh thoảng mới cho người ở nhờ.   Nó chỉ cho tôi nơi tắm rửa, vệ sinh rồi chỉ vào cái nệm đặt ở góc nền nhà: - Chú nằm đấy nhé. Thôi cháu về đây. Vừa lúc, thằng Tú chui từ nhà vệ sinh ra. Chẳng hiểu thằng Khải tha nó nhét vào đây từ khi nào. Trông thấy tôi, nó cười rinh rích. Thằng Khải về rồi, tôi mới cắm 3G vào laptop đọc tin, thấy quân ta bị canh giữ khắp nơi, mỗi đứa bị một kiểu. Lúc này, tôi đã thấm mệt nhưng khi đặt mình xuống lại không sao ngủ được. Tôi đang tính cách ngày mai ra sân bay như thế nào, có bị đuổi theo lôi lại không. Vẩn vơ mãi lại nghĩ thằng Khải mà chơi xỏ tôi, mai nó không đến thì tôi cũng chịu vì chẳng biết ra bằng lối nào. 29/8/2014 NGUYỄN TƯỜNG THỤY Nguồn:  rfavietnam.com  
......

Đức đòi trả tự do cho B.Hằng, T.Quỳnh, V.Minh

Đại Sứ Quán Đức tại Hà Nội lên tiếng đòi trả tự do ngay 3 người tại phiên toà Đồng Tháp. Về việc ba nhà hoạt động nhân quyền tại Việt Nam bị kết án nhiều năm tù ông Christoph Strässer, phái viên về chính sách nhân quyền và viện trợ nhân đạo của Chính phủ Cộng hòa Liên bang Đức ngày hôm nay (27.08) đã tuyên bố như sau: „Tôi lo ngại về hình phạt tù giam nhiều năm đối với ba nhà hoạt động nhân quyền vì tội "gây rối trật tự công cộng". Như vậy ba nhà hoạt động này bị giam trong tù nhiều năm chỉ vì cản trở giao thông trong một thời gian ngắn. Điều đó hoàn toàn không tương xứng và kỳ lạ. Rất tiếc là nó cho thấy rằng, tình hình nhân quyền ở Việt Nam vẫn rất khó khăn: Những người khác chính kiến vẫn tiếp tục bị trấn áp, đe dọa hoặc bắt giam. Tôi yêu cầu các cơ quan chức trách Việt Nam đình chỉ án phạt tù và thả ngay ba người này. Việt Nam là thành viên Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc và đã ký kết nhiều công ước Liên hiệp quốc về nhân quyền. Việt Nam phải coi đó là thước đo."   *Thông tin chi tiết:* Ngày 26.08.2014 ba nhà hoạt động Bùi Thị Minh Hằng, Nguyễn Thị Thúy Quỳnh và Nguyễn Văn Minh đã bị xử tù giam 3 năm, 2 năm và 2 năm rưỡi vì tội "gây rối trật tự công cộng". Những người đến dự và quan sát viên quốc tế đã không được vào phiên tòa - tuy đây thực ra là một phiên tòa xét xử hình sự công khai. Liên minh châu Âu và các nước thành viên cho rằng có hàng chục tù nhân chính trị tại Việt Nam - đa số bị tù vì thực thi quyền tự do chính kiến và hội họp của họ. Các tổ chức phi chính phủ đánh giá Việt Nam thấp trong việc tôn trọng các quyền công dân và chính trị. Nguồn: hanoi.diplo.de *** Regierungsbeauftragter Strässer besorgt über harte Haftstrafen in Vietnam Zur Verurteilung von drei Menschenrechtsaktivisten in Vietnam zu mehrjährigen Haftstrafen erklärte der Beauftragte der Bundesregierung für Menschenrechtspolitik und humanitäre Hilfe, Christoph Strässer, heute (27.08.): „Ich bin besorgt über die mehrjährigen Haftstrafen gegen drei Menschenrechtsaktivisten wegen 'Störung der öffentlichen Ordnung'. Die drei Aktivisten sitzen nun faktisch wegen der kurzzeitigen Behinderung des Straßenverkehrs auf Jahre im Gefängnis. Das ist vollkommen unverhältnismäßig und grotesk; es zeigt leider, dass die Menschenrechtslage in Vietnam sehr problematisch bleibt: Andersdenkende werden weiterhin unterdrückt, eingeschüchtert oder weggesperrt. Ich fordere die vietnamesischen Behörden auf, die Haftstrafen auszusetzen und die drei Personen umgehend freizulassen. Vietnam ist Mitglied des UN-Menschenrechtsrats und hat zahlreiche UN-Menschenrechtskonventionen unterzeichnet. Daran muss es sich messen lassen.“ Hintergrund: Am 26.08.2014 wurden die Aktivisten Bui Thi Minh Hang, Nguyen Thi Thuy Quynh und Nguyen Van Minh zu drei  Jahren, zwei Jahren und zweieinhalb Jahren Freiheitsstrafe wegen „Störung der öffentlichen Ordnung“ verurteilt. Besucher wurden von dem – an sich öffentlichen – Strafprozess ebenso ausgeschlossen wie internationale Beobachter. Die EU und ihre Mitgliedstaaten gehen von mehreren Dutzend politischen Gefangenen in Vietnam aus – die meisten sind wegen Ausübung ihrer Meinungs- und Versammlungsfreiheit inhaftiert. Nichtregierungsorganisationen stellen Vietnam hinsichtlich der Beachtung der bürgerlichen und politischen Rechte ein schlechtes Zeugnis aus.
......

CSVN vi phạm quyền tự do đi lại

Tuyên bố liên hội Nhà báo độc lập VN - Cựu tù nhân lương tâm VN về việc nhà cầm quyền vi phạm quyền tự do đi lại của công dân Một lần nữa trong rất nhiều lần, nhà cầm quyền Việt Nam lại vi phạm nghiêm trọng quyền tự do đi lại của công dân, liên quan đến phiên tòa được xem là “công khai” ở Đồng Tháp xét xử Bùi Thị Minh Hằng và hai đồng sự của bà vào ngày 26/8/2014. Một lần nữa trong nhiều lần, thế giới và cộng đồng quốc tế, các chính phủ quan tâm đến dân chủ và nhân quyền cần biết và hiểu một cách sâu sắc về sự thật của tuyên xưng “Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm và bảo đảm các quyền con người” thực chất là thế nào, ngay cả sau khi nhà nước này có được một cái ghế trong Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc và đang đón chờ những dấu chỉ hy vọng từ TPP và vũ khí sát thương.    Một lần nữa, hàng loạt nhà hoạt động nhân quyền và nhà báo độc lập thực thi quyền hiến định nhưng lại bị chính quyền và cơ quan an ninh xâm phạm nghiêm trọng khi tổ chức ngăn chặn, sách nhiễu, đánh đập nhằm không cho tham dự phiên tòa xử Bùi Thị Minh Hằng. Nhiều người bị khống chế đã trở nên quá quen thuộc như bác sĩ Nguyễn Đan Quế, Thượng tọa Thích Thiện Minh, cựu tù nhân lương tâm Phạm Bá Hải, nhà báo Trương Minh Đức, nhà báo Phan Thanh Hải, nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh, nhà báo Nguyễn Tường Thụy, nhà báo Phạm Chí Dũng… Nhà văn và cũng cựu đại tá quân đội Phạm Đình Trọng, người đã hơn bảy chục tuổi, cũng trở thành điển hình bị bắt cóc, ngăn chặn thô bạo và vô pháp khi ông ra khỏi nhà. Chỉ trong trong tháng 8/2014, nhà báo Phạm Chí Dũng - chủ tịch Hội Nhà báo độc lập VN - đã bị tống gửi đến 6 giấy triệu tập của Cơ quan an ninh điều tra - Công an TP. Hồ Chí Minh, liên quan đến chuyến làm việc ở Việt Nam của Báo cáo viên đặc biệt của Liên hiệp quốc về tự do tôn giáo và phiên tòa xử Bùi Thị Minh Hằng. Chưa kể nhiều trường hợp các blogger và người cảm tình đến tham dự phiên tòa tại Đồng Tháp đã bị công an bắt giữ với nhiều cớ buộc hoặc không cần nguyên cớ nào. Sơ bộ, có đến hàng trăm người bị bắt giữ, đẩy đuổi trong bầu không khí cực kỳ căng thẳng bên ngoài phiên tòa xử Bùi Thị Minh Hằng. ***Một lần nữa trong nhiều lần, các tổ chức nhân quyền trên thế giới như Ân xá quốc tế, Quan sát nhân quyền quốc tế và cả Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam đã phải lên tiếng, lên án hành động ngăn cản phi pháp của nhà cầm quyền Việt Nam - hành vi mà không thể khác hơn là trái ngược với Công ước quốc tế về các quyền chính trị và dân sự và với chính hiến pháp của nhà nước Việt Nam. Nhận định nghiêm trọng hơn cho thấy hiện tại và trong tương lai, nhà cầm quyền Việt Nam đang và sẽ có xu hướng tổ chức ngăn chặn, đối xử thô bạo tàn nhẫn và không cần dựa theo luật pháp đối với Xã hội dân sự, giới dân chủ và bất đồng chính kiến, trong đó có các nhà báo độc lập và cựu tù nhân lương tâm, vào bất cứ khi nào xảy ra những sự kiện mang dấu ấn về nhân quyền, chính trị, pháp luật mà nhà cầm quyền lo sợ sẽ đe dọa đến chân đứng của chế độ. Chúng tôi - các thành viên của Hội Nhà báo độc lập VN và Hội Cựu tù nhân lương tâm VN - thấy cần phải thông báo khẩn cấp về ý đồ, hành động và xu hướng của nhà cầm quyền VN về đối xử vi phạm quyền tự do đi lại và một số quyền tự do cơ bản khác của công dân cho các chính phủ và cộng đồng quốc tế biết để có hành động thích đáng.  Chúng tôi cũng khẩn thiết đề nghị Quốc hội và Chính phủ Hoa Kỳ xem xét một cách cẩn trọng và có điều kiện chính sách dành cho Nhà nước Việt Nam về TPP, vũ khí sát thương, hợp tác quân sự, viện trợ không hoàn lại và cả vấn đề “đối tác chiến lược toàn diện” trong tương lai, cũng như các cuộc tiếp xúc cao cấp với giới lãnh đạo ở Việt Nam như Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Bí thư Hà Nội Phạm Quang Nghị…, nếu Việt Nam không có được độ thành tâm tối thiểu để thực thi các yêu cầu cơ bản về nhân quyền và dân chủ cho công dân của họ.  Tuyên bố này không phải là duy nhất và cũng không thể là cuối cùng về những gì mà Nhà nước Việt Nam chỉ nói mà không làm, hoặc làm và nói là hai chuyện trái nghịch.  Ngày 28 tháng 8 năm 2014    Thay mặt Hội Nhà báo độc lập VN và Hội Cựu tù nhân lương tâm VN  Bác sĩ Nguyễn Đan Quế Linh mục Phan Văn Lợi Hòa thượng Thích Không Tánh Nhà báo Phạm Bá Hải Luật sư Nguyễn Văn Đài Nhà báo Phạm Chí Dũng Linh mục Lê Ngọc Thanh Nhà báo Bùi Minh Quốc Nhà báo Nguyễn Tường Thụy ***Joint statement of IJAVN and FVPoC on the Vietnam government’ violation on the right to the freedom of movement   Once again the Vietnam government seriously violate the right to freedom of movement of citizens relating to the trial, considered as "public", of Bui Thi Minh Hang and her two colleagues on Aug 26, 2014 in Dong Thap province. Once again the international community, governments interested in democracy and human rights need to know and understand deeply about the truth of the commitment that "State of Vietnam always concerns and guarantees the human rights", even after the state has been a member of the Human Rights Council and waiting for signs of hope from TPP and lethal weapons. Once again tens of human rights defenders and independent journalists were harassed, beaten in order to prevent them from attending the trial of Bui Thi Minh Hang, such as Dr. Nguyen Dan Que, Ven.Thich Thien Minh, former PoC Pham Ba Hai, journalist Truong Minh Duc, journalist Phan Thanh Hai, journalist Huynh Ngoc Chenh, journalist Nguyen Tuong Thuy, journalist Pham Chi Dung, etc. Writer and former army colonel Pham Dinh Trong (over 70 years) was also subjected to a typical abduction: manhandled and illegal prevention as soon as he left his house. Only in August 2014, journalist Pham Chi Dung - Chairman of IJAVN - has received six summonses from the HCMC interrogative department on the occasion of the Vietnam visit of the UN Rapporteur on religious freedom and of the trial of Bui Thi Minh Hang. Besides lots of bloggers and people sympathetic to attend the trial were detained without any pretext by Dong Thap police, there are hundreds of participators were detained, dragged and pushed away in the tense air outside the court. ***  Once again the human rights organizations, such as Amnesty International, International Federation for Human Rights, and United States Embassy to Vietnam had to raise their concerns on the illegal actions of the Vietnamese government that are contrary to the International Covenant on Civil and Political Rights and the constitution of the state. Based on the recent incidents it indicates that the Vietnam government tends to prevent, manhandle roughly and illegally to the civil society organizations, pro-democracy activists and dissidents, including independent journalists and former prisoner of conscience in any human rights, political or judicial event which may loose the government power. We - the members of IJAVN and FVPoV realize that it is necessary to urgently inform about intention, action of the authorities abuse human rights, the right to freedom of movement and some other basic rights of citizens so that the international community can take appropriate measure. We also urge the Congress and the government of the United States carefully and conditionally consider favorable policies for Vietnam as in TPP, lethal weapons, army cooperation, ODA, as well as meetings with senior leaders, as General Secretary Nguyen Phu Trong, President Truong Tan Sang, Prime Minister Nguyen Tan Dung, Hanoi party secretary Pham Quang Nghi, etc. if Vietnam does not have the lowest level to implement the basic requirements of human rights and democracy to their citizens. This statement is not the first and also not the last about what the Vietnam government either worded but did not take action or taken action and worded are contrary.   Dated Aug 28, 2014 Co-signed by Independent Journalists Accociation of Vietnam’s and Former Vietnamese Priosoners of Consciecnce’s representavies:  Doctor Nguyen Dan Que  Father Phan Van Loi Venerable Thich Khong Tanh Journalist Pham Ba Hai Lawyer Nguyen Van Dai  Journalist Pham Chi Dung  Father Le Ngoc Thanh  Journalist Bui Minh Quoc Journalist Nguyen Tuong Thuy Nguồn: ijavn.org
......

Về Vụ “Đặc Xá” Blogger Điếu Cày

Theo anh Nguyễn Trí Dũng cho biết hôm 28/8, Blogger Điếu Cày đã gọi điện báo cho anh rằng công an đã yêu cầu Blogger Điếu Cày làm giấy “xin tha tù” nhưng Blogger Điếu Cày không đồng ý mà lại viết đơn “yêu cầu giải quyết ra tù”. Mặc dù lời nhắn của Blogger Điếu Cày rất ngắn; nhưng chứa đựng hai nội dung quan trọng. Thứ nhất, Hoa Kỳ đã áp lực CSVN phải thả Blogger Điếu Cày, người đứng đầu trong danh sách những tù nhân lương tâm mà Bộ ngoại giao Hoa Kỳ luôn luôn đưa ra trong các buổi đối thoại nhân quyền Việt-Mỹ hàng năm. Thứ hai, Blogger Điếu Cày đã biểu hiện sự kiên cường của anh trước bạo quyền và nhất là không bao giờ bị khuất phục trước những cưỡng bức phi lý và phi nhân của bộ máy công an trong suốt thời gian anh bị chế độ trả thù vì lòng yêu nước - từ năm 2009 cho đến nay. Việc Cộng sản Việt Nam phải thả Blogger Điếu Cày trong thời gian tới không chỉ là một thắng lợi của phong trào dân chủ mà còn cho thấy là ý chí đấu tranh của Blogger Điếu Cày đã làm cho quốc tế, đặc biệt là Hoa Kỳ, phải khâm phục và xiển dương. Sự kiện Blogger Điếu Cày gọi điện thoại cho anh Nguyễn Trí Dũng xảy ra vào lúc cộng đồng Việt Nam và dư luận thế giới đang phẫn nộ về bản án dã man tại Đồng Tháp hôm 26/8, khiến một số người cho rằng công an đã dàn dựng vụ thả anh Điếu Cày để làm giảm bớt cường độ chống đối của dư luận. Cộng sản Việt Nam không ba đầu sáu tay như vậy. Đây chỉ là sự trùng hợp tình cờ; nhưng sự kiện này cho thấy là Cộng sản Việt Nam rất gian manh trong những thủ đoạn tạo hỏa mù trong dư luận khi đưa chị Bùi Minh Hằng, chị Thúy Quỳnh và anh Nguyễn Văn Minh ra xét xử vào lúc này. Chúng ta cần biến sự phẫn nộ của phiên tòa Đồng Tháp hôm 26/8 thành một chuỗi những tranh đấu để buộc CSVN phải trả tự do cho chị Bùi Hằng, chị Thúy Quỳnh và anh Nguyễn Văn Minh trong phiên tòa phúc thẩm sắp tới.   LTHhttps://www.facebook.com/lythaihung52
......

Bùi Hằng thanh thản hát khi bước vào và bước ra

Nhớ lại mấy điều đặc biệt ở phiên Tòa:   1. Nhân chứng 1 bên yêu cầu triệu tập 17 người: Tòa cho có mặt 03. Bên kia nhân chứng 32 người (trong đó 1/3 là công an huyện, xã). 2. HĐXX (03) và VKS (02) vẫn chưa chắc ăn bất ngờ cho thêm 01 LS là Chủ tịch Đoàn LS Đồng Tháp làm người bảo vệ cho 01 CA huyện là người bị anh Minh đánh đúng 1 cái vào tay (a Minh nói ko đánh ai) không có có 1 tý xây xước. Vị LS làm chức năng KSV buộc tội bị cáo chứ ko làm chức năng bảo vệ cho thân chủ (vì người CA huyện đó ko có gì cần pải bảo vệ). 3. Có 02 bản tường trình đánh máy của 02 nhân chứng là CA giống hệt nhau từng chữ, chấm, phẩy, chỉ khác ký tên.   4. Bên ngoài thì ở các ngã tư hoặc thảm cỏ vỉa hè tập chung nhưng nhóm khoảng 4-5 người cách nhau độ vài trăm mét. Khi có các LS đi qua thì họ cử 01 người giả đi tập thể dục ở đằng sau, bên cạnh để xem chúng tôi nói chuyện gì. Họ là phụ nữ khoảng trên 50 tuổi, đeo khẩu trang, đi bộ đội muc BH, chỗ tập trung nhóm của họ có nước đóng chai, giống nhau như là được phát để trực làm nhiệm vụ. Nếu nghe được gì họ sẽ đt báo cho lực lượng khác đại ý là chúng nó đang đi hướng về hướng nào, nó nói cái gì ấy, bọn này như là LS... Đặc trưng này lần đầu tôi gặp ở ngoài phiên tòa. ... 5. Bà Hằng khi bước vào phiên toà và khi ra khỏi phiên toà đều hát rất thanh thản. Trong phiên toà bà Hằng rất bình tĩnh và mạch lạc, sau khi bị tuyên án bà Hằng tươi cười và bình thản khi tay bị còng, bước ra xe tù, có người áp giải xung quanh. * * * Tôi xin chia sẻ bài bào chữa tại phiên tòa ngày 26/08/2014 tại Đồng Tháp để mong được trao đổi và học hỏi.   BÀI BÀO CHỮACho bà Bùi Thị Minh Hằng và Nguyễn Thị Thúy Quỳnh tại phiên tòa HSST ngày 26/08/2014 tại TAND tỉnh Đồng Tháp Về “Tội gây rối trật tự công cộng” theo điểm c khoản 2 điều 245 - BLHS Kính thưa HĐXX,   Tôi là Luật sư Hà Huy Sơn, Công ty Luật TNHH Hà Sơn – Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội xin trình bày quan điểm bào chữa cho bà Bùi Thị Minh Hằng và bà Nguyễn Thị Thúy Quỳnh bị cáo buộc về “Tội gây rối trật tự công cộng” theo điểm c khoản 2 điều 245 – BLHS, như sau: Điều 245. Tội gây rối trật tự công cộng 1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm: ... c) Gây cản trở giao thông nghiêm trọng hoặc gây đình trệ hoạt động công cộng; I. Tóm tắt vụ án:   - Khoảng 08 giờ ngày 11/02/2014, xảy ra sự việc. - 11 giờ 45 Công an xã Mỹ An Hưng B lập biên bản bắt người phạm tội quả tang bà Hằng, bà Quỳnh và một số người khác. - 19 giờ ngày 11/02/2014, CA huyện Lấp Vò ra QĐ 15/QĐ-TGN tạm giữ bà Hằng theo thủ tục hành chính 24 giờ (19 g 11/02/2014 – 19 g 12/02/2014); bà Quỳnh cũng vậy. - Ngày 12/02/2014, Cơ quan CSĐT Công an huyện Lấp Vò ra Lệnh số 26/LBKC-CQĐT bắt khẩn cấp đối với bà Hằng và bà Quỳnh cũng vậy. - Ngày 21/02/2014, Cơ quan CSĐT Công an huyện Lấp Vò ra QĐ 20 Lệnh tạm giam bà Hằng 02 tháng 21 ngày (21/02 – hết 12/05/2014) và bà Quỳnh cũng vậy.   II. Tố tụng hình sự:   1. Số lượng người dân theo: - KLĐT là 700 người dân (trang 04), - Cáo trạng là 500 người dân (trang 03), - BL 724 ghi lời khai của Công an viên Lê Văn Huy Tin Anh cho rằng khoảng 600 người dân. - BL 728 ghi lời khai của CA huyện Lấp Vò, Nguyễn Thành Lai: khoảng 600 người dân,… Đây là một căn cứ không khách quan, nên không thể coi là chứng cứ theo như quy định của khoản 1 điều 64 “Chứng cứ” – BL TTHS. 2. Cáo trạng (trang 04) cho rằng bà Hằng, bà Quỳnh chửi người dân địa phương là “đồ ngu dân” là không đúng vì nếu có thì cụm từ này không ám chỉ người dân. 3. Lực lượng tuần tra giao thông đường bộ tuyến đường liên huyện thông thường không cần thiết phải mang theo đến 04 máy camera ghi hình, ghi âm nếu không có một mục đích được xắp đặt trước. Việc này cho thấy có dấu hiệu Công an huyện Lấp Vò có đã chuẩn bị trước để tìm kiếm chứng cứ nhằm ghép tội cho bà Hằng, bà Quỳnh, ông Minh và những người cùng đi. 4. Biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 11: 45 ngày 11/02/2014 của Công an xã Mỹ An Hưng B đối với bà Hằng, bà Quỳnh và những người cùng đi được lập tại ấp An Quới là sai với quy định của khoản 1 điều 82 – BL TTHS: “Điều 82. Bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã 1. Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt, cũng như người đang bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Uỷ ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản và giải ngay người bị bắt đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền.” 5. Quyết định số 15/QĐ-TGN ngày 11/02/2014, tạm giữ người theo thủ tục hành chính đối với bà Hằng (bà Quỳnh cũng vậy) 24 giờ từ 19 giờ ngày 11/02/2014 đến 19 giờ ngày 12/02/2014 là sai với quy định tại khoản 1 điều 122 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012: “Điều 122. Tạm giữ người theo thủ tục hành chính 1. Việc tạm giữ người theo thủ tục hành chính chỉ được áp dụng trong trường hợp cần ngăn chặn, đình chỉ ngay những hành vi gây rối trật tự công cộng, gây thương tích cho người khác.” Vì sự việc xảy ra đến 12 giờ 30 ngày 11/02/2014 trở giao thông đã được giải tỏa. 6. Bà Hằng, bà Quỳnh vừa bị bắt theo trường hợp phạm tội quả tang (theo điều 82 – BL TTHS) lại vừa bị bắt theo Lệnh bắt khẩn cấp (theo điều 81-BL TTHS) là vô lý nó thể hiện quyết tâm bắt người bằng được của cơ quan công an Đồng Tháp. III. Yếu tố cấu thành tội phạm:   1. Mặt khách quan của tội phạm: Cáo trạng cho rằng ách tắc giao thông đến 12 giờ 30, khoảng 2 giờ 30 phút. Kết luận này chỉ dựa vào lời khai của những người làm chứng, nhưng những người làm chứng không có căn cứ nào để chứng minh là ắch tắc giao thông từ khoảng 10 giờ đến 12 giờ 30. 1.1. Cơ quan điều tra chỉ dựa vào các lời khai của những người làm chứng, nhưng những người làm chứng hôm đó không có máy ghi hình, kèm đồng hồ đo thời gian để chứng minh mà chỉ khai theo cảm tính. Người làm chứng không có bằng chứng khách quan nào để xác định giờ nào bắt đầu ắch tắc giao thông hoặc giờ nào thì giải tỏa. Theo khoản 2 điều 67 “Lời khai của người làm chứng” – BL TTHS: “Không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do người làm chứng trình bày, nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó.” Do vậy, các lời khai đó không được coi là chứng cứ. 1.2. Lực lượng tuần tra hôm đó không lập biên bản về việc ắch tắc giao thông nên không có căn cứ xác định ắch tắc giao thông 2 giờ 30 phút.   2. Mặt chủ quan của tội phạm: “Tội gây rối trật tự công cộng” theo điểm c khoản điều 245 – BLHS phải là lỗi cố ý. 2.1. Nếu xảy ra việc vi phạm giao thông: đi xe mô tô dàn hàng ba thì bà Hằng, bà Quỳnh cũng không phải là người có liên quan. 2.2. Cáo trạng cho rằng đã có khoảng 500 người dân kéo đến xem và người đi đường không đi được phải dừng phương tiện giao thông làm cho người tham gia giao thông trên đường không thể qua lại được trên huyện lộ DH67B thuộc huyện Lấp Vò. Hay nói cách khác đây là do hiếu kỳ của người dân địa phương chứ không phải lỗi của bà Hằng, bà Quỳnh. Sáng ngày 11/02/2014, bà Hằng, bà Quỳnh và mọi người cùng đi đến Lấp Vò đã xuất phát từ Tp.HCM ngày 10/02.2014 để về thăm người quen ở Lấp Vò nên vô lý họ mới cố ý gây ra cản trở giao thông để để phá hỏng chuyến đi của mình. 2.3. Cáo trạng không chứng minh được hành vi của bà Hằng, bà Quỳnh: “có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội;” theo quy định khoản 2 điều 63 “Những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự” – BL TTHS “Khi điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án phải chứng minh: 2. Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội;” 2.4 Nếu ngày 11/02/2014, có gây ra cản trở giao thông thì đối với bà Hằng, bà Quỳnh không phải là lỗi cố ý nên về mặt chủ quan của tội phạm không cấu thành tội theo điều 245 – BLHS. Mặt khác lực lượng tuần tra có nhiệm vụ bảo đảm an toàn giao thông thuộc phạm vi địa bàn tuần tra, kiểm soát theo khoản 2 điều 4 Thông tư 65/2012/TT-BCA ngày 30/10/2012 của Bộ Công an, quy định:   “Điều 4. Nhiệm vụ Cán bộ thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ có các nhiệm vụ của lực lượng Cảnh sát nhân dân và nhiệm vụ cụ thể sau đây: 2. Bảo đảm trật tự, an toàn giao thông thuộc phạm vi địa bàn tuần tra, kiểm soát; phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.” 2.5. Nếu sáng ngày 11/02/2014, lực lượng tuần tra giao thông xác định được nhiệm vụ chính là bảo đảm an toàn giao thông trên huyện lộ DH67B, không xử phạt trường hợp đi xe mô tô dàn hàng 3 thì đã không xảy ra ách tắc giao thông.   IV. Kiến nghị:   Kính thưa HĐXX, Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án và thẩm vấn tại phiên tòa hôm nay, mọi chứng cứ để cáo buộc bà Hằng, bà Quỳnh chỉ duy nhất dựa vào lời khai của các nhân chứng do Cơ quan điều tra xắp đặt. Lỗi gây ra ách tắc giao thong ngày 11/02/2014, nếu có không phải lỗi cố ý của bà Hằng, bà Quỳnh mà là lỗi của lực lượng Công an tuần tra giao thông. Thế giới ngày nay là một thế giới phẳng, sự việc xảy ra ở nơi thì cả thế giới đều biết đến. Công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước của Việt Nam chịu sự ảnh hưởng rất lớn sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Nếu phiên tòa hôm nay không khách quan, không có công lý sẽ không thuyết phục được người dân và làm mất đi đáng kể sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Vụ án này thu hút sự quan tâm rất lớn của dư luận trong nước và quốc tế. Về nhân thân bà Hằng, bố đẻ là người có công với chế độ, bản án ngày hôm nay nếu là một án oan thì sẽ là một báo oán, vì vậy tôi mong HĐXX xem xét. Về nhân thân bà Quỳnh, chưa có tiền án, tiền sự; gia đình có công với chế độ. Với các luận cứ tôi đã trình bày ở trên: 1- Căn cứ khoản 1 điều 227 – BL TTHS tôi đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bà Bùi Thị Minh Hằng và bà Nguyễn Thị Thúy Quỳnh vì các bị cáo không có tội. 2- Đề nghị Tòa trả lại các đồ vật tạm giữ cho bà Bùi Thị Minh Hằng và bà Nguyễn Thị Thúy Quỳnh. 3- Đề nghị Tòa ra quyết định khởi tố vụ án “Cố ý gây thương tích và cướp giật tài sản” mà bị hại chính là bà Hằng, bà Quỳnh và những người cùng đi. Tôi xin chân thành cám ơn các sự lắng nghe của các quý vị,   Tp. Cao Lãnh, ngày 26/08/2014 Người bào chữa Luật sư Hà Huy SơnTheo FB Hà Huy Sơn
......

Thảm đỏ cho một giàn khoan Tàu trên đất liền Việt Nam?

Theo tin từ mạng vietnam.net thứ Hai vừa rồi: hơn 10.000 lao động nước ngoài trong đó 90% là người Tàu vừa được tuyển dụng bởi công ty Formosa ở Vũng Áng, Hà Tĩnh, chỉ chưa quá hai tháng sau những sự cố đẫm máu mà khu công nghiệp này là sân khấu.   André Menras  Hồ Cương Quyết   Bắc Kinh trở lại, đầu ngẩng cao, nanh sắc nhọn Trong một hoàn cảnh hợp tác lành mạnh giữa hai nước láng giềng và khuôn khổ trao đổi hai bên cùng có lợi, thì cái tin này lẽ ra có thể gây nên niềm lạc quan và thậm chí cả hy vọng của cư dân địa phương và của các nhà quan sát nước ngoài. Nhưng sự xâm nhập bạo liệt của giàn khoan Tàu cùng với đội tàu chiến hộ tống vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, sau những vụ gây hấn với Viking 2, Bình Minh 2, gây hấn với dân chài miền Trung Việt Nam đang tiếp tục xảy ra, thì sự trở lại của đoàn ngũ « lao động » Tàu – mà việc ra đi trước đây đã được tuyên truyền mạnh mẽ - mang một ý nghĩa hoàn toàn khác. Bắc Kinh trở lại, đầu ngẩng cao và nanh vuốt thật sắc nhọn. Nó đánh dấu lãnh thổ của mình ngay trong lòng Việt Nam!   Bình cũ rượu cũ: "Nĩ hảo ma? Huānyíng! " [Chào bạn, khoẻ không ? Xin hoan nghênh !] Những mối nghi ngờ cất lên từ một số công dân VN vậy là được xác nhận : cuộc mặc cả đã rõ ràng được tiến hành. Trong giai đoạn giàn khoan HKSY981, sự im lặng kéo dài của người trách nhiêm lớn nhất của « đảng lãnh đạo » trong những ngày đầu của vụ xâm nhập này có một ý nghĩa. Sự im lặng tiếp theo sau vụ rút lui đột ngột của giàn khoan và việc thả cũng đột ngột 13 dân chài VN bị giam giữ ở Hải Nam cũng có một ý nghĩa. Chúng rất giống với những tín hiệu của sự nhượng bộ từ phía VN sẽ tiếp theo sau, tức là những sự bỏ mặc chủ quyền thực tế mới. Những tuyên bố chắc nịch và xứng đáng từ chối một « tình hữu nghị viển vông » đổi lấy việc bỏ mặc chủ quyền, những tuyên bố chính trị bắt buộc tạo nên sức động viên trong và ngoài nước, nhanh chóng nhường chỗ trong miệng cũng nhà hùng biện có giọng phẫn nộ ấy, cho lời kêu gọi cảnh sát đàn áp các « phần tử tay sai của thế lực phản động nưóc ngoài » bla-bla-bla... Bình cũ rượu cũ. Không còn chuyện thử kiện Tàu ra toà án quốc tế. "Nĩ hảo ma? Huānyíng! ". Hoan nghênh… các đồng đô la Tàu. Cuộc gây hấn mới mà dự án công nghiệp Hà Tĩnh gây nên chứng tỏ, nếu như vẫn còn cần phải chứng tỏ, rằng các nhà lãnh đạo ĐCSVN không thể hiện sự khác biệt chủ yếu với nhau về sự phụ thuộc vào chính quyền Tàu. Tất cả họ đều là cái rờ mọoc chính trị của các nhà lãnh đạo Bắc Kinh, buộc chặt vào đấy bởi những cuộc mặc cả cũ và rất mới, những cuộc mặc cả trong bóng tối cũng như không thể thú nhận. Những lời lẽ loanh quanh giả xã hội chủ nghĩa giả hữu nghị không còn che đậy được thực tế của mối quan hệ chủ-tớ. Và với các nhà dân chủ đáng thương, chỉ còn bước chuyển qua dùng sức mạnh hay đàn áp để buộc phải chấp nhận cái đường lối chính trị tàn hại và đáng xấu hổ của họ: sự hợp tác trái tự nhiên.   "Thóat Trung" [tiếng Việt trong nguyên bản] hay "Cúi Trung" [nguyên bản]: một vực thẳm   Trách nhiệm Trong khi ngày càng đông đảo các công dân VN nói về "Thoát Trung" [nguyên bản], thì những người tự xưng là đại diện về chính trị của họ không ngừng đưa họ lún sâu vào một sự phụ thuộc mà quốc gia sẽ ngày càng khó rút ra. Như thế, cái hố Tàu trở thành một vực sâu giữa nhóm lãnh đạo ấy và ý chí của nhân dân. Nó ngăn cản VN phát triển lành mạnh. Nó làm VN đông cứng và cô lập với phần còn lại của thế giới. Và trách nhiệm gây ra tình huống này không thể nào rõ ràng hơn. Trong hệ thống hiện tại của đảng duy nhất được thiêng hoá bởi điều 4 Hiến pháp, mọi phe cánh, mọi nhóm lợi ích hiện diện trong lòng Bộ Chính trị phải chịu trách nhiệm về sự phụ thuộc Tàu mang tính tàn phá đất nước. Trách nhiệm tập thể nhưng nhất là trách nhiệm cá nhân. Mỗi nhà lãnh đạo phải chịu trách nhiệm cá nhân. Không một ai trong lòng quyền lực trung ương có thể giữ im lặng trước sự phản bội các khát vọng của nhân dân hay đổ lỗi cho các chính quyền vùng miền, mà không đánh mất danh dự công dân của mình.   Về phía mình, các chính quyền vùng miền, vốn đã nổi danh một cách đáng buồn vì sự hối thúc tàn bạo tịch thu đất đai của cải của nông dân, không thể viện dẫn quyền tự do kinh doanh cho những doanh nhân Tàu rõ ràng đang phục vụ cho chiến lược của Bắc Kinh. Họ sẽ không thể còn buộc tội quản lý yếu kém cho các ban tổ chức của các khu kinh tế địa phương khi xảy ra các sự cố sẽ không thể không xảy ra giữa bọn chiếm đóng không được mong muốn và một quần chúng địa phương bực tức vì sự chung sống bị áp đặt ấy ; từ thực tế sống, quần chúng cảm nhận điều này như một sự khiêu khích thường trực đối với tình tự dân tộc và với những lợi ích tức thời của mình. Tóm lại, trong lòng các cấp của Đảng từ trên xuống dưới, không ai còn có thể chơi trò đà điểu trước cái điều mà nhiều công dân và một số chiến sĩ dũng cảm đã tố cáo từ lâu: hiểm hoạ chết người của sự Tàu hoá đang đe doạ quốc gia. Sự xâm nhập của giàn khoan đã đem đến cơ hội tái cân bằng nền kinh tế bằng cách dần dần lấy lại thế làm chủ. Cơ hội đã bị ĐCSVN dứt khoát khước từ. Tiến tới những « Ukraine » kiểu Tàu ?   Mượn cái cớ giả dối là phát triển, đảng này, ngày càng « lạ » đối với quốc gia và dân tộc mình, liên tục mở cửa nhập khẩu một lượng lao động Tàu thường không có chuyên môn, số cư dân bùng nổ trong xã hội VN, một xã hội đang làm mồi cho cuộc khủng hoảng toàn cầu trong đó nạn thất nghiệp đánh vào hằng trăm ngàn người trẻ buộc phải đi bán sức lao động ở nước ngoài… Trong một đất nước mà hằng nghìn hecta phần lớn nằm ở những vùng chiến lược đã được đem cho thuê nhiều thập niên, tức là trên thực tế bị nhượng cho bọn bành trướng Bắc Kinh đeo mặt nạ, các nhà lãnh đạo VN đang cầm quyền lại còn khuyến khích cho làn sóng mạnh thêm… Bao nhiêu giàn khoan Tàu trên đất liền đã từ nhiều năm nay lặng lẽ khoan vào di sản cha ông của VN để hút lên tài nguyên ? Và thế đó, sau khi đã bán đổ bán tháo những tài nguyên thiên nhiên, năng lượng và kỹ nghệ của quốc gia, các nhà lãnh đạo nước này sắp sửa bật đèn xanh để hy sinh thêm nữa những nguồn nhân lực… và thậm chí còn hơn thế nữa. Hằng nghìn gia đình Tàu mới sắp được định cư. Những gia đình khác sắp được lập nên tại chỗ. Họ sắp làm việc trong các khu kinh tế mà người VN bình thường sẽ bị trục ra ngoài và các chính quyền địa phương sẽ chỉ có thể vào sau khi đã lễ phép chìa chân ra cho họ khám. Họ sẽ sống theo kiểu Tàu trong những con phố, khu phố, quận huyện tự quản mà chính quyền VN thực sự chỉ là những kẻ làm công dễ bảo… Đôi khi, do được Bắc Kinh ngầm khuyến khích bằng tài chính, những cộng đồng Tàu này sẽ sống trong các điều kiện ưu việt hơn hằng ngàn gia đình VN quằn quại bởi nạn thất nghiệp và đồng lương chết đói… Họ sẽ áp đặt ở đó luật lệ kinh tế và do đó áp đặt những chọn lựa chính trị của mình. Những kẻ chiếm đóng mới ấy sắp chủ động gieo trên đất VN một dòng giống Tàu, dòng giống này có thể một ngày nào đó – tại sao không hình dung trước nhỉ ? – sẽ đòi quyền lãnh thổ. Xứ Ukraine kiểu Tàu. Tàu hoá bằng huyết thống. Trong trường hợp có những sự ngập ngừng ở cấp địa phương hay kháng cự ở cấp toàn quốc trước mỗi chấn động mới của nền chính trị Đại Hán [nguyên văn], các nhà lãnh đạo VN không thể không tính đến sức mạnh gây bất ổn của những cái túi thuốc nổ bằng người ở trên đất liền mà mồi lửa có thể được châm từ Bắc Kinh và được tiếp sức tại chỗ bằng những tên mật vụ địa phương người Tàu hay người Việt đánh thuê. Và lúc đó không phải là vài cuộc biểu tình « nhấn nút », « đuợc phép » của Hà Nội để gỡ mặt mũi như vào thời điểm giàn khoan HYSY981, sẽ đưa đến sự thay đổi. Vũng Áng xác nhận : con vịt VN sẽ bị quay kiểu Tàu ! Việc trở lại của người lao động Tàu ở Vũng Áng là một thông điệp rõ ràng xác nhận sự đồng loã quả tang: Bắc kinh và Hà Nội thoả thuận về điều cốt yếu : « hiện đại hoá » và « phát triển » của VN sẽ được nấu bằng nước xốt Tàu, vì lợi ích « Đại cục » [nguyên văn], mà nhịp điệu được xác định bởi các nhà lãnh đạo Tàu và được hợp thức hoá bởi các nhà lãnh đạo ĐCSVN sau lưng nhân dân mình. Cái ĐCSVN ngày hôm nay, không thể nhận ra nếu so sánh với cái đảng hôm qua, gánh mọi trách nhiệm lịch sử và sớm muộn sẽ phải chịu trách nhiệm trước lịch sử…   Ghi chú của tác giả dành cho các cư dân VN gốc Tàu và những người lao động Tàu chân chính :   Xin các công dân VN gốc Tàu giản dị không phật lòng vì vài dòng phẫn nộ trên. Chúng không hề nhắm tới họ. Xin những người lao động Tàu bị bóc lột bởi một chế độ độc tài không coi những lời này như kêu gọi chủ nghĩa chủng tộc. Tác giả ở đây chỉ chỉ thẳng một thực tế : các nhà lãnh đạo của hai đảng CS Tàu và VN này không động tâm khi sử dụng quyền lực toàn trị của họ cho những mục đích lợi lộc riêng tư đi ngược lại các lợi ích nhân dân hay quốc gia… Trong khi che giấu những trách nhiệm khủng khiếp của mình, họ sử dụng những người này nhằm cố tình làm trầm trọng thêm sự đói nghèo, thất vọng, sỉ nhục của những người khác. Họ không chuẩn bị tình bạn mà lòng thù hận. Họ không chuẩn bị hoà bình mà những tấn bi kịch mới cho cả hai cộng đồng.   A.M. Tác giả gửi BVN bản tiếng Pháp Bản dịch của BVN ******* Tapis rouge pour une nouvelle plateforme chinoise sur les terres continentales du Vietnam ? André Menras – Hồ Cương Quyết L'information est donnée par vietnam.net ce lundi: plus de 10000 travailleurs étrangers dont 90% de Chinois vont être embauchés par la société Formosa à Vũng Áng province de Hà Tĩnh, moins de deux mois après les incidents sanglants dont cette zone industrielle a été le théâtre. Pékin revient la tête haute et les crocs acérés Dans un contexte de saine coopération entre deux pays voisins et dans le cadre d'échanges mutuellement profitables, cette nouvelle aurait pu susciter l'optimisme et même l'espoir des populations locales et des observateurs étrangers. Mais après l' intrusion violente de la plateforme de forage chinoise avec l'armada de navires qui l'ont accompagnée dans la zone économique exclusive du Vietnam, après les agressions contre le Viking 2, le Binh Minh 2, celles des pêcheurs du centre Vietnam qui continuent, le retour en force de ce contingent de "travailleurs" chinois, dont le départ avait été fortement médiatisé, revêt une toute autre signification. Pékin revient la tête haute et les crocs bien aiguisés. Il marque son territoire au cœur même du Vietnam ! Vieille jarre et vieux vin: "Nĩ hảo ma? Huānyíng! " Les soupçons émis par grand nombre de citoyens vietnamiens sont ainsi confirmés: le marchandage a bien eu lieu. Lors de l'épisode de la plateforme de forage HKSY981, le long silence du plus grand responsable du "parti dirigeant" dans les premiers jours de cette intrusion avait un sens. Celui qui a suivi le retrait subit de la plateforme et la libération tout aussi subite des 13 pêcheurs vietnamiens détenus à Hai Nan avait aussi un sens. Ils étaient vraisemblablement les signes annonciateurs des concessions vietnamiennes qui allaient suivre, c'est à dire de nouveaux abandons de souveraineté réelle. Les déclarations de refus ferme et digne d'une " amitié illusoire" en échange d'abandons souverains, déclarations politiciennes obligées étant donné la force de la mobilisation dans le pays et à l'étranger, ont vite laissé place dans la bouche du même orateur aux accents indignés à des invites policières pour réprimer les" agents-des-forces-réactionnaires-de-l'étranger-bla-bla-bla...). Vieille jarre et vieux vin . Plus question d'intenter un procès à la Chine devant la cour internationale. "Nĩ hảo ma? Huānyíng! ". Bienvenue... aux dollars chinois. La nouvelle agression que constitue le projet industriel de Ha Tinh prouve si c'était encore nécessaire que les dirigeants du PCV ne présentent pas entre eux de différences essentielles concernant la dépendance à la Chine. Ils sont tous politiquement à la remorque des dirigeants de Pékin auxquels ils sont puissamment liés par des tractations anciennes et d'autres très récentes, toutes aussi obscures qu'inavouables . La vieille phraséologie pseudo socialiste et pseudo fraternelle ne cache plus la réalité de ces relations de type suzerain-vassaux. Et il ne reste plus à ces piteux démocrates que le passage en force ou la répression pour faire accepter leur désastreuse et honteuse politique de collaboration contre nature. "Thóat Trung", "Cúi Trung", se dégager de la Chine ou s'y soumettre : un abîme. Responsabilités Alors que les citoyens du Vietnam sont de plus en plus nombreux à parler de "Thoát Trung", sortir de la Chine, ceux qui se proclament être leurs représentants politiques ne cessent de les enfoncer dans une dépendance dont la nation aura de plus en plus de mal à s'extirper. Ainsi, le fossé chinois devient un abîme entre ce groupe de leaders et la volonté populaire. Il empêche le Vietnam de se développer sainement. Il le fige et l'isole du reste du monde. Et la responsabilité de cette situation est on ne peut plus claire. Dans le système actuel du Parti unique sacralisé par l'article 4 de la Constitution, toutes les factions, tous les groupes d'intérêt présents au sein du bureau politique doivent porter la responsabilité de cette dépendance chinoise désastreuse pour le pays. Responsabilité collective mais surtout individuelle. Chaque dirigeant est individuellement responsable. Personne au sein du pouvoir central ne peut, sans perdre son honneur citoyen, ni garder le silence devant cette trahison des aspirations populaires ni en rejeter la faute sur les autorités régionales. De leur côté, les autorités politiques régionales, déjà tristement célèbres par leur empressement violent à réquisitionner les terres et les biens paysans, ne peuvent invoquer le droit à la libre entreprise pour des hommes d'affaires chinois clairement au service de la stratégie de Pékin. Elles ne pourront pas non plus incriminer de mauvaise gestion les comités d'organisation des zones économiques locales lors des incidents qui ne manqueront pas de se produire entre des occupants indésirables et une population locale excédée par cette cohabitation imposée, vécue comme une provocation permanente à son sentiment national et à ses intérêts immédiats . En bref, au sein des instances du Parti, du plus haut au plus bas, personne ne peut plus jouer l'autruche devant ce que nombre de citoyens et certains militants courageux ont déjà dénoncé depuis longtemps: le danger mortel de sinisation qui menace la nation. L'intrusion de la plateforme de forage avait donné l'occasion de rééquilibrer l'économie en en reprenant graduellement la maîtrise. L'occasion est délibérément rejetée par le PCV. Vers des "Ukraine" à la chinoise? Sous prétexte fallacieux de développement, ce parti, de plus en plus " étrange" pour sa nation et son peuple, ouvre continuellement la porte à l'importation d'une main d'œuvre chinoise souvent non qualifiée, population explosive dans la société vietnamienne en proie à une crise globale où le chômage frappe des centaines de milliers de jeunes obligés d'aller vendre leur force de travail à l'étranger... Dans un pays où des milliers d'hectares situés pour la plupart dans des zones stratégiques, ont déjà été loués pour des décennies, c'est-à-dire en réalité cédés aux expansionnistes de Pékin masqués ou non, les dirigeants vietnamiens au pouvoir encouragent encore l'intensification du flot... Combien de plateformes terrestres chinoises ont, depuis des années et en toute tranquillité foré le patrimoine vietnamien pour en ponctionner les richesses? Et voilà qu'après avoir bradé des pans entiers des ressources naturelles, énergétiques et industrielles nationales, les dirigeants de ce pays vont donner le feu vert pour sacrifier plus encore les ressources humaines... et même au-delà. Des milliers de nouvelles familles chinoises vont s'installer. D'autres vont se créer sur place. Elles vont travailler dans des zones d'où les Vietnamiens ordinaires seront exclus et où les autorités locales n'auront accès qu'après avoir poliment montré patte blanche. Elles vont vivre à la chinoise dans des rues, des quartiers, des districts chinois autogérés où les autorités vietnamiennes seront en fait de dociles salariés à leur service... Souvent, parce qu'encouragées financièrement en sous-main par Pékin, ces communautés chinoises vivront dans de biens meilleures conditions que les milliers de familles vietnamiennes touchées de plein fouet par le chômage et les salaires de misère. Elles vont y imposer leur loi économique et donc leurs options politiques. Ces nouveaux occupants vont ainsi fixer en maîtres sur la terre vietnamienne une descendance chinoise qui pourra un jour -pourquoi ne pas l'envisager ?- exiger le droit du sol. Ukraine à la chinoise. Sinisation par le sang. En cas de réticences populaires locales ou de résistance nationale marquée à chaque nouvelle secousse de la politique Đại Hán, les dirigeants vietnamiens ne peuvent pas ignorer le pouvoir déstabilisateur de ces poches continentales d'explosifs humains dont la mèche peut être allumée à partir de Pékin et relayées sur place par les services d'agents locaux, chinois ou vietnamiens mercenaires. Et ce ne sont pas les quelques manifestations "presse- bouton", "autorisées" à ce moment-là par Ha Noi pour sauver la face comme au moment de l'intrusion de HYSY981 qui donneront le change. Vũng Ánh confirme: le canard vietnamien sera laqué ! La nouvelle du retour en force de travailleurs chinois à V ũng Ánh est un message clair qui confirme une complicité flagrante : Pékin et Ha Noi sont d'accord sur l'essentiel: "la modernisation" , le "développement" du Vietnam se feront à la sauce chinoise, au profit d'une " Đại cục", (situation générale), chinoise dont le rythme est défini par les dirigeants chinois et validé, bon gré mal gré, par ceux du PC vietnamien dans le dos de leur propre peuple. Ce parti communiste vietnamien d'aujourd'hui, méconnaissable par rapport à celui d'hier, en porte toute la responsabilité historique et devra tôt ou tard l'assumer... Note de l'auteur à l'intention des résidents vietnamiens d'origine chinoise et des vrais travailleurs chinois. Que le simple citoyen vietnamien d'origine chinoise ne prenne pas ombre de ces quelques lignes d'indignation. Elles ne sont aucunement dirigées contre lui. Que les travailleurs chinois exploités par un régime de dictature ne considèrent pas ces propos comme des incitations au racisme. L'auteur ne fait ici que pointer du doigt une triste réalité: les dirigeants des deux partis communistes chinois et vietnamien utilisent sans état d'âme leur pouvoir sans partage à des fins de profit privé à l'encontre des les intérêts populaires ou nationaux... Tout en masquant leurs terribles responsabilités, ils utilisent les uns pour aggraver délibérément la misère, le désespoir, l'humiliation des autres. Ils ne préparent pas l'amitié mais la haine. Ils ne préparent pas la paix mais de nouvelles tragédies pour les deux communautés. Nguồn: boxitvn.blogspot.de
......

“Tự do cho Điếu Cày”: Hy vọng “đặc xá” lớn dần

Đã đến công đoạn “xin tha tù” Ảnh Blogger Điếu Cày (VNTB) - Sáng hôm 28/8/2014, tức chỉ còn vài ngày nữa sẽ đến Quốc khánh Việt Nam 2/9, trang Facebook của Nguyễn Trí Dũng, con trai của người khởi xướng “Câu lạc bộ nhà báo tự do” Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, loan tin: “Cách đây 5 phút, cha tôi là ông Nguyễn Văn Hải đã gọi điện về nhà và báo cho gia đình biết Bộ công an đã vào phòng giam để yêu cầu viết đơn "xin tha tù" nhưng bất thành. Cha tôi nhận định bản thân ông không có tội và bị bắt giam một cách tùy tiện không bản án. Vậy nên đơn duy nhất ông viết là đơn "yêu cầu giải quyết ra tù". Ông gửi lời cám ơn đến các tổ chức và các nhân vật đấu tranh và ủng hộ dân chủ trong và ngoài nước và nhắc lại những điều khoản trong Hiến Pháp cũng như luật pháp quốc tế mà nhà cầm quyền Việt Nam đã vi phạm khi đàn áp bắt bớ những người đấu tranh dân chủ, nhân quyền và truyền thông độc lập. Xin cô bác anh chị hãy lưu tâm rằng người tù có thể vẫn không được thả, nhưng họ vẫn giàn xếp tin tức để tự chúng ta tung ra để hòng giảm sự tập trung vào những người tù mới bị bắt giam vô cớ tương tự như phiên tòa xử 3 nhà bất đồng ở Cao Lãnh- Đồng Tháp vừa qua. Vậy nên khi hợp sức loan tin xin đưa kèm dòng status bên trên hướng về phiên tòa ở Đồng Tháp. Xin cám ơn!”.   Cử chỉ tương đồng Một cử chỉ tương đồng khá “thú vị” của cơ quan công an Việt Nam là vào khoảng từ đầu đến giữa tháng 6/2014, họ cũng yêu cầu Đỗ Thị Minh Hạnh - một trong những người khởi xướng phong trào công đoàn độc lập mà sau đó trở thành tù nhân bất đắc dĩ - phải ký một số giấy tờ mang tính “khoan hồng” và “xin tha tù”. Nhưng “Cánh chim báo bão” Minh Hạnh đã khước từ thẳng thừng. Cuối tháng 6/2014, Đỗ Thị Minh Hạnh nghiễm nhiên được tự do trước thời hạn án tù mà không kèm theo bất cứ điều kiện ràng buộc nào. Không những thế, vài tháng sau cựu tù nhân lương tâm này đã chính thức “khai trương” tổ chức Lao động Việt ngay tại đất nước mà hình thức công đoàn tự do vẫn bị coi là “bất hợp pháp”.   Cần nhắc lại, vào ngày 6/8/2014, trùng với thời điểm Thượng nghị sĩ Cộng hòa John McCain và đồng viện dân chủ Sheldon Whitehouse đến Hà Nội, gia đình của Điếu Cày bất ngờ nhận giấy mời của Chi cục thi hành án dân sự quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, yêu cầu thay mặt cho ông Hải đóng tiền án phí sơ thẩm và phúc thẩm hình sự để “đủ điều kiện xem xét giảm án đặc xá”. Dù chỉ là động tác hết sức “vi mô”, nhưng động thái giấy mời “đóng tiền án phí” mới diễn ra đã khiến rộ lên dự đoán về khả năng Điếu Cày có thể được trả tự do trong không bao lâu nữa. Thậm chí ngay trong tháng Tám này. “Khỏe re như con bò kéo xe” Xét về “nhân thân” và “quá trình công tác”, Điếu Cày - Nguyễn Văn Hải chính là một trong những tù nhân lương tâm kỳ cựu và có tiếng nhất ở Việt Nam, bị bắt và bị xử án đến hàng chục năm tù giam chỉ vì đấu tranh phản kháng Trung Quốc. Điếu Cày cũng là người luôn nằm trong danh sách ưu tiên mà Chính phủ Mỹ thường trao cho phía Việt Nam để đòi hỏi trả tự do. Tại cuộc Kiểm điểm định kỳ phổ quát về nhân quyền (UPR) đối với Nhà nước Việt Nam ở Geneva, Thụy Sỹ vào tháng 2/2014, đoàn Mỹ đã đặt thẳng yêu sách là Việt Nam phải phóng thích vô điều kiện các tù nhân lương tâm, trong đó có Điếu Cày. Nếu có thể so sánh, cần nhắc lại là ngay trước và sau chuyến công du Hà Nội của nữ Thứ trưởng Ngoại giao đặc trách chính trị Wendy Sherman của Hoa Kỳ đến Hà Nội vào đầu tháng 3/2014, Nhà nước Việt Nam đã phóng thích một loạt 5 tù nhân lương tâm, kể cả một người bị coi là “rất cứng đầu” như ông Cù Huy Hà Vũ. Trường hợp “người tù xuyên thế kỷ” Nguyễn Hữu Cầu, với 37 năm trong bốn bức tường đen đúa và bít bùng, cho biết từ trước tết 2014, ông cũng đã nhận yêu cầu từ cơ quan công an để ký giấy “xin khoan hồng”, nhưng ông đã hồn nhiên trả lời là ông có tội gì hết. Ngay sau khi ra tù, ông Cầu lập tức làm các trang mạng phấn chấn với bài hát tự sáng tác “Khỏe re như con bò kéo xe”và hình ảnh ôm guitar rất điệu nghệ của ông.   “người tù xuyên thế kỷ” Nguyễn Hữu Cầu nay đã tự do Một lần nữa, hãy quay trở lại cuộc họp báo, mà cách nào đó có thể ví với hình ảnh “bò kéo xe”, của Thượng nghị sĩ John McCain vào đầu tháng 8/2014 tại Hà Nội: “Những gì Mỹ có thể làm được tùy thuộc vào tiến bộ của Việt Nam trong lĩnh vực nhân quyền. Mỹ đánh giá cao các tiến bộ của Việt Nam trong các tiến bộ này trong đó có tham gia ký kết công ước quốc tế chống tra tấn cũng như lĩnh vực tôn giáo. Phía Việt Nam công nhận những việc này nhiều hơn nữa, sẽ tốt cho ổn định, thịnh vượng và thành công của Việt Nam”. Nhưng tất nhiên phải là “những tiến bộ có thể chứng minh được” theo cách nói của người Mỹ. Tín hiệu tự do cho Điếu Cày cũng bởi thế đang có chiều hướng vươn tỏa vào chính những ngày này. Phạm Chí Dũng
......

Con Đường VN và bản án Đồng Tháp

PHONG TRÀO CON ĐƯỜNG VIỆT NAM Tuyên bố về phiên tòa xử các công dân Bùi Thị Minh Hằng, Nguyễn Thị Thuý Quỳnh và Nguyễn Văn Minh Bất chấp dư luận trong ngoài nước và lời kêu gọi của các chính phủ, tổ chức quốc tế về quyền con người, sau sáu tháng bị bắt giữ, “tạm giam" trái quy định, ngày 26 tháng 8 năm 2014 chính quyền Việt Nam đã tiến hành phiên xử các công dân Bùi Thị Minh Hằng, Nguyễn Thị Thuý Quỳnh và Nguyễn Văn Minh với tội danh “gây rối trật tự công cộng". Kết quả: ba công dân nói trên đã bị áp đặt bản án tổng cộng là 7.5 năm. Nghiêm trọng hơn, dù được thông báo là một “phiên xử công khai" nhưng ngay từ nhiều ngày trước đó chính quyền và an ninh các cấp, các nơi đã công khai đe dọa, khủng bố và ngăn chặn công chúng quan tâm đến theo dõi phiên toà. Chỉ trong 24 giờ trước khi phiên toà được mở ra tại Toà án Nhân Dân Đồng Tháp, hơn 60 công dân Việt Nam, trong số đó có 6 thành viên Con Đường Việt Nam và một số nhân chứng quan trọng của vụ án đã bị bắt giữ, cô lập, sách nhiễu không thể vào theo dõi hay tham dự phiên toà. Rõ ràng: 1. Việc bắt giữ và xét xử ba công dân nói trên là một thủ đoạn chính trị nhằm đàn áp nhà hoạt động Bùi thị Minh Hằng cùng các cộng sự, đồng thời khủng bố tinh thần của những nhà hoạt động xã hội dân sự khác đang bày tỏ chính kiến của mình một cách ôn hoà tại Việt Nam. 2. Đối với ba công dân nói trên, tất cả các quy trình từ bắt giữ đến xét xử đều là sự nguỵ tạo, dàn dựng thô thiển, vi phạm nghiêm trọng các quy định pháp lý về thời hạn tạm giam điều tra (điều 119 luật tố tụng hình sự), quyền được thăm gặp thân nhân trong thời gian tạm giam, quyền được xét xử công khai, minh bạch đúng pháp luật. 3. Đối với công chúng và dư luận quan tâm, chính quyền Việt Nam đã vi phạm trắng trợn đến quyền tự do ngôn luận, tự do thông tin của người dân, chà đạp lên chính pháp luật Việt Nam (Khoản 1, điều 123 luật hình sự về “bắt, giữ, giam người trái pháp luật") và các quyền con người căn bản qua việc đánh đập và bắt giữ trái phép những người muốn tham dự phiên toà. Phong trào Con Đường Việt Nam cực lực phản đối quy trình bắt giam, xét xử, bản án bất công áp đặt của chính quyền Việt Nam đối với ba công dân Bùi Thị Minh Hằng, Nguyễn Thị Thuý Quỳnh, Nguyễn Văn Minh và hành động ngăn chặn, bắt giữ phi pháp các công dân chung quanh phiên toà. Chúng tôi cho rằng việc nguỵ tạo tội danh, bắt giữ, xét xử thô thiển cùng các hành vi đàn áp ngăn cản công chúng quan tâm đến phiên toà là một thông điệp trái chiều mà chính phủ Việt Nam đã gửi đến dư luận thế giới trong vai trò là thành viên hội đồng nhân quyền LHQ và đặc biệt nguy hiểm khi đất nước đang cần sự ủng hộ của quốc tế trong hoàn cảnh kinh tế sa sút và chủ quyền lãnh thổ ngày càng bị xâm lấn, đe doạ hơn từ Trung Quốc như hiện nay. Chúng tôi yêu cầu: 1. Chính quyền phải làm gương trên hết trong việc tôn trọng pháp luật để gìn giữ kỷ cương, đặc biệt trong một xã hội đang có rất nhiều biểu hiện tiêu cực, thiếu ý thức tôn trọng luật pháp như hiện nay. Cụ thể: phải lập tức huỷ bỏ bản án và trả tự do không điều kiện cho ba công dân trên. 2. Chính quyền Việt Nam phải chấm dứt các hành vi sách nhiễu, vi phạm quyền con người của các công dân, bao gồm quyền tự do đi lại, quyền được thông tin, quyền được xét sử minh bạch công bằng, tôn trọng các thoả ước quốc tế về hạn định giam giữ, thủ tục tố tụng… để nhanh chóng hoà nhập cùng thế giới tiến bộ trong việc bảo vệ các giá trị phổ quát của quyền con người. 3. Con Đường Việt Nam cùng các tổ chức dân sự khác kêu gọi Liên Hiệp Quốc, các tổ chức quốc tế, các nhà tài trợ tiếp tục tạo sức ép để chính quyền Việt Nam phải nghiêm chỉnh tuân thủ và thi hành các nghĩa vụ quốc tế của mình, chấm dứt việc truy bức, bỏ tù công dân mình vì biểu hiện ái quốc trước xâm lược Trung Quốc hoặc vì bày tỏ khao khát dân chủ, tự do, công bằng xã hội. Ngày 27 tháng 8 năm 2014 TM. Con Đường Việt Nam Lê Quốc Tuấn Phát Ngôn Viên Phong trào Con đường Việt Namhttps://conduongvietnam.orghttps://facebook.com/quyenconnguoi
......

Món quà Bùi Minh Hằng cho Bắc Kinh

NHỮNG GÌ CHO PHÉP MÌNH KẾT LUẬN SAU VỤ XỬ MINH HĂNG VÀ “ĐỒNG CHÍ” CỦA CHỊ ĐÃ GÂY RỐI TRẬT TỰ …TRUNG CỘNG? Sở dĩ mình dùng cái tít dài dòng này chính là để nhấn mạnh: 1- Thực chất cuộc xử án “gây rối trật tự công cộng” này: CHÍNH LÀ XỬ ÁN MỘT TRONG NHỮNG NGƯỜI CHỐNG TÀU XÂM LƯỢC CAN TRƯỜNG NHẤT, NỔI TIẾNG NHẤT VÀ ĐƯỢC CẢ THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC CHÚ Ý THEO DÕI NHẤT, 2- Kết luận của cái gọi là “Tòa án” của đảng họ không thể nặng như vụ “trốn thuế của Điếu Cầy hoặc vụ “2 bao cao-su đã xử dụng” ngụy tạo với Cù Huy Hà Vũ mà nó phải đôi co mãi trong những tên “chóp bu” sẽ phải đánh mấy roi thì vừa lòng cả Thiên Triều lẫn dân VN, sau khi có vụ giàn khoan HD 981 đã đoàn kết hàng triệu người trên tinh thần “đoàn kết một lòng khi Tổ Quốc đứng trước nạn ngoại xâm”. 3- Và QUAN TRỌNG NHẤT LÀ MỌI Ý NGHĨ, SUY ĐOÁN, PHÂN TÍCH MÒ, LÀ SẼ CÓ SỰ “THAY ĐỔI”, “CỞI MỞ’, “‘NHẸ TAY” “THOÁNG HƠN”, thậm chí “TỐT HƠN” TRONG VỤ XỬ ÁN NÀY…ĐỀU HOÀN TOÀN …PHÁ SẢN! 4- Mình muốn nhắc lại một lần nữa: KHÔNG TRÔNG MONG GÌ Ở SỰ THAY ĐỔI CỦA NHỮNG NGƯỜI CÔNG SẢN NHẤT LÀ CỘNG SẢN VIỆT NAM KHI HỌ, NHŨNG CÁI TÊN “CHA VƠ CHÚ VẾU” Ở ĐÂU ĐÓ BỖNG DƯNG TRỞ THÀNH VUA, NHỜ SỰ ĐỠ ĐẦU TOÀN DIỆN CỦA THIÊN TRIỀU!   5- Nếu thực sự có vài tên muốn “thoát Trung” bắt tay Mỹ (mà mình tuyệt đối không bao giờ tin với bản chất của chúng hiện nay) thì lập tức sẽ bị vô hiệu hóa và “cho de” ngay lập tức chứ chẳng cần chờ Hội Nghị Trung Ương số này, số khác…(“dân chủ tập trung” ngay trong đảng họ đã cho phép một vài người, đôi khi một tên “vua không ngai” cho “biến trong không khí” nhiều nhân vật “to” ra trò nhưng có ý kiến khác “vua cha”, “vua chú” vẫn còn đó như những tấm gương tầy liếp)! Do đó, trông mong vào một vài lời nói “tiến bộ vu vơ”,một chuyến đi “thăm đột xuất” của một, hai nhân vật quan trọng nào đó của cả hai bên (Vụ PQ Nghị và J.M.Cain) mà tin rằng “sẽ có thay đổi”, sẽ thôi “đu dây” phải bỏ Tầu theo Mỹ vì những mục đich, PPT và “vũ khí sát thương” gì gì đó…thì quả là… non choẹt “về nhãn quan chính trị” và vô tình đã dẫn dắt bao người vào những điều “lạc quan tếu”!....Không biết bao facebooker, blogger, trước, và ngay ngày 26/8 xử vụ MH đã tung lên mạng những “Chị Hằng sẽ được thả tại chỗ”, “Đại diện Sứ Quán Mỹ đã có mặt bí mật tại Đồng Tháp” thậm chí tổ chức “đi đón Minh Hằng và các bạn của cô”(!) rồi.. “nên Liên hoan tại Sài gòn hay Vũng Tầu..”(?!) “Người không bán nước” đã mặc cả áo dài khăn đóng, để đi đón Minh Hằng cũng xúng sa xúng xính xuất hiên trên mạng ngay bến xe Cao Lãnh!...rất chi là… phấn khởi …. tươi cười …để rồi gần như bị màng lưới dày đặc côn an và chó săn cắn người thuê, cho…. nhập kho gần hết! So với vụ xử Phương Uyên, cũng không được vào chứng kiến tại chỗ phiên xử, cũng bị canh gác các đường đẫn đến Tòa Án, nhưng lực lượng anh em ta, đã lập tức chuyển ngay sang diễu hành trên đương phố, hô to những khẩu hiệu “Tự do cho Uyên-Kha”, “Đả đảo Tầu xâm lược!”, tay giăng cao những băng-đơ-rôn đã chuẩn bị sẵn cho một cuộc đấu tranh đòi công lý, đòi quyền con người, đả đảo bọn xâm lược! Tất nhiên không phải do họ mà tòa phải thả tại chỗ bé Uyên, nhưng hành động của họ đã làm xúc động cả triệu triệu con tim người trong nước và thế giới, ngay cả dân Long An hôm ấy cũng được mở mắt và đã góp phần không nhỏ cho một hành động chưa từng có tại các thứ tòa án cộng việt! (ảnh 1) …Còn lần này….vụ vu cáo để xử MH và “đồng chí” xảy ra trong bối cảnh chính trị hoàn toàn khác (họ không muốn xử ngay những ngày giàn khoan HD981 đang còn nghênh ngang, ngạo nghễ, xấc xược trên lãnh hải của ta ) mà phải xử-trả- thù chị như một tuyên ngôn cứng rắn về thái độ của họ là CHỐNG TRUNG QUỐC THIÊN TRIỀU LÀ CHỐNG CHÚNG TAO LÀ PHẢN ĐỘNG LÀ….VÀO TÙ MỌT GÔNG! Và chúng đã ra lệnh từ trên cao tít,huy động một lực lượng côn an chưa từng có trên khắp đất nước, xử dụng lượng ngân khố khổng lồ để ngăn chặn từ từng nhà,từ trước nhiều ngày những ai chúng cho là sẽ có thể có mặt tại Đồng Tháp để thẳng tay “hốt hết”. Khi họ vừa ló mặt đến địa điểm Đồng Tháp là chúng đã cho “nhập kho”, rồi tống lên ô-tô chở thẳng về Saigon sau khi cướp sạch các phương tiên thông tin máy ảnh, smart phone! Ngoài mấy tấm ảnh ít có giá trị tố cáo, không ai kịp có một hành động nào xứng đáng với công lao chui nhủi, tránh né, bài binh bố trận để vượt qua cả hàng trăm, hàng ngàn cây số để đến được với vụ xử án ô nhục chưa từng có trên thế gian! Để rồi cuối cùng,trước bản kết tội khốn nạn của chúng nó,chỉ còn biết …lên mạng mà… “tố cáo” những hành động hèn mạt của chúng (mà chúng cho là chiến thắng vẻ vang là cái chắc) hoặc… ”chửi bậy” cho đỡ cơn bực bội!? Nhân đây, mình cũng xin bắt chước học nghề bình luận và phán đoán tí chút về vụ án “gây mất trật tự, hai xe đi hàng ba” vừa qua: 1- Vụ này trước tiên phải gọi “đích danh bà lang Trọc” của nó là; vụ án chống nước bạn 4 Tốt Trung Quốc, chỗ dựa vững chắc của cái gọi là “Đảng Cộng Sản VN”! 2- Nó được tiến hành ngày 26/8/2014,sau khi một tên dữ và xấu tướng nhất trong bộ xậu 5 vua tập thể có uy quyền nhất trong triều đình Hà-Nội vừa hoàn thành “dâng sớ khấu đầu tạ tội với Thiên Triều về những “lộn xộn vừa qua” ở Việt Nam hai ngày truớc: Từ 24 đến 25/8! Nghĩa là nó đã phản ảnh sự quy thuận Thiên Triều một lần nữa bằng hành động cụ thể đã hứa “ổn định lâu dài” với ông anh! Xem qua vài đường bị “lộ bem” nè. (ảnh 2) Ông Lê Hồng Anh tuyên bố với báo chi là chuyến đi 2 ngày từ 24 đến 25/8 là nhằm “trao đổi về các biện pháp nhằm khôi phục và thúc đẩy quan hệ hai Đảng, hai nước phát triển lành mạnh, ổn định lâu dài”. Ông Anh nói thêm “việc hai Đảng, hai nước tăng cường hợp tác, duy trì quan hệ phát triển lành mạnh, ổn định là hết sức cần thiết nhất là trong bối cảnh tình hình quốc tế hiện nay và tình hình Biển Đông có những diễn biến căng thẳng, phức tạp”… (Chẳng biết khi hội đàm bí mật có thêm cái ý “căng thẳng do bọn Đế Quốc Mỹ lăm le đưa hạm đội 7 vô Cam Ranh và thằng Remsey đã vô tận Đà Nẵng theo mong muốn của “nhóm bảo thủ” không?) Còn phía Trung Cộng chúng chỉ cho một thằng Hồng Lỗi nói với giọng trịch thượng: "Trung Quốc ghi nhận công tác và thái độ của phía Việt Nam,hy vọng rằng phía Việt Nam sẽ thực hiện nghiêm chỉnh các biện pháp phù hợp". Còn một số nhà phân tích thời sự có tiếng trên thế giới thì đánh giá khách quan như sau Đặc phái viên Lê Hồng Anh có thể là quyết định của một bộ phận ban lãnh đạo Việt Nam, những người vẫn tin rằng cần giữ hòa hiếu với Trung Quốc cho dù nước này ngày càng có nhiều hoạt động độc đoán trên Biển Đông. (BBC 27/8/2014) Cho nên xử MH 3 năm tù,theo mình còn là…nhẹ!....Và sự thảo luận cân nhắc tính toán so kè bớt một thêm hai rất có thể do kéo dài từ Hà Nội đến Bắc Kinh. Hà Nội—Đồng Tháp và trong các nhóm lợi ích với nhau (chẳng có mâu thuẫn gì về chính trị mà chỉ có thể về kinh tế hơn thua mà thôi! ). Đó là lý do vì sao phiên xử phải kéo dài một cách bất thường và phải đợi cả đến tối 26/8,đúng 18g50, Tòa Án Đồng Tháp mới có thể đọc lên cái lệnh cuối cùng của “Trên”: Y án 3 năm, 2, 5, 2 năm tù giam cho các bị can! Hạ màn mọi trò diễn!! Để kết luận mấy điều tập tành phán đoán,phân tích tình hình,” Chính trị nhiễu nhương” hiện nay mình xin phép được đưa ra những kết luận có người cho là bảo thủ của mình như sau: 1- KHÔNG BAO GIỜ NÊN TIN VÀO SỰ THAY ĐỔI GÌ CỦA CÁI BỌN SỐNG NHỜ TẦU KHỰA VÀ HÃY TIN VÀO CHÚNG SẼ CHẾT CÙNG TẦU KHỰA! 2- Để giữ chặt cái triết lý “liên kết nô lệ đến cùng” để tồn tại này, chúng sẽ không nương tay với bất cứ ai chống lại chúng dù chỉ trong tư tưởng! 1- Vì quyền lợi của con cháu muôn đời của chúng, không bao giờ chúng “bắt tay”. Với những cái gì là văn minh tiến bộ của loài người và loài người cũng đã quá quen với những lời nói và việc làm của chúng luôn là mâu thuẫn, giả dối, lừa bịp nên ai chứ mấy ông Mỹ thực dụng thì thừa sức “bắt bài” chúng không mấy khó khăn! Đừng hòng bịt mắt họ mả vẫn vào được TPP,được mua vũ khí sát thương để rồi bắn vào dân Việt Nam của mình là chính! Còn chuyện “Làm gì đây” trong tình hình hện nay thì…quả là mình đã “quá đát” để nói và hành động cùng lớp trẻ hôm nay…Chỉ mong các bạn hãy vững vàng,tự tôi luyện trong các cuộc thử lửa với cái “Xấu” đang lộng hành, chuẩn bị đội ngũ,phát động được càng nhiều càng tốt tinh thần chống quân xâm lược và…. chờ thời cơ….để có thể biến một cuộc biểu tình hoan hô chủ nghĩa cộng sản thành một cuộc biểu tình đòi hạ bệ một kẻ tưởng như muôn năm bất khả xâm phạm Ceaucescu bắt vợ chồng hắn từ khán đài diễn thuyết ba hoa ngày 21/12/1989, phải chạy trốn bằng trực thăng rồi bị xử tử ở một nơi hẻo lánh Târgoviste ngày 25/12/1989!(*) Thời cơ đó sẽ đến và phải đến, đến nhanh hay chậm là do hàng ngũ chúng ta ngảy càng đông, ngày càng có nhiều các đảng viên cộng sản bỏ đảng như bên Tầu,và ngày mà bọn Tầu khựa vứt bỏ công khai cái vỏ cộng sản, đó là ngày một Timisoara Việt sẽ ra đời, chẳng cấn súng nổ, máu chảy đầu rơi, chẳng cần nhóm, Hội nào lãnh đạo, toàn dân ta sẽ đủ điều kiện để làm cuộc ĐẬP BỎ chứ không phải là “LÀM CHO TỐT LÊN”, ”SỬA CHỮA” ĐIỂM TÔ CHO CÁI THỂ CHẾ UNG THƯ GIAI ĐOẠN CUỐI NÀY! Qua lần kết án Minh Hằng, Nguyễn văn Minh và Thúy Quỳnh lần này, một lần nữa mình xin phép được kết luận dứt khoát như trên ….Ai không đồng ý, xin cứ phản biện tự nhiên, miễn là coi mình như yếu kém, lẩm cẩm về quan điểm chính trị chứ không phải là … ”phản động với lực lượng phản động”! (*) Các bạn hãy gõ một chữ Ceaucescu vào Google để click vao hàng trăm tài liệu giúp ta suy ngẫm về “thời cơ” của một cuộc cách mạng. Nguồn: FB Tô Hải
......

Mỹ lên án Việt Nam kết án 3 nhà hoạt động nhân quyền

Ngày  26/08/2014, sau khi tòa án sơ thẩm Việt Nam tại Đồng Tháp kết án tù giam ba nhà tranh đấu Bùi Thị Minh Hằng, Nguyễn Thị Thúy Quỳnh và Nguyễn Văn Minh, Đại sứ quán Hoa Kỳ ra tuyên bố bày tỏ « mối quan ngại sâu sắc ». Các tổ chức bảo vệ nhân quyền Amnesty International và Human Rights Watch đồng loạt lên án Việt Nam sử dụng tội danh gây rối trật tự công cộng để đàn áp những người « thể hiện ôn hòa quan điểm chính trị », « thực thi quyền tự do hội họp » và « bày tỏ tình đoàn kết với những người có nguy cơ bị bách hại ». Hôm qua, trong một phiên xử mà luật sư cho biết đã được tiến hành chỉ nhằm để buộc tội các bị cáo, tòa án sơ thẩm tỉnh Đồng Tháp đã kết án bà Bùi Thị Minh Hằng ba năm tù, cô Nguyễn Thị Thúy Quỳnh 2 năm và anh Nguyễn Văn Minh 2 năm rưỡi tù giam. Hồi đầu tháng 2/2014, bà « Bùi Hằng», 50 tuổi, cùng cô Nguyễn Thị Thúy Quỳnh, 28 tuổi và anh Nguyễn Văn Minh, 34 tuổi, một tín đồ Phật giáo Hòa Hảo, bị công an tỉnh Đồng Tháp bắt giữ khi đến thăm ông Nguyễn Bắc Truyển, một cựu tù nhân chính trị cư trú tại tỉnh này, đang trong tình trạng bị công an đe dọa trấn áp. Sự cố nói trên bị nhiều nhà hoạt động nhân quyền lên án như một vụ án dàn dựng nhằm bỏ tù nhà tranh đấu nổi tiếng Bùi Thị Minh Hằng, thường được gọi là « Bùi Hằng ». Bà Bùi Hằng được công chúng biết đến sau nhiều lần tham dự các cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc gây hấn tại Biển Đông. Theo luật sư, sức khỏe của các bị cáo, đặc biệt là bà Bùi Hằng rất kém. Bà Bùi Hằng cùng cô Nguyễn Thị Thúy Quỳnh, 28 tuổi và anh Nguyễn Văn Minh, đã trải qua nhiều cuộc tuyệt thực trong thời gian 6 tháng bị giam giữ để phản đối hành xử bất công của chính quyền. Trong tuyên bố hôm qua, Đại diện Ngoại giao Hoa Kỳ khẳng định việc tư pháp Việt Nam « sử dụng các điều luật về trật tự công công để bỏ tù những người chỉ trích chính phủ, vì họ bày tỏ quan điểm chính trị một cách ôn hòa là điều đáng báo động ». Mỹ kêu gọi chính phủ Việt Nam trả tự do « vô điều kiện ba cá nhân này, cũng như các tù nhân lương tâm khác và cho phép mọi người Việt Nam bày tỏ quan điểm chính trị của họ ». Phó Giám đốc Châu Á của tổ chức bảo vệ nhân quyền Human Rights Watch, Phil Robertson, tuyên bố các cáo buộc của tư pháp Việt Nam chống lại các bị cáo là « sai trái » và « vô nhân đạo ». Đại diện HRW khẳng định « Bùi Thị Minh Hằng và các đồng bạn bị kết án tù, chỉ vì đơn giản là thực hiện quyền hội họp và dám bày tỏ tiếng nói đoàn kết với những người có nguy cơ bị bách hại ». Ông Rupert Abbott, phó Giám đốc Châu Á Thái Bình Dương của tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty International), lên án Việt Nam một lần nữa lại dùng biện pháp đàn áp nhắm vào những người tranh đấu ôn hòa. Nhân vụ án ba nhà tranh đấu vừa bị tòa án Đồng Tháp kết án, Amnesty International nhấn mạnh đến việc, mặc dù từ tháng 4 đến tháng 7, bốn nhà tranh đấu Việt Nam được chính quyền trả tự do, nhưng còn rất nhiều nhà hoạt động nhân quyền hiện vẫn đang bị giam giữ, chỉ vì bày tỏ chính kiến tại một quốc gia vừa được bầu làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc hồi năm ngoái. Nhiều nhân chứng tại chỗ tố cáo các lực lượng an ninh, đặc biệt tại tỉnh Đồng Tháp, đã bắt bớ hàng chục người tới thị xã Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, để bày tỏ sự ủng hộ đối với bà Bùi Thị Minh Hằng, cô Nguyễn Thị Thúy Quỳnh và anh Nguyễn Văn Minh, nhiều người trong số họ bị đánh đập dã man. Trả lời AFP, từ Đồng Tháp ông Nguyễn Lân Thắng cho biết « khoảng 60 đến 70 người bị câu lưu ». Hiện tại theo một nguồn tin chúng tôi được biết, hầu như tất cả những người bị bắt hôm qua đã được trả tự do. Riêng bà Nguyễn Ngọc Lụa đang ở trong tình trạng sức khỏe rất đáng ngại, sau khi bị công an đánh phải đi cấp cứu. Vụ xét xử ba nhà hoạt động nhân quyền hôm qua với những án tù nặng, đặc biệt là bà Bùi Hằng – một biểu tượng của tinh thần phản kháng chống hiểm họa bành trướng Phương Bắc - xảy ra đúng vào thời điểm ông Lê Hồng Anh, đặc phái viên của Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, đang trong chuyến công du Trung Quốc nhằm « khôi phục và thúc đẩy quan hệ » giữa Hà Nội và Bắc Kinh, sau sự cố Trung Quốc hạ đặt giàn khoan tại vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam gây nhiều phẫn nộ trong nước và quốc tế. Trọng Thành - RFI ***** Những hình ảnh đáng nhớ về Người Yêu Nước Bùi Minh Hằng RadioCTM Radio Chân Trời Mới Tin Nhanh Số 12 — Phiên xử Bùi Minh Hằng - Nguyễn Văn Minh - Nguyễn Thị Thúy Quỳnh         Ông Phạm Minh Hoàng, một cựu tù nhân lương tâm, nhận định về chính sách của giới lãnh đạo đảng CSVN qua cách đối phó của họ với những người Việt yêu nước như các anh chị Bùi Minh Hằng, Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Thị Thúy Quỳnh: https://soundcloud.com/radio-ctm-1/thay-giao-pham-minh-hoang-ve-phien-xu...   Và nhiều bạn hữu nguyện tiếp nối các nỗ lực của chị Bùi Minh Hằng trong trách nhiệm bảo vệ đất nước, đùm bọc những gia đình tù nhân chính trị, và tranh đấu cho các quyền con người. RadioCTM sẽ tiếp tục tường trình các diễn tiến chung quanh vụ xử án các anh chị Bùi Minh Hằng, Nguyễn Văn Minh, và Nguyễn Thị Thúy Quỳnh tại các trang mạng, blog, và Facebook của đài. Mời quí độc giả, thính giả theo dõi.   Hoàng Trường, Tuyết Đan, Thanh Lan, Thùy An, Trần Quang Thành kính chào tạm biệt
......

Vụ Phạm Chí Dũng đậm nét đa nguyên báo chí

Vụ “Phạm Chí Dũng”: Hoan hô tính đa nguyên trong báo chí độc lập   (VNTB) - Chúng tôi vui mừng, vì chưa đầy hai tháng thành lập, mà tinh thần đa nguyên trong Hội nhà báo độc lập Việt Nam (HNBĐLVN) đã phát huy tác dụng, hứa hẹn một nền báo chí tự do sẽ mau đến cho công chúng Việt Nam. Đa nguyên về quan điểm Những lý thuyết gia và những nhà cai trị các quốc gia theo học thuyết Cộng sản thường đề cao việc thống nhất quan điểm, theo một quan điểm duy nhất. Tuy nhiên, lịch sử Việt Nam và thế giới cho thấy việc thống nhất quan điểm, tạo ra một quan điểm duy nhất là một giải pháp kém hiệu quả nhất cho phát triển. Hầu như nó chỉ đáp ứng được cho mục tiêu của một nhóm nhỏ, mà chưa bao giờ đủ sức giải quyết các vấn đề chung của cả cộng đồng. Minh chứng rõ nhất tại Việt Nam là dùng chiến tranh để thống nhất đất nước, bỏ qua một bên Hiệp định tái lập hòa bình đã được ký kết ở Paris năm 1973. Còn trên thế giới là cuộc tấn công vào Iraq với lý do ngụy tạo của liên quân Mỹ-Anh. Do đó, việc đa nguyên trong quan điểm báo chí về tình hình chính trị xã hội Việt Nam nên là bước đi tiên phong cho cả cỗ xe Việt Nam đã khởi động rồi mà chưa biết lái theo hướng nào cho tốt. Việc nhà báo Phạm Chí Dũng đưa ra những nhận định của ông về diễn biến của Việt Nam sau chuyến thăm Hoa Kỳ của ông bí thư thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị trên BBC: "Chỉ trong khoảng ba tuần lễ, dường như những người trong “Phe bảo thủ” đã vượt lên một nhịp so với “Phe lợi ích”, khi trước đó thế giằng co là tương quan nổi trội tưởng như còn kéo dài đến tận Đại hội Đảng 12" là quan điểm bình luận của ông. Quan điểm này có nhiều người chia sẻ, đón nhận, nhưng cũng có không ít người chê bai. Ở đây có ít nhất ba luồng quan điểm xuất hiện: Quan điểm của nhà báo Phạm Chí Dũng, quan điểm của những người ủng hộ, và quan điểm của những người không đồng tình. Người đọc cũng cần phải cẩn thận khi chúng tôi không nhập chung quan điểm của ông Dũng và những người ủng hộ ông là một, vì trong thực tế, không ai ủng hộ ai 100% về mặt tư tưởng cả. Người ta chỉ ủng hộ những quan điểm phù hợp hoặc đang chi phối tích cực cho họ, hoặc ít là quan điểm đó được hiểu theo ý họ, nên họ theo. Ngược lại cũng hiếm có trường hợp không đồng tình hay chống đối một quan điểm 100%. Nguyên tắc Âm trong Dương và Dương trong Âm giúp hiểu rõ về vấn đề này. Những bài viết kế tiếp đăng cùng trên BBC của ông Nguyễn An Dân hay trên Tin tức hàng ngày của nhà báo Nguyễn Quang trình bày quan điểm khác với nhận định của nhà báo Phạm Chí Dũng về kết quả chuyến đi Mỹ của ông Phạm Quang Nghị là điều bình thường. Không ai đủ thông tin để khẳng định một trong các quan điểm này đúng hoàn toàn hay sai hoàn toàn. Do đó đa nguyên quan điểm cần được khuyến khích hơn nữa, để không chỉ dừng lại hai quan điểm như thể đối đầu nhau, mà còn có thể có thêm nhiều quan điểm xuất phát từ các lối tiếp cận khác hầu tiếp tục cung cấp cho công chúng những thông tin chính xác và minh bạch hơn, đồng thời giúp người dân có thêm nhiều cơ hội suy tư và chọn lựa khi cần. Tự do đa nguyên, nhưng không được tấn công cá nhân Xét về mặt tư tưởng, không ai dễ dàng chịu ai, nhưng không phải vì thế mà biến phản biện thành lên án cá nhân. Nhà báo Nguyễn Quang viết trên Tin tức hàng ngày: "Nếu như điều bình luận trên đây [bình luận của ông Dũng - NV] là của một quần chúng bình dân thì người ta có thể bỏ qua cái giả thiết cho rằng chuyến đi của John McCain và Sheldon Whitehouse đến Việt nam vừa rồi là do dựa vào lời mời của Phạm Quang Nghị. Song đây là bình luận của ông Phạm Chí Dũng - Chủ tịch Hội NBĐL, một nhà bình luận chính trị được đánh giá là sắc sảo hàng đầu thì đó là điều khó có thể tha thứ". Chúng tôi ủng hộ nhà báo Nguyễn Quang phản biện hay trình bày ý kiến đối nghịch với tiến sĩ Phạm Chí Dũng, nhưng chúng tôi không đồng ý ông Quang xem thường "quần chúng bình dân" [cách dùng từ của ông Quang - NV]. Ông Quang viết "Nếu như điều bình luận trên đây là của một quần chúng bình dân thì người ta có thể bỏ qua" nghĩa là gì? Ông xem thường "quần chúng bình dân" không đủ tri thức để hiểu vấn đề ông đang bàn sao? Trong cộng đồng "quần chúng bình dân" đó có cha mẹ, thầy cô của các nhà báo. Nhiều người trong họ là ân nhân về trí thức, về tâm linh và cả về vật chất của nhà báo. Chưa chắc nhà báo có khả năng hơn "quần chúng bình dân" đó. Nhà báo không được "hút máu người" rồi bảo "máu người tanh". Điểm thứ hai chúng tôi cũng không đồng ý với nhà báo Nguyễn Quang là đang phản biện về nhận định đúng sai của nhà báo Phạm Chí Dũng lại lôi thân thế, địa vị xã hội vào để hạ thấp uy tín cá nhân ông Dũng. Ông Quang viết: "Đây là bình luận của ông Phạm Chí Dũng - Chủ tịch Hội NBĐL, một nhà bình luận chính trị được đánh giá là sắc sảo hàng đầu thì đó là điều khó có thể tha thứ". Tại sao đang tranh luận về chuyện ông Nghị lại không tiếp tục đưa ra những bằng chứng để làm sáng tỏ quan điểm của ông Dũng là quan điểm thiểu số, không phù hợp với công chúng lại lôi cái này vào? Đây là cách cãi nhau của người không đủ lý, nên phải dùng yếu tố bên ngoài đưa thêm vào hỗ trợ. Cần lưu ý tư tưởng con người không bao giờ được đánh giá bởi địa vị xã hội của người đó. Một ông vua không luôn luôn có tư tưởng tuyệt vời, mặc dù nơi vị này tiềm năng đó rất lớn. Tráng sĩ Phạm Ngũ Lão đang ngồi giỏ tre, nhưng ai có thể cấm ngài có những thao thức lớn lao về đất nước. Cách thức kéo nhân thân ra để đánh ngã đối thủ còn thấy ở ông Nguyễn An Dân viết trên BBC tiếng Việt: "Điều này vừa sai vừa ủng hộ bảo thủ, cả hai điều đều phản lại tính chất “độc lập” của một nhà báo độc lập, lại là Chủ tịch Hội Nhà Báo Độc Lập". Xin các nhà báo hãy tranh luận cách trong sáng, đừng mang một tiêu chuẩn do mình định ra rằng "độc lập" phải thế này, "Chủ tịch HNBĐL" phải thế kia để đánh giá người khác về quan điểm. Hãy chứng minh quan điểm của nhà báo Phạm Chí Dũng sai, nếu quý vị có nhiều thông tin và trực nghiệm tốt hơn, chứ đừng bao giờ nhắm vào con người đang muốn dấn thân cho công cuộc chung. Điều này sẽ giúp báo chí Việt Nam thoát thai khỏi báo chí xã hội chủ nghĩa và hy vọng công chúng Việt Nam sớm có tự do báo chí. Đừng nhà báo nào lại tự buộc mình trở thành cho công cụ cho ai hay cho nhóm nào, vì sứ mạng của nhà báo là cung cấp cho công chúng của mình tin tức quan trọng, chính xác, đầy đủ và khách quan nhất.   Nguồn: Việt Nam Thời Báo
......

’là mây cao là tiếng hát’

"Riêng tặng chị Bùi Minh Hằng trước phiên xử 26.8.2014" Em là lá biếc là mây cao là tiếng hát Sáng mai khua thức nhiều nhớ thương (Bài ngợi ca tình yêu – Thanh Tâm Tuyền) Thi sĩ Bắc Phong đã có lần mơ thấy ánh mắt bà Trưng Nhị nhìn ông đằm thắm, để rồi trong giấc mơ của cuộc hạnh ngộ đó ông từ một viên lính quản tượng bỗng được “cất nhắc” để trở thành quan chép sử cho hai Bà. Tôi không lãng mạn và mơ mộng như Bắc Phong nhưng tôi cảm được những rung động của thi sĩ, vì thực lòng cũng như ông tôi thấy người phụ nữ VN đẹp lạ lùng. Nếu bạn được nghe Đỗ Thị Minh Hạnh hát trong những buổi trò chuyện với anh Phùng Mai thuộc Quỹ Tù Nhân Lương Tâm hay cô Trà Mi của đài VOA bạn sẽ thấy như tôi. Họ là tứ thơ của Thanh Tâm Tuyền, họ dịu dàng tươi mát như lá biếc như mây cao như tiếng hát, nhưng suốt trong chặng đường gian khó của tổ quốc, đối với quân xâm lược họ là những địch thủ đáng gờm. Đôi lúc họ xuất hiện dữ dội như hình ảnh nữ tướng Bùi Thị Xuân, mình mặc áo chẽn đỏ, cỡi voi trận xông pha trong lửa khói của đồn Ngọc Hồi, có lúc lại đằm thắm vững chãi như bà Linh Từ Trần Thị Dung vợ Thái sư Trần Thủ Độ. Điểm đáng nói ở những người phụ nữ này là họ có mặt khi đất nước cần, rồi thầm lặng đi vào đời thường. Khiến ta cứ ngỡ như họ hiện diện ở mọi thời khắc khó khăn nhất rồi biến mất. Thật ra họ vẫn luôn có mặt, miên viễn nối tiếp nhau từ đời này qua đời khác.   Xin cùng đọc câu chuyện về phu nhân của danh tướng Nguyễn Chích, vị tướng được xem là một khai quốc công thần của nhà Lê. Dưới thời nhà Minh đô hộ nước ta, danh tướng Nguyễn Chích phụng mạng Lê Lợi chiêu mộ thêm nghĩa quân ở Nông Cống – Thanh Hoá. Một buổi sáng đẹp trời có một tráng sĩ mặt đẹp như trăng rằm đến xin đầu quân. Trông dáng dấp anh ta nhỏ nhắn Nguyễn Chích có ý muốn đưa anh ta vào đội tuần cảnh, nhưng thấy người tráng sĩ tỏ thái độ không bằng lòng ông liền cho mở cuộc thi võ nghệ để phân tài cao thấp. Trong cuộc thi này, nhiều tướng giỏi của Lam Sơn đã bị người tráng sĩ này hạ gục. Tướng quân Nguyễn Chích rất hài lòng bèn phong cho anh ta làm phó tướng. Sau này viên phó tướng ấy đánh ngã luôn trái tim của danh tướng Nguyễn Chích, anh ta chính là một thiếu nữ giả trai để về đầu quân dưới trướng của Lam Sơn. Sau này hai người kết hôn với nhau, bà là người giúp chồng chiêu mộ quân sĩ, tích trữ lương thảo, rèn luyện nghĩa quân. Gặp lúc quân Minh vây hãm Lê Lợi ở Lam Sơn, cũng chính bà đã chỉ huy một đội quân góp phần giải vây cho chủ tướng. Khi đất nước ca khúc khải hoàn, có lẽ bà lui về giữ tròn vai trò hiền phụ trong gia đình, không thấy sử sách nhắc đến tên của bà sau này nữa. Khi đất nước suy vong người phụ nữ Việt Nam ngày nay đã không còn coi trách nhiệm cứu nước là bổn phận riêng của nam giới nữa. Thiên chức của một người vợ, người mẹ, đã khiến các chị cảm được sâu xa nhất về nỗi nhục của dân tộc và về những tai hoạ trước mắt. Số phụ nữ tham gia đấu tranh ở giai đoạn này đã lên đến con số đáng kể, cả những người trực tiếp hoặc gián tiếp. Sống sát cạnh những oan trái, khổ đau hàng ngày đã khiến các chị phải lên tiếng, không nhất thiết vì bản thân mình mà vì những uất ức, những bất công mà nhiều người chung quanh đang phải gánh chịu. Những phụ nữ này đến từ mọi ngõ ngách của cuộc đời, từ tiến sĩ kinh tế Phạm Chi Lan, đến nhà văn Võ Thị Hảo, luật sư Lê Thị Công Nhân, nghệ sĩ ưu tú Kim Chi, công nhân Trần thị Thuý Nga, cựu đại úy công an Tạ Phong Tần, …   Họ góp mặt trong hầu hết mọi lãnh vực, từ đấu tranh cho tự do tôn giáo như chị Mai Thị Dung, chị Trần thị Hồng vợ Mục sư Nguyễn Công Chính, đến đấu tranh cho dân oan như chị Trần thị Thuý, bà Lê thị Ngọc Đa, chị Hồ thị Bích Khương. Đặc biệt trong cuộc đấu tranh cho tiền đồ đất nước, chống lại bước chân xâm lược của Trung Quốc. Tên của họ có thể ghép thành một bản trường ca đẹp nhất nối tiếp bản trường ca của lịch sử dân tộc. Những Trần thị Hài, Bùi thị Minh Hằng, Phương Bích, Đặng Ngọc Minh, Nguyễn Đặng Minh Mẫn, Lê thị Phương Anh, Nguyễn Phương Uyên, Phạm Thanh Nghiên… Những phụ nữ này xuống đường bất kể thái độ hung hãn trấn áp của công an, bất kể họ có thể bị ném vào các trại tù, trại "phục hồi nhân phẩm". Và khi ở trại giam, dù bị đánh đập, bị hành hạ nhưng dũng cảm lạ lùng, ba chữ HS.TS.VN lại ngạo nghễ xuất hiện, lại vẫn lấp lánh trong nắng, trên những nón lá của những người nữ tù nhân này. Và không chỉ ở VN, không chỉ ở những cuộc biểu tình rầm rộ nhiều người biết đến. Ở Tháp đôi Kuala Lumpur tại Mã Lai, một phụ nữ Việt nhỏ bé đã đứng một mình ở nhà ga với một biểu ngữ trên tay. Biểu ngữ có hình ảnh một giàn khoan bị gạch chéo cùng hàng chữ “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam”. Chị đứng đó giữa một đất nước xa lạ, trước những ánh mắt tò mò, và đặc biệt giữa một cộng đồng đông đảo người Hoa sinh sống tại đây. Tại nhà ga, một người đàn ông lạ, tỏ vẻ kính phục đã đến hỏi chị rằng chị có thấy ngượng nghịu và sợ hãi không khi đứng một mình như vậy? Người phụ nữ có tên Liberty đó đã chia sẻ với ông rằng chính những gì đang xảy ra cho tổ quốc của chị đã giúp chị vượt qua mọi nỗi sợ hãi và ngượng ngùng. Ôi! Những Liberty và Lê Thị Tuyết Mai, họ chỉ là những người phụ nữ bình thường, vô danh không ai biết đến, nhưng họ tiêu biểu cho người phụ nữ ngàn đời của đất nước tôi. Một người biểu tình đơn độc ở Tháp đôi Kuala Lumpur, một người tự thiêu trước cổng trụ sở quan quyền. Cả hai đã nói những lời mạnh mẽ, tha thiết nhất với tổ quốc của mình. Ai đó, có thể ái ngại nhìn họ như những người đàn bà bé nhỏ và cô đơn, thực ra họ không hề cô đơn. Khi chọn đồng hành với vận mệnh của đất nước, họ nhìn thấy bên cạnh mình có rất nhiều người, dù không hiện diện, cả những người đã khuất. Điều đó giải thích tại sao những nữ tù nhân lương tâm hiện nay dù yếu đuối về thể chất lại có thể trở thành những quặng thép trong các trại tù. Dù cho công an dùng đủ loại thủ thuật để đàn áp, đặc biệt là trò ép tù đánh tù, nhưng sau cùng, sự dũng cảm của các chị đã làm cho cả trại giam phải tâm phục. Và sau đó, khi vừa bước ra khỏi trại giam, đa số còn mang đầy tật bệnh trong người, nhưng họ lại tiếp tục nhập dòng đấu tranh. Đặc biệt là đấu tranh cho những nữ tù chính trị còn trong trại giam. Con đường giải nạn cho cả dân tộc còn dài. Trên con đường đó, có rất nhiều người phụ nữ đã bước qua tù ngục trong quá khứ, đang trả giá tù ngục hiện nay và còn chấp nhận tù ngục trong tương lai. Những lời ngợi khen, những mỹ từ như “liệt nữ” “anh thư” bỗng trở thành nhỏ bé trước tâm hồn dung dị của những người phụ nữ Việt Nam này. Tôi tự hỏi vào những ngày trước khi tự thiêu bà Lê Thị Tuyết Mai đã nghĩ gì? Có lẽ bà không hề nghĩ đến mình, đến cái gia đình nhỏ bé của bà, và chắc chắn bà không hề nghĩ đến những lời ngợi khen hay ca tụng về hành động của bà. Điều duy nhất mà bà nghĩ đến chỉ có thể là niềm ước mong cả dân tộc đang khiếp nhược của bà sẽ cùng nhau vượt qua nỗi sợ hãi, cùng nhau đoàn kết đứng lên thì mới mong bảo vệ được tổ quốc, mới mong có ngày đóng hẳn những đau thương cho cả dân tộc. Chỉ chừng ấy thôi đã khiến người phụ nữ bình thường đó sẵn sàng khép lại cuộc đời mình bằng một lời tâm sự được viết bằng tay trên một tấm biểu ngữ : “Đốt ánh sáng soi đường cho những người yêu nước”. Trong cuộc chiến sống còn để bảo vệ sự trường tồn của dân tộc, người phụ nữ luôn luôn hiện diện. Họ góp mặt trọn vẹn, bằng tất cả nét tươi đẹp và đức tính hiếm quý của người phụ nữ Việt. Tôi tự hỏi trong mười năm Lam Sơn gian khổ nếu Tướng Quân Nguyễn Chích không gặp được phu nhân của ông, nếu Phó Tướng Trần Quang Diệu không tình cờ được cô thiếu nữ Bùi Thị Xuân đánh cọp cứu thoát, nếu người anh hùng Hùm thiêng Yên Thế Hoàng Hoa Thám không bất ngờ gặp được cô Nhu nơi bìa rừng nọ, thì có lẽ chúng ta, chứ không ai khác sẽ rưng rưng nuối tiếc như thi sĩ Phạm Thiên Thư – “leo lên cành bưởi tiếc người rưng rưng.”   ---oOo--- Nguồn: viettan.org
......

Hội Cựu Tù nhân Lương tâm gửi thư đến Chủ tịch Cộng đồng Âu châu Barroso

Thư ngỏ của Hội Cựu Tù nhân Lương tâm gửi Ngài Chủ tịch Cộng đồng Âu châu Barroso (nhân chuyến thăm VN ngày 25-26/8/2014) Mối quan hệ thương mại Châu Âu-Việt Nam sẽ làm trầm trọng thêm tình trạng thê thảm của hàng trăm tù nhân lương tâm hiện đang bị giam cầm trong các nhà tù khắp VN nếu EU không có biện pháp chế tài và đòi hỏi chính quyền VN phải cải thiện nhân quyền một cách cụ thể. Chúng tôi mong đợi tiếng nói của ngài cũng như của các vị đại diện EU. José Mauel Barroso CTNLT | 24/8/2014 Kính gửi Ngài José Mauel Barroso, Chủ tịch EC. Chúng tôi xin gửi lời chào nồng nhiệt đến ngài nhân chuyến viếng thăm chính thức VN hai ngày tại Hà Nội và Sài Gòn. Được biết, ngài sẽ thảo luận với TT. Nguyễn Tấn Dũng về Hiệp ước thương mại tự do (FTA), hợp tác phát triển trong số các vấn đề khác. Ngài cũng diện kiến TBT Nguyễn Phú Trọng và CTN Trương Tấn Sang trong cùng ngày. Liên quan đến FTA giữa EU và VN, ngày 17/4/2014 Nghị viện Âu châu đã thông qua Nghị quyết 2013/2989(RSP) trong đó nhấn mạnh nhân quyền, dân chủ và an ninh là những giá trị cốt lõi trong quan hệ song phương. Nghị quyết cũng đã đưa ra các quyền tự do cơ bản cần phải được tôn trọng tại VN là tự do bày tỏ quan điểm, tự do báo chí và tự do tôn giáo. Tại thời điểm ngài sang VN, đã có rất nhiều người bất đồng chính kiến, các cựu tù nhân lương tâm, blogger bị tịch thu hộ chiếu, cấm xuất cảnh, thậm chí bị tước đoạt cả quyền tự do đi lại ngay trong nước mình. Mấy hôm nay, an ninh công an canh giữ ngay trước nhà của hầu hết những người bất đồng chính kiến. Chúng tôi bị cấm đi tham dự phiên tòa xét xử Bùi Thị Minh Hằng và hai người bạn ngày 26/8 tại tỉnh Đồng Tháp. Bà Hằng là một phụ nữ kiên cường đấu tranh cho nhân quyền dân chủ tại VN. Một vụ bắt giữ và xét xử bởi động cơ chính trị: bịt miệng người bất đồng chính kiến. Âu châu là thị trường xuất khẩu lớn nhất của VN. Thương mại giữa VN và EU đạt 21 tỷ Euro trong năm 2013. Hàng nghìn công ty, tập đoàn của 28 nước thành viên Âu châu đã hoạt động kinh doanh sản xuất tại VN, tạo ra một lượng lớn công ăn việc làm, giúp nâng cao mức sống người lao động.  Thế nhưng ngày 15/9/2014 một Nghị định cấm những người đã từng bị cầm tù vì “an ninh quốc gia” làm việc cho các tổ chức nước ngoài, như tổ chức phi chính phủ, liên chính phủ, phi lợi nhuận, thông tấn báo chí, cơ quan ngoại giao…sẽ có hiệu lực. Đây là một sự kỳ thị trong luật tuyển dụng lao động nhằm tiếp tục vây hãm sinh kế của những người bất đồng chính kiến từng bị giam cầm. Ngày 28/3/2014 ông Konstantin Von Mentzingen, chuyên viên phụ trách quan hệ EU với ĐNÁ của UB đối ngoại Châu Âu đã gặp hai thành viên Hội CTNLT là Phạm Bá Hải và Phạm Chí Dũng tại Sài Gòn. Qua cuộc gặp trao đổi này, chúng tôi đã nhấn mạnh đến quyền tự do lập hội và tụ họp ôn hòa và cũng đã yêu cầu Cộng đồng Âu châu bảo trợ cho các cuộc gặp gỡ XHDS hằng tháng này. Tuy nhiên trong hai tháng qua, chính quyền đã dùng nhiều hình thức để cấm đoán và cản trở các thành viên các tổ chức XHDS độc lập đi họp mặt. Kính thưa ngài Barroso, Trước tình trạng, một mặt nhà nước VN ve vãn các nước phương tây, luôn tỏ ra mình là một nhà nước tôn trọng các quyền căn bản bằng cách che đậy các vụ việc đàn áp nhân quyền; mặt khác họ không ngừng dùng các công cụ pháp luật và bộ máy công an, an ninh trấn áp những người đòi tự do dân chủ nhân quyền, chúng tôi mong muốn ngài lưu tâm hiện trạng này và đồng thời đặt nhân quyền vào trong tiến trình đàm phán FTA như một điều kiện thiết yếu. Hãy đừng để lặp lại bầu không khí đàn áp nhân quyền vào giai đoạn 2008 – 2012 sau khi Nhà nước Việt Nam được thỏa mãn việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Mối quan hệ thương mại Châu Âu-Việt Nam sẽ làm trầm trọng thêm tình trạng thê thảm của hàng trăm tù nhân lương tâm hiện đang bị giam cầm trong các nhà tù khắp VN nếu EU không có biện pháp chế tài và đòi hỏi chính quyền VN phải cải thiện nhân quyền một cách cụ thể. Chúng tôi mong đợi tiếng nói của ngài cũng như của các vị đại diện EU. Ngày 24/8/2014. Thường trực BĐH Hội CTNLTVN:   Đồng chủ tịch: Bs.Nguyễn Đan Quế, Lm.Phan Văn Lợi Chủ tịch Hội đồng cố vấn: HT.Thích Không Tánh Điều phối viên: Ths.Phạm Bá Hải, Ls.Nguyễn Văn Đài Phát ngôn viên: Ts. Phạm Chí Dũng Nguồn: fvpoc.org
......

Trái đắng của sự lệ thuộc

Vụ nhà thầu Trung Quốc bỏ ngang dự án thủy điện đang thi công ở Kontum hồi cuối tháng 7 đã làm nóng lại cảnh báo về mối nguy lệ thuộc Trung Quốc trên nhiều lĩnh vực. Thủy điện Sông Bung 4 ở huyện Nam Giang, Quảng Nam đang được nhà thầu của Trung Quốc thi công.Courtesy photo   Phần nổi của tảng băng chìm   TS Phạm Sỹ Thành, Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) được báo Lao Động điện tử trích lời nói rằng, sự phụ thuộc vào hàng hóa nhập khẩu Trung Quốc mới chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Mối nguy từ việc doanh nghiệp Trung Quốc trúng thầu phần lớn các dự án ‘chìa khóa trao tay’ tổng thầu EPC tại những công trình trọng điểm mới là điều đáng lo ngại. Trả lời Nam Nguyên, TS Phạm Sỹ Liêm, nguyên thứ trưởng Bộ Xây dựng, phó Chủ tịch Tổng hội xây dựng Việt Nam từ Hà Nội phân tích thể thức đấu thầu hiện hành. Theo lời ông, hiện vẫn là thể thức hai phong bì, một phong bì là kỹ thuật, sau khi thông qua phong bì dự thầu về kỹ thuật thì xem đến phong bì về tài chính xem mức giá nào đó thì chọn. Về nguyên tắc là có thể không chọn giá thấp nhất, nhưng khuynh hướng hiện nay nói chung vẫn là chọn giá thấp nhất. Để nhà thầu Trung Quốc hay ai khác trúng thầu là tùy thuộc cách tổ chức chọn thầu. TS Phạm Sỹ Liêm nhấn mạnh: “Nhưng ở đây tự nhiên không hiểu cách chọn thế nào đó mà các dự án ngành năng lượng các nhà thầu Trung Quốc đều trúng thầu. Tại sao lại như vậy, là vì các chủ dự án cứ muốn chọn những nhà thầu đưa ra giá rẻ nhất còn bên nhà thầu Trung Quốc thì họ bỏ thầu để trúng cái đã. Còn sau đó khi ký kết hợp đồng họ sẽ thương lượng chứng minh thế nọ thế kia để bổ sung giá cao hơn. Nhưng Luật Đấu thầu bây giờ thì lại cấm giá hợp đồng không được cao hơn giá đấu thầu. Thế nhưng những dự án trước đây là như vậy. Chẳng hạn dự án đường sắt trên cao thì họ cũng như thế và bây giờ họ cũng đòi thêm, không được thì họ cũng bỏ dở nửa chừng họ đi về. Tôi chưa rõ là các chủ dự án của chúng ta sẽ xử lý vấn đề như thế nào. Nhưng tôi nghĩ chắc là phải xử lý đúng theo luật pháp về hợp đồng kinh tế.” Thông tin ghi nhận trong số 24 dự án nhà máy xi măng thì Trung Quốc làm tổng thầu EPC 23 dự án. Nắm tổng thầu Trung Quốc dành hết thầu phụ cho người của họ; đem luôn lao động phổ thông từ Hoa lục sang. Hiện nay trong 20 dự án nhiệt điện, Trung Quốc trúng tổng thầu EPC 15 dự án tỷ lệ nội địa hoá 0%. Phần lớn các dự án của Tập đoàn Than và khoáng sản phía Trung Quốc đều trúng tổng thầu, kể cả hai dự án bauxite Tây nguyên đầy tranh cãi. Các chuyên gia đã cảnh báo an ninh năng lượng của Việt Nam nằm trong tay Trung Quốc. Giả sử nhà thầu Trung Quốc vòi vĩnh không được bỏ ngang thì gây thiệt hại rất lớn. Với thiết bị máy móc và công nghệ Trung Quốc thì các nhà thầu khác khó lòng vào làm thay được. Báo điện tử Đất Việt ngày 21/8/2014 trích lời bà Bùi Thị An, đại biểu quốc hội đơn vị Hà Nội cảnh báo tình trạng nhà thầu Trung Quốc ngừng thi công đòi thêm tiền ngày càng phổ biến. Bà An nêu ví dụ dự án nhiệt điện Nông Sơn Quảng Nam năm 2008, nhà thầu Trung Quốc bỏ thầu giá rẻ thi công ì ạch đến năm 2012 thì bỏ hẳn trong khi công trình mới xây dựng được một nửa khối lượng. Chưa hết, gần đây nhất chủ đầu tư dự án thủy điện Vĩnh sơn-Sông Hinh cũng đã phải chấm dứt hợp đồng với nhà thầu Trung Quốc nửa chừng vì họ ngừng thi công đòi tăng giá. Theo lời Đại biểu Bùi Thị An, cần phải truy trách nhiệm đến cùng người đứng đầu các công trình, cũng như những người đã duyệt thầu. Tất cả mọi thứ cần phải được công khai minh bạch.   Một công trình xây dựng tại KCN Vũng Áng do nhà thầu Trung Quốc thi công. Courtesy photo. Người TQ trúng thầu ở mọi nơi Về câu chuyện Việt Nam đã có quá nhiều kinh nghiệm về công nghệ Trung Quốc và nhà thầu Trung Quốc, nhưng tại sao người Trung Quốc lại trúng thầu ở mọi nơi mọi chỗ. TS Phạm Sỹ Liêm, Phó Chủ tịch Tổng hội xây dựng Việt Nam nhận định:   “Rõ ràng việc lựa chọn bên trúng thầu không đúng và thực tế đã chỉ ra. Còn tại sao tình trạng tiếp tục thì cũng chưa ai nói rõ lý do. Nhưng chúng ta đều biết người Trung Quốc trong kinh tế rất coi trọng các mối quan hệ họ gọi là ‘Guan Xi” và ở Việt Nam cái ‘Guan Xi’ này đã phát huy tác dụng và do đó họ trúng thầu nhiều dự án. Trước khi thầu thì họ đã mời các bên có liên quan sang nước họ tham quan để chứng tỏ năng lực của họ. Trong quá trình tham quan thì họ đã ‘thế nào đó’ và rõ ràng cái đó tác động kết quả lựa chọn thầu.” Đề cao Luật Đấu thầu 2013 và hy vọng nó sẽ sớm có tác dụng giúp cải thiện tình trạng khuất tất trong vấn đề đấu thầu. Tuy nhiên TS Phạm Sĩ Liêm có thêm đề xuất ông nói: “Những dự án này phần lớn đều là dự án của nhà nước mà những dự án người Trung Quốc tham gia phần lớn lại là những dự án vay tiền của Trung Quốc mà vay tiền của Trung Quốc, vay vốn ODA thì người ta yêu cầu phải sử dụng nhà thầu Trung Quốc, tư vấn Trung Quốc, các nước khác thì cũng tương tự thôi. Các chủ đầu tư dự án nói chúng tôi phải chọn nhà thầu Trung Quốc vì chúng tôi vay tiền vốn ODA của Trung Quốc, phải theo điều kiện đặt ra. Nhưng theo tôi, chúng ta lúc cần cũng phải biết nói không với vốn ODA. Chứ không có nghĩa cứ vốn ODA là phải chấp nhận.” Về mặt chính thức Trung Quốc không phải là nước cung cấp viện trợ phát triển (ODA) lớn cho Việt Nam. Trong số 92 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư trực tiếp tại Việt Nam, Trung Quốc xếp thứ 14 với gần 900 dự án FDI tổng vốn đăng ký 4,68 tỷ USD. Tuy vậy theo trang mạng Diễn đàn Kinh tế Việt Nam VEF, dòng vốn Trung Quốc chảy vào Việt Nam rất lớn và chưa được thống kê đầy đủ. Thực tế Trung Quốc cung cấp vốn vay ưu đãi lãi suất thấp cho hầu hết các dự án ngành công nghiệp, năng lượng của nhà nước Việt Nam, thông qua đầu mối Ngân hàng xuất nhập khẩu Trung Quốc (China Eximbank). Rõ ràng bất kỳ sự lệ thuộc nào cũng kèm theo trái đắng, kể cả lệ thuộc vốn vay của Trung Quốc. Nguồn: rfa.org/vietnamese
......

Phạm Chí Dũng: Thế lực nào đang muốn “diễn biến” báo Nhân Dân?

Hôm 19/08/2014 báo Nhân Dân - cơ quan ngôn luận của đảng Cộng sản Việt Nam - đã đăng bài viết mang tựa đề “Thúc đẩy nhân quyền hay can thiệp vào công việc nội bộ?”. Bài báo chỉ trích cuộc hội thảo “Truyền thông phi nhà nước ở Việt Nam trong thời kỳ hiện nay” diễn ra vào cuối tháng 7/2014 tại Đại sứ quán Australia (cùng với Liên minh châu Âu, và các sứ quán Canada, New Zealand, Na Uy, Thụy Sĩ, Hoa Kỳ). Đại diện ngoại giao Liên hiệp châu Âu, bà Catherine Ashton (áo trắng) trong chuyến thăm Việt Nam ngày 12/08/2014. REUTERS/Kham   Việc tờ báo đảng “bất ngờ” công kích phương Tây, theo cách nhìn của tờ Việt Nam Thời Báo (ijavn.org) thuộc Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam mới ra đời, thì phải chăng có một thế lực chính trị không muốn tái lập bang giao Việt - Mỹ. Phải chăng thế lực này muốn cản trở hình ảnh phát triển giữa Việt Nam với những quốc gia đang đóng vai trò quan trọng trong việc xem xét cho Việt Nam tham gia TPP ? Nếu đúng như thế, những “nhà cải cách” Việt Nam cần và phải làm gì để “lập lại trật tự”, chí ít là trong nội bộ đảng cầm quyền? RFI Việt ngữ đã trao đổi với nhà báo Phạm Chí Dũng, chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam.   RFI : Thân chào nhà bình luận Phạm Chí Dũng. Thưa anh, sau một loạt nỗ lực ngoại giao khá tấp nập giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, vừa rồi lại xuất hiện một bài báo trên báo Nhân Dân, chỉ trích cuộc hội thảo truyền thông phi nhà nước do đại sứ quán Úc tổ chức. Điều này đã gây ngạc nhiên cho không ít người… Nhà báo Phạm Chí Dũng: Bài báo này không chỉ chỉ trích cuộc hội thảo trên, mà còn chỉ trích luôn cả hội thảo “Cơ chế kiểm điểm định kỳ phổ quát: Chia sẻ kinh nghiệm quốc tế”. Nhưng có một chi tiết hơi lạ, là cuộc hội thảo của Liên minh châu Âu diễn ra từ cuối tháng 5/2014, mà cho đến giờ báo Nhân Dân mới lên tiếng điểm lại và “nhắc nhở” các cơ quan, tổ chức quốc tế cần tuân thủ luật pháp về tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế của Việt Nam. Có thể ghi nhận đây là lần đầu tiên một bài viết mang mục đích “phòng, chống diễn biến hòa bình” trên báo Nhân Dân cùng lúc công kích cả Liên minh châu Âu và Chính phủ Úc. Tuy nhiên, bài viết này lại “bỏ quên” một khía cạnh rất đáng xem xét là hai cuộc hội thảo tại trụ sở EU và Đại sứ quán Úc chỉ thuần túy nằm trong hoạt động của xã hội dân sự quốc tế và xã hội dân sự ở Việt Nam. Mà quy ước về hoạt động của xã hội dân sự lại được chính Nhà nước Việt Nam cam kết mở rộng trong 14 điều cam kết trước Chủ tịch Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc vào tháng 11/2013. Việc mở rộng xã hội dân sự cũng được chính phía Việt Nam cam kết một lần nữa, khi tiếp đón Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry tại Hà Nội vào tháng 12/2013 và nữ Phó ngoại trưởng phụ trách chính trị Wendy Sherman cũng tại Hà Nội vào tháng 3/2014. Thậm chí bà Wendy Sherman còn cảm hứng : “Xã hội dân sự là một trong những điểm thú vị nhất giữa hai quốc gia”. Sự chia sẻ Việt - Mỹ về chủ đề này là hoàn toàn khác với mô tả “Xã hội dân sự - một thủ đoạn của diễn biến hòa bình” trên báo Nhân Dân vào cuối năm 2012. Nhưng khi phê phán hội thảo “Truyền thông Phi Nhà nước ở Việt Nam trong thời kỳ hiện nay” diễn ra tại Đại sứ quán Úc, báo Nhân Dân lại quên bẵng những lời lẽ tốt đẹp mà chính phủ Úc - một trong những đối tác thương mại và đầu tư quan trọng của Việt Nam - dành cho Việt Nam trong thông cáo báo chí về hội thảo này. Bởi theo cách nhìn của cơ quan ngoại giao Úc, việc Việt Nam được bầu là thành viên Hội đồng Nhân quyền vào tháng 11 năm 2013 đã thể hiện thiện chí ngày càng tăng của Việt Nam trong tiến trình phối hợp với các đối tác trong và ngoài nước về các vấn đề nhân quyền. Phía Úc cũng đánh giá là thiện chí của Việt Nam trong Đánh giá định kỳ phổ quát của Hội đồng Nhân quyền (UPR) năm 2014 là “đầy tính xây dựng”, và “Chính phủ Úc hoan nghênh sự tán thành chấp nhận của Việt Nam đối với những khuyến nghị của UPR Úc trong các vấn đề ‘cho phép truyền thông phi nhà nước”, tự do thể hiện quan điểm, và tự do hội họp. Việt Nam cũng chấp nhận những khuyến nghị rằng Việt Nam nên tạo điều kiện cho một môi trường thuận lợi, để các nhà hoạt động xã hội dân sự có thể tự do hội họp và thể hiện quan điểm của mình. RFI : Theo anh thì tác động của những bài báo như thế này ra sao ?   Nếu đọc bài công kích trên báo Nhân Dân, chắc hẳn giới ngoại giao Úc, EU và Hoa Kỳ không thể không cảm thấy bị xúc phạm. Riêng phía Úc, thái độ thân thiện của họ đã chỉ được đền đáp bởi một cách đánh “vỗ mặt”, càng cho thấy phía Việt Nam chưa có gì được gọi là thành tâm đối với yêu cầu về dân chủ và nhân quyền tại đất nước này. Trong khi đó, Nhà nước Việt Nam, cả cánh bảo thủ lẫn phe lợi ích, đều đang quá cần đến sự “cảm thông” của các quốc gia này đối với việc thông qua TPP để cứu vãn nền kinh tế đang trên bờ vực thẳm của Việt Nam. Bối cảnh của bài “Thúc đẩy nhân quyền hay can thiệp vào công việc nội bộ?” trên báo Nhân Dân lại xảy ra không bao lâu sau khi diễn ra một cuộc đối thoại song phương Việt - Úc về nhân quyền vào cuối tháng 7/2014. Cũng vào cuối tháng 7, giới quan sát chính trị cũng chứng kiến một sự kiện có thể coi là đặc biệt về tái lập bang giao Việt – Mỹ: sự hiện diện bất ngờ của Ủy viên Bộ Chính trị Phạm Quang Nghị tại Hoa Kỳ. Hầu như rõ ràng, tín hiệu “diện kiến” giới chính khách của ông Nghị đã mở đường cho hai chuyến công du liên tiếp của Thượng nghị sĩ John McCain và chuyến công du của Đại tướng Martin Dempsey, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ đến Việt Nam, với những lời hứa hẹn cùng xác nhận không thể nói là đáng bi quan cho tương lai từ cả hai quốc gia cựu thù. Thậm chí còn diễn ra cuộc gặp giữa John McCain với ông Nguyễn Phú Trọng, để sau đó khi người đứng đầu Đảng tuyên bố: “Mỹ là đối tác quan trọng hàng đầu của Việt Nam”, thì Martin Dempsey trả lời phỏng vấn báo chí cũng không kém cạnh: “Việt Nam có thể trở thành người bạn tốt nhất của Hoa Kỳ”. RFI : Thưa anh, trong bối cảnh như vậy có thể hiểu quan điểm và thái độ của báo Nhân Dân là thế nào? Tôi cũng đang tự hỏi như vậy ! Tờ báo này, trong khi vẫn rắp tâm công kích và quy chụp chính trị đối với Úc và EU là “hợp thức hóa cho các đối tượng đang chống đối Nhà nước Việt Nam”, và vẫn theo thói thường tung hô điều được xem là “Việt Nam luôn quan tâm và bảo đảm các quyền con người”. Tuy nhiên lại không hề nhắc tới một sự kiện nóng hổi xảy ra cùng thời điểm với cuộc hội thảo “Truyền thông phi nhà nước…” do phía Úc tổ chức tại Hà Nội: chuyến làm việc của ông Heiner Bielefeldt - Báo cáo viên đặc biệt của Liên hợp Quốc về tự do tín ngưỡng tại Việt Nam. Kết quả sau 11 ngày tận mắt chứng kiến, ngay cả bản thân cũng bị giám sát chặt chẽ bởi cơ quan an ninh Việt Nam, đã khiến ông Heiner Bielefeldt phải tổ chức một cuộc họp báo, công bố về “những sai phạm nghiêm trọng” của nhà cầm quyền Việt Nam đối với điều được nhà nước này gọi là “tự do tôn giáo” khi ngăn chặn rất lộ liễu và thô bạo nhiều chứng nhân mà ông muốn gặp. Phê phán - quy chụp - răn đe - xử lý vẫn thường là quy trình mà giới dư luận viên thể hiện trên những tờ báo đảng như Nhân Dân. Những bài viết trên tờ báo này trong thời gian gần đây vẫn cho thấy có một lực lượng chính trị trong đảng Cộng sản Việt Nam, hoặc hết sức bảo thủ hoặc vì động cơ cực kỳ riêng tư, đang cố tìm cách “còn nước còn tát” nhằm bảo vệ quyền lực và quyền lợi mà họ cho rằng có thể bị tan vỡ, nếu buông lỏng cho xã hội dân sự hoạt động và để chính giới Việt Nam ngả vào vòng tay của phương Tây. Lối tuyên truyền và phản tuyên truyền đầy tủn mủn, cố chấp và khiên cưỡng như thế bắt buộc giới quan sát phải đặt ra câu hỏi là liệu có bàn tay của Bắc Kinh trong việc tác động hoặc chỉ đạo một thế lực “thân Trung” tìm cách ngăn cản hoặc phá hoại mối tiếp dẫn tái hòa hợp Việt - Mỹ ? Còn nếu không phải bàn tay của Bắc Kinh, thì phải chăng đang có một thế lực chính trị nằm ngay trong nội bộ đảng muốn “phá bĩnh”? Và phương tiện được sử dụng để gây nhiễu dư luận nằm ngay trong báo Nhân Dân. Thậm chí tờ báo này cũng đang nằm trong tình trạng “bất đồng chính kiến” bởi các quan điểm, đường lối và phe phái khác nhau? RFI : Sở dĩ bài báo này được chú ý, có lẽ vì trong thời gian gần đây trên báo chí nhà nước ở Việt Nam đã có xu hướng mở hơn, ít có những từ ngữ, cách nói quy chụp như trước ? Cũng cần ghi nhận là khác khá nhiều với thời gian năm 2012 trở về trước, thời gian gần đây cho thấy không phải tất cả những gì mà báo Nhân Dân hay Quân Đội Nhân Dân nêu ra đều mang bóng dáng của dư luận viên an ninh và giới chức ngành công an. Càng về sau này, dường như giới quan chức Bộ Công an càng nương theo cái nhìn độc lập tương đối với báo đảng và giới tuyên giáo các cấp từ trung ương đến tỉnh thành, và có vẻ họ ít tham gia vào các chiến dịch “bút chiến”, nếu có tham gia cũng không mấy nhiệt tình. Thay cho hàng loạt từ ngữ “chống đối, thù địch, vu cáo, vu khống, bịa đặt, xuyên tạc, đội lốt…” trước đây, phần lớn các bài “chống diễn biến hòa bình” gần đây chỉ “khuyến cáo” khá nhẹ nhàng đối với hoạt động “thù địch”, thậm chí còn dùng cả từ ngữ “nên chăng” và lược bớt công đoạn “xử lý pháp luật” ở cuối bài… Còn nếu nhìn từ trang báo ra ngoài đời, có thể nhận ra hiện tượng đối với một bộ phận trong giới nhân viên an ninh. Thay cho mục tiêu bắt giam và một số hành vi bị dư luận coi là “côn đồ” như trước đây, thời gian qua đã có một bước chuyển khá rõ về đối sách: từ “bắt bớ” sang “đánh đập”, rồi từ “đánh đập” sang “ngăn chặn”. Sắp tới có thể còn “mềm” hơn. Việc giao hảo và còn có thể đồng minh Việt - Mỹ là một xu thế tuy chậm nhưng khó cưỡng lại được. Xã hội dân sự ôn hòa cũng vì thế không thể bị phủ quyết thô bạo như trước đây. Có lẽ tình thế nền chính trị, đặc biệt là chính trị đối ngoại đang mở dần ra, đang khiến cho xã hội trở nên đa nguyên hơn, mỗi tổ chức hay cá nhân cũng có ý thức hơn về việc bảo toàn thân phận của mình. Nhất là khi các dư luận viên tuyên giáo và nhân viên an ninh không thể biết “sếp cao cấp” của họ “đối ngoại” ra sao và muốn “binh” theo “đường” nào. Đó cũng là bối cảnh mà thân ai người đó lo, hồn ai người đó giữ, đường ai người nấy đi. Giống như một cán bộ ngành an ninh thở dài : “Thời buổi này không biết thế nào mà lường…” RFI : Chúng tôi xin chân thành cảm ơn nhà báo Phạm Chí Dũng ở Saigon đã vui lòng dành thì giờ trả lời phỏng vấn của RFI Việt ngữ. Nguồn: viet.rfi.fr
......

SỨC MẠNH CỦA MỘT NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ

Nhớ lại. Ngày 27/01/1973, hiệp định Paris được ký kết, mở đầu cho Cộng sản miền Bắc, hai năm sau đó, không tốn nhiều súng đạn, đã thôn tính miền Nam Việt Nam. Uất ức, đau đớn cùng cực, người dân miền Nam kết tội người Mỹ là kẻ phản bội đồng minh Việt Nam Cộng hoà, bán đứng miền Nam tự do cho độc tài Cộng sản miền Bắc. Nhưng bình tĩnh và khách quan, chúng ta sẽ không thể đứng trên quyền lợi của mình để kết tội người khác như vậy.   Người Mỹ biết rất rõ, không thể kéo dài cuộc chiến tại Việt Nam, một cuộc chiến không có ánh sáng ở cuối đường hầm. Họ phải rời Việt Nam trong danh dự. Họ không thể để cho con em họ chết trên rừng rậm tại một đất nước xa xôi. Họ phải hàn gắn vết thương chiến tranh Việt Nam trong mỗi người Mỹ, mỗi gia đình Mỹ. Người Mỹ phải dành thì giờ để ổn định lại nền kinh tế của đất nước họ sau 20 năm lâm chiến tại Việt Nam. Họ ra đi, trong tư thế của kẻ thua trận sau khi có gần 60 ngàn đồng đội của họ đã vĩnh viễn nằm xuống. Vậy người Mỹ bỏ miền Nam là để cứu đất nước họ, và có thể để nghỉ ngơi trước khi chuẩn bị cho những dự định tốt đẹp khác. Hiểu một cách độ lượng và công bằng như thế, chúng ta sẽ thấy người Mỹ không phải là kẻ phản bội đồng minh miền Nam Việt Nam. Khi quân đội Mỹ ra đi khỏi Việt Nam, 7 căn cứ không quân của Mỹ ở Thái Lan đóng cửa (1961-1976). Dân Phillippines đứng lên đòi Mỹ trả lại căn cứ Không quân Clark và căn cứ Hải quân tại vịnh Subic. Đây là hai căn cứ hải quân và không quân lớn nhất của Mỹ ở ngoài nước Mỹ. Chúng được xây dựng từ năm 1903 và đóng cửa gần 100 năm sau, năm 1991. Do áp lực của dân chúng, Nhật Bản cũng đã lập kế hoạch để yêu cầu quân đội Mỹ rời khỏi đảo Okinawa. Thế rồi, mộng Trung Hoa hoá thế giới của Cộng sản Trung Quốc trỗi dậy như Tổng thống Eisenhower của Mỹ đã cảnh báo cách đây 70 năm trong lý thuyết “domino” của ông. Trung Quốc đưa ra đường lưỡi bò 9 đoạn chiếm gần trọn biển Đông. Họ lập ra Vùng Nhận dạng Phòng không. Đưa Giàn khoan HD981 vào vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Một phần lãnh thổ của Phillippines bị đe doạ. Tranh chấp quyết liệt về quần đảo Điếu Ngư hay Senkaku đã xảy ra giữa Nhật Bản và Trung Quốc. Biển Đông dậy sóng. Trước sự hung hãn ấy của một nước Cộng sản độc tài hùng mạnh Trung Quốc, những nước nhỏ khó bề ngăn cản được con hổ Trung Quốc. Nhật Bản cấp tốc hoãn lại, nếu không nói là bỏ hẵn kế hoạch đòi Mỹ trả lại căn cứ quân sự trên đảo Okinawa. Tháng 6 năm 2012 Phillippines đã mời Mỹ trở lại vịnh Subic và căn cứ Clark như xưa. Sau khi bị người anh em “4 tốt” Trung Quốc ức hiếp và sỉ nhục, đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã phải buộc lòng tìm đến cầu cứu kẻ cựu thù Mỹ. Vốn rất thực dụng và thực tế, như người Mỹ đã tiên đoán trên 40 năm về trước rằng họ sẽ trở lại Việt Nam và vùng đất ở châu Á, và sẽ trở lại trong tư thế để chiến thắng, như họ thua lần đầu khi đổ bộ lên bờ biển Normandy ở Pháp và họ đã trở lại Normandy và đã chiến thắng, giải phóng toàn châu Âu thoát khỏi hoạ phát xít Đức. Gần 10 ngàn người lính Mỹ đủ các loại cấp bậc đã nằm xuống chỉ cho một mục tiêu duy nhất: bảo vệ lý tưởng tự do. Vậy, lần này người Mỹ trở lại Việt Nam và biển Đông không phải vì Việt Nam hay Phillippines hay vì Nhật Bản mà, để họ phục vụ đất nước Mỹ, phục vụ mục tiêu hoà bình, dân chủ, thịnh vượng cho người Mỹ và các nước đồng minh trên vùng biển Đông. Người Mỹ và mọi người trên thế giới đã thấy thủ đô kinh tế tài chính thế giới ngày nay không còn ở London, New York hay Tokyo mà đang tiến dần về khu vực Đông Nam Á. Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) lúc đăng ký đầy đủ sẽ có 12 quốc gia thành viên trong đó có 4 quốc gia sáng lập là Bruney, Chile, New Zealand, Singapore và 8 nước đang đàm phán gồm Mỹ, Úc, Peru, Việt Nam, Malaysia, Mexico, Canada và Nhật Bản. TPP lúc ấy sẽ trở thành đòn bẩy phát triển kinh tế toàn cầu. Tiềm năng của TPP rất lớn: GDP trên đầu người: 34.750 tỷ đô la Mỹ chiếm 37,5% GDP của thế giới, có dân số là 798,5 triệu người chiếm 11,2% dân số thế giới, và kim ngạch thương mại bằng 25% kim ngạch của thế giới. Với một khu vực có một nền kinh tế tiềm năng như vậy chắc chắn, bằng mọi giá, con người trong các quốc gia TPP phải đồng lòng, nhất trí trong việc tránh chiến tranh, giữ gìn an ninh, ổn định, hoà bình, để tập trung vào phát triển. Để đạt được những mục tiêu ấy điều căn bản là phải có sự đồng thuận của mọi người, nghĩa là các xã hội phải dựa trên nền tảng dân chủ. Dân chủ là đầu mối của tự do, công bằng, chính trực. Chính những giá trị này sẽ làm cho con người tin tưởng nhau để tập trung xây dựng cuộc sống cho cao đẹp hơn, nhân hậu hơn, hạnh phúc hơn. Nước Mỹ đã tốn không biết bao nhiêu xương máu để có được một nền dân chủ và một nền kinh tế hàng đầu thế giới như ngày nay. Người Mỹ tự hào đã xây dựng được một nền khoa học, kỹ thuật phục vụ cuộc sống có chất lượng của con người. Họ muốn các nước trong vùng xuyên Thái Bình Dương cũng có những nền kinh tế mạnh và cuộc sống bình an, hạnh phúc. Họ muốn Việt Nam có một chính quyền dân chủ, minh bạch và một đất nước có nhiều tổ chức xã hội dân sự. Chính những tổ chức này sẽ tạo nên một đất nước công bằng, quý trọng sự khác biệt của nhau, giúp chính phủ nghe được tiếng nói của lương tâm, thấy được trong lòng người dân mình muốn gì. Giống như xã hội Mỹ, nhờ có dân chủ, có nhiều tổ chức xã hội dân sự mà đất nước họ tự do được phát triển hơn, giàu mạnh hơn. Đối với Việt Nam, dân chủ, tự do còn là sức mạnh để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ. Độc tài, toàn trị, quan liêu, tham nhũng, bất công, xem quyền lợi cá nhân, đảng phái lên trên lợi ích của quốc gia là cái hoạ lớn cho toàn dân tộc Việt Nam. Người Mỹ thích giúp các nước đối tác mạnh. Một nước đối tác mạnh là một nước hợp lòng dân, được người dân hỗ trợ. Với nhiệm sở ở nước ngoài như Toà Đại sứ, Tổng lãnh sự, người Mỹ có hàng trăm cách để biết một chính phủ có hợp lòng dân hay không, những ai tham nhũng, những ai độc tài, những ai thân Trung Quốc, những ai bài Mỹ, những ai theo Nga, những ai thân Pháp. Đối với các nước tự do, đây là chuyện bình thường, họ không quan tâm đến các vấn đề nội bộ của người khác. Nhưng trong quan hệ quốc tế, muốn có lòng tin và sự ủng hộ của nhau, Việt Nam không nên nói điều không thực, tránh thói quen tuyên truyền. Phải làm cho được những điều mình đã hứa. Việt Nam sẽ là một thành viên của TPP. Nếu hợp lòng dân, giữa chính phủ và nhân dân là một. Đó là một sức mạnh vũ bão. Ngoài ra, Việt Nam còn có thêm sự hỗ trợ chân tình của các nước thành viên trong Hiệp định TPP và các nước bằng hữu dân chủ khắp mọi nơi trên thế giới. Sức mạnh của Việt Nam lúc đó là một sức mạnh tổng hợp. Không có một nước nào dám đe doạ Việt Nam. Nguyễn Phương Linh 21/08/2014   Nguồn: diendantheky.net
......

Điếu Cày, Lê Quốc Quân có tội rất nặng với ngành thuế

Trước diễn biến của tình hình mới, tôi ngồi luận lại, thấy rằng nhà báo tự do Điếu Cày Nguyễn Văn Hải và luật sư Lê Quốc Quân có tội rất nặng với ngành thuế nước nhà.   Điếu Cày Nguyễn Văn Hải và luật sư Lê Quốc Quân là những người biểu lộ lòng yêu nước quá sớm. Các ông đi đầu trong việc biểu tình phản đối âm mưu xâm lược VN của bọn cầm quyền cộng sản Bắc Kinh. Như vậy là có tội. Điếu Cày còn lập ra câu lạc bộ Nhà Báo Tự Do. Như vậy là có tội. LS Lê Quốc Quân còn tích cực đấu tranh cho nhân quyền và làm luật sư bênh vực cho những người đấu tranh cho nhân quyền bị bắt bớ. Như vậy là có tội. Nhưng đưa các ông ra tòa để xét xử tội chống Tàu Cộng xâm lược hoặc tội đấu tranh cho nhân quyền thì không thể được. Do vậy muốn bắt tù các ông phải tìm ra một tội hình sự khác. Hai ông đều có làm ăn, kinh doanh để sinh sống, vậy phải tìm cho ra tội trốn thuế để áp vào. Ngành thuế được giao nhiệm vụ truy xét cơ sở làm ăn của hai ông. Một lực lượng cán bộ thuế được huy động vào cuộc. Bao nhiêu tâm trí, sức lực của ngành bị thu hút vào đây. Vì từ chỗ không biến thành có không phải là chuyện dễ dàng. Rồi cuối cùng công sức cũng được đền bù, tội trốn thuế của hai ông vẫn được tìm ra. Tuy nhiên chuyện đi tù vài năm của hai ông tưởng như đã xứng với tội của mình nếu như vừa mới đây không đổ bể ra một chuyện động trời. Ông chủ siêu thị Metro vào năm 2002 ôm đến VN chỉ có 78 triệu đô la, mở ra siêu thị Metro để bán sỉ như luật định. Tuy vậy Metro vẫn công khai bán lẻ cho người tiêu dùng trong suốt 12 năm hoạt động. Luôn luôn báo lỗ để khỏi nộp thuế, nhưng hầu như năm nào Metro cũng mở thêm từ 1 đến 2 cơ sở mới để đến hôm nay số siêu thị của họ lên đến 19 cái, chiếm các vị trí đắc địa của hầu hết các thành phố lớn trong cả nước. Kinh doanh thì thua lỗ nhưng khi họ bán trọn gói lại cơ sở làm ăn cho ông chủ mới Thái Lan thì họ thu được 879 triệu đô la. Chưa thấy cơ sở nào làm ăn thua lỗ mà bán đi lại lời đến như vậy. Bỏ vào gần 80 triệu đô la, thu lại được gần 900 triệu đô la mà ròng rã trong 12 năm không đóng cho VN một đồng thuế nào. Cả một đoàn 19 con voi Metro đã chui qua lỗ kim của ngành thuế VN một cách kỳ diệu như ảo thuật!!! Không chỉ có ông Metro mà còn nhiều ông ngoại khác nữa như tập đoàn Coca cũng chui lọt qua lỗ kim dễ dàng. Đó là chưa nói những ông voi nội khổng lồ khác thu lợi nhuận khủng từ tiền chênh lệch đất, tiền chênh lệch sang nhượng dự án cũng thong thả chui lọt qua lỗ kim thuế vụ. Tại vì ai? Tại vì những người như Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, LS Lê Quốc Quân mà ngành thuế phải dồn hết tâm trí vào nên lơ là mất cảnh giác nơi khác. Soi tìm vài đồng trốn thuế của một anh cựu chiến binh kiêm nhà báo tự do nghèo kiết xác như Điếu Cày Nguyễn Văn Hải hay tìm vài chục triệu đồng trốn thuế từ cơ sở kinh doanh dịch vụ chân chính của LS Lê Quốc Quân không phải là chuyện dễ, nếu không phải là ngành thuế anh hùng của VN mà là ngành thuế của các nước tiên tiến như Mỹ, Nhật, Châu Âu thì không thể nào tìm ra. Làm được việc nầy phải mất việc khác thôi. Mà việc bắt thuế Điếu Cày và Lê Quốc Quân mới là việc đại sự quốc gia. Do vậy tội của hai ông Điếu Cày và Lê Quốc Quân nặng lắm chứ không như chúng ta tưởng. HNC Nguồn: huynhngocchenh.blogspot.com
......

VIỆT NAM : QUỐC GIA CHUỘT NHẮT ?

Việt Nam, ôi quê hương yêu dấu rừng vàng biển bạc của chúng ta, nhưng mà có phải nó đang tụt xuống hàng “hố rác” của nhân loại?   Từ Bắc chí Nam, từ Quảng Ninh đến Cần Thơ các cô gái trẻ nườm nượm đi thi để lọt qua vòng tuyển lấy chồng Hàn Quốc. Với một lý do mở màn rất đơn giản, ít nhất người ta được xuất ngoại lần đầu, được đáp máy bay lên bầu trời. Trái lại, nếu không dám dứt bỏ một lần làm sao thoát cảnh lội bì bõm bên bờ ruộng để leo lên phi cơ phản lực vượt ra quốc tế? Những cô gái Việt này ao ước đàn ông Hàn Quốc chẳng khác gì “tây mũi tẹt”, giống cha ông châu Á đã từng khao khát phương Tây như thần thánh cái gì cũng có. Trời ơi, quả là một trời một vực, cùng da vàng mũi tẹt như nhau, chỉ sau vài thập kỷ, một đằng thì thành tây, đi đâu cũng leo lên xe hơi và máy bay; một đằng thì bán cả đời mình chỉ để nếm một lần leo phi cơ. Tại sao? Có phải tại trí khôn của người Việt mà rất nhiều người chúng ta lúc nào cũng thường trực tự hào? Có nhiều người Việt phản ứng rất mạnh mẽ khi thấy ai nói về cái xấu của người Việt, như thể nói thế là chạm đến quốc hồn – quốc túy, nói xấu tổ tiên, ông cha… và họ phản đối như thể đó là thước đo chứng minh lòng yêu nước của mình rằng: tôi yêu tổ quốc, tổ tiên, dân tộc, giống nòi, và tôi phản đối lại là để bảo vệ tổ quốc. Họ có bảo vệ tổ quốc không? Thực ra, họ chỉ bảo vệ cái xấu trong chính con người họ. Hoàng đế Napoleon có nói “Bao dung với cái xấu là sự đồng tình với nó”. Đúng vậy một kẻ ăn cắp thường có cái nhìn vô tội với một thằng ăn cắp khác. Kẻ nói dối cũng vậy. Kẻ độc ác, đố kỵ, ích kỷ cũng thế, nó không giành cho những ai giống nó một cái nhìn phán xử khác lạ… Kết quả bao dung cũng là bao che cho cái ác tràn lan vô bờ đến vậy dẫn đến dân tộc Việt ngày nay theo các bảng sắp hạng đều không ngoi ra khỏi vị trí đội sổ, thua xa cả những nước trong khu vực từ 50 đến 100 năm. Nói đâu xa, nước Lào là nước nhỏ bé nghèo nàn bậc nhất thế giới, nhưng từ xưa đến nay luôn trở thành giấc mơ của người Việt. Thời bao cấp, mấy anh sinh viên Lào chỉ có vài cái nhẫn vàng đeo ngón tay đã trở thành niềm ao ước của nhiều cô gái Việt. Còn giờ đây, xe hơi loại bán tải của Lào nhiều như xe đạp từ quê lên phố vẫn là mơ ước của giới trung lưu Việt Nam. Còn giới cán bộ trung lưu Việt hí hửng về thu nhập cỡ dăm chục triệu đồng mỗi tháng thì vẫn còn thua loại rửa bát, làm thuê ở Singapore, một nước nằm trong khu vực. Sự bao dung – bao che – cũng là đồng hóa đó đã gây ra vô số cái xấu cái ác ở Việt Nam: nào ăn cắp nắp cống, tháo đinh đường tầu, tháo đinh rầm cầu, cắt đường dây điện thoại, rải đinh “đa cạnh” ra đường, rồi xi măng cốt tre…đã gây ra nhiêu tai nạn khủng khiếp. Mới nhất là nạn pha trộn tạp chất vào xăng dầu đã gây ra hàng loạt vụ cháy xe gây thiệt hại tài sản và chết chóc tang thương. Đó là một thảm họa! Nhưng còn thảm họa hơn ngay khi đã tìm ra mầm mống của những vụ pha trộn, người ta vẫn triển khai sự bao dung, nghĩa là vẫn bao che cho những thứ nguy hiểm chết người rình rập ngay trong chiếc xe của người dân. Tại sao? Vì các công ty xăng dầu đều thuộc các ông lớn, chẳng lẽ ông lại muốn phơi áo sân sau của mình! Trong một buổi gặp mặt các phóng viên. Một vị quan chức nêu ra ý kiến chỉ đạo: để kích thích du lịch Việt Nam báo chí cần khai thác đưa tin về những lời nói tốt đẹp của khách thăm quan nước ngoài, như vậy mới lôi kéo được du lịch. - Vậy những lời nói về cái xấu của người Việt thì sao? – một nhà báo hỏi lại. Vị quan chức cười xòa “cái này thì…” – có nghĩa là không được đăng. Tóm lại, người Việt chỉ quen với những “sự thật” được biên tập, nói thẳng ra chỉ thích lời khen mà không muốn bị chê. Như vậy là người Việt chưa trưởng thành, chỉ là những đứa trẻ thích nghe lời khen mà không muốn bị chê. Mới đây có nhiều bài báo như của học giả Vương Trí Nhàn tập hợp những bài viết của các học giả lớn như Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Khôi, Đào Duy Anh, Đặng Thái Mai … hoặc của nhà báo Hoàng Tùng… đã nêu ra từ xưa, nhiều chuyên gia phương Tây đã nhận xét người Việt rất nặng như: “nói dối”, “ăn cắp”, và “sát nhân”.   Đặc biệt có chuyên gia nói: “Việt Nam là quốc gia của những con chuột”.   Trong một phóng sự truyền hình, người ta phản ánh nạn người Việt qua các nước Tây Âu, có rất nhiều người tham gia trồng cây cần sa. Họ bị giam trong nhà kín, không được ra ngoài, suốt ngay lo chăm bón các cây cần sa dưới ánh đèn điện. Việc họ bị giam cầm trong nhà không được nhìn thấy ánh sáng mặt trời liệu có phải là những con chuột? Gần hơn, một loạt các vụ giam cầm công nhân người Việt tại Nga, ăn ở và làm việc trong nhà hầm như súc vật, đến khi cháy không có đường thoát hiểm đành ôm nhau chết. Liệu có phải họ bị đối xử như những con chuột và chết như những con chuột? Và ai đã đối xử với họ như chuột? Bọn thực dân ư? Không, đó chính là những người Việt mới đó vẫn còn chân lấm tay bùn nhưng đã sớm bước vào con đường lưu manh hóa tiểu nông, rồi thành tư bản đỏ học đòi. Ai mà nói về cái xấu của người Việt thì đám này uất ức đầu tiên. Tại sao? Vì đó là những cái xấu mà chính họ mới là đại biểu cao cấp nhất.   Một quốc gia muốn trưởng thành và tiến bộ thì nó phải kiện toàn pháp luật bởi vì không có pháp luật không thể thành quốc gia mà đó chỉ là sắc tộc gia đình trị bán khai. Điều kiện đầu tiên để có pháp luật là không ai cho dù là vua chúa, chủ tịch hay thủ tướng được ở trên pháp luật. Vua phạm tội xử như thứ dân. Nhưng cái điều hiển nhiên đó cho đến nay đã đầu thiên niên kỷ thứ ba người Việt vẫn không được sống trong Nhà nước pháp quyền. Cái gọi là nhà nước của chúng ta là thứ hầm bà làng, đồng nát như lãnh đạo vẫn thường cất tiếng nói cửa miệng “đảng, nhà nước, và nhân dân”. Trong câu nói này dù bao sân nhưng vẫn thiếu một cơ quan trực tiếp của pháp luật đó là “chính phủ”, và như thế chẳng có ai chịu trách nhiệm cả. Trong khi đó ở các nước người ta luôn phải tuyên bố: chính phủ đã làm việc này việc kia. Việt Nam làm sao có pháp luật khi điều bốn của hiến pháp, Đảng tuyên bố “lãnh đạo tất cả”, cả quốc hội là cơ quan lập hiến, cả chính phủ là cơ quan hành pháp. Người ta nói “Quốc hội là cơ quan quyền lực tối cao”, nhưng mở màn kỳ họp quốc hội, người ta lại đem nghị quyết của trung ương đảng vào đọc như một định hướng bất khả biện, thì làm sao quốc hội còn là cơ quan tối cao được. Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất nhưng lại chịu sự lãnh đạo cao nhất hơn của đảng, thử hỏi ai thứ nhất? ai thứ nhì? Có một việc giản dị như vậy sao người ta vẫn ấp úng che đậy, không thể minh bạch? Vì thế ở Việt Nam, từ lập pháp đến hành pháp đều chỉ là lối tập trận giả, nhưng có một sự thực bên trong đó: là mong muốn và định vị tuyệt đối của quyền lực. Quyền lực tuyệt đối để làm gì? Để có được quyền lợi tuyệt đối! Quốc hội Việt cộng ở trình độ nào? Quốc hội đúng nghĩa là bàn của chủ tịch đoàn ngồi thấp hơn ghế của các nghị viên, được đặt ở giữa, để các nghị viên thoải mái tranh biện. Trái lại quốc hội Việt cộng thì nghị viên ngồi dưới như xem kịch, còn chủ tịch đoàn ngồi phía trên như ban giám khảo. Chủ tịch bước ra bệ nói như Mc, còn ở dưới giơ tay tán thưởng. Đúng là hình thức văn công chẳng giống ai. Đó là bằng chứng sờ sờ chứng tỏ cái gọi là quốc gia của chúng ta còn ấu nhi đến mức nào? Hội trường quốc hội đúng nghĩa của Việt nam vẫn đang xây để chờ cơ hội sánh bước với loài người. Than ôi vào thiên niên kỷ thứ ba rồi mà người Việt vẫn chưa nhấc chân bước đầu tiên vì HIẾN PHÁP ĐÍCH THỰC. Thử hỏi người Việt là người hay là chuột? Theo các chuyên gia, chuột là thứ sống theo bầy và thuộc loại thông minh bậc nhất, chúng không bao giờ để bị dính bẫy đến lần thứ hai. Một con bị sập bẫy, cho dù bẫy sắt, bẫy tre hay bẫy dính, thì chúng liền tụ lại họp hành rút kinh nghiệm rồi thông báo cho cả bầy trên toàn lãnh thổ cống ngầm cách thức nhận biết và tránh bẫy. Nhưng dù bầy chuột có khôn đến mấy, chúng cũng không phải là thứ kiêu hãnh của ánh sáng. Sự khôn ngoan của chúng chỉ là chui rúc để tồn tại, mà không phải là vươn thẳng để sống minh bạch và tiến bộ. Đó là quan lại cũng như dân chúng. Giờ đến văn hóa. Thơ là thứ phổ biến cũng như dễ nhất của Việt Nam hiện nay. Thôi thì tiểu nông, tiểu thương, các cụ hưu trí, các em mới lớn đua nhau làm thơ. Giờ hãy nhìn tập đoàn làm thơ, có đông rinh rích và rúc ríc làm thơ không? Mới đây Trung quốc lĩnh giải Nobel văn học lần hai. Tại sao họ có hai thành tựu đó? Bởi vì cách đây hơn nửa thế kỷ người Trung Quốc đã bỏ làm thơ, và coi thường thơ.   Ai chẳng yêu quê hương. Nhưng người đi xa về bao giờ cũng yêu quê hương hơn, yêu da diết và đau đáu. Tại sao? Bởi vì tình yêu của họ đã lên men rất nhiều bởi nỗi nhớ cồn cào. Người làm thơ sẽ yêu thơ hơn nếu người ta biết từ bỏ thơ để sống trong một cuộc đời toàn diện có công lý, tình yêu, tranh đấu, sám hối và cứu chuộc.   Văn là người! Thi ca là cuộc đời! Người làm thơ sẽ trở về với thơ như nước nguồn từ đỉnh cao ùa xuống, chứ không phải như tí nước mài mực rồi cọ lên giấy vòi vĩnh khúc vinh quang. Hãy viết văn làm thơ như những con đại bàng sà xuống từ lý tưởng cuộc đời, chứ không phải bằng những khúc rúc ríc lẩn trốn khôn ngoan của bầy chuột chỉ quen thủ thế trong cơ chế xin cho của bóng tối. Một chút thành công tem phiếu bao cấp chỉ là cách con chuột chui qua kẽ hở kiểm duyệt bé tí của ông chủ, đó không phải là cách con ngựa phi nước đại cùng những con khác trên thảo nguyên để tìm xem con nào mạnh nhất?! Dám ra gió cuộc đời! Dám ganh đua minh bạch! Mới có thể tìm được giải quán quân đại bàng, hay những con chiến mã! Còn đua trong ao hợp tác ư? Chính những nhà quán quân mậu dịch đã thừa nhận “chúng ta chỉ là tép”. Mong rằng mọi người Việt đều biết vượt qua tự ái để phấn đấu cho một xã hội tiến bộ, minh bạch và kiêu hãnh thực sự. XIN ĐỪNG ĐỂ BỊ HẠ NHỤC VÌ LÀ THẦN DÂN CỦA VƯƠNG QUỐC CHUỘT !! N H Đ Nguồn: ViệtNamThờiBáo
......

Nghi vấn mất tài sản quý trong việc khám nhà anh Nguyễn Hữu Vinh (Ba Sam) ?

Ngày 21 tháng 8, chị Lê Thị Minh Hà vợ của anh Nguyễn Hữu Vinh ( Ba Sàm ) đã làm đơn khiếu nại lần 2 về các thủ tục bắt giữ chồng chị của cơ quan an ninh điều tra A92 BCA. http://bolapquechoa.blogspot.de/2014/08/on-khieu-nai-lan-2-cua-vo-nguyen... Trong đơn trình bày của mình, chị Lê Thị Minh Hà đã khiếu nại về việc bắt giữ khẩn cấp và việc khám xét nhà không giao biên bản khám xét, thu giữ tang vật cho gia đình. Trong đơn chị Hà có đoạn. ''  Đặc biệt là quy định tại Điều 145 về việc tạm giữ đồ vật, tài liệu khi khám xét, quy định như sau: “Khi khám xét, Điều tra viên được tạm giữ đồ vật là vật chứng và tài liệu có liên quan trực tiếp đến vụ án. Đối với đồ vật thuộc loại cấm tàng trữ, lưu hành thì phải thu giữ và chuyển ngay cho cơ quan quản lý có thẩm quyền. Trong trường hợp cần thiết phải niêm phong thì tiến hành trước mặt chủ đồ vật hoặc đại diện gia đình, đại diện chính quyền và người chứng kiến. Việc tạm giữ đồ vật, tài liệu khi tiến hành khám xét phải được lập biên bản. Biên bản tạm giữ được lập thành bốn bản: một bản giao cho người chủ đồ vật, tài liệu; một bản đưa vào hồ sơ vụ án; một bản gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và một bản giao cho cơ quan quản lý đồ vật, tài liệu bị tạm giữ”. Gia đình tôi không được Cơ quan an ninh điều tra khi khám xét, thu giữ đồ vật cung cấp cho gia đình một bản. Việc thu giữ những gì? Có tiền bạc và những vật đồ dùng quý giá khác không? Việc mở niêm phong những đồ vật bị thu giữ có sự chứng kiến đầy đủ của những người tiến hành khám xét và ký niêm phong không? Những vấn đề nêu trên tôi đã khiếu nại, yêu cầu trả lời nhưng đang bị làm ngơ hoặc bỏ qua hoặc che giấu cho sự sai phạm.'' Qua tìm hiểu được biết thì anh Nguyễn Hữu Vinh là con của một vị bộ trưởng, anh từng có thời gian công tác ở nước ngoài, từng mở công ty thám tử tư làm ăn khá phát đạt. Chưa kể báo chí còn nói anh Vinh có quan hệ với các thế lực thù địch bên ngoài ( mà báo chí ta vẫn nói là thế lực bên ngoài chuyên cung cấp tiền cho các phần tử chống chế độ trong nước ) thì nhìn tiểu sử và lý lịch gia đình một người như anh Vinh, chuyện tài sản tích trữ có những thứ quý giá là điều không phải là không có. Thậm chí có thể còn là rất nhiều nếu nhìn quanh với bao nhiêu người khác có hoàn cảnh tương tự như anh. Đấy là chưa kể những giá trị văn hoá tinh thần của truyền thống gia đình, những kỷ niệm, kỷ vật công tác, tham gia cách mạng...nhưng thứ vô giá về tình thần. Chị Lê Thị Minh Hà không có mặt khi cơ quan an ninh khám xét nhà, chị không được giao nhận biên bản khám xét để biết họ thu giữ gì. Những tài sản do nhà chồng để lại hoặc do chồng làm ra chị không biết được là bao nhiêu, có những thứ gì. Việc cơ quan công an khám nhà cứ thấy tiền thu mang đi là có. Chúng ta đọc báo thấy vụ mua bán 100 usd khám xét két sắt thu tiền đô, vàng hay vụ bắt giang hồ Minh Sâm bên Bắc Ninh vừa qua là thấy thói quen của công an khi khám xét nhà mà thấy tiền hay đồ vật quý như vàng, bạc, xe hơi...cho nên việc chị Lê Thị Minh Hà hoài nghi quá trình khám xét có thể cơ quan công an thu giữ tiền bạc, đồ dùng quý giá là có cơ sở. Đây là lần thứ hai chị Lê Thị Minh Hà gửi đơn để đòi hỏi quyền lợi hợp pháp về số đồ vật bị thu giữ trong việc khám xét nhà. Lẽ ra cơ quan an ninh phải có trách nhiệm gửi biên bản khám xét, thu giữ đồ vật đến cho gia đình người bị bắt. Vì quyền lợi và nghĩa vụ liên quan một cách khách quan của họ. Thế nhưng trong vụ việc này, họ không làm vây. Đến khi người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo đúng quy định pháp luật gửi đơn, đến hai lần họ vẫn không trả lời. Việc bắt khẩn cấp, khám xét khẩn cấp, không để lại biên bản nào đối với một người như anh Nguyễn Hữu Vinh, con của một bộ trưởng, bản thân từng công tác nước ngoài, từng lập doanh nghiệp làm ăn thành đạt...khiến người trong gia đình hoài nghi về việc có thể bị thu giữ số lượng tài sản quý báu nào đó là chuyện đương nhiên. Đáng nhẽ cơ quan khám xét phải có trách nhiệm làm chuyện này minh bạch  ngay từ đầu. Thật khó hiểu là đến giờ, qua hai lần đơn của vợ anh Nguyễn Hữu Vinh ( Ba Sàm ) họ vẫn chưa trả lời. Nguồn: Facebook Người Buôn Gió
......

Tuyên bố chung của các Tổ chức Xã hội Dân sự

Tuyên bố chung của các Tổ chức Xã hội Dân sự Độc lập tại Việt Nam trước phiên xử Bùi Minh Hằng, Nguyễn Thị Thúy Quỳnh và Nguyễn Văn Minh Theo công văn số 69/2014/HSST-QĐ do thẩm phán Bùi Phước Lộc ký ngày 28-07-2014 với nội dung “đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự truy tố về tội “gây rối trật tự công cộng” theo Khoản 2, Điều 245 BLHS”, bà Bùi Minh Hằng, cô Nguyễn Thị Thúy Quỳnh và ông Nguyễn Văn Minh sẽ bị xét xử vào lúc 7g30 ngày 26-08-2014 tại tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Cả 3 người đã bị bắt giam từ ngày 11-02-2014 tại đồn công an huyện Lấp Vò (Đồng Tháp), sau đó bị chuyển về giam giữ tại trại giam công an tỉnh Đồng Tháp (xã An Bình, huyện Cao Lãnh). I- Chúng tôi, các Xã hội Dân sự ký tên dưới đây đồng nhận định: 1- Vụ việc xảy ra tại con đường nông thôn liên xã thuộc khu vực cầu Nông Trại, xã Mỹ An Hưng, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp ngày 11-02-2014 liên can đến 3 bị can nói trên và 18 bạn đồng hành đang trên đường viếng thăm một gia đình đồng đạo là vợ chồng ông Nguyễn Bắc Truyển, nạn nhân của công an mấy ngày trước đó. Đa phần trong đoàn đã cùng làm chứng họ bị một lực lượng công an hàng trăm người cải trang thành côn đồ, mai phục trong rừng cây bên đường, bất ngờ xuất hiện chặn xe máy của họ, hạch sách giấy tờ, khiêu khích thóa mạ. Trước việc đòi cho ra lẽ của đoàn người, công an đã phản ứng bằng cách dùng gậy gộc đánh đập dã man tất cả, bất kể nam phụ lão ấu, vừa quay phim chụp hình với máy móc chuẩn bị sẵn (x. Đơn tố cáo của tu sĩ Võ Văn Thanh Liêm ngày 23-02-2014 và Thư gởi đồng bào của Đặng Thị Quỳnh Anh -con gái bà Hằng- ngày 05-03-2014). Sau khi nhiều người đã bị đổ máu, thương tích và bất tỉnh nhân sự, các nhân viên cảnh sát công an này (trong đó có đại úy Huỳnh Văn Thuận, đội phó an ninh huyện Lấp Vò và thượng tá Lê Hoàng Dũng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra Công an Lấp Vò, kẻ nặng tay nhất với bà Hằng và sau này sẽ là người ký lệnh khởi tố) mới khoác sắc phục công an rồi dẫn giải cả 21 người về giam giữ, đồng thời tước đoạt mọi tài sản họ mang theo (máy vi tính, máy chụp hình, điện thoại, băng-rôn…). Tất cả bị bỏ đói nửa ngày, bị ép tội “chống người thi hành công vụ”, bị giam trong nơi tối tăm bẩn thỉu và sau đó 18 người được thả ra. 2- Trong ba người còn lại bị giam giữ với lý do “gây rối trật tự công cộng” thì bà Hằng là một chiến sĩ dân chủ nổi tiếng và kiên cường, có mặt từ các cuộc xuống đường biểu tình ôn hòa chống quân xâm lược Trung cộng đến những phiên tòa bất công xử người yêu nước. Từ các phong trào khiếu kiện đòi công lý của dân oan mất đất đến những chuyến đi phát Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền. Bà từng bị giam giữ 5 tháng tại trại Thanh Hà năm 2012. Cô Nguyễn Thị Thúy Quỳnh thì từ năm 2010 đã tham gia phong trào biểu tình ở Sài Gòn để chống hành động xâm lăng gây hấn của Trung Quốc ở Biển Đông, sau đó dấn thân vào nhiều hoạt động nhân quyền dân chủ. Còn ông Nguyễn Văn Minh là một tín đồ nhiệt thành thuộc Phật giáo Hòa Hảo độc lập, con rể và anh rể của hai cha con tù nhân lương tâm là ông Bùi Văn Trung và anh Bùi Văn Thâm. Khi bị bắt, cả 3 đã bắt bắt đầu tuyệt thực để phản đối. Riêng cô Nguyễn Thị Thúy Quỳnh bị dụ dỗ hãy buộc tội bà Hằng như kẻ cầm đầu việc tổ chức gây rối để được thả ngay (nhưng cô không làm). Còn bà Hằng thì đã tuyệt thực đến 04 lần dài ngày và mãi tới gần đây (19-08-2014) mới được gặp con gái. 3- Ngày 27-02-2014 chương trình “Vì An ninh Tổ quốc” của Đài truyền hình Đồng Tháp đã thực hiện phóng sự về việc bắt giữ ông Nguyễn Bắc Truyển rồi 21 người liên quan trong vụ án nói trên. Mọi sự đã được ghi hình chu đáo ngay từ lúc vụ việc xảy ra, nhằm mục đích miêu tả lại toàn bộ diễn biến của vụ việc, cho dư luận thấy những người bị bắt giữ trong vụ án này đã vi phạm pháp luật, và Công an Đồng Tháp đã thực hiện đúng theo quy định luật pháp!?! Phân tích băng hình phóng sự, người ta thấy tất cả các cáo buộc của công an đưa ra đối với 3 người đang bị bắt giữ là “gây cản trở giao thông nghiêm trọng”, “chống người thi hành công vụ”, và “gây rối trật tự công cộng” đều vô căn cứ. Dù phóng sự đã được dàn dựng và chuẩn bị từ trước, công an đã không thể đưa ra bất kỳ bằng chứng nào cho các cáo buộc đã nêu. Trái lại, nó là bằng chứng tố cáo cách hành xử côn đồ, lối vu khống công dân, thói đổi trắng thành đen của công an Đồng Tháp. 4- Ngày 10-03-2014, để tìm chứng cứ gian, nhằm hợp thức hóa hành vi “vô cớ hành hung công dân” và “bắt giam người trái pháp luật”, công an huyện Lấp Vò đã triệu tập 5 người thuộc nhóm đồng hành là ông Tô Văn Mãnh, anh Phan Đức Phước, anh Nguyễn Vũ Tâm, chị Bùi Thị Diễm Thúy và chị Đỗ Thị Thùy Trang. Cả 5 người ngay sau đó đều tố cáo trước công luận (qua đài RFA ngày 11-03-2014:http://vietnamese.rfa.org/vietnamese/in_depth/lap-vo-poli-comp-witns-031...) rằng nhân viên điều tra đã có hành động mớm cung và ép cung, tự tiện ghi trên biên bản nhiều điều mà các nhân chứng hoàn toàn không nói tới. Thêm nữa những điều họ chứng kiến, khai ra thì nhân viên điều tra không ghi vào biên bản. Trong các buổi làm việc ấy, để xây dựng “người đầu vụ”, công an luôn xoáy vào vai trò “tổ chức gây rối” của bà Hằng, ngõ hầu dễ đưa bà vào tròng pháp luật. Rõ ràng công an muốn bằng chứng hóa lời vu cáo của thượng tá Huỳnh Văn Thạnh, phó trưởng Công an Lấp Vò: “Đoàn người đó đánh công an trước, tấn công công an trước, công an không thể đánh lại, thì dân ở hai bên đường mới nhảy vào đánh phụ công an”!?! 5- Chưa hết, Công an huyện Lấp Vò còn gửi thông báo cho luật sư Trần Thu Nam (văn phòng luật sư Tín Việt – Hà Nội) nói rằng bà Bùi Minh Hằng từ chối thuê luật sư. Nhưng trước bằng chứng không thể chối cãi do luật sư Nam cung cấp là bản hợp đồng trợ giúp pháp lý chính tay bà Hằng đã ký với ông cùng văn phòng luật sư của ông (chính các con của bà Hằng cũng đồng lòng với ý muốn nhờ luật sư Nam tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mẹ), nên ngày 12-03-2014, công an huyện Lấp Vò đã buộc phải gửi giấy chứng nhận người bào chữa số 03 cho luật sư Trần Thu Nam và đồng ý để luật sư tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Hằng. 6- Cũng phải kể thêm: Tối ngày 22-03-2014, sau thánh lễ cầu nguyện cho bà Bùi Hằng và 2 người bạn Thúy Quỳnh và Văn Minh tại nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà, Hà Nội, cô.. II- Từ những nhận định nêu trên, chúng tôi, các tổ chức Xã hội Dân sự ký tên dưới đây đồng tuyên bố: 1- Ba bị can Bùi Minh Hằng, Nguyễn Văn Minh và Nguyễn Thị Thúy Quỳnh phải được trả tự do lập tức và vô điều kiện vì họ vô tội hoàn toàn. Chính công an mới là những kẻ mắc tội “gây rối trật tự công cộng” vì đã âm mưu từ trước, lén phục kích, đánh người dã man, khiến cho nhân dân phải tụ tập lại đông đảo. 2- Những động thái đầy mưu mô xảo trá của nhà cầm quyền tiếp đó (ép cung chứng nhân, bức bách nạn nhân, đầu độc công luận…) nhằm đưa những người hoạt động nhân quyền can đảm vào vòng tù tội chứng tỏ đây không phải là một vụ án hình sự bình thường mà đã được chính trị hóa, xuất phát từ động cơ chính trị. 3- Việc đánh đập giam giữ hoàn toàn phi lý rồi tiến hành tố tụng hoàn toàn phi pháp này không chỉ là hành vi chà đạp nhân quyền trầm trọng mà còn chà đạp cả chính bộ mặt pháp quyền giả tạo của chế độ. Đây mới là thực tế tình trạng nhân quyền tại Việt Nam chứ không phải như những luận điệu dối trá của mọi quan chức của bộ máy cầm quyền CSVN khi trả lời các chất vấn và phê phán của công luận hoàn vũ. 4- Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước cũng như toàn thể phong trào dân chủ quốc nội lẫn hải ngoại hãy chung tay và kiên trì tranh đấu (với sự trợ giúp của các quốc gia dân chủ và các cơ quan nhân quyền quốc tế) cho một nền pháp chế theo đúng những chuẩn mực của nhân loại văn minh, một nền pháp chế không còn là công cụ trong tay đảng cầm quyền độc tài. Làm tại Việt Nam ngày 21-08-2014 Các Tổ chức Xã hội Dân sự đồng ký tên: 1) Bach Dang Giang Foundation: Ths. Phạm Bá Hải2) Cao Đài: Ông Hứa Phi, Bà Bạch Phụng3) Cao Trào Nhân Bản: Bs. Nguyễn ĐanQuế4) Con Đường VN: Ông Hoàng Văn Dũng5) Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự: Ts. Nguyễn Quang A6) Hiệp Hội Dân Oan: Ông Nguyễn Xuân Ngữ7) Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị & Tôn Giáo: Ông Nguyễn Bắc Truyển8) Hội Anh Em Dân Chủ: Ls. Nguyễn Văn Đài9) Hội Bảo Vệ Quyền Tự Do Tôn Giáo: Lm. Nguyễn Ngọc Thanh10) Hội Bầu Bí Tương Thân: Ông Nguyễn Lê Hùng11) Hội Cựu Tù Nhân Lương Tâm: Bs. Nguyễn Đan Quế, Lm. Phan Văn Lợi12) Hội Đồng Liên Tôn: Lm. Đinh Hữu Thoại13) Hội Nhà Báo Độc Lập: Ts. Phạm Chí Dũng14) Hội Phụ Nữ Nhân Quyền: Cô Huỳnh Thục Vy, Bà Trần Thị Hài15) Lao Động Việt: Cô Đỗ Thị Minh Hạnh16) Mạng Lưới Blogger: Cô Nguyễn Hoàng Vi17) Nhóm Linh Mục Nguyễn Kim Điền: Lm. Nguyễn Hữu Giải18) Phật Giáo Hòa Hảo Thuần Túy: Cụ Lê Quang Liêm19) Phong Trào Liên Đới Dân Oan: Bà Trần Ngọc Anh20) Tăng Đoàn PGVNTN: HT. Thích Không Tánh21) Tin Lành: MS Nguyễn Hoàng Hoa, MS Nguyễn Mạnh Hùng
......

Nhân quyền phải đi trước vũ khí cho Việt Nam

Hoàng Tứ Duy   Vào đầu tháng này, Thượng Nghị Sĩ John McCain tỏ ý rằng đã đến lúc Hoa Kỳ nên xem xét lại việc bán vũ khí sát thương cho Việt Nam sau 30 năm cấm vận. Cuộc đối đầu ngoài biển gần đây giữa Việt Nam và Trung Quốc về việc Trung Quốc thăm dò dầu khí ngoài khơi bờ biển miền Trung Việt Nam đã lộ rõ nhiều yếu kém về mặt chiến lược của Hà Nội.   Việc cung cấp cho Việt Nam những hệ thống hàng hải và bảo vệ vùng ven biển như là bước đầu -- và sau đó là hệ thống radar, máy bay chiến đấu và phụ kiện cho những thiết bị quân sự Mỹ còn xót lại -- sẽ tăng cường khả năng của Việt Nam và thực chất hóa mối "quan hệ toàn diện" đã được công bố bởi Hà Nội và Washington vào năm ngoái. Nhưng trên cả những hệ thống vũ khí hiện đại, cái mà Việt Nam thực sự cần cho sự an ninh lâu dài là những giá trị chính trị hiện đại. Chỉ có thể huy động sự đoàn kết dân tộc và giàu mạnh cần thiết để bảo vệ chủ quyền đất nước trong một xã hội tự do và cởi mở.   Vấn nạn của giới lãnh đạo Hà Nội là sự lựa chọn giữa quyền lợi quốc gia và bảo vệ chế độ, thường dẫn tới những hành động thiếu mạch lạc và mâu thuẫn. Từ những năm thuộc thập niên 1950, điều đó có nghĩa là mặc nhận những lấn chiếm đất đai của Trung Quốc bất chấp những tổn hại vê chủ quyền đất nước. Trong những năm gần đây, Hà Nội đã lấy lòng Trung Quốc bằng cách đàn áp những tiếng nói phê phán trong nước về sự bành trướng của Trung Quốc. Những mâu thuẫn cộng sản Trong thời gian chiến tranh, cộng sản Bắc Việt đã trông cậy rất nhiều vào viện trợ quân sự từ Trung Quốc. Nhưng sự giúp đỡ của Bắc Kinh cũng thật là đắt giá. Năm 1958, trong một công hàm ngoại giao, thủ tướng lúc đó là Phạm Văn Đồng đã ngầm công nhận những đòi hỏi về chủ quyền của Bắc Kinh đối với gần như toàn bộ Biển Đông. Rồi năm 1974, Hà Nội đã yên lặng hoàn toàn khi Trung Quốc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa, lúc đó đang do Miền Nam Việt Nam quản lý. Sau chiến tranh, Hà Nội ngả về phía Liên Sô và xâm lăng nước láng giềng Cambodia, gây nên đổ vỡ quan hệ với Trung Quốc mà cực điểm là cuộc chiến biên giới đẫm máu năm 1979. Nhưng tới năm 1990, khi mà Liên Sô ngưng viện trợ và các nước Đông Âu sụp đổ hàng loạt như quân cờ, Hà Nội lại tái thiết lập quan hệ với Bắc Kinh. Việc nối lại tình hữu nghị đã được thương thảo trong một cuộc họp bí mật tại Thành Đô, một tỉnh phía nam Trung Quốc, vào tháng chín năm 1990. Những thỏa thuận giữa lãnh đạo cao cấp của hai đảng cộng sản cho tới nay vẫn chưa được công bố. Căn cứ trên những tiết lộ có giới hạn của một số viên chức đã hồi hưu, những bloggers Việt Nam suy đoán rằng Hà Nội đã có những nhượng bộ then chốt về biên giới đất liền và biển như là cái giá phải trả cho việc bình thường hóa quan hệ. Từ sau Hội nghị Thành Đô, Hà Nội đã theo sát mô hình "Chủ nghĩa Lenin tư bản" của Bắc Kinh mà đặc điểm là một nền kinh tế mở nửa chừng dưới một thể chế chính trị khép kín. Trong khi những người dân Việt bình thường lo lắng về Trung Quốc dựa trên lịch sử hai ngàn năm chống ngoại xâm phương Bắc, thì những thành phần cốt cán của đảng lại thủ lợi vì những đầu tư kinh tế của Trung Quốc cũng như sự nương tựa về mặt ý thức hệ. Điều này giải thích tại sao Bộ Trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh mới đây đã mô tả việc Trung Quốc xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam (EEZ) như là một sự bất đồng nhỏ giữa "anh em". Phát biểu tại cuộc đối thoại quốc phòng Shangri-La ngày 31 tháng năm, Đại Tướng Thanh ngần ngại không phê bình Bắc Kinh một cách công khai, mặc dù hải quân Trung Quốc đang sách nhiễu những tầu tuần duyên và tầu đánh cá Việt Nam trong vùng lân cận của giàn khoan đồ sộ của Tổng công ty Dầu khí Hải Dương Trung Quốc. Như là một hành động của sự tôn trọng đối với Bắc Kinh, bộ chính trị Đảng Cộng Sản Việt Nam đã ngăn cản chuyến đi Mỹ của Bộ Trưởng Ngoại Giao Phạm Bình Minh trong thời gian diễn ra sự đối đầu trên biển giữa hai quốc gia. Chỉ sau khi Trung Quốc di dời giàn khoan, Hà Nội mới cử một lãnh đạo cấp cao của đảng đi Mỹ, mặc dầu điều đáng ngạc nhiên là người này không phải là bộ trưởng ngoại giao được xem là thân thiện với Hoa Kỳ. Cũng không rõ ràng là tại sao Việt Nam vẫn còn chưa tiến hành một hành động pháp lý tại Liên Hiệp Quốc, giống như Phi Luật Tân đã làm trong việc tranh chấp về biển đảo với Trung Quốc. Mặc dù theo hầu hết các nhà quan sát quốc tế, Việt Nam chiếm ưu thế đối với Trung Quốc, nội bộ Hà Nội lại có nhiều mâu thuẫn trong việc có nên quốc tế hóa sự tranh chấp hay không. Kết quả là Trung Quốc vẫn còn có thể định nghĩa cuộc tranh chấp là song phương và có lợi thế nước lớn trong tương tác một đối một. Cho tới khi lãnh đạo đương thời Hà Nội có ý chí thoát khỏi ảnh hưởng Trung Quốc, việc tháo bỏ lệnh cấm vận vũ khí của Hoa Kỳ sẽ không giải quyết sự yếu kém của Việt Nam, sự yếu kém về chính trị chứ không phải là quân sự. Lộ đồ nhân quyền Thượng Nghị Sĩ McCain đã đúng khi gắn liền viện trợ quân sự với nhân quyền: "Chúng ta có thể làm nhiều tới đâu về vấn đề này, cũng như với những mục tiêu thương mại và an ninh đầy tham vọng, tùy thuộc rất nhiều vào những hành động thêm nữa của Việt Nam về nhân quyền."   Đúng vậy, bây giờ chính là thời điểm mà Hoa Kỳ xác định những điều kiện cụ thể và hợp lý để tháo bỏ lệnh cấm vận vũ khí. Qua việc nhấn mạnh những điều kiện mà tối hậu sẽ củng cố sự an ninh của Việt Nam, các nhà hoạch định chính sách của Hoa Kỳ có thể nâng cấp quan hệ đôi bên lên một mức cao hơn. Điều kiện trước nhất là phải thả vô điều kiện tất cả các tù nhân chính trị. Thật là nghịch lý khi Hà Nội vừa thúc đẩy Hoa Kỳ phải có lập trường mạnh mẽ hơn về vấn đề Biển Đông, đồng thời lại tiếp tục bắt giữ những công dân Việt Nam lên tiếng một cách ôn hòa chống lại sự xâm lăng của Trung Quốc. Điều kiện thứ hai là phải hủy bỏ những điều khoản mơ hồ về an ninh quốc gia, được sử dụng một cách có hệ thống để hình sự hóa tự do ngôn luận và những hành động chính trị ôn hòa. Cho tới khi nào nhà cầm quyền Việt Nam còn coi việc viết blog hay cổ vũ cho dân chủ là một đe dọa đối với an ninh quốc gia, họ không thể nào tập trung một cách đúng mức vào mối đe dọa sống chết từ một Trung Quốc ngày một hung hăng. Điều kiện thứ ba là nhiệm vụ của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam (QĐND) chỉ tập trung vào một mục tiêu duy nhất là phòng thủ ngoại xâm. Hiện này nhiệm vụ của QĐND gồm ba mục tiêu: bảo vệ chế độ, phòng thủ ngoại xâm, phát triển kinh tế. Vũ khí từ Hoa Kỳ không bao giờ nên giao cho một quân đội sẵn sàng đàn áp những bất đồng ý kiến nhân danh an ninh nội tại. Thách thức ngoại giao   Một cuộc thăm dò ý kiến do BBC Tiếng Việt thực hiện vào tháng bảy đã hỏi thính giả của đài là muốn Việt Nam làm đồng minh của quốc nào. Hoa Kỳ là nước mà 87% những người trả lời đã chọn, trong khi chỉ có 1% chọn Trung Quốc. Kết quả của cuộc thăm dò đã xác nhận sự nhận xét của hầu hết những người theo dõi về tình hình Việt Nam: Người dân Việt Nam muốn có quan hệ gần gũi hơn với Hoa Kỳ và khoảng cách ngoại giao với Trung Quốc xa hơn. Đáng buồn thay, kết quả thăm dò cũng nói lên một thực tế khắc nghiệt khác: đa số công dân Việt Nam hiện thời không có tiếng nói trong những vấn đề quốc gia dưới chế độ độc tài hiện tại. Vần đề cung cấp vũ khí sát thương cho Việt Nam có lẽ sẽ được chính quyền Obama và Quốc Hội xem xét trong tương lai gần. Lo lắng về sự trỗi dậy của Trung Quốc, một số nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ có thể có quan điểm là việc cấm vận vũ khí là trở ngại chính cho quan hệ gần gũi hơn giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Nhưng vũ khí của Hoa Kỳ sẽ không làm cho Việt Nam mạnh hơn cũng như không khiến cho quan hệ chiến lược giữa hai nước sâu hơn. Cuộc tranh luận sắp tới cũng nên được hướng dẫn bởi sự đánh giá đúng mức cái gì làm tăng cường sức mạnh cho nước Việt Nam và người dân Việt Nam. Đó là sự cải thiện nhân quyền và gia tăng tự do dân sự. *** Rights before weapons for Vietnam By Duy Hoang Earlier this month, Senator John McCain indicated that it was time for the United States to consider selling lethal weapons to Vietnam after a 30-year embargo. The recent maritime standoff between Beijing and Hanoi over Chinese oil exploration off the central coast of Vietnam exposed Hanoi’s many strategic weaknesses. Providing Vietnam with coast guard and maritime systems as a first step - and eventually radar, fighter aircraft and spare parts for leftover American military equipment - would bolster Hanoi’s strategic capabilities vis-a-vis China and give substance to the "comprehensive partnership" announced last year between Hanoi and Washington. But more than modern weapon systems, what Vietnam really needs for its long-term security is modern political values. Only through a free and open society can the country mobilize the national unity and prosperity needed to safeguard its sovereignty. The Hanoi leadership's dilemma between pursuing the national interest and ensuring the communist regime's preservation has often led to incoherent and contradictory actions. Since the 1950s, that has meant acquiescing to Beijing's territorial grabs at the expense of Vietnamese sovereignty. In recent years, Hanoi has accommodated Beijing by suppressing domestic criticism of Chinese expansionism. Communist contradictions During the war, communist North Vietnam relied heavily on Chinese military support. But Beijing’s assistance was costly. In a 1958 diplomatic note, then prime minister Pham Van Dong implicitly recognized Beijing's claim over virtually the entire South China Sea. In 1974, Hanoi was deafly silent when China invaded and occupied the Paracel Islands, which were then held by South Vietnam. Following the war, Hanoi's tilt toward the Soviet Union and invasion of neighboring Cambodia resulted in a break with China that culminated in a bloody border war in 1979. But by 1990, with the Soviet Union no longer providing aid and communist states in Eastern Europe collapsing like dominoes, Hanoi re-established diplomatic relations with Beijing. The rapprochement was brokered at a secret summit held in the southern Chinese city of Chengdu in September 1990. The agreements concluded by the senior leadership of both communist parties have still not been publicized. Based on limited revelations by retired officials, Vietnamese bloggers speculate that Hanoi made key concessions regarding land and maritime borders as the price for normalization. Since Chengdu, Hanoi has closely followed Beijing’s model of "Market Leninism", characterized by a quasi-open economy and closed political system. While the average Vietnamese citizen is undoubtedly wary of China based on two millennia of conflict, communist regime elites have profited from Chinese economic investment and ideological support. This may explain why Defense Minister Phung Quang Thanh recently described China's violation of Vietnam's exclusive economic zone (EEZ) as just a small disagreement among "brothers". Speaking at the Shangri-La defense dialogue on May 31, General Thanh was reluctant to openly criticize Beijing, even as its naval forces were harassing Vietnamese coast guard and fishing vessels in the vicinity of an oil rig operated by state-owned China National Petroleum Corporation. In apparent deference to Beijing, the ruling Communist Party’s politburo reportedly barred Foreign Minister Pham Binh Minh from traveling to the US during the maritime standoff. Only after China removed the oil rig did Hanoi send a senior party official to the US, though surprisingly not the perceived as pro-West foreign minister. Nor is it clear why Vietnam has still not initiated a legal case at the United Nations, as the Philippines has done for its maritime dispute with China. Even though most outside observers regard Vietnam as holding the legal high ground against China, Hanoi is deeply conflicted on whether to internationalize the dispute. As a result, Beijing is still able to define the issue bilaterally, a one-on-one interaction that allows China to leverage its large country advantages. Until the Hanoi’s Communist Party leadership demonstrates a willingness to break away from Beijing's influence, lifting the American arms embargo will not fix Vietnam's core weakness, which is political rather than military. Rights roadmap Senator McCain was correct to link military assistance to human rights: "How much we can do in this regard, as with our other most ambitious trade and security objectives, depends greatly on additional action by Vietnam on human rights." Indeed, now is the time for the US to establish concrete and sensible conditions for lifting the arms embargo. By spelling out conditions that ultimately bolster Vietnam's security, US policymakers can elevate the bilateral relationship to the next level in good faith. The foremost condition should be the unconditional release of all political prisoners. It is ironic that while Hanoi is pushing for Washington to take a stronger public stand on the South China Sea, it continues to detain Vietnamese citizens who have peacefully spoken out against Chinese aggression. Second would be the repeal of vague national security provisions which systematically criminalize free expression and peaceful political activity. As long as Vietnamese authorities confuse blogging or pro-democracy advocacy with threats to national security, they will not be able to focus properly on the existential threat arising from an increasingly aggressive China. Third would be to focus the mission of the People’s Army of Vietnam (PAVN) solely on external defense. Currently, the PAVN is mandated with three roles: protecting the regime, external defense, and economic development. American weapons should never be delivered to a military that's geared toward suppressing dissent in the name of internal security. Salient sentiments An online poll conducted by the BBC’s Vietnamese language service in July asked readers which country they preferred Vietnam to ally with. The US was chosen by 87% of respondents, while China was selected by a mere 1%. The poll results confirm the observations of nearly all Vietnam watchers: the Vietnamese people want closer ties with the US and greater diplomatic distance from China. The survey confirmed another hard truth: that the vast majority of Vietnamese citizens currently do not have a voice in their national affairs under the current authoritarian regime. The issue of providing lethal weapons to Vietnam will likely be considered by the Obama administration and Congress in the near future. Concerned by a rising China, some American policy makers might view the arms embargo as the chief impediment to closer US-Vietnam ties. But American weapons alone won't result in a stronger Vietnam, nor a deeper strategic relationship. The upcoming debate should also be guided by an appreciation for what would most empower Vietnam and its people - improved human rights and greater civil liberties. Duy Hoang is a US-based leader of Viet Tan, an unsanctioned pro-democracy political party in Vietnam. Nguồn: http://www.atimes.com/atimes/Southeast_Asia/SEA-01-200814.html
......

Thời gian không đợi

Bộ Chính trị đảng CS Việt Nam đang bị chiếu tướng từ nhiều phía. Từ tổ chức Liên Hiệp Quốc, từ Hội đồng Nhân quyền LHQ mà Việt Nam là một thành viên, từ chính quyền Hoa Kỳ, từ Quốc hội Hoa Kỳ đang xem xét việc có chấp nhận để Việt Nam vào khối kinh tế Xuyên Thái Bình Dương TPP và có hủy quyết định không bán vũ khí sát thương choViệt Nam hay không? Từ trong nội bộ đảng CS, khi một loạt 61 đảng viên trí thức có uy tín lên tiếng đòi đảng từ bỏ nền cai trị độc đoán chuyên quyền, từ bỏ học thuyết Mác - Lênin lỗi thời, thẳng tay diệt trừ tham nhũng, từ bỏ độc quyền kinh tế quốc doanh tệ hại, công khai hóa cuộc họp Thành Đô. Từ nhân dân, đòi hỏi chống bành trướng mạnh mẽ, chấm dứt bỏ tù công dân yêu nước chống bành trướng, trả tự do cho các chiến sỹ dân chủ một cách sòng phẳng, chấm dứt chơi trò «thả rồi lại bất, bắt rồi lại thả» làm vốn mặc cả theo kiểu đèn cù. Những lời hứa với cử tri về «Luật biểu tình», «Luật lập hội, trong đó có lập công đoàn tự do», về chống tham nhũng quyết liệt không thể trì hoãn. Bộ Chính trị 16 người ở Hà Nội đang nằm trong tình thế dầu sôi lửa bỏng, thật sự là khốn khổ bối rối. Nước đến chân rồi. Trước hết vì họ tham quá. Họ vừa muốn giữ ghế quyền lực lại muốn mỵ dân, vừa muốn tiếp tục hưởng đặc lợi, lại vừa muốn tỏ ra biết điều, khôn ngoan, vừa muốn tỏ ra thân thiết giữ cam kết keo sơn với ông đồng chí khổng lồ lại muốn tỏ ra xiêu lòng với những lời hứa ngon lành ngay thật từ phương Tây. Giang 2 tay rộng ra 2 phía để bắt cá, có khi không được con nào. Cái trò đi trên dây luôn mạo hiểm. Chỉ mất thăng bằng tý chút là lăn kềnh, đổ vỡ, có khi nguy khốn. Bộ Chính trị đang bị dồn vào thế phải lật hết tẩy ra. Nghĩa là phải dứt khoát lựa chọn. Muốn gắn bó thật sự với phía này thì phải buông bỏ phía bên kia. Không thể nói và làm trái ngược, đánh đố nhau, đánh lừa nhau mãi được. Ôm đồm, quá tham, sẽ rơi hết sạch. Vừa qua 2 thượng nghị sỹ Mỹ vào loại có thế lực nhất đã sang tận Hà Nội để nói rõ rằng phía Hoa Kỳ nhận thấy tình hình đã chín để có thể nhận Việt Nam gia nhập khối TPP và bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, từ đó nâng mối quan hệ Mỹ-Việt lên một tầm cao mới. Cánh bảo thủ trong lãnh đạo đừng tưởng bở, cho là họ cần ta hơn ta cần họ. Quà mang sang không cho không. Hãy hiểu cho rõ điều này. Tuyên bố của TNS John McCain (ngày 8/8) nói rõ: «Làm được bao nhiêu trong lĩnh vực này (tức nhận VN vào TPP và bán vũ khí sát thương ) cũng như các mục tiêu thương mại và an ninh, còn tùy thuộc nhiều vào hành động của VN về cải thiện nhân quyền». Ông còn nhắc lại lời hứa của thủ tướng VN hồi đầu năm: «Dân chủ là xu hướng tất yếu trong quá trình phát triển của nhân loại» và «đảng phải giương cao ngọn cờ dân chủ»; Ông nói thêm: «Chúng tôi hy vọng Việt Nam sẽ chuyển những lời đáng trân trọng như thế thành những hành động mạnh mẽ, như thả các tù nhân lương tâm, tạo không gian cho xã hội dân sự, và cuối cùng là làm cho rõ ràng trong luật pháp và chính sách là quyền lực Nhà nước phải được giới hạn và các quyền làm người phổ cập như tự do phát biểu, lập hội, tín ngưỡng, xuất bản, truy cập thông tin phải được bảo vệ cho tất cả mọi công dân”. Rõ ràng ông McCain đã nói thẳng ra những điều kiện trên đây, để có đi mới có lại. Ngay sau đó (10/8) khi gặp Ngoại trưởng Phạm Bình Minh ở Miến Điện, Ngoại trưởng John Kerry lại nhấn mạnh: «Thành tích nhân quyền của Việt Nam là vấn đề tranh cãi còn tồn đọng giữa 2 nước để tạo điều kiện cho mối quan hệ được nở rộ». Quả bóng đang ở phía Việt Nam. Việt Nam phải chứng minh bằng hành động. Có một nhận định hơi vội là phía Hoa Kỳ có vẻ nghiêng về phía cánh bảo thủ giáo điều trong Bộ Chính trị, trong cơ quan lãnh đạo của đảng CS. Hoa Kỳ đang chờ, chưa nhóm nào trả lời thật rõ. Thông điệp của phía Hoa Kỳ là gửi cho phía Việt Nam, cho toàn bộ 16 người trong Bộ Chính trị, cho cả 200 người trong Ban Chấp hành Trung ương đảng, cho cả 500 đại biểu Quốc hội, cũng là gửi cho toàn thể nhân dân Việt Nam. Bộ Chính trị, cơ quan lãnh đạo cao nhất giữa 2 kỳ đại hội Đảng, luôn quyết định theo đa số. Hiện có vẻ chưa nhóm nào đạt đa số, chưa dứt tình với đồng chí bành trướng vì «nặng nợ». Nhưng chỉ còn dăm tuần lễ nữa thôi, không thể ấm ớ mãi, vì việc quyết định về gia nhập TPP sẽ sớm ngả ngũ, Quốc hội Mỹ sẽ bàn chuyện Việt Nam vào kỳ cuối năm, sau đó sẽ dồn nổ lực cho việc bầu cử. Thời gian thật cấp bách, không chờ ai. Để xem ngày lễ Quốc khánh 2/9/2014 tới, Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang sẽ ký lệnh trả tự do dưới dạng ân xá giảm án cho bao nhiêu tù chính trị, tù lương tâm? Danh sách phía các tổ chức xã hội dân sự Việt Nam đưa ra là 25 người cấp bách nhất, danh sách phía Hoa Kỳ, Liên Âu Bắc Âu, Úc…đưa ra cũng ngang như vậy. Không thể chỉ vài ba, hay dăm sáu người, kiểu nhỏ giọt. Bộ Chính trị có dám mạnh tay thả luôn 200 người, như Miến Điện từng làm khá là sòng phẳng năm 2013 không? Xin nhớ chưa bao giờ ở Thượng viện cũng như ở Hạ viện Mỹ các ông bà nghị lại đòi phía Việt Nam phải tỏ ra thực tâm tôn trọng quyền làm người của người dân nước mình đến vậy. Thêm nữa, dư luận trong và ngoài nước sẽ xem xét kỹ trong kỳ họp Quốc hội cuối năm nay, luật về biểu tình, về lập hội, đặc biệt là lập công đoàn tự do ở các xí nghiệp có còn bị đẩy lùi nữa hay không? Những điều luật mơ hồ, hết sức phi lý về an ninh, rất bất công gây oan ức, lạm dụng có được hủy bỏ, sửa chữa hay không ? Và một chỉ dấu nữa không kém phần hệ trọng là công luận trong và ngoài nước sẽ quan sát kỹ xem việc chống tham nhũng có «quyết liệt» như đã hứa hay vẫn giơ cao đánh khẽ, đánh kẻ thù nội xâm như phủi bụi, trong khi ở bên Tàu họ đánh từ «siêu hổ đến ruồi nhặng», bắt giam 2 cựu ủy viên thường vụ Bộ Chính trị - Chu Vĩnh Khang và Tăng Khánh Hồng - cùng 400 cán bộ và nhân viên phe cánh, điều tra tài sản của hàng vạn quan chức cấp cao, trừng trị hàng loạt cán bộ ngành công an, một ngành bị tố cáo là lạm quyền, tham nhũng, tàn bạo với dân có hệ thống, từ cao nhất đến cơ sở. Vậy thì trong thời gian sắp đến bất cứ ai hay nhóm nào trong Bộ Chính trị, trong Ban Chấp hành Trung ương đảng, dù là tổng bí thư, chủ tịch nước, thủ tướng hay chủ tịch quốc hội, nếu có những việc làm theo hướng thực thi dân chủ, nhân quyền, thực hiện nền pháp trị nghiêm minh, ngay thật làm đúng theo lời hứa, lời cam kết với Liên Hiệp Quốc, với Hội đồng Nhân quyền, với cử tri nước mình, với nhân dân thì sẽ được ca ngợi, đề cao và tin cậy. Sau khi phía Trung Quốc đã tỏ ra tham lam ngạo mạn ngang nhiên đưa giàn khoan lớn vào vùng biển nước ta, tàn sát ngư dân ta, hành động phi pháp, bất nhân, lãnh đạo nước ta phải biểu thị lòng yêu nước thương dân chống bành trướng, từ đó cảnh giác với thái độ lấn lướt gặm nhắm của họ, không thể để họ cắm chốt sâu trên các địa bàn trọng yếu, hạn chế việc họ đấu thầu, đầu tư, kinh doanh, buôn bán, lập nghiệp, mua chuộc các quan chức tham nhũng địa phương trên đất nước ta, tất cả phải thành chính sách đồng bộ từ trên xuống dưới của chính phủ bao gồm các mặt chính trị, kinh tế, tài chính, đầu tư, thương mại, lao động. Cùng với chính sách nội trị chống bành trướng như thế, chính sách ngoại giao cũng phải mang xu thế chống bành trướng rõ rệt, quan trọng nhất là kết nhiều bạn mới cùng chung ý chí chống bành trướng như Philippines, Nhật Bản, Malaysia, Ấn Độ, Miến Điện, và đặc biệt là để ngỏ khả năng liên minh chiến lược với Hoa Kỳ, cường quốc mũi nhọn đương đầu với sự trỗi dậy hung hãn nguy hiểm của Trung Quốc. Tất cả sự mong đợi ở thời điểm thử thách này là xem đa số Bộ Chính trị có dám nắm chắc tay lái, bẻ ngoặt chuyển sang hướng mới, phóng mạnh vào đại lộ dân chủ nhân quyền, cải cách toàn diện và đồng bộ cả hệ thống cai trị đối nội và đối ngoại, chấm dứt thời kỳ đổi mới nửa vời, đổi mới kinh tế chập chờn, đóng băng về chính trị, tự trói về ngoại giao, chống tham nhũng hời hợt, tiêu phí biết bao của cải và thời gian của xã hội. Xem nhóm nào thật sự vượt lên trong nước rút này. Chỉ còn vài tháng ngắn ngủi cuối năm, bao nhiêu việc cần làm để được công luận thế giới cùng dư luận trong nước đánh giá là «được», là «tốt», là «đạt yêu cầu», chưa nói là «rất tốt”, là «vượt yêu cầu”, «là nêu gương về tôn trọng nhân quyền cho người láng giềng phương Bắc» như TNS McCain đã khuyến cáo. Hay lại bị dư luận quốc tế cũng như dư luận trong nước chê là «nhỏ giọt», «miễn cưỡng», «chưa thật dứt tình với ông đồng chí xấu bụng nham hiểm», «chỉ là thủ đoạn chiến thuật để mua thêm thời gian», «về cơ bản vẫn thế»…Để phải xóa bài làm lại, chờ thêm một thời gian nữa. Xét cho cùng là lãnh đạo đảng CS lần này chọn ai, chọn quê hương mình, Tổ quốc mình, nhân dân mình, đồng bào mình, hay là đặc quyền đặc lợi cá nhân, chủ nghĩa cá nhân, quyền lợi phe nhóm gắn chặt với « ông láng giềng tốt, ông bạn vàng tốt, ông đồng chí tốt, ông đối tác tốt» để cam chịu làm tay sai ô nhục. Sức mạnh quyết định không phải ở «nhóm bảo thủ» hay «nhóm cấp tiến» trong Bộ Chính trị, vì họ rất giống nhau ở lòng tham quyền lực và tham đặc lợi phe nhóm, rất giống nhau dính quá chặt với thế lực bành trướng, cả 2 nhóm chỉ đua nhau nói dân chủ, nói pháp trị, nói nhân quyền nhưng không làm. Sức mạnh vô tận lâu bền của xu thế dân chủ và nhân quyền đích thật nằm trong đại khối nhân dân, trong đại khối đảng viên CS và đoàn viên CS ở cơ sở - không thuộc phe nhóm ăn chia nào - do hơn 20 tổ chức xã hội dân sự như Văn đoàn Độc lập VN, Hội nhà báo độc lập VN, Hiệp hội dân oan VN, Hội Phụ nữ nhân quyền, Phong trào Lao dộng Việt … cùng hàng loạt blogger, Facebook lề trái làm vai trò tiên phong mở đường. Đó mới thật là thế lực của hiện tại VN và tương lai VN, bạn bè chí cốt với xu thế dân chủ và nhân quyền quốc tế đang nắm chắc tương lai của thế giới này. Nguồn: voatiengviet.com
......

XÓA BỎ MẶC CẢM SỢ HÃI

Một thứ mặc cảm nên xóa bỏ là sợ. Một tờ báo Nam Hàn loan tin ngày 23 Tháng Năm, Cộng sản Trung Quốc đưa 300 ngàn quân đến Quảng Tây, nhiều người lo sợ Trung Cộng sắp tấn công đến nơi. Có người ở Hà Nội cho biết đã “thấy trên đường Cầu Rẽ-Pháp Vân có nhiều đoàn xe quân sự chở theo pháo hạng nặng và xe tăng chạy hướng Nam-Bắc nhằm về phía biên giới”; rồi tính chuyện rút tiền ở ngân hàng về phòng bất trắc. Nhưng chiến tranh không dễ gì xảy ra, quyết định gây chiến không giản dị như trong thời trong truyện Tầu, Tam Quốc Chí. Tương quan quốc tế bây giờ cũng không giống năm 1978, 79. Thời 35 năm trước, nước Việt Nam hoàn toàn bị cô lập trong cả vùng Ðông Nam Á cũng như trên thế giới, vì đảng Cộng sản Việt Nam chỉ biết bám lấy Liên Xô, mà Lê Duẩn tuyên bố là tổ quốc thứ nhì của ông. Trung Cộng tấn công, Liên Xô không cứu được, chỉ có dân và lính chết oan khốc. Nhưng nếu bây giờ Trung Cộng định tấn công, thì họ cũng phải tính trước. Giả thử họ đánh, chiếm được Hà Nội rồi thì họ sẽ làm gì đây? Lập thành quận, huyện của Trung Quốc như thời quân Minh; hay lập một chính phủ bù nhìn? Một ngàn năm Bắc thuộc cho thấy dân tộc Việt không bị khuất phục, bây giờ người Việt còn quật cường hơn trước nhiều. Có ai muốn thử sức hay không? Hơn nữa, ngày nay Trung Cộng còn yếu hơn thời Minh Thành Tổ, còn lo đối phó với phản ứng của các nước khác. Mỹ, Úc, Liên Hiệp Âu Châu, Nhật Bản, Ấn Ðộ, không thể khoanh tay nhìn Trung Cộng đánh, chiếm một nước láng giềng mà không làm gì cả. Tối thiểu, họ sẽ trừng phạt về kinh tế từng bước một, như đang áp dụng trong trường hợp Ukraine. Trung Cộng vốn đang bị các nước Ðông Nam Á nghi ngờ và họ càng lánh xa; có nước nào nhìn Trung Cộng lộng hành mà không lo đến số phận mình hay không? Mỗi nước trên đây chỉ cần giảm số hàng nhập cảng từ Trung Quốc 10% thì nền kinh tế đang mong manh sẽ sụp đổ. Putin chưa ngấm đủ các đòn phong tỏa kinh tế mà đã phải rút quân ở biên giới Ukraine về. Kinh tế Trung Quốc còn mong manh hơn Nga nhiều, nếu bị thế giới tẩy chay thì hàng trăm triệu công nhân thất nghiệp, chế độ cộng sản sẽ đổ, làm sao Tập Cận Bình dám gây thêm rắc rối? Ông Tập Cận Bình mới khẳng định rằng Trung Quốc sẽ không gây thêm rắc rối trong vùng Nam Hải (người Việt gọi là Biển Ðông); mà chỉ có phản ứng cần thiết nếu bị nước khác khiêu khích. Có thể tin rằng đó là chính sách của đảng Cộng sản Trung Hoa. Một mặc cảm lo sợ khác là bị Trung Cộng tấn công về kinh tế. Nhưng kinh tế là những cuộc trao đổi; anh kiếm lời thì tôi cũng kiếm lời; anh làm khó cho tôi thì anh cũng bị thiệt hại. Năm 2010, Trung Cộng đã ngưng nhập cảng cá hồi từ Na Uy để trả đũa việc trao giải Nobel Hòa Bình cho Lưu Hiểu Ba. Năm 2012, họ cấm nhập cảng chuối từ Philippines sau các cuộc xung đột trên biển. Nhưng cuối cùng, đâu cũng vào đó cả, cả hai nước bị “trừng phạt” vẫn sống ung dung. Kinh tế Việt Nam và Trung Quốc có quan hệ rộng lớn, nhưng có lợi cho họ hơn cho người mình. Năm ngoái, hai nước trao đổi hơn 50 tỷ đô la Mỹ về thương mại, trong đó người Việt mua và trả cho Trung Quốc 37 tỷ mà bên mình chỉ bán cho họ được 13 tỷ. Chấm dứt tình trạng cán cân mậu dịch chênh lệch đó thì người Trung Hoa bị thiệt nhiều hơn người Việt. Những năm qua, trong các cuộc đấu thầu ở nước ta, các công ty Trung Quốc trúng thầu 90% các dự án về điện và 80% các dự án về giao thông. Ðó là một tình trạng bất bình thường, đáng nghi ngờ. Có áp lực, tham nhũng, đút lót ở đâu đó, ai biết? Không những thế, các nhà thầu Trung Quốc luôn luôn gây đình trệ khi thi hành dự án, đòi tăng ngân sách mới tiếp tục, lại còn mang hàng chục ngàn công nhân lậu sang chiếm công việc của lao động Việt Nam. Ðó là tình trạng bất bình đẳng nên chấm dứt càng sớm càng tốt. Nếu các công ty Trung Quốc ngưng đầu tư vào mỏ bô xít, ngưng khai thác gỗ rừng ở Việt Nam thì dân Việt còn mừng nữa! Tình trạng kinh tế bị ràng buộc đến mức bị lệ thuộc hiện nay là do chính sách ngoại giao sai lầm của đảng Cộng sản, bám lấy 16 chữ vàng và 4 cái tốt; hậu quả của hội nghị Thành Ðô nhục nhã năm 1990. Chấm dứt tương quan bất bình đẳng đó mới mở được một con đường thoát cho kinh tế Việt Nam trong tương lai. Tại hội nghị Shangri-La ở Singapore, Thủ Tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã tuyên bố nước Nhật sẽ hợp tác với Mỹ, Ấn Ðộ, Úc Châu, cùng bảo vệ luật pháp quốc tế và an ninh hàng hải trong vùng biển Ðông Nam Á. Ðây là một lời cảnh cáo trước cảnh Trung Cộng đem giàn khoan dầu tới vùng Biển Ðông. Nhưng mối lo của Trung Cộng không phải chỉ là việc Nhật hứa viện trợ 10 chiếc tầu thủy cho Philippines để bảo vệ hải phận, hay hứa sẽ giúp một chiếc tàu cho Việt Nam. Mối lo chính của Bắc Kinh là nhân cơ hội này ông Abe sẽ tiến hành nhanh hơn quá trình đưa nước Nhật trở lại làm một “quốc gia bình thường,” để tự vệ và bảo vệ các đồng minh, trong đó ông kể tới các nước Ðông Nam Á. Bình thường hóa, nghĩa là Nhật Bản sẽ giải thích lại bản Hiến Pháp hòa bình, tái lập quân đội, sản xuất và xuất cảng vũ khí, gửi quân ra nước ngoài. Cũng tại hội nghị Shangri-La, bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ hoan nghênh các ý kiến của thủ tướng Nhật. Ác mộng của Trung Cộng là thấy một nước Nhật Bản tái vũ trang và có thể chế tạo vũ khí nguyên tử bất cứ lúc nào. Theo quyền lợi của những người lãnh đạo ở Bắc Kinh, họ có muốn giúp cho nước Nhật có thêm cơ hội liên kết với các nước Ðông Nam Á và Mỹ chặt chẽ hơn hay không? Phải xóa bỏ hai thứ mặc cảm sợ hãi đối với Trung Cộng. Nhưng cũng không nên nuôi ảo tưởng rằng các nước lớn như Nhật Bản, Mỹ cũng lo việc bảo vệ nước Việt Nam. Các quốc gia trên thế giới đều chỉ lo bảo vệ quyền lợi của họ. Năm 1974, Mỹ không giúp Việt Nam Cộng Hòa bảo vệ Hoàng Sa, vì lúc đó họ chỉ cần thỏa hiệp để rút khỏi Việt Nam, để lại cho Trung Cộng và Việt Cộng mầm mống một cuộc tranh chấp, thanh toán lẫn nhau sau này. Tại hội nghị Shangri-La khi Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Chuck Hagel gặp Tướng Vương Quan Trung (Wang Guanzhong), phó tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Cộng, ông nhắc nhở rằng Trung Quốc đã có những hành động đơn phương gây xáo trộn ở Scarborough Reef, tại Second Thomas Shoal, và đưa giàn khoan dầu tới quần đảo Paracels. Ông Hagel nhắc tới hai vụ gây hấn với Philippines trước, vụ xâm lấn vào lãnh hải Việt Nam sau; vì nước Mỹ có những thỏa hiệp về an ninh, quân sự với Philippines, không có ràng buộc nào với Việt Nam. Cho nên chúng ta không nên nuôi ảo tưởng rằng có thể nhờ vả vào nước Mỹ trong cuộc tranh chấp với Trung Cộng. Chính quyền Mỹ luôn luôn khẳng định rằng họ hoàn toàn trung lập về chủ quyền các đảo trong vùng Biển Ðông. Ðối với quyền lợi của dân Mỹ, các mỏ dầu khí dưới đáy biển thuộc chủ nhân nào thì cũng không ảnh hưởng đến việc mua bán của họ. Một nhà bình luận Mỹ đặt câu hỏi: “Chúng ta (người Mỹ) có cần quan tâm đến chuyện một công ty Trung Quốc hay Việt Nam hút dầu từ đáy biển chung quanh quần đảo Paracels rồi đem bán hay không? Chúng ta có quan tâm đến về chuyện một ngư dân nghèo người Philippine hay một ngư dân nghèo Trung Hoa đánh được cá ở Scarborough Shoal hay không? Nước Mỹ có đánh nhau với Trung Quốc về mấy bãi đá và tảng đá ngầm giữa đại dương hay không?” Cuối cùng, cần xóa bỏ các mặc cảm, cũng xóa bỏ cả các ảo tưởng. Người Việt Nam chỉ có thể trông cậy vào sức mình để bảo vệ quyền lợi quốc gia, những thứ còn có thể bảo vệ được. Chiến lược lâu dài của đảng Cộng sản Trung Hoa là gậm nhấm từng mảnh một, trong khi vẫn nói là sẵn sàng thảo luận với các nước khác trong vùng Biển Ðông, miễn là thảo luận song phương. Trong lâu dài, thủ đoạn này chỉ có lợi cho họ. Họ sẽ đặt thế giới trước những “sự đã rồi,” như việc thành lập huyện Tam Sa trước đây, và việc đem giàn khoan vào hải phận nước ta mới rồi. Thế giới sẽ dần dần chấp nhận những ‘sự đã rồi” này, hoặc chỉ phản đối lấy lệ. Nước Việt Nam không thể để mình bị rơi vào trong cái bẫy đó. Cần có một chính phủ Việt Nam thực sự do dân Việt bầu cử tự do lập nên. Cần có một chính quyền thoát ra khỏi cái vòng dây trói buộc 16 chữ vàng và 4 cái tốt; sẵn sàng giao hảo với các nước khác mà không sợ làm mất lòng Trung Cộng. Cần một chính quyền cho dân được tự do kinh doanh, phục hồi kinh tế để dân giầu, nước mạnh. Muốn như vậy, cần phải chấm dứt chế độ cộng sản. NKT Nguồn: VNTB  
......

CHÚNG TA SẼ CHIẾN THẮNG BỞI VÌ CHÚNG TA KHÔNG HIỂU CHÍNH TRỊ

"Chúng ta sẽ chiến thắng bởi vì chúng ta không hiểu chính trị. Chúng ta sẽ giành chiến thắng bởi vì chúng ta không chơi trò chơi bẩn thỉu của họ. Chúng ta sẽ chiến thắng bởi vì chúng ta không hề có một lịch trình cụ thể. Chúng ta sẽ chiến thắng bởi vì những giọt nước mắt chảy ra cũng chính từ tâm hồn chúng ta. Chúng ta sẽ chiến thắng bởi vì chúng ta có những giấc mơ. Chúng ta sẽ chiến thắng bởi chúng ta sẵn sàng đứng lên vì giấc mơ của mình". - Wael Ghonim, nhân viên điều hành của Google, người đã khơi mào cuộc cách mạng dân chủ tài Ai Cập. Wael Ghonim   WAEL GHONIM: CÁCH MẠNG AI CẬP DƯỚI GÓC NHÌN CỦA NGƯỜI TRONG CUỘC Đây là cuộc cách mạng 2.0. Không ai là anh hùng cả, không ai là một anh hùng bởi tất cả mọi người đều là anh hùng. Chúng ta đã làm được một điều gì đó. Chúng ta đều sử dụng Wikipedia, bạn có biết rằng Wikipedia là mà tất cả mọi người cùng nhau đóng góp nội dung và cuối chúng ta đã làm được một bộ Bách khoa toàn thư lớn nhất trên thế giới. Bạn thấy đấy từ một ý tưởng nghe có vẻ điên rồ, bạn có bách khoa toàn thư lớn nhất thế giới.   Và trong cuộc cách mạng Ai Cập, cuộc cách mạng 2.0, tất cả mọi người đều đã đóng góp một cái gì đó, dù nhỏ hay lớn. Chúng ta đều đã đóng góp một cái gì đó, để tạo nên một câu chuyện thần kỳ nhất trong lịch sử con người, đó chính là một cuộc Cách mạng. Thật xúc động khi thấy tất cả những người Ai Cập thay đổi một cách hoàn toàn. Thực tế, Ai Cập trong 30 năm qua đang xuống dốc và vẫn đang xuống dốc. Mọi thứ trở nên tồi tệ, mọi thứ đều sai cả. Chúng tôi chỉ được xếp hạng cao khi đề cập đến đói nghèo, tham nhũng, thiếu tự do ngôn luận, thiếu những hoạt động chính trị. Đó là những thành quả của cái chế độ "vĩ đại" của chúng ta. Nhưng dù thế không hề có điều gì xảy ra cả. Không phải bởi người dân sống hạnh phúc hay họ đã không cảm thấy thất vọng. Thực ra, người ta đã thất vọng cực độ. Nhưng lý do tại sao ai cũng im lặng là cái mà tôi gọi là rào cản tâm lý sợ hãi. Mọi người đều sợ cả. Không phải tất cả, thực sự có một số người Ai Cập dũng cảm mà tôi phải cảm ơn vì sự quả cảm của họ đã dám phản kháng khi vài trăm người bị đánh đập và bắt bớ. Tuy nhiên, trên thực ra, phần đông vẫn sợ hãi. Người ta không muốn bị rắc rối phiền toái.   Kẻ độc tài không thể tồn tại nếu không có vũ lực. Chúng muốn mọi người sống trong sợ hãi. Và cái rào cản tâm lý sợ hãi đó đã có hiệu quả trong nhiều năm trời, và Internet xuất hiện, công nghệ, BlackBerry, tin nhắn SMS... đã giúp kết nối chúng tôi lại với nhau, các nền tảng chia sẻ thông tin như YouTube, Twitter, Facebook đã giúp chúng tôi rất nhiều bởi vì về cơ bản nó đem lại cho chúng tôi ấn tượng rằng, "Trời ạ, tôi không đơn độc". Có rất nhiều người đã thất vọng. Có rất nhiều người đang thất vọng. Có rất nhiều người cùng chia sẻ một giấc mơ. Có rất nhiều người ưu tư đến tự do của họ. Họ có thể có cuộc sống tốt nhất trên thế giới. Họ đang sống trong hạnh phúc. Họ đang sống trong biệt thự của mình. Họ hạnh phúc. Họ không có rắc rối gì. Nhưng họ luôn cảm thấy nỗi đau của người Ai Cập. Rất nhiều người trong chúng tôi không thực sự hạnh phúc khi họ xem một đoạn video về một người đàn ông Ai Cập đang tìm miếng ăn trong rác rưởi, trong khi nhiều người khác đang ăn cắp hàng tỷ đồng Ai Cập từ tài sản quốc gia. Internet đã đóng một vai trò quan trọng, giúp mọi người này nói lên suy nghĩ của mình, để cộng tác với nhau, cùng bắt đầu suy nghĩ với nhau. Đó là cuộc vận động mang tính giáo dục. Khaled Saeed đã bị giết chết vào tháng Sáu năm 2010. Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh này. Tôi vẫn còn nhớ từng chi tiết của bức ảnh đó. Bức ảnh đó thật kinh khủng. Anh ấy bị tra tấn, bị hành hình cho đến chết. Nhưng rồi câu trả lời của chính quyền là gì? Anh bị đánh chết một cách dã man. Câu trả lời của chính quyền là: "Hắn ta là một tên tội phạm. Hắn đã được giải thoát khỏi cuộc đời xấu xa của mình". Nhưng người dân không quan tâm, họ không tin vào chính quyền nữa. Nhờ có Internet, sự thật đã chiế thắng và tất cả mọi người đều biết sự thật đó.   Và tất cả mọi người bắt đầu nhận thấy rằng "anh chàng này có thể là người anh em của họ". Anh ta là một gã trung lưu. Bức ảnh của anh ta được chúng tôi nhớ mãi. Một trang Web đã được tạo ra và một người điều hành dấu mặt đã mời mọi người tham gia vào trang này, và không hề có kế hoạch gì cả. "Chúng ta dự định làm gì?" "Tôi không biết." Chỉ trong vài ngày, hàng chục ngàn người dân đã có mặt ở đó - những người Ai Cập đầy giận dữ, họ đòi hỏi Bộ Nội vụ. "Đủ rồi" "mang những kẻ đã giết người đàn ông này ra trước công lý. " Nhưng tất nhiên, chính quyền không hề lắng nghe. Thật là một câu chuyện đầy thú vị - khi mà mọi người bắt đầu cảm nhận về quyền làm chủ. Mọi người đều là chủ của trang Web này. Mọi người bắt đầu đóng góp ý tưởng. Thực tế, một trong những ý tưởng nực cười nhất, đó là, "Này , chúng ta hãy đứng im lặng. Chúng ta hãy cùng nhau bước ra, đối diện với biển, quay lưng với con đường, mặc áo đen, đứng lặng yên trong một giờ, không làm gì cả và sau đó chỉ đơn giản rời đi, trở về nhà. "Đối với một số người, điều đó giống như là, "Ồ, đứng im lặng. Và kế tiếp là những rung động nhẹ". Mọi người đã cười nhạo ý tưởng đó. Nhưng thực sự khi mọi người xuống đường, lần đầu tiên đã có hàng ngàn người ở Alexandria - cảm giác thật thú vị, thật tuyệt vời. Bởi vì nó kết nối mọi người từ thế giới ảo, đem họ lại cùng nhau trong thế giới thực, chia sẻ cùng một giấc mơ, cùng một sự thất vọng, cùng một sự giận dữ, cùng một khao khát tự do. Và họ đã làm điều đó. Nhưng chế độ đã học được điều gì? Không gì cả. Họ đã tấn công những người dân. Họ đã ngược đã người dân mặc dù thực tế những người này đã rất ôn hòa - họ thậm chí không chống đối. Và mọi thứ đã tiến triển cho đến khi cuộc cách mạng Tunisia nổ ra.   Trang Web đó lại, một lần nữa, được điều hành bởi những người này. Thực tế, công việc quản trị ẩn danh là thu thập những ý tưởng, giúp mọi người bỏ phiếu và bảo họ nên làm cái gì. Mọi người đã chụp ảnh, có người đã báo cáo những vi phạm nhân quyền ở Ai Cập, mọi người đã nêu ra những ý tưởng, họ đã thực sự bỏ phiếu lựa chọn những ý tưởng đó, rồi họ cùng nhau thực hiện những ý tưởng này, họ làm ra những video clip. Mọi việc được thực hiện bởi người dân và cho chính người dân, đó là sức mạnh của Internet. Không hề có ai là người lãnh đạo, người lãnh đạo là chính mỗi cá nhân trên trang Web đó. Trải nghiệm từ Tunisia, như Amir đã nói, đã thức tỉnh tất cả chúng tôi, chỉ cho chúng ta thấy rằng có một con đường. Vâng, chúng tôi có thể. Chúng tôi có thể làm điều đó. Chúng tôi có những vấn đề giống nhau, chúng tôi có thể chỉ cần đổ ra đường phố. Và khi tôi nhìn thấy trên đường phố ngày 25, tôi đã lùi lại và nói: "Ai Cập trước ngày 25 sẽ không thể nào là Ai Cập sau ngày 25. Cuộc cách mạng đang diễn ra. Đây không phải là sự kết thúc, đây là khởi đầu của sự kết thúc". Tôi đã bị bắt giữ vào đêm 27. Cảm ơn Chúa tôi đã có thể thông báo địa điểm và tất cả mọi thứ. Nhưng họ giam tôi. Và tôi sẽ không nói về những gì tôi đã trải qua, bởi bây giời không phải là để nói về tôi. Tôi đã bị giam trong 12 ngày, bị bịt mắt, còng tay. Và tôi đã không thực sự nghe thấy bất cứ điều gì. Tôi không biết bất cứ điều gì. Tôi không được phép nói chuyện với bất cứ ai. Và tôi được thả ra. Ngày hôm sau tôi đã ở Tahrir. Nghiêm túc mà nói, với sự thay đổi tôi có thể nhận thấy tại quảng trường này, tôi nghĩ rằng nó là 12 năm. Tôi đã không hề có trong đầu hình ảnh về người Ai Cập, người Ai Cập thật đáng kinh ngạc. Sự sợ hãi không còn nữa. Giờ là sự mạnh mẽ. Mọi người tràn đầy nội lực. Thật tuyệt vời thấy mọi người tràn đầy sức sống như thế và giờ đang lên tiếng đòi quyền của họ. Một sự trái ngược hoàn toàn. Sự cực đoan đã trở thành khoan dung. Ai có thể tưởng tượng được trước ngày 25, nếu tôi nói với bạn rằng hàng trăm ngàn người Thiên chúa giáo chuẩn bị cầu nguyện và hàng chục ngàn người Hồi giáo sẵn sàng bảo vệ họ, và sau đó hàng trăm ngàn tín đồ Hồi giáo đang cầu nguyện và hàng chục hàng ngàn người Thei16 chúa giáo sẵn sàng bảo vệ họ - điều đó thật là kỳ lạ. Tất cả các khuôn mẫu mà nhà cầm quyền đã cố gắng áp đặt lên chúng tôi thông qua những thứ gọi là tuyên truyền của họ, hoặc thông tin đại chúng, đã bị chứng tỏ là sai lầm. Cuộc cách mạng này đã chỉ ra cho chúng tôi thấy sự ngu ngốc của chế độ đó và sức mạnh đáng kinh ngạc của những người đàn ông, phụ nữ Ai Cập. Sự đơn giản và tuyệt vời của những người này bất cứ khi nào họ có một giấc mơ.   Khi tôi nhìn thấy điều đó, tôi đã trở lại và viết trên Facebook. Và đó là một niềm tin cá nhân, bất kể những gì sắp xảy ra, bất chấp những tiểu tiết. Tôi đã nói rằng, "Chúng ta sẽ chiến thắng. Chúng ta sẽ chiến thắng bởi vì chúng ta không hiểu chính trị. Chúng ta sẽ giành chiến thắng bởi vì chúng ta không chơi trò chơi bẩn thỉu của họ. Chúng tôi sẽ giành chiến thắng bởi vì chúng tôi không hề có một lịch trình cụ thể. Chúng tôi sẽ giành chiến thắng bởi vì những giọt nước mắt chảy ra cũng chính từ tâm hồn chúng ta. Chúng ta sẽ chiến thắng bởi vì chúng ta có những giấc mơ. Chúng ta sẽ chiến thắng bởi chúng ta sẵn sàng đứng lên vì giấc mơ của mình". Và thực tế điều gì đã xảy ra. Chúng ta đã chiến thắng. Và đó là không phải bởi vì bất cứ điều gì, mà bởi vì chúng ta tin vào giấc mơ của mình. Chiến thắng ở đây không phải là những sự việc cụ thể của những gì sẽ xảy ra trên chính trường. Chiến thắng ở đây là chiến thắng của phẩm giá của mỗi người Ai Cập. Thực tế, một người lái xe taxi đã nói với tôi: "Nghe này, tôi đang hít thở sự tự do. tôi cảm thấy rằng tôi có phẩm giá của mình mà tôi đã bị tước đoạt trong rất nhiều năm trời. " Đối với tôi, đó là chiến thắng, bất kể tất cả các chi tiết. Điều cuối cùng tôi muốn nói với bạn là một câu nói mà tôi xác tín, mà người Ai Cập đã được chứng minh là đúng, rằng sức mạnh của nhân dân vĩ đại hơn nhiều so với những gì mà kẻ nắm giữ quyền lực đang có. https://www.ted.com/talks/wael_ghonim_inside_the_egyptian_revolution https://www.youtube.com/watch?v=hpt1oUlYdAk#t=519
......

Bỏ Đảng … tôi sẽ làm gì?

"Có thể nói, ngày tôi vào Đảng với một niềm tin và tự hào mãnh liệt bao nhiêu thì ngày hôm nay, tôi chán ghét và khinh bỉ Đảng viên, khinh bỉ tổ chức Đảng bấy nhiêu, mà trớ trêu thay, tôi khinh bỉ cái mà tôi vẫn còn vấn vít", "Đảng là một cỗ máy giả dối khổng lồ, hàng ngày, những vị chức sắc Đảng có thể nói ra rả về Chủ nghĩa Mác Lênin, về tư tưởng Hồ Chí Minh, về cái gọi là chí công, vô tư nhưng chiều về vẫn ăn nhậu phủ phê, vẫn chơi gái, tiền hối lộ vẫn nhận. Đến mức, bây giờ, không còn ai bất ngờ khi nghe thông tin quan này, tướng tá kia giàu sụ. Giả dối nhất đối với từng Đảng viên Cộng sản là hàng năm, vào kì nhận xét cuối năm, ai cũng “lập trường tư tưởng vững vàng, kiên định theo chủ nghĩa Mác Lê, tư tưởng Hồ Chí Minh”. Trong khi đó, ai cũng biết thừa từ ông Hồ đến ông Mao đều là thứ dâm tặc, Lê Duẩn cướp vợ người, Phạm Văn Đồng bán nước v.v và v.v...",   Đó là những lời đầy cảm xúc mà anh Trần Chấn đã viết tại trang Dân Luận khi phản hồi bài "Đảng chai sạn khiến tôi nhiều hư hỏng" của PV Quốc Doanh.   ... và Trần Chấn đổ quạu:"Đéo mẹ. Giả dối không chịu được!" Là một người đảng viên sinh sau 1975, tuổi dưới 40, sinh ra và lớn lên trong chế độ cộng sản, sau đó gia nhập Đảng và nay đã có hơn 10 năm tuổi Đảng, tự cho mình là một đảng viên ưu tú, anh Trần Chấn ngày hôm nay đã uất ức viết lên những lời như trên. Trần Chấn đã ra đời sau cả lúc Dương Thu Hương ngồi xuống lề đường Sài Gòn bật khóc năm 1975 khi khám phá ra sự giả dối của Đảng Cộng Sản Việt Nam, và thấy mình bị lừa. Thật tội nghiệp! Giá mà khi lớn lên Trần Chấn gặp được Dương Thu Hương thì chắc chắn đã không xin vào Đảng và khỏi phải ưu tư trắc trở như ngày hôm nay. Trần Chấn ví mình như một người "đang ngụp lặn trong dòng nước bẩn, cố bám lấy cái thân gỗ mục nát chắc chắn sẽ tan rã vì không biết cái chờ đợi chúng tôi là gì, một chiếc phao cứu sinh hay một chiếc thuyền đầy hải tặc hoặc đơn giản hơn, một con cá sấu đói đang rình mồi?" Trong tâm trạng đó Trần Chấn nghĩ tới việc bỏ Đảng. Nhưng anh lại băn khoăn. Băn khoăn không biết sau khi bỏ Đảng thì mình sẽ ra sao, sẽ làm gì, sợ Đảng bị sốc, sợ bị cha mẹ và anh chị em chê trách, sợ hậu cộng sản sẽ bị trả thù, cho các phong trào dân chủ là "lộn xộn" chưa thuyết phục, sợ đất nước bị bất ổn, … Đọc những giòng của Trần Chấn, ta không biết còn bao nhiêu những đảng viên ĐCSVN trẻ khác nữa, mang cùng tâm trạng như Trần Chấn nhưng chưa có cơ hội hay hoàn cảnh để lên tiếng? Với bạn Trần Chấn và những người bạn trẻ đó, kinh nghiệm của những người đi trước có thể giúp trả lời một số băn khoăn chăng:   Trước tiên, bạn không nên sợ Đảng bị sốc. Trước bạn đã có nhiều người bỏ Đảng. Thời trước thì có những Trần Độ, Trần Xuân Bách, Dương Quỳnh Hoa, Bùi Tín, Dương Thu Hương, Phạm Đình Trọng, … gần đây hơn có Lê Hiếu Đằng, Nguyễn Đắc Kiên, Phạm Chí Dũng, Nguyễn Chí Đức, Đặng Chí Hùng, … . Họ là những người mà việc bỏ Đảng đáng lẽ đã phải tạo những cái sốc rất lớn. Nhưng bạn thấy đó. Khi những đảng viên nói trên bỏ Đảng, lẽ ra Đảng phải xem đó là những tiếng chuông cảnh tỉnh để biết mà cải tổ và sửa sai, nhưng Đảng chỉ đơn giản gạt họ sang một bên, thậm chí còn đàn áp trù dập họ như kẻ thù. Như vậy, bạn có thể yên trí. Chẳng bên nào bị sốc cả vì chẳng ai còn xa lạ gì với những lý do khiến đảng viên bỏ đi và các bạn sẽ không phải là người cuối cùng cất bước. Bạn cũng không nên lo ngại cha mẹ và các anh chị em bạn chê trách. Tại sao chúng ta lại sợ bị người khác chê trách khi biết mình đang theo tiếng gọi của lương tâm để làm một việc đúng? Ngược lại, chúng ta nên tin tưởng việc làm đúng của mình sẽ giúp cho người thân cuối cùng nhìn ra sự thật và cùng với mình làm những việc đúng, để đưa đất nước chúng ta sang con đường tốt đẹp hơn. Còn sống cùng nhau trong giả dối như hiện nay chỉ là cách cột chặt con cháu chúng ta và các thế hệ tương lai vào ngõ cụt tụt hậu, cả về kiến thức lẫn nhân cách, đi đâu cũng bị thế giới rẻ khinh. Và khi đủ suy nghĩ, chính chúng sẽ khinh bỉ chúng ta vì đã không dám có những chọn lựa theo lương tâm vào lúc này. Ai cũng có thể cảm thông với các hối tiếc mất quyền lợi, dù ít dù nhiều, của người đảng viên ĐCSVN cấp thấp. Nhưng nếu nhìn xa hơn vào tương lai, chúng ta sẽ thấy trong một xã hội phát triển tự do, công bằng, pháp quyền thì mức thu nhập bình thường của một người làm việc miệt mài với sức lực và trí tuệ của mình đều dễ dàng hơn hẳn loại lợi lộc nho nhỏ gắn liền với thẻ đảng viên hiện nay, mà lương tâm chúng ta không còn bị dằn vặt vì đặc quyền đặc lợi đến từ vai trò thành viên của một tổ chức bất chính, sống nhờ các thủ thuật cướp bóc những người dân cùng khổ và nạo khoét tài nguyên quốc gia. Người Việt mình có câu "của phi nghiã sẽ không bền" và thường chỉ dẫn đến "của Thiên trả Địa" mà thôi. Thật vậy, đã biết bao nhiêu lần những món tiền nho nhỏ bạn nhận được từ Đảng chỉ để cộng vào làm quà hối lộ cho các thành viên cao hơn của Đảng. Còn nỗi băn khoăn lo ngại sẽ bị trả thù trong thời hậu cộng sản thì có lẽ nó phát xuất từ sự hiểu lầm mà thôi. Việc rời bỏ một tổ chức mang nhiều tội ác với dân tộc như ĐCSVN thì tuyệt đối không phải là một việc làm sai trái để rồi bị kết tội trong thời hậu cộng sản. Suy nghĩ đó chỉ có thể là bài bản hù dọa của Ban Tuyên Giáo mà thôi. Thực tế tại nhiều nước cho thấy trong giai đoạn hậu độc tài, những kẻ có tội bị mang ra xét xử đều là những kẻ đã phạm những tội hình sự trầm trọng khi họ cầm quyền. Còn những ai từ bỏ Đảng, không thi hành những chỉ thị ác độc từ trên đưa xuống, âm thầm báo trước cho các nạn nhân trốn đi, và kêu gọi các đảng viên khác sống đúng với lương tâm, đều được dân chúng biết ơn. Trong nhiều trường hợp, những con người đầy lương tâm này còn được dân chúng bầu vào các vị trí điều hành trong nền dân chủ mới. Bạn còn ngần ngại chưa dám dấn bước theo phong trào dân chủ vì cho rằng họ "lộn xộn" ư? Trước hết, nhận xét đó không sai đâu. Nhưng đề nghị chúng ta bỏ chút thời giờ tìm hiểu về quá trình tiến đến dân chủ của nhiều quốc gia trên thế giới. Những quốc gia có nền dân chủ lâu đời như Pháp, Anh, Mỹ, … đều đã phải đi qua cái giai đoạn mà bạn gọi là "lộn xộn" đó. Rồi đến những quốc gia tại Đông Âu như Ba Lan, Tiệp Khác, Hung Gia Lợi, Nam Tư, … cũng đều đi qua giai đoạn đó để có những xã hội công bằng, đầy công lý và nhân quyền như hiện nay. Gần với chúng ta hơn, những quốc gia Á Châu như Nam Hàn, Đài Loan, Indonesia, Thái Lan, Miến Điện, … đều đã hoặc đang đi qua giai đoạn "lộn xộn" đó. Một phần do bản chất của dân chủ, của đa nguyên. Một phần khác do người dân ở mỗi nước này cần có thời gian để làm quen với cách hành xử dân chủ. Và một phần vì tiến trình sản xuất ra những chính phủ dân chủ đúng nghĩa phải qua một số vòng lựa lọc. Ngược lại, cái gọi là ổn định của độc tài thực chất chỉ là sự ổn định giả tạo. Như bạn thấy, nó là nồi nước ngày càng sôi sục và hòn đá chận vung cứ ngày một lớn hơn ... cho tới ngày cái nồi nổ tung như tại tất cả các nước độc tài, dù là cộng sản hay không cộng sản. *** Nhưng nói gì đi nữa, cuối cùng quyết định lựa chọn vẫn hoàn toàn tùy thuộc ở bạn. Có người chọn con đường rời bỏ hẳn — rời bỏ hàng ngũ kẻ ác để đứng về phiá dân tộc. Có người chọn tiếp tục ở lại trong Đảng như 61 đảng viên kỳ cựu vừa ký tên vào lá Thư Ngỏ ngày 28/7/2014 vừa qua, để kêu gọi các đảng viên khác cùng lên tiếng đòi hỏi lãnh đạo Đảng phải công khai các hành động làm tổn hại đất nước trong quá khứ, ngưng ngay các việc ác trong hiện tại, và tháo gỡ các vòng kim cô trên đầu dân tộc để đi vào tương lai.   Khi đã bật ra tiếng lòng "chán ghét và khinh bỉ Đảng viên, khinh bỉ tổ chức Đảng" đến độ "Đéo mẹ. Giả dối không chịu được!" thì đã khá rõ bạn không còn chấp nhận ngồi yên chịu đựng nữa. Chúng ta cùng đứng lên đi, và mong có ngày được bắt tay bạn.   Nguồn: viettan.org
......

"Petrotimes và Nguyễn Như Phong là ngụy?"

(VNTB) - Petrotimes và Nguyễn Như Phong: Ai ngụy độc lập và ngụy dân tộc?   Thói thường, khi bí lối trong tranh luận, các “nhà báo mang chức năng bảo vệ” thường bám theo những lối mòn như người chết đuối vớ được cọc. Nhưng, họ không biết rằng đó là cách tự sát với môi trường thông tin hiện đại. Đó chỉ là lối mòn thường đi của những con thú ăn đêm thiếu sáng tạo mà thôi.     Ngựa quen đường cũ   Để chứng minh quyền con người, đảng CS và nhà nước Việt Nam thường đưa hiến pháp, pháp luật trưng ra đầy đủ, rồi thì thành tích xóa đói, giảm nghèo, rồi thì chiến tranh, hậu quả… Nhưng, những con số thống kê, những ví dụ, những “thành tích” được trưng dẫn nhiều khi chẳng nói lên được một điều gì về nhân quyền VN không bị chà đạp.   Để chứng minh quyền tự do tôn giáo, đảng CS và nhà nước Việt Nam trưng dẫn VN có bao nhiêu nhà thờ, bao nhiêu tôn giáo, bao nhiêu chùa được xây, bao nhiêu tín đồ và “các tôn giáo đều tốt đẹp dưới sự lãnh đạo của đảng… vô thần”. Để chứng minh quyền tự do báo chí, đảng CS và nhà nước Việt Nam chứng minh rằng thì đã có bao nhiêu tờ báo, bao nhiêu đài truyền hình, bao nhiêu phóng viên... Nhưng những điều đó không nói lên được rằng người dân có được mở miệng ở đó không, nó phục vụ ai, thì hầu như ít khi họ đề cập, bởi “Báo chí là công cụ tuyên truyền của đảng”. Có lẽ đây cũng là cách duy nhất mà đảng và nhà nước Việt Nam có thể dùng để chống chế những chỉ trích về việc vi phạm các quyền con người tối thiểu theo các định chế quốc tế. Điều đó cứ lặp đi, lặp lại như con vẹt đến mức nhàm chán mà họ không thấy cái “ngụy” của mình. Họ không hiểu rằng thực chất ở trong đó là gì thì thiên hạ đều biết. Điều đáng nói, đáng nể phục ở đây là họ cứ nói, ai không nghe mặc kệ, ai phản đối cứ việc, nói đến mức chính họ cũng tưởng là thật. Và sự thật hoang tưởng đó là cái mà họ tự hào. Hai bài viết trên tờ báo do Nguyễn Như Phong làm TBT vẫn với tư duy “ngựa quen đường cũ” như thế. Bài báo viết về Hội nhà Báo VN như sau: “Hội có trên 18.000 hội viên làm việc tại 800 cơ quan báo chí và Hội Nhà báo Việt Nam là tổ chức duy nhất được luật pháp, xã hội và cộng đồng quốc tế công nhận”. Có lẽ cần lưu ý điều này: Mới đây, khi đề cập về tự do tôn giáo ở VN, Báo cáo viên đặc biệt của Liên Hợp Quốc - ông Heiner Bielefeldt - đã được VN cho biết có một số nhóm tôn giáo đã được nhà nước cấp phép, đăng ký và coi đó như một biểu hiện về quyền tự do tôn giáo ở VN (!). Tuy nhiên, ông Heiner Bielefeldt đã chỉ rõ: “Việc thực thi quyền con người đối với tự do tôn giáo hay tín ngưỡng, bởi cá nhân và/hoặc trong một cộng đồng với những người khác, không thể diễn ra phụ thuộc vào bất kỳ hành vi công nhận hay phê duyệt hành chính cụ thể nào. Là một quyền phổ quát, tự do tôn giáo hay tín ngưỡng vốn có trong tất cả con người và vì thế có vị thế quy chuẩn cao hơn bất kỳ một hành vi hay thủ tục hành chính nào”. Nói cách khác, việc trưng dẫn mấy con số về đăng ký, về tổ chức được công nhận không làm rõ quyền tự do được tôn trọng, mà ngược lại chỉ càng nói lên thực trạng hạn chế quyền con người của công dân. Ngụy độc lập - Ai? Bài viết trên tờ Petrotimes do Nguyễn Như Phong làm TBT đặt tiêu đề “Ngụy độc lập”. Tuy nhiên, nội dung bài viết không nêu rõ, không chứng minh được như thế nào là “Ngụy độc lập” và ai ngụy độc lập ở đây. Thiết nghĩ vấn đề cần làm rõ là nơi này. Báo chí, bất kể là của ai, nhóm nào hoặc phe nhóm, đảng phái nào đi nữa, thì cũng cần một nền tảng cơ bản đó là Sự thật và Công lý để hành xử. Mặt khác, để hành xử được đúng tinh thần nền tảng đó, báo chí cần một vai trò độc lập nhất định để cất tiếng nói của mình mà không bị chi phối bởi lợi ích, quyền lực của một thế lực nào. Có vậy báo chí mới là một tổ chức thực sự có ích cho xã hội. Ngay cả C.Mác, ông tổ của Chủ Nghĩa Mác – Lenin mà các chế độ độc tài đang lấy làm “sợi chỉ đỏ” cũng đã viết như sau: "... muốn cho báo chí có thể hoàn thành sứ mệnh của mình thì trước hết cần phải không có áp lực nào từ bên ngoài vào, cần phải thừa nhận là báo chí có những quy luật nội tại của mình". (C.Mác và Ph. Ăng-ghen Toàn tập; Tập 1, tr.227). Ở đây, báo chí trong chế độ cộng sản được định nghĩa rất rõ ràng:“…là cơ quan ngôn luận của các tổ chức của Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, là diễn đàn của nhân dân”. (Trích Điều 1 – Luật báo chí). Ở đây, cái “áp lực từ bên ngoài vào” cho báo chí, chính là sự lãnh đạo tuyệt đối của đảng, là tính đảng với báo chí. Vậy thì khi Đảng đang ngày càng hiện rõ nét là một nhóm lợi ích, chứa cả “một bầy sâu” (cụm từ của ông Trương Tấn Sang), ăn cắp, tham ô, phá hoại từ trên xuống dưới của nhân dân, chỉ để đem “Chủ nghĩa Cộng sản: Của cải tuôn ra dào dạt, hưởng theo nhu cầu” cho một số cá nhân, thì nhân dân là những nạn nhân bị trấn lột, bị móc túi, liệu có thể có tiếng nói trên các tờ báo do nó lãnh đạo hay không? Khi báo chí tự nhận là “vì nhân dân phục vụ” nhưng đã tự tước quyền của dân được lên tiếng, chỉ nhằm phục vụ một nhóm người chi phối nó, thì chính khi đó nó được gọi là “Ngụy độc lập”. Còn những tờ báo, những nhà báo dám nói lên tiếng nói của người dân, dám lên tiếng cho sự thật mà không bị phụ thuộc vào bất cứ sự lãnh đạo bất nhân nào, thì đó mới là Độc lập thật sự – thưa anh Nguyễn Như Phong. Điển hình là tờ báo Petrotimes của ngành Dầu khí do Nguyễn Như Phong làm TBT. Thử hỏi: Đã bao giờ báo này dám mở miệng nói nửa câu đến những vụ tham nhũng, ăn cắp, phá hoại ngay trong ngành Dầu khí hay chưa? Xin thưa là chưa thấy. Hay vì ngành Dầu khí “trong sạch vững mạnh” đến mức không có chuyện đó? Xin thưa là không phải, ở đó có những vụ ăn cắp, tham ô đến cả trên 50 tỷ đồng, nghĩa là hơn 2 triệu đô la Mỹ. Vậy sao tờ báo này im re? Xin thưa là chính tờ bào này đang “Ngụy độc lập”, bởi làm sao dám mở miệng khi “mắc quai” – cái quai “lãnh đạo tuyệt đối”, và nhóm lợi ích ở ngành dầu khí này lại thuộc vào độc quyền của đảng. Còn tài sản quốc dân bị ăn cắp, bị tham nhũng không phải là “nhiệm vụ” của tờ báo này. Đó là Ngụy độc lập, thưa anh Nguyễn Như Phong. Ngụy dân tộc – Ai? Lớn hơn, là câu chuyện mấy năm gần đây, lãnh hải, lãnh thổ của Tổ Quốc đã và đang bị bọn bá quyền Trung Cộng xâm lược, ở đó ngành Dầu khí chịu tổn thất rất nhiều qua những vụ cắt cáp, mời thầu trong thềm lục địa Việt Nam, khoan thăm dò trên thềm lục địa Việt Nam… Nhưng, khi đó cũng như các trang báo khác “dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của đảng”, trang Petrotimes và tờ Năng lượng mới đều nín thinh như… mọt thóc?   Thậm chí, nhà văn Phạm Viết Đào còn phát hiện ra sự hèn hạ của tờ báo này khi âm thầm sửa bài viết về Tàu Bình Minh bị Trung Cộng cắt cáp. Ở đó, không phải là Trung Cộng “cắt cáp” như ban đầu nữa mà là “gây đứt cáp”, còn những câu lên án hành động đó bị cắt bỏ. Như vậy, đó là hành động nô lệ ngoại bang - phụng sự anh bạn vàng của đảng và là kẻ thù của Tổ Quốc và nhân dân. Khi đó, dù anh có kêu rằng anh độc lập, thì tự bản chất nó cũng chính là “Ngụy độc lập”– thưa anh Nguyễn Như Phong. Tệ hại hơn nữa, khi lòng dân sôi sục biểu lộ tình yêu Tổ Quốc trước họa xâm lăng, tờ báo của anh đăng bài thóa mạ, đổ tội rằng “Việt Tân gây rối” nhằm lấp liếm thái độ “Hèn với giặc, ác với dân”. Đó chính là Ngụy độc lập và ngụy dân tộc, thưa anh Nguyễn Như Phong. Cướp – giết – hiếp! Như vậy, trong một xã hội mà “chịu sự lãnh đạo tuyệt đối của đảng” thì có thể báo chí có còn là diễn đàn của nhân dân không? Dĩ nhiên là có, những câu chuyện về sex, về loạn luân, về suy đồi đạo đức mà dân gian tổng kết trong mấy chữ cướp – giết –hiếp thi nhau nở rộ trên mặt báo. Thế nhưng, khi cần ngăn chặn một số trang tin loan truyền tiếng nói của người dân, hoặc muốn kết tội họ, nhà nước Cộng sản vẫn cho rằng đó là để bảo vệ thuần phong mỹ tục – Đó chính là Ngụy độc lập, thưa anh Nguyễn Như Phong. Cuối cùng, để sáng tỏ hơn cái gì là Ngụy độc lập, chúng ta chỉ cần đọc những dòng này trên trang Đảng Cộng sản để hiểu cái “độc lập” và cái “ngụy độc lập” của những tờ báo được đảng lãnh đạo ra sao:“Với chức năng công cụ của công tác tư tưởng của Đảng, để báo chí thực hiện hoàn thành nhiệm vụ của mình, Đảng phải thông tin những vấn đề cần thiết cho báo chí một cách kịp thời và chính xác, coi thông tin cho báo chí cũng là thông tin cho toàn Đảng và cho xã hội. Được cung cấp các thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời là cơ sở để báo chí đảm bảo tính đảng”. Có lẽ đọc đến câu trên, thì chỉ cần đứa bé học lớp 3 cũng hiểu như thế nào là độc lập và ngụy độc lập là ở đâu. Và cũng vì thế, câu: “Họ muốn độc lập nhưng là độc lập thế nào? Ðộc lập với ai? Không lẽ là độc lập với nhân dân, với đất nước, với sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam giàu mạnh phồn vinh, công bằng dân chủ?” trong bài báo trên tờ báo của Nguyễn Như Phong làm TBT mới thật sự“Đúng là ngụy độc lập”. J.B Nguyễn Hữu Vinh Nguồn: Việt Nam Thời Báo -  ijavn.org
......

KẺ THÙ LỚN NHẤT CỦA ĐẢNG ... CHÍNH LÀ ĐẢNG

Ngoài người anh cả 16 chữ vàng và 4 tốt, xem ra đảng có quá nhiều kẻ thù: Đế quốc Mỹ, các nước tư bản, NGO, "phản động", diễn biến hòa bình, tham nhũng, lạm phát. Tưởng kẻ thù lớn nhất của đảng là dân, nhưng thật ra không phải. Theo tác giả, đó chính là đảng!   Một trong những điều người Việt Nam lo ngại nhất khi quan hệ với Mỹ là Mỹ có thể trở mặt bất cứ lúc nào, như đã từng làm với Việt Nam Cộng hòa trước năm 1975. Lo ngại này là chính đáng, vì nước nào cũng phải đặt lợi ích quốc gia họ lên trên tất cả (chỉ có vài nước là đặt một chủ nghĩa và một thứ tình anh em siêu ảo lên trên đầu). Nước Mỹ cũng chẳng sai gì khi bỏ rơi đồng minh để bảo vệ đất nước họ. Hình: Internet, tác giả tay cầm giấy   Nhưng bối cảnh hiện nay có lẽ thuận lợi hơn nhiều cho lãnh đạo Việt Nam, bởi lẽ lần đầu tiên trong lịch sử, và cũng là một trong những điểm độc đáo nhất của chính trị Việt Nam, họ có một cộng đồng người Mỹ gốc Việt rộng lớn ngay trong lòng nước Mỹ. 1,7 triệu công dân Mỹ gốc Việt, chiếm gần 0,6% dân số Mỹ, hầu hết vẫn còn tha thiết với quê hương, có ảnh hưởng vô cùng lớn đến quan hệ Việt - Mỹ. Lá phiếu của họ có thể chi phối chính trường và quan điểm của họ luôn luôn được lắng nghe. Bởi vậy, một trong những cách tốt nhất để kìm hãm các chính sách bất lợi cho Việt Nam từ phía Mỹ là chính phủ phải thân thiết được với cộng đồng người Việt ở Mỹ và thực lòng tôn trọng họ. Đảng cộng sản Việt Nam, lực lượng đang nắm chính phủ hiện nay, có làm được điều này không là một câu hỏi lớn, bởi để kết thân được với cộng đồng người Việt ở Mỹ, họ buộc phải đánh giá lại toàn bộ cuộc chiến tranh 1954-75, đánh giá lại Việt Nam Cộng hòa, đánh giá lại sự kiện hàng triệu người Việt bỏ nước ra đi sau năm 1975 và hàng trăm nghìn người đã chết tức tưởi trên biển. Làm thế nào để Đảng nói với đảng viên của họ, cựu chiến binh của họ và một bộ phận lớn nhân dân về tất cả những điều này? Làm thế nào để Đảng mở được lời xin lỗi? Vốn liếng chính trị lớn nhất của họ chính là cuộc chiến tranh được gọi là "chống Mỹ", cái mà phần lớn người Việt Nam ngày nay vẫn coi là công lao của Đảng. Từ bỏ được là không dễ. Thế mới bảo, kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình. Nguồn: blog.trinhhuulong.com
......

Giáo sư đem lại danh tiếng cho trường đại học?

Có người cho rằng không có giáo X kia thì ai biết đến đại học Y. Nói cách khác, họ cho rằng sự danh tiếng [nếu có] của đại học Y là nhờ vào danh tiếng [nếu có] của giáo sư X. Tất nhiên, chúng ta chỉ nói đại học ở VN (vì đại học nổi tiếng ở nước ngoài thì là một câu chuyện khác). Tôi nghĩ quan điểm “nhờ X thì Y mới nổi tiếng” là một sai lầm, nếu không muốn nói là ảo tưởng. Chúng ta phải hiểu “nổi tiếng” ở đây là có tiếng tốt, chứ không phải tiếng xấu. Tiếng tốt rất khó định lượng cho chính xác. Trường thì có tiếng về ngành kinh tế, nhưng kém với khoa học; trường thì vang danh về y khoa; lại có trường nổi tiếng trong nhiều lĩnh vực. Có trường sinh viên ra tìm việc làm dễ và nhanh, có trường tốt về cơ sở vật chất, lại có trường giỏi về nghiên cứu khoa học. Làm sao cân đo đong đếm các khía cạnh đó là một vấn đề nan giải. Người ta thường dựa vào các bảng xếp hạng đại học trên thế giới để đánh giá cái gọi là “nổi tiếng”. Có tên trong các bảng xếp hạng “Top 500” có thể xem là nổi tiếng. Chắc chắn không chính xác 100%, nhưng đại khái các bảng xếp hạng cũng phản ảnh khá đúng với cảm nhận của công chúng. Ví dụ như nói Mahidol University, ai cũng biết là ở Thái Lan và nổi tiếng; nói đến Stanford, ai cũng biết trường này ở Mĩ và nổi tiếng. Bảng xếp hạng do đó có thể xem là một dấu ấn gián tiếp (surrogate marker) của nổi tiếng. Không có đại học nào của VN là có tiếng trên trường quốc tế. Thật vậy, cho đến nay chẳng có bất cứ một đại học nào của VN nằm trong bảng xếp hạng danh tiếng của QS, THE, AWRU. Điều này dễ hiểu, bởi vì các đại học VN còn rất lu mờ trong nghiên cứu khoa học. Chẳng ai biết và cũng chẳng ai quan tâm đến đại học VN vì họ chẳng có đóng góp gì đáng chú ý cho khoa học và cho cộng đồng quốc tế. Ngay cả các đại học lớn trong vùng cũng chẳng xem các đại học VN ra gì, vì khoảng cách về nghiên cứu giữa họ và các đại học hàng đầu ở VN quá xa và càng xa theo thời gian. VN cũng chưa có một giáo sư hay một nhà khoa học nào đứng vào hàng các nhà khoa học “eminent” (lừng danh) trên thế giới. Dĩ nhiên, VN có vài nhà khoa học có tiếng trên thế giới trong chuyên ngành của họ, nhưng ngay cả trong chuyên ngành, cái “có tiếng” đó cũng chỉ là hạng trung bình hay trên trung bình một chút. Theo tôi biết, VN chưa có một nhà khoa học được mời diễn thuyết trong phiên họp khoáng đại của các hội nghị số 1 trong chuyên ngành. Điều này có lẽ không khó hiểu, vì VN cũng chỉ mới hội nhập quốc tế trong thời gian gần đây, và nghiên cứu khoa học cũng chỉ mới được quan tâm khi có người chỉ ra sự tụt hậu của VN trên trường quốc tế. Sự nổi tiếng của đại học VN, do đó, không phụ thuộc vào giáo sư ở VN. Nói đúng ra, như nói trên không có một đại học VN nào nổi tiếng trên thế giới, và giáo sư cũng chưa nổi tiếng trên thế giới, thì tích số của hai yếu tố phải là số không. Ở nước ngoài, có một số giáo sư Việt kiều nổi tiếng thật sự trong chuyên ngành của họ, nổi tiếng theo tiêu chí mà tôi mới đề cập ở trên. Nhưng tôi nói “một số”, chứ không nhiều như báo chí VN hay ảo tưởng. Bên cạnh một số giáo sư nổi tiếng đó, còn có nhiều giáo sư khác tuy không nổi tiếng nhưng họ có khả năng PR rất tốt trên báo chí VN và tự dưng họ trở thành nổi tiếng. Họ cũng là giáo sư ở nước ngoài, có thể từ các trường đại học danh tiếng nhưng phần lớn là xuất phát từ các trường làng nhàng. Họ có ý nguyện giúp VN, và khi về VN so với đồng nghiệp trong nước họ thấy mình cao hẳn lên. Từ đó họ ảo tưởng rằng mình là số 1 trên thế giới! Số này không nhiều, nhưng báo chí tung ca nhiều quá nên công chúng tưởng là nhiều. Các trường đại học VN rất muốn nâng cao “thương hiệu” của họ trên trường quốc tế, và cũng là cách góp phần đưa tên tuổi VN trong trường khoa học. Do đó, họ rất cần nghiên cứu khoa học, lĩnh vực mà họ yếu nhất. Từ đó, họ cần sự giúp đỡ và hợp tác của các giáo sư nước ngoài, kể cả giáo sư Việt kiều. Một số ít giáo sư Việt kiều có tâm về hẳn VN để làm việc, và họ thường âm thầm. Nhưng số nhiều giáo sư Việt kiều thì chỉ như “đi mây về gió”, lâu lâu nói chuyện trong seminar, ghé thăm như “cưỡi ngựa xem hoa” chứ chẳng giúp gì nhiều. Do đó, có trường theo mô hình “nhóm nghiên cứu” (research group) để giúp các giáo sư Việt kiều có lab và có cơ sở để hợp tác lâu dài cho dù là ở nước ngoài. Thế giáo sư Việt kiều có làm cho đại học VN nổi tiếng? Tôi nghĩ câu trả lời là KHÔNG. Một cây làm chẳng nên non. Cho dù một trường đại học có thể thu hút giáo sư Việt kiều nổi tiếng lừng danh hay nổi tiếng, thì sự hiện diện của giáo sư đó vẫn không thể giúp các đại học VN nổi tiếng được. Trường có tiếng về một lĩnh vực vẫn chưa thể nói là nổi tiếng được. Nổi tiếng đòi hỏi sự đồng bộ của nhiều lĩnh vực. Nói đến nổi tiếng theo cái nhìn của công chúng trong nước chắc người ta nghĩ đến ĐHQGHN và ĐHQGHCM. Nhưng nếu hỏi họ 2 đại học đó nổi tiếng về cái gì, thì có thể phần lớn chẳng ai trả lời được. Không trả lời được là vì cả hai trường chẳng có công trình khoa học gì để gọi là “nổi bậc”. Có thể nói tất cả các đại học VN đều như thế, trường nào cũng như trường nào về tiếng tăm trong khoa học, chưa có trường nào có công trình gọi là “flagship” để công chúng nhận ra dễ dàng. Do đó, tôi nghĩ sự có mặt của các giáo sư Việt kiều, cho dù là giáo sư danh tiếng, ở các đại học VN sẽ khó làm cho đại học nổi tiếng. Suy nghĩ kiểu “không có giáo sư X chắc chẳng ai biết đến trường Y” theo tôi là cực kì trẻ con đến bất ngờ. Tôi nghĩ các giáo sư Việt kiều chân chính không ai ảo tưởng rằng sự có mặt của họ sẽ làm đại học nổi tiếng; họ chỉ nghĩ góp một tay vào việc xây dựng thương hiệu cho đại học qua nghiên cứu khoa học và giảng dạy.   Nguồn: FB Nguyen Tuan
......

Tấm gương dũng khí của một nhà thơ

Hạnh Trần: Tặng các bạn câu chuyện về một tình yêu và bản năng tồn tại vô song trong bối cảnh lịch sử ngặt nghèo của Việt Nam. Một truyện hư cấu có giàu tưởng tượng đến đâu cũng không thể hay hơn Lời tự thuật của HỮU LOAN, tác giả "MÀU TÍM HOA SIM"   MÀU TÍM HOA SIM (Nguyên văn của tác giả) Nàng có ba người anh đi bộ đội Những em nàng Có em chưa biết nói Khi tóc nàng xanh xanh Tôi người Vệ quốc quân xa gia đình Yêu nàng như tình yêu em gái Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo mới Tôi mặc đồ quân nhân đôi giày đinh bết bùn đất hành quân Nàng cười xinh xinh bên anh chồng độc đáo Tôi ở đơn vị về Cưới nhau xong là đi Từ chiến khu xa Nhớ về ái ngại Lấy chồng thời chiến binh Mấy người đi trở lại Nhỡ khi mình không về thì thương người vợ chờ bé bỏng chiều quê…   Nhưng không chết người trai khói lửa Mà chết người gái nhỏ hậu phương Tôi về không gặp nàng Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối Chiếc bình hoa ngày cưới thành bình hương tàn lạnh vây quanh Tóc nàng xanh xanh ngắn chưa đầy búi Em ơi giây phút cuối không được nghe nhau nói không được trông nhau một lần Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím áo nàng màu tím hoa sim Ngày xưa một mình đèn khuya bóng nhỏ Nàng vá cho chồng tấm áo ngày xưa… Một chiều rừng mưa Ba người anh trên chiến trường đông bắc Được tin em gái mất trước tin em lấy chồng Gió sớm thu về rờn rợn nước sông Đứa em nhỏ lớn lên Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị Khi gió sớm thu về cỏ vàng chân mộ chí Chiều hành quân Qua những đồi hoa sim Những đồi hoa sim những đồi hoa sim dài trong chiều không hết Màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa Áo anh sứt chỉ đường tà Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau Chiều hoang tím có chiều hoang biết Chiều hoang tím tím thêm màu da diết Nhìn áo rách vai Tôi hát trong màu hoa Áo anh sứt chỉ đường tà Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu… Màu tím hoa sim, tím tình trang lệrớm Tím tình ơi lệ ứa Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím Tôi ví vọng về đâu Tôi với vọng về đâu Áo anh nát chỉ dù lâu… (1949, khóc vợ Lê Đỗ Thị Ninh) Hữu Loan   Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm 1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi – Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn , Đỗ Thiện và …tôi – Nguyễn Hữu Loan. Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất, bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà. Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: ” Em chào thầy ạ!” Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một “bà cụ non”. Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chổ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt ….. Có lần tôi kể chuyện ” bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành… Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ… Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: “Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu” Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi …..Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi:- Thầy có thích ăn sim không ?- Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuống sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ ... Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.- Thầy ăn đi.Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ:-Ngọt quá.Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế! Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì….tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo! Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi… lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi…Tôi quay đầu nhìn lại… em vẫn đứng yên đó … Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa. Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ … Chín năm sau, tôi trở lại nhà…Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em , hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp….Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm ” soạn kịch bản”. Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: ” yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”. Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay…lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết! Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ. Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại…..Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống. Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn … Dường như càng kềm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra: “Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội… Những em nàng có em chưa biết nói. Khi tóc nàng đang xanh…” Tôi về không gặp nàng…Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa… Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh. Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim. Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chỗ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa. Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu : “Chiều hành quân, qua những đồi sim… Những đồi sim, những đồi hoa sim.. Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết.. Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt…Và chiều hoang tím có chiều hoang biết…Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.” Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi” hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi! Đó là thời năm 1955 – 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cạn. Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng….Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông … Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chỗ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc? Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi … Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi. Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng. Sau năm 1956 , khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm! Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955. Lúc đó tôi còn là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học , lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa. Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền. Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chổ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông . Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng. Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói. Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ. Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó , bữa đói bữa no…. Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai, 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa! Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì. Năm 1988, tôi ” tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự. Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan. Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác, nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán. © Hữu Loan Nguồn: huynhngocchenh.blogspot.de
......

Về bài báo bị phạt trên Trí Thức Trẻ

Cuối tuần qua, câu chuyện về trang Trí Thức Trẻ bị đình bản vì bài “Gái miền tây và 3 chữ N” vẫn tiếp tục được tranh luận trên nhiều trang mạng tiếng Việt. miền Tây Nam Bộ gồm hơn 10 tỉnh với hàng chục triệu dân Theo gợi ý của một số bạn bè trên Facebook, tôi viết bài này để chia sẻ cách nhìn từ Anh Quốc, về chuyện tự do báo chí và cũng về cách ‘xử lý’ của nhà chức trách khi có chuyện tương tự. Đầu tiên là về chính ngôn từ trong bài viết khiến Trí Thức Trẻ bị đình bản và phạt tiền. Theo tôi, đấy chưa đủ tiêu chuẩn là một bài báo, cùng lắm là dạng ý kiến riêng, may lắm thì được đăng ở một trang blog cá nhân hoặc chia sẻ với bạn bè. Có lẽ cũng vì ở Việt Nam còn thiếu một định nghĩa, một tiêu chuẩn thế nào là ‘bài báo’, nên Trí Thức Trẻ đã đăng nó và gặp ‘vận hạn’ như các bạn đã biết. Nếu là bài báo dạng tin tức (news story), người viết phải nêu ra một thông tin gì đó mới mẻ, về một sự kiện, nhân vật nhất định. Nếu là bài phân tích (analysis), bình luận (commentary) thì cũng phải có căn cứ khoa học hoặc qua phỏng vấn, trích dẫn chuyên gia, nhà quan sát. Cứ cho là về mặt thể loại, bài "Gái miền Tây" tạm có đủ tiêu chuẩn là ý kiến (opinion piece) thì nó cũng hoàn toàn thiên lệch vì dựa trên ‘câu chuyện’ về một hai cô gái không tên nào đó. Về mặt đối tượng thì gộp cả triệu cô gái ở trên 10 tỉnh miền Tây Nam Bộ của Việt Nam vào một hai ví dụ để khen chê linh tinh không phải là ‘làm báo’ mà là kỳ thị vùng miền.   Văn phong và cách viết Nhưng điều đáng lo ngại là ở Việt Nam cho đến mấy ngày hôm qua, số người phê phán bài viết về cách khinh thường trí tuệ các cô gái miền Tây thì nhiều (chữ N thứ ba), mà ít người thấy cả hai chữ N kia cũng đầy vấn đề. Vì xét theo quan điểm văn minh, hiện đại, chuyện một thanh niên nam dùng các từ như ‘ngon’ để gọi phụ nữ là sai trái. Đấy là ngôn ngữ của vỉa hè, mang tính phân biệt nam nữ và ‘sexist’, tức là coi phụ nữ là đối tượng của bình phẩm mang màu sắc tình dục rõ rệt. Ở một công ty phương Tây chẳng hạn, nếu gọi đồng nghiệp nữ theo kiểu đó chắc nam giới sẽ bị kiện vì tội ‘sexual harassment’ bằng lời lẽ. Hơn nữa, gọi trẻ em 'ngoan' thì tạm được nhưng gọi phụ nữ là ‘ngoan’ cũng có hàm ý người nói kẻ cả, bề trên, đặc đầu óc phong kiến, không coi nữ bình đẳng với nam. Vì thế, nhiều bạn, kể cả các bạn nữ, đã hoàn toàn sai lầm khi cho rằng bài viết ‘khen’ các cô gái miền Tây Nam Bộ là ‘ngoan và ngon’. Theo tôi, cả ba chữ N đều có tính miệt thị và còn vô ý thức ở hai chữ đầu và thiếu văn hóa ở chữ thứ ba. Cả câu chuyện khiến người ta lo ngại về thái độ chung về nữ giới của rất nhiều thành viên trong xã hội. Tư duy 'macho' đó này là quá lỗi thời và các bạn cần biết rất nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang có nữ tổng thống, thủ tướng, bộ trưởng quốc phòng (như bà Ursula von der Leyen của Đức), và không có nghề nghiệp, vị trí gì là thuộc độc quyền của phái nam. Tự do và kiểm duyệt Nhưng việc đình bản và phạt báo vừa qua có liên quan gì đến tự do báo chí hay không? Theo tôi, về mặt kỹ thuật, việc phạt báo hay cấm đăng bài, xóa bài, căn cứ vào các quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay là bình thường. Nhưng nhìn rộng ra thì cả cơ chế quản lý báo chí đó lại có vấn đề. Cấm bài, cắt bài, phạt báo trên lý thuyết thuộc về phạm vi kiểm duyệt. Các bạn đừng nên nghĩ kiểm duyệt là xấu. Nước nào cũng kiểm duyệt ít nhiều văn hóa, truyền thông. Vấn đề chỉ là kiểm cái gì và duyệt cái gì, cơ chế ra sao mà thôi. Ở rạp chiếu phim bên Anh, sau quảng cáo, trước khi vào phim người ta luôn chiếu giấy chứng nhận - certificate của Hội đồng Điện ảnh Anh Quốc (BBFC) với dấu mang chữ PG trong khung hình tam giác màu vàng. Chữ ký của quan chức xét duyệt phim đó cũng hiện luôn trên màn hình. Anh Quốc chủ trương tự do thông tin nhưng cũng ngăn ngừa vi phạm Người ta kiểm duyệt phim ảnh căn cứ vào mức độ tình dục, bạo lực trong phim và xem phim phù hợp với lứa tuổi nào. Kể cả phim của Mỹ đã được xét duyệt bên đó, muốn chiếu tại Anh cũng phải qua cửa của Bấm BBFC. Với báo chí, nhất là báo mạng, Anh Quốc chủ trương tự do thông tin và thúc đẩy sáng tạo công nghệ mạng (online innovation) nhưng chính phủ vẫn ngăn các dạng phát hành vi phạm bốn dạng nội dung. Đó là nội dung vi phạm bản quyền (copyright infringement); tình dục người lớn (adult content – nhằm bảo vệ trẻ em); khủng bố (terrorism – ngăn các nhóm khủng bố dùng mạng Internet để tuyên truyền); và kích động hận thù (hate crime). Khi các trang web hay bài viết, nội dung này xuất hiện, chính quyền có thể yêu cầu nhà cung cấp dịch vụ (ISP) khoá trang lại hoặc khóa bài viết, nội dung âm thanh, hình ảnh, video đó. Nhưng trong các lĩnh vực khác, nhà nước không tự can thiệp mà để cho xã hội cùng hệ thống tư pháp độc lập giải quyết. Ví dụ là một cá nhân, bạn hoàn toàn có thể khiếu nại lên báo chí hoặc yêu cầu toà án ra án lệnh ngăn báo chí đưa tin, đăng ảnh mà bạn cảm thấy đang hoặc sẽ vi phạm đời tư, quyền riêng tư hoặc thấy bị xúc phạm. Rất nhiều siêu sao của giới ca nhạc, giải trí, thể thao đã chọn cách này để ngăn báo chí. Ngoài ra, không gian tự do để châm chọc, trêu đùa, thậm chí cười nhạo luôn rộng mở. Các sách in tiếu lâm bán đầy ngoài hiệu sách, về đủ mọi loại người, loại nghề. Bạn còn có thể mua cả bộ sách Bấm 'Xenophobes' Guides' trêu chọc, nêu tính xấu một cách đầy định kiến nhưng dí dỏm về các quốc gia và dân tộc châu Âu, châu Mỹ, cả Trung Quốc, Nhật Bản (chưa thấy Việt Nam). Trở lại bài viết tai tiếng trên Trí Thức Trẻ. Vì ở Việt Nam không có báo chí tư nhân, tự nhiên đây lại là chuyện ‘quốc gia đại sự’. Vì mọi tờ báo, ấn bản thông tin, đài phát thanh, truyền trình ở Việt Nam ở dưới có một cơ quan chủ quản nào đó thuộc chính quyền, nên quả bóng trách nhiệm cho mọi nội dung luôn rơi trở lại sân chính quyền. Trong khi nó chỉ nên là chuyện của những người cảm thấy bị xúc phạm gửi thư khiếu nại hoặc kiện tờ báo hay cá nhân tác giả mà cho đến nay vẫn ẩn danh. Hai bên có thể gặp nhau tại toà án nếu như toà ở Việt Nam được giao vai trò xét xử báo chí. Đằng này tất cả vẫn lại quay về điểm khởi đầu là bộ ngành có báo làm sai thì bộ ngành tự xử lý...chính mình hoặc cùng lắm là bộ này xử lý bộ kia nhưng vẫn cùng nằm trong chính phủ. Cũng vì thế, tranh luận về ‘tự do báo chí’ trong vụ việc này xem ra chưa phù hợp chừng nào cơ chế tam quyền phân lập và chế độ kiểm duyệt minh bạch với thông tin, báo chí được định hình ở Việt Nam. Nguồn: bbc.co.uk/vietnamese/blogs
......

Bước chuyển mới của quân đội Việt Nam?

Tiếp theo sau chuyến thăm của Thượng Nghị Sĩ John McCain, người dân Việt Nam một lần nữa lại vui mừng khi lần đầu tiên kể từ sau năm 1975 đến nay, Chủ Tịch Hội Đồng Tham Mưu Trưởng Liên Quân Mỹ, Đại Tướng Martin Dempsey sang thăm Việt Nam theo lời mời của Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội VN, Thượng Tướng Đỗ Bá Tỵ, theo công bố chính thức của Bộ Ngoại Giao VN. Nếu hai chuyến thăm viếng Việt Nam của Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ trước đây mang tính biểu trưng cho sự xích lại gần nhau về tổng thể giữa hai bên Việt-Mỹ thì chuyến thăm này của ông Dempsey sẽ cụ thể hóa sự xích gần nhau lại của quân đội hai nước. Về Mỹ thì không bàn, đối với quân đội Việt Nam, việc này có thể được coi như khởi đầu cho giai đoạn phá sản của lý luận “xem Mỹ là thù địch”. Và do đó, từ nay hệ thống tuyên huấn của Tổng Cục Chính Trị-Bộ Quốc Phòng VN nên bỏ bài giảng “chống diễn biến hòa bình của đế quốc Mỹ” trong công tác tuyên huấn cho quân nhân binh sĩ.   Sự chuyển dịch này của quân đội hai nước xích lại gần nhau dĩ nhiên cũng không thể “khởi nguồn từ chuyến đi Mỹ của ông Phạm Quang Nghị” mà là kết quả lâu dài và là chỉ dấu cho thấy xu hướng cải cách trong Đảng CSVN đã chiếm ưu thế. Xin trình bày qua một số nét chính để độc giả nhận diện cụ thể hơn. Chuyện về các ông tướng   Sau 1975, quan hệ Việt-Trung xấu đi, và căng thẳng biên giới kéo dài. Một trong những người lính lăn lộn hơn 15 năm ở vùng biên giới khi đó là nhân vật chính trong cuộc đón tiếp ông Dempsey ngày hôm nay, Thượng Tướng Đỗ Bá Tỵ, Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng - Tổng Tham Mưu Trưởng QĐ Việt Nam. Có thể nói rằng sự thăng tiến đến vị trí hôm nay của Tướng Tỵ là nằm trong kế hoạch “tách bớt ảnh hưởng từ Trung Quốc vào quân đội” của người đứng đầu nhóm cải cách, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Dường như sau “vụ nổ sập tường nhà riêng ở Hà Nội” năm 2007 mà dư luận cho rằng “do tình báo Trung Quốc thực hiện”, ông Nguyễn Tấn Dũng lo ngại rằng một vụ đảo chính có thể xảy ra nên đã chủ động bãi chức hết 5 ông tướng ở quân khu Thủ Đô, và thay vào đó bằng các tướng lĩnh thân tín nhằm siết chặt an ninh cho chính phủ VN??? Song song đó, một loạt sự cải cách trong quân đội để giảm vị thế của “nhóm tướng lĩnh thân Trung Quốc” cũng được thực hiện, từ năm 2007 trở đi, các “công thần” trong cuộc chiến năm 1979 bắt đầu được trọng dụng. Như tướng Đỗ Bá Tỵ thăng lên Tư Lệnh Quân Khu 2 rồi Tổng Tham Mưu Trưởng, hay tướng Lê Hữu Đức sang nắm tư lệnh không quân, là những ví dụ dễ thấy. Sự cải cách này cũng đi thẳng vào một đơn vị mà từ lâu dư luận xì xào “hình như Trung Quốc nắm quyền chi phối”, đó là Tổng Cục 2 - Tổng Cục Tình Báo Quân Đội. Chuyện nội bộ nhà binh thì khó ai rõ trừ người trong cuộc, nhưng bức thư góp ý của Tướng Võ Nguyên Giáp cùng liên danh gần 40 tướng tá cao cấp cho thấy thông tin là tướng Nguyễn Chí Vịnh, nắm chức Tổng Cục Trưởng Tổng Cục 2 năm đó đã có nhiều “sai lầm về an ninh quốc gia, mất cảnh giác để Trung Quốc chi phối” là có cơ sở???   Đến năm 2009, nhóm cải cách gây dựng vây cánh trong quân đội đã tạm ổn, bắt đầu xử lý vấn đề tổng cục 2 bằng cách “thăng chức cho tướng Nguyễn Chí Vịnh lên thứ trưởng phụ trách đối ngoại”. Quyết định này đã gây nhiều chỉ trích, nhưng tinh ý sẽ thấy ra sự thăng chức này thực ra là làm tước bớt quyền lực của tướng Vịnh mà không gây ra “cơn địa chấn trong quân đội”. Từ tư lệnh tình báo đầy quyền sinh sát, tướng Vịnh trở thành thứ trưởng “không quân” và sau đó chỉ còn tham gia vào việc đi lại với quân đội các nước Mỹ, Ấn Độ, Thái Lan… Thậm chí chương trình “đối thoại cấp thứ trưởng quốc phòng hàng năm” do tướng Vịnh và đồng nhiệm TQ đưa ra từ năm 2009 (sau khi tướng Vịnh hết nắm tổng cục 2) cũng đã bị ông Trương Tấn Sang chấm dứt năm 2013. Năm 2012 nhóm cải cách đi tiếp một quân cờ nữa, đưa tướng Đỗ Bá Tỵ từ Quân Khu 2 về nắm bộ tổng tham mưu, để bắt đầu chiến dịch “thoát Trung cho quân đội”. Đến lúc này thì chỉ còn các chức danh Bộ Trưởng Quốc Phòng và Chủ Nhiệm Tổng Cục Chính Trị là không do nhóm cải cách sắp xếp, còn lại thì đa số các chức vụ chỉ huy trung cấp trong quân đội đều do Tướng Tỵ sắp xếp. Một ví dụ dễ thấy là gần đây, Trung Tướng Phan Văn Dỹ, chính ủy quân khu 7, đã đi nhiều nơi phát biểu về “chống Trung Quốc”. Tướng Dỹ còn nói “mua thêm tàu chiến là để bảo vệ Hoàng Sa-Trường Sa”.   “Nín thở qua sông” Sự “rục rịch” của nhóm cải cách trong quân đội Việt Nam làm Trung Quốc “không hài lòng”. Từ năm 2007 trở đi ta thấy Trung Quốc gây áp lực để Việt Nam quy phục lại bằng cách gia tăng bắt giữ tàu cá, cắt cáp thăm dò dầu khí….cũng là có một phần mục đích nhằm để giảm bớt đà cải cách quân đội Việt Nam của nhóm thủ tướng. Cao trào nhất là vào năm 2012, Tập Cận Bình trong tư thế “người kế vị” cùng Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội TQ - Tướng Triệu Bỉnh Đức, đã “mời” thượng tướng Đỗ Bá Tỵ qua thăm với mục đích “phủ dụ và huấn thị”. Ý thức được cần “lùi một để tiến hai”, tướng Tỵ khi ở Trung Quốc đã không tiếc lời ca ngợi quan hệ giữa hai đảng, hai quân đội và hứa sẽ “tiếp tục thúc đẩy và nâng tầm quan hệ quân đội hai bên”. Bài “nín thở qua sông” của tướng Tỵ đã thành công, ru ngủ được cả Trung Quốc và phe thân Tàu trong Đảng CSVN, nhưng sau đó tướng Tỵ âm thầm chuẩn bị cho chương trình đi Mỹ hội kiến tướng Martin Dempsey năm 2013. Bên cạnh đó nhóm của tướng Tỵ còn thúc đẩy giao lưu, tập huấn, đào tạo của quân đội Mỹ dành cho quân đội VN, cũng như quan hệ với quân đội các nước Asean khác cũng tiến mạnh. Các nhà quan sát ít chú ý những chuyện nhỏ nhưng là những chỉ dấu của các “quan hệ ủng hộ nhau của nhóm cải cách”. Một ví dụ tiêu biểu là khi dư luận ồn ào về việc con gái thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ( Nguyễn Thanh Phượng) đứng sau vụ Văn Giang – Ecopark để “cướp đất của dân”, thì chính nhóm tướng Tỵ đã trưng ra một số tài liệu cho thấy con gái của Ba Dũng không liên quan đến vụ này. Năm 2013, có những luồng dư luận ồn ào về việc sửa hiến pháp theo hướng “phi chính trị hóa quân đội” làm nhóm bảo thủ lo ngại. Cao trào nhất là việc Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng phải lên tiếng “phi chính trị hóa quân đội là suy thoái lý tưởng XHCN”. Liệu tướng Tỵ có liên quan gì vào không, khi mà trên website “tự công bố là chính thức”- www.dobaty.net đều không hề có dấu hiệu nào về cờ đỏ búa liềm hay các tuyên huấn của đảng như website của các ủy viên TW đảng khác. Thay vào đó là các tin về hoạt động của chính phủ và các bài viết mang tư tưởng tiến bộ xã hội.   Tướng Tỵ còn một cú “ghi bàn” trong sự kiện giàn khoan HY-981. Khi đó Campuchia, sau chuyến thăm của Tổng Tham Mưu Trưởng QĐ Trung Quốc Phòng Phong Huy tháng 5/2014, đã “im lặng” về vấn đề giàn khoan. Tháng 06/2014, sau chuyến đi Campuchia của tướng Tỵ, Campuchia ngay sau đó cũng lên tiếng ủng hộ VN. Cũng trong thời kỳ giàn khoan, các hoạt động nhộn nhịp về ngoại giao quốc phòng của VN với các nước Asean khác như Philippin, Indonesia cũng do tướng Tỵ xúc tiến và chủ trì. Tương lai Quân Đội Việt Nam Như vậy có thể thấy rõ, chiến lược “thoát Trung” trong quân đội và quan hệ quân đội Việt-Mỹ có những bước khởi đầu “sang trang” như hôm nay là thành quả của một kế hoạch lâu dài của hai bên. Việc ngày hôm nay đón Đại Tướng Martin Dempsey sang Việt Nam là thành quả của một xu thế “thoát Trung” ở quân đội của nhiều tướng lĩnh Việt Nam trong nhóm cải cách. Họ đã tận dụng sự “phân công” của Bộ Chính Trị để âm thầm phát triển thế lực nội bộ, định hướng thế cuộc theo hướng có lợi cho nhóm mình, chứ không phải “do ông Nghị sang Mỹ” như nhóm bảo thủ đang cố gắng tuyên truyền để “tranh công” và lấy uy tín với nhân dân. Hi vọng rằng với đà đi lên của tư duy dân chủ pháp trị theo xu thế chung của quốc tế, hình ảnh tương lai của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam sẽ mang dáng dấp theo kiểu “website tự công bố là chính thức của Tướng Đỗ Bá Tỵ”. Không “mang theo” các tuyên huấn của đảng hay chút dấu ấn nào của cờ đỏ búa liềm. Quân Đội là phải thế, chỉ chiến đấu và hi sinh vì quốc gia, vì bảo vệ dân tộc, không nên và không thể là công cụ của bất kỳ đảng phái chính trị nào. _______________ Tư liệu dùng trong bài viết:http://www.navytimes.com/article/20140814/NEWS05/308140057/Dempsey-first...https://nr-029.appspot.com/www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/0...http://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Ch%C3%AD_V%E1%BB%8Bnhhttp://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%97_B%C3%A1_T%E1%BB%B5http://nguyentandung.org/tong-tham-muu-truong-do-ba-ty-hoi-kien-pho-chu-...http://www.diendan.org/viet-nam/38-tuong-linh-va-lao-thanh-len-an-nguyen...http://dobatyvn.blogspot.com/http://baodatviet.vn/quoc-phong/quoc-phong-viet-nam/tuong-do-ba-ty-sang-...Nguyễn An Dân Nguồn: Trí Nhân Media
......

Nhân Quyền Và Vũ Khí Sát Thương (Lethal Weapon)

Trong thời gian vừa qua, sau vụ giàn khoan HD 981 của Trung Cộng, nhiều chính giới Hoa Kỳ đã lên tiếng về nhu cầu tháo bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương đối với Việt Nam. Thượng Nghị sĩ John McCain của đảng Cộng Hòa và Thượng Nghị sĩ Sheldon Whitehouse của đảng Dân Chủ đã vào tận Việt Nam, tổ chức cuộc họp báo tại Hà Nội vào ngày 8/8 vừa qua để nói về viễn cảnh mới của quan hệ Mỹ Việt chuẩn bị đánh dấu 20 năm (1995-2015) bình thường hóa quan hệ ngoại giao. Mặc dù ông McCain có đề cập đến thành tích tôn trọng nhân quyền của Hà Nội sẽ ảnh hưởng rất lớn vào mối quan hệ Việt Mỹ trong thời gian tới; nhưng nhiều chỉ dấu cho thấy là giới lãnh đạo Hoa Kỳ, đặc biệt là Tổng thống Obama đang có những chuẩn bị dư luận nhằm bãi bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương cho Hà Nội vào tháng 9 tới đây.   Cấm Vận Vũ Khí Tuy Cộng sản Việt Nam không nằm trong danh sách 5 quốc gia bị cấm mua vũ khí của Hoa Kỳ là Cuba, Iran, Sudan, Syria và North Korean; nhưng CSVN đã bị Hoa Kỳ ban hành lệnh cấm vận ngay sau khi cưỡng chiếm miền Nam vào tháng 4/1975 nên cũng bị cấm mua vũ khí của Hoa Kỳ. Mặc dù Tổng thống Bill Clinton đã bãi bỏ lệnh cấm vận vào tháng 2 năm 1994, nhưng CSVN vẫn tiếp tục bị cấm mua vũ khí vì đã vi phạm nhân quyền trầm trọng. Nói cách khác, tình trạng đàn áp nhân quyền của CSVN là lý do khiến cho Hoa Kỳ cấm vận vũ khí, đặc biệt là từ năm 1994 cho đến nay. Năm 2007, dưới thời Tổng thống Bush (con), Hoa Kỳ đã nới lỏng lệnh cấm nói trên khi cho phép bán vũ khí phi sát thương (non-lethal arms) đối với CSVN. Trong năm 2010 và 2011, Trung Cộng bắt đầu xâm phạm thềm lục địa Việt Nam, cắt cáp tàu Bình Minh và tấn công thô bạo vào thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam. Ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng CSVN và cả Tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Quốc phòng CSVN đã chính thức yêu cầu Hoa Kỳ bãi bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam nhân chuyến viếng thăm Việt Nam của ông Leon Panetta, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ vào tháng 6 năm 2012. Lúc đó, CSVN muốn mua ngay một số thiết bị tuần dương như Radar, thiết bị phát âm thanh tầm xa (LRAD) vân, vân... nhưng Hoa Kỳ không mấy quan tâm. Lý do mà Hoa Kỳ đưa ra là không hài lòng về thái độ coi thường các cam kết tôn trọng nhân quyền của Hà Nội qua những cuộc đối thoại nhân quyền hàng năm và nhất là gia tăng đàn áp đối với những người Việt Nam yêu nước chống Trung Cộng kể từ năm 2011. Bỏ Cấm Vận Sự ngang ngược của Trung Cộng khi mang giàn khoan HD 981 vào sâu trong thềm lục địa Việt Nam vào tháng 5/2014 vừa qua đã làm thay đổi quan điểm về mối quan hệ của cả phía Hoa Kỳ lẫn Cộng sản Việt Nam. Mặc dù cho đến nay, Hà Nội chưa biểu hiện bất cứ sự thay đổi quan hệ nào đối với Trung Quốc; nhưng sau vụ giàn khoan HD 981, bộ chính trị CSVN không còn là khối thuần nhất với chủ trương ôm chặt Bắc Kinh như quá khứ mà đã hình thành một khuynh hướng muốn tìm đến Hoa Kỳ và Nhật Bản để cân bằng các ảnh hưởng. Những phê phán Trung Quốc hơi mạnh bạo của ông Nguyễn Tấn Dũng, những khẳng định mang tính ba phải về chủ quyền của ông Nguyễn Phú Trọng trong thời gian xảy ra vụ giàn khoan và nhất là chuyến đi Mỹ đột ngột của ông Phạm Quang Nghị sau khi Bắc Kinh rút giàn khoan HD 981 ra khỏi lãnh hải của Việt Nam, cho thấy là bộ chính trị CSVN đang có những dự tính thay đổi thế trận. Thế trận đó chưa định hình, nhưng nhiều phần là khuynh hướng muốn đi gần với Hoa Kỳ và Nhật Bản sẽ có tiếng nói trong các thảo luận tái định hình mối quan hệ với Trung Cộng, chấm dứt thời kỳ “vừa là đồng chí, vừa là anh em” từ năm 1990 cho đến nay. Nhiều phần trong Hội nghị trung ương đảng lần thứ 10 tới đây, lãnh đạo CSVN sẽ định hình mối quan hệ giữa CSVN – Trung Cộng – Hoa Kỳ trong đó vấn đề nộp đơn kiện Trung Quốc lên Tòa trọng tài quốc tế Liên Hiệp Quốc về Luật Biển sẽ chi phối rất lớn các quyết định của Hà Nội. Trong khi đó, giàn khoan HD 981 đã cho phép Hoa Kỳ đẩy mạnh tiến trình xoay trục, qua sự hình thành liên minh chống Trung Cộng tại Á Châu. Liên minh này hiện có các đồng minh của Hoa Kỳ gồm Nhật Bản, Nam Hàn, Phi Luật Tân và Úc Châu. Đây có thể coi là liên minh bao vây Trung Cộng đầu tiên ở Á Châu kể từ năm 1972 khi Hoa Kỳ nối lại bình thường hóa bang giao với Bắc Kinh. Liên minh này không thể thiếu sự hợp tác “dưới một hình thức nào đó” của Cộng sản Việt Nam và đó là lý do mà các nhà chiến lược Hoa Kỳ và Nhật Bản đã tìm cách tranh thủ Hà Nội. Từ năm ngoái, Nhật Bản đã giúp cho lực lượng cảnh sát biển 4 chiếc tàu kiểm ngư và hứa sẽ huấn luyện về các kỹ năng phòng vệ biển. Hoa Kỳ giúp 18 triệu Mỹ Kim cho cảnh sát biển CSVN mua 5 tàu tuần tra cao tốc và hai bên đã ký một biên bản chung về hợp tác hàng hải – cảnh vệ duyên hải. Muốn CSVN đi gần với liên minh chống Trung Cộng, việc Hoa Kỳ tháo bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương đối với CSVN chỉ còn là thời gian. Bài Toán Nhân Quyền. Tổng thống Obama không thể bỏ lệnh cấm vận vũ khí đối với CSVN mà không có sự ủng hộ từ lưỡng đảng trong Quốc hội. Vì thế việc bãi bỏ này sẽ diễn ra như sau: -Thứ nhất là phía CSVN phải đáp ứng một số thiện chí tôn trọng nhân quyền. Cụ thể là phải trả tự do cho một số tù nhân lương tâm đang bị giam giữ theo danh sách mà Hoa Kỳ thường đưa ra trong các cuộc đối thoại nhân quyền như Blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, anh Trần Huỳnh Duy Thức, Luật sư Lê Quốc Quân v, v... -Thứ hai là phía Hoa Kỳ sẽ không bãi bỏ toàn bộ lệnh cấm vận mà sẽ chỉ diễn ra từng phần dựa trên những thành tích tôn trọng nhân quyền của CSVN sau đó như phát biểu của Thượng Nghị sĩ John Mc Cain. Nói cách khác là tuy Hoa Kỳ bỏ lệnh cấm vận nhưng sẽ quyết định những loại vũ khí hay trang thiết bị quân sự nào bán và không bán tùy theo các thiện chí tôn trọng nhân quyền của Hà Nội. Giống như việc Tổng thống Bill Clinton tuyên bố bãi bỏ cấm vận CSVN vào tháng 2 năm 1994 nhưng mãi đến 4 năm sau vào năm 1998, Hoa Kỳ mới lần đầu tiên quyết định bãi bỏ một phần việc áp dụng điều khoản Jackson - Vanik, trong việc hạn chế giao dịch thương mại đối với Việt Nam.   Những Nỗ Lực Cần Có Biến cố giàn khoan HD 981 đã làm thay đổi cái nhìn của thế giới về lãnh đạo Bắc Kinh, lãnh đạo Cộng sản Việt Nam và nhất là về tương lai nền hòa bình trên biển Đông. Tuy CSVN đang là đối tác của Hoa Kỳ và Nhật Bản trong sự hình thành liên minh chống Trung Cộng hiện nay; nhưng đây không phải là đối tác vững bền vì Hà Nội đang bị hai áp lực sinh tử. 1/Từ quan thầy Phương Bắc. Bắc Kinh không dễ dàng để cho Hà Nội bám vào Hoa Kỳ và Nhật để chống lại họ, đặc biệt Bắc Kinh sẽ sử dụng các tay chân mà họ đã trồng sâu và cao trong nội bộ lãnh đạo đảng CSVN để phá hoại tối đa. 2/Từ hơn 90 triệu người Việt ở quốc nội và hơn 3 triệu người Việt hải ngoại. Dân tộc Việt Nam sẽ không để cho CSVN tiếp tục rao bán chủ quyền quốc gia để giữ ghế cai trị bằng mọi giá. Qua những điểm nêu trên, chúng ta cần thấy rằng việc bãi bỏ hay duy trì lệnh cấm vũ khí sát thương đối vối Hà Nội hiện nay không còn là điều then chốt. Quan trọng là dân tộc Việt Nam phải khai thác thực tế "đồng sàng dị mộng” giữa Washington và Hà Nội như thế nào. Có lẽ 3 nỗ lực sau đây cần được xếp ưu tiên cao nhất: Một là gia tăng áp lực để đòi buộc CSVN phải cải cách dân chủ, đặc biệt là phải tôn trọng các quyền con người. Giai đoạn hiện nay rất khó cho Hà Nội giở trò đàn áp nặng nề. Hai là vận động chính giới Hoa Kỳ gia tăng áp lực lên Hà Nội phải chứng minh thiện chí bằng việc thả ngay những người Việt yêu nước, những nhà vận động cho dân chủ và nhân quyền đang bị giam giữ trong tù ngục. Hà Nội cũng phải chấm dứt ngay mọi ý đồ dàn cảnh, đàn áp, bắt bớ những người mới. Ba là hợp tác với các dân tộc Phi Luật Tân, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Mã Lai để cùng liên kết trong mặt trận phòng thủ chung tại biển Đông.   Dân tộc Việt Nam là dân tộc yêu quí hòa bình nhưng cũng sẵn sàng bảo vệ đất nước bằng mọi giá. Lịch sử 5000 năm của dân tộc này đã chứng minh điều đó. Dân tộc Việt Nam mong ước hợp tác với mọi quốc gia khác để duy trì hòa bình và cùng thăng tiến nhưng cũng sẽ có thái độ rõ ràng đối với mọi bàn tay ngoại bang nhằm giúp duy trì độc tài trên đất nước này. Lý Thái Hùng 18/8/2014
......

Điều gì sẽ xảy ra?

Điều gì sẽ xảy ra khi Mỹ đồng đồng hành cùng chế độ Cộng Sản và phong trào đấu tranh dân chủ tại Việt Nam? Vài ngày qua, sự kiện đại tướng quân đội Hoa Kỳ là Martin Dempsey sang thăm Việt Nam đã đánh dấu một mốc quan trọng trong chương trình Mỹ tiến tới hợp tác toàn diện với Việt Nam, nhất là về quân sự, đặc biệt trong lĩnh vực hải quân.   “Việt Nam” ở đây chính là nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam, là Nguyễn Tấn Dũng, Phùng Quang Thanh, Nguyễn Chí Vịnh – những kẻ tai to mặt lớn, nắm quyền sinh sát của chế độ hiện nay – những kẻ đã đại diện Việt Nam tiếp đón và hội đàm cùng đại tướng Martin. Tác giả Lê Nguyên Hồng Một điều không thể chối bỏ từ phía Mỹ đó là: Mỹ không thể làm ngơ trước việc quyền lợi của mình và của các đồng minh ở Châu Á có nguy cơ bị xâm hại từ thế lực Trung Cộng, và vị trí địa lý của Việt Nam là đặc biệt quan trọng trong chiến lược phòng thủ của Mỹ tại Châu Á. Người ta có thể đặt ra câu hỏi, “Mỹ có yêu chế độ Cộng Sản hay không?” và đương nhiên một câu hỏi khác đặt ra là, “Mỹ có muốn có dân chủ (ở Việt Nam) hay không?” Câu trả lời (của rất nhiều người Việt) sẽ là: Mỹ không yêu Cộng Sản cũng chẳng mến dân chủ ở Việt Nam. Họ chỉ làm những gì có lợi cho bản thân họ và đồng minh mà thôi.   Ảnh minh họa Hiện nay chế độ Cộng Sản Việt Nam đã buộc phải bắt tay với Mỹ để chống Trung Cộng. Nhưng mặt khác họ cũng rất lo ngại Mỹ hậu thuẫn cho phong trào đấu tranh dân chủ Việt Nam. Qua tin rò rỉ từ Wikileaks và từ những người như điệp viên đào tẩu Snowden trong những năm qua, người ta biết rằng, nhiều thập kỷ qua, bằng những tổ chức trung gian, Mỹ vẫn ngầm hỗ trợ đối kháng chống độc tài tại rất nhiều quốc gia từ Đông Âu, Phi Châu, Trung Đông cho đến Việt Nam… Khoảng 5 năm trở lại đây phong trào dân chủ Việt Nam đã có những chuyển biến tương đối rõ nét. Có được điều đó là do nhu cầu đấu tranh nội tại ngày một gia tăng, nhưng cũng không thể không nhắc đến yếu tố quan trọng nhất đó là sức mạnh chính trị và tiền bạc từ người Mỹ. Về mặt chính trị, bằng con đường vận động hành lang ngoại giao, Hoa Kỳ đã gây áp lực buộc nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam phải cải thiện dân chủ, trả tự do cho một số nhà đối kháng đang bị cầm tù như Trần Khải Thanh Thủy, Cù Huy Hà Vũ, Phương Uyên, Đỗ Thị Minh Hạnh v..v… Trong những hành động đó, cả phía Mỹ và chế độ Cộng Sản Việt Nam đã cùng thắng, nếu như không muốn nói đầy đủ là “ba bên cùng thắng”, vì đó cũng là một trong những thắng lợi của phong trào đấu tranh dân chủ Việt Nam. Hơn lúc nào hết, hiện cả hai phe Cộng Sản và chống Cộng đều đang cần dựa vào người Mỹ. Đối với nhà cầm quyền Cộng Sản, cả thế giới đều nhìn thấy là họ đang cố gắng dựa vào Mỹ để tồn tại. Nhưng còn phe chống Cộng Sản, họ dựa vào người Mỹ như thế nào? Là một người đấu tranh chống Cộng Sản hoạt động độc lập trong nước từ năm 2003; sau này chạy sang Thái Lan gần 5 năm, nay lại đang sống ở Úc, qua tiếp xúc với rất nhiều thành phần đấu tranh tại hải ngoại, tôi biết rõ: Phong trào đối kháng trong nước tồn tại được đều nhờ người Mỹ. Cơ sở nào để nói như vậy? Thứ nhất, bằng con đường phi chính phủ, Mỹ (tôi đã dùng từ “Mỹ” từ đầu bài viết, chứ không nói “chính phủ Mỹ”) đã ngầm tài trợ cho một số tổ chức chống Cộng có thực lực ở nước ngoài, cụ thể là các tổ chức được đánh giá “làm được việc” hoặc ít nhất là “có cố gắng làm việc”. Những tổ chức đó đã triển khai được một thế trận đấu tranh tại Việt Nam. Một điều không thể bác bỏ khác, đó là: Bằng hình thức này hay hình thức khác, tất cả các hội đoàn đối kháng trong nước đều “sống” được là do tiền tài trợ thông qua các tổ chức yểm trợ đấu tranh hải ngoại. Tiền của các tổ chức hải ngoại vừa kể lại đến từ hai nguồn: Từ người Mỹ như đã nói, và từ sự đóng góp của các công dân Mỹ (Úc, Canada, Châu Âu…) gốc Việt. Cũng phải giải thích rằng chuyện đối kháng “sống” được trong chế độ Cộng Sản Việt Nam là điều khó khăn vì các thành viên đều bị o bế kiềm tỏa, phá hoại về kinh tế, do chính sách đàn áp của nhà cầm quyền. Chỗ dựa chính của họ chính là nguồn tài chính từ hải ngoại. Một câu hỏi đặt ra là: Mỹ có bình đẳng trong quan hệ với cả hai phe, nhà cầm quyền và phe đấu tranh đối kháng tại Việt Nam hay không? Chắc chắn là có! Nhưng cái cần quan tâm nhất đối với người Mỹ đó vẫn là quyền lợi của họ và đồng minh. Chính vì điều này Mỹ phải đặt quan hệ với nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam lên hàng đầu vì hiện nay chỉ họ mới có thể đáp ứng được các yêu cầu chiến lược cấp bách của Mỹ. Nhưng có lẽ người Mỹ sẽ chỉ ủng hộ phong trào đấu tranh dân chủ tại Việt Nam ở mức độ nào đó vì nhiều lẽ. Bài học đau đớn Việt Nam Cộng Hòa năm xưa người Mỹ không thể quên: Họ đã tốn hàng núi Dollas chỉ để tạo được một thể chế gia đình trị lạc hậu trong Đệ nhất VNCH; do Mỹ hậu thuẫn, sống nhờ tài chính Mỹ nhưng lại không chịu làm theo ý đồ chiến lược của Mỹ. Sau này Đệ nhị VNCH cũng lại trượt theo “vết xe đổ TT Ngô Đình Diệm” và trong khủng hoảng chính trị bởi nguy cơ đảo chính thường trực… Vậy lấy gì để người Mỹ tin rằng, nếu giả sử như chế độ thối nát Độc tài Cộng Sản Việt Nam hiện nay bị lật đổ thì chế độ tiếp sau nó có hoàn toàn thân Mỹ như Nhật Bản, Hàn Quốc hay không. Điều này người Mỹ biết rõ vì bản thân những nhà lãnh đạo của các tổ chức có thực lực ở hải ngoại phần lớn đều là các cựu quân cán chính của VNCH khi xưa, nhiều người vốn tận đáy lòng vẫn ghét Mỹ vì họ luôn cho rằng “Mỹ bỏ rơi đồng minh” năm xưa. Một câu hỏi khác nảy sinh là, tại sao người Mỹ vẫn hậu thuẫn đấu tranh? Rất dễ hiểu, đó chính là chính sách dân chủ hóa toàn cầu của họ, và họ muốn có lý do để gây áp lực với nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam. Tuy nhiên, để tránh bị coi là chống lại xu thế dân chủ, một điều trớ trêu thay là nhà cầm quyền Cộng Sản lại dùng chiêu bài trả tự do nhỏ giọt cho một vài tù nhân chính trị để đổi lấy sự ấm lên trong quan hệ ngoại giao với Mỹ! Bằng các động thái ngoại giao song phương dần tiến tới quan hệ đối tác toàn diện Việt – Mỹ, bằng việc cử một viên đại tướng sang thăm Việt Nam, có vẻ như Mỹ đã đạt được mục đích then chốt của mình tại khu vực Biển Đông. Nếu tiến xa hơn trong quan hệ và dần loại bỏ tầm kiềm tỏa của Đảng Cộng Sản Việt Nam, chính phủ Việt Nam có thể tồn tại lâu hơn nếu thực lòng trở thành đồng minh của Mỹ. Đối với giới đấu tranh dân chủ, tất nhiên họ phải cố gắng hết mình, sẵn sàng đối đầu với công an, nhà tù để đấu tranh đến cùng. Nhưng hơn bao giờ hết, họ phải thực sự quên đi câu chuyện “đồng minh” ngày trước với Mỹ. Và có lẽ điều quan trọng nhất là họ cần làm cho người Mỹ thấy được, họ (đặc biệt là những nhà đấu tranh hải ngoại) thực sự có tâm và có tầm. “Tâm và tầm” ở đây cụ thể là gì? Có tâm là làm việc hết mình, không tư lợi, đừng tham nhũng, đừng lừa dối, đừng tiểu xảo với những nhà tài trợ. Có tầm là tập hợp được những con người có năng lực thực sự gia nhập các tổ chức đảng phái đấu tranh của mình, vì chỉ có sức mạnh của tập thể gồm nhiều người có thực tài mới có thể làm nên việc lớn. Tai mắt của Mỹ khắp nơi, chẳng có tật xấu nào của người Việt hải ngoại che được mắt họ. Như vậy có thể thấy: Chuyện Mỹ đồng đồng hành với cả hai phe Cộng Sản và chống Cộng là điều có lý. Phía nhà cầm quyền chỉ cần cải thiện dân chủ nhỏ giọt để làm hài lòng người Mỹ là đủ. Về phía những người đấu tranh, ngoại trừ họ có khả năng phát động một cuộc lật đổ thần thánh (điều này chưa thể xảy ra trong tương lai gần) thì cũng hãy nên tạm bằng lòng với vị thế hiện nay của mình.  “Mạnh vì gạo, bạo vì tiền” hay “có thực mới vực được đạo”, người Mỹ có quyền vì họ có sức mạnh vật chất. Nhưng vốn tôn thờ Chủ nghĩa Thực dụng, họ sẽ nhìn thấy ngay đâu là điều họ nên làm. Khi nhà nước Việt Nam Cộng Sản đồng hành với Mỹ thì đó cũng chính là lúc lợi thế giữa hai phe Cộng Sản và đối kháng thêm sự mất cân bằng. Trong đấu tranh, nếu biết tận dụng mọi nguồn lực, cụ thể (đối với người Việt đối kháng) đây là nguồn lực Mỹ, thì không gì khôn ngoan hơn. Nhưng họ phải làm sao để người Mỹ có cơ sở tin tưởng mình. Rất dễ và cũng thật khó! Tuy nhiên, với những con người thông minh và giàu ý chí, có nghị lực, chỉ có cái chưa thể chứ không có cái không thể! Cơ hội vẫn còn đang ở phía trước cho những người đấu tranh chống Cộng Sản. Chẳng có gì hạnh phúc hơn là tự mình làm nên mọi chuyện mà chẳng cần dựa vào ai. Nhưng điều này quả là không hề đơn giản! Lê Nguyên Hồng – Sydney, Australia Nguồn:  DienDanCTM
......

Thực Chất Cuộc Chiến Giữa Tập Cận Bình và Chu Vĩnh Khang

Trên danh nghĩa tận diệt tham nhũng, Tập Cận Bình đã và đang truy bức rất nhiều cán bộ cao cấp và trung cấp trong hơn một năm vừa qua. Có người bị đi tù, có người bị cách chức chờ điều tra, có người nhảy lầu tự tử, có người bị tịch thu tài sản. Trong số những cán bộ cao cấp bị họ Tập chiếu cố là phe nhóm của ông Chu Vĩnh Khang, cựu ủy viên thường vụ bộ chính trị, đặc trách về guồng máy an ninh – tư pháp. Theo nhiều nguồn tin, Chu Vĩnh Khang hiện đang bị câu lưu và những người thân cận cũng bị điều tra và có người đã bị câu lưu như họ Chu lên đến non 100 người. Báo chí Trung Quốc đã mô tả đây là vụ điều tra tham nhũng và lợi dụng chức quyền. Báo chí phương Tây bị rơi vào cái bẫy của họ Tập nên các bản tin cũng chỉ xoay quanh vấn đề tham nhũng. Thực tế tham nhũng chỉ là chiêu bài. Bên trong màn kịch chống tham nhũng chính là trận chiến giữa các phe Thái Tử Đảng. Cụ thể hơn là phe Bạc Hy Lai và Tập Cận Bình. Bạc Hy Lai là cựu Bí Thư Trùng Khánh, cựu ủy viên Bộ chính trị từng có tham vọng cạnh tranh với Tập Cận Bình để ra làm Tổng Bí Thư và Chủ tịch nước sau khi Hồ Cẩm Đào mãn nhiệm kỳ. Bạc Hy Lai là con trai của Bạc Nhất Ba, một trong tám công thần của đảng Cộng sản Trung Quốc, cầm chịch quyền lực Trung Quốc dưới thời mở cửa năm 1978. Trong khi đó, Tập Cận Bình là con trai của Tập Trọng Huân, cựu phó Thủ tướng cùng thời với Đặng Tiểu Bình. Tuy thuộc thế hệ Thái Tử Đảng như Bạc Hy Lai, nhưng cái gốc của họ Tập không bằng Bạc Hy Lai nên vì thế mà họ Bạc coi thường Tập Cận Bình. Họ Bạc đã liên kết với Chu Vĩnh Khang và nhiều cán bộ cao cấp khác, kể cả việc vận động Giang Trạch Dân ủng hộ, để tiến cử Bạc Hy Lai vào trách vụ Tổng Bí Thư thay vì là Tập Cận Bình. Để thu hút sự chú ý của dư luận, Bạc Hy Lai phát động phong trào nhạc đỏ, phục hoạt chủ nghĩa Mao và cực lực phê phán tình trạng tồi tệ của xã hội do những chính sách phát triển kinh tế nửa vời của Ôn Gia Bảo - Hồ Cẩm Đào. Sự cao ngạo của Bạc Hy Lai cùng với sự hậu thuẫn của bộ máy an ninh do Chu Vĩnh Khang điều khiển đã làm cho Hồ Cẩm Đào, Ôn Gia Bảo và Tập Cận Bình lo ngại. Nếu Bạc Hy Lai thắng thế thì phe họ Hồ và họ Tập sẽ bị “thanh trừng”. Điều bất hạnh cho Bạc Hy Lai là người thân cận nhất của mình là Vương Lập Quân, nguyên giám đốc công an Trùng Khánh lại đi tố cáo bà Cốc Khai Lai, vợ của Bạc Hy Lai, là đã ra lệnh cho thuộc hạ đầu độc một doanh nhân người Anh là Neil Heywood. Vụ án này đã làm cho gia đình Bạc Hy Lai tan nát. Bà Cốc Khai Lai thì bị tử hình nhưng hoãn thi hành, trong khi bản thân Bạc Hy Lai bị tù chung thân và tịch thu toàn bộ tài sản. Tập Cận Bỉnh đã đẩy gia đình Bạc Hy Lai vào tù nhưng không an tâm vì trước đó, khi biểu quyết cách chức ủy viên Bộ chính trị của họ Bạc chỉ có một mình Chu Vĩnh Khang bỏ phiếu chống. Điều này cho thấy là Chu Vĩnh Khang đã ra mặt ủng hộ Bạc Hy Lai chống lại Tập Cận Bình. Mặc dù Chu Vĩnh Khang đã về hưu, không còn nắm bất cứ trách vụ gì kể từ sau năm 2013; nhưng nếu để họ Chu thong dong bên ngoài, liên lạc và điều hướng đàn em trong bộ máy công an thì phe nhóm Bạc Hy Lai sẽ có thể được phục hoạt, đe dọa đến sự tồn vong của Tập Cận Bình. Đó là lý do thầm kín nhất khiến cho Tập Cận Bình phải phát động chiến dịch chống tham những để qua đó công khai triệt hạ uy tín của Chu Vĩnh Khang hầu củng cố quyền lực. Nói tóm lại, trận chiến giữa Tập Cận Bình và Chu Vĩnh Khang là cuộc chiến tranh giành quyền lực của hai phe thái tử đảng: Bạc Hy Lai và Tập Cận Bỉnh.
......

Thoát văn hóa Trung Quốc dễ hay khó?

Trong những lúc gần đây nhân sĩ trí thức Việt Nam đang cố vươn tới điều mà Nhật Bản và Hàn Quốc đã từng làm cách nay nhiều thập niên đó là nỗ lực thoát ra khỏi ảnh hưởng văn hóa lâu đời của Trung Quốc. Liệu đây là nỗ lực có tỷ lệ thành công ra sao và vai trò nhà nước trong vận động này là gì? Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đến tham dự một cuộc họp của thanh niên Việt Nam và Trung Quốc tổ chức tại Hà Nội hôm 22/12/2011.   Khi nói về văn hóa không những chỉ có yếu tố tích cực mà còn những tiêu cực, do hoàn cảnh lịch sử khiến cả một dân tộc trong nhiều thế kỷ phải theo đuổi một cách mù quáng đôi khi miễn cưỡng một triết thuyết do tập đoàn cầm quyền hay chế độ phong kiến muốn áp đặt cho dễ dàng trong việc cai trị. Lệ thuộc văn hóa Trung Quốc đến từ đâu? Văn hóa Trung Quốc với Khổng giáo làm chủ đạo thâm nhập vào Việt Nam đã hơn 1.000 năm, tại sao giờ này mới nảy sinh ý định thoát ra khỏi nó và hoàn cảnh Việt Nam hiện nay liệu có khác gì với Nhật Bản và Hàn Quốc hay không?   Ngoài nguyên nhân văn hóa, hệ thống chính trị của Trung Quốc đã làm cho Việt Nam không thể độc lập tự chủ, ít nhất trong các quyết sách chính trị mà lý tưởng cộng sản là kim chỉ nam cho mọi đường lối. Nguyên nhân ấy ăn sâu vào từng con người trong nội bộ đảng cộng sản Việt Nam khiến mọi nỗ lực thoát Trung gần như tuyệt vọng trong một giai đoạn kéo dài gần một thế kỷ. Nhà văn Hoàng Hưng, một trong những người tổ chức buổi tọa đàm có tên “Thoát Trung về văn hóa” vừa diễn ra tại Hà Nội cho biết quan điểm của ông: "Nguyên nhân của mọi nguyên nhân chính người lãnh đạo đã đưa ra lý tưởng sống, lý tưởng cộng sản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa Mác Lê nin gì đó để truyền bá trong xã hội này và đến nay vẫn cứ kiên trì tuyền bá nó. Họ đưa vào điều lệ đảng, đưa vào hiến pháp các thứ. Trong xã hội thì ai cũng biết rằng bản thân người lãnh đạo Việt Nam cũng như Trung Quốc đều đang tìm cách để thoát dần dần ra khỏi nó. Thí dụ như về kinh tế thì rõ ràng họ đã thoát ra và chấp nhận kinh tế thị trường chứ không còn chấp nhận cái đuôi Xã hội chủ nghĩa, cái cách mà nhà nước nắm quyền chi phối. Nếu mà nói đúng thì nó phải là một nền chuyên chính vô sản của công nhân, của nông dân. Thế nhưng ai cũng biết công nhân và nông dân hiện nay là tầng lớp khổ nhất trong xã hội. Đất đai không được ai bảo vệ, nghèo khổ bị đàn áp. Cái được gọi là chủ nghĩa Mác Lênin thực chất chỉ là cái vỏ đễ giữ lại nội dung chuyên chính độc tài toàn trị của một giới đặc quyền nắm quyền cai trị. Cái giả dối lớn nhất là giả dối về lý tưởng rao truyền trên xã hội. Những điều giả dối như vậy thì làm sao xã hội không giả dối theo trên tất cả mọi lãnh vực?" Khổng giáo và ý thức nữ quyền   Một chi nhánh của Viện Khổng tử Trung Quốc quảng bá văn hóa tại thành phố Blagoveshchensk, Nga hôm 22/5/2011. Nhà báo Lê Phú Khải nhìn nguyên nhân ở một góc độ khác: sự lệ thuộc Khổng Mạnh một cách mù quáng đã khiến xã hội Việt Nam rơi vào quỹ đạo mà vua quan phong kiến thiết lập ra cho dễ bề thao túng quyền con người, đặc biệt là ở người phụ nữ:   "Khổng giáo nó ngấm vào mạch máu, nó ngấm vào từng con người và người ta xem đó là chân lý. Chẳng hạn người ta nói người phụ nữ chồng chết thì phải theo con. Tại sao phải theo con mà không lấy chồng khác? Nhưng người phụ nữ Việt Nam lại xem đó là chân lý, là lẽ phải. Trinh tiết, tiết tháo, thủy chung với chồng. Những chân lý mà người ta tiếp thu giống như người khát nước mà lại uống thuốc độc để giải khát. Cái nguy hiểm của văn hóa Khổng Mạnh tức là anh khát nước mà lại uống thuốc độc để giải khát. Điều này nó ngấm vào tiềm thức của xã hội Việt Nam và rất khó cho phép con cãi lại cha. Cha có thể sai chứ? Cấp trên có thể sai chứ? Thứ văn hóa bầy đàn mà chúng ta không thể thoát ra vẫn đi theo con đường toàn trị. Cho nên cái gốc của nó là như thế." Giáo sư Ngô Đức Thọ, người nghiên cứu văn hóa Trung Quốc trong hàng chục năm trời cho biết kinh nghiệm của ông và nguyên nhân chính khiến Việt Nam lệ thuộc vào văn hóa Trung Quốc là do nhà cầm quyền cố ý tránh né sự thật lịch sử Việt Nam bị nô lệ hàng ngàn năm từ cái gọi là giao lưu văn hóa hai nước:   "Ba cuộc chiến tranh dẫn đến thời kỳ Bắc thuộc thì mọi người Việt Nam học lịch sử đều thuộc cả, ta gọi là ba lần Bắc thuộc. Chính xác phải là 13 thế kỷ hơn 1.300 năm. Như vậy nó là một trang sử rất u tối của chúng ta. Nói đến 1.000 năm Bắc thuộc thì mọi người nói rất nhiều mà sử sách thì viết không biết được bao nhiêu phần trăm? Lướt qua một cách thoải mái. Thực ra trong một nghìn năm đó lịch sử Việt Nam đau thương vô cùng mà lớp trẻ bây giờ không rõ. Trong sách Quốc văn Giáo khoa thư của chính phủ Trần Trọng Kim thời trước khi chúng tôi còn đi học thì người ta vẽ một vài tấm tranh trong thời kỳ đó rất tang thương. Những ngôi mộ thời Đường như thế nào, cảnh hoang tàn của quân Nam Chiếu ở trên Vân Nam nó tàn sát như thế nào. Thế hệ bây giờ thì không có nữa, rõ ràng là rất thiếu. Cứ nghiên cứu trên quan niệm là giao lưu văn hóa giữa Việt Nam với Trung Quốc nên mới có chuyện người Việt học chữ Hán… Rất nhiều lĩnh vực của xã hội đen tối dưới thời Bắc thuộc, tội ác của những thái thú đối với người dân Việt Nam thế nào trong suốt hơn 1.000 năm Bắc thuộc đấy tàn sát bao nhiêu vụ? bóc lột thu thuế má vượt sản như thế nào, bắt quân dịch các đợt như thế nào …nhưng lịch sử chính thức của nước ta bây giờ hỏi số liệu đó thì hoàn toàn không có, không một trang nào viết cả, đó là một thiếu sót rất lớn." Nô bộc chính trị Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai khẳng định tính chất nô bộc chính trị của lãnh tụ đã biến Việt Nam thành một nước lệ thuộc nặng nề vào Trung Quốc. Sự coi thường văn hóa nước nhà đã gây ra hậu quả ngày nay: "Có một thời gian dài mình đã gửi cái hồn phách cho Tàu còn cụ Hồ thì nói là gửi hồn sang Mạc Tư Khoa thì đều không đúng. Vấn đề là phải gửi gấm cái hồn dân tộc vào văn hóa của mình vào lòng người, vào văn hóa. Đấy là những cái mà chúng tôi muốn nói đến. Hai nữa văn hóa nó phải bồi đắp cho một sức sống mới của một dân tộc cho nên vấn đề quốc văn quốc sử phải xem xét lại. Vấn đề quốc sử chẳng hạn: hiện nay có một điều là giới sử học, chính trị thì đã đành rồi, nhưng giới sử học ngay vấn đề lịch sử ¼ thế kỷ của Việt Nam Cộng Hòa chả ai nghiên cứu cả mặc dù nó là một thực thể lịch sử, nó có cái hay, cái dở, cái đúng cái sai nhưng trong ¼ thế kỷ ấy không có nghiên cứu, tức là một khoảng trống của một nửa nước. Và bây giờ rõ ràng về mặt chính trị người ta muốn thừa kế nó thì phải thừa nhận tính chính thống trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo của mình nhưng các mặt khác thì mình có thừa kế không và làm sao bỏ nó đi được?" Thói quen theo đuôi hữu nghị   Phó Chủ tịch Việt Nam Nguyễn Thị Doan (trái) và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Thượng Hải vào ngày 21 tháng 5 năm 2014 (hình ảnh minh họa).   Từ Úc châu, Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn cho biết những quan sát của ông về thói bắt chước một cách mù quáng của hệ thống cầm quyền Việt Nam đã khiến đất nước này biến thành một phiên bản của Bắc Kinh từ ngôn ngữ hành chánh cho tới sinh hoạt khoa học và thậm chí trong cả lãnh vực quốc phòng, ông nói: "Những motif về tham nhũng, phong trào các quan lớn có bồ nhí… tất cả đều xuất phát từ bên Tàu, Việt Nam chỉ rập khuôn theo Tàu mà thôi. Nếu xem lại các tàu kiểm ngư của Việt Nam mình thì sẽ thấy nó có màu trắng có vẽ mấy cái gạch xéo xéo xanh đỏ trên sườn tàu. Nếu nhìn những cái gạch đó của tàu cảnh sát biển Việt Nam và cảnh sát biển Trung Quốc thì giống y chang nhau! Hóa ra trước đó có mấy ông cảnh sát biển của Tàu nó qua giao lưu với Việt Nam và 4 tuần sau thì xảy ra xung đột. Trong khoa học, khi qua thăm Trung Quốc trong mấy năm gần đây mình thấy Việt Nam quan tâm tới vấn đề như phòng thí nghiệm trọng điểm hay các chương trình có những con số như 322 này nọ… khi mình qua Tàu mình thấy cũng y như vậy. Nó cũng có chương trình trọng điểm, những chương trình khoa học 917… như vậy thì mình học nó quá nhiều, mình bắt chước nó quá nhiều! Mình bắt chước cả thói xấu như chợ luận án, thuê người viết luận văn, quan chức phải có bằng Ph.D, mua bán bằng cấp, mua bán chức danh giáo sư nữa … tất cả điều đó tôi qua Tàu và thấy hết, nhưng nó xảy ra trước mình!"   Lệ thuộc chính trị kéo theo bất động của cả nước trước sự xâm lấn văn hóa của phương Bắc ngày càng trầm trọng. Nỗ lực thoát ra khỏi những hệ lụy ấy đang là đầu đề của các buổi thảo luận căng thẳng đầy khó khăn. Câu hỏi đặt ra trước mắt: Thoát Trung, phải thoát điều gì? Nhà văn Hoàng Hưng cho biết những suy nghĩ của ông trước câu hỏi hóc búa này: "Khi ta bàn thoát Trung về Văn hóa là phải thoát cái gì. Tôi nghĩ rằng có một nét văn hóa tồi tệ vì giới cầm quyền Maoist của Trung Quốc đã xây dựng trên xã hội của họ và truyền sang xã hội Việt Nam do quan hệ được gọi là môi răng. Một nền văn hóa mà tôi đặt là “văn hóa giả dối”. Bây giờ nó đã thành một cái nạn rất là tệ hại, nghiêm trọng đối với toàn bộ đời sống tinh thần của tất cả các tầng lớp trong xã hội từ quan cho đến dân. Về lâu dài tôi cho nó là một tội ác. Nó phá hoại nền tảng tinh thần của Việt Nam rất là nguy hiểm. Tôi cho đó là một trong những tội ác lớn nhất của chủ nghĩa Stalin và chủ nghĩa Mao và nó gây hại cho dân tộc Việt Nam." Văn hóa quỳ lạy Nền “văn hóa giả dối” ấy theo nhà báo Lê Phú Khải cần phải nâng lên một tầng nấc khác, đó là “văn hóa quỳ lạy” do Khổng Mạnh cấy vào xã hội Trung Hoa từ hàng ngàn năm về trước. Sự quỳ lạy mà cộng đồng ngấm ngầm chấp nhận và thực hiện như một ước mơ đã tạo ra hàng trăm thế hệ hư đốn mà không nhận ra sự nô dịch của mình. Văn hóa quỳ lạy ấy đã tràn sang Việt Nam và nở rộ như nấm dưới mưa trong thời đại cộng sản: "Văn hóa nào thì nó chọn cái chính trị đó. Văn hóa Khổng Mạnh là văn hóa quỳ lạy tức là anh chí thú đi học để làm quan, để quỳ lạy trước nhà vua, để được hậu thưởng bổng lộc và chỉ có vua là đúng còn tất cả bàng dân đều là số không. Chỉ có anh ta đúng thôi. Ý vua là ý trời! Trong khi đúng vào cái thời kỳ đó thì ở phương Tây Aristos nói rằng có tranh luận, có đi tìm chân lý thì mới có chân lý. Thoát Trung là thoát khỏi văn hóa Khổng Mạnh của Trung Quốc, ảnh hưởng giới trí thức Việt Nam. Căn bản nhất là phải thoát khỏi cái văn hóa chỉ có trên đúng còn dưới thì sai. Chỉ có vâng lời không có đối thoại. Tôi cho cái đó là quan trọng nhất." Chủ nghĩa cộng sản Giáo Sư Ngô Đức Thọ trong khi công tác tại Viện Hán Nôm ngoài kinh nghiệm về lịch sử giữa hai nước, ông phân tích sự lệ thuộc một cách mù quáng của lãnh đạo cao nhất Việt Nam đã bất chấp giá nào để đạt được mục đích ngay cả phải hy sinh con người trong những phong trào đấu tố diệt chủng. Chủ tịch HCM đã nhắm mắt theo lời Stalin để cải cách ruộng đất và từ đó đất nước thấm đẫm oan khiên. Lịch sử này nếu không thoát ra hôm nay liệu Việt Nam còn có cơ hội nào khác nữa?   "Về mặt tư tưởng ta phải thoát Trung. Thoát Trung là gì? Đó là thoát tư tưởng đấu tranh giai cấp, tư tưởng Mao Trạch Đông, những tư tưởng này rất ảnh hưởng đến Việt Nam. Chúng ta đã biết những tư tưởng này là cách mạng chuyên chính của Mao được các cán bộ tầm cỡ của ta mang về từ Diên An. Kể cả Đề cương Văn hóa của đồng chí Trường Chinh viết năm 1943 cũng đậm màu sắc Trung Quốc trong đó văn học đại chúng không khác gì các đề cương văn hóa của Trung Quốc ở Diên An cả. Cuộc nói chuyện của Mao Trạch Đông tại Diên An  gần như được mô phỏng trong đề cương Văn hóa Việt Nam, tôi ví dụ như vậy. Cái tư tưởng này là gì thì mọi người đều biết rồi. Tư tưởng của anh Tàu rất tai hại. Theo tôi nghiên cứu tài liệu thì trước đây chỉ có mỗi Tàu nhưng sau này đọc lại thì thấy cũng ảnh hưởng quốc tế cộng sản từ Nga. Vấn đề “Cải cách ruộng đất” không hẳn của Tàu, chính Stalin chỉ thị cho Chủ tịch HCM về Việt Nam cải cách ruộng đất còn nếu không làm cải cách thì không công nhận đảng Cộng sản Việt Nam, cho nên đảng cộng sản ra đời phải thực hiện cuộc cải cách ruộng đất này. Những người lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam tưởng rằng thời gian rồi nó sẽ qua, lấy thời gian làm vũ khí nhưng vũ khí thời gian không nghĩa gì cả bởi vì tai nạn này, kiếp nạn này là rất lớn."   Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn nhấn mạnh sự lệ thuộc về văn hóa từ mỗi cá nhân do tác động từ các việc làm của hệ thống chính trị. Cá nhân phải tự thân ý thức sự lệ thuộc văn hóa Trung Quốc của mình có hại cho quốc gia dân tộc như thế nào mới may ra cải đổi khuôn mặt văn hóa Tàu trong lòng từng người như hiện nay:   "Muốn hay không muốn thì văn hóa của Việt Nam chịu ảnh hưởng của Tàu rất lâu. Một ngàn năm bị đô hộ, sống chung với họ thì rất là khó để mình gột rửa nét văn hóa của họ đặc biệt dưới sự cai trị khắc nghiệt như thế này thì nó lại càng khó hơn. Cả Việt Nam mình hiện nay nó như một phiên bản của Trung Quốc, rập khuôn Tàu trên tất cả mọi lãnh vực từ chính trị cho đến tổ chức xã hội, kinh tế, khoa học và khá là ngạc nhiên vì tôi mới phát hiện nhiều cái rập khuôn về khoa học nữa. Thậm chí có những cái tên nhiều khi mình không để ý. Những cái tên mình đang dùng hiện nay cũng là bắt chước, xuất phát từ Tàu. Nếu muốn thoát Trung Quốc thì không phải chỉ thoát về hệ thống chính trị hay các thiết chế và tổ chức xã hội mà còn phải thoát từ trong tư tưởng của mỗi người, thậm chí thoát những cái bắt chước từ Trung Quốc. Tôi nghĩ nó không phải bắt đầu từ chính quyền mà bắt đầu từ mỗi cá nhân. Mỗi cá nhân cần phải gột rửa những ý tưởng, những cách hành xử mà lâu nay mình tưởng là của truyền thống văn hóa Việt Nam nhưng là của Tàu." Nhà văn Thùy Linh, người luôn có mặt trong các cuộc biều tình chống Trung Quốc cho biết quan sát của bà về vấn đề này mà theo nhà văn chính Khổng giáo là nguyên nhân sâu xa nhất nhưng nhà cầm quyền hiện nay muốn nó tồn tại để dễ dàng thao túng:   "Đời sống văn hóa Việt Nam sau năm 1945 đến giờ gần như đã bị chính trị hóa cho nên không còn đời sống văn hóa thật sự nguyên bản. Ngay cả tín ngưỡng dân gian cũng đã bị chính trị hóa. Đầu tiên người ta dẹp bỏ và cho đấy là mê tín dị đoan nhưng sau khi mở cửa thì tất cả những tín ngưỡng dân gian đều bị biến màu. Không có cái gì trong đời sống văn hóa mà không bị ảnh hưởng trong đời sống chính trị. Chính trị Việt Nam và Trung Quốc thời gian gần đây, cận hiện đại, hai nước có sự giao thoa ảnh hưởng rất sâu sắc, nhưng lui về trước nữa thì đạo Khổng ảnh hưởng rất lớn đến đời sống xã hội Việt Nam. Chính Khổng giáo làm méo mó nhân cách, méo mó tất cả đời sống tự nhiên của con người và Việt Nam bị ảnh hưởng trong cái vòng ảnh hưởng đó. Sau khi chủ nghĩa cộng sản nắm quyền thì đạo Khổng rất có lợi cho sự tồn tại của họ. Mới đầu thì họ chống ở một chừng mực nào đó nhưng thật ra họ bị ảnh hưởng của Khổng giáo mà chính họ không biết bởi vì nó ăn vào trong máu. Hiện tại Khổng giáo đang làm cho chính quyền hưởng lợi chính vì vậy việc thoát Trung tại Việt Nam hết sức cam go."   Câu hỏi đặt ra, nếu sự lệ thuộc văn hóa Trung Quốc sẽ làm đất nước trì trệ, lạc hậu và không có cơ hội phát triển như các nước lân cận liệu chính quyển có đủ can đảm từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa nay đã mịt mùng cộng với sự mê đắm vào Khổng giáo làm mê muội trí thức hầu củng cố quyền lực của mình hay không? Nhật hay Hàn, bài học nào cho Việt Nam? Nếu cho rằng thoát Trung là một ý tưởng hoàn toàn không thể thực hiện được người lạc quan có ngay một motif để chứng minh ngược lại, đó là sự thành công của hai nước lân cận với Trung Hoa là Nhật Bản và Hàn Quốc. Họ không những đã thoát được vòng kểm tỏa của văn hóa Khổng Mạnh mà còn vượt ra khỏi hủ lậu của cả Châu Á nữa là đằng khác. Nhật Bản có lẽ là nước sâu sát với Trung Quốc hơn ai hết nhưng sau thế chiến thứ II nước này ý thức được muốn đứng lên bằng đôi chân của mình phải chịu đau đớn rời bỏ hai thanh nạng mà Trung Quốc ép vào tay trong suốt hàng ngàn năm qua chủ thuyết Khổng Mạnh mà nói theo nhà báo Lê Phú Khải là văn hóa quỳ lạy. Tinh thần Samurai không cho phép người Nhật quỳ lạy dù bất cứ trước thần tượng nào để đổi lấy miếng đỉnh chung như triết lý Khổng Mạnh của người Trung Quốc. Thiên Hoàng của Nhật được thần dân kính trọng và tôn sùng như thần thánh vì là hiện thân của con cháu Thái Dương Thần Nữ trong phạm trù tín ngưỡng và sự tôn sùng ấy vẫn được gìn giữ cho tới ngày nay. Ngược lại, Nhật Hoàng luôn tỏ ra là một minh quân hết lòng chăm lo cho dân chúng đã khiến niềm tin của người dân thêm được củng cố. Khổng Mạnh không chiếm giữ được văn hóa Nhật Bản mặc dù chủ nghĩa này được du nhập rất sớm vào xứ sở Phù tang. Việc du nhập văn hóa, văn minh phương Tây và chủ trương các trường quốc học Kokugaku là nỗ lực thành công thoát ra khỏi quỹ đạo văn hóa Trung Quốc vào cuối thế kỷ 17 đã mang Nhật đến gần hơn niềm mơ ước tự lực tự cường. Nam Bắc Triều và Hà Nội- Sài Gòn Hàn Quốc gần với tình trạng Việt Nam hơn nhưng họ vượt qua được cũng từ ý chí muốn đất nước thoát ra nghèo đói và nhục nhã. Thoát Trung nảy sinh trong lòng người dân Hàn Quốc phát sinh từ sự phân ranh Nam Bắc mà phía bên kia là Trung Quốc, một thế lực lớn lao công khai ủng hộ, giúp đỡ cho Bình Nhưỡng chống lại Seoul. Hoàn cảnh lịch sử này ngược lại với Việt Nam khiến người dân và chính phủ Hàn Quốc ý thức rõ rằng, thoát nền văn hóa Trung Quốc là tiền đề cho việc bảo vệ chủ quyền đất nước. Lý do thứ hai làm cho thoát Trung thành một yếu tố cần thiết hiển nhiên là sự vận động dân chủ của Hàn Quốc đã tới mức cao nhất có thể. Một đất nước có dân chủ thật sự sẽ không thể chịu nổi bản chất độc tài đảng trị mà thể chế cộng sản theo đuổi. Không ai bỏ căn nhà tiện nghi của mình để chấp nhận vào hang động trú thân nhằm tìm cho ra chủ nghĩa xã hội là gì như Việt Nam đang lần mò trên con đường vạn dặm. Nhà văn Thùy Linh tự hỏi không biết Việt Nam rồi đây sẽ làm gì và bằng cách nào để có thể theo chân hai nước đồng văn đồng chủng với Trung Quốc này:   "Nhật hay Hàn quốc họ cũng bị ảnh hưởng của Khổng giáo nhưng tại sao họ thoát được? Họ phải xây dựng một nền văn hóa thoát được Khổng giáo, họ xây dựng được một bản sắc rất độc đáo vậy thì tại sao chúng ta không làm được điều đó? Gần đây chúng ta mới đặt ra việc thoát Trung, chặng đường ấy tôi nghĩ rất dài nhưng chúng ta phải làm. Việt Nam bị ảnh hưởng Trung Quốc gần như một số phận khiến chúng ta phải ở cạnh một đất nước như thế nhưng không có nghĩa là chúng ta không thể thoát nỗi sự ảnh hưởng của gã khổng lồ đó. Muốn phát triển phải có con đường đi riêng giống như Hàn Quốc hay Nhật." Hãy giải phóng chính mình   Nhà báo Lê Phú Khải chủ trương cổ vũ cho một tư duy độc lập trước khi có được một thái độ độc lập đối với sự cai trị nếu muốn thoát Trung như Nhật và Hàn Quốc đã làm:   "Như Nhật Bản, Hàn Quốc chẳng hạn họ còn muốn thoát Á nữa. Nó đã dân chủ, văn minh rồi tại sao vẫn muốn thoát Á? Bởi vì nó muốn thoát hẳn cái văn hóa Khổng Tử, cái văn hóa không có tranh luận, văn hóa bầy đàn mà họ muốn phải giải phóng cá nhân. Giải phóng cá nhân rất quan trọng. Mỗi một con người đều là một tiềm năng nếu giải phóng được thì giống như phản ứng hạt nhân còn không có nó thì không có sức mạnh của cả dân tộc. Con số 1 đứng trước 6 con số 0 thì thành hàng triệu nhưng nếu mất con số 1 rồi thì 6 số không kia cũng vô nghĩa. Nhưng nếu con số 0 ấy là số 1 thì nó không cần ai chăn dắt cả." Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai khẳng định một chính sách đứng đắn của nhà nước tạm gọi là “quốc chính” phải được đặt ra nếu muốn thoát Trung. Tấm gương của Hàn Quốc rất rõ trong trường hợp này, ông cho biết: “Quốc chính” là một nền chính trị để nó cầm nhịp cho bước phát triển mới tiến bộ nhân văn…thế nhưng hiện nay nền quốc chính của ta có nhiều điều rất lạc hậu. Một đội ngũ công chức đáng lẽ là lực lượng cầm nhịp cho sự phát triển xã hội thì tham nhũng là chính, hành dân là chính, làm sao mà đưa dân tộc phát triển được, đấy là các vấn đề phải đặt ra. Khi nói văn hóa mà quên đi vấn đề làm sao đưa giá trị văn hóa để cho nền chính trị của đất nước nó tử tế hơn lên, làm thăng hoa giá trị con người. Nhân văn, nhân ái, tình thương, dân chủ, tôn trọng con người….những vấn đề ấy văn hóa phải đóng góp và sửa đổi sớm những lệch lạc của cái được gọi là nền quốc chính, tức là nền chính trị của đất nước." Những ý kiến, tư duy cũng như trăn trở cho một tương lai đất nước vẫn đang được nhiều người, nhiều giới hưởng ứng, đồng tình. Tuy nhiên nếu mọi cố gắng thoát văn hóa Trung Quốc này không được nhà nướ quan tâm kể như 3 phần 4 câu chuyện sẽ không có hồi kết thúc.   Nguồn: rfa.org
......

Ai sẽ cứu Lục Vân Tiên?

Ngay khi tin tức cho hay ngày 15/8, Bộ Thông tin và Truyền Thông (Bộ TT-TT) ra quyết định thu hồi giấy phép làm báo và phạt tiền tờ báo điện tử Tri Thức Trẻ vì phát hành bài viết xúc phạm phụ nữ, tiếng vỗ tay đã vang lên khắp nơi, từ báo chí Nhà nước cho đến các trang mạng xã hội. Bộ TT-TT bất ngờ trở thành một Lục Vân Tiên giữa đời thường, thấy chuyện bất bình mà ra tay. Thế nhưng câu chuyện hào hiệp này cũng cần được mổ xẻ thêm một chút, cho rõ Lục Vân Tiên ấy, thế nào.   Câu hỏi đầu tiên được đặt ra, là việc nghiêm khắc đóng cửa tờ báo này – nghe qua thì có vẻ rất kỷ cương, nhưng nếu nhìn sâu một chút, bạn có bao giờ tự hỏi vì một người viết bài, một tổng biên tập tạo nên sai lầm đó, tại sao lại bắt cả cơ quan phải nghỉ việc. Trong đó, chắc chắc rằng anh bảo vệ, chị kế toán, những phóng viên khác, biên tập khác… đã không gây nên lỗi lầm gì? Thay vì làm hành động kỷ luật ban biên tập chính hay cách chức tổng biên tập, thì Bộ TT-TT lại hành động một cách hàm hồ là huỷ diệt cả một tờ báo. Huỷ diệt dễ dàng luôn cả một cơ quan báo chí, vô hình trung trở thành một kiểu phô diễn quyền lực của một Nhà nước độc tài truyền thông, và hy sinh cả những người không liên quan để tạo thế trình diễn sự mị dân. Loại trừng phạt kiểu vì một người bệnh, bắt cả đám đông chung quanh phải uống thuốc thay, là một kiểu làm xưa cũ và chỉ cho thấy sự lụn bại của cách thức kiểm soát truyền thông hiện nay. Theo quy cách truyền thống của báo chí, người nào làm sai phải chịu trách nhiệm rõ trước người đọc. Tờ báo đó sẽ phải tiếp tục đăng tải thông tin về việc chịu trách nhiệm, đăng tải thư xin lỗi về sai lầm của mình. Giờ thì mọi thứ không khác gì cho chìm xuồng. Vai trò trách nhiệm phản hồi trước độc giả của một cơ quan báo chí độc lập cũng bị tước bỏ, không khác gì đứa trẻ trong gia đình bị phạt, cắt bữa bú chiều vì tội quấy. Các tờ báo khác phải đăng tải hậu sự của tờ báo Tri Thức Trẻ, dù muốn dù không, cũng bị đặt dưới góc nhìn là bầy kên kên vui vẻ quanh cái chết của đồng nghiệp. Mà khốn nỗi, thật sự không ai biết các thủ phạm chính sẽ về đâu, hay nay mai lại được im lặng bổ nhiệm vào vị trí mới, cho một tờ báo mới? Một câu hỏi khác, là nếu không tỉnh táo, cứ vỗ tay hoan hô “cái đúng” của Bộ TT-TT qua sự kiện này, sự vui mừng hời hợt này có phải là cú hích, giúp cho khuynh hướng xiết chặt tự do báo chí từ Nhà nước Việt Nam hay không? Báo chí – cũng do Nhà nước dựng nên – theo một hành lang được xiết chặt đến nghẹt thở, và rồi kẻ xấu xuất hiện ngay trong hành lang ấy, lại được Bộ TT-TT đóng vai là một Lục Vân Tiên giải cứu. Khán giả vỗ tay cám ơn nhưng bị cảm giác đúng-sai đánh lừa một thực tế quan trọng: Báo chí và Bộ TT-TT trong xã hội Việt Nam có mối quan hệ sâu đậm như cha con. Trong bối cảnh nhiễu nhương của xã hội Việt Nam lúc này, đặc biệt trước loạt đại hội Đảng bộ cấp cơ sở vào tháng 4/2015, hầu như các viên chức lãnh đạo, cơ quan nhà nước… đều đau đáu tìm cách giới thiệu thành tích, hành động như những “người tốt”. Việc hồ đồ hành động mang màu sắc Lục Vân Tiên của Bộ TT-TT, lại cho thấy thêm một cách hành xử hiện rõ vai trò độc tài kiểm soát báo chí, và cũng cho thấy cách hành xử của các vị lãnh đạo truyền thông trong chuyện này hoàn toàn không có chút thông minh nào. Câu chuyện xúc phạm phụ nữ nhằm chỉ để câu view của báo Tri Thức Trẻ, chỉ là chuyện vặt của nền báo chí Việt Nam. Nó cho thấy thói quen được đặt ra lâu nay, từ trên xuống, trong giới báo chí, là miễn đừng nói chuyện chính trị, thì tào lao hay vô giáo dục cỡ nào cũng được phép. Việc vạch rõ lằn ranh này khiến cho chuyện kinh dị, chuyện khiêu dâm, chuyện thách thức đạo đức… xuất hiện ngày càng nhiều trong làng báo, nhưng chuyện viết về biển Đông hay chỉ trích Trung Quốc là các báo phải xếp hàng, ngồi chồm hổm chờ được bật đèn xanh.   Xét cho cùng, bài viết về phụ nữ của tờ Tri Thức Trẻ chỉ là cú sẩy chân tháng Bảy cô hồn, vì so với nhiều đồng nghiệp của mình lâu nay, thì bài viết ấy vẫn chưa là gì.   Lục Vân Tiên của cụ Đồ Chiểu là một người tự do và chân thành. Hai tư chất đó khó mà soi thấy được trong nền báo chí xã hội chủ nghĩa. Ai sẽ vén màn để nhìn thấy được Lục Vân Tiên đang được Bộ TT-TT đánh tráo, trình diễn trên một sân khấu tự biên tự diễn của mình? Rồi ai sẽ cứu linh hồn Lục Vân Tiên? Nguồn: nhacsituankhanh.wordpress.com ***** Báo điện tử Trí Thức Trẻ bị phạt nặng Bài viết gây tai tiếng đã được rút khỏi trang báo   Báo điện tử Trí Thức Trẻ vừa nhận quyết định đình bản ba tháng và bị phạt 207 triệu đồng vì đăng bài nói về phụ nữ miền Tây "gây bức xúc cho dư luận". Hôm 12/8, báo này đăng bài có tựa đề "Gái miền Tây và 3 chữ “N” nổi danh thiên hạ" của một tác giả ẩn danh. Bài báo bình luận về các cô gái ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long: "Về độ “ngon”, độ “ngoan” thì tôi dám quả quyết không gái miền nào địch được gái miền Tây. Nhưng còn về độ “ngu” thì phần lớn gái miền Tây cũng là những cô gái “ngu dốt” vô đối". Khi đăng tải, bài này đã gây phản ứng khá gay gắt trong dư luận. Chiều thứ Năm 14/8, Thứ trưởng Bộ Thông tin - Truyền thông Việt Nam Trương Minh Tuấn đã họp khẩn cấp với Thanh tra Bộ, Cục báo chí, và một số cơ quan khác để xem xét vụ này. Ông Tuấn vừa ký quyết định số 1171/QĐ-BTTTT ngày 15/8 đình bản báo điện tử Trí Thức Trẻ ba tháng. Sau thời gian đình chỉ tạm thời nói trên, Bộ Thông tin- Truyền thông sẽ xem xét để quyết định việc tiếp tục hoạt động của báo này. Cùng ngày 15/8, Thanh tra Bộ Thông tin - Truyền thông cũng quyết định phạt báo điện tử Trí Thức Trẻ 207 triệu đồng. Đây là mức phạt cao nhất từ trước tới nay đối với một tờ báo.   Vi phạm nghiêm trọng Kết luận của Bộ Thông tin-Truyền thông đánh giá rằng bài viết đã đăng trên tờ Trí Thức Trẻ là "điển hình của những trò giật gân, câu khách rẻ tiền trên một số tờ báo điện tử hiện nay". "Ngoài việc vi phạm pháp luật nghiệm trọng, thông tin trên báo điện tử Trí Thức Trẻ còn ảnh hưởng đến xã hội, gây bức xúc cho dư luận." Tác giả bài báo, viết từ góc độ một người miền Bắc từng yêu một cô gái miền Tây, đã tỏ thái độ khinh miệt phụ nữ vùng này. "Dù không là người miền Tây, nhưng đã từng tiếp xúc, đã từng yêu gái miền Tây, tôi tiếc và khá thất vọng về họ." Quyết định đình bản đã được áp dụng cho một vài tờ báo ở trong nước trước đây. Năm 2009, báo Du lịch cũng bị đình bản trong ba tháng vì 'sai phạm nghiêm trọng' trong số Tết Kỷ Sửu 2009, khi đăng bài nói về quan hệ Việt-Trung. Báo điện tử Trí Thức Trẻ thuộc Hội Trí thức Khoa học và Công nghệ trẻ Việt Nam và do Công ty cổ phần truyền thông Việt Nam (VC Corporation) vận hành, khai thác. VC Corporation hiện có hơn 20 sản phẩm trong lĩnh vực Truyền thông, Thương mại điện tử và Mạng xã hội. Công ty nhận đầu tư nhiều triệu đôla của Quỹ Intel Capital năm 2012. Trước đó, năm 2007, VC Corporation nhận đầu tư start-up của quỹ đầu tư mạo hiểm IDG Ventures Việt Nam, công ty gắn liền với tên tuổi ông Henry Nguyễn Bảo Hoàng, con rể Thủ tướng Việt Nam. Nguồn: bbc.co.uk/vietnamese
......

Biết "rưng rưng" thế nào mới khá?

So với loại phát biểu “tham nhũng như ngứa ghẻ” của Nguyễn Phú Trọng, hay “bán vé số có thu nhập cao” của Giàng Seo Phử, thì phải nói các phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nằm hẳn ở một tầng cao khác, từ "lòng tin chiến lược", đến "dân được làm tất cả những gì luật pháp không cấm", đến "không đổi lấy hữu nghị viển vông". Nhưng đến nay hầu như ai hiểu chuyện hậu trường đều biết ông Dũng chỉ cầm giấy đọc. Còn chữ nghĩa trong từng tờ giấy đó đều do ông Vũ Đức Đam viết. Ông Đam từng giữ chức Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ (tức Văn phòng Thủ tướng) và nay là Phó Thủ tướng.   Nhưng cũng chính vì nhiều người biết chuyện đó nên họ càng ngạc nhiên với phát biểu của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam tại Hội nghị tổng kết niên học 2013-2014. Ông bảo: “Nếu chúng ta không giáo dục cho con cháu rưng rưng khi hát Quốc ca thì đất nước không thể giàu mạnh”. Báo chí càng loan tải câu này, người ta càng cười buồn, rồi xoay qua bàn tán. Những phát biểu hoành tráng của ông Nguyễn Tấn Dũng ít ra cũng tạo tác động thán phục được vài tuần rồi mới biến mất khi người ta so với thực tế và so với các động thái của người nói. Còn phát biểu hoành tráng của ông Vũ Đức Đam lại tạo phản ứng khó chịu gần như lập tức. Tại sao thế? Trước hết, ai cũng biết bản quốc ca Việt Nam hiện nay còn ngập đầy máu me, hận thù, giết chóc của thời xa xưa nên khá lạc hậu so với tiêu chuẩn văn minh nhân bản của thế kỷ 21. Nhưng đó vẫn không phải là lý do chính làm bật lên cảm giác cay đắng nơi người nghe. Thật vậy, rất nhiều con người thuộc mấy thế hệ liên tiếp đã từng hát, từng khóc, từng sống dưới bản Tiến Quân Ca và cũng chính họ từ từ nhận ra bài quốc ca này chỉ là một phần trong toàn bộ bài bản tuyên truyền để đánh lừa cả một dân tộc. Cảm giác cay đắng đến từ nhận thức chính mình và biết bao bạn bè cùng thế hệ với mình đã bị lợi dụng không thương tiếc khi Đảng CSVN đánh đồng Đảng với tổ quốc Việt Nam; bắt buộc "yêu nước là yêu Chủ nghĩa Xã hội; bọc kín ý đồ mở rộng thế giới CS bằng máu người Việt Nam trong lá cờ giải phóng dân tộc; v.v... Từ thời chiến tranh chống thực dân Pháp, đã có biết bao trường hợp trong lúc con đi bộ đội, rưng rưng hát bản quốc ca, sống chết ngoài chiến trường, thì cha mẹ ở nhà cũng rưng rưng bị đấu tố vì "Đội" chưa vét đủ con số địa chủ mà các cố vấn Tàu ấn định cho từng làng từng xã. Ngoài những vụ lớn như bà Cát Thanh Long Nguyễn Thị Năm, địa phương nào cũng còn đầy những câu chuyện phản bội tàn nhẫn. Ngay tại Hà Nội, người ta còn nhắc lại trường hợp một bà mẹ có con trai đang là trung đoàn trưởng Quân đội Nhân dân. Bà trước đó từng hiến cả trăm lạng vàng cho chính quyền cách mạng, nhưng vẫn là địa chủ bị án tử hình để làm "gương" cho kẻ khác. Hay trong số cháu nội của cụ Phan Bội Châu, có một người lúc đó là trung đội trưởng. Nhà ông rất nghèo, chỉ có 3 sào đất để nuôi sống 3 mẹ con, nhưng cũng bị quy là địa chủ đem ra đấu tố cho đủ chỉ tiêu. Cả xã hội sau 1954 cũng chẳng may mắn gì hơn, bị ném ngay vào các chiến dịch cải tạo với đầy máu, nước mắt, và nhất là sự sợ hãi ngày đêm, từ Nhân Văn Giai Phẩm đến cải tạo công thương nghiệp đến bài trừ văn hóa đồi trụy, .... Ai còn rưng rưng nổi khi hát quốc ca? Rồi thế hệ kế tiếp lại hát Tiến Quân Ca, lại bị ném vào cuộc chiến “Giải phóng Miền Nam, chống Mỹ cứu nước”, để đến khi chiến thắng thì chính lãnh đạo tối cao Lê Duẫn thừa nhận "Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc". Và đến phiên nửa nước còn lại đi qua giai đoạn cải tạo con người mới XHCN, bài trừ văn hóa đồi trụy, cải tạo công thương nghiệp, lập vùng Kinh tế mới. Cả nước lao vào nạn đói và sợ ngày đêm. Khi nhìn lại, ai cũng chỉ cảm thấy lợm giọng, buồn nôn chứ không sao rưng rưng hát quốc ca nổi. Và càng gần với hiện tại thì càng khó hát quốc ca. Hát sao nổi khi bia mộ của những bộ đội hy sinh trong 10 năm chống Trung Quốc xâm lược (1979 - 1989) bị đục bỏ? Sử sách, kể cả quân sử, bị tẩy xóa. Các thế hệ tương lai không còn biết ai giết họ, không biết lý do họ hy sinh. Lãnh đạo đảng ở các vùng biên giới chỉ tổ chức các phái đoàn đưa vòng hoa "Đời đời nhớ ơn Liệt sĩ Trung quốc" qua bên kia biên giới hàng năm. Hát sao nổi khi toàn bộ anh hùng dân tộc, mà tuyệt đại đa số là lãnh tụ chống ngoại xâm từ Phương Bắc, theo chỉ thị năm 2014, đã bị hất ra khỏi danh sách những ngày quốc lễ. Ngay cả Quốc Tổ Hùng Vương cũng rớt xuống hàng "tỉnh lễ" mà thôi. Lòng yêu nước chống ngoại xâm truyền thống của dân tộc đang là điều lo lắng cho lãnh đạo và họ đang cố trấn áp bằng mọi giá. Thế thì lấy ai rưng rưng hát quốc ca? Và hát sao nổi khi lãnh đạo vẫn cương quyết không cho dân giữ nước, và cũng nhất định không kiện Trung Cộng, không liên minh phòng thủ Biển Đông, và không bảo vệ ngư dân Việt. Sau mùa biển động năm nay, cảnh giàn khoan mọc như nấm quanh vùng Hoàng Sa gần như là chuyện đương nhiên. Ai còn thực sự yêu nước đều lo tìm cách Thoát Trung chứ chẳng ai muốn đóng kịch đứng hát quốc ca. Đó là chưa kể vừa hé mắt nhìn vào tương lai đã thấy cảnh các con ông Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Văn Chi, Tô Huy Rứa, Nguyễn Bá Thanh, Lê Thanh Hải, ... đang cùng bước lên ghế lãnh đạo. Nghĩa là tương lai đất nước Việt Nam sẽ tiếp tục con đường hiện tại, tiếp tục lùi xa hơn các nước trong vùng, mà nay đang thua cả Miến lẫn Miên. Rõ ràng không chỉ quốc ca, mà mọi thứ "quốc" lớn, "quốc" nhỏ khác, đặc biệt là Quốc Mạng (vận mạng quốc gia), đều chưa hề là của dân. Thực tế đó chỉ để lại 2 loại rưng rưng thật trên đất nước Việt Nam hôm nay. Một là loại rưng rưng như của TBT Nguyễn Phú Trọng khi đọc diễn văn kết thúc Hội nghị Trung ương 6 vì thất bại quá đau đớn. Với các sát phạt nội bộ kịch liệt trong cuộc chạy đua trước Đại Hội Đảng 2016, cảnh rưng rưng này sẽ còn nhân lên nhiều. Hai là loại rưng rưng của những nạn nhân của chế độ: từ những người đang vào tuổi cuối đời nhớ lại các bạn mình đã bị cướp đi cả cuộc đời; đến những người trung niên cạn nước mắt, thẫn thờ nhìn đoàn công an đến cướp đi phương tiện kiếm sống duy nhất của gia đình; đến những cháu bé nhìn bạn chết trôi trên đường băng sông đi học hàng ngày. Không ai buộc hết trách nhiệm các cảnh rưng rưng đó vào cổ ông Vũ Đức Đam, nhưng cũng không ai quên thực tế ông Đạm là một trong những con ốc chính trong guồng máy đang tiếp tục tạo ra những cảnh rưng rưng này. Nếu thực sự muốn "đất nước giàu mạnh", ông Đạm dư biết cần phải làm gì. Chính các cựu ủy viên Bộ Chính Trị Trần Xuân Bách, Nguyễn Văn An đã chỉ con đường ra từ lâu lắm rồi./.
......

Pages