Đặng Đình Mạnh
Đặt mìn, đánh bom, phá hoại công trình công cộng, giết người, gây thương tích hàng loạt, bắt cóc con tin… với mục tiêu gieo rắc sự sợ hãi, hoặc gởi các thông điệp chính trị, tôn giáo, hay chủng tộc… đều có thể là hành vi khủng bố theo cách hiểu thông thường của công chúng.
Vì vậy, khi nghe thông báo bắt giữ, khởi tố hình sự ba người về tội “khủng bố”, câu hỏi tự nhiên nhất của công chúng phải là: Họ đã làm gì?
Ngày 28/09/2026, Bộ Công an thông báo khởi tố các ông Nguyễn Đức Thuận, Hồ Phạm Hiệp Huy và Thái Công Trường Sơn về tội “Khủng bố” theo Điều 299 Bộ luật Hình sự. Đồng thời, cũng khởi tố về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức. Theo nội dung thông báo này, ba người đã bị Đồn Biên phòng cửa khẩu Mỹ Quý Tây, Tây Ninh bắt giữ khi đang “nhập cảnh trái phép vào Việt Nam từ biên giới Cambodia”.
Vẫn theo bản tin Bộ Công an, họ bị cho rằng mang giấy tờ giả và trong quá trình điều tra đã “khai nhận” là thành viên Việt Tân.
Nhưng chính ở đây, câu chuyện bắt đầu có một khoảng trống đáng chú ý. Thông báo của Bộ Công an không mô tả được một hành vi khủng bố cụ thể nào mà ba người này đã thực hiện. Không có quả mìn, hay bom đạn nào được nói đến, không có vụ nổ súng, không có con tin, không có vụ sát hại, cũng không có một công trình nào được xác định là mục tiêu phá hoại. Điều được công bố là họ bị cáo buộc mang giấy tờ giả, nhập cảnh trái phép và là thành viên Việt Tân mà thôi.
Chắc chắn rằng, sau khi bị bắt giữ từ nhiều ngày trước đó, nếu ba người bị bắt giữ đã khai nhận việc thực hiện các hành vi khủng bố, hoặc có chứng cứ xác đáng về việc khủng bố, thì chúng sẽ được truyền thông của nhà cầm quyền đưa ngay lên trang nhất với hàng tít in đậm.
Thế nhưng, dòng tin lại hết sức ngắn ngủi, vắn tắt và không có chi tiết nào về hành vi khủng bố cả.
Chính điều này đã cho thấy một khoảng trắng mênh mông về cái gọi là “chứng cứ” cáo buộc họ về tội danh khủng bố. Nếu không muốn nói rõ rằng, không có chứng cứ gì về việc khủng bố cả.
Vấn đề nằm ở chỗ ý chí của đảng Cộng Sản, rằng muốn bỏ tù ai thì “chụp mũ” tội phạm cho họ, bất kể họ có thực hiện những hành vi tội phạm hay không? Tội danh khủng bố hiện thời tồn tại trong Bộ luật Hình sự đã là cách thức “chụp mũ” như vậy.
Theo đó, Điều 299 về tội danh “Khủng bố” không chỉ liên quan đến những hành vi bạo lực theo cách công chúng thường hình dung về hành vi khủng bố, mà còn bao gồm hành vi “thành lập, tham gia tổ chức khủng bố, tổ chức tài trợ khủng bố”.
Bằng cách thức đưa vào điều luật văn thức tổng quát, mơ hồ như vậy, thì dù một người không có ý định hoặc thực tế đặt bom hay nổ súng không đồng nghĩa với khả năng người đó không bị cáo buộc về tội danh khủng bố.
Đây là sự khác biệt quan trọng giữa khái niệm “khủng bố” trong luật pháp của các quốc gia văn minh trên thế giới và phạm vi của một điều luật hình sự cụ thể theo cách duy ý chí của đảng Cộng Sản Việt Nam.
Tựu trung, việc cáo buộc tội danh khủng bố đối với một người thực hiện theo tam đoạn luận như sau:
- Tổ chức Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng (tổ chức Việt Tân) bị Bộ Công an xếp vào tổ chức khủng bố;
- Các ông Nguyễn Đức Thuận, Hồ Phạm Hiệp Huy và Thái Công Trường Sơn là thành viên tổ chức Việt Tân.
- Vậy, họ là kẻ phạm tội khủng bố, nên phải bị khởi tố.
Cho thấy, chính yếu tố THAM GIA tổ chức Việt Tân đã trở thành cơ sở cho việc họ bị khởi tố hình sự.
Sự cáo buộc phi lý này tồn tại mặc cho thực tế trái ngược rằng:
- Việt Tân đã bị một cơ quan thuộc Chính phủ là Bộ Công an quy kết là tổ chức khủng bố chứ không phải do một phán quyết từ tòa án. Cho dù, tòa án mới là thực thể tư pháp có thẩm quyền phán quyết về tội phạm, chứ không phải một cơ quan thuộc nhánh hành pháp như Bộ Công an.
- Bản thân Việt Tân đã chính thức, công khai minh thị về chủ trương đấu tranh chính trị bằng phương thức hòa bình và phi bạo lực. Trong thực tế, cả ba người bị bắt giữ gồm các ông Nguyễn Đức Thuận, Hồ Phạm Hiệp Huy và Thái Công Trường Sơn cũng không có hành vi khủng bố nào cả.
- Mặc dù Việt Tân bị xem là tổ chức khủng bố tại Việt Nam, thế nhưng, đây lại là một tổ chức chính trị đã hoạt động chính thức và công khai tại Hoa Kỳ trong hơn bốn thập niên qua.
Công chúng thừa biết rằng, Hoa Kỳ là một quốc gia đã từng là nạn nhân cũng nạn khủng bố quốc tế, và cũng là quốc gia hàng đầu chống khủng bố quốc tế. Nếu Việt Tân thật sự là một tổ chức khủng bố như quy kết vô cớ của Bộ Công an Việt Nam, chắc chắn, họ không có cơ sở để tồn tại trên lãnh thổ Hoa Kỳ như một pháp nhân hợp pháp.
Tóm lại, từ một thông báo vắn tắt về việc khởi tố tội danh "khủng bố" đối với ba cá nhân về nghi án nhập cảnh trái phép, vụ án đã phơi bày một nghịch lý mang tính hệ thống trong cách vận dụng pháp luật hình sự tại Việt Nam. Trong đó, lằn ranh giữa hành vi bạo lực thực tế và sự quy chụp chính trị bị xóa nhòa, điều luật hình sự không còn đóng vai trò bảo vệ trật tự xã hội, mà trở thành công cụ để hình sự hóa bất đồng chính kiến.
Việc biến một tổ chức hoạt động hợp pháp công khai ở nước ngoài thành danh xưng "khủng bố" dựa trên quyết định một chiều, đồng thời khép tội công dân chỉ vì sự liên đới tổ chức thay vì hành vi phạm tội cụ thể, đã đặt nghi vấn lớn về tính chính đáng, minh bạch và thượng tôn pháp luật.
Xét đến cùng, việc lạm dụng các tội danh nghiêm trọng như khủng bố không chỉ làm xói mòn giá trị công lý, mà còn bộc lộ sự phi lý, bất công của khung pháp lý khi nó được vận hành theo sự duy ý chí chính trị độc tài, thay vì là chứng cứ rõ ràng và cần thiết trong một vụ án hình sự.
Hoa Thịnh Đốn, ngày 28 Tháng Chín 2026




