2013

Từ Sợ Hãi Tới Hành Động

Sợ hãi là một đặc tính của muôn loài. Chính sự sợ hãi góp phần giúp cho mọi loài sinh tồn và phát triển. Riêng trong thế giới con người, sợ hãi khiến cho kẻ yếu hơn phải chọn giữa phục tùng kẻ mạnh hoặc phải kiếm giải pháp. Cùng lúc sợ hãi thường làm cho con người trở nên tàn nhẫn và/hoặc hèn nhát hơn; ích kỷ và vô cảm hơn. Nhưng trong một số trường hợp, sợ hãi lại cũng có thể làm người ta bật lên can đảm, mạnh mẽ. Trong phạm vi bài viết ngắn này tôi chỉ xin đưa ra một vài nhận định về tình hình xã hội Việt Nam trong những năm gần đây liên quan tới “sự sợ hãi”. Có thể nói đại đa số người dân ngày nay đều rất sợ Đảng Cộng sản và các phương tiện bạo hành của họ, kể cả bọn đầu gấu xã hội đen mà họ đang sử dụng ngày một thường hơn. Ngoài các trò bạo hành, dân còn sợ Đảng vì sợ bị trù dập, bị mất công ăn việc làm, bị mất nhà mất đất. Nhiều khi dân sợ chỉ vì họ chứng kiến cảnh Đảng đã xuống tay với những người xung quanh họ.   Bởi nỗi sợ đó đa số người dân đã dần dần tự biến mình thành nô lệ cho Đảng Cộng sản một cách vô điều kiện. Từng lời nói, cử chỉ tới hành động đều phải giữ chừng, tự kiểm duyệt, tránh “phạm thượng” … Nói chung, ai nấy đều chỉ mong cuộc sống của bản thân mình và con cháu mình được "yên hàn". Gia đình "không có vấn đề", tức không đang bị Đảng trừng phạt, là thấy hạnh phúc rồi. Không trông đợi gì thêm từ Đảng. Để đạt được mong muốn đó nhiều người đã chọn thái độ tung hô ca ngợi Đảng để được yên thân, bất kể trong lòng có bất mãn hay không. Một số khác thì còn cố gắng đề trở thành Đảng viên Cộng sản để có được cơ hội đổi đời. Và giữa 2 loại trên là những người chấp nhận làm tay sai cho Đảng với danh xưng “quần chúng tự phát” để nhận được chút tiền. Cả ba lối chọn lựa này đều làm cho con người đã "hèn" lại thêm "hạ". Nhưng ngược lại, trong những năm tháng gần đây, không ít người đã vượt qua được nỗi sợ. Có người vượt được chỉ vì đã bị ép tới đường cùng, nôm na là tới mức "tức nước vỡ bờ". Rất nhiều trong số này là các bà con dân oan. Họ bị cướp đến tận cùng mọi phương tiện mưu sinh, phải sống lê lết trước những cửa quan để kêu oan, và bị xua đuổi từ văn phòng này sang cơ quan khác. Cũng có nhiều người vượt được sợ hãi nhờ tiếng gọi của lương tâm. Nỗi sợ mất nước còn lớn hơn nỗi sợ bị Đảng Cộng sản trả thù. Họ sợ rằng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Việt Nam sẽ hoàn toàn trở thành thuộc địa của Trung Quốc, đời con đời cháu của họ sẽ trở thành nô lệ hoàn toàn cho người Phương Bắc. Kế đến, sự khinh bỉ trước thái độ Hèn với giặc - Ác với dân của thành phần lãnh đạo Đảng cũng làm nỗi sợ Đảng bớt đi nhiều. Và thế là họ công khai thể hiện lòng yêu nước của mình bằng cách xuống đường phản đối Trung Quốc xâm lược bất kể Đảng có cho phép hay không. Rồi khi bị cấm quyền yêu nước, họ dạn dĩ tham gia các buổi phổ biến Quyền con người. Và cứ thế mà tiến tới.   Sau hết, nhiều người không chỉ vượt qua sợ hãi mà còn nhìn ra một thực tế khác. Chính lãnh đạo Đảng mới là những kẻ đang mang nhiều nỗi lo sợ hơn ai hết. Họ sợ sự phát triển của công nghệ thông tin dẫn đến sự gia tăng nhận thức của người dân. Từ đó họ sợ những tội ác khủng khiếp của các chế độ cộng sản trên khắp thế giới và tại Việt Nam sẽ không còn có thể che đậy được nữa. Họ sợ toàn dân biết rõ con đường xây dựng CNXH là con đường hoang tưởng mà cả thế giới đã vất bỏ, đặc biệt ngay tại nơi sản sinh ra nó. Họ sợ từng hành động đánh, giết, khủng bố dân để bảo vệ chế độ từ nay sẽ bị chính người dân thu hình, thu âm, thu bằng chứng và lưu trữ để chờ ngày đưa họ ra tòa án nhân dân như tại các nước vừa đổi đời. Họ sợ các núi của cải vừa đào khoét được từ tài nguyên đất nước và cướp trắng của dân sẽ không giữ được. Và còn nhiều nỗi sợ khác nữa nhưng căn bản vẫn là: ĐẢNG SỢ CÁI NGÀY DÂN HẾT SỢ. Điều dại dột của lãnh đạo Đảng, dù đã có thấy nhiều tấm gương từ Bungari đến Libya, là càng sợ thì lại càng cố che đậy bằng thái độ hùng hổ và nâng cấp bạo hành, thí dụ như từ chính sách làm ngơ cho công an đánh người nay đã nâng cấp đến mức chính thức cho công an bắn dân tại chỗ. Nhưng như đã thấy trên khắp thế giới, đến mức này thì dân càng bị dồn vào đường cùng sẽ càng tức nước vỡ bờ nhiều hơn và nhanh hơn mà thôi, cũng như hồ sơ tội ác của từng cán bộ ác ôn sẽ càng dày hơn thôi.   Tóm lại ở xã hội Việt Nam hiện nay có 3 loại sợ khác nhau:   1. Nỗi sợ của những kẻ đáng khinh. Họ chỉ lo mất ghế cai trị và khả năng tiếp tục nạo khoét đất nước. Nhưng càng sợ họ càng ác và càng sẵn sàng bán luôn đất nước; nghĩa là càng thu ngắn tuổi thọ của chế độ.   2. Nỗi sợ của những người đáng thương. Đây chính là đại khối đồng bào của tôi, những người đã phải sống cả đời trong đói khổ và bị bao trùm bởi trấn áp, đe dọa liên tục. Nhưng trong tay họ là sức mạnh toàn năng của dân tộc và là chìa khóa tương lai của đất nước.   3. Nỗi sợ của những vị đáng kính. Họ là những người không sợ gì cho chính mình nhưng lo nhiều cho các thế hệ tương lai và sinh mạng của đất nước. Lo đến nỗi họ sẵn sàng gạt sang một bên mọi thủ đoạn xách nhiễu, đe dọa, và trả thù hạ cấp của chế độ để bước ra tranh đấu công khai. Xin cho tôi cùng với đại khối đồng bào tiến bước theo những ngọn đuốc lương tâm, những nhà trí thức đang chấp nhận đi đầu trên con đường gian nan để xóa sạch mọi nỗi sợ trên đất nước chúng ta. Thanh Hóa 21/12/2013 Nguyễn Trung Tôn Điện Thoại 01628387716  
......

Mỹ thắng Tàu một bước

Tập Cận Bình đang nhường một nước cờ ngoại giao, để rảnh tay củng cố địa vị qua “trận càn quét” các đối thủ chính trị quy tụ trong “Ðảng Dầu lửa” và “Ðảng An ninh” mà Chu Vĩnh Khang đứng đầu cả hai. Trong lúc Tập Cận Bình lo các nước cờ hạ thủ Chu Vĩnh Khang một cách ngoạn mục, thì John Kerry đã thắng một cuộc cờ ngoại giao ngay trong vùng Ðông Nam Á, nơi Bắc Kinh vẫn coi là “ao nhà” của mình, không muốn cho Mỹ can dự.   Ngoại trưởng Kerry trò chuyện với các sinh viên trước khi đọc một bài phát biểu tại xã Tân An Tây, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.  Ảnh: Bộ Ngoại giao Mỹ.   Trong cuộc thăm viếng Việt Nam, rồi Philippines, những lời tuyên bố và hành động của ngoại trưởng Mỹ đều công khai nhắm vào Trung Cộng, không úp mở. Về hành động thì những việc làm mới của chính phủ Mỹ thì không có gì đáng coi là nghiêm trọng; nhưng các lời nói thì cố ý gây ảnh hưởng mạnh. Trên trường ngoại giao, người ta chỉ cần tạo ảnh hưởng tâm lý như thế. Chi tiền ít mà vẫn nói được nhiều, rõ ràng là lợi lớn.   Tại Việt Nam, John Kerry chỉ giúp thêm 32.5 triệu Mỹ kim cho các nước ASEAN. Nhưng lời tuyên bố nói rõ mục đích là giúp vùng Ðông Nam Á bảo vệ lãnh hải chống xâm lăng. Số tiền 32 triệu không đáng là bao. Nhưng Hiệp Hội Các Quốc Gia Ðông Nam Á lo bị ai xâm lăng? Ai cũng biết, chỉ có Trung Cộng. Số tiền 18 triệu Mỹ kim giúp riêng cho Việt Nam cũng không cao. Chắc là các lãnh tụ đảng Cộng sản ở Hà Nội rất thất vọng. Không phải vì ngoại trưởng Mỹ lại lên lớp đặt vấn đề nhân quyền; điều này John Kerry bắt buộc phải làm vì trước khi lên đường đã nhận được thư thúc đẩy của 47 nhà lập pháp Hoa Kỳ yêu cầu. Nỗi thất vọng của các quan chức Hà Nội là chính phủ Mỹ chỉ viện trợ dưới hình thức năm chiếc tầu thủy cho Lực Lượng Phòng Vệ Duyên Hải sử dụng trong việc tuần tiễu. Lính đi tuần tiễu tức là các quan lớn khó nhân cơ hội rút ruột. Trong khi đó thì nhân cơ hội có mặt tại chiến trường mà ông đã đóng vai chiến sĩ Hải quân Mỹ nửa thế kỷ trước, John Kerry lại tấn công ngoại giao nhắm vào Bắc Kinh.   John Kerry nói: “Hòa Bình và ổn định trong Biển Hoa Nam là ưu tiên hàng đầu của Hoa Kỳ và những quốc gia trong vùng. Chúng tôi rất lo ngại và phản đối mạnh mẽ những chiến thuật ép buộc và gây hấn để tiến hành những đòi hỏi lãnh thổ.” Nước nào gây hấn và ép buộc? Nước nào đã và đang tìm cách bành trướng lãnh thổ? Ai cũng biết, đó là Trung Cộng. Tại Philippines, John Kerry cũng chỉ đến để kết thúc những cuộc đàm phán giữa các viên chức ngoại giao hai nước. Các hiệp ước xác định thủ tục để quân đội Mỹ, gồm cả máy bay, tầu thủy, và bộ binh được đóng tạm trên đất Philippines. Sau khi Mỹ đóng cửa các căn cứ ở Philippines từ năm 1992, đây là những thỏa hiệp đầu tiên chính thức cho phép quân đội Mỹ trở lại. Nhưng trong thực tế, phi cơ và tàu chiến Mỹ đã tới Philippines rất nhiều lần trong các năm qua, được dư luận dân chúng hoan nghênh nồng nhiệt. Cho nên việc ký kết các thỏa ước mới chỉ là công việc bình thường. Nhưng những lời tuyên bố của cả hai ông ngoại trưởng Albert F. del Rosario và John Kerry thì không bình thường.   John Kerry nói: “Hiệp Chúng Quốc mạnh mẽ chống lại đường lối sử dụng hăm dọa (intimidation), cưỡng bách (coercion) hay hiếu chiến (aggression) của các quốc gia để bành trướng lãnh thổ. Kho tự vựng ngoại giao của các nước Ðông Nam Á trong tương lai sẽ chứa đầy những chữ hăm dọa, cưỡng bách, và hiếu chiến; quà tặng của ông ngoại trưởng Mỹ. Và chắc chắn họ sẽ thong thả đem ra dùng mỗi khi nói đến Trung Cộng (trừ chính quyền hai xứ Camphuchia và Việt Nam). Món quà mà ông John Kerry đem lại cho chính phủ Philippines chỉ có 40 triệu Mỹ kim, cũng nhắm vào việc tuần tiễu duyên hải. Nhưng quan trọng hơn là lời nói, tuy chỉ nhắc lại những lời mà chính phủ Mỹ vẫn nói: Nước Mỹ cương quyết bảo vệ nền an ninh của Philippines. Ðiều này thực ra không cần nói, vì hai nước vẫn còn hiệp ước phòng thủ hỗ tương; nhưng nhắc lại vẫn tạo thêm ảnh hưởng trước mắt. Nhưng trong khi nhắc lại, Kerry còn nói thêm “và an ninh trong vùng.” Mấy chữ chót này là món quà cho các nước Ðông Nam Á. Cũng như khi đến Việt Nam, tại Philippines ông Kerry đã nhắc lại những lời chỉ trích chính quyền Bắc Kinh trong việc công bố “vùng phòng không” (ADIZ) trong vùng biển Ðông Bắc. Ông nói chính thức: Nước Mỹ không công nhận vùng ADIZ này. Trong thực tế, chính quyền Mỹ đã cho ngay hai pháo đài bay B52 lượn qua vùng này ngay sau khi Bắc Kinh công bố, mà chẳng sao cả. Nhưng khác với chính quyền Cộng sản Việt Nam, Ngoại trưởng Albert F. del Rosario của Philippines cũng lớn tiếng đả kích Bắc Kinh trong vụ ADIZ. Nhưng lời tuyên bố quan trọng hơn nữa, là cả hai ông ngoại trưởng đã báo trước sẽ không chấp nhận nếu Trung Cộng vẽ ra một vùng ADIZ trong vùng biển Ðông Nam Á. Ðây là điều mọi người vẫn biết là thái độ của chính phủ Mỹ. Nhưng điều đó được công bố, và công bố ngay tại Manila, là một nước cờ ngoạn mục. Chuyến đi của ông Kerry tại Philippines tình cờ trùng hợp với các công tác cứu trợ nạn nhân bão Haiyan, mà số đóng góp của chính phủ Mỹ đang được người Phi hoan hô. Ngoài số tiền 20 triệu đô la, họ còn gửi tới một mẫu hạm, với một ngàn thủy quân lục chiến đến làm việc.   Người Phi ai cũng biết chính phủ Bắc Kinh tuyên bố chỉ giúp 100,000 đô la, bằng một phần tư số tiền do một tổ chức thiện nguyện VOICE của người Việt Nam đóng góp (Luật sư Trịnh Hội cho biết, riêng một ngôi chùa người Việt tại Mỹ đã nhờ chuyển 50 ngàn đô la cứu trợ). Sau khi nghe dư luận thế giới đàm tiếu, Bắc Kinh đã phải nâng số tiền cứu trợ lên hai triệu Mỹ kim. Họ không biết câu tục ngữ Việt Nam: Ðồng tiền đi trước là đồng tiền khôn; đồng tiền đi sau là dại. Chuyến đi của John Kerry phải đặt trong bối cảnh những xung đột ngoại giao đang diễn ra giữa Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc, ở phía Bắc Á Châu. Sau khi Bắc Kinh tuyên bố lập vùng phòng không ADIZ, nước Nhật đã phản ứng, bằng việc làm. Ngày hôm qua, 17 tháng 12, 2013, chính phủ Nhật Bản đã công bố những chiến lược quốc phòng mới. Thủ tướng Shinzo Abe gọi đây là kế hoạch quốc phòng, nhưng ai cũng thấy tầm quan trọng trong lâu dài. Nhật Bản sẽ mua thêm các máy bay không người lái và các tàu đổ bộ, là những thứ không thể coi là vũ khí “phòng thủ” như bản Hiến pháp Nhật đòi hỏi. Ngân sách quốc phòng Nhật sẽ gia tăng trong mười năm tới, đi ngược lại chiều hướng cắt giảm trong mười năm qua. Chính phủ Nhật cũng sẽ giảm bớt các hạn chế trong việc xuất cảng vũ khí. Các biện pháp đó chắc sẽ được giới tư bản công nghiệp ở Nhật hoan nghênh. Bản kế hoạch của ông Shinzo Abe công bố hôm qua sẽ tăng ngân sách quốc phòng thêm 12 tỷ trong năm năm tới. Số chi tiêu sẽ lên tới 246 tỷ Mỹ kim. Ngân sách quốc phòng Nhật Bản hiện đứng hàng thứ 5 trên thế giới, mặc dù vẫn bị cấm không được lập quân đội ngoài lực lượng tự vệ. Ngân sách quốc phòng của Trung Quốc đứng hàng thứ hai, sau nước Mỹ. Nhưng nếu so sánh lực lượng hải quân và không quân thì Nhật Bản vẫn mạnh hơn Trung Quốc. Một điểm mới trong kế hoạch mới là việc nghiên cứu sẽ mua các vũ khí tấn công có tầm xa; lý do được nêu lên là đề phòng Bắc Hàn tấn công bằng hỏa tiễn và bom nguyên tử. Ông Abe còn giải thích công việc tự vệ bao gồm cả việc bảo vệ một nước đồng minh bị xâm lăng. Rõ ràng là ông đang giải thích bản Hiến pháp “hòa bình, phi quân sự” của nước ông theo lối mới. Tất cả là những phản ứng trước thái độ hung hăng của Bắc Kinh trong vùng biển phía Ðông Trung Quốc. Trong khi đó thì đối với nước Mỹ, Bắc Kinh vẫn rất hòa dịu. Cuộc đụng độ với chiến hạm Mỹ USS Cowpens khi đang bám theo quan sát mẫu hạm Liêu Ninh xảy ra ngày 5 tháng 12 đã được Bắc Kinh dìm xuống hàng tin tức không quan trọng. Sau đó, Bắc Kinh cho biết sẽ tiếp tục tham dự một cuộc tập trận lớn, mang tên Rimpac, do bộ chỉ huy hải quân Mỹ ở Thái Bình Dương tổ chức.   Tập Cận Bình đang lo đối phó với các đối thủ trong đảng, trong nước. Cho nên Ngoại trưởng John Kerry tha hồ múa gậy vườn hoang. Nhưng đối với các nước Ðông Nam Á, cuộc múa gậy này rất ngoạn mục. Dân chúng miền này sẽ ngủ ngon hơn khi biết chính phủ Mỹ vẫn giữ đúng chủ trương “chuyển trục” về Á Châu. 17.12.013 - Ngô Nhân Dụng Nguồn: nguoi-viet.com
......

TAG DER MENSCHENRECHTE

10. Dezember 2013      Anlässlich des 65. Geburtstags der Allgemeinen Erklärung der Menschenrechte veröffentliche ich an dieser Stelle meinen Redebeitrag beim Tag der Menschenrechte für Vietnam, der am 7. Dezember 2013 in der Gemeinde Sankt Aloysius (Berlin-Wedding) stattfand. Sehr geehrte Damen und Herren, liebe Freundinnen und Freunde, vielen herzlichen Dank für die Einladung zum Tag der Menschenrechte für Vietnam, zu diesem Treffen hier in der Gemeinde Sankt Aloysius, die ich noch aus meiner Weddinger Zeit vor rund zehn Jahren kenne. Besonders danken möchte ich Herrn Dr. Trần Văn Tích vom Bundesverband der vietnamesischen Flüchtlinge in Deutschland für die Begleitung per E-Mail im Vorfeld des heutigen Abends. Wie komme ich zu der Ehre, hier und heute zu Ihnen sprechen zu dürfen? Sie werden schon an der Aussprache des Namens vorhin gemerkt haben, dass ich kein Vietnamesisch spreche. In der Tat bin ich kein Vietnam-Experte. Ob ich Menschenrechtsexperte bin, weiß ich nicht, aber ich habe mich zumindest in den letzten Jahren immer wieder mit Menschenrechtsfragen beschäftigt. Das wiederum hängt damit zusammen, dass mir die Menschenrechte am Herzen liegen, nicht nur, wenn es um Vietnam geht, sondern ganz allgemein. Also, Sie haben mich eingeladen als Person, die sich mehr mit den Menschenrechten als mit Vietnam beschäftigt, in der letzten Zeit aber vermehrt mit der Menschenrechtslage in Vietnam. 1. „Vietnam. Drei katholische Blogger in Haft“, „Vietnam. Neue Verhaftungswelle“, „Erst Kritik, dann Entlassung. Alltag in Vietnam“, „Vietnam. Wo Religion Privatsache ist“, „Studenten in Vietnam verurteilt“ – das sind einige der Überschriften, unter denen ich in diesem Jahr in meinem Weblog Jobo72 über die katastrophale Menschenrechtslage in Vietnam berichten musste. Auf die prekäre Menschenrechtslage in Vietnam wurde ich aufgrund eines Prozesses gegen 14 katholische Blogger am Anfang des Jahres aufmerksam. Als katholischer Blogger, der ich bin, muss ich auch in Deutschland einiges an Gegenwind ertragen, doch für meine Beiträge zehn, fünfzehn Jahre hinter Gittern zu verschwinden, das ist hierzulande undenkbar. Anders in Vietnam. Dort reichen, wie Sie ja wissen, einige kritische Bemerkungen aus, um inhaftiert zu werden. Wie kann ich meinen fernen Kolleginnen und Kollegen helfen, deren Schicksal mir nahe ging? Diese Frage beschäftigte mich. Einerseits: berichten, informieren, Partei ergreifen. Das war mir aber nicht genug. So entstand eine Petition, in der ich von den Vertretern meines Landes, also Deutschlands, diplomatische Maßnahmen zur Verbesserung der Menschenrechtssituation in Vietnam einforderte. Sie wurde über 2500 mal unterzeichnet. Mittlerweile habe ich die Petition an die Gremien weitergeleitet, an den Petitionsausschuss des Deutschen Bundestages und an die menschenrechtspolitischen Sprecherinnen bzw. Sprecher der Fraktionen – noch in der alten Zusammensetzung des Parlaments. Wie Sie wissen, befindet sich das politische Deutschland seit gut einem halben Jahr in einer kollektiven Nabelschau – erst Wahlkampf, dann die Wahl, jetzt seit einigen Wochen die schwierigen Koalitionsverhandlungen, die ja in diesen Tagen zum Abschluss kommen. Ich denke, dass wir bald wieder eine handlungsfähige Regierung haben werden, spätestens dann im nächsten Jahr, einen neuen Menschenrechtsbeauftragten ohnehin – denn der jetzige ist von der FDP. Dann wird es auch mit der Alltagsarbeit im Bundestag und in den Ministerien weitergehen. Und der Einsatz für Menschenrechte muss Alltag deutscher Politik sein. 2. Warum sind Menschenrechte so wichtig? Menschenrechte bürgen für Freiheit und die Bedeutung der Freiheit kann gar nicht hoch genug angesetzt werden. Für uns Deutsche, also für die Menschen meiner Generation, die aus dem Westen kommen, ist Freiheit selbstverständlich. Dass es nicht selbstverständlich ist, das können uns schon unsere Landsleute aus dem Osten sagen, die erst nach vielen Jahrzehnten Diktatur in den Genuss der Freiheit kamen. Und umso mehr sagen es uns die Menschen, die heute immer noch in Unfreiheit leben, entweder persönlich, wie heute Abend hier, oder aber durch Horrornachrichten, wie wir sie immer wieder aus den Ländern hören, in denen es keine Freiheit gibt, aus dem Iran, aus Nordkorea oder eben aus Vietnam. Noch einmal: Warum ist Freiheit, warum sind entsprechende Freiheitsrechte wichtig? Sie sind wichtig, weil sie zum einen das Wesen des Menschen berücksichtigen (wir sind nun mal nicht alle gleich) und zum anderen die Gesellschaft insgesamt politisch und wirtschaftlich voranbringen, durch Teilhabe der geeigneten Personen an den Entscheidungen (und nicht der Personen mit dem richtigen Parteibuch), durch die Chance, sich selbst zu verwirklichen und mit der Entfaltung der eigenen Talente die ganze Gemeinschaft voranzubringen (Wissenschaft, aber auch Kunst braucht in dieser Hinsicht Freiheit) und schließlich auch durch eine gerechte oder zumindest nicht ganz so ungerechte Verteilung der Güter auf einem freien Markt, wobei sich hier auch die Grenzen der Freiheit zeigen: die Freiheit des Anderen, vor allem die des Schwächeren. Für den Einzelnen ist vor allem die Gewissens-, Glaubens- und Religionsfreiheit ein hohes Gut. In Europa hat es lange gedauert, bis man das eingesehen hat. Auch die Katholische Kirche hat lange gebraucht, um die Gewissens-, Glaubens- und Religionsfreiheit anzuerkennen, im Grunde ist das erst im Zweiten Vatikanischen Konzil passiert, vorher nicht. Dabei ist die Gewissens-, Glaubens- und Religionsfreiheit ein zentrales, herausragendes, elementares und – bezogen auf die Genese der Menschenrechtsidee – ursprüngliches Menschenrecht und die Menschenrechte selbst lassen sich ohne das Christliche Menschenbild und die besondere Würde des Menschen als ebenbildliches Geschöpf Gottes gar nicht verstehen. Christliches Gedankengut zeigt sich denn auch überall im Kontext der liberalen Menschenrechte, in der Entwicklung, dem Wesen und dem Geltungsanspruch dessen, was als Freiheit von staatlicher Allmacht definiert wird. Es zeigt sich in Leib- und Lebensrechten, wie etwa im Folterverbot, und es liegt der Gleichberechtigung, zugrunde, die darauf basiert, dass wir Menschen vor Gott alle gleich sind, auch, wenn wir unterschiedlich aussehen, unterschiedliche Fähigkeiten haben und an Unterschiedliches glauben. In diesem Bewusstsein kann man Niemanden von den Menschenrechten ausschließen. Wer immer das tut, auch, wenn er dabei meint, die Kirche zu vertreten, handelt unchristlich. Das bedeutet nicht, dass man als Christ oder dass die Kirche insgesamt nicht eine klare Vorstellung von Gut und Böse haben sollte, von Wahrheit und Irrtum. Es bedeutet nicht, dass alles gleich gültig ist, ins Belieben des Menschen gestellt. Ganz und gar nicht. die Freiheit des Anderen, vor allem die des Schwächeren, dass sich aus der Sicht von Staat, Kirche und Gemeinschaft nichts Respektables an ihr finden lässt. Auch dann soll dieser Mensch frei sein, soll dieser Mensch seine Meinung sagen dürfen, soll dieser Mensch leben. Die Trennung von Person und Position, negativ: von Sünder und Sünde, ist ein Grundgedanke der christlichen Ethik, die sich in der Forderung nach Toleranz wiederfinden lässt. Die vielen Freiheiten in Politik, Wissenschaft, Medien und Kunst, das macht nicht zuletzt ein Blick in die Entwicklungsgeschichte der Menschenrechtsidee deutlich, gründen auf der einen elementaren Freiheit, der Gewissens-, Glaubens- und Religionsfreiheit. Dies lässt sich historisch zurückverfolgen bis zum Exodus des jüdischen Volkes, in der sich die erste kollektive Freiheitsbewegung der Geschichte manifestiert, deren Motiv auch in der religiösen Integrität der Israeliten liegt. Dann zeigt es sich in der Reformation, als Luther sein Gewissen bemüht und für sein Bekenntnis schließlich Anerkennung erwirkt. Bis zur echten Gewissens-, Glaubens- und Religionsfreiheit sollte es zwar noch einige Jahrhunderte dauern, aber immerhin wurde Mitte des 16. Jahrhunderts in Augsburg der Grundstein gelegt. Die Reformation ist die Urform des neuzeitlichen Widerstands gegen missbrauchte Macht. Man nennt die Menschen, die Luther folgen, bis heute auch Protestanten, also „Widerständische“. In diesem Sinne bin ich auch Protestant! Der Staatsrechtler Jellinek sieht in der Gewissens-, Glaubens- und Religionsfreiheit „das Ursprungsrecht der verfassungsmäßig gewährten Grundrechte“. Und der in Religionsfragen eher unverdächtige Marxist Ernst Bloch meint: „Die Bedeutung der Glaubensfreiheit kann daran gemessen werden, dass in ihr der erste Keim zur Erklärung der übrigen Menschenrechte enthalten ist“. Kurzum: Ringen um Freiheit war und ist zunächst das Ringen um Gewissens-, Glaubens- und Religionsfreiheit. Auch in Vietnam. In meinem neuen Buch „Das Gewissen“ geht es auch um diesen Zusammenhang von Gewissen, Glauben, Religion und den Menschenrechten, insbesondere den liberalen Menschenrechten, also den Freiheitsrechten. Mein Buch „Das Gewissen“ – das war der Werbeblock. Für die Gemeinschaft ist vor allem die Meinungs- und Pressefreiheit wichtig. Sie ermöglicht die Kritik der Zustände und damit die Bereitstellung von Lösungsansätzen zu ihrer Verbesserung. Deswegen laufen in Diktaturen bestimmte Dinge so katastrophal schief: Weil sich keiner traut, etwas dagegen zu sagen. Um das zu wissen, muss man noch nicht mal Demokrat sein. Auch ein guter König verlangt von seinen Beratern Ehrlichkeit. Denn irgendwann wird das Schweigen und Heucheln von der Realität bestraft. Bei den katholischen Bloggern, von denen ich eingangs sprach, kommt nun beides zusammen: Ein Mangel an Gewissens-, Glaubens- und Religionsfreiheit sowie ein Mangel an Meinungs- und Pressefreiheit. Das ist doppelt schlimm: Sie können nicht katholisch sein und sie können keine Blogger sein. Um ihnen beides zu ermöglichen, dafür habe ich in diesem Jahr gekämpft und werde es auch weiterhin tun. 3. Am Dienstag jährt sich die Verkündigung der Allgemeinen Erklärung der Menschenrechte zum 65. Mal. Am 10. Dezember 1948 beschloss die Generalversammlung der Vereinten Nationen die Resolution 217 A (III), die 30 Artikel der Allgemeinen Erklärung der Menschenrechte. Sie tat dies vor dem Hintergrund der Erfahrungen des Zweiten Weltkriegs und der Shoa, sie tat dies, um künftigen Generationen die Ausübung von Gewalt und Unterdrückung zumindest etwas zu erschweren. Ein für alle mal sollte der Welt klar gemacht werden: „Alle Menschen sind frei und gleich an Würde und Rechten geboren. Sie sind mit Vernunft und Gewissen begabt und sollen einander im Geiste der Brüderlichkeit begegnen.“ Alle Menschen. Die Betonung in dieser Formulierung liegt auf dem Wort alle. Die AEMR enthält Allaussagen, was den Anspruch auf universale Geltung hervorhebt. Menschenrechte sind Rechte für alle Menschen, unabhängig von ihrem Aufenthaltsort oder ihrem Glauben, ihrer Weltanschauung oder ihrem Geschlecht. Die Allgemeine Erklärung der Menschenrechte hat einen universellen Geltungsanspruch. Mit Universalität meine ich hier die Annahme unbegrenzter, überzeitlicher, unveränderlicher Gültigkeit einer Norm aufgrund eines allgemeinen Begründungstatbestands, dem jeder vernünftige Mensch zustimmen muss. Bei der Universalität geht es also um eine ethische Letztbegründung, die eine Norm universalisierbar macht. Universalisierbarkeit bedeutet entsprechend die allgemeine Anerkennung einer Norm und die Beachtung derselben aufgrund der Möglichkeit der Einsicht in den Begründungszusammenhang dieser Norm. Als Aufgabe würde die Universalisierung die faktische Umsetzung von als allgemeingültig anerkannten Normen vornehmen. Davon abzugrenzen ist eine Uniformierung, die auf die Durchsetzung bestimmter Normen weltweit setzt, wobei es aber an der Fundierung mittels des universalen Begründungszusammenhangs mangelt. Das muss man unterscheiden. Was die Vereinten Nationen mit der Allgemeinen Erklärung der Menschenrechte wollen, ist die Universalisierung fundamentaler Rechte, weil es eben keinen vernünftigen Grund gibt, jemanden von diesen Rechten auszuschließen, nur, weil er Hindu ist oder schwarz oder eine Frau oder Staatsbürger von Belgien. Damit ist nicht Uniformierung gemeint, was oft unterstellt wird. Es geht nicht darum, der ganzen Welt von oben herab eine christlich grundierte westliche Lebensform aufzudrängen. Dass die Weltgemeinschaft keinen ethischen Relativismus will, bedeutet nicht, dass sie keinen kulturellen Pluralismus duldet, solange eben elementare Rechte gewahrt bleiben. Das heißt: Die Geltung der Menschenrechte wird nicht durch ihre Genesis beschränkt. Dass sich die Menschenrechte einer bestimmten Tradition abendländischen Denkens verdanken (nämlich dem christlichen Humanismus), sagt nichts darüber aus, für wen sie gut sind (nämlich nicht nur für christliche Humanisten). Konkretisiert wurde der Gedanke universaler Menschenrechte aus der Allgemeinen Erklärung, die kein völkerrechtlich verbindlicher Vertrag, sondern bloß eine Art Absichtserklärung ist, in den Menschenrechtspakten, die rund 20 Jahre später verabschiedet wurden (1966). Die Sozialistische Republik Vietnam hat sowohl den Internationalen Pakt über bürgerliche und politische Rechte als auch den Internationalen Pakt über wirtschaftliche, soziale und kulturelle Rechte ratifiziert und ist daher an die Inhalte dieser Verträge gebunden, also für die Wahrung der Menschenrechte verantwortlich. 4. Ich komme zum Schluss. Was können wir tun? Kurz gesagt: Unsere Freiheit hierzulande, für die wir dankbar sein können, nutzen, um auf die Lage derer, die diese Freiheit nicht haben, aufmerksam zu machen. Fast täglich erreichen mich Meldungen über neue Menschenrechtsverletzungen in Vietnam. Ich komme mit dem Berichten kaum nach. Seien Sie aber versichert, dass ich am Ball bleibe. Das Thema „Menschenrechte in Vietnam“ wird auch in Zukunft ein ganz zentrales Anliegen meiner Arbeit als Blogger sein. So lange, bis sich etwas ändert, so lange, bis die Kolleginnen und Kollegen in Vietnam genauso frei berichten können wie ich das hier in Deutschland tun kann. Vielen Dank für Ihre Aufmerksamkeit! (Josef Bordat)
......

Phong Trào Bất Tuân Dân Sự Tiến Lên

Nếu chúng ta không gấp rút vận động tổ chức các hoạt động bất tuân dân sự thành những phong trào rộng lớn, khắp nơi để tràn ngập lực lượng côn an, dân phòng, xã hội đen đủ loại, chúng ta sẽ bị chia cắt, chịu tổn thất lẻ tẻ, bị cô lập, bắt bớ theo cách bẽ đũa bẽ từng chiếc. Vạn sự khởi đầu nan! Tới nay đã có những bước khởi đầu phấn khởi. Vậy thì tất cả đồng lòng mở rộng vòng tay, kết thành đại khối đấu tranh, phát khởi cuộc toàn quốc phản kháng, đưa Đất nước, Dân tộc vào VẬN HỘI MỚI. * Ông David Steinman, một luật sư Hoa Kỳ và cộng sự viên của TNS Daniel Moynihan khuyến cáo rằng: “Sớm muộn gì quý vị cũng phải dùng biện pháp bất tuân dân sự (civil disobedience). Phải có phong trào bất tuân dân sự trên toàn quốc mới hy vọng thay đổi được chế độ cộng sản độc tài.” Câu khuyến cáo kể trên được phát biểu cách nay hơn ba mươi năm. Bây giờ là lúc người Việt chúng ta phải hy sinh để thực hiện cho bằng được để có thể xóa bỏ độc tài, độc đảng và mang lại nền dân chủ thật sự cho đất nước. Bà J. W. E Spies, Bộ trưởng Nội vụ Hòa Lan cũng nói rằng: “Người Việt Nam trước tiên phải hy sinh, phải tranh đấu cụ thể cho đất nước của chính mình trước khi mong đợi người ngoài giúp đỡ.” Những điều mà ông David Steinman và bà J. W. E Spies phát biểu đã và đang từng bước hình thành tại Việt Nam. Ngày 10 tháng 12, 2013, Mạng Lưới Blogger VN chính thức ra mắt tại Hà Nội. Câu kết của bản tuyên bố ra mắt: “Chúng tôi tin rằng mọi công dân Việt Nam phải có quyền quyết định vận mạng của mình và góp phần quyết định vận mạng của đất nước; và những quyền này không thể là đặc quyền, được giao phó hay bị giành riêng bởi một nhóm người, một tập thể nào trong xã hội”. Tại Hoa Kỳ, một đất nước Tự do - Dân chủ có câu nói phổ thông: Mỗi người dân đều có MỘT TIẾNG NÓI về hướng đi của quốc gia (Everyone has A SAY about national direction), thể hiện trong đời sống chánh trị: Mỗi người MỘT LÁ PHIẾU (One person, one vote). Câu chuyện ra mắt Nhóm Blogger nầy tự thân mang 3 ý nghĩa: 1/ Bất tuân lệnh cấm tụ họp quá 5 người theo nghị quyết 38 NQ/CP. 2/ Bất tuân lệnh cấm lập hội tư. 3/ Phản kháng NĐ72 về hạn chế thông tin và đòi quyền tự do phát biểu tư tưởng, chính kiến. Ngày 11/12/ 2013, LS. Lê Thị Công Nhân loan báo việc thành lập “Hội Bầu Bí Tương Thân” với mục tiêu kể sau: “Mục tiêu của Hội nhằm góp phần giảm bớt gánh nặng tài chính và sự đơn độc cho tù nhân lương tâm, dân oan và gia đình của họ bằng việc hỗ trợ vật chất và chia sẻ tinh thần.” Việc lập hội nầy cũng là hình thức bất tuân dân sự về qui chế lập hội tư vừa tỏ ý đoàn kết với tù nhân lương tâm và dân oan. Nêu lên hai trường hợp mới nhất về hoạt động “xã hội dân sự tự phát” để cho thấy bước khởi đầu đầy triển vọng để tiến lên thành phong trào bất tuân dân sự rộng lớn. Trên đây là các hội hoạt động nhằm vào các quyền dân sự phổ quát. Bây giờ xin đi thẳng vào triển vọng thành lập các phong trào tranh đấu trực diện sát sườn theo phương thức “bất tuân Dân sự.” 1/ PHONG TRÀO NÔNG DÂN BẤT TUÂN CƯỞNG CHẾ Cho đến nay, các nhóm nông dân Văn Giang, Dương Nội, Vụ Bản trên Miền Bắc và nông dân, thị dân Sài gòn, Đồng Nai, Bình Dương, Long An, Mỹ Tho vẫn tranh đấu rời rạc. Vì vậy mà việc chống bạo quyền cào nhà cướp ruộng đất không có kết quả, mặc dù có 2 trường hợp dùng bạo lực như vụ Đoàn Văn Vươn, Hải Phòng và vụ bi thảm Đặng Ngọc Viết, Thái Bình. Vì vậy mà việc tổ chức, liên kết nông dân bị cưỡng chế ruộng đất thành một phong trào thật là cần thiết và cấp bách trong khi các điều kiện tổ chức phong trào đã chín muồi từ lâu.   2/ PHONG TRÀO CÔNG NHÂN BẤT TUÂN LUẬT CÔNG ĐOÀN “Ngày 27-10-2010 Đỗ Thị Minh Hạnh bị xử 7 năm tù giam với tội danh “phá rối an ninh trật tự nhằm chống lại chính quyền nhân dân” theo điều 89 Bộ luật Hình sự, vì đã rải truyền đơn kích động công nhân biểu tình, đình công.” Đó là câu chuyện của nhóm Đỗ Thị Minh Hạnh - Nguyễn Hoàng Quốc Hùng - Đoàn Huy Chương tổ chức công nhân xưởng giày da ở Trà Vinh đình công “tự phát” ngoài khuôn khổ “Công đoàn Nhà nước” hay công đoàn do đảng điều khiển thì cũng vậy.   Đây là điển hình của bất tuân dân sự tích cực dưới hình thức đình công. Chỉ tiếc một điều là nhóm Minh Hạnh hoạt động đơn lẽ, thiếu nhân nhóm hậu bị và nhất là liên kết tổ chức. Dù sao thì đây cũng là kinh nghiệm tốt nhất để các nhóm hoạt động về công nhân, lao động học hỏi rút kinh nghiệm về tổ chức và nhất là liên kết thành phong trào rộng lớn: Đình công đồng loạt trên một vùng kinh tế quan trọng như khu tam giác Sóng Thần, Thủ Đức - khu kỹ nghệ Biên Hòa - khu công nghiệp Thủ Dầu Một, Bình Dương có khả năng gây tê liệt sản xuất quan trọng. Nếu được như vậy, khi tổng bất tuân dân sự toàn quốc phát khởi, phong trào công nhân sẽ góp phần thật quan trọng. 3/ PHONG TRÀO TUỔI TRẺ YÊU NƯỚC Mùa hè năm 2011, trong 11 cuộc biểu tình của tuổi trẻ yêu nước chống tàu xâm lăng, hấu như vắng bóng giới sinh viên chính danh. Ngày 16 tháng 5 năm 2013, nữ sinh viên Nguyễn Phương Uyên và nam sinh viên Đinh Nguyên Kha hiên ngang thách đố cường quyền trước pháp đình cs Long An. Cô gái nhỏ tuổi đôi mươi Phương Uyên bị cáo buộc vì tội trương hai lời nguyền thắm máu: “Đi, chết đi đảng cộng sản vn bán nước” “Tàu khựa cút khỏi biển Đông” Nguyên Kha dõng dạc cất cao lời nói: “Tôi là người yêu nước, yêu dân tộc Tôi chỉ chống đảng cộng sản Mà chống đảng thì không có tội” Đây là hai tia lửa phát khởi giữa khung trời tối tăm của tập thể sinh viên. Rồi đây nếu được tổ chức dìu dắt sẽ trở thành lực lượng xung kích trong phong trào bất tuân dân sự toàn quốc. Nếu sinh viên, thanh niên hành động có tổ chức và đồng loạt sẽ là những chiến sĩ kiên cường vận động và tổ chức các phong trào nông dân, công nhân, phong trào chống sưu cao thuế nặng, phong trào bất tuân lịnh trưng tập quân sự, tức chống bắt lính... kể cả phong trào du ca về nguồn, ca ngợi anh hùng dân tộc chống xâm lăng, ca ngợi tình thương, tình tự Dân tộc... Tóm lại, trong cuộc vận động quảng bá nhân quyền ngày 10 tháng 12 vừa qua, máu đã đổ ở Sài Gòn. Nếu chúng ta không gấp rút vận động tổ chức các hoạt động bất tuân dân sự thành những phong trào rộng lớn, khắp nơi để tràn ngập lực lượng côn an, dân phòng, xã hội đen đủ loại, chúng ta sẽ bị chia cắt, chịu tổn thất lẻ tẻ, bị cô lập, bắt bớ theo cách bẽ đũa bẽ từng chiếc. Vạn sự khởi đầu nan! Tới nay đã có những bước khởi đầu phấn khởi. Vậy thì tất cả đồng lòng mở rộng vòng tay, kết thành đại khối đấu tranh, phát khởi cuộc toàn quốc phản kháng, đưa Đất nước, Dân tộc vào VẬN HỘI MỚI. Thanh niên là rường cột Quốc gia Là người chủ tương lai của Đất nước Tương lai của Quốc gia - Dân tộc nằm trong tay tất cả chúng ta! Nguyễn Nhơn Nguồn:danlambaovn.blogspot.com ***** Từ Độc Tài Đến Dân Chủ Gene Sharp Đấu Tranh Bất Bạo Động Việt Tân xin trân trọng giới thiệu đến đồng bào khắp nơi, đặc biệt là những vị đang đấu tranh cho Dân Chủ tại Việt Nam, tài liệu nghiên cứu Từ Độc Tài Đến Dân Chủ (From Dictatorship to Democracy) của Tiến sĩ Gene Sharp. Ông là một viện sĩ thuộc Học Viện Albert Einstein, chuyên nghiên cứu và hỗ trợ việc xây dựng thể chế dân chủ trên khắp thế giới. Trong tài liệu này TS Gene Sharp tổng hợp những bài học kinh nghiệm đấu tranh chống độc tài của nhiều dân tộc suốt hơn nửa thế kỷ qua.   Trong những năm tháng gần đây, các phong trào đấu tranh thành công tại Georgia, Ukraine, Kyrgystan, v.v... đã phiên dịch, truyền tay và tận dụng tài liệu này khi điều hướng các cuộc đấu tranh của quần chúng. http://www.viettan.org/Tu-%C4%90oc-Tai-%C4%90en-Dan-Chu,2250.html  
......

Các tổ chức NGOs yêu cầu tòa phúc thẩm xử Ls. Lê Quốc Quân trắng án theo pháp lý

Kính gửi: Chánh án Tòa Phúc thẩm, Tòa án Nhân dân Tối cao 262 phố Đội Cấn Ba Đình, Hà Nội, Việt Nam Fax: +8408048524 Ngày 10 tháng 12 năm 2013 Đồng kính gửi:   1)      Ngài Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam   2)      Ngài Trương Hòa Bình, Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao Việt Nam   3)      Ngài Franz Jessen, Đại sứ Phái đoàn Liên Hiệp Âu Châu tại Việt Nam   4)      Ngài Hugh Borrowman, Đại sứ Úc tại Việt Nam   5)      Ngài Antony Stokes, Đại sứ Vương quốc Anh tại Việt Nam   6)      Ngài David Devine, Đại sứ Canada tại Việt Nam   7)      Ngài Jean-Noël Poirier, Đại sứ Cộng hòa Pháp tại Việt Nam   8)      Ngài Joop Scheffers, Đại sứ Hà Lan tại Việt Nam   9)      Ngài David Shear, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam                   Về việc:  Các vấn đề pháp lý củng cố cho kháng cáo của ông Lê Quốc Quân đối với tội danh “Trốn thuế” Thưa Ngài Chánh án Tòa Phúc thẩm, Các tổ chức ký tên trong thư này mong muốn bày tỏ sự ủng hộ dành cho kháng cáo của ông Lê Quốc Quân đối với bản án gần đây áp đặt lên ông vì tội trốn thuế. Qua đây, chúng tôi muốn nhấn mạnh bốn vấn đề pháp lý củng cố cho kháng cáo của ông Quân, mà chúng tôi hy vọng Quý Tòa sẽ xem xét cả bốn vấn đề khi ra phán quyết về kháng cáo của ông Quân. Thứ nhất, bản thân bản án ngày 2 tháng 10 năm 2013 là không nhất quán. Tòa yêu cầu Công ty của ông Quân – Công ty TNHH Giải pháp Việt Nam – phải trả tiền phạt. Điều đó cho thấy rằng tội “trốn thuế” về mặt pháp lý là bị quy cho Công ty của ông Quân chứ không phải cho cá nhân ông Quân. Luật doanh nghiệp của Việt Nam có một nguyên tắc căn bản, là công ty có tư cách độc lập và riêng biệt với giám đốc công ty. Do cá nhân ông Quân không phải chịu trách nhiệm về tội “trốn thuế” quy cho Công ty của ông theo bản án ngày 2 tháng 10 năm 2013, nên ông Quân cần được trắng án.   Thứ hai, các tổ chức ký tên trong thư này muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ nhà nước pháp quyền. Phán quyết của Quý Tòa đối với kháng cáo của ông Quân sẽ gửi một tín hiệu quan trọng đến cộng đồng quốc tế về việc Việt Nam có thực hiện nguyên tắc này hay không.   Ai ai cũng biết ông Quân là một người phê bình các chính sách của nhà nước Việt Nam. Khi thực thi, theo đúng luật pháp, quyền tự do biểu đạt của cá nhân theo Điều 19 Công ước Quốc tế về Các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR), ông Quân đã nâng cao nhận thức của người dân về các vấn đề quan trọng như tình trạng vi phạm nhân quyền ở Việt Nam, vốn thường bị truyền thông nhà nước bỏ quên. Mới đây thôi, Ủy Ban Điều Tra Về Bắt Giữ Tùy Tiện của Liên Hiệp Quốc( UNWGAD) đã kết luận rằng việc bắt giam và truy tố ông Quân, rốt cuộc, có lẽ là để trừng phạt ông vì ông đã thực thi quyền tự do biểu đạt của mình theo Điều 19 của ICCPR. Kết luận của UNWGAD:   28. Xem xét và đọc qua các tài liệu thu thập trong vụ này, Ủy Ban tin rằng hồ sơ của ông Quân chủ yếu là các hoạt động về pháp lý của một người luật sư và một nhà tranh đấu cho nhân quyền. Việc ông bị bắt giam hiện nay có thể là kết quả của việc sử dụng các quyền tự do được bảo đảm bởi các luật nhân quyền quốc tế, một cách ôn hoà.   29. Các sự kiện dẫn tới việc bắt giam ông Quân vào ngày 27 tháng Mười Hai năm 2012 cho thấy có liên quan tới các bài viết về các quyền dân sự và chính trị của ông. Tuy ông Quân bị cáo buộc với tội danh trốn thuế. Là một người có quá trình đấu tranh cho nhân quyền và blogger, thì việc bắt giam và truy tố ông có thể nói là nhắm vào mục đích trừng phạt ông vì đã sử dụng quyền tự do dựa theo điều 19 của Luật Quốc Tế về Quyền Dân Sự Và Chính Trị (ICCPR) và cũng là để răn đe những người khác : Điều này cũng đã nhiều lần được báo cáo trong những lần bắt bớ và sách nhiễu ông Quân trước đây.[1]   Chúng tôi rất hy vọng rằng Tòa Phúc thẩm sẽ gìn giữ nhà nước pháp quyền bằng việc ra phán quyết về kháng cáo của ông Quân chỉ căn cứ vào luật pháp và các dữ kiện thực tế đã được chứng minh, mà không sợ và không chịu ảnh hưởng nào từ Cơ quan Hành pháp của Việt Nam.   Thứ ba, điều tối quan trọng là tại phiên phúc thẩm, Quý Tòa hãy đảm bảo quyền được xét xử công bằng của ông Quân theo Điều 14 ICCPR. Việt Nam là một nước tham gia ký kết ICCPR, và nghĩa vụ giữ gìn và đảm bảo quyền này là nghĩa vụ của tất cả các nhánh quyền lực trong chính quyền, trong đó có cả nhánh tư pháp. Giờ đây, khi Việt Nam đã vừa trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ, cộng đồng quốc tế sẽ theo sát kháng cáo của ông Quân với sự quan tâm lớn hơn trước. Quyết định của Quý Tòa đối với kháng cáo của ông Quân sẽ gửi đến cho cộng đồng quốc tế một tín hiệu đo lường mức độ Việt Nam tôn trọng các tiêu chuẩn quốc tế về nhân quyền.   Quyền được xét xử công bằng của ông Quân trước sau đều đã bị Tòa án cấp dưới (Tòa sơ thẩm) bỏ qua. Chẳng hạn, đơn xin tại ngoại của ông Quân, gửi ngày 29/12/2012, đã không được xử lý bằng văn bản, mặc dù quyền được tại ngoại trước khi xét xử đã được quy định tại Điều 9 ICCPR. Việc Tòa án cấp dưới không có một phương án giải quyết nào bằng văn bản đối với đơn xin tại ngoại của ông Quân là một chỉ dấu rõ ràng cho thấy ông đã không có quyền được xét xử công bằng như luật quốc tế quy định. Hơn thế nữa, một điều kiện thiết yếu của phiên tòa công bằng, theo luật quốc tế, là phải công khai. Điều này đã không được đảm bảo trong phiên xét xử sơ thẩm ông Quân vào tháng 10/2013. Một nhà quan sát nước ngoài, thuộc Mạng lưới ASF – tổ chức có ký tên trong thư này – đã có mặt ở Hà Nội để dự buổi xét xử ông Quân hồi tháng 10. Thật đáng tiếc, nhà quan sát nước ngoài đó đã nhận thông báo rằng bà không được phép vào dự phiên tòa. Người dân Việt Nam bị nghiêm cấm tham dự phiên xử ông Quân hồi tháng 10/2013. Hơn thế nữa, Việt Nam đã không thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình, là bảo vệ ông Quân trước việc bị bắt giữ tùy tiện, bảo đảm quyền tự do thân thể của ông, bảo đảm quyền được suy đoán vô tội và được tại ngoại trước khi xét xử. Việt Nam cũng không đảm bảo quyền của ông Quân được đền bù cho những thiệt hại mà hành động bắt giữ ông trái pháp luật đã gây ra. Các nghĩa vụ pháp lý đó được thẩm định trong bản đánh giá của Lawyers’ Rights Watch Canada, một tổ chức có ký tên trong thư này, “Tuyên bố về vụ ông Lê Quốc Quân và Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam: Vi phạm quyền được tại ngoại trước khi xét xử”.[2] Quan trọng hơn cả, UNWGAD đã kết luận rằng việc tiếp tục giam giữ ông Quân là bắt giữ tùy tiện, bởi vì nó vi phạm Điều 9 và 10 của Tuyên ngôn Phổ quát về Các Quyền Con người, vi phạm Điều 9 và 14 của ICCPR. UNWGAD có kết luận như sau về trường hợp ông Quân:   34. Căn cứ vào các sự việc kể trên, Nhóm Làm Việc Giam Giữ Tùy Tiện đưa đến các ý kiến sau: Căn cứ vào các sự việc ông Lê Quốc Quân là tùy tiện, vì đã vi phạm Điều 9 và 10 của Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và Điều 9 và 14 của Công Ước Quốc Tế Về Quyền Dân Sự và Chính Trị mà Việt Nam là một thành viên ký kết, và rơi vào loại III của các loại vi phạm cần được Ủy Ban lưu tâm.[3]   Do đó, chúng tôi trân trọng kêu gọi Quý Tòa ra phán quyết trả tự do ngay lập tức cho ông Quân, hoặc đảm bảo rằng quyền được xét xử công bằng của ông Quân sẽ được tôn trọng trong quá trình xử phúc thẩm tới đây bằng cách tạo điều kiện cho ông Quân và luật sư của ông có cơ hội được lắng nghe, và bằng cách xét xử công bằng, vô tư. Ở khía cạnh này, chúng tôi viện dẫn quyết định của UNWGAD về trường hợp ông Quân: 35. Kết quả dựa trên các ý kiến nêu trên, Ủy Ban yêu cầu chính quyền [Việt Nam] thực hiện các bước cần thiết để đền bù trường hợp của ông Lê Quốc Quân, là phải trả tự do ngay lập tức, hoặc phải đảm bảo tiến trình xét xử bởi một tòa án độc lập và không thiên vị nghiêm chỉnh tuân theo các luật lệ của ICCPR.[4]   Thứ tư, việc ông Quân là một luật sư có trình độ, và việc ông có các hoạt động trong cương vị một người bảo vệ nhân quyền và blogger theo đuổi nhiệm vụ của mình, phải được Việt Nam tôn trọng, đúng như Nguyên tắc thứ 16 của Các Nguyên tắc Cơ bản của LHQ về Vai trò của Luật sư, theo đó, các nhà nước phải đảm bảo rằng mọi luật sư đều “có thể tiến hành các hoạt động nghề nghiệp mà không bị đe dọa, cản trở, sách nhiễu hay can thiệp vô lý”. Quý Tòa có thể bảo đảm rằng Việt Nam hành động phù hợp với Điều 16 của Các Nguyên tắc căn bản của LHQ về Vai trò của Luật sư, bằng cách đảm bảo rằng ông Quân không trở thành nạn nhân của hành động truy tố có ác ý và hành động bắt giữ tùy tiện. Chúng tôi kiến nghị Quý Tòa xem xét một cách nghiêm túc các vấn đề pháp lý đã được nêu rõ trong thư này, khi ra phán quyết về kháng cáo của ông Quân. Cuối cùng, chúng tôi đề nghị Quý Tòa tuyên trắng án cho ông Quân, theo nguyên tắc Nhà nước Pháp quyền và theo các tiêu chuẩn quốc tế về nhân quyền. Trân trọng, Media Defence - Southeast Asia (MDSEA) HR Dipendra Giám đốc Article 19 Agnes Callamard Giám đốc Điều hành Réseau Avocats Sans Frontières / ASF Network Anne Lutun Điều phối viên ASF Network English PEN Cat Lucas Nhà báo, Risk Programme Manager Front Line Defenders Mary Lawlor Executive Director Lawyers for Lawyers (L4L) Adrie van de Streek Giám đốc điều hành Lawyers’ Rights Watch Canada (LRWC) Gail Davidson Giám đốc Điều hành Media Legal Defence Initiative (MLDI) Nani Jansen Cố vấn Pháp lý cao cấp National Endowment for Democracy (NED) Sally Blair Giám đốc cấp cao, chương trình Học bổng Reporters Without Borders Benjamin Ismaïl Giám đốc Khu vực châu Á-Thái Bình Dương [1]Quan điểm này đã được Ủy Ban Điều Tra Bắt Giữ Tùy Tiện (UNWGAD) thông qua tại phiên họp số 67, ngày 26-30 tháng 8 năm 2013, Số 33/2013 (Viet Nam), A/HRC/WGAD/2013.  [2]Đường link vào website http://www.lrwc.org/ws/wp-content/uploads/2013/11/LRWC.Statement-regardi... [3]Quan điểm này đã được Ủy Ban Điều Tra Bắt Giữ Tùy Tiện (UNWGAD) thông qua tại phiên họp số 67, ngày 26-30 tháng 8 năm 2013, Số 33/2013 (Viet Nam), A/HRC/WGAD/2013. [4]Quan điểm này đã được Ủy Ban Điều Tra Bắt Giữ Tùy Tiện (UNWGAD) thông qua tại phiên họp số 67, ngày 26-30 tháng 8 năm 2013, Số 33/2013 (Viet Nam), A/HRC/WGAD/2013. * Nguyên văn bản anh ngữ: The Honourable Appeal Judge 262 Doi Can Street Ba Dinh District, Hanoi City Vietnam Fax: +8408048524 10 December 2013 Copy furnished: 1)     H.E. Prime Minister Nguyen Tan Dung, Socialist Republic of Vietnam 2)     Hon. Chief Judge Truong Hoa Binh, Supreme People’s Court of Vietnam 3)     H.E. Amb. Franz Jessen– Delegation of the European Union to Vietnam 4)     H.E. Amb Hugh Borrowman—Australian Embassy in Vietnam 5)     H.E. Amb. Antony Stokes–British Embassy in Vietnam 6)     H.E. Amb.David Devine—Embassy of Canada in Vietnam 7)     H.E. Amb. Jean-Noël Poirier—Embassy of France in Vietnam 8)     H.E. Amb. Joop Scheffers–Embassy of The Netherlands in Vietnam 9)     H.E. Amb. David Shear–United States Embassy in Vietnam Subject:          Legal issues in support of Mr Le Quoc Quan’s appeal against his conviction for alleged ‘tax evasion’ Dear Hon. Appeal Judge, The signatory organisations wish to express their support for the appeal of Mr Le Quoc Quan against his recent conviction on charges of alleged tax evasion. In this context, we would like to highlight four important legal issues in support of Mr Quan’s appeal which we hope this Honourable Court will take into consideration as it decides on the appeal of Mr Quan.  First, the 2 October 2013 judgment is internally inconsistent. The judgment ordered the company of Mr Quan---Solution Co., Ltd. Vietnam--- to pay a fine. This implies that the alleged ‘tax evasion’ was legally imputed upon the company of Mr Quan and not on Mr Quan himself. It is a fundamental principle of Vietnamese corporate law that a company has a separate and distinct personality from its directors. Since Mr Quan is not personally liable for the alleged ‘tax evasion’ legally imputed upon his company by the 2 October 2013 judgment, he should be acquitted. Second, the signatory organisations would like to stress the importance of upholding the rule of law. The decision of this Honourable Court on Mr Quan’s appeal will send an important signal to the international community on Vietnam’s adherence to this principle. It is well-known that Mr Quan has been critical of the policies of the Vietnamese government. In lawful exercise of his right to freedom of expression under Article 19 of the International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR), Mr Quan had raised public awareness on important issues such as human rights abuses, commonly ignored by Vietnamese state media. Just recently, the UN Working Group on Arbitrary Detention (UNWGAD) concluded that Mr Quan’s detention and prosecution might eventually be to punish him for exercising his right to freedom of expression under Article 19 of the ICCPR. As concluded by the UNWGAD: 28. Considering and reading trough all documentation submitted on this case, the Working Group believes that the profile of Mr. Quan is dominated by his work as a lawyer and as a human rights defender. His current detention might be the result of his peaceful exercise of the rights and freedoms guaranteed under international human rights law. 29. The events leading up to Mr. Quan’s arrest on 27 December 2012 indicate that his arrest and detention could be related to his blog articles on civil and political rights. Although the charge against Mr. Quan is one of tax evasion, given Mr. Quan’s history as a human rights defender and blogger, the real purpose of the detention and prosecution might eventually be to punish him for exercising his rights under article 19 of the International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) and to deter others from doing so: This point is reportedly underlined by the previous arrests and harassment of Mr. Quan.[1] We fervently hope that this Honourable Court will uphold the rule of law by deciding Mr Quan’s appeal based solely on the law and the proven facts, without fear of or influence from the Executive Branch of Vietnam. Third, it is essential that, during the appeal, the Honourable Court ensures Mr Quan’s right to a fair trial under Article 14 of the ICCPR. Vietnam is a state party to the ICCPR and the obligation to uphold and guarantee this right extends to all branches of government, including the judiciary. Now that Vietnam is a recently elected member to the UN Human Rights Council, the international community will be following Mr Quan’s appeal with increased interest. This Honourable Court’s decision on Mr Quan’s appeal will signal to the international community the measure in which Vietnam respects international human rights standards. Mr Quan’s fair trial rights have been consistently ignored by the Lower Court. For example, the bail application Mr Quan filed on 29 December 2012 has not been resolved in writing, while the right to pre-trial release is guaranteed under Article 9 of the ICCPR. The absence of any written resolution by the Lower Court on Mr Quan’s application for bail is a clear indication that he has not been accorded his right to a fair trial under international law. Further, one essential condition of a fair trial under international law is a public hearing. This was not fulfilled during the October 2013 trial of Mr Quan before the Lower Court. A foreign observer from signatory organization ASF Network was in Hanoi to attend the October trial of Mr Quan. Regrettably, the foreign observer was formally informed that she was not allowed to attend Mr Quan’s trial. The Vietnamese public was also strictly kept outside of the October 2013 trial of Mr Quan. Moreover, Vietnam has failed in its legal obligations to protect         Mr Quan from arbitrary detention, to protect his right to liberty,              to ensure his right to the presumption of innocence and his right to pre-trial release. Vietnam also failed to ensure Mr Quan’s right to reparation for suffering caused by his unlawful detention.  These legal duties are examined in the review prepared by signatory organization Lawyers’ Rights Watch Canada, “Statement regarding the matter of Mr. Le Quoc Quan and the Government of the Socialist Republic of Viet Nam: Violation of rights to pre-trial release.”[2] More importantly, the UNWGAD has concluded that Mr Quan’s continued detention is arbitrary for contravening Articles 9 and 10 of the Universal Declaration of Human Rights and Articles 9 and 14 of the ICCPR. As concluded by the UNWGAD on Mr Quan: 34. In the light of the preceding, the Working Group on Arbitrary Detention renders the following opinion: The deprivation of liberty of Mr Le Quoc Quan is arbitrary, being in contravention of articles 9 and 10 of the Universal Declaration of Human Rights and articles 9 and 14 of the International Covenant on Civil and Political Rights to which Viet Nam is a party, and falling within category III of the categories applicable to the consideration of the cases submitted to the Working Group.[3] Hence, we respectfully call upon this Honourable Court to order the immediate release of Mr Quan, or to ensure that Mr Quan’s right to a fair trial is respected during the appeals process by giving him and his counsels the opportunity to be adequately heard, and by rendering an impartial judgment. In this regard, we invoke the conclusion of the UNWGAD on Mr Quan: 35. Consequent upon the Opinion rendered, the Working Group requests the Government to take necessary steps to remedy the situation of Mr Le Quoc Quan, which is immediate release, or ensure that charges are determined by an independent and impartial tribunal in proceedings conducted in strict compliance with the provisions of the ICCPR.[4] Fourth, Mr Quan’s profession as a qualified lawyer, and his activities as human rights defender and blogger in pursuit of his professional functions, must be respected by Vietnam in accordance with Principle 16 of the UN Basic Principles on the Role of Lawyers, which provides that Governments should ensure that lawyers “are able to perform all of their professional functions without intimidation, hindrance, harassment or improper interference.” The Honourable Court can ensure that Vietnam acts in accordance with Principle 16 of the UN Basic Principles on the Role of Lawyers by ensuring that Mr Quan is not subjected to malicious prosecution and arbitrary detention. We petition this Honourable Court to seriously consider the legal issues highlighted in this request in deciding Mr Quan’s appeal.                              We ultimately petition this Honourable Court to acquit Mr Quan, in accordance with the Rule of Law and International Human Rights standards. Most respectfully, Media Defence - Southeast Asia (MDSEA) HR Dipendra Director Article 19 Thomas Hughes ExecutiveDirector Réseau Avocats Sans Frontières / ASF Network Anne Lutun ASF Network Coordinator English PEN Cat Lucas Writers at Risk Programme Manager Front Line Defenders Mary Lawlor Executive Director Lawyers for Lawyers (L4L) Adrie van de Streek Executive Director Lawyers’ Rights Watch Canada (LRWC) Gail Davidson Executive Director Media Legal Defence Initiative (MLDI) Nani Jansen Senior Legal Counsel National Endowment for Democracy (NED) Sally Blair Senior Director, Fellowship Programs Reporters Without Borders Benjamin Ismaïl Head of Asia-Pacific Desk [1]Opinions adopted by the Working Group on Arbitrary Detention at its sixty-seventh session, 26–30 August 2013, No. 33/2013 (Viet Nam), A/HRC/WGAD/2013. [2]http://www.lrwc.org/ws/wp-content/uploads/2013/11/LRWC.Statement-regardi... [3]Opinions adopted by the Working Group on Arbitrary Detention at its sixty-seventh session, 26–30 August 2013, No. 33/2013 (Viet Nam), A/HRC/WGAD/2013. [4]Opinions adopted by the Working Group on Arbitrary Detention at its sixty-seventh session, 26–30 August 2013, No. 33/2013 (Viet Nam), A/HRC/WGAD/2013.
......

Anlässlich des weltweiten Tages der Menschenrechte fordert Deutsche Botschafterin Ende der Todesstrafe in Vietnam

......

Sinh hoạt của Cộng đồng NVTNCS tại CHLB Đức nhân ngày QTNQ 2013

Cơn bão đầu Đông mang theo cái lạnh buốt da từ bắc cực thổi qua Âu châu từ mấy ngày qua đã không làm sờn lòng nhiều người Việt tị nạn yêu nước từ các tiểu bang xa như Bayern, Nordrhein Westfalen, Rheinlandfalz , Hessen, Hamburg,…đáp lời kêu gọi của Liên Hội Người Việt Tị Nạn Cộng Sản taị CHLB Đức (LHNVTNCS) kéo về thủ đô Berlin vào ngày 7.12.2013 để tham dự cuộc biểu tình cho nhân quyền Việt Nam và đêm không ngủ hướng về quê hương Việt Nam nhân kỷ niệm 65 năm ra đời của Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân Quyền. 14g30, trước sứ quán CSVN nằm trên đường Elsen thuộc quận Treptow thủ đô Berlin cuộc biểu tình cho nhân quyền Việt Nam được bắt đầu bằng nghi thức chào cờ và mặc niệm do ông Trần Văn Các điểu khiển.  Sau đó, Bác sĩ Trần Văn Tích, Chủ tịch LHNVTNCS tại CHLB Đức, đại diện BTC đã ngỏ lời chào mừng đồng bào tham dự và nói lên ý nghĩa và mục đích của cuộc biểu tình trong tinh thần hướng về quốc nội để hỗ trợ đồng bào trong công cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền. Tiếp theo BS. Trần Văn Tích, Cụ Nguyễn Đình Tâm, đại diện Cộng đồng NVTNCS tại Berlin, tuy năm nay đã 91 tuổi, nhưng hầu như luôn đi đầu trong các sinh hoạt của người Việt tị nạn CS tại Berlin và luôn có mặt trong các cuộc biểu tình, sinh hoạt của người Việt tại CHLB Đức đã ca ngợi tinh thần đồng bào không ngại thời tiết giá rét mùa đồng đã về Berlin cùng đấu tranh cho nhân quyền của dân tộc VN. Để cho người Đức địa phương biết về hiện trạng vi phạm nhân quyền tại VN cũng như những sự lên tiếng bênh vực nhân quyền VN của một số trí thức Đức trong thời gian qua, một mặt, ông Trịnh Đỗ Tôn Vinh, Phó chủ tịch LHNVTNCS, bằng Đức ngữ đã trình bày cặn kẽ qua loa phóng thanh cho người Đức chung quanh khu vực biểu tình biết rõ; mặt khác một số người trong đoàn biểu tình cũng đã chia nhau ra các ngã đường để phát những tờ truyền đơn đến cho những người Đức qua lại gần đó. Những vị đại diện của các tổ chức, hội đoàn như Hội Phụ Nữ Văn Hóa VN tại CHLB Đức, Tổ Chức Sinh Hoạt của NVTN tại CHLB Đức, Đảng Việt Tân tại Đức, Cộng đồng NVTN tại München, các hội đoàn NVTNCS tại Köln, Mönchengladbach, Mainz am Rhein,… Cũng đã phát biểu trước đoàn biểu tình với những nội dung lên án nhà cầm quyền CSVN, dù đã trở thành thành viên của Hội Đồng Nhân Quyền LHQ cũng như đã ký kết Công Ước Chống Tra Tấn của Liên Hiệp Quốc, nhưng vẫn tiếp tục giam giữ những người bất đồng chính kiến, ngăn cấm tù nhân lương tâm được trị bệnh dù bệnh tình của họ rất tồi tệ như tù nhân Mai Thị Dung, Đỗ Thị Minh Hạnh; vẫn tiếp tục để cho CA tra tấn người dân đến chết, mà trường hợp mới nhất là vào ngày 27.11.2013 tại Dak Lak. Thậm chí không cho thân nhân tù nhân lương tâm đem tro cốt về quê an táng khi họ qua đời trong trại giam, mà trường hợp mới nhất là tù nhân chính trị Bùi Đăng Thủy, cựu sĩ quan không quân VNCH, đã qua đời hôm 24.11.2013 tại trại giam Xuân Lộc, Đồng Nai. Đoàn biểu tình còn đòi hỏi nhà cầm quyền CSVN phải trả tự do lập tức cho các tù nhân lương tâm, các nhà bất đồng chính kiến đang bị giam giữ ; và thách thức chế độ CSVN chứng tỏ mình thật sự xứng đáng là thành viên của Hội Đồng Nhân Quyền LHQ chứ không phải là thành viên của Hội đồng Chà đạp nhân quyền. Hướng tới ngày QTNQ (10.12.2013) đặc biệt năm nay đoàn biểu tình kêu gọi đồng bào khắp nơi cùng góp tay với đồng bào trong nước để đẩy mạnh tiến trình dân chủ hóa VN bằng cách: - Hỗ trợ đồng bào trong nước để họ hành xử các "quyền đương nhiên" của con người mà Tuyên Ngôn QTNQ đã minh định. Khuyến khích đồng bào tìm đọc và quảng bá rộng rãi đến người khác khắp cả nước bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền,  Công Ước về các quyền Dân Sự và Chính Trị, Công Ước Chống Tra Tấn của LHQ. Đây là việc làm được Hội Đồng Nhân quyền LHQ cổ vũ, mà Việt Nam đã trở thành thành viên thì nhà cầm quyền CSVN không có lý do gì để ngăn cấm. - Quảng bá các tin tức đấu tranh, tin tức về hiện tình đất nước và cả những tin tức „thâm cung bí sử“ của CSVN để phá vỡ bưng bít thông tin. Tác động lên tinh thần và ý thức của các đảng viên cộng sản, hầu phong trào bỏ đảng càng ngày càng lan rộng. - Vận động chính giới và các cơ quan truyền thông quốc tế lên án các đàn áp của CSVN ở trong nước để giúp cho phong trào phản kháng lớn mạnh, và tạo áp suất đổi thay lên chế độ. - Hỗ trợ phương tiện và tài chánh cho bà con dân oan và các nhà dân chủ để họ thoát khỏi sự cô lập và bao vây kinh tế của bạo quyền hầu có điều kiện tiếp tục dấn thân cho công cuộc đấu tranh… Xem kẽ những phát biểu là những bài hát đấu tranh đã làm tăng thêm khí thế cuộc biểu tình. 17 giờ, mặt trời cũng bắt đầu đi ngủ, cái lạnh chiều mùa đông Âu châu cũng từ từ gia tăng và trời cũng bắt đầu lất phất những bông tuyết trắng. Sau hơn 2 tiếng đồng hồ đứng dưới trời đông giá rét; đoàn biểu tình đã thực hiện một cuộc diễu hành ngắn trước khi chấm dứt  buổi biểu tình trước sứ quán CSVN tại Berlin. Sau đó mọi người di chuyển về hội trường nhà thờ St. Aloyslus nằm trên đường Schwyzer thuộc quận Wedding đề dùng bữa cơm chiều do Cộng đồng NVTNCS tại Berlin ủng hộ hầu sau đó tiếp tục sinh hoạt phần hai:  Đêm sinh hoạt và văn nghệ "Hướng Về Quê Hương" Phần 2 của ngày sinh hoạt nhân ngày QTNQ bắt đầu đúng 20 giờ với nghi thức chào cờ Đức - Việt và mặc niệm. Ban tổ chức giới thiệu thành phần quan khách sau khi sơ lược tiết mục. BTC đã mang phần cầu nguyện cho nhân quyền và bình an cho đất nước và dân tộc vào chương trình. Cụ Nguyễn Đình Tâm cùng hai ông Trần Văn Các và Phạm Công Hoàng đảm nhận cầu nguyện theo nghi thức Phật Giáo. Tiếng chuông, mõ hòa vào tiếng kinh cầu khiến cả hội trường để lòng lắng xuống theo. Linh mục Antôn Đỗ Ngọc Hà đã dâng buổi cầu nguyện với bài "Kinh hòa bình" sau khi mỗi tham dự viên thắp lên một ngọn nến và mang đặt trên chiếc bàn dài trước sân khấu, tạo nên một hình ảnh thật sinh động, ấm cúng và sâu lắng. Anh Trịnh Đỗ Tôn Vinh đã tỏ ra rất chuyên nghiệp trong vai trò xướng ngôn viên song ngữ. Anh cám ơn ông Hội Trưởng Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn tại CHLB Đức Trần Văn Tích trong vai trò tổ chức hai buổi sinh hoạt. Anh không quên nhắc nhở rằng ông Nguyễn Văn Rị là người gốc Việt duy nhất đã nhận 3 huân chương cao quý cho những nỗ lực to lớn và bền bĩ trong lãnh vực xã hội: Verdienstkreuz của tiểu bang Nordrhein-Westfalen và một của cố Đức Giáo Hoàng Gioan Paulo Đệ Nhị và đặc biệt cám ơn linh mục Anton Đỗ Ngọc Hà đã rất nhiệt tình trong việc vận động việc mượn phòng ốc và tổ chức sinh hoạt. BTC đã cho chiếu lá thư của bà Maria Böhmer, đặc sứ của chính phủ Đức về tị nạn và hội nhập lên màn ảnh vì bà không tới tham dự được để mở đầu phần trình bày của những quan khách Đức. Trong thư bà ca ngợi nỗ lực và sự thành công của lớp trẻ người Việt trong học đường và xã hội nhờ được cha mẹ quan tâm đúng mức. Bà Anita Grossler, thành viên ban chấp hành Hiệp Hội Nạn Nhân Chế Độ Bạo Lực Cộng Sản (UOKG) tại Bá Linh, với sự tháp tùng của phu quân, đã giới thiệu sơ về OUKG và bày tỏ sự đồng cảm với người Việt vì từng cùng chung số phận và sẵn sàng giúp người Việt trong phần việc của bà. Bà đã làm cả hội trường xúc động vì 5 năm tù đày khắc nghiệt dưới chế độ cộng sản Đông Đức vào thập niên 50 của thế kỷ trước. An ninh Đức đã cướp đứa con từ tay bà khi bà bị bắt khi vừa tròn 20. Sau này gặp lại đứa con đã trưởng thành và trở thành một "người cộng sản" cuồng tín, hai mẹ con bà đã không hiểu được nhau và đành chấp nhận sự thật đó. Con bà đã bị chế độ tròng lên đầu cái vòng kim cô từ thuở lọt lòng và không thoát ra được nữa. Trong chương trình, BTC cũng đã không quên đến những nạn nhân của cơn bão Hải Yến lịch sử ở Philippines và lạc quyên tại chỗ được số tiền lên đến 900 Euro và 300 USD. Vị khách cuối cùng không xa lạ với giới blogger vì ông chính là một blogger năng nổ: Tiến sĩ Josef Bordat. Ông được người Việt biết đến với lòng tri ân khi ông đơn phương lập một kiến nghị thư để thu thập chữ ký trên mạng để vận động chính phủ can thiệp cho nhân quyền tại Việt Nam. Trong phần hỏi đáp cuối chương trình dành cho cử tọa, ông cho biết, nhiều nơi trên thế giới vẫn thiếu nhân quyền, nhưng do một cơ duyên đưa tới, khi ông nghe sự đàn áp hung bạo và rộng khắp đối với giới blogger Việt, đặc biệt là trường hợp 17 thanh niên Công Giáo, vì ông cũng giống như họ là giáo dân CG, trên truyền thông Đức, ông đã quyết định đấu tranh cho nhân quyền tại Việt Nam. Trong lúc cử tọa đang đặt câu hỏi cho các quan khách Đức thì anh Ngô Trí Dũng đã nối mạng được với luật sư Nguyễn Văn Đài để Ls. Đài có thể trực tiếp trò chuyện cùng TS Bordat và bà Grossler. LS. Đài kể về buổi gặp gỡ với đại diện các tòa đại sứ Đức, Thụy Điển và các blogger Việt Nam khác tại Hà Nội dù bị công an liên tục sách nhiễu, cản trở, có lúc bắt chủ một tiệm ăn phải đóng cửa nhằm ngăn cản cuộc gặp gỡ thành hình. LS Đài đã lên tiếng mong mỏi được sự hỗ trợ từ người Đức yêu chuộng tự do và mong sẽ trở lại viếng nước Đức khi Việt Nam hết cộng sản. Trong buổi văn nghệ không kém phần đặc sắc với những bài như "Tiễn em rời K 18", "VN tôi đâu?", "Anh là ai" ... sau khi quan khách Đức ra về, luật sư Lê Thị Công Nhân cũng được nối mạng để trình bày về suy tư của mình trong ngày quốc tế nhân quyền năm nay. Buổi sinh hoạt chấm dứt sau nửa đêm. Rất nhiều người còn ở lại để hàn huyên, chia sẻ với nhau về những vấn đề thời sự nóng hổi của đất nước. Tuy xa quê hương đã rất lâu nhưng con tim Việt Nam trong mọi người vẫn đập cùng nhịp với người đấu tranh cho nhân quyền trong nước. Cộng Đồng NVTNCS tại Berlin đã rất chu đáo trong khâu ẩm thực với những món ăn nóng mặn, chay rất ngon miệng cùng bánh mì sáng, cà phê, trà và nước uống. Bs. Trần Văn Tích, bà Grossler, Tiến sĩ Bordat, Linh mục Antôn Đỗ Ngọc Hà                                                Tiến Sĩ Bordat                                                            Bà Anita Grossler Được biết cùng ngày 7.12.2013, từ 13 giờ đến 14giơ 30 tại thành phố Frankfurt am Mainz, Hội Người Việt Tị Nạn CS tại Frankfurt cũng đã tổ chức một cuộc tuần hành cho nhân quyền VN từ Hauptbahnhof (nhà ga chính) đến khu phố chính Hauptwache. Sau đó là buổi Mít tinh từ 15 giờ đến 18 giờ tại Hauptwache để tố cáo trước dư luận thế giới về những hành vi vi phạm nhân quyền của nhà cầm quyền CSVN.
......

Tài liệu: Báo cáo sơ bộ của LHQ về quyền văn hóa của VN - (29/11/2013)

Báo cáo viên Đặc biệt về các quyền văn hoá Chuyến thăm và làm việc tại Việt Nam, ngày 18-29/11/2013 Các kết luận và khuyến nghị sơ bộ Hà Nội, ngày 29 tháng 11 năm 2013. Thưa báo giới, thưa các quý bà quý ông, Tôi rất vui mừng được chia sẻ với quý vị kết quả quan sát sơ bộ của tôi khi kết thúc chuyến thăm chính thức trong 12 ngày với tư cách là Báo cáo viên Đặc biệt về các quyền văn hoá. Tôi xin được bắt đầu bằng lời cảm ơn trân trọng gửi tới Chính phủ Việt Nam đã mời tôi tới thăm và làm việc chính thức, và cũng cảm ơn Chính phủ đã nỗ lực rất nhiều trong việc hỗ trợ sắp xếp chương trình làm việc cũng như bố trí các cuộc họp toàn diện và lý thú.   Tôi xin được nhấn mạnh tầm quan trọng của lời mời này. Việc đảm bảo quyền thụ hưởng văn hoá của tất cả mọi người là một vấn đề phức tạp và để hoàn thành nhiệm vụ này là việc không hề dễ dàng. Điều này đã được minh chứng qua các chủ đề cụ thể tôi đã đề cập đến trong suốt chuyến thăm của mình, đó là: quyền được thụ hưởng nghệ thuật, tự do sáng tạo và biểu đạt nghệ thuật, quyền của người dân trong việc thể hiện bản dạng văn hoá của họ, và quyền tiếp cận và thụ hưởng di sản văn hoá của chính họ cũng như của người khác, vấn đề về dạy lịch sử trong nhà trường, và tác động của du lịch đối với việc thụ hưởng các quyền văn hoá.   Trong suốt chuyến thăm và làm việc của tôi tại Việt Nam, Tôi đã đi thăm Hà Nội, Thành phố HCM, Hội An, Sa Pa, cũng như một số làng bản ở Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam và Lào Cai. Tôi đã có cơ hội gặp mặt và làm việc với nhiều quan chức Chính phủ ở cấp quốc gia và địa phương, phụ trách các lĩnh vực văn hoá, du lịch, giáo dục, thông tin truyền thông, công tác dân tộc thiểu số, cũng như rất nhiều quan chức khác của Uỷ ban nhân dân các cấp, Ban Tuyên Giáo Trung Ương của Uỷ ban Trung ương Đảng, đại biểu quốc hội và đại diện các hội và hiệp hội. Tôi cũng đã gặp gỡ với các nghệ sĩ, giới học giả, giám đốc và cán bộ công tác tại các viên nghiên cứu hoặc các thiết chế văn hoá, đại diện của xã hội dân sự, thành viên của các cộng đồng dân tộc, những người tham gia trực tiếp vào lĩnh vực du lịch, và các cơ quan của Liên Hợp Quốc. Tôi xin trân trọng cảm ơn tất cả các cá nhân và tổ chức đã dành thời gian gặp mặt, tiếp đón nồng nhiệt, và trên hết là đã nhiệt tình chia sẻ với tôi rất nhiều thông tin.   Tôi xin được làm rõ rằng tôi là chuyên gia độc lập thực hiện báo cáo cho Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc và Hội Đồng Nhân Quyền của Liên Hợp Quốc mà Việt Nam vừa trúng cử thành viên của Hội đồng ngay trong tháng này. Mặc dù được Hội Đồng Nhân Quyền bổ nhiệm, nhưng tôi không phải nhân viên chính thức của Liên Hợp Quốc và vị trí hiện tại tôi của tôi là vị trí danh dự. Tư cách độc lập của tôi có vai trò rất quan trọng và nó cho phép tôi thực hiện các chức năng nhiệm vụ của mình một cách trung lập. Ngày hôm nay, tôi sẽ chỉ đưa ra một số ý kiến ban đầu của mình. Ngoài ra, tôi sẽ tiếp tục phát triển các ý kiến đánh giá của mình trong báo cáo chính thức, khi đó tôi mới đưa ra các khuyến nghị cụ thể. Tôi sẽ trình bày báo cáo này tại kỳ họp lần thứ 25 của Hội Đồng Nhân Quyền vào tháng 3 năm 2014 tại Geneva. Thưa quý vị,   Việt Nam hiện đang ở một thời khắc quan trọng, tại đó các bạn đạt được những tiến bộ to lớn về phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo ở các khu vực nông thôn và vùng sâu vùng xa, và đã có nhiều nỗ lực hướng tới việc hoàn thành các Mục tiêu Thiên niên kỷ. Những tiến bộ này là vô cùng ấn tượng. Tôi có thể lấy dẫn chứng là ở các bản làng nông thôn mà tôi đã đến thăm, đường xá đã được xây dựng nhiều, trường học được thành lập và nhiều nhà cửa đã được hỗ trợ hoặc tu sửa.   Tôi tin rằng các chương trình như vậy sẽ trở nên hiệu quả hơn nữa nếu sự tham gia của các cộng đồng địa phương và việc sử dụng tri thức của họ, trong đó có cả tri thức truyền thống, được đảm bảo. Sự cứng nhắc trong quá trình thiết kế và thực hiện các chương trình, cùng với hướng tiếp cận từ trên xuống đã ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả của các chương trình này. Ví dụ, ở các làng, bản thường xuyên bị lũ lụt thì các mô hình nhà truyền thống của người dân thích hợp với đối phó lũ hơn rất nhiều so với mô hình nhà mà các chương trình hỗ trợ của chính phủ đang khuyến khích. Tôi đánh giá cao việc phát huy kiến trúc truyền thống trong việc xây các nhà văn hoá ở khu vực Tây Nguyên. Tuy nhiên, tôi khuyến khích Chính  phủ nên cho người dân được thực sự lựa chọn mô hình kiến trúc mà họ muốn, dù là truyền thống hay hiện đại,đối với ngôi nhà riêng của họ, khi Chính phủ mở rộng các chương trình hỗ trợ về nhà ở. Nói tổng quát hơn, tôi khuyến khích Chính phủ cần đảm bảo có nhiều sự linh hoạt hơn trong chính sách và tham vấn thực sự với các cộng đồng có liên quan khi phát triển các chương trình. Cần xây dựng một mô hình thực hành mới trong đó người dân có được không gian để đóng góp vào việc thiết kế các chương trình có ảnh hưởng to lớn tới lối sống của họ.   Tôi tin rằng Chính phủ cũng như nhiều bên liên quan khác trong xã hội Việt Nam đã để ý thấy các chương trình phát triển có thể có tác động tiêu cực đối với các quyền văn hoá của con người, đặc biệt là các quyền của các dân tộc thiểu số. Chính phủ cần nỗ lực nhiều hơn nữa trong việc xác định và giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực này để cho đất nước được hưởng lợi đầy đủ từ chính sức mạnh của các nền văn hoá đa dạng của các dân tộc nhằm thúc đẩy phát triển bền vững. Điều này có liên quan mật thiết đối với lĩnh vực du lịch. Với việc sử dụng văn hoá như một nguồn lực để phát triển, Việt Nam đang hấp dẫn một số lượng ngày càng nhiều khách du lịch trong nước và quốc tế. Rất nhiều chương trình đã được phát triển nhằm giúp người dân của các cộng đồng dân tộc bán được sản phẩm nghề thủ công của họ và tiếp cận được với thị trường, cũng như biểu diễn minh hoạ văn hoá truyền thống của họ thông qua nhiều lễ hội và chương trình biểu diễn khác nhau. Điều này đã cho phép các cộng đồng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế ở khu vực họ sinh sống, và cũng giúp Chính phủ thúc đẩy hình ảnh về một đất nước đa văn hoá. Tuy vậy, nhiều thách thức vẫn còn đó. Như quý vị đã biết, tôi đã đi thăm Sa Pa và các làng bản xung quanh. Ở đó, tôi có thể thấy rằng, mặc dù du lịch đã mang lại nguồn sinh kế phụ trợ cho người dân địa phương, nhưng họ lại không phải là đối tượng hưởng lợi chủ yếu từ nguồn doanh thu này. Cần có các biện pháp đảm bảo rằng những người dân mà di sản của họ được đem ra sử dụng để thúc đẩy du lịch, phải được trao quyền để quản lý các hoạt động này theo hướng có lợi nhất cho họ. Ngoài ra, tôi cũng đặc biệt quan ngại đối với những tình huống trong đó con người ta được yêu cầu trình diễn chứ không phải thực sống đời sống văn hoá riêng của họ, hoặc là để lưu giữ một cách mô phỏng một số khía cạnh cụ thể trong văn hoá của họ để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch, hoặc, ngược lại, thay đổi một số khía cạnh cụ thể trong văn hoá của họ nhằm thoả mãn các nhu cầu đó ví dụ như thay đổi truyền thống ăn ở, hay rút ngắn việc thực hiện một số tập quán, hoặc bán vé cho những người muốn tham gia. Tôi muốn nói đến ví dụ lễ hội đua bò Bảy Núi truyền thống của người Khmer ở một số tỉnh miền nam Việt Nam.   Một ví dụ khác là về Cồng chiêng. Nhiều cộng đồng ở khu vực miền Trung và Tây Nguyên vẫn đang chơi Cồng chiêng và đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể. Cồng chiêng được coi là một nhạc cụ linh thiêng và quý giá, chỉ được đem ra chơi vào những dịp đặc biệt. Tuy nhiên ngày nay Cồng chiêng còn được đem ra biểu diễn theo yêu cầu của khách du lịch ở một số nơi, và rõ ràng điều này đã làm mất đi tầm quan trọng văn hoá ban đầu của sinh hoạt này. Tôi thực sự thấy rằng trong những trường hợp như vậy, các cộng đồng có liên quan phải được tham vấn là có nên trình diễn hay không, như thế nào, bao giờ và ở đâu, và được chia sẻ các khía cạnh có liên quan đến di sản văn hoá của họ. Tất nhiên, khó có thể ngăn cản hoặc thậm chí dù chỉ mong muốn ngăn cản sự tiến hóa của những thực hành văn hóa đang diễn ra hàng ngày sống động khi các nhóm có sự giao lưu tương tác với nhau. Điều này có thể là rất tích cực. Tuy nhiên, Chính phủ có trách nhiệm đảm bảo rằng du lịch không dẫn đến chỉ còn sân khấu hóa những thực hành văn hóa, còn chủ nhân của văn hóa chỉ đóng vai văn hóa của mình, hay vắn tắt hóa con người xuống thành một số hình thức thể hiện văn hóa của họ mà không thừa nhận tính nhân văn trong đó. Vì thế, rất cần phải để cho các cộng đồng tự do phát triển văn hóa của họ, ở cả bên ngoài các khu vực phát triển du lịch. Chính phủ nên hỗ trợ không chỉ các hoạt động biểu diễn văn hóa hay sản phẩm truyền thống dành cho du khách mà cũng cần cùng với cộng đồng có liên quan, trên cơ sở nguyện vọng của họ, xây dựng những chương trình để tiếp tục thực hành văn hóa của họ nếu đó là nguyện vọng của họ. .   Tôi cũng quan ngại trước những trường hợp đời sống và văn hóa của cộng đồng địa phương hoặc cộng đồng thiểu số đã bị các chương trình phát triển phá vỡ hoàn toàn. Ví dụ, tôi được biết rằng người dân ở giáo phận Cồn Dầu ở Đà Nẵng đã và vẫn đang tiếp tục bị cưỡng chế khỏi mảnh đất họ đã sống lâu đời để dọn đường cho một dự án nhà ở tư nhân lớn. Tôi hy vọng rằng chính phủ sẽ kịp thời can thiệp để giải quyết trường hợp cụ thể này. Nhìn chung hơn, tôi khuyến nghị Chính phủ đảm bảo việc công nhận sở hữu tập thể đối với đất đai cho những cộng đồng có ước muốn giữ và phát triển nếp sống truyền thống của họ, thường là dựa vào nông nghiệp, vào rừng, chăn nuôi hay đánh cá. Tôi cũng đã thảo luận một vấn đề nữa liên quan đến định nghĩa thế nào là hủ tục hay tập quán không tốt cũng như “mê tín dị đoan”. Theo tôi hiểu, những khái niệm này cần được làm rõ như là những thực hành mâu thuẫn với các quyền con người hay hạ thấp nhân phẩm. Tôi cũng khuyến khích chính quyền xác định những thực hành này thông qua các cuộc thảo luận với những cộng đồng liên quan. Tôi hoan nghênh những sáng kiến tích cực đã được Chính phủ thực hiện. Những sáng kiến này bao gồm công việc của Viện Ngôn ngữ học trong việc tài liệu hóa và bảo tồn các ngôn ngữ dân tộc thiểu số và xây dựng các bộ chữ viết, cũng như dự án nghiên cứu thí điểm tiến hành cùng UNICEF để thúc đẩy giáo dục song ngữ cho người H’mong, J’rai và Khmer, ba trong số những nhóm thiểu số lớn, ở cấp mầm non và tiểu học. Nghiên cứu đã chứng minh, học sinh được thụ hưởng những chương trình này có kết quả học tập tốt, và tôi khuyến nghị mạnh mẽ với Chính phủ tiếp tục hỗ trợ dự án giáo dục song ngữ, mở rộng phạm vi đến các nhóm khác, các khu vực khác và các cấp học khác. Đồng thời, một số người đã thông tin cho tôi, qua đó bày tỏ quan ngại đối với bộ chữ đang được áp dụng cho một số nhóm. Ở đây, một lần nữa, cách thức tích cực để giải quyết những quan ngại đó là mời các nhà nghiên cứu và giới học thuật của chính những cộng đồng dân cư liên quan tham gia vào quá trình ra quyết định. Thưa quý bà, quý ông, Một trong những vấn đề then chốt với Việt Nam ngày nay là có một không gian cho các cuộc tranh luận và biểu đạt những quan điểm đa nguyên. Một ví dụ rõ ràng liên quan đến vấn đề này, mà tôi rất quan tâm, là việc dạy môn lịch sử với chỉ một bộ sách giáo khoa trong các nhà trường. Như đã đề cập trong báo cáo chuyên đề của tôi về viết sách sử và dạy sử trước Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc năm nay (A/68/296), việc dạy sử nên khuyến khích tư duy phê phán, học tập từ phân tích và tranh luận, và tạo cách tiếp cận so sánh và đa chiều hơn là ấn trẻ em vào quan điểm đơn chiều. Cách tiếp cận này đặc biệt cần sử dụng rộng rãi nhiều loại học liệu, bao gồm nhiều loại sách giáo khoa của nhiều nhà xuất bản. Tôi khuyến khích nhiều bên liên quan ở Việt Nam tham khảo báo cáo này của tôi.   Tôi có ấn tượng tích cực rằng Chính phủ và xã hội dân sự hiện nay đang nỗ lực định nghĩa lại biên độ không gian cho những tiếng nói đa dạng có thể cất lên.Tôi khuyến nghị mạnh mẽ với Chính phủ mở rộng hơn không gian ấy, trên cơ sở Hiến pháp của các bạn cũng như các tiêu chuẩn quốc tế. Cơ chế chính trị và cấu trúc của chính quyền hiện nay ở Việt Nam, cùng với rất nhiều các hội đoàn thể đang hoạt động chủ yếu như các phương tiện truyền đạt những quyết định của chính phủ, để lại không gian rất nhỏ bé cho xã hội dân sự tự biểu đạt mình, đặc biệt với những người làm công tác nghiên cứu hay các nghệ sỹ và những người khác có thể có tư duy phê phán đối với những chính sách của Chính phủ. Đã đến lúc Việt Nam đảm bảo tự do nhiều hơn cho các biểu đạt nghệ thuật cũng như cho các tự do học thuật, và cho phép những tiếng nói đa dạng tìm được chỗ đứng của mình. Sự thiếu vắng các nhà xuất bản tư nhân đã làm giảm đáng kể phạm vi cất lên của những tiếng nói độc lập có thể được nghe thấy. Hiến pháp quy định những quyền cơ bản, nhưng thường rất khó có thể thụ hưởng những quyền này do rất nhiều các quy định và sự thiếu rõ ràng cụ thể trong quy định việc nào là chấp nhận được, việc nào là không. Không may là các quy trình tư pháp vẫn chưa giúp làm rõ những thước đo rõ ràng của các luật cụ thể.  Thưa các quý bà và quý ông, Các nghệ sỹ có thể giải trí cho người dân, nhưng họ cũng có thể đóng góp vào những tranh luận xã hội, đôi khi đưa ra những diễn ngôn đối lập. Trong lúc tôi rất vui vì một số người cung cấp thông tin cho tôi nói rằng họ đã thấy một không gian mở hơn để tự biểu đạt, tôi cũng quan ngại sâu sắc trước tình trạng một số nghệ sỹ đã bị tầm soát, sách nhiễu, hoặc bị giam giữ. Trong các cuộc thảo luận của tôi với chính quyền, ví dụ, tôi đã nêu ra những trường hợp bị kết tội theo điều 88 Bộ luật Hình sự do “tiến hành tuyên truyền chống lại Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”. Tôi muốn nhấn mạnh rằng những biểu đạt nghệ thuật là một phần không thể tách rời của đời sống văn hóa và là trái tim của những nền văn hóa sinh động cũng như trong hoạt động của một xã hội dân chủ. Vì thế, tôi chân thành hy vọng rằng Chính phủ sẽ xem xét lại chính sách của mình để đảm bảo tự do hơn cho các biểu đạt nghệ thuật và sáng tạo, tuân theo những tiêu chuẩn quốc tế. Tôi vô cùng biết ơn Chính phủ Việt Nam đã mời tôi tiến hành chuyến thăm này, cho phép tôi được hiểu sâu thêm những vấn đề hết sức nhạy cảm mà quan trọng. Lời mời của Chính phủ đã khẳng định việc Chính phủ thực sự coi trọng những vấn đề liên quan đến thụ hưởng các quyền văn hóa. Tôi hiểu rằng điều này thật sự rất khó khăn, đặc biệt thách thức với Chính phủ để đảm bảo “sự đồng thuận” mà Chính phủ khuyến khích dựa trên những quan điểm, biểu đạt và văn hóa đa dạng của người dân. *Special Rapporteur in the field of cultural rights, Visit to Viet Nam, 18 - 29 November, 2013Preliminary conclusions and recommendations Hanoi, 29 November 2013. Members of the press, ladies and gentlemen, I am very pleased to share with you my preliminary observations at the end of my 12-day official visit as the UN Special Rapporteur in the field of cultural rights. Let me begin by warmly thanking the Government of Viet Nam for inviting me and for their extensive work in facilitating a comprehensive and interesting programme of work. I wish to stress how important this invitation is. Ensuring the enjoyment of cultural rights by all is a complex issue and not an easy task to accomplish. This was demonstrated by various topics I have addressed during my visit: the right to enjoy the arts and to freedom of artistic expression and creativity, the right of people to manifest their cultural identity and to access and enjoy their own cultural heritage as well as that of others, history teaching in schools, and the impact of tourism on the enjoyment of cultural rights. During my stay in Viet Nam, I visited Hanoi, Ho Chi Minh City, Hoi An and Sa Pa, as well as a few villages in the Da Nang, Quang Nam and Lao Cai Provinces. I had the opportunity to hold meetings with numerous Government officials at the national and local levels, responsible in the areas of culture and tourism, education, information and communication, ethnic minorities, as well as various officials of People’s committees, the Central Commission for Propaganda and Education of the Party’s Central Committee, representatives of the National Assembly and Unions. I also met with artists, academics, directors and staff working in research institutes or cultural institutions, representatives of civil society, members of ethnic communities, people involved in the tourism industry and UN agencies. I would like to thank them all for their time, warm hospitality, and, above all, the wealth of information they shared with me. I wish to clarify that I am an independent expert who reports to the UN General Assembly and the UN Human Rights Council, to which Viet Nam was elected this month. Although appointed by the Human Rights Council, I am not employed by the United Nations and the position I hold is honorary. My independent status is crucial and enables me to fulfil my functions impartially. Today, I will confine myself to a few preliminary remarks and considerations. I will develop my assessment in a written report, in which I will also formulate recommendations. I will present this report at the 25th session of the Human Rights Council in March 2014 in Geneva. Ladies and gentlemen, At present, Viet Nam finds itself at an important juncture. Enormous progress has been achieved in the area of economic development, the reduction of poverty including in remote and rural areas, and the efforts towards the fulfilment of the Millennium Development Goals have been impressive. I can testify that in the rural villages I visited, roads had been or were being built, schools established, and housing facilitated or repaired. I believe that such programmes would have been even more efficient had the participation of local communities and the use of their knowledge, including their traditional knowledge, been ensured. Rigidity in programming and implementation and top-down approaches negatively impact effectiveness. For example, in villages regularly flooded by water, traditional houses are more appropriate than those promoted under governmental schemes. I appreciate that traditional architecture has been promoted in building communal houses in the Central Highlands. However, I encourage the Government, when extending support for housing, to offer people real choices regarding the architecture, whether traditional or modern, they want for their own individual houses. More generally, I encourage the Government to ensure greater flexibility in policies and meaningful consultations with concerned communities when developing programmes. A practice needs to be developed whereby people have the space to contribute to the design of programmes that significantly impact their way of life. I believe that the Government, as well as multiple actors in the Vietnamese society, have taken note of possible detrimental impacts of development programmes on the people’s cultural rights, in particular the rights of ethnic minorities. The Government should significantly increase its efforts to map and to mitigate such negative effects so that the country can fully benefit from the strength of the varied cultures of its peoples to promote sustainable development. This is particularly relevant with respect to tourism. By using culture as a resource for development, Viet Nam attracts a steadily rising number of international visitors as well as internal tourists. Multiple programmes have been developed to help people of ethnic communities to sell their crafts and access the markets, as well as to showcase their traditional cultures through various festivals and performances. This has allowed communities to participate in the economic development of their region, and has also enabled the Government to promote a more multi-cultural image of the country. Many challenges remain, however. As you know, I visited Sa Pa and its surrounding villages. And there, I could note that, although tourism has provided a supplementary source of livelihood to local people, unfortunately they are not the primary beneficiaries of the revenue generated. Measures are needed to ensure that the people whose cultural heritage is being used to promote tourism are empowered to manage these activities to their best advantage. In addition, I am particularly, concerned by situations where people are asked to perform rather than live their own cultures, either to retain artificially specific aspects of their culture to satisfy the tourists’ demands, or, conversely, to modify certain aspects of their culture to satisfy those demands such as modifications of food or accommodation patterns, or the foreshortening of customs or having tickets for participation. I am talking for example of the Khmer’s traditional sport of Bay Nui bull race, in some provinces of Southern Vietnam. Another example relates to the Cong drum, which is played by many communities in the central highlands and is included in the UNESCO list of intangible cultural heritage. The Cong is considered as a sacred and precious musical instrument, to be used only on very specific occasions. However, today it is also being played on demand for tourists in some places, thus clearly losing its original cultural significance. I strongly believe that in all such cases, the concerned communities must be consulted on whether, how, when and where to perform and share aspects of their cultural heritage. Of course, it is not possible, or desirable, to prevent the evolution of cultural practices that inevitably occurs when groups interact with each other. This can also be quite positive. However, it is the responsibility of the Government to ensure that tourism does not lead to the mere folklorization of its peoples’ cultures, meaning reducing people to certain manifestations of their culture and not acknowledging their humanity. It is therefore particularly important to enable communities to freely develop their cultures, including outside of touristic areas. The Government should not only support cultural performances and crafts for tourists, but also develop programmes in cooperation with the concerned communities including for continuing cultural practices should this be their wish. I am also concerned by cases of local or minority communities whose ways of life and culture have been completely disrupted by development programmes. For instance, I was informed that the people of the Con Dau Parish near Da Nang underwent, and are still undergoing, forced evictions from the land they had traditionally tilled to make way for the development of a mega private housing scheme. I hope the Government will intervene in a timely manner to resolve this particular case. More generally, I encourage the Government to ensure that the collective ownership of land is recognized for communities wishing to retain and develop their traditional ways of life, most often based on agriculture, forest husbandry or fishing. Another issue I have discussed at length with governmental officials relates to the definition of what constitutes bad practices or customs as well as “superstition”. My understanding is that such terms need to be clarified as practices contradicting human rights or undermining human dignity. I also encourage the authorities to identify such practices through discussions with the concerned communities. I would like to welcome positive initiatives put in place by the Government. These include the work of the Institute of Linguistic to document and preserve ethnic languages and develop scripts, as well as the pilot research project conducted with UNICEF to promote bilingual education for the Hmong, J’rai and Khmer, three of the largest minority groups, at the pre-school and primary school levels. As research demonstrates, students benefiting from such programmes have done very well. I strongly encourage the Government to support the bilingual education project and extend this to other groups, regions and grades. At the same time, some of my interlocutors expressed concern regarding the script that is being used for some groups. Here, again, a positive way forward to address such concerns is to include in the decision-making process researchers and academics belonging to these communities. Ladies and gentlemen, One of the key issues for Viet Nam today is the space available for debate and the expression of a plurality of voices. One striking example of this, which is of concern to me, relates to history teaching, as only one history textbook is in use in schools. As stated in my thematic report on the writing and teaching of history submitted this year the General Assembly (A/68/296), history teaching should promote critical thought, analytic learning and debate, enabling a comparative and multi-perspective approach rather than moulding children into a unidimensional perspective. This entails in particular the use of a wide array of teaching materials, including textbooks from a range of publishers. I encourage relevant actors in Viet Nam to look at my report. I am encouraged that the Government and civil society are currently trying to re-define the contours of the space available for a diversity of voices to be articulated. I strongly encourage the Government to widen that space, in accordance with its own constitution and international standards. The political and governmental structure in Viet Nam, together with various Unions, which act mainly as vehicles for transmitting the government’s decisions, currently leaves little space for civil society to express itself, in particular when it comes to academics, artists and others who may be critical of the Government’s policies. It is time for Viet Nam to ensure greater freedom of artistic expression as well as academic freedoms, and to allow a multi voice narrative to find its place. The absence of private publishing houses greatly reduces the scope for independent voices to be heard. The constitution provides for fundamental rights but it is often very difficult to enjoy these due to multiple regulations and the lack of clearly defined specifications of what is acceptable or not acceptable. It is unfortunate that judicial processes have not helped to clarify the parameters of specific laws. Ladies and gentlemen, Artists may entertain people, but they also contribute to social debates, sometimes bringing counter-discourses. While I am happy to note that a number of interlocutors stated they had noticed an increased space for self-expression, I am deeply concerned that a number of artists have been under surveillance, harassed, or detained. In my discussions with the authorities for example, I have raised the case of some artists who have been convicted under article 88 of the Criminal Code for “conducting propaganda against the Socialist Republic of Viet Nam”. I would like to emphasize that artistic expressions are an integral part of cultural life and are at the heart of vibrant cultures and the functioning of democratic societies. Therefore, I sincerely hope that the Government will review its policy to ensure greater freedom of artistic expression and creativity, in accordance with international standards. I am extremely grateful to the Government of Viet Nam for inviting me to visit, enabling me to deepen my understanding of these very sensitive but important issues. The Government’s invitation confirms how seriously it is taking issues relating to the enjoyment of cultural rights. I know how difficult this is, in particular when the challenge is for the Government to ensure that the “unity” it promotes is based on the diverse opinions, expressions and cultures of the people. See full statement in VietNamese nguồn: http://www.ohchr.org/EN/NewsEvents/Pages/DisplayNews.aspx?NewsID=14035&LangID=E
......

Ông Lê Hiếu Đằng Tuyên Bố từ bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam

TUYÊN BỐ Tôi tên LÊ HIẾU ĐẰNG là ĐẢNG VIÊN ĐẢNG CỘNG SẢN VN, hơn 40 tuổi đảng. Nay tôi tuyên bố công khai ra khỏi đảng CSVN vì: ĐCSVN bây giờ không còn như trước (đấu tranh giải phóng dân tộc) mà đang suy thoái biến chất, thực chất chỉ là đảng của những tập đoàn lợi ích, trở thành lực cản cho sự phát triển đất nước, dân tộc, đi ngược lại lợi ích dân tộc, nhân dân. Tôi xin xác định đây là quyết định của tôi.             Ngày 04.12.2013                          Lê hiếu Đằng                               (chữ ký) Đôi lời: Vậy là phát pháo lệnh đã nổ! Trước khi bản Dự thảo Hiến pháp sửa đổi được Quốc hội thông qua, công luận thừa biết màn hài kịch lố bịch sẽ có cái kết ra sao, người ta chờ đợi một phản ứng mạnh mẽ nào đó, ví như một cuộc biểu tình. Nhưng đã không xảy ra. Phải chăng lòng người đã quá mệt mỏi? Hay nỗi sợ hãi bị đàn áp, trong lúc thiếu sự gắn kết và những “ngọn cờ”? Và Lê Hiếu Đằng đã nhận lãnh vị trí đó, dù cho có thể sẽ là một “ngọn cờ cảm tử”. Thử nhìn lại, khi ông tung ra bài viết Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh…, bộ máy tuyên truyền của ĐCSVN hoảng hốt tới đâu. Đến những tờ báo thuộc loại có phần “gần dân”, chẳng bao giờ thèm tham gia những cuộc “đánh hôi” của đám báo “lá … chuối chùi khu” như Nhân dân, Quân đội nhân dân, vậy mà cũng được lôi vào trận. Rồi vài tay chân đã lộ hoặc chưa lộ mặt của đảng cũng nháo nhác kêu la, chửi rủa. Nếu đó là cú đòn nhứ, làm cho đảng vội vã tung hết binh lực, thì cú đòn lần này, chắc chắn sẽ làm đảng khó trở tay, nhất là ngay giữa lúc bữa tiệc hân hoan mừng Hiến pháp mới vừa được bày biện. Nó sẽ như cái tát vào ngay giữa những cái miệng bóng nhẫy đang nhồm nhoàm gặm dở khúc sườn, đùi. Ban bí thư sẽ chụm đầu bàn bạc, Ban Tuyên giáo sẽ có những chỉ thị ngầm, …? Liệu có nên công khai phản công như lần trước, hay nín lặng, vì không khéo thì “lợi bất cập hại”? Không lẽ lại lần nữa phải huy động cỗ máy khổng lồ chỉ để chống lại một Lê Hiếu Đằng đơn độc, đang mắc trọng bệnh? Hay là để dành binh lực, chờ cú đòn nặng hơn, của một tập thể, chẳng hạn? Cho nên, sẽ phải bóp đầu, căng tai nghe ngóng, phán đoán xem liệu hiệu ứng của cú đòn này sẽ lan tỏa tới đâu. Bởi vì Một phong trào bỏ đảng nếu như được dấy lên, ngay vào lúc này, sẽ là cái giá phải trả đau đớn nhất, mối đe dọa lớn nhất trong lịch sử 83 năm vinh – nhục của ĐCSVN. BT   Nguồn: diendanxahoidansu
......

Liên Hiệp Quốc phán quyết CSVN bắt giam Ls. Lê Quốc Quân tùy tiện

THÔNG CÁO BÁO CHÍ Ủy Ban Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc Kêu Gọi Trả Tự Do Cho Nhà Hoạt Động Blogger Việt Nam Ngày 2 Tháng Mười Hai 2013 Việc giam giữ một blogger Việt Nam, và là luật sư, nhà hoạt động nhân quyền Lê Quốc Quân đã bị Ủy Ban Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc lên tiếng chỉ trích là vi phạm quyền tự do ngôn luận và quyền được xét xử công bằng.   Ủy Ban Điều Tra về Bắt giữ Tùy tiện của Liên Hiệp Quốc, do Cao Ủy Nhân Quyền LHQ thành lập, đã đưa ra phán quyết rằng Lê Quốc Quân trở thành mục tiêu tấn công vì việc hoạt động và viết blog. Ủy Ban kêu gọi trả tự do cho ông ngay lập tức, hoặc bản ản phải được xem xét lại bởi một tòa án độc lập. Ủy Ban còn đề nghị Việt Nam phải bồi thường thiệt hại cho ông Lê Quốc Quân vì việc bắt giữ tùy tiện này. Trong lúc ông Lê Quốc Quân đi tù vì bị cho là trốn thuế, Ủy Ban nhận thấy rằng việc giam giữ ông có thể là “hệ quả của việc ông thực thi các quyền tự do được luật pháp nhân quyền quốc tế bảo đảm” và “có liên hệ đến các bài viết blog về quyền chính trị và dân sự”. Ủy Ban Điều Tra về Bắt giữ Tùy tiện nói thêm là “với quá trình hoạt động về nhân quyền và viết blog, mục tiêu thực sự của việc giam giữ và truy tố ông cuối cùng chỉ là trừng phạt về việc thực thi quyền hạn [tự do ngôn luận] của ông và răn đe những người khác không được làm vậy.”   Phán quyết của Ủy Ban Điều Tra về Bắt giữ Tùy tiện là để trả lời cho kiến nghị đệ đơn từ các tổ chức Media Legal Defence Initiative, Media Defence-Southeast Asia, Lawyers for Lawyers, Avocats Sans Frontières, Front Line Defenders, Access, English PEN, Reporters Without Borders, the Electronic Frontier Foundation, ARTICLE 19, Index on Censorship and Lawyers’ Rights Watch Canada. Các tổ chức này kêu gọi chính quyền Việt Nam tuân theo quyết định của Ủy Ban Điều Tra về Bắt giữ Tùy tiện và trả tự do cho ông Lê Quốc Quân ngay lập tức. Họ lập lại nhận định là việc kết án và giam giữ ông Lê Quốc Quân là tùy tiện và vi phạm quyền tự do ngôn luận, quyền tự do hội họp, quyền xét xử công bằng và những quyền hạn của một nhà hoạt động nhân quyền. Phán quyết của Ủy Ban (A/HRC/WGAD/2013) có thể tải xuống từ trang web của Media Legal Defence Initiate nơi đây. Ghi chú cho các biên tập:   Ông Lê Quốc Quân bị bắt vào ngày 27 tháng Mười Hai năm 2012 về tội cáo buộc trốn thuế vô căn cứ. Sau khi bị bắt, ông bị giam biệt tăm và không được phép gặp luật sư trong hai tháng. Lời yêu cầu của gia đình đi thăm bị liên tiếp từ chối. Ông Quân lần đầu tiên gặp người nhà trong phiên xử 2 tháng Mười năm 2013. Phiên xử này kết tội ông trốn thuế lợi tức công ty và kết án 30 tháng tù giam và nộp phạt 1.2 tỷ đồng (khoảng USD 59,000). Ông Quân đã kháng án lên tòa phúc thẩm.   Chính quyền Việt Nam đã đàn áp ông Lê Quốc Quân từ lâu vì các hoạt động nhân quyền. Năm 2007 sau khi bênh vực cho nhiều nạn nhân bị vi phạm nhân quyền, ông bị tước quyền luật sư vì tình nghi có “những hoạt động lật đổ chế độ”. Ông đã bị bắt giữ nhiều lần vì tiếp tục các hoạt động nhân quyền. Ông phải đi bệnh viện sau khi bị kẻ lạ hành hung vào tháng Tám 2012. Công an đã lờ đi không điều tra vụ hành hung này. Xin liên lạc để biết thêm chi tiết: Nani Jansen, Senior Legal Counsel, Media Legal Defence Initiative Gail Davidson, Executive Director, Lawyers’ Rights Watch Canada Adrie van de Streek, Executive Director, Lawyers for Lawyers Jochai Ben-Avie, Policy Director, Access Now HR Dipendra, Director, Media Defence – Southeast Asia Eva Galperin, Senior Policy Analyst, Electronic Frontier Foundation Benjamin Ismail, Head Asia-Pacific Desk, Reporters Without Borders Mary Lawlor, Executive Director, Front Line Defenders Cat Lucas, Writers at Risk Programme Manager, English PEN Nathalie Muller Sarallier, Avocats Sans Frontières Network Kirsty Hughes, Chief Executive, Index on Censorship Thomas Hughes, Executive Director, Article 19 Nguồn: http://www.viettan.org
......

Người Trung Quốc Lập Xóm, Lập Phố Và Sẽ Lập Gì Nữa?

Đôi lời: Đã từ nhiều năm nay, có một tài liệu tiết lộ những bí mật kinh hoàng, được lưu truyền trên mạng, rồi rất nhiều người dân, trong đó có cả các cán bộ đảng viên, đã tự in ra, phát tán, trao đổi, bán tín bán nghi, rồi lo lắng. Tài liệu đó chứa nội dung được cho là ghi lại một cuộc bàn bạc giữa cơ quan tình báo hai nước Trung – Việt về một kế hoạch trong nhiều năm, để ngấm ngầm đưa Việt Nam dần trở thành một khu tự trị của Trung Quốc. Nghe như chuyện giả tưởng! Thế nhưng, hãy thử nhìn vào bao nhiêu diễn biến liên quan trong nhiều năm qua, những hiện tượng tuy mới là bề nổi, không thể kể hết, trong một xã hội bị bưng bít thông tin bậc nhất thế giới, cũng đã khiến ta vô cùng lo ngại, để mà suy ngẫm. BT (diendanxahoidansu)   Dân trí Thứ Bẩy, 30/11/2013 – 07:38 (Dân trí) – Tại phiên thảo luận về Dự án Luật nhập cảnh, xuất cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam chiều 28.11, các đại biểu Quốc hội nêu lên một vấn đề rất đáng lo ngại, lao động nước ngoài, đông nhất là từ Trung Quốc, nhập cư vào Việt Nam, đang “lập xóm, lập phố ở một vài địa phương”. (Minh họa: Ngọc Diệp) Theo đại biểu Trần Ngọc Vinh, có hàng ngàn lao động phổ thông nước ngoài vào làm việc tại các công trình xây dựng, nhất là các dự án do Trung Quốc trúng thầu như Nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh, Hải Phòng, Cà Mau, Xi măng Ninh Bình, Tây Ninh, bauxite Lâm Đồng… Nói là lao động nước ngoài chung chung, nhưng ai cũng biết chủ yếu là người Trung Quốc. Họ có mặt từ các tỉnh biên giới phía Bắc vào đến Cà Mau, lên tận Tây Nguyên, rải dài các tỉnh duyên hải miền Trung, các tỉnh Đông Nam Bộ. Có những nơi, họ sống theo xóm, theo phố. Dân mình cũng lập phố đưa biển hiệu như phố Tàu. Mới đây, báo chí đưa tin phố Tàu ở Bình Dương là một ví dụ. Người Trung Quốc sang Việt Nam bằng con đường du lịch, rồi ở lại làm việc cho các công trình của nhà thầu Trung Quốc. Số lao động được cấp phép và không được cấp phép khó nắm được hết. Chỉ riêng ở khu kinh tế Vũng Áng, chỉ có 1.100 người nước ngoài được cấp phép lao động, nhưng tại đây có đến 2.600 lao động nước ngoài, trong đó lao động Trung Quốc là 1.526 người. Các nhà thầu Trung Quốc nhận thầu tại Việt Nam, họ tìm cách đưa người của họ sang để “tranh” việc làm. Lao động phổ thông trong nước thất nghiệp ngày càng cao, nhưng kiếm một chỗ làm ở các nhà thầu Trung Quốc là rất khó. Ở các thành phố, bác sĩ Trung Quốc (chưa biết thật giả) sang mở phòng khám chui lấy tiền dân mình, để lại nhiều hậu quả kinh hoàng, nhưng không hiểu vì sao chỉ chuyện này thôi cũng không quản được. Ở các dự án bauxite Tây Nguyên cũng vậy, lao động Trung Quốc sang lập thành khu vực riêng biệt, làm việc và sinh sống trên cao nguyên. Ngoài giờ làm việc, đàn ông Trung Quốc cũng chẳng ngại gì mà không tìm vợ Việt Nam khi có cơ hội, thế là gia đình Hoa – Việt ngày càng nhiều, người Trung Quốc cắm rễ trên đất Việt Nam với tư cách là chàng rể. Lấy vợ, sinh con rồi cất nhà, sinh sống ở Việt Nam. Từ lao động bất hợp pháp thành công dân hợp pháp. Với việc đưa dân sang lao động như các nhà thầu Trung Quốc đang làm, chỉ cần chục năm nữa, người Trung Quốc ở Việt Nam sẽ nhân lên gấp nhiều lần hiện nay, lúc đó sẽ không chỉ là xóm, là phố, mà cả khu người Hoa khắp đất nước này. Các nhà quản lý không thể không nhận thấy phương cách “gặm nhấm” trên đất theo cách này của họ. Lê Chân Nhânhttp://dantri.com.vn/blog/nguoi-trung-quoc-lap-xom-lap-pho-va-se-lap-gi-...
......

Người việt cộng Xấu Xí

Bài viết này sẽ không có một chữ việt nam nào được viết hoa. Bởi chúng ta có xứng đáng được trân trọng như vậy không? Không hề. Cách đây đã lâu, tôi đọc “người trung quốc xấu xí” của ông Bá Dương (Đài Loan), chưa bàn tới hay/dở/đúng/sai của nội dung cuốn sách gây tranh cãi ầm ĩ đó, tôi chỉ nhớ lại cảm giác giật mình của tôi khi đó. Khi tôi đọc lướt qua vài trang sách. Tôi như vỡ ra một niềm cảm khái mà từ lâu nó cứ âm ỉ trong lòng. Tôi biết thế giới đã từng có những cuốn “Người Mỹ xấu xí”, “Người Nhật Bản xấu xí”, rồi mới đến cuốn của ông Bá Dương. Tôi vừa đọc, vừa tự hỏi, tại sao người việt nam chúng ta không có một cuốn như thế này? Tại sao chúng ta cứ tự ru ngủ mình trong cái điệp khúc dân tộc việt nam là “cần cù, nhân hậu, thông minh, kiên cường, bất khuất, đoàn kết thương yêu nhau,…” & nhìn đâu cũng thấy anh hùng, liệt sĩ… Nếu thực sự chúng ta có những tố chất đó, nếu thực sự chúng ta là những người như thế, sao kết quả chúng ta hiện nay lại là một đất nước như thế này? Một đất nước mà hơn phân nửa các cô cậu tú tài đi thi cử nhân khoe rằng mình có quay cóp một cách hoàn toàn không có chút tự trọng (đó là được hỏi, còn báo chí không cần hỏi vẫn có những hình ảnh phao thi trắng cả trường thi! Vậy thì thi cái gì? Thi xem ai quay cóp giỏi hơn chăng?). Trong đó còn có cả những đứa trẻ bảo rằng năm nay không thi thì năm sau thi, chứ làm bài mà phỉ báng “thần tượng Su-Ju” của nó là nó không thi! Mặc cho bao nhiêu tâm sức, kỳ vọng của gia đình, nhà trường, xã hội – những nền tảng đã cho nó có được cuộc sống và kiến thức để mà tiếp cận được với Su-Ju danh giá của nó. Thế mà nó vẫn được rất nhiều đứa trẻ khác tung hô! Chính là những đứa trẻ sẵn lòng khóc lóc, quỳ gối, hôn ghế… trước thần tượng. Một dân tộc gì đã sản sinh và nuôi dạy ra một thế hệ kế thừa như thế? Con nít nó học cha anh mà ra, chúng ta đã nuôi dạy trẻ con thành ra như thế sao? Đừng ai đổ thừa cho ai. Vì trường học đổ cho cha mẹ, cha mẹ đổ cho xã hội, xã hội đổ cho cha mẹ & nhà trường. Tóm lại, đừng đổ nữa. Hãy biết hốt về mình đi! Tất cả chúng ta là người lớn, chúng ta đều có lỗi. Bởi người lớn có hơn gì? Một xã hội mà người ta đang sẵn lòng thuốc chết nhau đi từng ngày bởi tiền bạc bất kể lương tri. Làm quan thì chỉ lo vơ vét, tham nhũng, quỳ gối trước ngoại bang để duy trì sự thống trị trước nhân dân. Gần 40 năm thống nhất, việt nam có hơn gì thời chiến ngoài đống xe máy chạy đầy đường & trong túi ai cũng có một cái điện thoại di động? Dù nhà ở không có, đất đai không có, bảo hiểm không có, tương lai cho con cái không có,… nhưng bia rượu chảy tràn lan mỗi ngày trong quán nhậu. Người ta được ru giấc suốt 40 năm bằng niềm ước mơ cháy bỏng “cơm no, áo ấm”. Hạnh phúc chỉ thế thôi! Muốn hạnh phúc hơn thì hãy làm giàu, làm giàu, làm giàu! “Doanh nhân là chiến sĩ thời bình”. Cứt! Tôi ỉa vào cái khẩu hiệu sặc mùi con buôn, đầy phân chợ trời đó! Tiếng súng không còn nổ ngoài đường. Một cuộc chiến khác đậm chất mafia, côn đồ, đảo Sicily chắc còn phải chào thua nhà cầm quyền việt nam trước khả năng dùng “luật im lặng” của họ với dân mình. Cuộc chiến đó là rình mò, là theo dõi, là cấm cản, là kiểm duyệt, là vu cáo, là bắt bớ, là dùi cui, là tù đày, là chết không lý do, là bị bịt miệng tại tòa, là con cháu theo lời lãnh đạo cầm gậy gộc ra ngoài đồng ức hiếp ông bà cha mẹ chòm xóm của mình vì họ đang giữ đất. Trong khi họ giữ đất cho ai? Những đứa thanh niên đó nó đang nghĩ gì khi quay lưng lại với dân tộc mình? Đơn giản thôi. Nó tin rằng nếu trung thành với cái thể chế mà nó đang phục vụ, thể chế đó sẽ cho nó công việc ổn định, đặc quyền, đặc lợi hơn người. Vậy là nó nhắm mắt làm theo, coi nhân dân là cỏ rác, cũng vì lợi ích cá nhân & gia đình nó – nếu nó có nghĩ tới. Chứ ngoài ra, liệu còn cái lý tưởng cao đẹp nào có thể tin vào lúc này? Đừng nói với tôi là “lý tưởng Hồ Chí Minh” hay “lý tưởng cộng sản” nhé! Hỏi những đứa mặc áo xanh cán bộ Đoàn thử xem, nó nói có trôi chảy không? Tôi đã thử rồi, rốt cuộc là ngồi im nghe tôi nói huyên thuyên toàn những điều mà trường học gọi là “phản động”. Cuộc chiến này được khoác lên chiếc áo bảo vệ hòa bình, tự do, hạnh phúc. Còn bên trong là để bảo vệ quyền lợi, quyền lực cho một nhóm người gắn kết với nhau bằng những chiếc răng cùng gặm vào xương máu người nghèo, người thất học, người bán buôn lương thiện hàng ngày. Những người mỗi ngày chỉ biết tạ ơn trời phật đã cho chúng con một ngày yên ổn làm ăn, không bị cán bộ thuế đến nhũng nhiễu, không bị CSGT thổi phạt kiếm ăn, không bị đội dân phòng rượt đuổi, không bị ông chủ đẩy vào toa-lét để sờ soạng, không bị cắt tiền tăng ca, không bị cho ăn cơm thiu ngộ độc, không bị bệnh đột ngột phải vào bệnh viện nằm gầm giường chờ chết,... Thế là cái dân tộc đầy sợ sệt, bất an đó cuống cuồng kiếm tiền, cuống cuồng vơ chỗ này, cấu chỗ kia để lo cho cái thân mình. Họ còn biết làm gì nữa? Và khi họ chăm chắm vào tiền và sự yên ổn cho mình, họ để mặc cho một bọn ác khác lên ngôi, bọn này là sản phẩm của công thức: Bên trên, chúng nhìn thấy cách hành xử của một chính quyền côn đồ, có tiền là ra luật + Bên cạnh, chúng nhìn thấy những con người thờ ơ với người khác, chỉ còn biết nghĩ tới mình + Bên dưới, chúng nhận ra một đám người khổ sở, sợ sệt, yếu ớt = Chúng chợt nhận ra chúng có khả năng luồn cúi bên trên, tránh né bên cạnh & ức hiếp bên dưới. Sao mà tôi sợ bọn người đó như thế?! Bọn đó tập trung vào các cơ quan công quyền, làm quản lý, làm công an, làm công chức,… làm “đầy tớ” của nhân dân! Bọn công bộc đó đã cùng nhau đẩy những cụ già bỏ quê bỏ xứ, lên Sàigòn ngồi vạ vật dầm mưa dãi nắng suốt ngày đêm, ngày này qua tháng nọ để kêu oan. Bọn công bộc đó đã đẩy 2 mẹ con người phụ nữ nọ phải dùng đến cách phản kháng cuối cùng mà họ có là khỏa thân ở giữa đường để đòi lại công bằng. Vì trong tay họ còn có gì để chống lại chúng ngoài phẩm cách của người đàn bà vốn được coi là thiêng liêng? Họ dùng đến cách đó, và cuối cùng bị chúng lôi kéo dọc đường và nỗi oan của họ có ai thèm đoái tới?      Bọn công bộc đó đã đẩy đến đỉnh điểm hôm nay, một người mẹ uất ức tự thiêu trước cổng 1 cơ quan công quyền vì không còn sức để chịu đựng…      Tôi sợ bọn chúng vì bọn chúng đông quá, đông như kiến cỏ. Chúng nhan nhản khắp nơi, ngày ngày bóp chết mọi ước mơ, triệt tiêu mọi khao khát, thêm sự dốt nát của chúng vào nữa là hoàn hảo để tạo ra một nền kinh tế xã hội thụt lùi đến chóng mặt, quay cuồng trong dối trá và danh lợi. Đáng sợ hơn, cuộc sống ấm êm no đủ của chúng nhờ vào tính cơ hội – thu vén lại là sự thèm khát của những tầng lớp khác. Khiến cho những con thiêu thân non trẻ khác lao vào như một cơ hội ngàn vàng.        Bọn này tiếp tay cho bọn con buôn cũng lưu manh không kém. Thế là chúng ta ăn thức ăn có độc mỗi ngày, con cháu chúng ta uống sữa độc mỗi ngày, chúng ta đi trên những con đường hiểm họa mỗi ngày, chúng ta tiêu dùng những gì chúng mang tới, chúng ban phát, với giá mà chúng ấn định, với mức thuế mà chúng muốn,… không còn một lựa chọn nào khác. Không biết làm gì khác, không có phản ứng gì khác!        Vì chúng ta lương thiện. Kẻ không lương thiện có những phản ứng tàn độc hơn, hoặc biến hẳn sang một trạng thái sống khác, như một sự kết tinh cao cấp hơn của một xã hội đương nhiên sẽ sản sinh ra nó.       Tôi nghĩ đến bọn này khi tôi đọc tin về tên bác sĩ lợi dụng lúc mẹ của bệnh nhi đi lấy giấy xét nghiệm, hắn hãm hiếp đứa bé mới 3 tuổi.     Tôi đọc tin ông bà chủ đánh trẻ làm công đến thương tật. Tôi đọc tin một gã thanh niên có học chặt chém bạn gái mình thành từng khúc chỉ vì một chiếc xe máy và chút ít tài sản. Tôi đọc tin bọn chủ & lơ xe vứt xác hành khách bị lèn chết giữa đường mà cả xe không ai phản ứng. Tôi đọc tin nữ sinh phải ngủ với thầy giáo để được điểm tốt. Tôi đọc tin người đi đường bị cướp, may mắn giật lại được túi tiền, nhưng túi rách, tiền bay ra, xung quanh thiên hạ xúm lại nhặt, nhưng không phải nhặt giúp, mà nhặt hết đi không chừa lại đồng nào. Thay vì bị 1 đứa cướp, anh ta bị cả con đường đè ra mà cướp! … còn rất nhiều tin. Một dân tộc gì mà độc ác và hèn hạ thế? Dĩ nhiên không chỉ có mình tôi biết đau đớn vì những điều đó. Chúng ta có cả một thứ to tát mà tôi tạm gọi là “nền văn chương than khóc”.        Trong những tác phẩm thi ca xuất bản từ khoảng 20 năm trở lại đây, tôi không dám nói mình đọc nhiều hay nghe nhiều, nhưng tôi cố gắng đọc, nghe, cố gắng tìm tòi, cố gắng tìm kiếm một tác phẩm nó xứng đáng làm cho tôi thấy dân tộc việt nam của tôi thực sự là “cần cù, nhân hậu,thông minh, kiên cường, bất khuất, đoàn kết thương yêu nhau,…” một cách đúng nghĩa. Vì hãy quên những hình tượng cách mạng cao đẹp trong văn chương hay cả âm nhạc của miền Bắc thời chiến tranh đi! Đó không phải là văn chương, nó là thuốc pháo, tìm cách dẫn dắt, thôi thúc người ta chém giết & chết. Không hơn không kém. Các bạn có tìm kiếm giống tôi không? Và các bạn có tìm thấy không? Hay đầy rẫy xung quanh chúng ta chỉ có 3 loại:      - Loại mờ nhạt, rẻ tiền, xúc cảm vu vơ, vụn vặt, vô thưởng vô phạt.      - Loại có trăn trở, có suy tư, nhưng toàn đau đáu những nồi niềm xưa cũ, tương lai chả biết phải vứt đi đâu và vứt cho ai?      - Loại mạnh mẽ hơn, trực diện hơn, nhưng tầm vóc tác phẩm chỉ ở mức gẩy lên 1 tiếng đàn, rồi thôi! Tinh thần chúng ta đang được nuôi dưỡng bằng những thứ chỉ đến mức đó thôi. Còn những thứ hổ lốn lai căng phát trên TV, bán ngoài sạp báo mỗi ngày, tôi không dám kể tới, vì đó là nỗi kinh hoàng mà nếu phân tích thêm, chỉ muốn vứt cái đầu mình đi, không cần suy nghĩ nữa làm gì cho mệt óc. Vậy cái gì đã gây nên nông nỗi? Tôi không muốn tạo ra sự hiểu lầm là cái gì cũng do lỗi cộng sản. Nhiều người rất cực đoan, nói ra cái gì sai, họ cũng đổ vấy hết cho cộng sản. Nhưng cộng sản tệ đến thế mà cai trị được chúng ta đến ngày giờ này, thì chúng ta cũng tệ không kém! Nghe nói cụ Tản Đà có câu: Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn! Cho nên quân ấy mới làm quan. Những gì độc ác, bẩn thỉu của cộng sản, những người khác đã nói đầy cả ra rồi, tôi nghĩ mình cũng không cần nhắc lại. Tôi chỉ nghĩ đến một điều, cái gì đã làm cộng sản tồn tại lâu như thế? Ngoài sự cấu kết quyền lực – quyền lợi để cùng bảo vệ lẫn nhau, cộng sản đã làm gì để chúng ta thành ra một dân tộc việt nam hèn hạ tự trên xuống dưới, từ già tới trẻ như ngày hôm nay? Ngoài sự mafia, côn đồ, trấn áp bằng sợ hãi, giáo dục một cách ngu dân ra, chúng còn làm gì nữa? Ai từng học luật đều biết, khi quy phạm pháp luật không điều chỉnh được, thì hành vi con người sẽ phải điều chỉnh bởi quy phạm đạo đức. Pháp luật không theo con người lên giường, vào toa-lét, xuống bếp. Nhưng đạo đức theo ta khắp nơi, tận trong ngõ ngách tâm hồn. Pháp luật cũng không ép tạo ra đạo đức. Chính sự vô thần vô thánh, không thừa nhận đức tin mà cộng sản triệt để nhồi nhét từ khi họ nắm được dân tộc này đã hun đúc ra những con người sẵn sàng bán thịt thối cho người ta ăn, đút sữa độc vào miệng con nít, chém mẹ ruột, giết con đẻ,… Vì những người này họ không sợ, hoặc họ tin rằng họ sẽ tránh được sự trừng trị của pháp luật. Khi pháp luật không trị được mà người ta không sợ luân hồi, không sợ quả báo, không sợ bị đày xuống địa ngục,… thì họ còn sợ gì nữa? Việc gì mà họ không dám làm?      Còn những kẻ yếu không có niềm tin là có Phật, có Chúa, có Thánh Allah luôn soi sáng mình, giúp đỡ mình, ngự trị trong mình, thì họ còn biết dựa vào đâu để tìm lại niềm lạc quan mà sống, mà tranh đấu để tự tìm lấy giá trị sống thiêng liêng mà đấng tạo hóa đã ban cho mỗi chúng ta? Tôi có cảm giác như mình đang sống giữa một bầy đàn hỗn loạn nhưng hoang vu, hỗn loạn về vật chất – nhưng hoang vu về tinh thần. Bạn có thấy như thế không? Giữa sự hỗn loạn và hoang vu ấy, cái ác sẽ luôn luôn ngự trị, kẻ có sức mạnh sẽ luôn trấn áp chúng ta. Chúng ta - những kẻ được đến trường nhưng thật ra thất học, những kẻ nghĩ mình lương thiện nhưng thật ra không có lương tri, những kẻ đủ ăn mặc nhưng thật sự chưa hề nếm mùi vị hạnh phúc, những kẻ đọc sách, nghe nhạc mỗi ngày nhưng không biết đó chẳng phải là nghệ thuật đích thực, một nền nghệ thuật có thể soi sáng tâm hồn ta chứ không phải ru ta ngủ trong quên lãng. Những kẻ hoang mang không biết tin ai, không hiểu nên làm gì cho đúng. Lúc đó, lúc hỗn loạn và hoang vu đó, anh cộng sản xuất hiện và nói: Đời chúng mày chỉ cần độc lập – tự do – hạnh phúc.      Chúng ta tưởng thế là hay ho lắm! Dù nền độc lập này có mang lại tự do không? Có hạnh phúc không? Hay chúng ta đang cúi đầu nô dịch cho ai đây? Chúng ta thực chất đang sống thế nào đây? Và đang để lại cho con cháu chúng ta di sản gì?      Chúng ta đeo bám theo họ, quên cả chính bản thân mình, một con người, cần phải sống sao cho đúng nghĩa, đúng phẩm cách, hành động đúng theo những gì mà một con người có lương tri cần phải hành động. Bạn có đang tự hào vì mình là người việt nam không? Hỡi những con người ấu trĩ mang trong mình một đinh ninh sắt đá là tôi rất tự hào vì tôi là người việt nam “cần cù, nhân hậu, thông minh, kiên cường, bất khuất, đoàn kết thương yêu nhau,…” đã từng đấu tranh thắng Mỹ, các bạn không thấy điều đó nó hết thời rồi à?      Ta thắng Mỹ để có một xã hội phồn vinh, một dân tộc được tôn trọng. Chứ còn thắng Tàu, thắng Pháp, thắng Mỹ, thắng khắp nơi… Mà ngày nay những kẻ ta từng thắng đó, nó coi chúng ta còn không hơn con chó thì cái chiến thắng đó nhắc tới làm chi cho thêm nhục?     Mặt phải, chúng ta ra rả trên báo mỗi ngày là “Mỹ đã đến biển Đông”, “bà Hillary dọa TQ không nên gây hấn”,... để mong lòng dân yên ổn. Mặt trái, chúng ta tổ chức ngày hội gặp gỡ những lớp cán bộ đã từng được Tàu đào tạo để cám ơn họ đã “dạy dỗ” cả đám chóp bu việt nam. “Đĩ” chưa từng thấy! Chưa có cái chính quyền nào mà “đĩ” như chính quyền việt nam hiện tại. Dựa hơi mà cũng không biết dựa hẳn bên nào cho trót. Lá mặt lá trái như thế bảo sao quốc tế nó không khinh?       Còn dân việt nam thì sao? Dám cầm súng đánh TQ hay đánh bất cứ thằng nào xâm lược việt nam nữa không? Mà cầm súng để làm gì? Kết quả của gần 40 năm độc lập, ai cũng thấy cả rồi, không cần nói nữa. Và cả bọn hèn hạ chúng ta đang ôm lấy nhau, hồi hộp chờ đợi hồi chuông báo tử. Bổ sung:     Sau khi bài này được upload, tôi (Hanwonders) nhận được khá nhiều comments và cả messages. Không biết phải đánh giá như thế nào về những comments hỏi ngược lại tôi với một thái độ khinh khỉnh, qua nhiều câu chữ khác nhau, nhưng đại khái cùng 1 ý: "Vậy bạn có hèn không?" He...he...       Tôi chỉ muốn nhấn mạnh lại 1 điều, suốt cả bài viết, tôi không gọi những người hèn là "các bạn", tôi gọi là "chúng ta". Như vậy có dễ hiểu hơn chưa nhỉ?      Tôi không thích tự nhận hay gán ghép. Tôi chỉ nói lên những suy nghĩ của mình, còn đánh giá tôi hay đánh giá chính mình, các bạn cứ tự làm lấy. Thiết nghĩ, đâu cần phải tranh luận chuyện ai hèn, ai không hèn ở đây!      Biết hay không biết mới là quan trọng. Mà cái sự khổ sở để đi từ cái "không biết/chưa biết" đến cái "biết" nó sẽ là một quá trình gian nan mà mỗi người phải tự thân trải nghiệm. Không ai giúp ai được đâu.       Và tôi hiểu, cái "biết" của tôi nó cũng chỉ giới hạn trong tầm nhân sinh quan nhỏ bé của cá nhân tôi mà thôi. Còn bạn, hãy tiếp tục giữ lấy niềm lạc quan của bạn. Con cừu vẫn có được niềm hạnh phúc mỗi ngày được gặm cỏ non, uống nước suối, ngắm bầu trời xanh, chờ đến ngày xẻ thịt mà! Đúng không? Hạnh phúc vẫn khắp quanh ta! Những con cừu không biết "tự sướng", không biết "thủ dâm tinh thần" thì quả thực là ngu còn hơn... cừu! He he... Bổ sung tiếp: "... Ông bảo xã hội nào cũng có những điều bẩn thỉu. Tôi công nhận điều ấy. Nhưng xã hội bẩn thỉu nhất ông có biết là xã hội nào không?    Là xã hội mà thằng ăn cắp không cho rằng nó phạm pháp, nó đang làm điều xấu, người lương thiện thì run sợ, thằng bất lương lại coi việc nó làm là bình thường và kẻ vô liêm sỉ như ông thì vênh vang tự đắc: ta là số đông. Chính là xã hội này đây..." (tríchcomment@khongnoibiet). "....Chị Hân đã "chẩn" được bệnh mà không tìm được thuốc chữa chỉ vì chưa có... đám đông! Cái mà tưởng là bất trị đó rồi cũng sẽ bùng vỡ chỉ... đau là càng kéo dài hơn thì càng tang thương hơn và vực lại được cũng bị khó khăn lâu dài hơn! Sự thực trước sau thì cũng quan nhất thời, dân vạn đại; với 1 đời người thì thấy lâu dài nhưng với lịch sử thì vẫn là quá ngắn. Chả thế mà dân tộc và đất nước đã từng bị một ngàn năm Bắc thuộc. Chả lẽ chế độ bạo ngược thời xưa ít bạo ngược hơn chế độ bây giờ? Chả lẽ người việt nam xưa ít hèn, ít khổ hơn người việt nam bây giờ?? Nhưng thú thực là entry chị viết quá hay, quá đúng và đầy nghẹn ngào. Không phải đơn giản là cao hứng nhất thời mà là cả một sự trăn trở đớn đau! Soi gương nên cũng thấy mình!..."...(trichnhuhoa) (Source: blog Hanwonders, từ Viet nam)
......

Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn gặp gỡ bà Vera Lengsfeld – Stasi-Tochter / Dissidentin / Politikerin

Bad Sobernheim, 19.11.2013 - Đáp lời mời của hội Konrad-Adenauer-Stiftung ông Trịnh Đỗ Tôn Vinh, phó chủ tịch Liên Hội (www.lienhoinvtn.de), đến tham dự buổi thuyết trình và giới thiệu tác phẩm „Ich wollte frei sein. – Die Mauer, die Stasi, die Revolution“ của bà Vera Lengsfeld.   Vera Lengsfeld sinh năm 1952 tại Thüringen. Là con gái của một sĩ quan mật vụ (Stasi-Offizier) bà đã được giáo dục trong tinh thần của chế độ Đảng Xã Hội Chủ Nghĩa Thống Nhất Đức (Sozialistische Einheitspartei Deutschlands, SED-Regime). Mặc dầu vậy, bà đã sớm có những hồ nghi về thể chế này.  Khi mới bước vào tuổi trưởng thành bà Vera Lengsfeld đi đến quyết định hoạt động trong phong trào đòi hỏi dân quyền. Bà đã bị cấm hành nghề, bị tù đày và bị trục xuất. Khi bức tường Berlin sụp đổ ngày 09.11.1989 bà Lengsfeld trở về quê quán và bắt đầu sự nghiệp chính trị gia và là nhà đấu tranh cho tự do và dân chủ. Càng đau khổ hơn khi bà được biết, chính chồng bà (ông Knud Wollenberger) đã làm mật vụ Stasi theo dõi bà nhiều năm. Trong phần thuyết trình bà Vera Lengsfeld nhận định rằng, sau khi chế độ độc tài cộng sản Đông Đức sụp đổ một thời gian người ta thường xuyên loan truyền những huyền thoại để đánh bóng và giảm bớt đi phần gian ác và thâm độc của thể chế này, thí dụ như: Đảng và nhà nước SED lo cho người dân từ lúc sinh ra đến khi chết. Trong thực chất đây là „độc tài chăm sóc“ („betreute Diktatur“), vì họ kiểm soát nghiêm ngặt dân chúng bằng nhiều cơ chế mang mầu sắc đáp ứng nhu cầu của người dân từ lúc chào đời, vào vườn trẻ, nhập học, học nghề đến khi hành nghề… Nhưng để luồn lách và sống còn  cũng như có cơ hội quy tụ và tâp trung xuống đường …, những thành phần đối lập đã có sáng kiến dùng chính những ngày lễ lớn của chế độ, khi có buổi mít-tinh và diễn hành, để gặp nhau trên đường phố và phổ biến trên những bích chương và biểu ngữ hiến pháp của nhà nước Đông Đức như § 27: „ Mỗi người dân Cộng Hòa Dân Chủ Đức có quyền tự do tư tưởng và tự do ngôn luận“ hoặc là: „Tự do luôn luôn có nghĩa là tự do của những người bất đồng chính kiến“ (Rosa Luxemburg). Ngoài ra, các phong trào đấu tranh cho tự do dân chủ còn quy tụ tại và chung quanh nhà thờ Nikolai (Nikolaikirche) để cầu nguyện và yểm trợ tinh thần cho nhau. Càng ngày càng đông người, từ vài trăm đến vài ngàn, từ vài chục ngàn đến mấy trăm ngàn và sau cùng là cả triệu người. Trong vòng hai tháng „bức tường ô nhục“ đã bị sức mạnh biểu tình của quần chúng đẩy sập.   Đến phần thảo luận sôi nổi bà Vera Lengsfeld đã cho các thính giả biết thêm những dữ kiện về một số tay trùm cộng tác với Stasi, điển hình như luật sư Gregor Gisy, mà sau này y đã thành công len lỏi vào được Quốc Hội Liên Bang dưới dạng đảng Die Linke để tiếp tục thi hành những thủ đoạn mị dân, tuyên truyền xuyên tạc và bóp méo lịch sử đàn áp dã man của thể chế SED. Ông Trịnh Đỗ Tôn Vinh đã trình bầy với bà Vera Lengsfeld và cử tọa những ưu tư của Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn tại Đức như sau: Là người tỵ nạn Công Sản Việt Nam chúng tôi hạnh phúc được Cộng Hòa Liên Bang Đức thâu nhận. Chúng tôi vui mừng được chứng kiến cuộc cách mạng không đổ máu tại Đông Đức, nhưng chúng tôi vẫn còn băn khoăn và trăn trở, vì, mặc dầu đang được sống trong một quốc gia pháp quyền, môt số đồng hương  trong cộng đồng người Việt tại Đức vẫn bị thao túng bởi Cộng Sản Việt Nam một cách tinh vi bằng những hạ tầng cơ sở và cơ chế theo dõi rập theo khuông mẫu Stasi, kiểm soát, tạo áp lực, gây sợ hãi và hoang mang hoặc hăm dọa người thân còn tại Việt Nam. Bà Vera Lengsfeld cho biết chế độ SED đã cư xử tồi tệ với người Việt Nam lao động hợp tác. Chế độ cấm họ giao du với người bản xứ. Nếu họ có mối tương giao và mang thai thì họ phải phá thai hoặc phải bị trục xuất về nước. Sau khi „bức tường ô nhục“ sụp đổ người Việt lao động hợp tác bị Đảng Cộng Sản Việt Nam bỏ rơi, tòa đại sứ cũng không màng đến và xã hội Đông Đức trong giai đoạn chuyển tiếp cũng không có đủ khả năng tạo điều kiện tích cực để con người tiến thân. Bà Vera Lengsfeld cho rằng, đây là một trang sử đầy bất công, đầy đau thương và ít ai màng để ý đến… Để thật sự có một thể chế tự do, dân chủ và nhân quyền lâu dài mọi người dân cần ý thức giá trị chân chính của sự tự do là lãnh trách nhiệm của mình để xây dựng một xã hội công bằng. Ghi chú: Sách của Vera Lengsfeld (http://www.vera-lengsfeld.de/home.php): „Virus der Heuchler. Innenansicht aus Stasi-Akten“ (1992) „Von nun an ging’s bergauf. Mein Weg zur Freiheit“ (2002) „Ich wollte frei sein. Die Mauer, die Stasi, die Revolution “ (2011)http://www.herbig.net/gesamtverzeichnis/sachbuch/einzelansicht/product/f...       Minh-Hoài tường thuật  
......

Chính giới Đức chúc mừng ông Nguyễn Văn Rị được trao tặng Huân chương

Dr. Günter Krings Dân biểu Quốc Hội Liên Bang Đức Quốc Phó chủ tịch khối CDU/CSU thuộc Quốc hội Liên Bang Đức quốc Chủ tịch Đảng CDU tại Mönchengladbach   Nguyễn Văn Rị Dahlener Str. 687 41236 Mönchengladbach                            Berlin, ngày 07 tháng 11 năm 2013 Kính thưa Ông Nguyễn Văn Rị, Tôi xin chân thành cám ơn ông đã gửi bức thư đầy cảm mến nhân dịp tôi được tái đắc cử vào Quốc Hội Liên Bang Đức vào ngày 22.09.2013 vừa qua. Tôi rất vui về những lời chúc mừng mà ông đã thay mặt Hội Người Việt Tỵ Nạn ở Mönchengladbach gửi đến tôi. Hôm nay là dịp đặc biệt để tôi gửi đến ông những lời chúc mừng và cảm tạ, vì hôm nay ở thủ phủ Düsseldorf ông nhận Huân Chương Công trạng "Dấn thân cho tha nhân" của tiểu bang Nordrhein-Westfalen do chính nữ thủ tướng tiểu bang trao tặng. Đáng tiếc tôi không tới tham dự được vì tôi đang trong quá trình thương lượng ở Berlin để đi đến chính phủ liên hiệp liên bang. Tôi hy vọng ông thông cảm cho tôi. Từ thủ đô Berlin tôi xin chia xẻ niềm vui và lòng cảm phục trước những việc làm thiện nguyện đa diện và một đời sống rất đặc biệt của ông.  Ông vượt biên năm 1981 trong hoàn cảnh bi thảm. Ông và gia đình, với bé gái sơ sinh, đã lênh đênh nhiều ngày trên biển cả trên một chiếc thuyền trước khi được tàu Cap Anamur cứu vớt. Ông đã bất chấp mọi hiểm nguy để quyết định chọn tự do thay cho sự kềm kẹp của chế độ Cộng Sản Việt Nam. Tôi rất cảm phục sự can đảm này. Vào năm 1982 ông tới Mönchengladbach và học nghề kim khí để sinh sống. Song song ông đã giúp đỡ để các đồng hương cũng cùng hội nhập vào xã hội Đức. Với những nỗ lực này ông đã góp phần rất quan trọng vào việc là khoảng 1.500 người Việt đã tìm thấy ở Mönchengladbach như là quê hương thứ hai. Là chủ tịch của Hội Người Việt tỵ nạn tại Mönchengladbach ông đã và đang hy sinh rất nhiều công sức. Nhưng không chỉ ngừng ở đây, Ông còn là thành viên của ban chấp hành Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn tại Cộng Hòa Liên Bang Đức. Trong trách nhiệm này chắc ông đã nhiều lần đặt câu hỏi làm cách nào để đạt được kết quả tốt đẹp trong tiến trình dân chủ hóa ở quê hương của ông. Điểm đặc biệt tôi thấy là ông không chỉ lo cho người Việt Tỵ Nạn, mà hoạt động của ông còn đi khá xa hơn nữa trên toàn thế giới để xoa dịu nỗi đau khổ của đồng loại. Một ví dụ điển hình là mới đây Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn đã quyên góp được 5000,- € để giúp cho các nạn nhân bão lụt ở miền Nam và miền Đông nước Đức. Tất cả những việc làm thiện nguyện trên cho thấy ông xứng đáng nhận Huân Chương này. Tôi xin gửi đến ông những lởi chúc tốt đẹp nhất cho những việc làm thiện nguyện trong tương lai. Tôi xin cám ơn ông đã gửi thư mời tham dự Tết Nguyên Đán ở Mönchengladbach vào ngày 08.02.2014 tại Neuwerker Mehrzweckhalle. Tôi xin ghi nhận và sẽ thông báo vào những ngảy đầu năm 2014 cho ông biết chắc chắn tôi có đến được hay không. Bởi những kinh nghiệm tốt đẹp trong quá khứ (tôi nhớ đến buổi tổ chức với Dr. Rupert Neudeck) nên ngay bây giờ tôi đã cảm thấy vui được tham dự Hội Xuân sang năm. Kính chào thân ái, Dr. Günter Krings Ngọc Hòa lược dịch ***** Dr. Günter Krings Mitglied des Deutschen Bundestages Stellv. Vorsitzender der CDU/CSU-Bundestagsfraktion Kreisvorsitzender der CDU Mönchengladbach Büro Mönchengladbach Franz-Meyers-Haus Regentenstrasse 11 41061 Mönchengladbach Büro Berlin Jakob-Kaiser-Haus Platz der Republik 1 11011 Berlin HerrnNguyen Van Ri Dahlener Str. 687 41236 Mönchengladbach                                                                                                                      Berlin, 07.11.2013 Verleihung des Verdienstordens des Landes Nordrhein-Westfalen Sehr geehrter Herr Nguyen, für Ihr freundliches Schreiben anlässlich meiner erneuten Wahl in den Deutschen Bundestag am 22.September 2013 danke ich Ihnen recht herzlich. Über die Gratulation, die Sie mir im Namen des Vereins der vietnamesischen Flüchtlinge in Mönchengladbach ausgesprochen haben, freue ich mich sehr.   Mir ist es heute aber ein besonderes Anliegen, Ihnen meine Glückwünsche und meinen ganz herzlichen Dank zukommen zu lassen. Denn Sie werden heute in Düsseldorf von der Ministerpräsidentin mit dem Verdienstorden des Landes Nordrhein-Westfalen ausgezeichnet. Zu meinem großen Bedauern kann ich an der Verleihung und dem anschließenden Empfang nicht teilnehmen, da ich durch die Koalitionsverhandlungen in Berlin gebunden bin.. Daher bitte ich für mein Fernbleiben um Ihr Verständnlis. Doch auch aus der Hauptstadt möchte ich meine Freude und Hochachtung über diese Ehrung zum Ausdruck bringen, mit der Ihr vielfältiges Engagement und Ihr außergewöhnlicher Lebensweg eine angemessene Würdigung erfährt. Sie haben 1981 Ihre Heimat Vietnam unter dramatischen Umständen verlassen. Mehrere Tage haben Sie mit Ihrer Familie, insbesondere mit Ihrer neugeborenen Tochter, in einem Boot auf dem Meer verbracht, bevor Sie von der Cap Anamur aufgenommen wurden. Sie haben sich für die Freiheit und gegen kommunistische Unterdrückung entschieden. Dabei sind Sie hohe Risiken eingegangen. Dieser Mut nötigt mir unverändert großen Respekt ab. 1982 sind Sie dann nach Mönchengladbach gekommen und haben mit der Umschulung zum Schlosser den Grundstein für eine neue Existenz gelegt. In der Folge lag Ihnen das Schicksal Ihrer vietnamesischen Landsleute am Herzen. Von Anfang an haben Sie sich für die Integration der Flüchtlinge in die deutsche Gesellschaft eingesetzt. Mit Ihrem Engagement haben Sie ganz entscheidend dazu beigetragen, dass etwa 1.500 Vietnamesen in unserer Stadt eine zweite Heimat finden konnten. Als Vorsitzender des Vereins der vietnamesischen Flüchtlinge in Mönchengladbach haben Sie sich um diese Gemeinschaft verdient gemacht. Aber Ihr Wirken beschränkt sich längst nicht nur auf den Niederrhein. Als Schatzmeister nehmen Sie eine tragende Rolle im Bundesverband der vietnamesischen Flüchtlinge in Deutschland ein. In dieser Funktion stellen Sie sich nicht zuletzt der bedeutenden Frage, in welcher Weise eine demokratische Entwicklung in Ihrem Heimatland wirkungsvoll befördert werden kann.   Besonders beachtenswert erscheint mir, dass sich Ihr Blick nicht auf die vietnamesischen Flüchtlinge beschränkt. Ihr Einsatz geht vielmehr weit darüber hinaus. So haben Sie eine Fülle von Projekten in der ganzen Welt unterstützt, mit denen die Not von Menschen konkret gelindert werden konnte. Aus der jüngsten Vergangenheit möchte ich exemplarisch auf die Intiative des Bundesverbandes der vietnamesischen Flüchtlinge in diesem Sommer hinweisen, bei der über 5.000,-€ für Flutopfer in Süd- und Ostdeutschland gesammelt wurden. Alle diese Aspekte unterstreichen, warum Sie diese Auszeichnung für besondere Verdienste um das Land Nordrhein-Westfalen und seine Bevölkerung verliehen bekommen.   Meine besten Wünsche begleiten Sie und Ihre ehrenamtlichen Tätigkeiten natürlich auch in der Zukunft. So danke ich Ihnen herzlich für die freundliche Einladung zum Neujahrsfest der Mönchengladbacher Vietnamesen am 08. Februar 2014 in der Neuwerker Mehrzweckhalle. Diesen Termin werde ich mir vormerken und Ihnen Anfang des neuen Jahres eine definitive Rückmeldung geben. Nach den angenehmen Erfahrungen in der Vergangenheit, ich denke nur an die Veranstaltung mit Rupert Neudeck, freue ich mich aber bereits jetzt auf diesen Abend. Mit freundlichen Grüßen Dr. Günter Krings ************ Dr. Philipp Rösler chúc mừng ông Nguyễn Văn Rị được chính quyền Đức Nordrhein-Westfalen trao tặng Huân chương Dr. Philipp Rösler Phó Thủ Tướng Cộng Hòa Liên Bang Đức Bộ Trưởng bộ Kinh Tế Chủ Tịch Đảng Tự Do Dân Chủ (FDP) Nguyễn Văn Rị Dahlener Str. 687 41239 Mönchengladbach                                                                                      Berlin, ngày 02 tháng 11 năm 2013 Kính thưa Ông Nguyễn Văn Rị, Thay mặt Đảng Tự Do Dân Chủ và cá nhân tôi xin nồng nhiệt chúc mừng ông nhận được Huân Chương công trạng „Dấn thân cho tha nhân“ của tiểu bang Nordrhein-Westfalen. Trao tặng Huân Chương này là nói lên sự công nhận những nỗ lực đặc biệt của ông trong tiểu bang Nordrhein-Westfalen. Ông là gương sáng cho nhiều người, vì ông đã giúp đỡ và dấn thân vô vụ lợi cho đồng loại. Ông bảo vệ những giá trị cao đẹp như: nhân bản, công bình, đoàn kết, khoan dung và lòng can đảm dám đứng ra gánh vác việc những công việc cho lợi ích chung. Là thành viên trong ban điều hành Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn tại Cộng Hòa Liên Bang Đức ông đã lo lắng đặc biệt cho những nhu cầu của người Việt ở Đức nói chung và ở tiểu bang Nordrhein-Wstfalen nói riêng. Qua rất nhiều những đóng góp ông đã giúp cho xã hội chúng ta phát triển tốt đẹp và đất nước tràn đầy ý nghĩa sống. Một lần nữa tôi xin được nói lên đây lời cảm tạ chân thành nhất và tôi xin kính chúc riêng ông mọi điều tốt đẹp và may mắn. Kính chào thân ái, Dr. Philipp Rösler Ngọc Hòa chuyển ngữ ******Staatsministerin Prof. Dr. Maria Böhmer MdB chúc mừng Ông Nguyễn Văn Rị được ân thưởng Huân chương „Dấn thân cho con người“ (Verdienstorden des Landes Nordrhein-Westfalen).   Kính thưa Ông Nguyễn Văn Rị,   Tôi xin được nồng nhiệt chúc mừng ông nhận giải „Dấn thân cho con người“ của tiểu bang Nordrhein-Westfalen vào ngày 07 tháng 11 năm 2013. Cách đây hơn 30 năm, là một thuyền nhân ông đã từ Việt Nam đến Đức Quốc và đã tìm thấy ở Mönchengladbach một quê hương. Ông là gương sáng cho rất nhiều người; những người này đã đến Đức trong những trường hợp tương tự như ông, thường thì họ đã gặp nhiều khó khăn và nguy hiểm hơn, để được sống trong tự do và an toàn. Đường đời của ông chứng minh rằng: Với quyết tâm, đam mê và chăm chỉ thì sẽ thành công trên đất nước chúng ta. Kinh nghiệm này ông đã truyền đạt lại cho các con. Tất cả 7 người con đã có được một viễn ảnh tốt đẹp hơn cả sự hy vọng của ông. Đó thật là một niềm hãnh diện. Sự dấn thân không mệt mỏi và bất vụ lợi của ông để cùng đồng hương hội nhập vào nước Đức và những công tác thiện nguyện cho giáo hội công giáo là những thí dụ điển hình cho nhiều người khác.  Hôm nay tôi  xin đuợc chân thành cám ơn ông về những việc làm này. Cá nhân tôi xin kính chúc ông cùng gia quyến mọi sự tốt đẹp và hy vọng rằng ông vẫn luôn thành công trong những công việc thiện nguyện. Kính chào thân ái, Prof. Dr. Maria Böhmer Ngọc - Hòa chuyển ngữ *** **** Stellvertretende Ministerpräsidentin Sylvia Löhrmann verleiht den Verdienstorden des Landes Nordrhein-Westfalen an Nguyen Van-Ri    http://www.ttdq.de/node/937#overlay=node/937/edit
......

Một số nguyên tắc hoạt động của Diễn đàn Xã hội Dân sự

Diễn đàn Xã hội Dân sự, sau đây gọi là Diễn Đàn, hoạt động vừa tròn hai tháng.   Mục tiêu duy nhất của Diễn Đàn là để nâng cao dân trí, tạo cơ hội học tập, tranh luận lành mạnh và tiến hành nhiều loại hoạt động nhằm “góp phần chuyển đổi thể chế chính trị của nước ta từ toàn trị sang dân chủ một cách ôn hòa.”   Diễn Đàn vừa chọn một Nhóm Cố vấn và chỉ định một Nhóm Trị sự để giúp Diễn Đàn hoạt động hiệu quả hơn. Các nhóm này thường xuyên được bổ sung bởi những người nhiệt tình, có điều kiện tham gia. Nhân dịp hai tháng tuổi có lẽ cũng nên đưa ra để thảo luận nhằm hình thành những nguyên tắc hoạt động của Diễn Đàn và các giá trị mà Diễn Đàn coi trọng và mong muốn được nhiều người, nhiều tổ chức cũng coi là của mình. 1. Những nguyên tắc hoạt động của Diễn Đàn. Diễn Đàn và các thành viên hoặc tổ chức thành viên của Diễn Đàn tuân thủ 9 nguyên tắc chính sau đây trong hoạt động của mình bên trong Diễn Đàn:   a) Hợp pháp: Diễn Đàn và các thành viên của nó hoạt động một cách hợp pháp, tôn trọng pháp luật, không chống nhà nước, không nhằm chống bất cứ ai hay bất cứ tổ chức nào. Tính hợp pháp nêu ở đây được hiểu là sự phù hợp với các công ước quốc tế, với các quyền con người, với Hiến pháp, các Luật và các văn bản dưới luật nếu chúng không mâu thuẫn với các văn bản có hiệu lực cao hơn. Nói cách khác Diễn Đàn hoạt động theo nguyên tắc: mọi người dân có quyền quyền bất tuân những quy định vi hiến, vi phạm luật quốc tế, vi phạm các văn bản pháp luật cao hơn trong việc thực hiện các quyền (con người và công dân) của mình và coi việc thực thi các quyền đó là hợp pháp và đồng thời tích cực đề xuất, tìm cách sửa chúng cũng như mạnh mẽ lên tiếng đòi sửa đổi chúng nhằm đảm bảo các quyền con người.   b) Tự trị: tất cả các thành viên của Diễn Đàn đều có quyền và nghĩa vụ như nhau trong hoạt động của Diễn Đàn, không ai có thể yêu cầu một thành viên làm một việc mà thành viên đó không muốn. Ngoài việc tuân thủ các nguyên tắc của Diễn Đàn, mỗi thành viên hay mỗi nhóm thành viên hoạt động một cách tự trị với sự sáng tạo, sáng kiến và cách làm của riêng mình nhằm đạt mục tiêu của Diễn Đàn. Diễn Đàn tôn trọng và khuyến khích sự tự trị đó.   c) Chính danh: Tất cả các thành viên của Diễn Đàn hoạt động một cách chính danh và tự chịu trách nhiệm về hành động của mình. Việc sử dụng bút danh, nghệ danh là có thể miễn là chúng xác định rõ người mang bút danh hay nghệ danh đó. Mọi hình thức nặc danh, mạo danh đều không được Diễn Đàn chấp nhận.   d) Công khai: Diễn Đàn là mở và hoạt động công khai. Không có gì cần che giấu và đây cũng là nguyên tắc cho mỗi thành viên trong hoạt động của Diễn Đàn.   e) Bất bạo động: Diễn Đàn và các thành viên trong hoạt động của Diễn Đàn tuân thủ nguyên tắc bất bạo động. Nguyên tắc bất bạo động gồm có 2 khía cạnh. Thứ nhất, Diễn Đàn và các thành viên trong hoạt động của Diễn Đàn không sử dụng bạo lực để nhằm đạt được mục tiêu của mình. Thứ hai, Diễn Đàn và các thành viên trong hoạt động của Diễn Đàn dùng mọi biện pháp bất bạo động, hợp pháp của mình, cùng những người hay tổ chức khác, để thuyết phục những người chủ trương bạo động thay đổi chủ trương của họ, để ngăn cản, chống lại hành động bạo lực của bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào. Bạo lực không chỉ là việc dùng sức mạnh thể xác, vũ khí mà cả việc dùng từ ngữ ác khẩu, gây hận thù, kích động bạo lực cũng được coi là hành động bạo lực và phải tránh. f) Khoan dung: chấp nhận những ý kiến khác nhau, nhất là tôn trọng các ý kiến thiểu số, là nguyên tắc bắt buộc nếu chúng ta muốn xây dựng một nền dân chủ đa nguyên. g) Chân thật: Diễn Đàn và các thành viên bên trong Diễn Đàn tuân thủ nguyên tắc chân thật. Mọi thông tin đều cần kiểm chứng ở mức chính xác nhất có thể. Mọi sự ngụy tạo, giả mạo, bóp méo, dối trá đều không được chấp nhận. h) Tin cậy: Tin cậy lẫn nhau là một nguyên tắc, nó không khuyến khích bất cứ thủ tục, biện pháp nào gây ra sự ngờ vực. Diễn Đàn không sợ sự thâm nhập của bất kỳ lực lượng nào (kể cả lực lượng an ninh) vào Diễn Đàn, thậm chí họ được hoan nghênh miễn là họ tuân thủ các nguyên tắc chính của Diễn Đàn và tán thành mục tiêu của Diễn Đàn như bất cứ thành viên nào khác.   i) Đoàn kết: xây dựng tinh thần đoàn kết trong hoạt động của các nhóm, của toàn Diễn Đàn; đoàn kết với các nhóm và tổ chức khác nhất là khi một thành viên nào đó, hay bất cứ ai bị ngược đãi. 2.  Hoạt động của Diễn Đàn   Diễn Đàn không phải là một tổ chức có thứ bậc, không ai là cấp trên của người khác. Hoạt động quan trọng nhất của Diễn Đàn là hoạt động kết nối (các nhóm, các tổ chức sẵn có và các nhóm các tổ chức mới ra đời). Về mặt kỹ thuật nó hoạt động như một mạng, một “hệ thống tự tổ chức”, trong đó các “lãnh đạo”, những người hoạt động tích cực, có ý tưởng hay được nhiều người chấp nhận, sẽ tự “nổi lên” như các nhân vật trung tâm.  Nói cách khác Diễn Đàn hoạt động một cách thực sự dân chủ. Nhóm  trị sự chỉ làm công việc thuần túy kỹ thuật và sự vụ (nhận bài, chuyển bài, đăng bài, chuyển thông tin) và không có chức năng quản lý hay quản trị nào cả. Diễn Đàn hoạt động trên cơ sở chia sẻ các giá trị chung như tự do, dân chủ, pháp trị, các quyền con người và tuân thủ một số nguyên tắc chính được nêu ở trên.   Do nguyên tắc tự trị, các thành viên hoặc các tổ chức thành viên của Diễn Đàn có thể có rất nhiều hoạt động phong phú khác nhau, trên các địa bàn khác nhau, trong các lĩnh vực khác nhau, có thể có những mục tiêu khác nhau nhưng có chung một mục tiêu được nhắc tới ở trên và tuân thủ các nguyên tắc chung, thí dụ các nguyên tắc nêu trên (và có thể thêm các nguyên tắc đặc trưng riêng của mỗi nhóm, thí dụ nhóm trẻ, nhóm phụ nữ, nhóm môi trường, nhóm sinh viên vân vân hay mỗi địa bàn, địa phương) nhằm từng bước đạt mục tiêu của Diễn Đàn. Chính vì thế mục này không thể có tham vọng nêu dù chỉ một phần nhỏ của các hoạt động có thể của Diễn Đàn. Thay cho việc nêu những hoạt động này, một việc không thể, dưới đây chỉ nêu vài thí dụ có tính gợi mở mà thôi. a) Mảng “công tác xã hội”- hoạt động để cải thiện tình hình trong mọi lĩnh vực, mọi nơi   Đây là lĩnh vực hoạt động (cũng được gọi là công tác xã hội) có lẽ phong phú nhất, sáng tạo nhất và quan trọng nhất của các thành viên, các nhóm thành viên của Diễn Đàn. Bất cứ hoạt động hợp pháp nào có thể trực tiếp cải thiện tình hình kinh tế, xã hội, chính trị, môi trường của thành viên, của nhóm thành viên hay của các cộng đồng, các tổ chức nơi thành viên hoạt động là những hoạt động mà Diễn Đàn khuyến khích việc thực hiện hay việc kết nối, hợp tác với các nhóm, các tổ chức khác để thực hiện. Sau đây chỉ là vài thí dụ gợi ý:   * Giữ gìn vệ sinh công cộng và tập thể dục nâng cao sức khỏe (trong nhà máy, trường học, làng xóm, tổ dân phố) vận động người dân giữ vệ sinh nâng cao sức khỏe, không vứt rác, vân vân là việc mà các thành viên và nhóm thành viên có thể thúc đẩy, kêu gọi người dân tham gia, thậm chí tổ chức các đợt dọn vệ sinh ở nơi công cộng (bờ hồ, công viên, quanh các khu công nghiệp). Mở rộng thành các hoạt động bảo vệ môi trường quy mô hơn.   Các sáng kiến nâng cao hiệu quả hoạt động của chính tổ chức mình (nhà trường, doanh nghiệp, cơ quan nhà nước, vân vân) để tiết kiệm, chống lãng phí,  góp phần cải thiện tình hình làm lợi cho tổ chức của mình và cho chính mình. * Vận động mọi người tham gia giao thông một cách văn minh, tuân thủ quy định giao thông để tránh ách tắc và tai nạn giao thông. * Bảo vệ quyền của người dân, người tiêu dùng. * Bảo vệ, trợ giúp (tinh thần, tài chính, y tế, pháp lý) cho những người bị ngược đãi.   * Đào tạo kỹ năng cho các thành viên và những người có nhu cầu trong thời gian ngắn (thí dụ về tin học như sử dụng email, vượt tường lửa, vân vân). * Dạy học thiện nguyện cho những trẻ em và người lớn không có điều kiện đến các trường lớp chính quy (bao gồm dạy văn hóa, ngoại ngữ và các kỹ năng sống, làm việc, giao tiếp,…). * Tham gia chống tham nhũng (thu thập thông tin, củng cố chứng cứ, hợp tác với báo giới, …) * Diễn  Đàn cố gắng hết sức để có sự ủng hộ, sự hợp tác hoặc chí ít sự không cản trở của Chính quyền (vì sự cản trở công tác xã hội ích nước lợi dân như vậy sẽ làm mất uy tín và có hại cho Chính quyền) đối với những loại hoạt động kể trên và rất nhiều những hoạt động cụ thể, trực tiếp, không thách thức chính quyền và hoàn toàn hợp pháp này nhưng chúng mang lại sự cải thiện tình hình ngay tức khắc. Những “công tác xã hội” loại này tùy thuộc vào sáng kiến, sự sáng tạo của các thành viên và nhóm thành viên của Diễn Đàn, và thoạt nhìn chúng có vẻ không liên quan trực tiếp đến mục đích của Diễn Đàn, nhưng xét kỹ thì chúng rất liên quan, thậm chí có tầm quan trọng quyết định đến dân chủ hóa và sự bền vững của nền dân chủ một khi đã được thiết lập nếu có một phần đáng kể của dân cư thường xuyên tham gia. b) Mảng vận động chính sách – hoạt động nhằm góp phần cải cách thể chế * Tham gia phân tích các luật, các thể chế, các chính sách hiện hành   * Tham gia tích cực vào quá trình hình thành chính sách, góp ý sử đổi hoặc xây dựng mới các dự án luật các thể chế, chính sách (việc này rất lợi cho nhà nước vì khi nhiều người tham gia sẽ làm cho chính sách thực tế hơn và việc thực thi chính sách hiệu quả hơn).   * Thảo luận, công bố và cùng các tổ chức khác kiến nghị với cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, khi cần có thể có những hình thức gây áp lực một cách ôn hòa khác với các cơ quan này để buộc họ xem xét nghiêm chỉnh ý kiến của tập thể thành viên Diễn Đàn. c) Hoạt động nâng cao dân trí gắn với trang thông tin của Diễn Đàn * Tham gia viết bài cho trang thông tin * Tham gia thảo luận, tranh luận về các chủ đề khác nhau của Diễn Đàn * Giảng hay đào tạo về những vấn đề cụ thể cho các đối tượng khác nhau d) Xây dựng và mở rộng Diễn Đàn * Vận động, giới thiệu người tham gia Diễn Đàn; kết nối các nhóm, các tổ chức khác với Diễn Đàn * Tích cực tham gia vào các hoạt động khác nhau của Diễn Đàn * Vận động toàn dân ủng hộ và tham gia vào những việc do Diễn Đàn, các nhóm trong Diễn Đàn khởi xướng   Trên đây là vài nét về Diễn Đàn Xã hội Dân sự. Diễn Đàn cần hoạt động liên tục, thậm chí ngay cả khi đã có dân chủ thực sự với mục tiêu thay đổi nhằm củng cố, bảo vệ, duy trì và phát triển nền dân chủ, và lâu dài. Chính vì thế các giá trị, các nguyên tắc và sự hoạt động của Diễn Đàn sẽ được hoàn thiện với sự trao đổi và đóng góp tích cực của tất cả mọi người./. Diễn đàn Xã hội Dân sự * * * http://diendanxahoidansu.wordpress.com/2013/11/23/thong-bao-2/ THÔNG BÁO Diễn Đàn Xã Hội Dân Sự đã chọn: A) Một Nhóm Cố vấn gồm các vị sau: 1) Nguyễn Đình Đầu (nhà nghiên cứu, Tp. HCM) 2) Lê Hiếu Đằng (luật gia, HCM) 3) Hà Sĩ Phu (Ts. Nguyễn Xuân Tụ, Đà Lạt) 4) Nguyên Ngọc (nhà văn, Hội An) 5) Nguyễn Huệ Chi (Gs. Hà Nội) 6) Chu Hảo (PGs, Ts. Hà Nội) 7) Nguyễn Quang A (Hà nội) 8) Đinh Xuân Quân (Ts. Hoa Kỳ, Afganistan) Các cố vấn: tự mình đưa ra lời khuyên cho Nhóm Trị sự hoặc đưa ra lời khuyên khi có đề nghị từ Nhóm Trị sự.   B) Diễn Đàn cũng đã chỉ định một Nhóm Trị sự làm công việc hàng ngày trong đó có ông Nguyễn Quang A từ Nhóm Cố vấn. Danh sách các thành viên khác của Nhóm Trị sự sẽ được công bố khi thích hợp, tùy hoàn cảnh của mỗi thành viên. Ngày 23-11-2013 Diễn đàn Xã hội Dân sự Địa chỉ Blog: diendanxahoidansu.wordpress.com; Email: diendanxahoidansu@gmail.com * * * http://diendanxahoidansu.wordpress.com/2013/09/23/tuyen-bo-ve-thuc-thi-q...   TUYÊN BỐ Về thực thi quyền Dân sự và Chính trị —————- Hiến pháp hiện hành của nước ta quy định tại điều 69: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin, có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”.   Công ước quốc tế về những quyền dân sự và chính trị (mà Nhà nước Việt Nam ký tham gia ngày 24/9/1982) quy định cụ thể về quyền bày tỏ quan điểm, quyền hội họp và lập hội: “Mọi người đều có quyền giữ vững quan niệm mà không bị ai can thiệp. Mọi người đều có quyền tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyền tự do tìm kiếm, tiếp nhận, và phổ biến mọi tin tức và ý kiến bằng truyền khẩu, bút tự hay ấn phẩm, dưới hình thức nghệ thuật, hay bằng mọi phương tiện truyền thông khác, không kể biên giới quốc gia” (trích điều 19[1]); “Quyền hội họp có tính cách hoà bình phải được thừa nhận” (trích điều 21); “Ai cũng có quyền tự do lập hội, kể cả quyền thành lập và gia nhập các nghiệp đoàn để bảo vệ quyền lợi của mình” (trích điều 22). Những quy định tương tự cũng có trong Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hiệp Quốc được công bố ngày 10/12/1948 mà mọi quốc gia thành viên đếu phải tôn trọng [2] ..   Căn cứ vào những quy định đó, các ý kiến đóng góp cho việc sửa đổi Hiến pháp khác với quan điểm của Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp do Quốc hội lập, đặc biệt là về những điều cơ bản của thể chế chính trị (như Kiến nghị do 72 người ký trực tiếp ngày 19-1-2013, thường được gọi tắt là Kiến nghị 72, Tuyên bố của Hội đồng Giám mục, Tuyên bố công dân tự do, ý kiến trên trang mạng Cùng viết Hiến pháp, và nhiều ý kiến của đồng bào trong và ngoài nước trên các trang thông tin điện tử) là hoàn toàn phù hợp với Hiến pháp và Công ước quốc tế về những quyền dân sự và chính trị (dưới đây gọi tắt là Công ước quốc tế). Điều đó cũng đúng với nhiều tiếng nói đòi dân chủ và thực hiện các quyền tự do đã được quy định trong Hiến pháp, gắn liền với yêu cầu bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, hòa nhịp với các hình thức đấu tranh của nông dân bị mất đất, của công nhân đòi việc làm và cải thiện đời sống. Những tiếng nói đó của các tổ chức và nhóm như Hội đồng Giám mục, nhóm các chức sắc tôn giáo, nhóm công dân tự do, nhóm Tuyên bố 258, câu lạc bộ NoU, v.v., hoặc của nhiều cá nhân ở trong và ngoài nước mang tinh thần yêu nước và khát vọng dân chủ, đều được bày tỏ một cách ôn hòa, hợp pháp.   Chúng tôi, những người ký tên dưới đây hoan nghênh ý thức xây dựng của những tiếng nói đó và thấy rằng để phản ảnh yêu cầu của đông đảo nhân dân, cần khởi xướng một Diễn đàn trao đổi và tập hợp các ý kiến nhằm góp phần chuyển đổi thể chế chính trị của nước ta từ toàn trị sang dân chủ một cách ôn hòa. Đó là mục đích hoạt động của Diễn đàn, hoàn toàn phù hợp với hiến pháp của nước ta và Công ước quốc tế. Diễn đàn này mang tên “Diễn đàn xã hội dân sự” và có trang thông tin điện tử là nơi bày tỏ ý kiến của các tổ chức, các nhóm, các cá nhân cùng theo đuổi mục đích nêu trên, với mong muốn xã hội dân sự ở nước ta phát triển đúng với yêu cầu của một nước dân chủ.   Chúng tôi yêu cầu nhà cầm quyền tôn trọng quyền bày tỏ quan điểm của công dân, thẳng thắn tranh luận và đối thoại, từ bỏ cách đối xử không công bằng, không minh bạch và không đường hoàng như đã và đang áp dụng đối với những kiến nghị sửa đổi Hiến pháp và những tiếng nói đòi dân chủ khác với quan điểm của nhà cầm quyền. Ý kiến khác nhau cần được tranh luận thẳng thắn để tìm chân lý; còn dựa vào quyền lực để cản trở việc công bố, không đối thoại mà chỉ đơn phương phê phán, quy kết, thậm chí dùng nhiều cách ngăn cấm và trấn áp thì không những vi hiến và trái với Công ước quốc tế mà còn không đúng với tư cách chính đáng của một nhà cầm quyền.   Việc sửa đổi Hiến pháp đang còn ý kiến khác nhau về những vấn đề cơ bản của thể chế chính trị. Dự thảo Hiến pháp sửa đổi dự định trình Quốc hội thông qua trong kỳ họp cuối năm tuy có một số điều chỉnh chi tiết nhưng về cơ bản vẫn duy trì thể chế toàn trị của giới cầm quyền nhân danh Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN). Thực tế ở nước ta cho thấy rõ: thể chế này đã tạo nên một bộ máy cầm quyền có nhiều quyết sách sai trái và quan liêu, tham nhũng nặng; một “bộ phận không nhỏ” trong bộ máy lợi dụng quyền lực (cả quyền cai trị và quyền sử dụng, định đoạt đất đai, tài nguyên, tài sản công) cấu kết với một số nhà kinh doanh làm giàu bằng nhiều thủ đoạn bất minh (cả trong khu vực kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân), hình thành các nhóm lợi ích bất chính, xâm phạm quyền lợi của nhân dân, dẫn tới sự phân hóa giàu nghèo quá bất công ở nước ta. Không ít người trong giới cầm quyền các cấp cùng với các nhóm lợi ích và sự hậu thuẫn của thế lực bên ngoài đang dựa vào bạo lực cùng nhiều thủ đoạn không chính đáng để duy trì quyền thống trị đất nước theo thể chế toàn trị, có phần do tư duy giáo điều, bảo thủ, nhưng phần quan trọng hơn, phổ biến hơn là do muốn bảo vệ và giành thêm lợi ích riêng bất chấp lợi ích chung của đất nước, của dân tộc. Đó là nguyên nhân gốc rễ khiến nước ta lâm vào khủng hoảng trên nhiều mặt: kinh tế suy giảm nặng và không ổn định, văn hóa suy đồi, đạo đức băng hoại, môi sinh bị tàn phá, trình độ phát triển và năng lực cạnh tranh thua kém nhiều nước trong khu vực, dân mất lòng tin đối với bộ máy cầm quyền; trong khi đó, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta đang bị thế lực bành trướng Trung Quốc gia tăng các hành động xâm phạm.   Để vượt qua những thách thức hiểm nghèo đối với đất nước và dân tộc, giải pháp cơ bản là phải cải cách thể chế chính trị, chuyển từ toàn trị sang dân chủ, qua đó phát huy sức mạnh hòa giải và đoàn kết dân tộc, mở ra thời kỳ phát triển mới cho đất nước và bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia. ĐCSVN, với vị trí là đảng đang cầm quyền, tự nhận vì nước vì dân, có trách nhiệm thúc đẩy quá trình chuyển đổi đó một cách chủ động, mở đầu bằng việc sửa đổi Hiến pháp. Đó là mệnh lệnh của cuộc sống và cũng là phương án tối ưu cho sự chuyển đổi thể chế chính trị một cách ôn hòa ở nước ta.   Nếu Hiến pháp sửa đổi vẫn duy trì thể chế toàn trị được thông qua và ban hành chính thức thì các thách thức mà đất nước và dân tộc đang đối mặt càng thêm nghiêm trọng dẫn tới hệ quả khôn lường, dân càng thất vọng và bất bình, uy tín của nước ta trong quan hệ quốc tế càng giảm sút. Đó thật sự là tai họa cho đất nước mà trách nhiệm thuộc về giới cầm quyền.   Vì vậy, Diễn đàn xã hội dân sự yêu cầu Quốc hội dừng việc thông qua bản Hiến pháp sửa đổi trong đó thể chế chính trị hiện hành vẫn được duy trì về cơ bản, kéo dài thời gian thảo luận về Hiến pháp và thật lòng tổ chức nghiên cứu, tranh luận một cách thẳng thắn, nghiêm túc và công khai về những điều cơ bản của thể chế chính trị đang còn ý kiến khác nhau. Tuyên bố này được gửi tới các thành viên cơ quan lãnh đạo ĐCS và Nhà nước; đồng thời được công bố trên mạng xã hội để phổ biến rộng rãi, mong đồng bào trong và ngoài nước biểu thị sự đồng tình, hưởng ứng. Ngày 23 tháng 9 năm 2013 Những người khởi xướng Diễn đàn xã hội dân sự Ghi chú: - Ý kiến hưởng ứng Tuyên bố này xin gửi về địa chỉ e-mail: diendanxahoidansu@gmail.com - Cách thức tham gia Diễn đàn sẽ được thông báo sau.  
......

Blogger Điếu Cày được trao giải Tự do báo chí quốc tế 2013 vắng mặt

Bộ ngoại giao Hoa Kỳ tổ chức gặp các nhà báo Janet Hinostroza của Ecuador và Nedim Sener của Thổ Nhĩ Kỳ là hai trong số bốn người đoạt giải tự do báo chí quốc tế của năm nay, hôm 21.11 vừa qua.   Giải tự do báo chí quốc tế do Ủy ban bảo vệ nhà báo (CPJ), một Tổ chức phi chính phủ, thực hiện. Tham dự lễ trao giải có ba Hinostroza và ông Sener là hai khôi nguyên. Đặc biệt có mặt Uzra Zeya, Quyền trợ lý Ngoại trưởng về Dân chủ, Nhân quyền và Lao động cùng Roberta Jacobson, Trợ lý Ngoại trưởng Tây bán cầu và Mark Toner, Phó trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Á-Âu và châu Âu về các vấn đề về thách thức sự tự do báo chí trong nước. Các quan chức Mỹ tham dự đã bày tỏ lo ngại về số phận của các nhà báo trên toàn thế giới và tái khẳng định cam kết của Hoa Kỳ đối với tự do ngôn luận, xem tự do báo chí như một quyền con người phổ quát và là một thành phần quan trọng của bất kỳ xã hội dân chủ nào. Hai người đoạt giải Tự do báo chí quốc tế của CPJ không có mặt là Youssef Bassem, người Ai Cập và Nguyễn Văn Hải (Điếu Cày), một trong những blogger nổi tiếng nhất của Việt Nam. Ông Nguyễn Văn Hải không thể đến Hoa Kỳ vì ông đang phải chấp hành án phạt tù theo vì bị kết tội “tuyên truyền chống nhà nước”. Youssef dự kiến ​​sẽ đến New York để nhận giải thưởng CPJ sau dịp này.   Ủy ban bảo vệ nhà báo có trụ sở tại New York có mục tiêu thúc đẩy tự do báo chí trên toàn thế giới và bảo vệ quyền lợi của các nhà báo đưa tin tức mà không sợ bị trả thù, công nhận những hoạt động can đảm của các phóng viên phải đối mặt, hoặc đã có kinh nghiệm, bị bỏ tù hay bị ngược đãi trong các quốc gia họ làm việc. **** State Department Officials Meet With International Press Freedom Award Winners Media Note Office of the Spokesperson Washington, DC November 22, 2013   On Thursday, November 21, the State Department hosted journalists Janet Hinostroza of Ecuador and Nedim Sener of Turkey – two of the four winners of this year’s International Press Freedom Awards, chosen by the independent non-governmental organization Committee to Protect Journalists (CPJ). Ms. Hinostroza and Mr. Sener briefed Uzra Zeya, Acting Assistant Secretary of State for Democracy, Human Rights, and Labor; Roberta Jacobson, Assistant Secretary of State for Western Hemisphere Affairs; and Mark Toner, Deputy Assistant Secretary of State for European and Eurasian Affairs about press freedom challenges in their countries. U.S. officials expressed concerns about the plight of journalists worldwide and reaffirmed the United States’ commitment to freedom of expression, including for members of the press, as a universal human right and a vital component of any democratic society. The other two CPJ awardees, celebrated Egyptian satirist Bassem Youssef and Nguyen Van Hai (a/k/a Dieu Cay), one of Vietnam's best known bloggers, were not present for the State Department meetings. Nguyen Van Hai could not come to the United States because he is serving a prison sentence under a law that bars “conducting propaganda against the state.” Youssef is scheduled to attend the CPJ ceremony in New York to receive his award. The New York-based Committee to Protect Journalists promotes press freedom worldwide and defends the rights of journalists to report the news without fear of reprisal, annually recognizes the courageous service of reporters who face, or have experienced, imprisonment or other persecution for exposing realities in the countries in which they work. http://www.state.gov/r/pa/prs/ps/2013/11/218005.htm Nguồn: VRNs
......

Ông Nguyễn Văn Rị được chính quyền Đức Nordrhein-Westfalen trao tặng Huân chương

Staatsministerin Prof. Dr. Maria Böhmer MdB chúc mừng Ông Nguyễn Văn Rị được ân thưởng Huân chương „Dấn thân cho con người“ (Verdienstorden des Landes Nordrhein-Westfalen). Kính thưa Ông Nguyễn Văn Rị, Tôi xin được nồng nhiệt chúc mừng ông nhận giải „Dấn thân cho con người“ của tiểu bang Nordrhein-Westfalen vào ngày 07 tháng 11 năm 2013. Cách đây hơn 30 năm, là một thuyền nhân ông đã từ Việt Nam đến Đức Quốc và đã tìm thấy ở Mönchengladbach một quê hương. Ông là gương sáng cho rất nhiều người; những người này đã đến Đức trong những trường hợp tương tự như ông, thường thì họ đã gặp nhiều khó khăn và nguy hiểm hơn, để được sống trong tự do và an toàn. Đường đời của ông chứng minh rằng: Với quyết tâm, đam mê và chăm chỉ thì sẽ thành công trên đất nước chúng ta. Kinh nghiệm này ông đã truyền đạt lại cho các con. Tất cả 7 người con đã có được một viễn ảnh tốt đẹp hơn cả sự hy vọng của ông. Đó thật là một niềm hãnh diện. Sự dấn thân không mệt mỏi và bất vụ lợi của ông để cùng đồng hương hội nhập vào nước Đức và những công tác thiện nguyện cho giáo hội công giáo là những thí dụ điển hình cho nhiều người khác.  Hôm nay tôi  xin đuợc chân thành cám ơn ông về những việc làm này. Cá nhân tôi xin kính chúc ông cùng gia quyến mọi sự tốt đẹp và hy vọng rằng ông vẫn luôn thành công trong những công việc thiện nguyện. Kính chào thân ái, Prof. Dr. Maria Böhmer Ngọc - Hòa chuyển ngữ Stellvertretende Ministerpräsidentin Sylvia Löhrmann verleiht den Verdienstorden des Landes Nordrhein-Westfalen an Nguyen Van-Ri     http://www.ttdq.de/node/937#overlay=node/937/edit ****  Ông Nguyễn Văn Rị được Huân chương Công trạng của chính quyền Đức Nordrhein-Westfalen - Tại thủ phủ Düsseldorf ngày 07/11/2013 vừa qua, bà Bộ trưởng Sylvia Löhrmann, đại diện cho nữ Thủ hiến Hannelore Kraft đã trao tặng Huân chương Công trạng cho 7 công dân của tiểu bang Nordrhein-Westfalen để vinh danh thành tích đóng góp của họ cho xã hội, trong số 7 người này có ông Nguyễn Văn Rị, một thuyền nhân đến Đức định cư đã lâu. Bà Löhrmann nói những giá trị được vinh danh của 7 công dân này không phải là được quy định “từ trên xuống” mà phải do chính đương sự sống thực với những giá trị đó. Hướng đến 7 người được trao tặng huân chương, bà Löhrmann tuyên bố: phẩm giá con người, công bình, đoàn kết, vị tha và can đảm xã hội dân sự không phải là những từ trống rỗng mà đã được quý vị bổ sung trọn vẹn bằng hành động. Về ông Nguyễn Văn Rị, bà Löhrmann phát biểu: “đầu thập niên 1980, ông Nguyễn Văn Rị đã vượt biên trên một con tàu nhỏ dài 13 thước, rộng 2 thước với 100 người khác, được tàu Cap Anamur cứu và đưa về Đức, gia đình ông sống tại Mönchengladbach. Và cũng từ đó ông trở thành điểm tựa đầu tiên cho người tị nạn… Từ năm 1983 , ông đã tham gia vào một cách đặc biệt đối với người Công giáo Việt Nam tại Đức. Kể từ tháng Tư năm 2012, Nguyễn Văn Rị là Uỷ viên trong ban chấp hành của Liên Hội Người Việt Tị Nạn tại Đức. Trong nhiều năm, ông cũng hỗ trợ “Ủy ban Cap Anamur” và hội “Mũ Xanh” có nhiều dự án xây dựng trong những khu vực có xung đột trên thế giới”….   Ông Nguyễn Văn Rị được Huân chương Công trạng của Nordrhein-Westfalen   “… Từ năm 2004 đến 2012, ông là chủ tịch của Hiệp hội Bác ái Vinh Sơn của người Việt Công Giáo trong Giáo phận Aachen giúp đỡ vật chất và tinh thần cho người khốn khó. Trên toàn thế giới, tổ chức này có hơn một triệu thành viên. Với sự nhiệt tình không mệt mỏi Nguyễn Văn Rị thu thập lạc quyên ở các chợ trời và lễ hội giáo xứ để đóng góp chủ yếu là dự án viện trợ nước ngoài. Truờng hợp một đứa trẻ ở Việt Nam có một khối u sáu ký trong bụng đã khiến ông Nguyễn Văn Rị không thể ngủ yên. Ông lạc quyên trong giáo xứ của ông và gửi về Việt Nam để giúp cho đứa trẻ cơ hội giải phẫu. Ca phẫu thuật đã thành công và cứu được mạng sống của đứa trẻ – đây chỉ là một thí dụ trong nhiều đóng góp của ông”, bà Löhrmann ca ngợi. Ông Rị kính mến, Diễn Đàn Việt Nam 21 chúc mừng ông được vinh danh xứng đáng, đồng thời cũng là một vinh dự chung cho người Việt tại Đức. Chúc ông luôn vui khỏe và nhiều nghị lực tiếp tục các công tác xã hội như cho đến nay. TS Dương Hồng-Ân  
......

Verdienstorden des Landes Nordrhein-Westfalen an Nguyen Van-Ri

Stellvertretende Ministerpräsidentin Sylvia Löhrmann verleiht den Verdienstorden des Landes Nordrhein-Westfalen an Nguyen Van-Ri Die Landesregierung von Nordrhein-Westfalen teilt mit: Ministerin Sylvia Löhrmann hat in Vertretung von Ministerpräsidentin Hannelore Kraft sieben Bürgerinnen und Bürger mit dem Verdienstorden des Landes Nordrhein-Westfalen ausgezeichnet. Im Rahmen einer Feierstunde im Präsidentenschlösschen der Bezirksregierung Düsseldorf übergab die Ministerin diese besondere Auszeichnung und würdigte den Einsatz und die Leistungen aller Ordensträgerinnen und Ordensträger. „Es sind ganz besondere Menschen, die wir hier auszeichnen. Menschen, die Vorbilder sind, weil sie sich für andere einsetzen und weil sie anderen helfen“, so Ministerin Löhrmann. Sie sei davon überzeugt, dass die Werte, für die die geehrten Frauen und Männer stehen, nicht „von oben“ verordnet werden könnten, sondern vorgelebt werden müssten. An die Ausgezeichneten gewandt sagte Sylvia Löhrmann: „Für Sie sind Menschenwürde, Gerechtigkeit, Solidarität, Toleranz und Zivilcourage keine bloßen Worte – Sie erfüllen sie mit Leben.“ Die stellvertretende Ministerpräsidentin hob das außerordentliche Engagement der sieben Bürgerinnen und Bürger für die Allgemeinheit hervor: „Jede und jeder von Ihnen sorgt dafür, dass unsere Gesellschaft nicht nur funktioniert, sondern dass unser Land lebens- und liebenswert ist und bleibt. Ich danke Ihnen von Herzen und wünsche mir, dass Ihr Engagement auch andere motiviert, sich für die Gesellschaft einzusetzen.“   Staatskanzlei Nordrhein-Westfalen / Foto:Ralph SondermannVan Ri Nguyen aus Mönchengladbach Der Verdienstorden des Landes ist im März 1986 aus Anlass des 40. Geburtstages des Landes Nordrhein-Westfalen gestiftet worden. Er wird an Bürgerinnen und Bürger als Anerkennung ihrer außerordentlichen Verdienste für die Allgemeinheit verliehen. Die Zahl der Landesorden ist auf 2.500 begrenzt. In den 27 Jahren seines Bestehens sind bisher knapp 1.500 Frauen und Männer mit dem Verdienstorden des Landes Nordrhein-Westfalen ausgezeichnet worden. Die Ministerin überreichte die Orden an: Heinz Fennekold, Dortmund Philomena Franz, Bergisch Gladbach Staatsminister a. D. Dr. Axel Horstmann, Herford Van Ri Nguyen, Mönchengladbach Professor Dr. Walter Schmitz-Valckenberg, Köln Marga Spiegel, Münster Werner Stump, Kerpen        Die Laudatio im Wortlaut: Staatskanzlei Nordrhein-Westfalen / Foto:Ralph Sondermann     Ministerin Sylvia Löhrmann hat in Vertretung von Ministerpräsidentin Hannelore Kraft sieben Bürgerinnen und Bürger mit dem Verdienstorden des Landes Nordrhein-Westfalen ausgezeichnet. Herr Van Ri Nguyen aus Mönchengladbach Uns alle erschüttern die Bilder der afrikanischen Bootsflüchtlinge der letzten Wochen. Doch bei Van Ri Nguyen müssen die Berichte über die vielen verzweifelten Menschen in den Fischerbooten Erinnerungen wecken, die niemand, der sie durchlebt hat, je vergessen wird – eine traumatische Erfahrung. Anfang der 1980er Jahre flüchtete Van Ri Nguyen mit seiner Familie in einem kleinen Boot, 13 Meter lang, zweieinhalb Meter breit, mit 101 Menschen besetzt, aus Vietnam. Die Flüchtlinge wurden vom deutschen Schiff „Cap Anamur“ gerettet und nach Deutschland gebracht. Seitdem lebt Van Ri Nguyen mit seiner Familie in Mönchengladbach. Und: Seitdem engagiert er sich für seine Mitmenschen. Man sagt über Van Ri Nguyen, er sei zu einer Anlaufstelle vietnamesischer Exilanten geworden, von der rege Gebrauch gemacht wird. Übrigens wurde dank einer Gemeinschaftsaktion geretteter Flüchtlinge unter Anleitung von Van Ri Nguyen das damalige Fluchtboot gesichert und instandgesetzt, so dass es auch weiterhin als Symbol der Freundschaft zu Deutschland stehen kann. Von 1983 an engagierte er sich in besonderer Weise für vietnamesische Katholiken in Deutschland. Seit April 2012 ist Van Ri Nguyen Mitglied des Exekutivkomitees des Bundesverbandes der vietnamesischen Flüchtlinge in Deutschland. Seit vielen Jahren setzt er sich auch für das „Cap Anamur Komitee“ und die „Grünhelme e.V.“ ein, die weltweit Bauprojekte in Krisengebieten errichten. Bis heute bleibt die reibungslose Integration seiner vietnamesischen Landsleute in die deutsche Gesellschaft das Hauptanliegen Van Ri Nguyens. Gleichzeitig ist er darum bemüht, die vietnamesische Identität zu erhalten. Dabei bringt er seine Lebensgeschichte und seine Erfahrungen aus dem eigenen Integrationsprozess mit ein. Bei der Organisation und Durchführung unzähliger Feste und Veranstaltungen versteht es Van Ri Nguyen wie kein anderer, Deutsche und Vietnamesen zusammenzubringen und dabei den interkulturellen Gedankenaustausch zu fördern. Neben all seinem Engagement für die Freundschaft und das interkulturelle Zusammenleben setzt sich Van Ri Nguyen für arme und hilfsbedürftige Menschen in Vietnam und in anderen Schwellen- und Entwicklungsländern ein. Von 2004 bis 2012 war er Vorsitzender der „St. Vincent de Paul Conférence“ der vietnamesischen katholischen Mission im Bistum Aachen, die sich um Menschen in materieller, leiblicher und seelischer Not kümmert. Weltweit hat die Organisation mehr als eine Million Mitglieder. Mit unermüdlichem Elan sammelt Van Ri Nguyen auf Flohmärkten und Pfarrfesten Spenden, die überwiegend Hilfsprojekten im Ausland zugutekommen. So wurde Van Ri Nguyen beispielsweise auf ein Kind in Vietnam aufmerksam, das einen sechs Kilogramm schweren Tumor im Bauch hatte. Van Ri Nguyen ließ dieses Schicksal nicht ruhen. Er sammelte Geld in seiner Gemeinde und schickte es nach Vietnam, um eine Operation zu ermöglichen. Der Eingriff glückte, das Leben des Kindes konnte gerettet werden - nur ein Beispiel seines vielfältigen Engagements. Lieber Herr Nguyen, nehmen Sie von mir den Verdienstorden des Landes Nordrhein-Westfalen entgegen, als Zeichen meiner Anerkennung Ihrer Verdienste für die Menschen in unserem Land und für die unmittelbare Unterstützung so vieler bedürftiger Mitmenschen in Entwicklungsländern. http://www.nrw.de/mediathek/bildergalerie/verleihung-des-verdienstordens...
......

Wo landen die acht Millionen Vietnam-Euro aus Luxemburg?

Tám triệu Euro Luxemburg gửi qua Việt Nam đâu rồi? Hoffentlich nicht im Portemonnaie von Lokalfürsten! Mong chúng không lọt vào túi tiền của các lãnh chúa địa phương! Weit über 100 Millionen Euro hat Luxemburg nach Vietnam geschickt! Und jetzt wandern wieder acht Millionen dorthin! Doch selbst wer genau nachliest, versteht nicht, in was da investiert wird! Denn die Summen verstecken sich hinter Phrasen wie „Finanzierung der Systeme im Dienste der sozio-ökonomischen Einkünfte“! Das kann alles bedeuten. Aber auch nichts! Von 2002 bis 2010 hat Luxemburg schon massiv geblecht! 82 Millionen Euro! Für die Entwicklung des Landes. Dann wurden noch mal 42 Millionen Euro bereitgestellt. Für die folgenden fünf Jahre! Luxemburg đã chuyển hơn 100 triệu Euro qua Việt Nam! Nay lại còn chuyển thêm 8 triệu nữa! Ngay cả những ai đọc kỹ lại cũng không hiểu số tiền này được đầu tư chỗ nào! Vì các khoản tiền này được cất lén trong các cụm từ (mơ hồ) như „ Nguồn tài chánh phục vụ cho các thu nhập có tính cách xã hội kinh tế“! Ai muốn hiểu gì thì hiểu, hiểu sao cũng được! Từ 2002 đến 2010 Luxemburg đã trả những khoản tiền khổng lồ! 82 triệu Euro! Để mở mang đất nước. Rồi bây giờ còn cung cấp thêm 42 triệu Euro nữa cho 5 năm sắp tới! Aber Luxemburg durfte nie allein entscheiden, was mit dem Geld passiert! Die kommunistische Regierung hat darauf bestanden, dass Luxemburgs Entwicklungshilfe in ihren Fünfjahresplan passt. Jetzt fließen noch mal acht Millionen an den Pazifik. Für die Verbesserung von Kapazitäten der Verwaltung. Was immer das auch heißt! Noch ein Thema: Milderung der Armut auf lokalem Niveau. Der einzige verständliche Punkt der neuen Geld-Tranche. Das Geld soll in drei Küstenkommunen ankommen. Doch Luxemburg muss aufpassen! Geld, das in die „Finanzierung der Systeme im Dienste der sozio-ökonomischen Einkünfte“ fließt, kann schnell verschwinden! Es wäre nicht das erste Mal, dass Entwicklungshilfe im Säckel einiger lokaler Bosse verschwindet! Luxemburg không bao giờ được phép đơn thương quyết định xử dụng số tiền này làm gi!                                                                              Chính phủ cộng sản khẳng định tiền viện trợ của Luxemburg được dùng cho kế hoạch ngũ niên của họ.                                                            Bây giờ lại thêm tám triệu Euro trôi qua hướng Thái Bình Dương (ngụ ý là qua Việt Nam) để cải tiến công xuất hành chánh. Lại muốn hiểu sao thì hiểu.                                                                 Thêm một đề tài: Giảm nghèo ở cấp địa phương, điểm độc nhất có thể hiểu được trong vụ chuyển tiền. Số tiền được trao cho cho 3 vùng ven biển. Luxemburg nên cẩn thận! Tiền dùng cho „ Nguồn tài chánh phục vụ cho các thu nhập có tính cách xã hội kinh tế“ có thể biến mất rất nhanh! Không phải đây là lần đầu tiên tiền viện trợ viện trợ biến mất trong kho bạc của một số quan lớn địa phương!                                                ( phần trong ngoặc kép dùng để giải thích ý của tác giả bài báo) http://www.luxprivat.lu/News/Wo-landen-die-acht-Millionen-Vietnam-Euro-a...  
......

Chức sắc tôn giáo phản đối NĐ 92 vi phạm quyền tín ngưỡng

Ngày 04.10.2013, các chức sắc tôn giáo tại Việt Nam đưa ra một bản lên tiếng về pháp lệnh tôn giáo năm 2004 và nghị định áp dụng pháp lệnh năm 2012. Bản lên tiếng cho rằng do chủ trương quyền lực toàn trị độc tài, đảng và chế độ Cộng sản luôn coi tôn giáo là kẻ thù, kẻ thù số một, cần phải tiêu diệt. Để thực hiện việc này, nhà cầm quyền Cộng sản dùng bạo lực vũ khí và bạo lực hành chánh. Bạo lực hành chánh hiện thời được thể hiện qua Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo số 21 do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày năm 2004 và Nghị định áp dụng Pháp lệnh số 92 ban hành năm 2012 nhằm siết chặt hơn trong việc kiểm soát các giáo hội. Cả hai văn kiện pháp lý này muốn khống chế, kềm tỏa 5 phương diện hay 5 yếu tố của tôn giáo là quy chế pháp lý, nhân sự, hoạt động, tài sản và quan hệ quốc tế. Không công nhận tư cách pháp nhân, nhà cầm quyền chỉ cho các tôn giáo và các tổ chức thuộc tôn giáo phải xin công nhận để được hoạt động với những điều kiện rất khắt khe. Nhiều Giáo hội như Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Phật giáo Hòa Hảo Thuần túy, Cao Đài Bảo thủ Chơn truyền và nhiều Hệ phái Tin lành như Mennonite hoặc Lutheran Việt Nam bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, do đó bị bách hại dữ dội. Trong lúc đó, nhà cầm quyền lại nặn ra nhiều giáo hội quốc doanh hoặc tổ chức quốc doanh để thay thế hay lũng đoạn các Giáo hội chính truyền hòng lừa gạt nhân dân và quốc tế, dùng đạo chống lại đạo. Từ những phân tích trên, Các Chức sắc Tôn giáo Việt Nam tuyên bố không chấp nhận pháp lệnh nói trên, và đòi hỏi nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam phải bãi bỏ pháp lệnh này, cùng thả mọi chức sắc, tu sĩ, tín đồ đang bị cầm tù vì đã đấu tranh cho tự do tôn giáo hay dân chủ nhân quyền; trả lại mọi tài sản tinh thần là tự do và độc lập cho mọi tôn giáo; trả lại mọi tài sản vật chất là đất đai, cơ sở cho mọi Giáo hội. http://www.youtube.com/watch?v=sOqrIva8TZg  
......

Vì Nước bỏ đảng – Vì đảng bỏ Nước!?

Có thể chúng ta sẽ không cùng quan điểm khi nhận xét về nhân cách cá nhân họ. Tuy nhiên không thể nào không công nhận, họ là những người Cộng Sản yêu nước chân chính nhất hiện nay khi họ tự tách ra, vượt lên trên 3 triệu “đồng chí” của họ, gạt bỏ mọi “vinh hoa phú quí” để như vắt máu từ trong trái tim mình nhỏ từng giọt hòa theo dòng lịch sử dân tộc.   Dù đau như đoạn trường bởi nhiều lý do khác nhau nhưng cuối cùng vì văn minh tự do dân chủ, vì lẽ phải công bằng, vì tương lai tiền đồ dân tộc vì vận nước thôi thúc, khẳng khái từ bỏ đảng CS độc tài lạc hậu - Họ là ai?   Nhiều lắm, một thời là tinh hoa của chế độ CSVN như các ông bà: Dương Quỳnh Hoa - Nguyễn Hộ - Trần Xuân Bách - Trần Độ - Hoàng Minh Chính - Vi Đức Hồi - Bùi Tín - Nguyễn Minh Cần - Nguyễn Mạnh Tường - Dương Thu Hương – Lê Hồng Hà - Phạm Đình Trọng - Trần Mạnh Hảo - Huỳnh Nhật Hải - Huỳnh Nhật Tấn. v. v…   Không quá lời khi nói, họ vì đất nước mà dứt khoát từ bỏ “đảng” để: “vắt từ trong trái tim mình, từng giọt máu hòa theo dòng lịch sử dân tộc” Những giọt máu viết thành lời của họ (những người yêu nước ấy) công khai quang minh chính trực để các “đồng chí CS” một thời của họ phải cúi đầu nghiệm suy:   Bác Sĩ Dương Quỳnh Hoa Bác Sĩ Dương Quỳnh Hoa bộ trưởng Y Tế Mặt Trận GPMN, từ bỏ đảng CSVN năm 1979. Bà công khai phát biểu: “Ngày nay, khi quyền lực nằm an toàn trong tay rồi, đảng đã xem nhân dân như là một kẽ thù tiềm ẩn”. Nhận định về ngày bức tường Bá Linh sụp đổ, Bà nói: “Đây là ngày tàn của một ảo tưởng vĩ đại”   Ông Nguyễn Hộ Ông Nguyễn Hộ: UV/thường vụ thành ủy TP/Hồ Chí Minh, CT/MT/Tổ Quốc TP/Hồ Chí Minh - UV/TW/MTTQ/Việt Nam, ông từ bỏ Đảng CS năm 1991 sau hơn 53 năm. Ông từng được trao giải thưởng Hellman-Hammett của Tổ chức quốc tế Nhân quyền.   “…Đảng cộng sản Việt Nam phát động chống đa nguyên, đa đảng là chống lại sự nghiệp dân chủ tự do của dân tộc Việt Nam, chống lại văn minh tiến bộ của đất nước, kiềm hãm dân tộc Việt Nam mãi trong mê muội tối tăm, mù quáng. Không phải vì dân tộc, vì đất nước mà chính là vì sợ mất vai trò lãnh đạo và đặc quyền, đặc lợi của cá nhân, một nhóm người lãnh đạo, mà Đảng cộng sản Việt Nam đã chà đạp thô bạo Hiến Pháp của nước CHXHCN Việt nam, biến nó thành một thứ trang trí, không có giá trị thực tiễn trong việc bảo vệ dân chủ tự do và lợi ích của công dân; mặt khác nó che đậy khéo léo bản chất độc tài phản dân chủ của Đảng CSVN... ”[1]   Trung tướng Trần Độ Trung tướng Trần Độ: Phó Chính ủy - Phó Bí thư Quân ủy MTGPMN-Phó CT/QH khóa 7, ủy viên Hội đồng Nhà nước (1989-1992) - Ông chấp nhận khai trừ đảng ngày 4 tháng 1 năm 1999 để được tự do viết theo nhận xét của mình trong “Nhật ký Rồng Rắn”: “…Đảng nói những lời rất hay, làm ra Hiến pháp và luật pháp, nhưng bộ máy của đảng đều làm ngược lại Hiến pháp và luật pháp, bất chấp đạo lý. Đảng tuyên truyền khẩu hiệu “sống theo Pháp luật” thì đảng lại là người sống ngoài vòng pháp luật và sống trên pháp luật trắng trợn nhất. Và đảng cũng chỉ đạo các cơ quan nhà nước làm như vậy. Xã hội ta ở trong tình trạng như vô pháp luật hiện nay, người đầu tiên gây ra tình trạng đó chính là đảng.   Đảng dùng mọi thủ đoạn lừa bịp, dối trá, ngụy biện để nhằm một mục đích duy nhất là duy trì và giữ vững bộ máy cai trị mà họ gọi là “sự lãnh đạo của đảng”. Do đó, trong thực tế bộ máy này là bộ máy phá dân chủ, phản dân chủ một cách trắng trợn, tinh vi và tàn bạo nhất”.   Ông Lê Hồng Hà: Ông Lê Hồng Hà: Cựu đại tá Chánh văn phòng Bộ Công an dưới thời Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn, ông đã bị khai trừ khỏi đảng (Vụ án xét lại chống Đảng thập niên 1990). bị kết án, vào tù một thời gian. “…Đảng hiện nay chỉ còn là vai trò kìm hãm xã hội, nhưng ĐCSVN vẫn cố tô vẽ cho thực trạng hiện nay những điều không có thực, vẫn tự khoe khoang, huyênh hoang rằng nhờ mình thì đất nước mới có nhiều điều tiến bộ nhưng thực tế đã cho thấy Việt Nam dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN tụt hậu về nhiều mặt so với các nước trong khu vực. Xây dựng và phát triển đất nước mà lại theo chủ nghĩa Marx-Lenin thì sai hoàn toàn. Chủ nghĩa Marx-Lenin là một học thuyết đấu tranh giai cấp bằng bạo quyền, là một học thuyết “phản” phát triển. Trong tình hình hiện nay của đất nước thì cái Đảng này không thể đổi mới được. Chỉ có dân mới có thể tạo ra đổi mới. Nếu cái Đảng này có làm được cái gì tiến bộ thì cũng phải dựa vào sức ép của dân. Nhân dân sẽ là người bắt Đảng phải thay đổi - Tôi không kêu gọi thủ tiêu “anh” nhưng “anh” muốn tồn tại thì phải thực hiện đa nguyên, đa đảng, dân chủ, để mà tồn tại”. [2]   Ông Vi Đức Hồi:   Ông Vi Đức Hồi: Giám đốc trường Đảng Hữu Lũng, Tỉnh Lạng Sơn, năm 2007 ông bị khai trừ, vì các bài viết phê phán đảng, ông được Human Rights Watch trao giải Hellman/Hammett năm 2009. Ông bị CSVN tuyên án tám năm tù giam vì tội tuyên truyền chống nhà nước. “…Quân đội là của nhân dân, từ nhân dân mà ra, do nhân dân nuôi dưỡng. Ở các nước dân chủ, văn minh, quân đội chỉ làm nhiệm vụ theo quy định của hiến pháp và pháp luật, nhà nước trực tiếp quản lý, điều hành quân đội. Quân đội không thể là công cụ của bất cứ một đảng phái nào, nhiệm vụ thiêng liêng nhất của quân đội là bảo vệ nhân dân, toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc.   Một lực lượng hùng hậu, được trang bị các phương tiện và vũ khí tối tân, được chăm lo bằng những đồng tiền thuế của nhân dân đóng góp mà nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu lại là để bảo vệ cho sự tồn tại sống còn của một cái “đảng”, thì quả là kỳ lạ…”   Đại tá, nhà văn Phạm Đình Trọng   Đại tá, nhà văn Phạm Đình Trọng: “Tôi là Phạm Đình Trọng, nhà văn, là đảng viên Cộng sản tôi tự thấy đảng Cộng sản không còn phù hợp với lý tưởng thẩm mĩ và giá trị nhân văn mà tôi theo đuổi nên tôi tự rút ra khỏi đảng.” [3] “... Cải cách ruộng đất lấy danh nghĩa là đánh đổ tầng lớp bóc lột ở nông thôn nhưng những gì diễn ra đã chứng tỏ rằng đó là cuộc phát động gây hận thù ngay trong lòng dân tộc. Lấy bạo lực chuyên chính vô sản đánh vào giá trị văn hóa, đánh vào đạo lý gia đình, đánh vào văn hóa làng quê, đánh cả vào tín ngưỡng tâm linh, những nền tảng của văn hóa dân tộc. Cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh đã phá sạch cơ sở vật chất của nền sản xuất công nghiệp tư nhân vừa hình thành, biến những người chủ giỏi tính toán làm ăn, biết gây dựng cơ đồ thành trắng tay, thành người làm thuê bằng cơ bắp. Sử dụng cơ bắp XHCN làm thuê làm cho nền kinh tế miền Bắc thụt lùi hàng trăm năm. Tiếp tục cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh ở miền Nam đã đưa kinh tế cả nước xuống vực thẳm, đưa dân tộc Việt Nam thông minh, tài giỏi tới nghèo khổ, hèn mọn. Dòng người bỏ nước ra đi kéo dài trong nhiều năm…”   Ông Huỳnh Nhật Hải (trái) và ông Huỳnh Nhật Tấn   Ông Huỳnh Nhật Hải và ông Huỳnh Nhật Tấn: Hai anh em, ông Huỳnh Nhật Hải sinh năm 1943, ông Huỳnh Nhật Tấn sinh năm 1946, là những người, vào cuối năm 1988, đã cùng nhau ly khai, ra khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam đồng thời từ bỏ luôn những chức vụ quan trọng đang đảm nhiệm đầy quyền lực, quyền lợi – (ông Huỳnh Nhật Hải là PCT/UBND/TP Đà Lạt kiêm Thành ủy viên và ông Huỳnh Nhật Tấn là Phó Giám đốc Trường Đảng tỉnh Lâm Đồng kiêm Tỉnh ủy viên dự khuyết). Cả hai ông Huỳnh Nhật Hải, Huỳnh Nhật Tấn có chung quan niệm để cùng chia sẻ với đồng bào công luận: “Anh em chúng tôi trước khi quyết định từ bỏ đảng đã nói với nhau là: chúng ta đi làm cách mạng không phải để góp phần xây dựng nên một nhà nước chuyên chính độc tài toàn trị như thế này.” [4] Các quyền tự do dân chủ của người dân, càng ngày chúng tôi càng thấy thực tế lại tồi tệ và khó khăn hơn rất nhiều so với thời Việt Nam Cộng Hòa. Ví dụ như khi hoạt động trước 1975, chúng tôi đã từng cho một số viên chức chính quyền miền Nam đọc cả cương lĩnh của Mặt trận GPMN nhưng những người đó không coi chúng tôi là thù địch, họ coi việc khác biệt quan điểm là chuyện hết sức bình thường. Nhưng sau năm 1975 mọi thứ không như thế nữa, tất cả mọi hoạt động, kể cả trong tư tưởng, mà khác với quan điểm của ĐCSVN thì đều không được chấp nhận. Báo chí tư nhân, biểu tình, bãi công, bãi thị đã hoàn toàn bị cấm ngặt mặc dù những bất công, nhu cầu lên tiếng của xã hội hết sức bức bối. Có thể nói điều lớn nhất để chúng tôi nhận thức lại ĐCSVN là sự độc tài toàn trị dựa trên bạo lực và không tôn trọng những quyền căn bản của người dân. Với câu hỏi: Nếu được sống lại thời tuổi trẻ một lần nữa, các ông có tiếp tục ủng hộ và đi theo Việt Minh, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam hay ĐCSVN? Ông Huỳnh Nhật Hải: Không, không bao giờ. Đó là một số tiêu biểu những tấm gương người CS “vì nước, bỏ đảng”. Ngược lại, khi mà: “Liên Xô, đế chế hùng mạnh hàng đầu thế giới, lãnh đạo CS quốc tế và toàn khối CS Đông Âu cũng như các quốc gia XHCN vệ tinh, 90% những chế độ một thời theo CS trên toàn thế giới ấy, đã tự nguyện từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, vứt bỏ tư tưởng Mac, đạp đổ tượng đài Lê Nin để đưa quốc gia hội nhập với trào lưu tiến hóa dân chủ hay đa nguyên văn minh của nhân loại, cụ thể như thế giới hiện nay, mà đảng CSVN và nhất là 14 cái “da mặt dày” trong “bộ cai trị”CSVN đã chứng kiến xuyên suốt hơn 20 năm qua…” thì mới đây 23/10/2013…. Tại nghị trường QH - Trong phiên thảo luận tại tổ về dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, Ông Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu: "Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa.”!? (khi thiên hạ đang chôn lấp nó??)   Không biết trong nhóm 14 khuôn mặt “dày da” này có ma nào trả lời được câu hỏi của ngài TBT: "Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa. ”!? – Khi quá khứ CSVN đã lấy 4 triệu sinh mạng nhân dân mình làm nhiên liệu đổ vào cỗ máy XHCN chạy suốt 70 năm qua nhưng hiện tại chỉ mới thấy cái nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin đặt lên số phận 500. 000 ngàn thanh niên con em xuất khẩu xin tư bản trước khi “giãy chết” hãy vui lòng bóc lột trả bằng ngoại tệ để CSVN lấy đó định hướng kinh tế thị trường kiểu tư bản mà quá độ lên CNXH!?. Một thứ chủ nghĩa ảo vọng hiện nay như là một món ăn ôi thiu mà thiên hạ đã nôn thốc nôn tháo ra ngoài khi lỡ ăn vào, nhưng CSVN vẫn cứ bịp bợm tri hô là món ngon của đầu bếp Hồ… Chí Minh chế biến bắt cả dân tộc nuốt vào!?. Hơn ai hết 14 khuôn mặt này đều biết tỏng tòng tong CNXH là ảo vọng là không thể có thật trên cõi đời này nhưng vì quyền lợi nhóm màu mỡ vì bã vinh hoa phú quí nên câu kết lừa dân, dối lòng, duy trì độc tài bạo quyền lạc hậu của đảng CS mà bỏ qua vận mệnh của đất nước. Họ, những kẻ hèn mọn “vì đảng, bỏ nước” nhân cách hoàn toàn khác biệt với các đồng chí của họ nói trên “vì nước, bỏ đảng”. Lịch sử vốn dĩ như lăng kính tinh khiết, không có trái tim nên rất lạnh lùng công minh khi phản chiếu phán xét: Ai? Vì Nước bỏ đảng và Ai? Vì đảng bỏ Nước!? Cả dân tộc sẽ vinh danh, nguyền rủa hay trừng phạt, thời điểm ấy không còn xa lắm, khi CS/XHCN như ánh tà dương hiu hắt hấp hối cuối ngày trên toàn thế giới. Hoàng Thanh Trúc Nguồn: danlambaovn.blogspot.com
......

Phỏng vấn TS Nguyễn Quốc Quân – Không có nỗi sợ nào nhỏ hơn nỗi sợ nào

Phạm Thị Hoài: Thưa ông Nguyễn Quốc Quân, những chuyển động gần đây nhất tại Việt Nam cho thấy nhu cầu hình thành các tổ chức chính trị và xã hội dân sự ngoài vòng kiểm soát của Đảng Cộng sản đã được công khai phát biểu. Ông đánh giá thế nào về khả năng và lộ trình hiện thực hóa nhu cầu ấy?   Nhà văn Phạm Thị Hoài   Nguyễn Quốc Quân: Nói đến “lộ trình hiện thực hoá” này, tôi cho rằng đoàn lữ hành đã đi được đoạn đường quan trọng đầu tiên. Đó là việc lực lượng dân chủ đã có nhận diện khá giống nhau về 1) thực trạng, 2) nguyên nhân chính, 3) nhu cầu, và 4) phương cách giải quyết. Tóm tắt là, thực trạng: đời sống đầy bất công, tụt hậu trong hầu hết mọi lãnh vực, tham nhũng và các “lỗi hệ thống” không thể tự chữa, mất tự do và nhân phẩm…; nguyên nhân chính: thể chế độc tài toàn trị; nhu cầu: tháo gỡ độc tài, xây dựng xã hội dân sự và tiến tới thể chế dân chủ tự do; phương cách giải quyết: áp dụng đấu tranh bất bạo động để nong xích và xây lực. Trong diễn trình này, sự tiến triển đang tăng tốc rất nhanh. Nhanh hơn dự kiến của cá nhân tôi. Chỉ vài năm trước thôi, khái niệm xã hội dân sự còn khá xa lạ; phương thức đấu tranh bất bạo động (ĐTBBĐ) còn gặp khá nhiều ngờ vực về mức khả thi của nó; v.v… Nhưng sự lớn mạnh của cộng đồng mạng tại Việt Nam, những biến chuyển tại Bắc Phi và phản ứng của thế giới tiếp sau đó, tôi nghĩ đã góp phần thuyết phục rất nhiều. Ngày nay, hầu như chẳng còn ai đề nghị cách giải quyết nào khác ngoài con đường đấu tranh bất bạo động và phát triển xã hội dân sự để tiến dần đến tự do và đưa đất nước đi lên. Về mặt thực tiễn, bà con chúng ta cũng đang áp dụng rất sáng tạo các chiến thuật ĐTBBĐ, từ chụp hình và quảng bá nhanh các hình ảnh công an đàn áp, chụp hình các cá nhân có hành động côn đồ, đến các hành động bất tuân dân sự ôn hòa như biểu tình ngồi, nằm giữa đường, mang hàng trăm các tấm giấy lớn mà công an không giật xé hết được, cùng nhảy lên xe buýt để bị bắt như các đồng đội khác, thoải mái đi học phương xa và trước khi về chụp tấm ảnh “Free Us Now” chuẩn bị gửi lên mạng nếu bị bắt thật, v.v… Đây chính là các nỗ lực nong xích, nong rộng vòng xích kềm kẹp của nhà cầm quyền, để tiến dần đến việc đòi hỏi các quyền căn bản của con người mà cả thế giới công nhận và Hà Nội đã ký kết, và ở cuối giai đoạn đó mới có thể xuất hiện các tổ chức xã hội và chính trị độc lập. Chắc chắn những người cầm quyền độc tài không tự nhiên cho phép hình thành các tổ chức này. Chúng ta phải tranh đấu mới tiến tới lằn mức đó được. Phạm Thị Hoài: Trước đây và hiện nay cũng đã có một số đảng và tổ chức chính trị đối lập hoặc độc lập ra đời ở Việt Nam. Số phận và tình trạng của những tổ chức ấy hiện nay như thế nào, chắc chắn ông có theo dõi?   Nguyễn Quốc Quân: Vâng, chúng tôi có theo dõi rất kỹ. Các nhân sự chủ chốt bị trù dập rất nặng nề! Và chính Đảng Việt Tân cũng là một trong những tổ chức chính trị bị tấn công rất nặng nề và liên tục đó. Nhưng qua những cảnh trấn áp đó tôi càng biết ơn những người đã hy sinh, đã dám chấp nhận cái giá phải trả ở vai trò những người đi đầu đối diện với bạo quyền. Tôi muốn nói đến những vị khởi đi từ trong lòng chế độ, sớm nhìn thấy đại hoạ của đất nước như các ông Nguyễn Hộ, Trần Độ, Hoàng Minh Chính…, kéo dài đến các vị muốn tìm lại nhân phẩm cho dân tộc như linh mục Nguyễn Văn Lý, Vi Đức Hồi, Điếu Cày, và nhiều anh chị em trẻ của ngày hôm nay. Tôi cũng nhớ các nỗ lực từ bên ngoài, đã về để nối kết và tiếp sức với người dân trong nước như các ông Trần Văn Bá, Võ Đại Tôn, Hoàng Cơ Minh, v.v… Dĩ nhiên tôi vô cùng kính phục các vị ấy, với lòng biết ơn vô hạn trước những tấm lòng sẵn sàng làm những viên gạch lót đường, sẵn sàng hy sinh nong rộng vòng xích kiềm toả của chế độ độc tài. Nhờ đó, các nỗ lực tiếp sau mới có thể mạnh bước trên con đường rộng hơn, tuy vẫn không kém phần gay go. Vì vậy, sau những hy sinh đó, tôi nghĩ rằng chúng ta càng phải tiến tới để những hy sinh của những con người cao quí đó không bị uổng phí. Dĩ nhiên, cách làm của chúng ta càng lúc càng phải hiệu quả hơn. Chúng ta đang có nhiều bài học kinh nghiệm quí báu từ các dân tộc khác vừa mới đi qua tình cảnh y như dân tộc chúng ta. Với đủ khiêm tốn, chúng ta có thể học nhiều ở họ để tiết kiệm xương máu và thời gian cho dân tộc mình. Tôi rất vui mừng được thấy các hoạt động của ông Lê Hiếu Đằng, nhóm Tuyên bố 258, Diễn đàn Xã hội Dân sự, … Phạm Thị Hoài: Còn bản thân Việt Tân? Tổ chức của ông thực sự có được ảnh hưởng tới mức nào ở Việt Nam? Nguyễn Quốc Quân: Về mức ảnh hưởng của Việt Tân ở Việt Nam thực sự đến đâu thì chắc để tùy sự nhận định của chị cũng như bà con mình. Riêng tôi thì chỉ muốn bộc bạch một suy nghĩ như thế này. Khoa học đã phát hiện sự vỗ cánh của một con bướm nhỏ bé đã có thể góp phần tạo nên một cơn lốc! Nhà khí tượng học Edward Lorenz đã gọi đó là “Hiệu ứng cánh bướm”. Tôi rất tin tưởng khi mỗi người, mỗi nhóm, mỗi tổ chức, miệt mài vỗ đôi cánh của mình bằng lòng nhiệt thành và khả năng đang có, thì TẤT CẢ đều có giá trị và ảnh hưởng tương tác lên nhau. Bằng tấm lòng nhiệt thành ấy, Việt Tân đã và đang tiếp tục vỗ đôi cánh của mình để hoà nhịp với bà con trong và ngoài nước. Phạm Thị Hoài: Một mặt, cái tên Việt Tân khiến không ít người e ngại, không chỉ vì cáo buộc “khủng bố” từ phía chính quyền. Mặt khác, chính việc có tương đối nhiều nhà hoạt động dân chủ trong nước bị bắt và kết án vì được cho là đảng viên Việt Tân lại có vẻ như một sự quảng cáo ngoài ý muốn của chính quyền cho tổ chức của ông. Sự thực nằm ở đâu? Nguyễn Quốc Quân: Hiển nhiên nhà cầm quyền Việt Nam không ngồi yên nhìn bệ quyền lực độc tài của họ tan rã dần. Nhưng nếu tấn công lực lượng dân chủ, họ sẽ mắc phải cái vấn nạn tiến thoái lưỡng nan, như mọi chế độ độc tài khác. Tạm lấy Việt Tân làm thí dụ: Nếu không nhắc tới Việt Tân, họ khó có thể báo động nội bộ để đề phòng và đối phó với phương thức gia tăng sức lực toàn dân để toàn dân cùng đứng lên tháo gỡ độc tài mà chúng tôi cổ xúy trong mấy thập niên qua, tức loại đấu tranh toàn dân – toàn diện. Các chế độ độc tài coi thường ĐTBBĐ cứ lần lượt ra đi. Giới lãnh đạo Việt Nam biết rõ điều này. Còn nếu nhắc tới Việt Tân để báo động nội bộ, hù dọa bà con nhằm cô lập và làm cho các hoạt động của Việt Tân khó khăn hơn, thì cùng lúc họ cũng đang thú nhận là rất lo âu về mức độ hữu hiệu của phương pháp đấu tranh này. Chính nhà cầm quyền làm người dân thêm ước muốn tìm hiểu về cái bí quyết có thể biến những người dân tay không đứng đối diện ngang hàng với những kẻ đeo đầy vũ khí. Tóm lại, theo tôi, Việt Tân tạo ảnh hưởng cỡ nào không quan trọng. Sự kiện phương thức ĐTBBĐ được chấp nhận để tháo gỡ độc tài và đưa đất nước chúng ta đi lên ngang tầm với nhân loại mới là điều quan trọng. Và đó thực sự là tâm nguyện của tất cả anh chị em Việt Tân. Phạm Thị Hoài: Song Việt Tân cũng bị dị nghị rằng vô trách nhiệm và phô trương thanh thế khi tổ chức một số hoạt động dẫn đến những án tù nặng cho người tham gia. Nguyễn Quốc Quân: Thưa chị, đây là một hiểu lầm đáng buồn vì nó tạo khoảng cách giữa những người cùng chí hướng với nhau, mà đó cũng là điều chế độ độc tài rất mong muốn. Theo nhận thức bình thường của chúng ta, đặc biệt của những người đang sống trong các thể chế dân chủ, thì mục tiêu lớn nhất của mọi đảng phái chính trị là nắm quyền. Và để đạt được điều đó thì người dân phải biết đến đảng mình, tức là phải tìm mọi cách để phô trương thanh thế. Đảng phái nào càng khao khát cầm quyền sẽ càng dễ chấp nhận những thủ thuật hèn kém, quỉ quyệt, hay dùng chính đảng viên để trả giá hi sinh, v.v… Tôi có thể hãnh diện để nói rất thành thật rằng Đảng Việt Tân có quan niệm khác hẳn. Ngay từ những ngày đầu mới thành lập, mục tiêu tối hậu của Việt Tân là CANH TÂN ĐẤT NƯỚC. Điều này đã được ghi rõ trong cương lĩnh và được duy trì trong hành động suốt hơn 30 năm qua. Đối với chúng tôi, đứng trong hay ngoài chính quyền không là mục tiêu mà cũng chẳng là vấn đề. Có khác chăng là cách thức làm việc vì phương tiện để canh tân đất nước ở hai vị trí đó có khác nhau mà thôi. Một truyền thống khác nữa của Việt Tân là LÃNH ĐẠO LUÔN ĐI ĐẦU. Các chiến hữu lãnh đạo của chúng tôi ở cấp nào thì luôn là những người lãnh nhận những công việc nhiều rủi ro nhất ở cấp đó. Cá nhân tôi cũng nằm trong nguyên tắc này. Chính người trưởng nhóm của tôi cũng đã đi trước tôi một bước ở những công tác rủi ro. Trong vô số những công việc suốt 3 thập niên qua, dù anh chị em chúng tôi cố gắng đến đâu đi nữa vẫn có những lần bị trắc trở. Có vụ việc công luận biết, nhưng cũng có những vụ việc bà con không biết. Và dĩ nhiên, đối với các việc làm thành công, nếu giữ kín được thì chúng tôi phải giữ kín. Lý do rất đơn giản là để có thể tiếp tục thực hiện. Do đó, trong một vài vụ bị trắc trở, tôi biết một số anh chị em đã tự đấm ngực trách mình, mà còn phải nghe những dị nghị rằng “vô trách nhiệm hay phô trương thanh thế” thì thực sự là họ đau lòng lắm! Phạm Thị Hoài: Các khóa huấn luyện đấu tranh bất bạo động do Việt Tân tổ chức thường bị chính quyền tính sổ nặng nề, vì sao không đơn giản tổ chức các khóa này trên mạng? Nguyễn Quốc Quân: Về các khóa học trên mạng, phải nói rằng đây là cách làm dễ nhất, ít tốn kém tiền bạc và thời giờ nhất. Cách học này chính là những bước đầu tiên mà chúng tôi thực hiện. Nhưng nó chỉ có thể đạt tới một số kết quả giới hạn nào đó thôi. Trong một số trường hợp, chúng tôi bắt buộc phải bổ sung thêm các cách huấn luyện khác. Kinh nghiệm của các dân tộc khác, và trong thời gian gần đây chúng ta thấy một số tổ chức khác của người Việt cũng đi đến cùng một kết luận như vậy về nhu cầu huấn luyện trực diện với nhau. Và việc này chúng tôi đã thực hiện trong nhiều năm qua với nhiều cá nhân và nhiều nhóm khác nhau. Và sau hết, cũng cần nhấn mạnh đây là các quyền của con người – quyền tìm kiếm kiến thức và thông tin – mà nhà cầm quyền Hà Nội đã ký kết với thế giới. Tôi nghĩ rằng khi có những trắc trở ngoài ý muốn, chúng ta càng phải vạch trần hành động vi phạm nhân quyền của Hà Nội trước thế giới và càng tranh đấu cho các nạn nhân, thay vì trách ngược. Tương tự như khi có vụ cướp giật, chúng ta cần giúp chặn bắt kẻ cướp chứ không thể đứng trách là các nạn nhân đã giữ đồ đạc của mình quá hớ hênh. Phạm Thị Hoài: Bắt bớ và tù đày là những điều hiển nhiên trong hoạt động chính trị đối lập hoặc độc lập trong một thể chế như Việt Nam. Ông cũng từng bị ngồi tù hai lần, mỗi lần nhiều tháng, tại Việt Nam. Song cũng có lời nhận định rằng là một công dân Hoa Kỳ, ông có thể ít nhiều “yên tâm” bước vào tù vì có thể tin chắc rằng cánh cửa tù sẽ mở ra một ngày không xa, trong khi các nhà hoạt động sống trong nước không thể có được “bảo hiểm” này. Phần lớn các đảng viên Việt Tân sống ở hải ngoại về nước hoạt động cũng thường chỉ phải trải qua một thời gian giam giữ tương đối ngắn, trước khi bị trục xuất. Làm thế nào để thuyết phục những người trong nước, khi vạch xuất phát của họ được kẻ sẵn bằng một mầu hoàn toàn khác? Nguyễn Quốc Quân: Hiện nay đảng viên Việt Tân có người ở ngoài nước, có người ở trong nước và chúng tôi đều biết sự khác biệt này. Đó là lý do tôi vô cùng trân quí các chiến hữu quốc nội của tôi và luôn thấy là các đóng góp của tôi, kể cả thời gian ở tù, không đáng là gì so với những anh chị em trong nước đang đối diện với phiền toái và hiểm nguy hàng ngày. Chúng ta biết rõ rằng công an và an ninh cộng sản Việt Nam là bậc thầy của những hành động ám sát, khủng bố, thủ tiêu, giết chóc… nên phải hiểu rằng họ sẽ không từ hành động bạo lực nào để bảo vệ chế độ của họ. Năm 2007 khi họ bắt nguội tôi ở Tây Ninh sát biên giới Cam Bốt, trong phòng điều tra họ doạ: “Anh đừng có nói linh tinh, chúng tôi thả anh qua biên giới cho người khác đập đầu chết bây giờ”. Tôi thoáng rùng mình khi nhớ đến Lê Trí Tuệ, nhưng kịp trấn tĩnh lại vì nhớ rằng họ chưa kịp khai thác gì mình. Cho nên sau này khi công tác tại Việt Nam tôi cố giảm thiểu cơ hội bị những “tai nạn có sắp xếp” trong bóng tối. Tôi tin rằng các anh em dân chủ có “quốc tịch nước ngoài” cũng nhận thức rõ cái giới hạn của lợi thế đó. Khi nhập dòng đấu tranh, dù trong hay ngoài nước, mỗi người đều tìm cách tận dụng cái lợi thế của riêng mình. Nhưng một khi đã vào cuộc thì không có nỗi sợ nào nhỏ hơn nỗi sợ nào đâu. Vấn đề là nỗ lực vượt qua nỗi sợ của mình thôi. Đặc biệt khi nhìn đồng đội phải gánh quá nặng và quá gian nan, mỗi người dễ gác nỗi sợ của mình qua bên hơn, để giữ bình tĩnh và có những quyết định sáng suốt hơn. Một điều đáng mừng trong thời gian qua là càng ngày tù đày càng chỉ là nỗi lo thôi chứ ít còn là nỗi sợ. Có vị xem vào tù là “giấc ngủ trưa” và đã hành xử đúng như vậy. Thái độ khi bước ra khỏi tù không thua gì, và còn có phần mạnh hơn, ngày bước vào tù. Tinh thần ấy lan toả đến lực lượng dân chủ nói chung và đến rất nhiều các bạn trẻ gần đây như Phương Uyên, Nguyên Kha, Quốc Uy, Châu Văn Thi, Bùi Tuấn Lâm, Trần Hoài Bảo, … Chính các bạn ấy đủ trưởng thành và đảm lược để tự chủ quyết định sau khi đã cân nhắc lợi hại cho chính mình. Với tinh thần cùng đến với nhau, họ tự xác định vạch mức xuất phát cũng như mức đến – Không cần ai thuyết phục. Và đó mới là tia hy vọng cho đất nước chúng ta. Chúng ta vẫn thường nói lịch sử Việt Nam luôn xuất hiện những hào kiệt trong những lúc đen tối nhất. Nay các hào kiệt đang đứng, đang đi, đang sống ngay giữa chúng ta đó. Những người có bề ngoài bình thường nhưng với trái tim và khí phách bên trong rất phi thường. Phạm Thị Hoài: Tuy nhiên có những trách cứ rằng việc Việt Tân công khai ủng hộ một số nhà hoạt động dân chủ trong nước là gây hiểu lầm bất lợi cho họ, và chính họ cũng luôn nhấn mạnh rằng mình là những cá nhân độc lập không ở trong một đảng phái, tổ chức chính trị nào. Nguyễn Quốc Quân: Việc chị nêu là có, nhưng còn hai vế nữa mà có lẽ công luận chưa biết tới. Đó là chúng tôi cũng nhận được một số trách cứ với đại ý: có vẻ như Việt Tân chỉ quan tâm đến người của mình mà ít lên tiếng hay vận động cho những người của các tổ chức khác hay những người hoạt động độc lập trong lực lượng dân chủ. Có lời trách còn đi xa hơn nữa về “trách nhiệm phải lên tiếng” của Việt Tân. Sau hết, chúng tôi cũng nhận được sự dặn dò trước của một số nhà hoạt động là cứ vận động cho họ, bất kể các tuyên bố công khai của các vị ấy. Vì vậy, trong mỗi lần Việt Tân công khai lên tiếng ủng hộ ai, đặc biệt là các vị đang bị xách nhiễu, giam cầm, chúng tôi phải đắn đo nhiều, dựa trên ba yếu tố: 1) ước nguyện của nhà hoạt động ấy nếu chúng tôi có sự dặn dò từ trước; 2) ước nguyện của gia đình nhà hoạt động ấy nếu họ đang ở trong tù; 3) nhu cầu vận động ngay lúc đó có đòi hỏi phải lên tiếng ủng hộ công khai không. Nhưng quan trọng hơn nữa, theo tôi nghĩ, chúng ta cần tránh rơi vào cái bẫy mà chế độ độc tài toàn trị rất muốn. Đó là tạo khoảng cách tối đa giữa các lực lượng đối kháng để muôn năm trường trị. Cứ mỗi lần họ bảo “vì có hội ABC ủng hộ nên họ đánh” thì các nhà hoạt động lại tránh ABC ra; rồi thì sau một thời gian tránh mãi, chúng ta sẽ chỉ còn những cá nhân rời rạc, không kết hợp với nhau được để đủ sức gỡ bỏ xiềng xích độc tài. Chúng ta cũng thấy rõ là Việt Tân chỉ bị dùng làm cái cớ cho mục tiêu trên mà thôi. Trong nhiều vụ việc gần đây, dù không dính dáng gì đến Việt Tân, các nhà hoạt động vẫn bị bắt đó thôi. Sau hết, trong ĐTBBĐ, chúng ta cần bắt đầu hành xử các quyền đương nhiên của mình dù những người cầm quyền có chấp nhận hay không. Và lại còn phải nhấn mạnh những quyền ấy hơn nữa khi nhà cầm quyền ra những đòn phép để người dân tự rút quyền của mình lại. Họ càng ra các đòn phép về mặt nào thì chúng ta càng biết các hoạt động của chúng ta về mặt đó đang “đánh đúng chỗ” và đang làm họ lo âu. Phạm Thị Hoài: Dị nghị, bất hòa, chia rẽ, hữu danh vô thực…, có lẽ còn phải thêm vào danh sách nhược điểm này nhiều đặc tính tiêu cực khác của các đảng phái và tổ chức chính trị Việt Nam ở hải ngoại. Ông đã có gần 30 năm hoạt động chính trị ở hải ngoại. Nếu không phải là những lời lạc quan chung chung, ông có thể thực sự nói gì về năng lực và tương lai của những đảng phái này? Nguyễn Quốc Quân: Thưa chị, Việt Tân có nguyên tắc cho mọi thành viên là chỉ góp phần xây dựng sự đoàn kết chung trong lực lượng dân chủ, chứ không làm sứt mẻ sự đoàn kết đó, đặc biệt là không phê bình các tổ chức khác. Do đó, tôi xin phép không vi phạm nguyên tắc này. Tôi chỉ xin trình bày một suy nghĩ là mọi tổ chức, kể cả Việt Tân, nói cho cùng đều chỉ là phương tiện để các thành viên đạt đến một mục tiêu chung nào đó. Nếu phương tiện nào không còn đáp ứng mục tiêu của các thành viên nữa thì tiến trình chọn lọc tự nhiên sẽ xảy ra thôi. Và các tổ chức mới, đáp ứng đúng nhu cầu hơn, sẽ xuất hiện. Do đó, việc đồng bào chúng ta muốn đứng lên giải quyết chuyện đất nước mới quan trọng. Khi đã có mục tiêu chung, ước muốn chung đó ở mức nóng bỏng lên rồi, thì chính đồng bào chúng ta sẽ chọn phương tiện nào hữu hiệu nhất cho riêng mình để tiến tới. Bà con mình đang mỗi ngày một đông chọn lựa bước tới cái Đúng, cái Tốt, cái Thiện thay vì chọn chùn chân khi thấy cái Sai, cái Xấu, cái Ác… Chúng tôi cũng tin rằng sẽ tới lúc tất cả các đảng phái đều thấy nhu cầu liên minh phối hợp với nhau thực sự, trong tinh thần đối tác bình đẳng chia nhau gánh vác những đòi hỏi vô cùng to lớn của công cuộc đấu tranh cho dân chủ và canh tân đất nước. Phạm Thị Hoài: Những người trực tiếp điều hành một tổ chức chính trị không thể chỉ làm công việc này vào Chủ nhật. Họ buộc phải là những người hoạt động chuyên nghiệp, toàn thời gian. Ban lãnh đạo Việt Tân và bản thân ông có là những người hoạt động chính trị chuyên nghiệp như vậy không? Nguyễn Quốc Quân: Đúng như chị nhận định là những người trực tiếp điều hành một tổ chức chính trị cần hoạt động chuyên nghiệp và toàn thời gian. Do điều kiện eo hẹp về tài chính và một số giới hạn khác trong cuộc sống, việc hoạt động toàn thời của một đảng viên không những là một quyết định gay go của chính mình mà còn cần đến sự hỗ trợ tinh thần và hi sinh của những người thân trong gia đình nữa. Việt Tân có bao nhiêu người như vậy? Xin thưa là chưa đủ để đáp ứng hết các nhu cầu. Nhưng đó chưa phải là điều quan trọng tôi muốn được chia sẻ ở đây. Nếu nói yếu tố “chuyên nghiệp” như là sự chuyên tâm học hỏi kinh nghiệm về trách vụ được giao, và nói yếu tố “toàn thời” như là số lượng 40 giờ một tuần dành cho công việc ấy; thì ở trong cũng như ngoài nước, Đảng Việt Tân may mắn có một tập thể không ít các anh chị em, cùng chung một lý tưởng và quyết tâm như thế. Họ vắt ra những mẩu thời gian và phương tiện xen kẽ với công việc kiếm sống, góp nhặt thì giờ quí giá của gia đình, giảm bớt những sinh hoạt giải trí khác để góp sức với đồng đội trong tổ chức. Và đặc biệt, những con người toàn tâm toàn ý cho việc chung như vậy không chỉ có trong các tổ chức chính trị. Nếu nhìn kỹ hơn ta sẽ bắt gặp ở một số vị hoạt động trong cơ chế cộng đồng, trong các trường dạy Việt ngữ, trong môi trường truyền thông, văn hoá, xã hội… hoàn toàn thiện nguyện. Động lực duy nhất khiến chúng ta cứ tiếp tục hoài như vậy là nhu cầu được làm điều Đúng, điều Đẹp, điều Ưa Thích. Tôi tin tưởng ở tính hướng thiện của con người là nhờ quí vị ấy. Và vì thế tôi có quyền lạc quan về giai đoạn canh tân Việt Nam sau này. Phạm Thị Hoài: Một tổ chức chính trị đương nhiên là cần kinh phí hoạt động, cần rất nhiều. Kinh nghiệm của ông trong lãnh vực này như thế nào? Nguyễn Quốc Quân: Nhận xét của chị rất chính xác, mọi loại hoạt động đều phải có chi phí, từ tiền in ấn, điện thoại, máy móc, đến những vé xe đò, xe lửa, máy bay, đến việc giúp đỡ gia đình các nhà tranh đấu đang bị giam cầm, v.v… thậm chí cả đến tiền hối lộ để vượt qua một số rào cản. Chính vì thế, công an và an ninh Việt Nam luôn tìm mọi cách để khống chế và bao vây kinh tế gia đình các nhà bất đồng chính kiến trong nước và xuyên tạc các nỗ lực kinh tài chân chính của các tổ chức chính trị. Việt Tân, cũng như các tổ chức chính trị khác, phải tự mình lo các chi phí cần thiết tối thiểu để có thể chủ động trong các sinh hoạt căn bản và trường kỳ. Để đáp ứng nhu cầu ấy, ngoài các cơ sở kinh doanh và đầu tư độc lập của tổ chức, các đảng viên Việt Tân tùy theo hoàn cảnh riêng đã và đang cống hiến trí tuệ, thì giờ, công sức, cũng như tài chính để góp chi phí trong sinh hoạt địa phương và quốc nội. Chúng ta lại còn có khối người Việt nặng lòng với quê hương đang sống trên khắp thế giới. Sự tự lập này rất cần thiết để giữ được độc lập trong những quyết định tốt nhất cho đất nước. Ngoài ra, chúng ta còn có nhiều tổ chức nhân quyền đang rất quan tâm đến tình trạng chà đạp nhân quyền tại Việt Nam và sẵn lòng giúp chúng ta một số phương tiện. Tôi tin là khi dân tộc Việt Nam sẵn sàng cho một cuộc đổi thay bằng một cuộc tranh đấu ôn hòa trên đường phố như tại Ai Cập, hay tại các cuộc cách mạng màu, thế giới sẽ nhập cuộc cùng với chúng ta. Xu hướng của nhân loại đã rất rõ. Phạm Thị Hoài: Về lâu dài, mỗi chính đảng hay tổ chức chính trị muốn tham gia vào tiến trình chuyển hóa xã hội buộc phải có đội ngũ chuyên gia của mình về các lĩnh vực thiết yếu trong xã hội. Ông có thể khoe chút ít về đội ngũ ấy của Việt Tân không? Nguyễn Quốc Quân: Điều làm tôi tạm yên lòng là anh chị em Việt Tân có mặt trong đủ loại ngành nghề, đủ loại tầm mức, và đủ mọi lứa tuổi; nhất là lứa tuổi từ 20 đến 40, trội cả về chất lẫn lượng. Nhưng chúng tôi cũng biết rất rõ là dù với lực lượng gấp nhiều lần hiện nay, Việt Tân vẫn không bao giờ nghĩ một mình Việt Tân có thể chuyển hóa cả xã hội. Rộng hơn nữa, không một giai cấp nào hay ngay cả một mình chính phủ (dân chủ trong tương lai) có thể giải quyết vấn đề của đất nước sau bao năm bị tàn phá tan hoang trong mọi lãnh vực. Để băng bó lại đất nước về mọi mặt và đưa đất nước đi lên, TOÀN THỂ DÂN TỘC trong nước và trên khắp thế giới phải góp phần. Việt Tân dù lúc đó nằm trong hay ngoài chính quyền sẽ chọn lãnh vực mà chúng tôi có thể đóng góp hữu hiệu nhất. Chọn lựa này vừa dựa trên nhu cầu đất nước vừa dựa trên sức lực thực tế của Việt Tân vào lúc đó. Cám ơn chị cho cơ hội khoe nhưng xin khất cho đến ngày đất nước mình cất cánh đã. Và lúc đó có lẽ chúng ta chỉ có một niềm tự hào chung là đội ngũ chuyên gia Việt Nam hùng hậu cả trong lẫn ngoài nước đã đổ hết tài năng ra để đưa đất nước bắt kịp với thế giới trong thời gian kỷ lục. Phạm Thị Hoài: So với các đảng phái và tổ chức chính trị ở hải ngoại, sự hiện diện của Việt Tân trên truyền thông hiện đại là tương đối mạnh. Song, xin lỗi ông, xếp hạng truy cập website chính thức của Việt Tân cũng như Đài Chân trời Mới cho thấy tầm ảnh hưởng của những cơ quan ngôn luận này khá khiêm tốn. Các trang mạng xã hội của Việt Tân cũng vậy. Tôi có cảm giác rằng thay vì thực sự dùng Internet như một vũ khí, các nhà hoạt động chính trị chỉ nói về cái vũ khí ấy. Nguyễn Quốc Quân: Chà, câu này nghe thì cũng rát thật đấy nhé, nhưng đó cũng lại là điều khá đặc thù mà tôi vẫn quí nơi chị Hoài. Phần đáp lại dễ nhất của tôi là tự nhận Việt Tân còn yếu về mặt này. Anh chị em đã cố gắng nhiều nhưng chắc chắn là còn phải học hỏi nhiều hơn nữa các cách để vượt qua những khó khăn sau đây: Như chị biết, tất cả các trang liên hệ đến Việt Tân đều bị chặn ở trong nước. Đại khối bà con chúng ta trong nước phải vượt qua nhiều khó khăn về tiền bạc, thời giờ, kiếm người hướng dẫn, v.v… mới tiếp cận được với môi trường Internet. Nay lại còn phải học thêm cách vượt tường lửa, giấu IP, v.v… Bên cạnh đó là những hù dọa tâm lý của công an. Để đối phó với một nhà cầm quyền mà tổ chức Phóng viên Không Biên giới và nhiều tổ chức nhân quyền khác liệt vào loại “Kẻ thù của Internet”, chúng tôi đã cố gắng cập nhật liên tục các cách vượt rào tại trang NoFireWall.blogspot.com và dùng một số phương tiện Internet khác để chuyển tải đến các tụ điểm không minh danh Việt Tân hầu có thể với tay đến đồng bào mà ít bị ngăn chặn hơn. Dĩ nhiên tôi không liệt kê ra đây. Và sau hết, bên cạnh các phương tiện “high-tech” đang nổi trội, chúng tôi cũng không xem thường một số cách khác mà mình gọi nôm na là “low-tech”. Phạm Thị Hoài: Ông có cho rằng trong tình thế hiện tại, không thể nhấc Đảng Cộng sản ra khỏi một giải pháp chính trị cho Việt Nam? Nguyễn Quốc Quân: Tôi cho rằng mọi chế độ độc tài khi còn nắm quyền, dù là trong những tháng chót, đều cố tạo cho người dân có ấn tượng như thế. Tôi nghĩ là nhấc được, nếu dân tộc chúng ta muốn. Điều đã khá rõ là ai cũng thấy thể chế độc tài dìm đất nước chúng ta trong lạc hậu. Các lớp sơn bề ngoài nay không còn che mắt được mấy ai nữa. Dứt khoát độc tài phải bị tháo gỡ. Nếu Đảng CSVN không chấp nhận điều đó thì họ phải bị loại bỏ khỏi bất cứ giải pháp chính trị nào cho đất nước. Còn nếu họ chấp nhận nằm trong pháp luật của một thể chế dân chủ và để tùy người dân chọn lựa bộ phận lãnh đạo, thì họ có thể tồn tại được chứ, như các đảng cộng sản tại Âu châu thôi. Nhưng quan trọng là Đảng CSVN phải ngưng các hành động bạo hành càng ngày càng tệ hại đối với người dân. Mức độ nhẫn nại và chịu đựng của dân tộc có giới hạn. Nếu họ cứ tiếp tục xem dân là kẻ thù như hiện nay thì sẽ đến lúc dân tộc dứt khoát coi họ là kẻ thù. Điều này đã thấy tại nhiều chế độ độc tài, gần đây nhất là Libya và Syria. Phạm Thị Hoài: Ông có một tấm gương nào không? Nguyễn Quốc Quân: Có đôi lúc, thoáng nghĩ tấm gương của mình là Mẹ Theresa, Đức Phật Thích Ca, hay Nguyễn Thái Học… Nhưng rõ là không phải, tôi vẫn cảm thấy rung động và hạnh phúc hơn rất nhiều khi được gần gũi trực tiếp hoặc gián tiếp với những tấm gương đời thường xung quanh, đặc biệt là những anh chị em đang dấn thân trong nước vì tương lai của dân tộc mình. Những hành động phi thường của họ đã làm cuộc đời đẹp và có ý nghĩa hơn. Với tôi, việc phi thường ở đây là việc vượt thắng giới hạn của chính mình để thực hiện một việc công ích, mà tầm vóc công việc có thể cũng rất bình thường. Và những tấm gương này không xa lạ gì lắm đâu, tôi không chỉ nhớ tên mà còn có thể hình dung từng khuôn mặt và một số giọng nói nữa. Tôi thường xuyên lấy họ làm động lực và đích nhắm để cố gắng phấn đấu những lúc mệt mỏi. Phạm Thị Hoài: Cảm ơn ông Nguyễn Quốc Quân đã trả lời phỏng vấn. © 2013 pro&contra Nguồn: http://www.procontra.asia/
......

Vĩnh Biệt Tiến Sỹ Walter Wallmann: Ân Nhân Của Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản Cuối Thập Niên 1970

"Menschen, die wir lieben, bleiben fuer immer, denn Sie hinterlassen Ihre Spuren in unseren Herzen." Phóng dịch: Những người chúng ta yêu mến, khi ra đi luôn để lại những dấu ấn trong trái tim mỗi người! * * * Những biến cố, khủng hoảng trên Chính trường, những thăng trầm của Quốc Gia Dân Tộc, những Nội Lực, Hoài Bảo mà suốt cuộc đời đã tận tụy dâng hiến cho Quê Hương, đã hủy hoại khối óc của Tiến Sỹ Walter Wallmann qua căn bịnh trầm kha Parkinson. Sau những năm tháng dài chịu đựng những đớn đau trăn trở trên chiếc xe lăn, Tiến sỹ Luật khoa Walter Wallmann đã giã từ gia đình, bạn bè thân hữu và đồng chí Đảng Liên Hiệp Dân Chủ Thiên Chúa Giáo (CDU) vĩnh viễn ra đi ngày 21.09.2013, tại Viện Dưỡng Lão Bornheim Frankfurt/Main, hưởng thọ 81 tuổi. Tang Lễ đã được Hội đồng Quản trị Thành phố Frankfurt/Main và gia đình tổ chức đơn giản, trang nghiêm và công khai (oeffentlich) tại Nghĩa trang chính của Thành phố lúc 11 giờ sáng, thứ Bảy 05.10.2013. Thể theo đề nghị của Ông Boris Rhein, Tổng trưởng Nội Vụ Tiểu Bang Hessen, Thủ phủ Tiểu Bang và nhiều công sở khắp nơi trên nước Đức đã treo Cờ Rũ trong ngày này để tưởng nhớ đến Ông. Nước Đức đã mất đi một Công dân ưu tú, một Nhà Dân Chủ nhìn xa hiểu rộng và một người Đức đầy lòng nhân ái... Ông ra đi đã để lại dương trần người vợ thủy chung, người bạn đời đã chia xẽ với Ông những vui buồn, thăng trầm từ lúc hai Ông Bà còn là Sinh Viên Luật Khoa dưới mái trưòng đại học, Bà Magarete Wallmann còn là người cố vấn tối cao của Ông mọi hành xử trong gia đình và ngoài xã hội... Người con trai độc nhất của Ông cũng cùng tên Tiến Sỹ Luật khoa Walter Wallmann, President của Rechnungshof Hessen, dâu và ba cháu nội. Tiến sỹ Walter Wallmann sinh ngày 24.09.1932 tại thành phố Uelzen Đức Quốc, tốt nghiệp và trình luận án Tiến Sĩ Luật khoa Đại học Marburg, đã từng giữ những chức vụ: - Chánh án Tòa Án Kassel, Fulda - Tỉnh bộ trưởng Đảng CDU Frankfurt/Main - Tỉnh trưởng Tỉnh Frankfurt/Main (Oberbuergermeister von Frankfurt/Main) - Bộ trưởng Liên Bang đầu tiên của Nước Đức về Môi trường, Bảo vệ Thiên nhiên và An toàn Hạt Nhân (Bundesminister fuer Umwelt, Naturschutz und Reaktorsicherheit) - Thống Đốc Tiểu Bang Hessen (Hessischer Ministerpraesident) - Công Dân Danh Dự của Thành phố Frankfurt am Main, và rất nhiều chức vụ quan trọng khác... Ngoài Nhiệt tình và Trí tuệ mà Tiến sỹ Wallmann đã cống hiến cho Tổ Quốc Ông, Nước Cộng Hòa Liên Bang Đức, Ông còn là một vị Đại Ân Nhân với tấm lòng Nhân Ái của Người Việt Nam Tỵ Nạn cs tại Tiểu bang Hessen. Vào khoảng 1978 khi làn sóng người dân Miền Nam Việt Nam liều chết rời nơi chôn nhau cắt rốn, lìa bỏ Quê Hương Việt Nam, vượt biển, vượt biên ra đi lánh nạn CS, mỗi ngày một gia tăng, hàng trăm ngàn người đã đau đớn nằm xuống trong tủi hờn, tuyệt vọng trên biển cả mênh mông, hoặc trong núi rừng sâu thẵm. Biến cố thương tâm, Hành trình tìm Tự Do đầy kinh hoàng, hiễm nguy này đã làm rúng động lương tâm nhân loạị. Dr. Walter Wallmann (* 24. September 1932; † 21. September 2013). Tiến sỹ Wallmann vào thời đó là Tỉnh trưởng Tỉnh Frankfurt/Main đã bộc lộ với báo chí: "Khi tôi ngồi trước máy truyền hình xem đoạn phim thời sự về lòng cam đảm của những Thuyền nhân Việt Nam, lòng tôi xót xa vô cùng, tôi nghĩ rằng tôi phải làm một việc gì để chia xẻ với những người đáng thương này". Sau đó Tiến Sỹ Wallmann đã viết thư lên Chính phủ Liên Bang, Chính quyền Tiểu Bang Hessen, ráo riết vận động với bạn bè thân hữu, đảng CDU và kêu gọi quần chúng Đức mở tấm lòng nhân đạo, và có kế hoạch cứu giúp số phận những Thuyền nhân Việt Nam, những người đang sống sau hàng rào kẽm gai trong các trại tỵ nạn Đông Nam Á với nỗi lo lắng tột cùng về một tương lai mù mịt. Tấm lòng Từ bi, Bác ái của Tiến Sỹ Wallmann đã thuyết phục được Chính phủ và Dân chúng Đức. Báo chí thời đó cho biết một ngân sách đặc biệt được chính quyền Tiểu bang Hessen dành cho người Tỵ nạn với tên "VN Boatpeople". Liền sau đó Ông biệt phái một vị đại diện của Văn phòng Tỉnh trưởng Frankfurt/M bay qua tận trại Tỵ Nạn Hồng Kông để an ủi thăm hỏi và lên danh sách cứu vớt nhân đạo những Thuyền nhân Việt Nam, đặc biệt những gia đình đông con.. Trung tuần tháng Hai năm 1979 những Đóa Hoa Nhân Ái đã nở rộ trên vùng trời Frankfurt/Main, dân chúng Đức xúc động trong niềm hân hoan chào đón 200 người Việt tỵ nạn (boat people) đầu tiên đến được Bến Bờ Tự Do. Tuy không cùng chung huyết thống, nhưng họ đã tận tình chia xẻ với những người xa lạ, gầy còm, ốm yếu xanh xao đến từ một đất nước xa xôi bằng một tấm lòng Yêu Thương trong Tình Nhân Loại. Từ nhân duyên khởi đầu của Tiến Sỹ Wallmann, vị Tỉnh trưởng giàu lòng nhân ái này, mà Người Việt Tỵ Nạn cuối thập niên 70 ngày nay đã có được một đời sống hạnh phúc, an lành, là những công dân gương mẫu trên Quê Hương mới sau khi trải qua mọi hoàn cảnh gian nan, hiểm nguy, mất mát: Vượt biển, Vượt biên, Đoàn Tụ Gia đình, v.v... và Tiểu Bang Hessen được đề cao là một Tiểu bang nhân đạo nhất đã dành mọi sự dễ dãi cứu giúp cho Người Việt Nam Tỵ Nạn. Sáng ngày 05.10.2013 bầu trời Frankfurt âm u, những cơn gió thổi qua làn mưa bay bay trong cái lạnh se sắt của một ngày chớm vào Đông. Trước khi ra đi nhà tôi nhắc rằng: "Nếu thật tình thương và nhớ ơn Dr. Wallmann nên tạm gác những việc đời để cầu nguyện cho Ông được siêu thoát!". Trên đoạn đường dài trong cơn mưa gió đến Frankfurt am Main chúng tôi yên lặng cầu nguyện và đọc bài Kinh Vãng Sanh Quyết Định Chơn Ngôn... Khi tôi đến Nghĩa trang Frankfurt/Main khoảng 10 giờ, cứ ngỡ là chưa có ai, nhưng trước cửa nghĩa trang những đoàn xe Cảnh Sát đã đậu kín, lực lượng đông đảo Nhân Viên Công Lực đang làm nhiệm vụ kiểm soát chặt chẽ khu Nghĩa trang rộng lớn, tôi lo sợ không biết mình có được vào trong Nhà Quàn hay không? Tôi nhìn quanh hy vọng tìm được một người đồng hương, nhưng không gặp, có lẽ hãy còn sớm nên chưa ai đến. Tôi hỏi thăm, một viên cảnh sát chỉ dẫn tôi vào. Trong căn phòng rộng lớn Quan tài của Tiến Sỹ Wallmann đã được trang trọng đặt ngay chính giữa tự bao giờ. Trước quan tài là một bàn nhỏ phủ một khăn nhung màu xanh đậm bên trên gắn 7 Huy chương cao qúy mà Chính phủ Đức đã ân thưởng cho Ông, hai bên Quan tài có 6 Cảnh Sát Viên với đồng phục xanh đậm, mũ trắng đứng gác trong tư thế nghiêm trang bất động, ngồi hai bên cạnh để chờ phiên thay ca gác là 6 viên cảnh sát, chiếc mũ trằng được đặt trên đùi, lưng thẳng hướng về phía trước. Trước mặt Quan tài là hai vòng hoa của vợ và con cháu Ông với dòng chữ tiếc thương trên giải khăn màu vàng nhạt, bên cạnh cái gíá đặt hình Tiến Sỹ Wallmann là vòng hoa với giải cờ Đức của Nữ Thủ Tướng Dr. Angela Merkel gởi đến phúng điếu, đàng sau là những vòng hoa của những Chính phủ tiểu bang, mỗi vòng hoa kèm theo huy hiệu, và vòng hoa của Cộng Đồng Việt Nam Tỵ Nạn do gia dình Ông Bà Thái Gia Tuấn, một thuyền nhân trại tỵ nạn Hồng Kông năm xưa, thay mặt đồng hương gởi đến phúng điếu với giòng chữ Thương Tiếc và Tri Ân. Qua ánh nến lung linh trong căn phòng tĩnh lặng di ảnh của Người Qúa Cố với nét mặt hiền hòa đã làm lòng tôi se thắt, chạnh lòng nhớ về qúa khứ, cứ tường chừng như nghe đâu đây tiếng thét kinh hoàng hiện trên khuôn mặt đau đớn của người thiếu phụ Việt Nam nhỏ bé khi bị bọn hải tặc Thái Lan hãm hiếp và hùng hổ bắt mang đi, hính ảnh người chồng bị đánh ngất đầy máu me vì muốn cứu vợ, nhưng vẫn cố gắng dùng xác thân mình để che chở con con thơ, tôi thấy như trên những hoang đảo cô đơn, trong hoàn cảnh đói khát khốn cùng, khi người phải ăn thịt người qua dòng nước mắt để được tồn sinh, tôi thấy nụ cười rạng rở trên khuôn mặt gầy còm xanh xao vì kiệt sức của đồng bào tôi khi được vớt lên boong tàu, đến - Miền Đất Hứa-, tôi thấy niềm vui, niềm tự hào của con cháu những thế hệ tiếp nối trong ngày lễ ra trường, đã làm hãnh diện Dân Tộc Việt Nam, thấy những cụ gìa Việt Nam khi tuổi về chiều, sống trên Quê người được chăm sóc bảo trợ trong tình nhân ái. Trong niềm xúc động lẫn tri ân, không ngần ngại tôi đã qùy xuống lạy Linh cửu Tiến Sỹ Wallmann, mà tưởng chửng như mình đang đảnh lễ một Vị Bồ Tát đã ra đi, sau khi hoàn thành tâm nguyện thị hiện ở cõi Đời này để cứu khổ chúng sinh... Những khách mời đến dự Tang lễ dần dần ngồi vào ghế, đã được ban tổ chức đặt sẵn tờ chương trình và một thiệp màu trắng có in huy hiệu của thành phố Frankfurt và tên khách mời. Tôi không phải là khách được mời, đang phân vân, không biết mình ngồi đâu, đứng đâu, định trở ra đứng ngoài sân, đúng lúc đó một nhân viên thành phố chỉ một chiếc nghế duy nhất còn trống, không có bảng tên, ở hàng đầu phía bên hông tay mặt của Quan tài mời tôi ngồi. Tôi ngồi xuống mà lòng ngạc nhiên trong niềm xúc động khi nghĩ rằng: có phải chăng Tiến Sỹ Wallmann đã sắp đặt và cho phép tôi ngồi đây để tiễn đưa Ông ra đi lần cuối?. Khoảng 10 giờ 50 có tiềng còi vang vào Nhà quàn yên tĩnh, sau đó gia đình Tiến Sỹ Wallmann gồm vợ con trai dâu cùng ba cháu nội và các nhân vật cao cấp của chính phủ lặng lẽ bước vào và cúi đầu kính cẩn tưởng niệm trước Linh quan của Người Quá Cố. Ngồi hàng đầu tôi có dịp nhận ra nhiều quan khách là nhân vật nổi tiếng của Nước Đức về mọi lãnh vực mà bấy lâu nay tôi chỉ thấy trên TV hoặc đọc trên báo chí. Đúng 11 giờ tiếng đàn Organ (Orgel) trổi lên tấu khúc Prludium in c-Moll BWV 546 của Nhạc sỹ Đức tài danh Johann Sebastian Bach mà lúc sinh tiền Tiến sỹ Wallmann ưa thích. Prưpstin Gabriele Scherle thay mặt gia đình cám ơn Quan khách và kể vắn tắt về cơn bịnh và sự ra đi của Tiến Sỹ Wallmann. Tỉnh trưởng Frankfurt/Main Ông Peter Feldmann, Thống Đốc tiểu bang Hessen Volker Bouffier và cựu Tỉnh trưởng Tiến Sỹ Petra Roth thay phiên nhau lên đọc điếu văn, họ nhắc đến những kỷ niệm một thời gắn bó chính trị qua những thăng trầm của Đất Nước, ca ngợi công đức của Tiến Sỹ Wallmann cả cuộc đời đã cống hiến cho Dân tộc Đức những điều phúc lợi, quang vinh. Đặc biệt Bà Tiến Sỹ Petra Roth, Cựu Tỉnh trưởng Frankfurt/Main vinh danh Tiến Sỹ Wallmann đã có công lao lớn trong việc xây dựng Viện Bảo Tàng, tái thiết khu nhà Ga Frankfurt/Main, Hý Viện Alter Oper, ngoài ra công lao lớn nhất là Ông Bà Wallmann đã góp phần xóa bỏ những biến cố lịch sử đen tối ngày xưa và đã nối nhịp cầu ngoại giao giữa hai Dân tộc Đức và Do Thái, giúp đở và tạo điều kiện thuận lợi cho sự hội nhập của những sắc dân Thổ Nhĩ kỳ, Ý, Tây Ban Nha... và đã nỗ lực vận động trong viêc thâu nhận nhân đạo những Thuyền nhân Việt Nam và những Người Việt Tỵ Nạn sau này… Bà kể thêm rằng Tiến Sỹ Wallmann đã tình nguyện làm cha đở đầu cho một em bé trai Việt Nam được sanh ra trong những ngày đầu tiên trên Quê hương mới, ông đã đặt tên cháu là Frank ….. Quan khách đã lắng lòng nghe với niềm cảm phục lẫn ngậm ngùi... Sau lời phúng điếu của các Chính khách, tang lễ được cử hành trang nghiêm qua nghi thức Tôn giáo. Cuối cùng toàn thể khách tham dự cùng hòa ca bài Thánh ca "Nun danket all Gott". Bài hát chấm dứt, quan tài của Tiến Sỹ Wallmann được từ từ đưa ra khỏi phòng đến nơi an nghỉ cuối cùng, theo sau quan tài chỉ có thành viên trong gia đình và vài vị đại diện chính phủ Đức. Trong phòng căn phòng tĩnh lặng vang lên tiếng khàn khàn trong xúc động của một cụ gìa: "Tschues Walter", tiếng thì thầm cầu nguyện, có những bàn tay đưa lên từ biệt... Tôi xúc động cúi đầu chào và hướng về di ảnh của Ông nói lời cảm tạ: "Danke schoen, Dr. Wallmann!". Ngoài trời mưa vẫn rơi, những cơn gió lạnh se thắt thổi về như buồn rầu từ biệt nhà chính khách nhân hậu. Khoảng hơn 30 phút nghi thức an táng ở mộ phần đã hoàn mãn, đoàn người trở vào, gia đình Tiến Sỹ Wallmann ân cần bắt tay từng người cảm tạ. Con trai Ông thay mặt gia đình cám ơn Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn đã gởi vòng hoa phúng điếu. Tôi theo đoàn người ra về trong cơn mưa mà bùi ngùi với cõi lòng nặng trĩu. Vĩnh biệt Tiến Sỹ Wallmann, người công dân ưu tú của Dân Tộc Đức! Vĩnh biệt Tiến Sỹ Wallmann, Vị Bồ Tát với tấm lòng nhân ái, từ bi. * © Nguyên Ngọc Phạm Thị Bích Thủy (Ffm, Oktober 2013)
......

Einladung zu Lesung und Gespräch zum Thema: „Ich wollte frei sein“

Die Mauer, die Stasi, die Revolution Unser Gast: Vera Lengsfeld Bürgerrechtlerin in der ehemaligen DDR, ehemalige Bundestagsabgeordnete und Trägerin des Bundesverdienstkreuzes Stasi-Tochter, Dissidentin, Politikerin: Drei Leben sind es, die Vera Lengsfeld in sich vereint. Als Tochter eines Stasi-Offiziers wird sie ganz im Sinne des SED-Regimes erzogen. Doch früh schleichen sich bei ihr Zweifel am System ein. Alsjunge Erwachsene zieht sie die Konsequenz und engagiert sich in der Bürgerrechtsbewegung, wofür sie mitBerufsverbot, Verhaftung und letztlich Ausweisung bestraft wird. Nach dem Fall der Mauer kehrt die Dissidentin Lengsfeld in ihre Heimat zurück und startet ihre Karriere als Politikerin und Verfechterin freiheitlicher Demokratie Umso schmerzlicher trifft sie die Nachricht, dass ausgerechnet ihr Ehemann sie jahrelang bespitzelt haben soll. Eine Biografie voller Brüche – und doch geradlinig. Vera Lengsfeld wurde 1952 in Thüringen geboren und war seit den 1970er Jahren aktiv in der Opposition gegen das SED-Regime. Nach ihrer Tätigkeit an der Akademie der Wissenschaften der DDR, während derer das erste Parteiverfahren gegen sie geführt wurde, war sie 1981 Mitbegründerin eines der ersten halblegalen Oppositionskreise der DDR, des Pankower Friedenskreises. Infolge des zweiten Parteiverfahrens 1983 wurde sie aus der SED ausgeschlossen und mit Berufs- und Reiseverbot belegt. 1988 wurde sie verhaftet, verurteilt und ausgewiesen. Am Morgen des 9. November 1989 kehrte Lengsfeld zurück in die DDR und war abends beim Mauerfall an der Bornholmer Straße dabei. Sie wurde Mitglied der ersten und letzten frei gewählten Volkskammer der DDR sowie später, 1990 bis 2005, des Deutschen Bundestages. 1990 erhielt sie den Aachener Friedenspreis, 2008 wurde ihr das Bundesverdienstkreuz verliehen. Dienstag, 19. November 2013, 19.30 Uhr Kurhaus Dhonau, BollAnt`s im Park, Bad Sobernheim Im Anschluss an die Veranstaltung kann das Buch von Vera Lengsfeld käuflich erworben und von ihr signiert werden. Anschließend laden wir zum Umtrunk ein! Begrüßung und Einführung: Karl-Heinz B. van Lier, Landesbeauftragter der KAS für Rheinland-PfalzTagungsleitung: Marita Ellenbürger, wissenschaftlich - pädagogische Mitarbeiterin Eigenbeitrag: € 4,- Teilnahme nur nach vorheriger Anmeldung schriftlich, per Mail oder Fax möglich. Bitte haben Sie Verständnis, dass die Plätze in der Reihenfolge des Eingangs vergeben werden müssen! Post: Weißliliengasse 5 / 55116 Mainz / Tel. 06131-2016930 / Fax 06131-2016939 / E-Mail: kas-mainz@kas.de
......

Vietnam: Prozess gegen prominenten Blogger in Hanoi beginnt

In Vietnam hat am Mittwoch der umstrittene Prozess gegen einen prominenten Menschenrechtsanwalt begonnen. Die Staatsanwaltschaft wirft Le Quoc Quan Steuerhinterziehung vor, doch sprechen Menschenrechtler von einer politisch motivierten Anklage. http://www.nzz.ch/aktuell/newsticker/prozess-gegen-prominenten-blogger-i... ****************************************** Vietnam: Prozess gegen Blogger Quan begonnen In Vietnam hat der Prozess gegen einen bekannten Anwalt und Blogger begonnen. In Hanoi gingen hunderte Demonstranten, darunter buddhistische Mönche, auf die Straße, und forderten die Freilassung von Joseph Le Quoc Quan. Die Polizei riegelte das Gerichtsgebäude weiträumig ab. Die Staatsanwaltschaft wirft dem Angeklagten Steuerhinterziehung vor. Menschenrechtler sehen das Verfahren dagegen als politisch motiviert an. Quan hat sich als Katholik immer wieder für Religionsfreiheit und andere Bürgerrechte eingesetzt. http://www.dradio.de/nachrichten/ ****************************************** 1.         Prozess gegen katholischen Anwalt und Blogger in Vietnam | OTZwww.otz.de/.../Prozess-gegen-katholischen-Anwalt-und-Blogger-in-Vietna... vor 6 Stunden - In der vietnamesischen Hauptstadt Hanoi hat ein Prozess gegen einen ... Le Quoc Quan , der seit Dezember 2012 in Untersuchungshaft sitzt, ... 2.         Prozess gegen katholischen Anwalt und Blogger in Vietnam - Yahoo ... de.nachrichten.yahoo.com/prozess-gegen-katholischen-anwalt-blogger-viet... vor 8 Stunden - In der vietnamesischen Hauptstadt Hanoi hat ein Prozess gegen einen ... Le Quoc Quan, der seit Dezember 2012 in Untersuchungshaft sitzt, ... 3.         Prozess gegen katholischen Anwalt und Blogger in Vietnam - Die Zeitwww.zeit.de › News › Oktober 2013 vor 7 Stunden - Vietnam: Prozess gegen katholischen Anwalt und Blogger in Vietnam ... Hanoi (AFP) In der vietnamesischen Hauptstadt Hanoi hat am Mittwoch ... Le Quoc Quan, der seit Dezember 2012 in Untersuchungshaft sitzt, wird der ... 4.         Prozess gegen prominenten Blogger in Hanoi - Wetterauer Zeitungwww.wetterauer-zeitung.de › Nachrichten › Politik vor 5 Stunden - Die Staatsanwaltschaft wirft Le Quoc Quan Steuerhinterziehung vor, ... Prozess gegen einen prominenten Menschenrechtsanwalt begonnen. 5.         Prozess gegen prominenten Blogger in Hanoi - Ruhr Nachrichtenwww.ruhrnachrichten.de/.../Prozess-gegen-prominenten-Blogger-in-Hanoi;... vor 5 Stunden - Die Staatsanwaltschaft wirft Le Quoc Quan Steuerhinterziehung vor, ... Prozess gegen einen prominenten Menschenrechtsanwalt begonnen. 6.         Menschenrechte : Zweieinhalb Jahre Haft für ... - Dülmener Zeitungwww.dzonline.de › Welt › Politik vor 1 Stunde - Le Quoc Quan (41) stand wegen Steuerhinterziehung vor Gericht, ... ... Le Quoc Quan protestieren in Hanoi gegen den umstrittenen Steuerprozess. ... Der Blogger und Menschenrechtsanwalt hat sich für Bürgerrechte, ... 7.         Zweieinhalb Jahre Haft für prominenten Regierungskritiker in ...www.idowa.de/.../zweieinhalb-jahre-haft-fuer-prominenten-regierungskriti... vor 3 Stunden - Le Quoc Quan (41) stand wegen Steuerhinterziehung vor Gericht, aber ... Ich bin ein Opfer politischer Machenschaften", sagte Quan während des eintägigen Prozesses in Hanoi. ... Der Blogger und Menschenrechtsanwalt hat sich für Bürgerrechte, ... Dortmund souverän: 3:0 gegen Marseille • Letta wirbt vor ... 8.         Vietnam: Regime verfolgt Kritiker - Kath.netwww.kath.net/news/42023‎ 11.07.2013 - Hanoi (kath.net/jg) Der Prozess gegen den katholischen Rechtsanwalt und Blogger Le Quoc Quan (Foto) zeigt das harte Vorgehen des ... 9.         Prozess gegen prominenten Blogger in Hanoi | inFranken.dewww.infranken.de/.../Menschenrechte-Vietnam-Prozess-gegen-prominente... vor 5 Stunden - Die Staatsanwaltschaft wirft Le Quoc Quan Steuerhinterziehung vor, ... Prozess gegen einen prominenten Menschenrechtsanwalt begonnen.
......

Blogger Điếu Cày được giải thưởng Tự do Báo chí Quốc tế 2013 của CPJ

Ông Nguyễn Văn Hải tức blogger Điếu Cày đã được Ủy ban Bảo vệ Nhà báo (CPJ) quyết định trao tặng giải thưởng Tự do Báo chí Quốc tế năm 2013, cùng với ba nhà báo của Ecuador, Ai Cập và Thổ Nhĩ Kỳ. Tin này được loan trên trang web của tổ chức CPJ có trụ sở tại New York vào hôm qua 26/09/2013.   Ông Joel Simon, giám đốc điều hành của Ủy ban Bảo vệ Nhà báo tuyên bố : « Vào thời điểm mà thông tin đã trở thành tài nguyên toàn cầu, bốn nhà báo trên đây đã bất chấp nạn kiểm duyệt và trấn áp để mang lại thông tin cho chúng ta. Chúng tôi nhìn nhận lòng can đảm, sự dấn thân và sự chối từ im lặng của họ ». Thông cáo của CPJ cho biết, bốn nhà báo được giải – Janet Hinostroza ( đài Teleamazonas, Ecuador), Bassem Youssef (đài Capital Broadcast Center, Ai Cập), Nedim Sener (báo Posta, Thổ Nhĩ Kỳ) và Nguyễn Văn Hải (tức blogger Điếu Cày, Việt Nam) – đang phải đối mặt với những sự trả thù do công việc của họ, kể cả quấy rối về luật pháp, đe dọa về thân thể và bắt giam. Cũng theo thông cáo trên, bà Janet Hinostroza đã buộc phải tạm ngưng một chương trình truyền hình sau khi bị đe dọa, ông Youssef bị điều tra về các bản tin châm biếm, ông Sener bị quy tội hoạt động khủng bố vì các bài điều tra mang tính chỉ trích và có thể bị lãnh án 15 năm tù. Ông Nguyễn Văn Hải, một trong các blogger nổi tiếng nhất Việt Nam, đã thành lập Câu lạc bộ Nhà báo Tự do trong một đất nước mà báo chí đều do Nhà nước kiểm soát, và đã bị 12 năm tù kèm theo 5 năm quản chế theo một điều luật mơ hồ về « tuyên truyền chống Nhà nước ». Các bài viết trên blog của ông dưới bút danh Điếu Cày đề cập đến những vấn đề nhạy cảm về chính trị, trong đó có những bài phản đối Trung Quốc xâm lấn Hoàng Sa và Trường Sa, và chống giới chức tham nhũng. Ông Nguyễn Văn Hải cũng kêu gọi xuống đường phản đối rước đuốc Olympic Bắc Kinh đến Thành phố Hồ Chí Minh tháng 12/2007. CPJ nhắc lại, ông Nguyễn Văn Hải bị giam giữ 5 tháng vào năm 2008 trong khi không bị cáo buộc tội danh nào, đến tháng 9/2008 bị kết án hai năm rưỡi tù giam vì tội « trốn thuế ». Sau khi mãn án, ông vẫn phải tiếp tục ở tù vì lại bị lãnh thêm một bản án mới, và tháng 7/2013 blogger này đã tuyệt thực hơn một tháng để phản đối các điều kiện giam giữ. Theo một nghiên cứu của CPJ, đến cuối năm 2012 tại Việt Nam có ít nhất 14 nhà báo bị giam cầm, đứng thứ nhì trên thế giới chỉ sau Trung Quốc. Ủy ban Bảo vệ Nhà báo là tổ chức phi lợi nhuận hoạt động độc lập với mục tiêu bảo vệ tự do báo chí trên toàn thế giới. Giải thưởng Tự do Báo chí Quốc tế được thành lập từ năm 1991, mỗi năm trao giải cho bốn nhà báo đã tỏ ra dũng cảm trước mọi đe dọa. Bốn nhà báo đoạt giải năm nay sẽ được vinh danh tại lễ trao giải thưởng niên của CPJ và được mời dự ăn tối tại New York ngày 26/11/2013. Trong quá khứ, có những nhà báo bị cầm tù nhiều năm sau đó khi được trả tự do đã đến dự lễ, và có ba phóng viên được truy tặng giải.   CPJ International Press Freedom Awards 2013 23rd Annual Ceremony and Dinner To benefit the Committee to Protect Journalists Four journalists who face imprisonment or other persecution for exposing realities in Ecuador, Egypt, Turkey, and Vietnam will be honored with the Committee to Protect Journalists' 2013 International Press Freedom Awards, an annual recognition of the courageous reporting that defines free media. The awardees--Janet Hinostroza (Teleamazonas, Ecuador), Bassem Youssef (Capital Broadcast Center, Egypt), Nedim Şener (Posta, Turkey) and Nguyen Van Hai (Dieu Cay, Vietnam)--are confronting severe reprisals for their work, including legal harassment, physical threats, and imprisonment. Hinostroza was forced to temporarily give up one television program to ensure her safety after being threatened; Youssef has come under legal investigation for his satirical newscast; and Şener is charged with terrorist activity for his critical reporting and could be sentenced to 15 years in prison. Nguyen Van Hai, one of Vietnam's best known bloggers, created an independent alternative in a country where all news publications are controlled by the government. Consequently, he is serving a 12-year prison sentence under a vague law that bars "conducting propaganda" against the state. CPJ will present Paul Steiger, founding editor-in-chief of ProPublica, with the Burton Benjamin Memorial Award for lifetime achievement in the cause of press freedom. Steiger, who served as CPJ chairman for six years, from 2005 to 2011, was managing editor of The Wall Street Journal from 1991 to 2007. All of the winners will be honored at CPJ's annual award and benefit dinner in New York City on November 26, 2013. Lara Logan, CBS News correspondent and CPJ board member, will host the event. Daniel L. Doctoroff, chief executive and president of Bloomberg L.P., is the dinner chairman. Full press release available in Arabic, English, Spanish, and Turkish. CPJ International Press Freedom Awards: Tuesday, November 26, 2013 Grand Ballroom The Waldorf-Astoria New York City For tickets, please call CPJ's Development Office at +1 (212) 465-1004, ext. 113. CPJ 2013 International Press Freedom Awardees: Janet Hinostroza, Ecuador Bassem Youssef, Egypt Nedim Şener, Turkey Nguyen Van Hai, Vietnam Burton Benjamin Memorial Awardee: Paul Steiger, United States Media contact: Magnus Ag, Advocacy and Communications Officer; email: mag@cpj.org; tel: +1.212.300.9007 Nguồn: RFI  - CPJ.org/awards/
......

Đức Giáo hoàng Phanxicô thúc giục người Công giáo tham gia chính trị

Người Công giao không nên thờ ơ với chính trị – Đức Giáo hoàng Phanxicô nói – nhưng cần đưa ra các đề nghị, cũng như cầu nguyện cho các nhà lãnh đạo biết phục vụ lợi ích chung trong khiêm nhường và lòng mến. Trong bài giảng lễ thường hôm 16-9 tại nhà nguyện Santa Marta, Đức Giáo hoàng bác bỏ ý kiến cho rằng “một người Công giáo tốt không can thiệp vào các vấn đề chính trị”. “Điều đó không đúng. Đó không phải là con đường tốt - Theo đài phát thanh Vatican, Đức Giáo hoàng nói - Một người Công giáo tốt cần tham dự vào các vấn đề chính trị, cống hiến tất cả những gì tốt nhất có thể, nhờ đó những ai đang cai trị biết cách cai trị”. “Không ai trong chúng ta có thể nói: Tôi chẳng có gì để làm với chuyện này, để họ cai trị” – Đức Phanxicô nói với những người tham dự Thánh lễ. Thay vào đó, các công dân có trách nhiệm tham gia vào chính trị theo khả năng của mình, và bằng cách này họ chịu trách nhiệm về sự lãnh đạo của họ. “Chính trị, theo Học thuyết xã hội của Giáo hội, là một trong những hình thức đức ái cao nhất, bởi nó phục vụ lợi ích chung” – ngài giải thích – Tôi không thể phủi tay, phải không? Tất cả chúng ta cần phải cho đi một điều gì đó”! Ngài lưu ý rằng bình thường người ta hay chỉ trích các lãnh đạo của họ, than phiền về “những điều không đúng”. Thay vì chỉ than phiền, chúng ta cần phải cống hiến – ý tưởng, đề nghị và nhất là lời cầu nguyện của mình, Đức Thánh cha nói. Ngài nhìn nhận cầu nguyện là “phương thế tốt nhất chúng ta có thể làm cho các nhà lãnh đạo” và ngài trích thư thánh Phaolô gởi Timôthê mời gọi cầu nguyện cho các nhà lãnh đạo biết thay đổi và lãnh đạo vững vàng. vietnam.ucanews dịch từ Catholic News Agency Pope calls faithful to pray, participate actively in politics Pope Francis gives the homily during Mass in St. Peter's Basilica on July 7, 2013. Credit: Lauren Cater/CNA. Vatican City, Sep 16, 2013 / 11:48 am (CNA/EWTN News).- Catholics should not be indifferent to politics, Pope Francis said, but should offer their suggestions, as well as prayers that their leaders may serve the common good in humility and love. In his Sept. 16 daily homily at Santa Marta, the Pope rejected the idea that “a good Catholic doesn’t meddle in politics.” “That’s not true. That is not a good path,” he said, according to Vatican Radio. “A good Catholic meddles in politics, offering the best of himself, so that those who govern can govern.” “None of us can say, ‘I have nothing to do with this, they govern,’” Pope Francis told those present for the Mass. Rather, citizens are responsible for participating in politics according to their ability, and in this way are responsible for their leadership. “Politics, according to the Social Doctrine of the Church, is one of the highest forms of charity, because it serves the common good,” he explained. “I cannot wash my hands, eh? We all have to give something!” He noted that it is sometimes common for people to speak only critically of their leaders, to complain about “things that don’t go well.” Instead of simply complaining, we should offer ourselves – our ideas, suggestions, and most of all our prayers, the Holy Father said. Observing that prayer is “the best that we can offer to those who govern,” he pointed to St. Paul’s letter to Timothy inviting prayer for the conversion and strong leadership of those in authority. Even if they believe certain politicians to be “wicked,” Christians should pray “that they can govern well, that they can love their people, that they can serve their people, that they can be humble,” he said. At the same time, the Pope reflected on the role of those who hold political power, stressing the need for humility and love. Reflecting on the Gospel of the centurion who humbly and confidently asked for the healing of his servant, the Holy Father explained that “a leader who doesn’t love, cannot govern – at best they can discipline, they can give a little bit of order, but they can’t govern.” In addition, he emphasized, “You can’t govern without loving the people and without humility!” “And every man, every woman who has to take up the service of government, must ask themselves two questions: ‘Do I love my people in order to serve them better? Am I humble and do I listen to everybody, to diverse opinions in order to choose the best path?’” “If you don’t ask those questions, your governance will not be good,” Pope Francis continued. “The man or woman who governs – who loves his people is a humble man or woman.” Tags: Politics, Pope Francis
......

Phẩm cách của dân tộc

Hồi đầu tháng trước, tuần báo The Economist mới viết về việc quán McDonald's đầu tiên sắp mở tại Sài Gòn. Ai cũng biết McDonald là một nhãn hiệu quán “ăn nhanh” lớn, chuyên bán “hamburger,” tiêu biểu cho văn hóa ẩm thực của Hoa Kỳ. Chủ nhân tương lai McDonald ở Sàigòn là  Henry Nguyên là con rể của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng   Ðến thành phố lớn nào trên thế giới người ta cũng thấy hình ảnh chữ M cong cong của quán này, mầu vàng trên nền mái ngói đỏ. Họ có 35,000 quán ăn McDonald khắp thế giới. Tôi chỉ thấy ở Cusco, một thành phố du lịch tại Peru, họ không cho phép McDonald's cũng như Starbuck treo những nhãn hiệu lòe loẹt, quán nào cũng chỉ được đề tên giản dị như các cửa hàng ăn uống khác. Bài báo cho biết hãng McDonald's đã quảng bá việc mở quán ăn đầu tiên của họ ở Sài Gòn với một niềm hãnh diện, cho biết chủ nhân của cái quán McDonald's sắp mở là một nhà kinh doanh lớn, một công dân Mỹ gốc Việt. Thuở còn đi học, Henry Nguyên đã từng làm việc trong các quán McDonald ở Mỹ. Henry say mê McDonald, và đã nuôi ý định sau này sẽ làm chủ một cái quán tương tự ở quê hương cha mẹ mình. Bây giờ giấc mộng đó sắp thành sự thật. Ðúng là một hình ảnh lý tưởng, tiêu biểu cho “giấc mơ” của các thanh niên lớn lên ở Mỹ. Khi hãng McDonald's chọn Henry làm người mở quán ăn đầu tiên, theo bản thông cáo gửi báo chí, họ nêu lý do là họ nhận thấy ông ta có “một tập hợp lý tưởng của tài kinh doanh, thành tích kinh doanh đã tạo được, có lòng nhiệt thành và khả năng.” Báo The Economist nêu lên một chi tiết mà bài quảng cáo của hãng McDonald's đã quên không nhắc tới. Henry Nguyên là con rể của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng. Bài báo này giới thiệu với các độc giả, cho biết thêm: “Bố vợ của Henry Nguyên từ năm 2006 đã làm cho lòng tin tưởng của công chúng Việt Nam bị xoi mòn quá nhiều.” Các thành tích của ông Nguyễn Tấn Dũng được báo này kể ra sơ sài như sau: “Ông Dũng đã chỉ huy các vụ đàn áp những người chống lại ông, hoặc đòi tự do dân chủ, trong nhiều năm qua; thêm vụ phá sản của một công ty làm tầu thủy không trả được món nợ ngoại quốc 600 triệu đô la; và gần đây là tình trạng trì trệ của nền kinh tế khiến các nhà đầu tư nước ngoài hết tin tưởng.” Cũng trong bài báo này, The Economist liệt kê thành tích lo cho con cái của ông Nguyễn Tấn Dũng: “Con đầu là Nguyễn Thanh Nghị đứng xây tòa nhà Bitxco cao nhất Sài Gòn. Con rể là Henry Nguyên, không những là chủ nhân tương lai của quán burger mà còn từng làm giám đốc của IFB Holdings, đã làm chi nhánh của các công ty thực phẩm Pizza Hut cùng với Coffee Bean & Tea Leaf. Con gái là Nguyễn Thanh Phượng thì làm quản trị cao cấp của quỹ đầu tư Viet Capital.” Người Việt Nam còn biết nhiều thành tích khác nữa! Ngoài ông Nguyễn Tấn Dũng, bài báo cũng nhắc tới các “vương tôn công tử” khác đã được cha anh cất nhắc lên các chức vụ lớn và chỗ ngồi béo bở. Như năm 2011, cậu Nông Quốc Tuấn, con Tổng Bí Thư Nông Ðức Mạnh về hưu, chỉ làm bí thư tỉnh 5 tháng đã được đưa vào Trung Ương Ðảng. Năm 2007, Phạm Thanh Bình, chủ tịch công ty sắp phá sản Vinashin, đã đưa cậu con 27 tuổi lên làm phó chủ tịch một viện nghiên cứu chế tạo tầu thủy, rồi sau đó cậu được đưa ngay lên ba chức vụ quan trọng khác. Ông Bình còn đưa anh em rể (hoặc anh, em vợ) của mình lên các chức vụ quan trọng, qua mặt hội đồng quản trị. Tờ báo cũng không quên cô Tô Linh Hương, con gái ông Tô Huy Rứa, tốt nghiệp về báo chí, năm 2012 lên làm chủ tịch công ty xây dựng Vinaconex, bị tai tiếng quá nên mấy tháng sau phải từ chức. Dân Việt Nam thường nói: “Một người làm quan cả họ được nhờ.” Nhưng trong quá khứ, việc lợi dụng quyền hành để giúp bà con thân thuộc còn bị giới hạn bởi hai thứ: Luật pháp và Phong hóa. Về luật pháp, ngay dưới thời vua quan phong kiến, thân nhân của các người làm quan vẫn bị cấm không được kinh doanh trong phạm vi trách nhiệm của ông quan. Một người được cử làm chủ khảo kỳ thi mà có con cháu dự thi là phải xin ngưng (hồi tị). Các biện pháp đó nhằm tránh “quyền lợi công tư xung khắc” (conflict of interests), một quan niệm rất phổ cập ở các nước dân chủ tự do. Nhà văn Phan Khôi đã từng tố giác “dưới chế độ Hồ Chí Minh có những nhà văn vừa làm chủ khảo vừa dự thi các giải văn chương,” mà kết quả là chính họ được trao giải thưởng! Nhưng ngay trong thời phong kiến, luật pháp cũng không đủ chặt chẽ và bao quát để ngăn ngừa các vụ lạm dụng quyền lực cho vợ con, thân nhân của các quan làm giầu. Cho nên trong xã hội còn một mạng lưới thứ hai ngăn ngừa các “quyền lợi công tư xung khắc.” Ðó là phong hóa. Khi tất cả mọi người trong xã hội nhìn vào các hành động lạm dụng quyền hành với con mắt khinh bỉ, thì chính những kẻ có ý định lợi dụng cũng ngần ngại. Hoặc họ phải từ bỏ ý định xấu, hoặc phải giảm bớt việc lạm dụng, hoặc tìm cách che đậy các hành động của mình. Ở nước ta hiện nay, phong hóa đó đã bị chế độ cộng sản tiêu diệt. Người ta lạm dụng chức vụ để giúp con cháu, họ hàng làm giầu mà không cần che đậy, vì không hề biết hổ thẹn. Anh ngồi trên lạm dụng quyền lực, anh đứng dưới cũng làm theo. Từ trên xuống dưới không còn ai biết xấu hổ. Con cái thấy cha mẹ lợi dụng chức vụ làm giầu, lớn lên sẽ coi đó là luân lý bình thường! Ðứa nào không biết lợi dụng còn bị bạn bè chê là ngu dốt! Người chung quanh chứng kiến cảnh đó bao nhiêu năm nay, từ khi thời đại Hồ Chí Minh bắt đầu đã hơn nửa thế kỷ, cũng thấy quen dần và coi cảnh tượng đó là chuyện tự nhiên trong đời sống. Tâm lý “quen dần với cái xấu” phá hoại cho truyền thống của dân tộc. Óc trục lợi mỗi ngày càng phát triển trong cả xã hội. Người nghèo khó chỉ chăm chắm làm sao kiếm được đồng tiền nuôi gia đình. Người khá giả cũng chỉ lo kiếm thêm tiền để không thua kém người khác. Tiểu gia hay đại gia, ai cũng chỉ lo kiếm tiền mà thôi. Học sinh nhìn thấy thầy giáo, cô giáo quá túng thiếu, có lúc phải lợi dụng địa vị nhỏ nhoi của họ bắt các em phải “học thêm.” Khi lớn lên các em sẽ coi việc kiếm tiền là mục tiêu lớn nhất của cả cuộc đời. Nhưng dân tộc Việt Nam vốn không sống như vậy. Nguyễn Ðình Chiểu đã nhất định không nhận tiền do các quan cai trị người Pháp mang biếu. Người Pháp đã lễ phép giải thích rằng ở nước họ vẫn có tục lệ chính phủ trợ cấp các nhà văn lúc về già; họ chỉ đem phong tục đó áp dụng ở thuộc địa Nam Kỳ mà thôi. Nhưng Nguyễn Ðình Chiểu khẳng khái từ chối. Khi làm lễ truy điệu các chiến sĩ nghĩa quân nổi lên ở Cần Giuộc, cụ Ðồ Chiểu đã chỉ bày một cái bàn với chén nước, nén hương để quỳ lễ đọc bài văn tế. Tinh thần “trọng nghĩa khinh tài” này là một di sản tinh thần của dân tộc, chắc chắn chúng ta sẽ không bỏ mất. Nếu hiện nay nhiều người đã quên nền luân lý cổ truyền đó, cũng chỉ vì dân Việt Nam đã phải sống nửa thế kỷ dưới một chế độ phá hủy đạo lý cổ truyền để theo một chủ nghĩa ngoại lai vớ vẩn. Cần gây nên một phong trào phục hồi văn hóa, chắc chắn dân Việt Nam sẽ nhìn thấy chúng ta phải sống như thế nào mới thật là một cuộc sống đẹp đẽ, văn minh. Chúng ta phải gây ngay một phong trào như vậy. Ngay ở một nước tiến bộ kinh tế mà vẫn giữ được truyền thống như Nhật Bản, người ta cũng đặt vấn đề này. Năm 2006, cuốn sách bán chạy hạng nhất ở nước Nhật là một tiểu luận mang tựa đề Phẩm Cách Quốc Gia (Kokka no Kinkaku) của Mashahiko Fujiwara, bản tiếng Anh dịch là The Dignity of a State (số bán chỉ thua bản dịch cuốn truyện mới về Harry Potter). Trong vòng một năm người Nhật mua 2 triệu cuốn sách này. Có thể nói tác giả đã “lên án” tình trạng dân Nhật chạy theo văn minh Tây phương, nhất là văn minh Mỹ. Mashahiko Fujiwara (tên đọc ngược lại, theo lối Hán Việt là Ðằng Nguyên Chính Ngạn) kêu gọi người Nhật hãy trở lại với truyền thống cũ để khỏi “mất linh hồn.” Là một giáo sư toán, nhưng Mashahiko Fujiwara chống lại quan niệm sống dựa trên lý trí thuần túy của văn minh Tây phương, mà một hệ quả là tinh thần duy lợi. Ông cho là truyền thống Nhật Bản không sống như vậy. Tổ tiên họ sống bằng tình cảm, không quá thiên về lý trí. Họ trọng nghĩa, khinh lợi. Bây giờ, người Nhật sống ra sao? Trong một nửa thế kỷ qua, Fujiwara thấy đồng bào của ông chú trọng đến việc làm giầu nhiều quá, ảnh hưởng của kinh tế thị trường theo lối Mỹ. Nước Nhật đã thành công trên thị trường thế giới, nhưng họ đã bị ám ảnh quá nhiều về vật chất. Bây giờ là lúc họ đặt lại những câu hỏi căn bản, tự hỏi dân tộc họ phải sống như thế nào mới đúng. Nhưng dân Nhật Bản còn may mắn, vì nền giáo dục của họ còn coi trọng luân lý, theo truyền thống Khổng Mạnh. Chế độ cộng sản đã phá hủy nền tảng tinh thần của dân tộc Việt Nam. Bây giờ, kinh tế tư bản thời hoang dã còn tiếp tay phá hoại trên nền luân lý nhiều hơn nữa. Vì kinh tế tư bản đặt trên căn bản duy lợi, với giả thiết rằng khi tất cả mọi người cùng lo kiếm lợi, kinh tế sẽ phát triển. Nhưng chế độ tư bản ở các nước Tây phương ra đời cùng thời gian khi các định chế dân chủ tự do bắt đầu xuất hiện. Chính nhờ được sống dân chủ nên người ta biết dùng luật pháp đặt ra những giới hạn trên tinh thần duy lợi. Cũng nhờ nếp sống dân chủ cho nên những tiếng nói bảo vệ đạo lý được tự do phát biểu. Người dân được phê phán những hành động gian tham của những người cầm quyền và giầu tiền. Hiện nay nước ta đang thiếu cả hai điều kiện đó. Vì những kẻ cầm quyền đang dùng quyền hành để kiếm tiền, trục lợi. Họ vừa bất chấp pháp luật, vừa khinh thường dư luận. Họ bịt miệng dân không cho phê phán, đã kiểm soát hết các báo, các đài, lại còn đàn áp các mạng thông tin Internet, bỏ tù các blogger. Muốn phục hồi phẩm cách của dân tộc thì phải chấm dứt chế độ độc tài đảng trị này. nguồn: nguoi-viet.com
......

LS Lê Quốc Quân được báo Pháp vinh danh

Luật sư đấu tranh cho nhân quyền Lê Quốc Quân vừa được tuần báo Nouvel Observateurs vinh danh là 1 trong 50 người góp phần làm cho bộ mặt nhân loại thay đổi trong tương lai. 50 người này là những nhà chính trị, kỹ nghệ gia, nhà khoa học và những nhà đấu tranh ở các quốc gia còn bị cai trị bởi những chế độ hà khắc. Từ Sài gòn, ông Lê Quốc Quyết, em trai luật sư Lê Quốc Quân trao đổi về sự kiện này với chúng tôi: “Đây là một tin cho gia đình cảm thấy được động viên phần nào đó nhân ngày sinh của anh Quân. Đó không chỉ là niềm khích lệ cho gia đình chúng tôi, mà nhiều anh em cũng cảm thấy được khích lệ, vì thực ra, trong Phong Trào ở VN, khi thế giới quan tâm đến cá nhân nào đó ở Việt Nam thì cũng là sự quan tâm chung của Phong Trào. Điều này rất tốt.   Hôm thứ Sáu 13 tháng 9 là sinh nhật của anh Quân, cũng là lúc mà anh bị tạm giam đúng 8 tháng 16 ngày mà gia đình vẫn chưa được gặp mặt. Việc họ giam giữ anh Quân chờ xét xử đã qua thời hạn. Việc này hết sức bất thường đối với một vụ án kinh tế và cả vụ án chính trị ở Việt Nam. Do đó việc khiếu nại của các tổ chức NGO về chuyện nhà cầm quyền Việt Nam giam giữ anh Quân một cách tùy tiện là hoàn toàn có cơ sở và đúng đắn. Có thể bây giờ anh Quân bị giam giữ mà chẳng có lệnh nào cả. Bởi vì các lệnh tạm giam anh ấy đã hết hạn từ thuở nào rồi. Và gia đình cũng không nhận được bất cứ thông báo nào cả.”
......

Mạng Lưới Blogger Việt Nam Gặp Phái đoàn EU Trước Thềm Đối Thoại Nhân Quyền

Chiều ngày 10/9, 5 thành viên của Mạnglưới Blogger Việt Nam đã có cuộc gặp với đại diện Phái đoàn EU tại Việt Nam để đưa bản Tuyên bố 258 và trao đổi về tình hình nhân quyền trong nước. Đáng chú ý là cuộc gặp này diễn ra ngay trước phiên đối thoại nhân quyền 2013 giữa EU và Việt Nam. Đại diện Mạng lưới Blogger Việt Nam trao Tuyên bố 258 cho bà Veronique Arnault, đại diện Phái đoàn EU sang dự phiên Đối thoại Nhân quyền 2013 với Việt Nam. Bà Véronique Arnault, Giám đốc phụ trách nhân quyền của Cơ quan Hành động Đối ngoại châu Âu (EEAS, tương đương với một Bộ Ngoại giao chung của EU), vừa đến Hà Nội để bắt đầu đối thoại nhân quyền EU-Việt Nam. Đối thoại nhân quyền năm nay diễn ra vào ngày 11/9, và bà đã dành riêng cho các blogger thuộc Mạng lưới Blogger Việt Nam một cuộc gặp chính thức. Tham dự cuộc gặp, ngoài bà Véronique Arnault, còn có một số quan chức cấp cao của EU: bà Delphine Malard, Cố vấn thứ nhất, phụ trách Ban Chính trị, Báo chí và Thông tin; ông Juan Jose Almagro Herrador, cố vấn Ban Chính trị, Báo chí và Thông tin; ông Konstantin Von Mentzingen, quan chức về Việt Nam và Đông Nam Á; và bà Rose Ieremia, Đại sứ Hy Lạp tại Việt Nam. (Hy Lạp cùng với Ireland và Litva giữ chức chủ tịch Hội đồng Liên minh châu Âu nhiệm kỳ 2013-2014). Phó Đại sứ Thụy Điển Elenore Kanter, người từng tiếp các blogger Việt Nam trong cuộc gặp “nghẹtthở” ngày 7/8 khi 5 blogger phải khó khăn lắm mới qua được hàng rào an ninh để vào Đại sứ quán, cũng tham dự. Phía Mạng lưới Blogger Việt Nam có 4 blogger với đầy đủ đại diện từ ba miền đất nước: NguyễnTường Thụy, Nguyễn Chí Tuyến (Hà Nội), Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (tức blogger Mẹ Nấm, ở Nha Trang), Châu Văn Thi (blogger Yêu Nước Việt, ở Sài Gòn). Mạng lưới Blogger Việt Nam sẽ có bài tường thuật chi tiết về cuộc gặp này với Phái đoàn EU. Đại diện Mạng lưới blogger Việt Nam và phái đoàn EU trao đổi về tình hình nhân quyền Việt Nam Đối thoại nhân quyền EU-Việt Nam EU tổ chức đối thoại định kỳ về nhân quyền với hơn 30 nước ngoài EU. Mỗi cuộc đối thoại đều được tiến hành căn cứ vào Nguyên tắc chung của EU về đối thoại nhân quyền. Các vấn đề đưa ra trong mỗi cuộc đối thoại được quyết định theo từng trường hợp cụ thể. Tuy nhiên, một số vấn đề thuộc diện ưu tiên thì sẽ luôn ở trong chương trình nghị sự của mỗi cuộc đối thoại. Đó là việc ký, phê chuẩn và thực hiện các công ước nhân quyền quốc tế, hợp tác với các thủ tục và cơ chế nhân quyền quốc tế, chống tra tấn, xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử, bảo đảm quyền trẻ em, quyền phụ nữ, tự do biểu đạt và vai trò của xã hội dân sự. Tham gia đối thoại là các quan chức nhà nước về nhân quyền, bao gồm cả đại diện từ các cơ quan chức năng như quốc hội, bộ tư pháp, bộ nội vụ, công an, thi hành án, v.v. Đối thoại giữa EU và các tổ chức xã hội dân sự ở nước sở tại thường diễn ra song song, bên lề những cuộc đối thoại cấp nhà nước. Ngay sau cuộc gặp với Mạng lưới Blogger Việt Nam, Phái đoàn EU đã tiếp tục gặp gỡ (không chính thức) một số quan chức, để chuẩn bị cho đối thoại  nhân quyền chính thức vào ngày 11/9. Mạng lưới Blogger Việt Nam tuyenbo258.blogspot.comtuyenbo258@gmail.com Nguồn: tuyenbo258.blogspot.de
......

Đại diện Mạng lưới Blogger Việt Nam gặp gỡ với Tòa Đại Sứ Đức tại Hà Nội

Vào sáng nay, thứ tư, 28/8, một số đại diện của Mạng lưới Blogger Việt Nam (MLBVN) sẽ có một buổi tiếp xúc và trao đổi với Đại sứ quán Đức. Đây là tiếp nối nỗ lực của MLBVN trong việc vận động quốc tế quan tâm đến bản Tuyên bố 258, yêu cầu nhà nước Việt Nam hủy Điều 258 BLHS, trong bối cảnh Việt Nam đang tranh cử để trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc. MLBVN sẽ cập nhật tin tức đến các bạn từ giờ cho đến chấm dứt buổi tiếp xúc. Được biết vào 7h sáng hôm nay an ninh TP. Hà Nội đã trao giấy mời và yêu cầu blogger Nguyễn Chí Đức lên đồn công an làm việc liên quan đến vấn đề công dân Việt Nam Nguyễn Chí Đức đã cùng với các blogger Trịnh Anh Tuấn, Đào Trang Loan, Nguyễn Hoàng Vi, và Nguyễn Đình Hà trao Tuyên bố 258 cho Đại sứ quán Australia vào ngày 23 tháng 8 vừa qua. Anh Nguyễn Chí Đức đã từ chối yêu cầu này của công an. Xin nhắc lại trong thời gian qua, nhiều đại diện khác nhau từ khắp ba miền đất nước của MLBVN đã tiếp xúc với các đại diện của Cao uỷ Liên Hiệp Quốc về Nhân quyền (OHCHR), Liên minh Báo chí Đông Nam Á (SEAPA), Tổ chức Giám sát Nhân quyền (HRW), Ủy ban Luật gia quốc tế (ICJ), Ủy ban Bảo vệ Ký giả (CPJ), Tổ chức Người Bảo vệ Tuyến đầu (Front Line Defenders), Đại sứ quán các nước Mỹ, Thụy Điển và Australia. Bên cạnh đó, hôm Chủ nhật vừa rồi các thành viên của Mạng lưới Blogger Việt Nam cũng đã tổ chức gặp mặt "Cafe 258" tại Hà Nội và Sài Gòn. * 10h20: Các đại diện cho Mạng lưới Blogger Việt Nam đến ĐSQ: Chị Đặng Bích Phượng (Phương Bích), Nguyễn Hoàng Vi, chị Lê Hiền Giang, Lê Thị Phương Lan  và Đào Trang Loan Vào lúc 10h28 các bạn đã vào bên trong ĐSQ Đức, 2 phút trước giờ hẹn chính thức. Ra tận ngoài cổng tiếp phái đoàn đại diện blogger Việt Nam là hai quan chức cao cấp của ĐSQ. * Được biết, Đại sứ quán Đức tỏ ra rất quan tâm đến bản Tuyên bố 258. Cuộc gặp được chuẩn bị chu đáo. Trước giờ gặp, hai quan chức cấp cao của Sứ quán đã ra tận cổng, chờ ở ngoài đường để đón các blogger vào - đề phòng trường hợp họ bị lực lượng công an cản trở. Điểm đặc biệt của buổi gặp hôm nay là các blogger đến Sứ quán gồm toàn phụ nữ. Đó là các blogger Đặng Bích Phượng (blog Phương Bích), Lê Hiền Giang (Sông Quê), Lê Thị Phương Lan (Lan Lê), Đào Trang Loan (Hư Vô), và Nguyễn Hoàng Vi (An Đổ Nguyễn). Blogger Phương Bích được biết đến qua nhiều bài viết về các vấn đề chính trị-xã hội và cả đời sống thường nhật, với giọng văn trong sáng, dung dị, chân thật và rất nữ tính. Ngày 21/8/2011, chị là một trong 47 blogger ở Hà Nội bị bắt vì tham gia biểu tình chống Trung Quốc. Chị bị giam 6 ngày trong Hỏa Lò, và khi được tự do, đã viết loạt bài nổi tiếng“Bước chân vào chốn ngục tù” gây xúc động cho nhiều độc giả mạng. Hai blogger Lan Lê và Sông Quê đều là thành viên tích cực của câu lạc bộ No-U và phong trào biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội. Sinh năm 1991, blogger Hư Vô còn rất trẻ nhưng đã tham gia tích cực trong các hoạt động xã hội như làm từ thiện, giúp đỡ người nghèo, và biểu tình chống chính sách gây hấn của Trung Quốc đối với Việt Nam. Đầu năm nay, dịp trước Tết Nguyên đán, Hư Vô đi phân phát quà Tết cho dân oan vô gia cư, và bị công an Hà Đông bắt giam vô cớ trong đồn. Chỉ cho đến khuya, sau khi các blogger kéo đến và phản đối quyết liệt, công an mới thả cô gái trẻ. An Đổ Nguyễn, sinh năm 1987, cũng là một blogger rất nhiệt tình, năng nổ trong các hoạt động đấu tranh và vận động cho nhân quyền ở Việt Nam. Cô từng tham gia phân phát Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền trong ngày dã ngoại 5/5 vừa qua, sau đó có xô xát với công an và bị sách nhiễu thường xuyên từ đó tới nay. * Tường trình buổi gặp gỡ: ĐSQ Đức nhiệt tình lắng nghe và chia sẻ với blogger Cuộc gặp của 5 thành viên Mạng lưới Blogger Việt Nam với Đại sứ quán Đức tại Việt Nam đã diễn ra rất tốt đẹp ngay từ đầu, với việc quan chức cấp cao của Sứ quán đích thân ra tận cổng đón các blogger trước sự chứng kiến của ít nhất 30 nhân viên công an. Theo dự kiến, cuộc gặp diễn ra vào lúc 10h sáng nay, 28/8. Tuy nhiên, từ sáng sớm, người của sứ quán đã xác nhận có tới 25 công an đứng ngồi rải rác quanh khu vực. 10h, khi taxi chở nhóm blogger dừng lại trước cổng tòa nhà, các nhân viên công quyền này lập tức đổ xô tới, chĩa máy quay phim, máy ảnh vào mọi người. Hai quan chức (người Đức) của Đại sứ quán cũng đã chờ sẵn để đón các blogger, nhưng khi họ đưa blogger qua cổng thì có hai người mặc sắc phục trong lực lượng an ninh chặn nhóm blogger lại, buộc phía sứ quán phải can thiệp. Cuối cùng, các đại diện của Mạng lưới Blogger Việt Nam cũng vào được bên trong, nhờ sự giúp đỡ tận tình của Sứ quán. Như MLBVN đã đưa tin, cuộc gặp hôm nay có 5 blogger và đều là các gương mặt nữ, đó là: Đặng Bích Phượng (tức blogger Phương Bích), Lê Hiền Giang (facebooker Sông Quê), Lê Thị Phương Lan (Lan Lê), Nguyễn Hoàng Vi (An Đổ Nguyễn) và Đào Trang Loan (Hư Vô). Phía Đại sứ quán Đức, có ông Felix Schwarz, Lãnh sự và tham tán chính trị, và ông Jonas Koll, Bí thư thứ nhất phụ trách Văn hóa, Báo chí và Chính trị. “Chúng tôi ở bên các bạn” Hai tiếng của cuộc trò chuyện đã diễn ra trong không khí ấm áp và đầy chia sẻ, với nhiều chi tiết xúc động. Blogger Nguyễn Hoàng Vi kể lại, trong lúc vội vàng ra khỏi taxi để tìm cách vào trong Đại sứ quán, các blogger đã để quên bản Tuyên bố 258 trên xe. Tuy nhiên, khi biết việc này, “bên sứ quán Đức không hề giận mà họ lại rất cảm thông, vì họ cảm nhận được sự nguy hiểm, khi mà bên ngoài cổng, trên vỉa hè, có rất nhiều an ninh trang bị camera, máy chụp hình. Họ nói họ đã in sẵn Tuyên bố 258 và blogger có thể dùng bản in sẵn đó để trao cho họ”. Các blogger bắt đầu làm việc với đại diện sứ quán Đức Hai ông Felix Schwarz và Jonas Koll cũng tỏ ra đặc biệt quan tâm đến tình trạng bị đàn áp của từng cá nhân blogger có mặt, kể cả những nguy hiểm, trục trặc về an ninh trên đường tới Sứ quán dự buổi gặp. Cả hai ông đều cảm thấy “không thể tưởng tượng nổi” khi nghe các blogger trình bày sơ qua về tình hình vi phạm nhân quyền – vốn diễn ra tràn lan ở Việt Nam những năm qua. Phía các blogger cũng khá ngạc nhiên khi biết rằng, Đại sứ quán Đức không đánh giá cao sự cải thiện nhân quyền ở Việt Nam qua phiên tòa phúc thẩm xét xử Phương Uyên hôm 16/8 vừa qua. Đức nhìn nhận rằng Việt Nam chỉ muốn làm đẹp hình ảnh bề nổi với dư luận quốc tế, trong khi ở bề chìm, tình hình đàn áp và bắt bớ vẫn tiếp tục. Về bản Tuyên bố 258, ra ngày 18/7/2013, của Mạng lưới Blogger Việt Nam, Đại sứ quán Đức cho rằng sự khách quan, đầy đủ và súc tích của Tuyên bố 258 sẽ giúp Mạng lưới thành công trong việc thu hút sự quan tâm của cộng đồng quốc tế; và Đức sẽ vận động để đưa Tuyên bố này ra phiên họp UPR tháng 1-2 năm tới tại Geneva (phiên họp tổng kết bản đánh giá định kỳ phổ quát – Universal Periodic Review – của Việt Nam với tư cách ứng viên vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc). Các blogger Việt Nam bày tỏ cảm ơn và trân trọng đối với thiện ý của Đại sứ quán Đức. Tuy nhiên, blogger Hoàng Vi phát biểu rằng: “Việc tự do thông tin, báo chí, ngôn luận ở Việt Nam bị xếp ở mức thấp nhất thế giới thực sự là điều khiến chính người Việt Nam phải trăn trở, suy nghĩ, bởi vì đó phần lớn là do ý thức của chính người dân Việt Nam chúng tôi.  Chỉ những nỗ lực của chính người dân Việt Nam mới có thể thay đổi, cải thiện được tình hình. Nhưng chúng tôi mong với vị thế và sức mạnh ngoại giao của các nước, cộng đồng quốc tế sẽ hỗ trợ chúng tôi, trước mắt là giúp để Điều 258 vi phạm tự do ngôn luận phải bị bãi bỏ” – Hoàng Vi khẳng định. Cả 5 blogger nữ đều cảm nhận được sự cảm thông và chia sẻ rất lớn từ Đại sứ quán Đức. Không ai nói thành lời nhưng dường như mọi cử chỉ, mọi hành động của hai nhà ngoại giao đại diện cho nước Đức đều toát lên một điều: Chúng tôi ở bên các bạn, những blogger đấu tranh cho nhân quyền của người dân Việt Nam. Buổi gặp kết thúc với việc Đại sứ quán Đức cho biết sẽ cùng Liên minh Châu Âu đặt vấn đề để Chính phủ Việt Nam xóa bỏ Điều 258 Bộ luật Hình sự cũng như những điều luật vi phạm nhân quyền khác... ... Đã quá trưa. Trước cổng, rất đông an ninh Việt Nam vẫn đứng chờ các blogger. Đại sứ quán đề nghị dùng xe công vụ đưa mọi người về nhà, thậm chí bố trí người của sứ quán đi cùng để đảm bảo an toàn. Tuy nhiên, các blogger chỉ xin được hỗ trợ xe. Đôi bên bịn rịn chia tay. Hai ông Felix Schwarz và Jonas Koll tiễn cả nhóm ra tận xe, rồi mới quay trở vào. Blogger Hư Vô, Hiền Giang,  Felix Schwarz - Lãnh sự và Tham tán chính trị,  Jonas Koll - Bí thư thứ nhất phụ trách Văn hoá, Báo chí và Chính trị, Phương Bích, Hoàng Vi, và Phương Lan   Blogger Phương Bích và Hiền Giang trao Tuyên bố 258 cho đại diện ĐSQ Đức - ông Felix Schwarz và Jonas Koll Ông Felix Schwarz và blogger Hư Vô - Đào Trang Loan Ông Felix Schwarz và blogger Nguyễn Hoàng Vi Các nhân viên ĐSQ Đức đã tận tình cho xe đưa các bạn từ ĐSQ về tận Nhà hát lớn Mạng lưới Blogger Việt Nam tuyenbo258.blogspot.comtuyenbo258@gmail.comhttp://tuyenbo258.blogspot.de/
......

Muốn dân chủ cần có đảng phái

Trong bài trước, mục này trình bày một khác biệt trong quá trình chuyển tiếp từ độc tài sang dân chủ ở các nước Nam Âu, Nam Mỹ so với các nước cựu cộng sản Ðông Âu. Tại Tây Ban Nha hay Chile, các đảng phái trong “xã hội chính trị” đóng vai chính, còn ở Tiệp Khắc, Ba Lan, Hungary, “xã hội công dân” dẫn đầu trong cuộc vận động dân chủ.   Nêu lên khác biệt này dễ gây hiểu lầm. Người ta có thể nghĩ rằng vì Việt Nam cũng sống dưới chế độ cộng sản cho nên đi theo con đường các nước Ðông Âu thì thích hợp hơn; do đó việc thành lập các đảng chính trị bây giờ không cần thiết. Nghĩ như vậy không đúng. Xã hội công dân và xã hội chính trị là hai hình thái sinh hoạt trong toàn thể xã hội dân sự, nằm ngoài các tổ chức quân sự và giữ cân bằng với guồng máy nhà nước. Nhưng hai hình thái đó đóng vai trò bổ túc cho nhau chứ không đối kháng hoặc loại trừ lẫn nhau. Tại Uruguay, Brazil hoặc Argentina tuy các đảng chính trị đi tiên phong trong cuộc vận động dân chủ thành công nhờ xã hội công dân ở đó đã được phát triển; gây ý thức tham dự, ý thức về quyền công dân trong dân chúng đã lên cao, chính quyền độc tài không thể nhắm mắt bỏ qua. Trong cuộc vận động xóa bỏ chế độ độc tài thì xã hội công dân có thể đóng vai trò tích cực. Nhưng sau đó, một nhóm trong xã hội công dân vẫn có thể muốn lấn áp những nhóm khác, ảnh hưởng đến cả việc thiết định các “luật chơi” mới. Những người muốn tham dự vào xã hội chính trị không thể nào cứ đứng trên các đảng phái mãi mãi. Tại sao xã hội dân chủ cần các đảng chính trị? Vì Dân Chủ không phải là một mô hình lý tưởng. Xã hội loài người không bao giờ hoàn hảo để xếp đặt cuộc sống chung lý tưởng. Dân Chủ chỉ gồm những quy luật của cuộc chơi trên sân banh chính trị, để mỗi người đều được tham dự bình đẳng. Trong bất cứ xã hội nào cũng có ý kiến khác nhau, nhiều nhóm có các quyền lợi riêng, bây giờ hay gọi là “nhóm lợi ích,” khó tránh được cảnh quyền lợi của nhóm này xung khắc với nhóm khác. Nhà nước dân chủ đóng vai trò trọng tài giữa các quyền lợi xung khắc; tôn trọng lựa chọn của đa số nhưng không bỏ qua các nhóm thiểu số. Guồng máy nhà nước, gồm cả chính quyền và Quốc Hội, đặt ra những “luật chơi” để giải quyết các xung khắc. Nhà nước cần đứng ngoài các xung đột mới đóng được vai trò đó. Trong một nước dân chủ không một nhóm công dân nào được phép lấn áp các nhóm công dân khác. Các đảng phái làm đại biểu cho quyền lợi của các nhóm công dân khi tranh luận về phương thức giải quyết các xung đột. Trong tiếng Anh có chữ “polity” chưa biết nên dịch thế nào ra tiếng Việt. Chữ này bao gồm tất cả các sinh hoạt có tính cách chính trị, các định chế, các tập hợp, các hành động, ảnh hưởng trên sinh hoạt chính trị. Một phạm vi có thể xác định rõ là hoạt động của các đảng phái, có thể gọi là xã hội chính trị (political society). Mọi công dân có quyền hành xử quyền của mình để gây ảnh hưởng trên việc sử dụng guồng máy nhà nước, chia sẻ quyền lực chính trị, trong vòng pháp luật. Họ tập họp trong các đảng chính trị. Nếu không có các đảng chính trị thì chế độ dân chủ khó chạy, và rất khó trở thành kiên cố, tức là lúc mọi người đều đồng ý “Dân Chủ là luật chơi duy nhất được sử dụng.” Dân Chủ thành kiên cố khi bảo đảm được chính quyền nằm trong tay những người do dân tự do bỏ phiếu bầu lên; và bảo đảm người dân lúc nào cũng có thể quan sát, phê phán guồng máy chính quyền. Muốn tiến tới tình trạng tối hảo này, cần những định chế cơ bản: Bầu cử tự do; Luật bầu cử bảo đảm cơ hội đồng đều cho mọi người dân; Các đảng chính trị cạnh tranh với nhau hoặc liên kết với nhau; Guồng máy hành chánh vô tư đứng ngoài các đảng phái; Quyền tư pháp và lập pháp độc lập với guồng máy đó. Ðể sống chung trong thể chế dân chủ, để giải quyết các xung khắc quyền lợi giữa nhiều nhóm dân chúng, mỗi nhóm lợi ích cần có đại diện tham dự trong quá trình thảo luận và quyết định chính sách chung của quốc gia trên các lãnh vực. Không thể nào chỉ có “một đảng của toàn dân” như nhiều người ao ước hay mơ tưởng. Trong một xã hội sống dân chủ, mỗi đảng chính trị thường chỉ tập hợp được một số nhóm lợi ích, không thể nào trùm lên cả xã hội. Ý tưởng đảng của mình cũng là “đảng của toàn dân” sẽ đưa tới khuynh hướng độc tài, rất khó tránh. Thí dụ ở nước Mỹ, đảng Cộng Hòa được sự ủng hộ của giới tư bản, họ cũng thu hút những người trung lưu hoặc nghèo nhưng tin tưởng phải bảo vệ các giá trị tôn giáo; lại được giới trí thức đề cao chủ trương tự do kinh tế tham gia. Ðảng Dân Chủ thu hút những người coi việc bảo vệ công bằng xã hội về lợi tức và tài sản; được các nhóm di dân mới ủng hộ; và thích hợp với những người có khuynh hướng mới về đạo đức, muốn thay đổi phong tục. Ðảng Cộng Hòa theo chủ trương giảm bớt vai trò guồng máy chính quyền ở mọi cấp, đảng Dân Chủ ngược lại. Ðảng Cộng Hòa bảo vệ quyền hạn của các tiểu bang so với liên bang, đảng Dân Chủ không thiết tha đến đề tài đó. Trong mỗi đảng cũng có những khuynh hướng khác nhau. Mỗi đảng quy tụ một số nhóm lợi ích có thể đồng ý với nhau về một số chủ trương; nhưng họ cũng không hoàn toàn thỏa thuận trên tất cả các vấn đề. Họ cùng ủng hộ một đảng vì đảng đó đề cao một số chủ trương, dù không đồng ý với tất cả các chính sách của đảng. Cần đảng chính trị vì họ đóng vai đại biểu cho một số nhóm lợi ích; mỗi đảng tập hợp một số nhóm lợi ích trong cuộc cạnh tranh gây ảnh hưởng trong việc ấn định đường lối chung của quốc gia. Cuối cùng, toàn thể dân chúng nắm quyền quyết định, lựa chọn đưa một đảng nào đó lên cầm quyền; khi cần thì lại thay đổi. Trong xã hội chính trị, đảng phái là những “cầu thủ” chính tham dự cuộc chơi trên sân banh dân chủ; vì họ có nhiệm vụ tập hợp và làm đại biểu cho các nhóm lợi ích. Mỗi đảng có thể thay đổi chương trình tranh cử để được đa số cử tri bỏ phiếu cho; nhưng họ không thể đi ngược lại quyền lợi và xu hướng của các nhóm thành viên. Xã hội luôn luôn thay đổi, chính các nhóm lợi ích cũng thay đổi khi chọn ủng hộ một đảng chính trị. Giới lao động ở Mỹ thường ủng hộ đảng Dân Chủ trong thế kỷ 19 và 20 khi các công đoàn rất mạnh. Nhưng đến giữa thế kỷ 20, vai trò các công đoàn đi xuống, nhiều công nhân gia nhập giai cấp trung lưu, họ quay sang đảng Cộng Hòa vì đảng này đề cao việc tự do cá nhân, muốn nhà nước bớt can thiệp, và bảo vệ các giá trị tôn giáo. Trong hai cuộc bầu cử gần đây, giai cấp trung lưu ở Mỹ lại nghiêng về đảng Dân Chủ vì thấy đảng Cộng Hòa đã đi quá xa trong các chủ trương cố hữu đó. Trong cuộc hơi chính trị dân chủ, các đảng phái đóng vai trò cầu thủ, không thể thiếu được. Kinh nghiệm ở Ðông Âu và Nga cho thấy thiếu các đảng chính trị và xã hội chính trị sinh động có thể khiến quá trình dân chủ hóa bị trì trệ, hoặc quay ngược lại trở về khuynh hướng độc tài. Vì trong các nước cộng sản thiếu một xã hội công dân năng động cho nên cuộc tranh đấu xây dựng dân chủ bắt đầu với phong trào hồi phục xã hội công dân. Xã hội công dân thúc đẩy việc xóa bỏ chế độ độc tài ở Nga và Ðông Âu; nhưng khi xây dựng nền móng dân chủ thì phải xây dựng xã hội chính trị mới tạo được các cơ chế hữu hiệu. Những người lãnh đạo trong thời gian chuyển tiếp như Walesa ở Ba Lan và Yeltsin tại Nga muốn “đứng trên đảng phái,” không quan tâm đến việc thành một lập đảng chính trị của chính họ, cho nên không thúc đẩy việc củng cố nền dân chủ. Yeltsin còn sai lầm nặng hơn khi ông không thay đổi Hiến Pháp nước Nga cho phù hợp với thể chế tự do dân chủ, lỡ một cơ hội mà sau này ông hối tiếc. Walesa không chịu đứng ra một lập đảng riêng, vì muốn đứng trên các đảng phái. Phong trào công nhân Ðoàn Kết tách thành nhiều đảng, mỗi đảng không tập hợp được những nhóm lợi ích rõ ràng, để phí mất nhiều năm trước khi nền dân chủ được củng cố. Việt Nam cần rút kinh nghiệm các giai đoạn chuyển tiếp từ độc tài sang dân chủ, ở các nước cộng sản cũng như không cộng sản. Vì tới một lúc chúng ta sẽ thấy việc xóa bỏ chế độ độc tài không khó, một trái cây đã quá chín thế nào cũng rụng. Khó khăn hơn, là xây dựng một thể chế dân chủ, với những thói quen suy nghĩ và hành động được mọi người hiểu và làm theo, gọi là nếp sống dân chủ. Nguồn: nguoi-viet.com
......

21 quốc gia đồng lên tiếng về NĐ 72

Freedom Online Coalition Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ Văn Phòng Phát Ngôn Nhân Ngày 26 tháng 8, 2013 Phát biểu của MARIE HARF, Phó Phát Ngôn Nhân Bản Lên Tiếng Chung của Liên Minh Về Quyền Tự Do Trên Mạng về Nghị Định 72 của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Liên Minh Về Quyền Tự Do Trên Mạng vô cùng quan ngại với thông báo của Việt Nam về Nghị Định 72 sẽ có hiệu lực vào ngày 1 tháng 9 tới đây. Nghị định này áp đặt thêm nhiều giới hạn về việc sử dụng và truy cập Internet tại Việt Nam. Lấy thí dụ, Nghị Định 72 hạn chế các luồng thông tin trên mạng và giới hạn việc chia sẻ một số loại tin tức và thông tin. Nghị Định 72 có vẻ như không phù hợp với nghĩa vụ của Việt Nam đối với Công Ước Quốc Tế về Quyền Chính Trị và Dân Sự, cũng như cam kết của Việt Nam với bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Nghị Định 72 có thể gây nguy hại đến nền kinh tế Việt Nam vì trói buộc việc phát triển thương mại tại Việt Nam, giới hạn sáng kiến, cản trở đầu tư nước ngoài. Một mạng Internet tự do, mở rộng là điều kiện cần có cho một nền kinh tế hiện đại hoạt động toàn vẹn; các đạo luật như Nghị Định 72 giới hạn tự do sẽ không giúp cho giới kinh doanh và giới phát minh có được đầy đủ công cụ để cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu. Liên Minh Về Quyền Tự Do Trên Mạng ghi nhận là nghị quyết 20/8, được biểu quyết bởi Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc vào tháng 7, 2012, khẳng định rằng nhân quyền áp dụng trên mạng cũng như ngoài đời. Liên Minh Về Quyền Tự Do Trên Mạng kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam điều chỉnh Nghị Định 72 để thay vào đó cổ xúy cho mọi cá nhân có điều kiện thực thi quyền tự do con người, luôn cả quyền tự do ngôn luận. Liên Minh Về Quyền Tự Do Trên Mạng là một tổ chức xuyên vùng của 21 chính phủ cùng hợp tác để thúc đẩy tự do Internet trên toàn cầu. Liên Minh là diễn đàn để cho các chính phủ có cùng tư tưởng phối hợp các nỗ lực và làm việc chung với xã hội dân sự và giới tư doanh để hỗ trợ mọi cá nhân có điều kiện thực thi nhân quyền và các quyền tự do căn bản trên mạng. Liên Minh Về Quyền Tự Do Trên Mạng được thành lập tại một hội nghị do chính quyền Hòa Lan tổ chức vào năm 2011, và các hội nghị tiếp theo đó tại Kenya vào năm 2012, tại Tunisia vào năm 2013. Chính quyền Estonia, chủ tịch Liên Minh, sẽ tổ chức hội nghị kế tiếp vào mùa xuân năm 2014. BBT-WebVT chuyển ngữ # # # -------------------------------------------------------------------------------- August 26, 2013 2013/2034 Statement by MARIE HARF, DEPUTY SPOKESPERSON Freedom Online Coalition Joint Statement on the Socialist Republic of Vietnam’s Decree 72 The Freedom Online Coalition is deeply concerned by the announcement of Vietnam’s new Decree 72, which will impose further restrictions on the way the Internet is accessed and used in Vietnam when it comes into effect September 1. For example, Decree 72 restricts online information flow and limits the sharing of certain types of news and other speech. Decree 72 appears to be inconsistent with Vietnam’s obligations under the International Covenant on Civil and Political Rights, as well as its commitments under the Universal Declaration of Human Rights. Decree 72 risks harming Vietnam’s economy by constraining the development of businesses in Vietnam, limiting innovation, and deterring foreign investment. An open and free Internet is a necessity for a fully functioning modern economy; regulations such as Decree 72 that limit openness and freedom deprive innovators and businesses of the full set of tools required to compete in today’s global economy. The Freedom Online Coalition notes that resolution 20/8, adopted by consensus by the UN Human Rights Council in July 2012, confirms that human rights apply online as well as offline. The Freedom Online Coalition calls on the Vietnamese government to revise Decree 72 so that it promotes the ability of individuals to exercise their human rights, including the right to freedom of expression. The Freedom Online Coalition is a cross-regional group of 21 governments that collaborate to advance Internet freedom worldwide. The Coalition provides a forum for like-minded governments to coordinate efforts and work with civil society and the private sector to support the ability of individuals to exercise their human rights and fundamental freedoms online. The Freedom Online Coalition was formed at a conference hosted by the government of the Netherlands in 2011, and held further meetings hosted by Kenya in 2012, and Tunisia in 2013. The government of Estonia, chair of the Coalition, will host the next conference in spring 2014. # # # Nguồn: Viettan.org
......

8 LOẠI VỎ TỐT HƠN THẦN DƯỢC

(VNC-TH) Khi ăn một số loại hoa quả, bạn thường do dự có nên gọt vỏ không? Thực tế có một số vỏ quả nếu bỏ đi sẽ rất lãng phí.  - Vỏ táo chống oxy hóa Vỏ táo có hàm lượng chất xơ phong phú, hỗ trợ tiêu hóa.   Gần một nửa Vitamin C trong quả táo là nằm ở vỏ táo. Ngoài ra, nghiên cứu cho thấy, chất chống oxy hóa trong vỏ táo nhiều hơn thịt táo, thậm chí còn nhiều hơn so với một số loại trái cây khác. Đã có nhiều nhà sản xuất lấy vỏ táo để làm nguyên liệu sản xuất thực phẩm chức năng. - Vỏ lê giúp sạch tim và phổi Vỏ lê là một trong những loại thuốc giúp sạch tim, phổi, giảm nóng được dùng trong Đông y.   Vỏ lê rửa sạch thái nhỏ, cho thêm chút đường tinh có thể trị được viêm họng. Khi làm món sa-lát dưa chuột, cho thêm ít vỏ lê sẽ khiến món dưa giòn hơn và thơm ngon hơn.  - Vỏ nho giảm mỡ trong máu Vỏ nho có chứa nhiều chất resveratrol hơn thịt và hạt nho, có thể giảm mỡ trong máu, chống huyết khối, chống bệnh về động mạch, tăng cường hệ miễn dịch. Đặc biệt là chất flavonoids trong vỏ nho tím, có công hiệu giảm huyết áp. Vỏ nho còn chứa nhiều vitamin, sắt…   Hiện đã có những nghiên cứu ứng dụng vỏ nho trong chế biến thực phẩm, dùng để điều trị lượng cholesterol quá cao, tiểu đường…  - Vỏ quýt trị đầy bụng, ho đờm Vỏ quýt chứa nhiều chất dinh dưỡng như vitamin C, carotene, protein…, có thể tạo ra nhiều hương vị thơm ngon. Vỏ quýt có vị thơm, còn có thể điều trị chứng đầy bụng, ho, đờm. Khi nấu nước dùng có thể cho vài lát vỏ quýt để tăng thêm mùi vị và bớt béo.  - Vỏ dưa hấu xanh giảm nhiệt cơ thể Vỏ dưa hấu có chứa lượng đường, chất khoáng, vitamin phong phú, có tác dụng giải nhiệt, hạ nóng bài trừ mệt mỏi, giảm huyết áp rất tốt. Có thể làm món nộm, nấu canh.  - Vỏ dưa gang lợi tiểu giảm sưng phù Vỏ dưa gang rất giàu vitamin và khoáng chất. Nó có tác dụng lợi tiểu, giảm sưng phù, tốt cho cả người bị tiểu đường. Vì vậy khi làm món dưa gang nên để cả vỏ.  - Dưa vàng bài độc   Vỏ dưa vàng khá đắng nhưng chính chất đắng này giúp hấp thụ vitamin C dễ dàng hơn và giúp bài độc cơ thể. Ngoài ra, vỏ dưa vàng còn có tác dụng kháng khuẩn tiêu viêm.   Vỏ dưa hấu, vỏ dưa vàng, vỏ dưa gang sau khi luộc lên làm món nộm dưa kết hợp 3 trong 1 có tác dụng giảm béo rất tốt.  - Vỏ cà chua chống ung thư Chất lycopene trong vỏ cà chua có tác dụng chống oxy hóa mạnh, có thể phòng ngăn ngừa bệnh tim mạch, nâng cao khả năng miễn dịch của cơ thể, phòng chống ung thư. Ngoài ra, vỏ cà chua còn trợ giúp bảo vệ sức khỏe rất tốt. Do vậy, nên ăn nhiều vỏ cà chua hơn bạn nhé! Thanh Nguyễn Theo CN
......

Chanh chuyên giết tế bào ung thư

Những điểm lợi ích của trái chanh : -Trái chanh là một sản phẩm kỳ diệu chuyên giết các tế bào ung thư  - Nó mạnh gấp 10.000 lần hơn liệu pháp hóa học (chimiothérapie)  - Tại sao chúng ta không biết gì về nó (cho đến giờ nầy)  - Bởi vì có những nhà bào chế (labo) thích bào chế ra một loại thuốc với thủ thuật hổn hợp nào đó để đem lại nhiều lợi nhuận cho họ hơn mà thôi.  - Từ đây về sau quí vị có thể giúp bạn bè nào cần bằng cách cho họ biết là nước chanh rất cần thiết để ngừa bịnh.  - Mùi vị của chanh rất là tốt và nó không có gây ra những tác dụng kinh khủng như các loại liệu pháp hóa học (chimiothérapie)  -Nếu có thể, quí vị nên trồng một cây chanh trong vườn của quý vị - Đã có biết bao nhiêu người chết trong lúc bí mật nầy (của trái chanh) được dấu kín để không đụng tới tiền lời hàng tỷ bạc của những nhà kinh doanh ? - Như quý vị đã biết, cây chanh thấp, lại không tốn chỗ bao nhiêu. Và được biết có nhiều loại chanh (như chanh giấy ?) - Quí vị có thể dùng chanh với nhiều cách khác nhau: quí vị có thể ăn cả võ, vắt chanh ra uống, uống nước đá chanh đủ kiểu, làm bánh v.v.v.v…… -Người ta cho rằng trái chanh hay nhiều thứ lắm nhưng quan trọng và hay nhất là hiệu quả của nó đối với ung nhọt và bướu. - Cây chanh là một vị thuốc đã chứng minh là trị được tất cả các loại ung thư. Có những người khác còn xác nhận là nó có một công dụng rất lớn trong mọi loại biến thể của các loại ung thư - Người ta cũng còn xem chanh như là một loại thuốc chống đủ loại vi trùng, chống các loại viêm do vi khuẩn, và nấm, rất hữu hiệu chống ký sinh trùng và sâu (mầm bệnh) trong máu, nó lại có thể điều hòa được huyết áp (quá cao hay quá thấp) chống áp suất cao và rối loạn thần kinh - Tài liệu nầy có được từ một trong những nhà bào chế thuốc lớn trên thế gìới, người nầy xác nhận là sau trên 20 lần thử nghiệm từ năm 1970 ở viện bào chế, mới thấy được là: Chanh tiêu diệt các tế bào tinh quái trong 12 loại ung thư, gồm cả ung thư đường ruột ung thư ngực, vú , ung thư tiền liệt tuyến, phổi, lá lách (tuyến tụy)… - Cây chanh và trái chanh được cho thấy có hiệu quả 10.000 lần hơn sản phẩm Adriamycin, một loại thuốc hóa học thường được dùng trên thế giới để làm chậm lại sự nẩy nở của tế bào ung thư - Và còn lạ lùng hơn nữa là loại nước chanh trị bịnh nầy chẳng những diệt được các loại tế bào ung thư mà không bao giờ ảnh hưởng đến các tế bào sạch.     Viện Khoa Học và Sức Khỏe, L.L.C. 819 N. Causez Strêt, Baltimore, MD. 1201
......

Suy ngẫm "Những Tách Cà Phê"

Một nhóm sinh viên cũ gặp lại và hẹn nhau cùng trở về trường đại học cũ để thăm một vị giáo sư ngày xưa. Họ là những người rất thành công và đang có những chức vụ, địa vị cao trong xã hội. Trong khi ngồi hàn huyên tâm sự với nhau, mọi người bắt đầu than phiền về những sự căng thẳng trong việc làm cũng như trong đời sống của mình. Vị giáo sư mời những học trò cũ của mình uống cà phê. Ông đi vào nhà trong và mang ra một bình cà phê lớn, cùng với những ly tách đủ loại: bằng sứ, bằng plastic, bằng thủy tinh, có những tách nhìn rất tầm thường và có những tách nhìn rất đắt tiền và sang trọng. Vị giáo sư mời những học trò cũ của mình tự rót lấy cà phê uống. Khi mỗi người đã có một ly cà phê trong tay, vị giáo sư nói: -    Nếu các anh chị để ý, những tách cà phê đẹp và đắt tiền được chọn lấy trước hết, chỉ còn lại những ly tách rẽ tiền và tầm thường. Đối với các anh chị việc ấy cũng thường thôi! Chúng ta ai mà lại chẳng muốn chọn cho mình những gì hay và đẹp nhất, nhưng đó cũng là nguyên nhân của sự căng thẳng và những khó khăn của các anh chị trong cuộc sống. -   Những gì anh chị muốn, thực sự là cà phê, chứ đâu phải là chiếc tách, nhưng các anh chị lại có ý đi lựa cho mình những chiếc tách đẹp nhất và thỉnh thoảng cũng nhìn sang người bên cạnh, xem họ có những chiếc tách nào. -   Cũng vậy, nếu cuộc sống là cà phê, thì những công việc, tiền bạc, địa vị trong xã hội là những chiếc tách. Chúng chỉ là những phương tiện để chứa đựng sự sống của mình, chứ phẩm chất của sự sống không hề khác biệt. -    Và nhiều khi chúng ta vì quá chú ý và tập trung vào những chiếc tách, mà lại quên thưởng thức hương vị cà phê thơm ngon trong ấy. -    Vì vậy cho nên các anh chị nhớ, đừng để những chiếc ly tách sai xử mình. Hãy thưởng thức hương vị cà phê thơm ngon của cuộc sống. Hạnh phúc không có nghĩa là mọi vấn đề chung quanh chúng ta phải được hoàn toàn.   Hạnh phúc có nghĩa là chúng ta biết nhìn xa hơn, vượt ra ngoài những sự bất toàn ấy !   SUY NGẪM: Con người nên  thay đổi sự suy nghĩ, sao cho thích hợp với hoàn cảnh và với những người chung quanh, khi vô phương thay đổi hoàn cảnh hay thay đổi những người chung quanh. Trong câu chuyện trên, cà phê là thứ sẽ thuộc về mình, ly tách là thứ phải để lại, thuộc về người.  Cho nên, bằng lòng thưởng thức, thích những gì mình có, hạnh phúc hơn là  : thích những gì mình không có, hay không thể có. Bloger Caroline Thanh Hương  
......

36 Dân Biểu Hoa Kỳ lên tiếng về tình trạng nhân quyền tại Việt Nam.

Ngày 23 tháng 7, 2013 Tổng Thống Barack Obama Tòa Bạch Ốc 1600 Pennsylvania Avenue NW Washington, DC 20500 Kính thưa Tổng Thống Obama,   Chúng tôi viết thư để bày tỏ sự quan tâm sâu sắc về những vi phạm nhân quyền đang xảy ra liên tục tại Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Chính quyền Việt Nam luôn coi thường những quyền tự do căn bản, bao gồm các quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận và tự do tôn giáo. Chính quyền Việt Nam vẫn tiếp tục các hành vi bắt bớ và giam cầm tùy tiện những công dân chỉ vì họ chỉ trích chính quyền, trong đó có nhiều nhà hoạt động dân chủ và nhân quyền được nhiều người biết đến. Chính quyền Việt Nam cũng thường xuyên có những hành vi đàn áp các dân tộc và các tôn giáo thiểu số với những bằng chứng kỳ thị và đàn áp mà không ít lần đã dẫn tới những hành vi bạo lực đối với các dân tộc như Khmer Krom, Montagnards, Hmong, và các tín đồ Công giáo, Tin lành, Phật giáo, và còn nhiều nhóm người khác nữa. Vào ngày 25 tháng 7, Ông sẽ có cơ hội để đưa các vấn đề này lên hàng đầu trong buổi hội kiến với Chủ Tịch Nước Việt Nam Trương Tấn Sang tại Tòa Bách Ốc. Trước tình hình nhân quyền tại Việt Nam ngày một xấu đi, chúng tôi kêu gọi Tổng Thống bày tỏ lập trường mạnh mẽ trong việc áp lực chính quyền Việt Nam phải tuân theo các quyền tự do căn bản đã được quy địnhi trong chính Hiến Pháp của nước Việt Nam. Chúng tôi kêu gọi Tổng Thống hãy yêu cầu ông Sang phải có những giải pháp để cải thiện tình trạng nhân quyền và chấm dứt đàn áp các tiếng nói đối kháng tại Việt Nam. Đây là quan điểm được sự ủng hộ nhất trí của lưỡng đảng trong Quốc Hội. Vào ngày 27 tháng 6, Uỷ Ban Đối Ngoại Hạ Viện đã đồng thuận thông qua H.R. 1897, Dự luật Nhân Quyền Việt Nam. Đây là một dự luật với nhiều biện pháp mạnh mẽ cho thấy sự quan ngại của Hoa Kỳ về những vi phạm nhân quyền tại Việt Nam. Thêm vào đó, chúng tôi kêu gọi Tổng Thống hãy đặt việc cải thiện nhân quyền làm điều kiện với Việt Nam trong dự tính tham gia Hiệp Định Thương Mại Xuyên Thái Bình Dương. Chúng tôi tin rằng Hoa Kỳ phải tỏ rõ sự cương quyết trong việc cổ võ cho quyền căn bản và quyền tự do cho tất cả mọi người, trong đó có người dân Việt Nam. Chúng tôi mong được tiếp tục làm việc cùng với nội các của Tổng Thống để chúng ta cùng tiếp tục cải thiện nhân quyền tại Việt Nam. Kính, Các Dân Biểu Quốc Hội Hoa Kỳ đồng ký tên: ALAN LOWENTHAL WILLIAM R. KEATING JANICE HAHN GERALD CONNOLLY JAMES P. MCGOVERN ERIC SWALWELL RANDY WEBER JULIA BROWNLEY TED DEUTCH LOIS FRANKEL LORETTA SANCHEZ GRACE MENG RAUL RUIZ, M.D. ZOE LOFGREN MARK TAKANO JUDY CHU SUSAN DAVIS JUAN VARGAS GRACE NAPOLITANO JARED HUFFMAN MICHAEL M. HONDA MICHAEL MICHAUD SHEILA JACKSON LEE ELIOT ENGEL HENRY A. WAXMAN GEORGE MILLER ILEANA ROS-LEHTINEN BRAD SHERMAN DANA ROHRABACHER JAN D. SCHAKOWSKY CHRISTOPHER H. SMITH SCOTT PETERS ADAM SCHIFF LINDA SANCHEZ DORIS MATSUI JOHN GARAMENDI GENE GREEN  
......

18 NGO gởi thư đến TT Obama yêu cầu thả Ls. Lê Quốc Quân

(Ấn bản anh ngữ đính kèm bên dưới) Kính gởi Tổng Thống Hoa Kỳ Tòa Bạch Ốc 1600 Pennsylvania Ave. NW Washington, DC 20500 Bản sao kính gởi:Ngoại trưởng John Kerry Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ Ngày 23 tháng 7, 2013 Thưa ông Tổng Thống, Các tổ chức ký tên dưới đây trân trọng yêu cầu Ông nêu vấn đề với nhà cầm quyền Việt Nam về việc bắt giữ và giam cầm tùy tiện ông Lê Quốc Quân, một luật sư, blogger và nhà đấu tranh nhân quyền nổi bật. Chúng tôi được biết ông Trương Tấn Sang, Chủ tịch nước Việt Nam sẽ hội kiến ông vào ngày 25 tháng 7, 2013, và chúng tôi thành khẩn mong Ông dùng cơ hội này để trao đổi về trường hợp của Lê Quốc Quân. Ông Quân là một luật sư đủ tư cách và là một blogger năng nổ hiện đang bị giam cầm vì đã thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp và lập hội ôn hòa, và vì các hoạt động tranh đấu nhân quyền của ông. Trước khi bị bắt, trên trang blog nổi tiếng của mình, ông đã phơi bày các vụ vi phạm nhân quyền mà các cơ quan truyền thông của Nhà nước Việt Nam thường phớt lờ. Trước khi bị tịch thu giấy phép hành nghề luật sư năm 2007, ông Quân đã bào chữa các vụ án nhân quyền tại tòa; ông đã bị bắt giam trong 100 ngày khi ông trở về Việt Nam năm 2007 sau chuyến đi Hoa Kỳ, tại đó ông từng là một cựu nghiên cứu sinh của chương trình Reagan-Fascell tại Học viện Quốc gia Hỗ trợ Dân chủ (National Endowment for Democracy). Vào tháng 4 năm 2011, ông bị bắt giữ một lần nữa và sau đó được trả tự do mà không bị buộc tội. Vào tháng 8 năm 2012, ông Quân bị đả thương nghiêm trọng trong một vụ hành hung mà ông nghi là do bàn nhân viên Nhà nước. Ngày 27 tháng 12 năm 2012, ông Quân lại bị bắt và bị buộc tội “trốn thuế”. Ông đã bị biệt giam trong vòng hai tháng đầu tiên và tuyệt thực 15 ngày. Ngay lúc này ông Quân vẫn đang bị giam cầm và không được phép gặp gia đình. Phiên xử dự kiến diễn ra vào ngày 9 tháng 7, 2013, nhưng đã bị hoãn vào giờ chót mà chưa được thông báo ngày xử mới. Việc bắt và giam giữ ông Quân vi phạm những cam kết quốc tế, đặc biệt ở điều khoản 19, 21 và 22 của Công Ước Quốc Tế về Các Quyền Dân Sự và Chính Trị. Các điều khoản này buộc nhà nước có nhiệm vụ phải bảo vệ quyền tự do ngôn luận, hội họp và lập hội của ông Quân. Cách đối xử với ông cũng đi ngược lại nhiệm vụ của nhà nước phải bảo đảm và bảo vệ các quyền hạn của người hoạt động nhân quyền, như đã liệt kê trong bản Tuyên Ngôn của Liên Hiệp Quốc về Những Nhà Bảo Vệ Nhân Quyền. Nhiều thông tin chi tiết hơn về ông Lê Quốc Quân và sự can thiệp bất hợp pháp đối với các quyền con người của ông được trình bày trong bức Thư Tố Cáo kèm theo đây, bức thư gần đây đã được gởi đến những Báo Cáo Viên Đặc Biệt của Liên Hiệp Quốc. Vì tầm quan trọng to lớn của sự chú ý của thế giới về nỗ lực đem lại tự do cho ông Quân cũng như giúp cho ông được trở lại với các hoạt động nhân quyền cần thiết, chúng tôi hy vọng Ông nắm bắt cơ hội qua cuộc viếng thăm của Chủ tịch Sang sắp tới để yêu cầu ông Quân được thả ngay lập tức. Xin cảm ơn Ông đã lưu tâm đến những yêu cầu của chúng tôi. Xin hãy liên lạc với chúng tôi nếu Ông có câu hỏi hoặc cần thêm thông tin. Trân trọng, Media Legal Defence Initiative (MLDI) Nani Jansen Senior Legal Counsel Access Jochai Ben-Avie Policy Director Action des chrétiens pour l’abolition de la torture (ACAT) François Picart Chairman Article 19 Agnes Callamard Executive Director Réseau Avocats Sans Frontières / ASF Network Anne Lutun ASF Network Coordinator Electronic Frontier Foundation Eva Galperin Global Policy Analyst English PEN Robert Sharp Head of Campaigns and Communications Front Line Defenders Mary Lawlor Executive Director Human Rights Watch John Sifton Asia Advocacy Director International Federation for Human Rights (FIDH) Karim Lahidji President Lawyers for Lawyers (L4L) Adrie van de Streek Executive Director Media Defence - Southeast Asia HR Dipendra Director National Endowment for Democracy Sally Blair Senior Director, Fellowship Programs PEN American Center Larry Siems Director, Freedom to Write and International Programs Reporters Without Borders Christophe Deloire Director-general Southeast Asian Press Alliance Gayathry Venkiteswaran Executive Director Vietnam Committee on Human Rights Vo Van Ai President World Movement for Democracy Art Kaufman Senior Director -------------------------------------------------------------------------------- The President of the United States The White House 1600 Pennsylvania Ave. NW Washington, DC 20500 Copy to:The Honourable John Kerry Secretary U.S. Department of State 23 July 2013 Dear Mr President, The signatory organisations respectfully request that you raise with the Vietnamese Government the arrest and arbitrary detention of Mr Le Quoc Quan, prominent lawyer, blogger and human rights defender. We understand that President Truong Tan Sang of Vietnam will meet with you on 25 July 2013 and we sincerely hope that you will take this opportunity to discuss Mr Quan’s case with him. Mr Quan is a qualified lawyer and active blogger who is currently detained for exercising his rights to freedom of expression, association, and peaceful assembly, and for his activities as a human rights defender. Prior to his arrest, Mr Quan exposed human rights abuses commonly ignored by Vietnamese state media on his popular blog. He defended human rights cases in the Vietnamese courts until he was disbarred in 2007, when he was arrested and detained for 100 days upon his return from the United States where he had been a Reagan-Fascell Democracy Fellow at the National Endowment for Democracy in Washington, D.C. In April 2011, Mr Quan was arrested again and ultimately released without charges. In August 2012, he was severely injured in a violent attack committed by what he believes were State agents. On 27 December 2012, Mr Quan was arrested and charged with alleged ‘tax evasion.’ He was detained incommunicado for the first two months and went on hunger strike for fifteen days. At this moment, Mr Quan is still imprisoned and is not allowed visits from his family. His trial was scheduled to take place on 9 July 2013, but was postponed at the last moment until further notice. Mr Quan’s arrest and detention are in violation of Vietnam’s obligations under international law, in particular Articles 19, 21 and 22 of the International Covenant on Civil and Political Rights, which impose duties on the government to protect Mr Quan’s rights to freedom of expression, association and peaceful assembly. His treatment also contravenes state duties set out in the UN Declaration on Human Rights Defenders, to ensure and protect the rights of human rights defenders. More detailed information about Mr Quan and Vietnam’s unlawful interference with his human rights is set forth in the attached Letter of Allegation recently sent to the Special Rapporteurs of the United Nations. Given the great importance of international attention to the effort to secure Mr Quan’s freedom, and to enable him to return to his indispensable human rights work, we hope you will seize the opportunity of President Sang’s upcoming visit to request the immediate release of Mr Quan. Thank you for your kind consideration of our request. Please do not hesitate to have your staff contact us should you have any questions or need any additional information about this important case. Most respectfully, Media Legal Defence Initiative (MLDI) Nani Jansen Senior Legal Counsel Access Jochai Ben-Avie Policy Director Action des chrétiens pour l’abolition de la torture (ACAT) François Picart Chairman Article 19 Agnes Callamard Executive Director Réseau Avocats Sans Frontières / ASF Network Anne Lutun ASF Network Coordinator Electronic Frontier Foundation Eva Galperin Global Policy Analyst English PEN Robert Sharp Head of Campaigns and Communications Front Line Defenders Mary Lawlor Executive Director Human Rights Watch John Sifton Asia Advocacy Director International Federation for Human Rights (FIDH) Karim Lahidji President Lawyers for Lawyers (L4L) Adrie van de Streek Executive Director Media Defence - Southeast Asia HR Dipendra Director National Endowment for Democracy Sally Blair Senior Director, Fellowship Programs PEN American Center Larry Siems Director, Freedom to Write and International Programs Reporters Without Borders Christophe Deloire Director-general Southeast Asian Press Alliance Gayathry Venkiteswaran Executive Director Vietnam Committee on Human Rights Vo Van Ai President World Movement for Democracy Art Kaufman Senior Director Nguồn: NGOs
......

Hoạt động dân chủ để nổi tiếng?

Đây là chủ đề vừa được bàn luận sôi nổi với nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau trên Facebook. Câu phát biểu (nói theo ngôn ngữ thời @ là một status) gây tranh cãi này khá ngắn gọn, gồm 2 dòng, 41 chữ. Xin dẫn nguyên văn, kể cả chấm, phẩy như sau: “Mình nhìn thấy một số người tìm kiếm sự nổi tiếng bằng cách hoạt động dân chủ và mình nhìn thấy một số người giải tỏa sự bất đắc chí cũng bằng hoạt động dân chủ. Có đúng vậy không ta?” Chủ nhân của status giãi bày, không nhằm vào những người hoạt động dân chủ chân chính mà muốn nhắm tới một số nào đó đang tìm kiếm sự nổi tiếng qua hoạt động dân chủ. Vấn đề là số đó là (những) ai và có hay không? Bài viết nhỏ này không phải để khép lại sự bàn luận mà ngược lại, muốn mở cho nó một không gian khác bên ngoài ‘khuôn viên’ của Facebook . Nổi tiếng – nhu cầu của không ít người   Trước hết, cần phải nói ngay rằng, nổi tiếng là một nhu cầu của không ít người và nó đã tồn tại từ lâu ở các nước phát triển trước khi được du nhập vào Việt Nam như một thứ bệnh dễ lây lan. Thông thường, người ta trở nên nổi tiếng một cách không chủ ý nhờ những hoạt động, những thành tựu, năng khiếu hay những cống hiến trong một thời gian dài. Bản thân họ bắt đầu công việc hay sự nghiệp không phải nhằm nổi danh. Nhưng danh tiếng, theo năm tháng, tự hình thành. Đó là những người, dù muốn hay không, vẫn trở thành nổi tiếng. Bên cạnh đó, cũng không thiếu những người tìm đủ mọi cách để nổi tiếng. Tra cứu từ khóa “làm thế nào để nổi tiếng” trên Google sẽ rất bất ngờ, 82 triệu kết quả trong vòng chưa đầy 2 giây, với không biết cơ man nào là tin tức. Kết quả trên cho thấy, nổi tiếng là một vấn đề không có gì mới mẻ và lâu nay đã thu hút sự quan tâm của nhiều người. Hóa ra, người ta đã dậy nhiều cách để nổi tiếng. Ví như: tham gia một chương trình truyền hình, cứu một người bị tan nạn giao thông hay tai nạn gì khác, tìm cách lập kỉ lục Guiness, làm từ thiện, làm những điều kỳ cục với bản thân (cởi truồng ở sân bóng đá, show diễn thời trang như đôi khi vẫn thấy ở nước ngoài), săm trổ kỳ dị khắp người, phát minh ra một thứ gì đó, dọa giết một ai đó, dọa đặt bom, chuyển giới, tạo xì-căng-đan, tự tử theo kiểu ‘chết đẹp‘, thậm chí dìm hàng nhau để nổi tiếng! Bên cạnh những tiêu chí chung chung như vậy, có những hướng dẫn cụ thể cho từng lĩnh vực, từng ngành nghề. Như, làm thế nào để nổi tiếng trên Facebook, trên Youtube; hay nếu là ca sĩ thì phải chọn nghệ danh thế nào, tạo phong cách ra sao, chọn bầu là ai v.v và v.v... Phương thức phổ biến và phong phú nhất hiện nay mà giới trẻ thường làm là tạo scandal (xì-căng-đan) để nổi tiếng. Dùng cách này có cả những người đã ít nhiều tăm tiếng, lẫn những người chưa từng được biết đến. Đặc biệt, giới showbiz đã sử dụng chiêu này trong nhiều tình huống khác nhau. Chỉ cần một pha lộ hàng, lộ clip sex, một bộ ngực đầy đặn (không cần biết là thực hay bơm) phô lộ liễu trước ống kính, hay có bồ mới, bỏ bồ cũ, ghen với người cũ, khoe thành tích làm tình, hôn môi đồng giới.v.v. là lập tức được dư luận chú ý. Hình ảnh được lên trang nhất, nơi mà báo chí lá cải đang thống trị, băng đĩa bán chạy và có thể thêm hàng ngàn người hâm mộ. Ví dụ gần đây nhất là “bà Tưng”. Mỗi video clip uốn éo của “bà” kèm vài lời giảng giải nhảm nhí liên quan tới tình dục có hàng trăm ngàn lượt truy cập. Facebook của “bà” trong vài ngày đã đầy ắp với cả chục ngàn “like”. Như vậy, để nổi tiếng theo cách tìm kiếm trên, có lẽ không quá khó. Chỉ cần 1 chút can đảm để ra tay cứu độ trong 1 vụ tai nạn giao thông, hay chút hớ hênh của một nhan sắc. Và, trong vô vàn cách thức mà người ta bày vẽ cho nhau – qua tra cứu trên mạng – tuyệt nhiên không có cách nào nói tới hoạt động dân chủ hay cổ vũ cho dân chủ để nổi tiếng. Vậy ít nhất, cho tới nay, dân chủ chưa phải là một lựa chọn để nổi tiếng. Nếu có, hẳn các ‘chú’ dư luận viên đã phải vạch vòi ra rồi, và nó phải hiện hữu qua sự tra cứu, ít ra là với dăm ba kết quả. Nghề của chàng, “không” còn nói được thành “có”, huống chi đã có chút ít lại không thổi phồng lên được, không chỉ mặt vạch tên ra được. Thử giải bài toán Vậy tại sao không tìm được một bài viết, một đoạn tin – dù của dư luận viên- với cụm từ “hoạt động dân chủ để nổi tiếng“. Để tìm hiểu vấn đề này, xin thử nhìn vào thực trạng một số nhà bất đồng chính kiến hiện nay tại Việt Nam để tính xem họ “lời” hay “lỗ” qua những hoạt động của mình. Phạm Hồng Sơn: Ông tốt nghiệp đại học y khoa Hà Nội từ đầu những năm 90s. Nếu không vướng vòng lao lý với 5 năm tù và 3 năm quản chế, có thể giờ này ông đang là bác sĩ tại một bệnh viện nào đó ở Hà Nội. Thu nhập của 1 bác sĩ loàng xoàng cũng đôi chục triệu, giỏi về mổ xẻ có thể tới cả 100 triệu/ tháng. Nhưng sau khi ra tù, Phạm Hồng Sơn ngồi nhà (không có gà mà đuổi). Nguyễn Văn Đài, Lê Quốc Quân, Lê Thị Công Nhân, Lê Công Định, Cù Huy Hà Vũ, Lê Trần Luật… đều có thể yên vị với một văn phòng luật và cuộc sống gia đình no đủ. Nhưng họ đã vào tù ra khám và bị xã hội đẩy ra rìa vì những đòi hỏi dân chủ của mình. Trần Huỳnh Duy Thức, một doanh nhân sáng giá trong ngành Viễn thông – ngành hốt bạc trong những năm qua – đang bóc lịch 16 năm tù. Điểm qua vài cô gái. Phương Uyên, Minh Hạnh – 2 người đáng ra đang cắp sách tới giảng đường hoặc khoác tay người yêu dạo phố – giờ chịu cảnh héo mòn trong nhà tù. Huỳnh Thục Vy, một cô gái xinh xắn, gương mặt khả ái, cổ cao, da trắng ngần, số đo lý tưởng 1m68, nặng 51kg có thể tìm kiếm công danh sự nghiệp bằng con đường hoa khôi hay người mẫu để rồi tay trong tay với một đại gia. Bây giờ Vy luôn sống trong sự o ép, công việc cũng khó lòng xin nổi, du học chưa chắc đã được dù Anh ngữ của cô có khá đến mấy đi nữa. Phạm Thanh Nghiên được gì sau mấy năm tù ngoài cái vọng gác lúc nào cũng lù lù ngoài cổng? Và còn rất nhiều các ví dụ khác nữa. Nó đủ khiến cho những người có một trí óc bình thường, nếu muốn tìm kiếm sự nổi tiếng, phải lựa chọn một phương thức khác, ngon ăn hơn, để nếu không thành công cũng không thiệt hại tới bản thân và gia đình. Còn những kẻ cơ hội? Ở phần tranh luận, nhiều bạn nhắc tới những nhà dân chủ giả hiệu, cơ hội hay ‘chim mồi’ của chính quyền. Nói cho ngay, trong cuộc sống hay bất kỳ cuộc cách mạng nào cũng đều có những kẻ cơ hội – những người dường như luôn xuất hiện vào lúc sắp ‘phá cỗ’. Cuộc vận động dân chủ cũng không phải là một ngoại lệ. Một lúc nào đó, khi những nhà độc tài cộng sản ôm của cải rời khỏi con tầu sắp đắm, thì rất có thể, những nhà dân chủ sẽ mọc ra nhiều như nấm sau cơn mưa. Nhưng lúc này, có lẽ còn quá sớm để những kẻ cơ hội xuất hiện, khi mà mới đây, chỉ trong vòng 1 tháng, nhà nước Việt Nam đã bắt giam 3 người; và theo thống kê của tổ chức Phóng viên không Biên giới, có ít nhất 35 người đang bị giam cầm với những bản án năm sau thường cao hơn những năm trước. Sự góp mặt (nếu có) của những nhà dân chủ cuội trong phong trào dân chủ hiện nay hay vào màn chót của cuộc cách mạng Dân chủ sau này cũng không có gì đáng lo ngại như một số người đặt ra. Lịch sử cho thấy, khi chế độ Apartheid sụp đổ, thì người lên nắm quyền là Nelson Madela, người đã trải qua 27 năm trong lao tù. Ở Ba Lan là ông thợ điện cả chục năm tranh đấu trong Công Đoàn Đoàn Kết (Solidarność) – Lech Walesa. Ở Séc là Václav Havel, cựu tù nhân chính trị, người đã khởi xướng hiến chương 77. Và ở Miến Điện, nếu sức khỏe và tuổi tác còn cho phép, Aung San Suu Kyi rất có thể trở thành Tổng thống của nền dân chủ đa đảng. Ngày nay, với sự có mặt của Internet, mọi thông tin, hình ảnh, sự kiện, lời nói, câu chữ đều được phơi bày một cách tức thời và minh bạch. Bây giờ không phải là thời mà người này vác đạn để người kia đi báo cáo thành tích, hay tranh cãi cả thập niên về người cắm cờ trên Dinh Độc Lập nữa. Thiết nghĩ, nếu bạn tranh đấu với một cái tâm trong sáng thì chẳng có gì phải ngần ngại, dù có bị ngờ vực đi nữa, thời gian sẽ là câu trả lời. Mặt khác, nếu không có một bằng chứng rõ ràng, thì cũng không nên phát biểu vu vơ mà vô tình có thể xúc phạm tới những người đang dấn thân. Phần tiếp: Tranh đấu từ bức xúc cá nhân, tại sao không? Nguồn: danchimviet.info/
......

34 Dân Biểu Liên Hiệp Âu Châu lên tiếng cho nhân quyền Việt Nam

Baroness Catherine Ashton of Upholland Phó Chủ Tịch/ Đại diện Cao cấp Liên minh Châu Âu, phụ trách Ngoại giao và Chính sách An ninh Sở Ngoại Vụ Âu Châu 1046 Brussels Vương Quốc Bỉ CC: Karel De Gucht 1049 Brussels Ủy Viên Giao Thương Vương Quốc Bỉ Brussels, ngày 11 tháng 7, 2013 Chúng tôi viết thư này để chia sẻ mối quan tâm về tình trạng nhân quyền ngày càng tồi tệ tại Việt Nam. Trong năm nay có khoảng 50 nhà bảo vệ nhân quyền và nhà đấu tranh dân chủ bị kết án và bị tù tội. Họ đã phải hứng chịu việc bị giam giữ tùy tiện, đe dọa, thẩm vấn và bị tước đoạt quyền hạn về luật pháp. Nhà cầm quyền vẫn tiếp tục giới hạn quyền thực thi tôn giáo và cấm đoán các tổ chức tôn giáo độc lập. Các chức sắc của nhiều nhóm tôn giáo tại Việt Nam đang bị buộc phải từ bỏ niềm tin, tài sản cơ sở tôn giáo bị tịch thu hoặc bị đập phá, và trong một số trường hợp, họ bị bỏ tù. Gần đây chúng tôi chứng kiến tình trạng bắt giữ các bloggers gia tăng. Mặc dầu có nhiều lời kêu gọi từ cộng đồng thế giới, ngay cả Quốc Hội Âu Châu, nhà cầm quyền Việt Nam vẫn tiếp tục giới hạn quyền tự do ngôn luận và kiểm duyệt mạng. Họ nhắm tấn công các hoạt động trên mạng bằng cách phát tán mã độc để theo dõi cư dân mạng, ngăn cản truy cập vào các trang mạng, và bảo kê cho các cuộc tấn công vào các trang mạng tiếng Việt nằm bên ngoài Việt Nam. Quốc gia này đang chứng kiến một sự đổ vỡ về pháp trị. Các nhà đấu tranh cho nhân quyền bị bắt giữ dựa vào những cáo buộc mơ hồ, và thường là dựa vào các điều luật hình sự liên hệ đến "lật đổ chính quyền nhân dân", "tuyên truyền chống đối nhà nước". Ngoài ra, luật pháp Việt Nam cho phép "giam giữ hành chính" mà không cần đem ra xét xử. Đã có những trường hợp mà chính quyền cáo buộc các nhà đối kháng tên tuổi với những tội danh phi chính trị, thí dụ như "trốn thuế". Ủy Ban Điều Tra về Bắt Giữ Tùy Tiện của Liên Hiệp Quốc đã phán xét là việc bắt giữ và giam cầm các nhà hoạt động chính trị, kể cả thành viên của Việt Tân, là vi phạm điều luật quốc tế. Với tình trạng trên, chúng tôi yêu cầu Bà làm những điều sau đây: 1) Kêu gọi trả tự do cho các tù nhân chính trị, bao gồm Luật sư Cù Huy Hà Vũ và Luật sư Lê Quốc Quân; blogger Điếu Cày, Tạ Phong Tần và Paulus Lê Sơn; nhà đấu tranh dân oan Trần Thị Thúy; nhạc sĩ Việt Khang; tác giả Vi Đức Hồi; Mục sư Dương Kim Khải, Mục sư Nguyễn Công Chính và Hòa Thượng Thích Quảng Độ; sinh viên Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha; và những nhà hoạt động nhân quyền bị kết án trong những năm gần đây, và đặc biệt là từ đầu năm nay. 2) Cổ xúy vai trò tích cực hơn cho EU trong việc hỗ trợ xã hội dân sự tại Việt Nam. Phái đoàn đại diện EU tại Việt Nam nên tiếp tục gặp gỡ và hỗ trợ những tổ chức quần chúng thuần túy, đặc biệt là các nhóm nhằm cải tổ xã hội và luật pháp, dân chủ và nhân quyền. Ngoài ra, gặp gỡ các nhà hoạt động nhân quyền và gia đình họ, cũng như đi thăm những ai đang bị giam cầm là điều hết sức quan trọng. 3) Nhấn mạnh với nhà cầm quyền Việt Nam phải thi hành cải tổ luật pháp và hủy bỏ các điều lệ trong bộ Luật Hình Sự từng được sử dụng để giam cầm các nhà hoạt động nhân quyền. Hơn thế, cần nhấn mạnh với nhà cầm quyền Việt Nam phải ra điều luật bảo vệ quyền biểu tình ôn hòa, tụ họp, thực thi tự do ngôn luận, và được thành lập tổ chức chính trị và xã hội. Cuối cùng, vấn đề các luật sư nhân quyền bị tước quyền hành nghề cần được nêu lên. 4) Xa hơn nữa, cột các quan tâm nhân quyền vào các thương thảo với Việt Nam: nhấn mạnh yếu tố cải thiện nhân quyền trước khi có phái đoàn cao cấp đến Việt Nam, đưa các vấn đề nêu trên vào các cuộc đối thoại nhân quyền EU-Việt Nam và lập lại điều kiện nhân quyền của quan hệ ngoại giao EU, luôn cả giao thương, với các quốc gia thứ ba. -------- [1] Nghị quyết Quốc Hội Âu Châu ngày 18 tháng Tư, 2013 về Việt Nam, đặc biệt về tự do ngôn luận. [2] EU nên tôn trọng lời cam kết vào ngày 25 tháng Sáu 2012 trong bản Khung Sườn Chiến Lược và Kế Họach Hành Động về Nhân Quyền và Dân Chủ, đặt vấn đề nhân quyền vào tất cả chính sách bên ngoài, kể cả giao thương. Việc thực thi Khung Sườn Chiến Lược và Kế Họach Hành Động về Nhân Quyền và Dân Chủ cần được duyệt xét, do đó, cũng trong khuôn khổ quan hệ EU-Việt Nam và phản ảnh phần thứ hai của bản Báo Cáo EU Hàng Năm về Nhân Quyền và Dân Chủ trên Thế giới sẽ được phát hành vào tháng 9 năm 2013. Trân trọng, Thành viên Quốc Hội Âu Châu Graham Watson Ramon Tremosa i Balcells Justina Vitkauskaite Bernard Sarah Ludford Konrad Szymanski Nils Torvalds Chris Davies Norica Nicolai Edward McMillan-Scot Marian Harkin Charles Tannock László Tõkés Christiana Muscardini Nicole Kiil-Nielsen Jean Lambert Niccolò Rinaldi Ivo Vajgl Bernd Posselt Hans Van Baalen Emilio Menéndez del Valle Tunne Kelam Renate Weber Jorg Leichtfried Giommaria Uggias Ana Maria Gomes Marietje Schaake Kristiina Ojuland Jelko Kacin Keonidas Donskis Reinhard Hans Butikofer Cristian Dan Preda Bastiaan Belder Iuliu Winkler Alexander Lambsdorff (Bản dịch của BBT-WebVT) http://viettan.org/34-DB-Quoc-hoi-Au-Chau-len-tieng.html
......

Người Việt ở Âu Châu

Tôi đi không nhiều nơi, không gặp nhiều người lắm. Nên bài viết này không khái quát hết toàn bộ người Việt ở Châu Âu. Chỉ một góc hẹp trong số những người tôi gặp. Người Việt sang Châu Âu rất đa dạng , đi học, đi làm, và di tản. Người di tản thường là người miền Nam đi hồi năm 1975 bằng con đường vượt biển, họ được tàu Châu Âu cứu và theo tàu của nước cứu về định cư tại nước đó. Có nước dùng riêng cả một con tàu lang thang ngoài biển Đông xem có người Việt vượt biên không để cứu vớt. Cá biệt có số người miền Nam VNCH đi học thời đó và khi chiến tranh xảy ra họ ở lại luôn không về nữa. Nhiều gia đình người Việt di tản là người gốc Bắc di cư vào Nam năm 1954. Ở những gia đình này tiếng Việt thuần khiết cũng như các phong tục, lề thói được giữ gìn một cách trang nghiêm, nền nếp đến đời thứ ba. Ở Bremen tôi được ăn những bát bún thang của một bà mẹ hơn 80 tuổi,người phố Hàng vải cũ. Bát bún của bà làm tôi ngạc nhiên bởi nước dùng trong vắt và ngọt thơm, một bát bún hương vị đặc biệt của Hà Nội không lẫn tạp. Chỉ tiếc điều sợi bún làm từ bún khô chứ không phải bún tươi. Những người trong gia đình này đối xử với nhau ân cần, lễ độ , trên dưới một cách rất Hà Nội cũ. Rất nhiều người Việt già di cư năm 1975 vẫn đi làm, ở tuổi 80 hay thậm chí hơn họ vẫn chăm chỉ kiếm việc nào phù hợp với mình. Ở Oslo tại một nhà đôi vợ chồng già người Bắc di cư năm 54, thức dậy lúc 7 giờ sáng tôi ngạc nhiên thấy trong nhà không có ai. Cả hai ông bà đều đi từ lúc nào, chỉ có mảnh giấy ghi lại lời dặn thức ăn để trong tủ lạnh và chìa khóa nhà nằm trên mẩu giấy. Những đôi vợ chồng gia đã sống qua bao nhiêu biến động, chia ly, tù đày, vượt biển ấy sống rất ân cần với nhau. Nhìn cái cách mà họ nói chuyện, cư xử với nhau tôi không hình dung được ở họ đã có những quãng thời gian chia ly đầy khắc nghiệt mà giờ khó có đôi vợ chồng nào ở Việt Nam có thể chịu đựng được. Những người đàn ông đi cải tạo bao nhiêu năm dài đằng đẵng xứ Bắc. Người vợ ở miền Nam vừa tần tảo nuôi con, vừa tiếp tế cho chồng nơi xa tít tắp. Ở nơi đây họ sống yên bình, đi làm, về nấu nướng chăm sóc nhà cửa, nghe tin tức Việt Nam với vẻ buồn da diết vì những chuyện thương tâm xảy ra liên miên. Người già miền Nam dù rất tế nhị, nhưng tôi vẫn thấy sự khó chịu của họ với tôi khi họ thấy tôi là người Bắc . Chỉ một số ít đọc những gì tôi viết thì họ không thế. Còn lại đa số họ có vẻ không ưa tôi. Thậm chí gặp những lời khá gay gắt tôi cúi đầu nhẫn nhịn vâng dạ chịu trận, họ nói tôi như chính tôi là những người đã tiến vào miền Nam năm 1975 và đẩy họ phải ly hương. Tôi không có thói quen giới thiệu về mình, mà có giới thiệu tôi thường nói mình là một tay lưu manh. Bởi vậy tôi thích gặp người Việt gốc Bắc di cư năm 54 hơn, vì ở họ tôi thấy gần gũi, thấy thân thiết và dễ đồng cảm hơn. Những người là quân nhân của quân lực VNCH vẫn tha thiết với chế độ mà họ đã sống, thế nhưng họ hầu như chẳng đọc tin tức gì về Việt Nam ngày nay. Sinh hoạt của họ một năm gặp nhau vài lần, ôn chuyện cũ, gói gọn chỉ có vậy. Ở một số người miền Nam khác thì họ có đọc đôi chút, nhưng họ chỉ nhắc tới, quan tâm tới những người đấu tranh dân chủ là người miền Nam. Còn đâu họ không biết gì về những người đấu tranh miền Bắc, hoặc có thể họ không tin, không thích nhắc đến. Những người Việt gốc Bắc đi học trước năm 1990 cũng khá dễ chịu, họ là những người hiểu biết, có kiến thức, có cái nhìn tương đối chính xác về thực trạng hiện tại ở quê hương. Sống với họ thật dễ chịu hơn cả những gia đình người Việt gốc Bắc đi năm 54. Đơn giản chỉ vì họ trẻ hơn, mình có thể tuềnh toàng văng một câu chửi bậy, nói to một chút mà không phải e ngại. Người Việt gốc Bắc đi học trước 1990 có cái hay là ở vị trí của một người trí thức, nhưng họ rất hiểu đời sống Việt Nam, kể cả cách sống của giới giang hồ. Cho nên họ đối xử rất khoáng đạt không cần câu nệ lắm. Còn người Việt đi lao động, đi học sau này thì thật hiếm hoi tìm thấy người có quan tâm đến đất nước theo kiểu "lề trái''. Hầu hết tất cả trong số họ đều còn rất nhiều thứ liên quan ở Việt Nam, liên đới với đại sứ quán. Một số hiếm hoi trong họ còn sự phẫn nộ với hành động Trung Quốc chiếm biển đảo của Việt Nam, đa còn lại phần chỉ chăm chút kiếm tiền, vun vén cuộc sống gia đình. Ở những người này thì tình trạng cũng y hệt giới tương tự với họ ở Việt Nam. Một lứa trẻ hơn những thanh niên ở tuổi 20 đến 30 người Việt gốc Bắc, họ bê nguyên xi lối sống ở Việt Nam sang đây, co cụm lại ở một nơi như chợ Đồng Xuân, Sa Pa. Những cô gái vùng quê giờ nhuộm tóc, xăm hình, mỹ phẩm cong cớn bê đồ cho khách. Những chàng trai xăm trổ rồng phượng, đầu tóc đủ loại ngỗ ngược nói chuyện bằng những câu văng tục, họ kể về cuộc ăn chơi tối qua thác loạn ra sao, hết mấy nghìn đồng. Cái cách họ kể đầy tự hào như một chiến tích về cuộc thác loạn rượu, gái, thuốc lắc một cách sôi nổi tự nhiên. Một số sinh viên đi học sống hiền lành và khiêm nhường , họ chăm chỉ vào việc học và kiếm thêm tiền để chi tiêu, những người này sống khá trầm lặng bởi chương trình học của họ. Hóa ra mấy triệu người Việt ở hải ngoại, không phải tất cả là những người quan tâm đến đất nước như ta gọi tế nhị là "'lề trái". Cũng như ở Việt Nam, nhiều người trong số họ sống hưởng thụ, ăn chơi, kiếm tiền gửi về cho người thân, thỉnh thoảng tham gia vài chương trình do sứ quán kêu gọi để lấy quan hệ thân thiện. Chẳng có gì khác biệt với trong nước. Thậm chí là cả những người Việt tị nạn năm 1975, nhiều người trong số họ giờ sống an phận né tránh những điều gì khiến chính quyền Việt Nam không hài lòng, và tranh thủ có những dịp gì khiến chính quyền hài lòng thì tham gia. Y hệt trong nước, những người có tiền được khuyến khích từ đại sứ là thôi giờ đất nước đã ổn định rồi, có lòng với quê hương thì đóng góp từ thiện, quan tâm ba cái chuyện chính trị làm gì. Đại khái là đừng tham gia những chuyện mà chính quyền Việt Nam không ưa, cứ kiếm tiền rồi về Việt Nam tiêu, gửi về cho người thân, đóng góp từ thiện là cách hay nhất, an toàn nhất. Số người Việt ở Châu Âu đa phần theo xu hướng sống này, nó cũng là bản chất chung của người Việt mấy chục năm gần đây ở trong nước. Thế mới biết không đi thì không biết, trước đây cứ nghĩ người Việt hải ngoại "lề trái " nhiều lắm. Giờ mới biết con số đó không nhiều. Và những người đó chẳng giàu có gì, các đại gia có tiền thì họ chả tham gia hay quan tâm đến chính trị làm gì, họ lấy quan hệ tốt với đại sứ để còn về nước ăn chơi, tậu đât đai. Những người hải ngoại quan tâm đến "lề trái " thường là những người bình thường, cặm cụi đi làm quần quật, họ dành dụm phần tiền nào đó để giúp đỡ cho gia đình những người bị bắt trong nước, hay những người bị khó khăn vì có hành vi , lời nói mà nhà nước Việt Nam gọi là "phản động''. Một điều cảm động là họ có khi chả nằm trong tổ chức, đảng phái nào. Chỉ vài gia đình sống gần nhau, cuối tuần gặp nói chuyện quê nhà, thấy ai ở trong nước khó khăn, mỗi người họ bỏ ra vài chục đồng gom lại gửi trực tiếp về. Họ cứ làm âm thầm ròng rã như vậy từ năm này qua năm khác mặc dù họ chả giàu có gì, ở tuổi ngoài 80 họ vẫn cặm cụi đi làm vệ sinh ở nhà hàng, rửa bát quán ăn. Tóm lại thì chuyện đấu tranh, dân chủ thì bên ngoài hải ngoại, chẳng phải ai cũng quan tâm đến. Phần lớn cũng muốn an phận, giữ hòa khí với chính quyền, thậm chí nhiều người dù ở bên ngoài vẫn còn sợ chính quyền Việt Nam, thỉnh thoảng mon men ra đại sứ quà cáp, biếu xén lấy tình cảm. Dân Vệ chỉ thế thôi, đi đâu cũng vẫn thế. Nguồn: Blog Người Buôn Gió
......

Văn kiện đầu hàng

Chưa bao giờ có sự đầu hàng nhanh chóng và nhục nhã đến như vậy. Nhân danh Chủ tịch nước, ông Trương Tấn Sang, đã dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sang thăm chính thức Trung Quốc. Ngày 21 tháng 6 ông đã ký với Chủ tịch nước kiêm Tổng Bí thư đảng CS Trung Quốc Tập Cận Bình bản Tuyên bố chung rất quan trọng, liên quan trực tiếp đến vận mệnh nước ta. Bản Tuyên bố chung bằng hai thứ tiếng Trung Quốc và Việt Nam này đã được dịch ra nhiều thứ tiếng khác và phố biến đi khắp thế giới. Mọi người Việt Nam yêu nước không thể không bàng hoàng và phẫn nộ khi đọc kỹ văn kiện nói trên, không thể không nhận định đây là một văn kiện tuyên bố đầu hàng bọn bành trướng và xâm lược phương Bắc. Chắn chắn cả Bộ Chính trị 16 người đã được thông báo và đồng tình với bản Tuyên bố chung (TBC) thảm hại này.     Đọc thật kỹ bản TBC, có thể dễ dàng nhận ra nó được phía Trung Quốc khởi thảo và phía Việt Nam hoàn toàn không được đóng góp hay thay đổi gì hết. Bản TBC hoàn toàn phản ánh tham vọng bành trướng và xâm lược của đế quốc Cộng sản Đại Hán Trung Hoa đối với đất nước Việt Nam, phục vụ dã tâm biến nhà nước Việt Nam Cộng sản thành một chư hầu của Trung Quốc, biến Việt Nam thành một thuộc địa kiểu mới của Trung Quốc, với sự tiếp tay của nhóm lãnh đạo CS bất tài và tham nhũng đã thoái hóa đến cùng cực.   Kính mời đồng bào ta ở trong nước và nước ngoài, kể cả các đảng viên Cộng sản, hãy đọc cho kỹ bản TBC ký chưa ráo mực này. Ngoài bản TBC dài lòng thòng gồm có 8 điểm, trong đó riêng điểm 3 chứa đựng đến 13 mục quan hệ hợp tác vừa mở rộng vừa ăn sâu, 2 bên còn ký đến 10 văn kiện khác, trong đó có Chương trình hoạt động chung của chính phủ 2 nước, Thỏa thuận hợp tác chiến lược toàn diện giữa bộ Quốc phòng 2 nước, Thỏa thuận giữa 2 bộ Nông nghiệp về đường dây nóng trong nghề đánh cá trên biển, về giám sát chất lượng, kiểm dịch thực vật, Điều lệ hợp tác quản lý cửa khẩu trên đất liền, Ghi nhớ về xây dựng các trung tâm Văn hóa Việt – Trung, Quan hệ giữa các tổ chức hữu nghị, Hợp tác trong thăm dò dầu khí ngoài khơi Vịnh Bắc Bộ.… Trong 13 mục quan hệ mở rộng và ăn sâu, sau khi khẳng định phương châm 16 chữ vàng và 4 tốt, TBC kể ra một loạt thỏa thuận : thường xuyên tiếp xúc ở cấp cao đảng, chính phủ, hoạt động của Ủy ban chỉ đạo hợp tác chiến lược toàn diện song phương, quan hệ chặt chẽ giữa 2 đảng, 2 ban Đối ngoại, 2 ban Tuyên huấn, về ngiên cứu lý luận, về xây dựng đảng, quan hệ giữa 2 bộ Ngoại giao, giữa các vụ, cục trong 2 bộ Ngoại giao, quan hệ giữa 2 quân đội, 2 bộ Quốc phòng, trao đổi về công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội, trong đào tạo sỹ quan, trong tuần tra chung ở vùng biên phòng đất liền, hợp tác về thực thi pháp luật, an ninh, về trật tự an toàn xã hội, về an ninh biên giới và cảnh sát biển, thực hiện kế hoạch  2 hành lang 1 vành đai vùng biên giới, hợp tác về năng lượng, giao thông vận tải, đầu tư kinh doanh, hợp tác về văn hóa, khoa học, công nghiệp và thông tin … Bản TBC còn nhấn mạnh đến mối quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa 7 tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam với 3 tỉnh biên giới phía Nam Trung Quốc - Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông - và đảo Hải Nam. TBC cũng nói đến hợp tác của Ủy ban Liên hợp biên giới Việt – Trung để tàu thuyền đi lại tự do trong khu Bắc Luân, hợp tác khai thác du lịch thác Bản Giốc, và cũng không quên nói đến hợp tác đáng cá chung trong Vịnh Bắc Bộ. Đọc kỹ các văn bản, có cảm giác như Việt Nam đã hội nhập vào trong lòng Trung Quốc. Tuy 2 mà một. Hoà nhập triệt để về mọi mặt, đặc biệt là về quốc phòng, về đối ngoại, về an ninh, trị an xã hội, về đảng, nhà nước, về quân đội, về công tác đảng, bảo vệ đảng, bảo vệ quân đội. Cứ như ở thời kỳ quan hệ anh em đồng chí bền chặt nhất vậy. Đây phải chăng là một cạm bẫy do nhóm lãnh đạo mới của đảng CS Trung Quốc, với Tập Cận Bình cầm đầu, giăng ra để nhử Trương Tấn Sang chui vào tròng. Chiếc bẫy này chắc chắn đã được chuẩn bị rất công phu, và buộc Trương Tấn Sang phải cúi đầu chấp nhận cả gói, không sửa đổi du di gì được dù một ly. Không hề có một chữ nào về Hoàng Sa, Trường Sa là đất Việt Nam bị cưỡng chiếm bằng vũ lực. Không một yêu cầu nào về việc bảo vệ tính mạng tài sản của ngư dân VN trong vùng biển quốc gia của mình. Không một lời bác bỏ nào đối với cái lưỡi bò phạm pháp trên bản đồ Trung Quốc. Chủ quyền quốc gia đã bị hoàn toàn từ bỏ. Lũ giặc bành trướng được coi là bạn bè thân thiết nhất, là đồng chí tin cậy nhất, còn hơn anh em ruột thịt. Đây có thể là phản ứng có tính toán của nhóm Tập Cận Bình đối với lời lên án của Việt nam tại cuộc họp Shangri La ở Singapore cuối tháng 5 vừa qua. Tuy chỉ là lời nói bóng gió, không nêu đích danh, nhưng cũng đủ để bị chạm nọc, để mất mặt giữa trường quốc tế và để nổi tự ái giận dữ. Đó là câu của thủ tướng Ba Dũng: «Đâu đó đã có những biểu hiện đề cao sức mạnh đơn phương, những đòi hỏi phi lý, những hành động trái với luật pháp quốc tế, mang tính áp đặt và chính trị cường quyền». Đã nhún nhường, nói xa xôi, nhưng vẫn cay đắng, vì bọn trùm bành trướng luôn kiêu ngạo, tự cao tự đại, tự coi là yêng hùng trong thiên hạ. Trung Nam Hải gần đây tỏ ra rất lo ngại khi trí thức và tuổi trẻ Việt Nam cũng như một số đảng viên CS lão thành tỏ rõ ý muốn Việt Nam liên minh quân sự với Hoa Kỳ, Ấn Độ, Nhật Bản, Liên Âu…trước mối đại họa bành trướng Trung Quốc.   Cũng có thể đây là một tính toán thâm độc của Trung Nam Hải, nhưng cũng có thể là một tính toán sai lầm trong cơn hoảng hốt. Họ không tính rằng sự lộ mặt quá lộ liễu là ông chủ của 16 ông vua tập thể ở Ba Đình là dại dột và nguy hiểm cho họ ra sao. Nước cờ này sẽ đẩy đảng CS Việt Nam đang núng thế thụt sâu thêm xuống hố suy thoái, bị lên án mạnh thêm là bán nước cầu lợi riêng, chia rẽ thêm nhóm lãnh đạo vốn đã hiềm khích nhau, kích thích mạnh thêm các cuộc xuống đường quyết liệt chống bành trướng và tay sai của đồng bào ta. Nguồn: Blog / Bùi Tín /VOA  
......

Việt Tân không chấp nhận thể chế độc tài

Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân trả lời phỏng vấn của BBC về hoạt động của đảng Việt Tân BBC Đang có sự liên kết ngày càng tăng giữa các nhóm đấu tranh chống Đảng Cộng sản ở trong và ngoài nước, theo Tiến sỹ Nguyễn Quốc Quân, nhà hoạt động dân chủ ở hải ngoại, thành viên trung ương Đảng Việt Tân. Trả lời phỏng vấn BBC tại London hôm 25/6/2013, ông Quân cũng trả lời các câu hỏi quanh nghi ngờ về việc rò rỉ thông tin cũng như 'nội gián' trong lòng tổ chức chính trị đặt văn phòng ở Mỹ. Mở đầu cuộc phỏng vấn, Tiến sĩ Quân, người từng bị bắt giữ hai lần khi hoạt động ở Việt Nam trong các năm 2007 và 2012, bình luận và đánh giá tình hình chính trị ở Việt Nam sau khi gần đây diễn ra các vụ bắt giữ, câu lưu với một số blogger, nhà bất đồng chính kiến trong nước.   TS Nguyễn Quốc Quân: Tôi nhận thấy những việc bắt bớ vừa qua có hai đặc điểm. Đặc điểm thứ nhất là khá đồng loạt sau những vụ xử án rất là nặng và thứ hai nữa là khá dồn dập. "Theo tôi nghĩ có sự thay đổi, nó biểu hiện phần nào, nói hơi quá, sự hoảng loạn của chính quyền Việt Nam hiện thời. Thứ hai, nói lên sự không sợ của những người trí thức cũng như người dân bình thường trong nước." TS. Nguyễn Quốc Quân Theo tôi nghĩ có sự thay đổi, nó biểu hiện phần nào, nói hơi quá, sự hoảng loạn của chính quyền Việt Nam hiện thời. Thứ hai, nói lên sự không sợ của những người trí thức cũng như người dân bình thường trong nước. BBC: Đảng Việt Tân hiện bảo vệ các dữ liệu và tránh xâm nhập các dữ liệu ra sao, nhất là đảm bảo an toàn mạng trước khả năng thâm nhập hệ dữ liệu về đảng viên, hay thông tin về các hoạt động quan trọng, theo ý kiến riêng của ông? Vấn đề bảo đảm dữ liệu quan trọng đó là một trong những vấn đề rất được quan tâm ở trong đảng Việt Tân. Đặc biệt là các giữ liệu về nhân thân của các Đảng viên. Quả thực vừa rồi khi tôi đi về, tôi có đem theo laptop, nếu quý vị có nhìn thấy họ bảo rằng họ tìm thấy trong laptop của tôi tài liệu đấu tranh bất bạo động, hoặc là vân vân. Có vẻ như là sự giữ gìn dữ liệu trong máy vi tính nó có vẻ hơi yếu. Nhưng mà thực sự ra đó là một cách thử tôi xem thử coi cái khả năng kỹ thuật của Công an Việt Nam về vấn đề đào những tài liệu, dữ liệu trong máy vi tính ở mức độ nào. Chúng tôi có năm tầng. Riêng trong máy của tôi có năm tầng, nhưng họ chỉ được tầng thứ nhất và tầng thứ nhì mà thôi. Điều thứ hai là trong đảng Việt Tân có phương pháp gọi là phân cấp thông tin. Nghĩa là ở một ông cấp độ nhất định, thì chỉ có thể biết được một loại thông tin nhất định. Thứ hai nữa là phân nhỏ thông tin. Nghĩa là một người ở vị trí cao nhất cũng không thể nào biết được toàn bộ thông tin. Đó là một trong những cách để bảo vệ. Do đó, nếu tôi có bị bắt giữ đi chăng nữa, và gặp phải trường hợp tra khảo dữ dội như thế nào, tôi nghĩ họ cũng chỉ biết được một phần rất nhỏ của thông tin, đặc biệt của những người trong nước. 'Rò rỉ thông tin?' BBC: Có ‎ý kiến nói Việt Tân có rò rỉ thông tin, do đó nhiều Đảng viên của Đảng ông khi về Việt Nam liền bị bắt, ông bình luận thế nào về ‎ý kiến này? Nếu so sánh số lượng người Việt Tân bị bắt qua quá trình công tác rất dài, thì chúng ta thấy rằng chỉ có một vài trường hợp thôi. Chẳng hạn như trong trường hợp của tôi, tôi về Việt Nam rất nhiều lần, trong khi họ chỉ bắt được tôi vào năm 2007 và 2012. Rồi có những trường hợp như phát mũ nón ở trên cầu Thê Húc, rồi giữa Thủ đô Thăng Long, chúng tôi đã ứng dụng một số phương tiên thông tin nhanh nhậy, một số phương pháp, vừa là để cho cùng chia sẻ những gian nan của đảng viên trong nước, cũng như đồng bào trong nước, mà vừa là để xem thử sự nhạy bén, sự hợp tác của quần chúng xung quanh với công an, Việt Cộng như thế nào. Nó thể hiện rằng công an Việt Nam, cũng như nhà nước Việt Nam không còn được sự hỗ trợ của người dân nữa. Do đó, nhiều công việc ở trong nước, họ sẽ bị bất lực dưới tai mắt của nhân dân đã không còn đứng về phía của chính quyền. BBC: Trong dư luận, kể cả ở hải ngoại, có ‎ý kiến đặt vấn đề nói rằng Việt Tân là một tổ chức do ai đó lập nên để mang lại lợi thế, giúp biện minh cho duy trì quyền lực của Đảng Cộng sản Việt Nam, thậm chí có người nói trong Việt Tân có hiện tượng bị “an ninh”, “công an mật” cài vào? Thứ nhất, hãy xem thử hành động của một tổ chức hay một con người nào đó để biết, coi coi họ đứng về phía nào. Tất cả những việc làm của đảng Việt Tân vẫn là chống chế độ độc tài. Do đó mà nếu đảng Cộng sản còn giữ nguyên đó, thì thể chế độc tài sẽ là sự đối đầu đương nhiên của nhiều tổ chức khác nhau, trong đó có Việt Tân. "Sự liên kết đó không nhất thiết phải nhất thống trong một tổ chức mà liên kết hướng về mục tiêu. Và chúng ta cùng bước với nhau, để thực hiện điều đó." TS. Nguyễn Quốc Quân Thứ hai nữa về chuyện cài đặt, tại sao lại không đặt một câu hỏi ngược trở lại, chính trong Quốc hội, chính trong một số cơ quan của nhà nước Việt Cộng vẫn có những người rất đồng ý với quan niệm đấu tranh của đảng Việt Tân, hoặc là chính đó là đảng viên Việt Tân. Dĩ nhiên, chúng tôi cũng không chủ quan đến nỗi trong Việt Tân không có những người cài đặt vào, nhưng họ cài đặt ở mức độ nào, và họ biết được bao nhiêu thông tin? Tôi tin rằng chắc chắn họ chỉ ở mức độ đảng viên bình thường, và họ không thể có bất cứ một loại thông tin nào cần thiết cho cuộc đấu tranh. BBC: Việt Tân bị chính phủ Việt Nam xếp loại là tổ chức khủng bố, ông tự bảo vệ ra sao trước quan điểm này? Thực sự ra, đảng Việt Tân cũng không cần phải tự bảo vệ. Vì chính quốc tế đã trở lời câu hỏi đó. Và thực sự chính nhà nước Việt Nam hiện giờ cũng cảm thấy sự ghép, sự úp chụp về việc 'khủng bố' của đảng Việt Tân nói riêng và một số đảng khác nói chung, thì điều đó nó cũng đã vô lý. Do đó mà họ đã nhiều lần úp chụp cho ngay chính trường hợp của tôi về 'tội khủng bố', nhưng mà chỉ cần một, hai tháng sau đó, phải đổi thành ra một tội danh khác vì nó rất là trơ trẽn và vô lý, không ai có thể tin được. 'Cơ chế công bằng' BBC: Thưa ông, giả sử trong tương lai, Việt Nam cải tổ thể chế, sửa đổi hiến pháp, lập một Quốc hội lập hiến mới, Việt Tân có sẵn sàng tham gia Quốc hội này hay không? Có sẵn sàng chia sẻ quyền lực với và bên cạnh Đảng Cộng sản Việt Nam hay không? Đảng Việt Tân sẵn sàng làm việc với mọi tổ chức khác nhau miễn là không phải ở trong, cho chế độ độc tài. Vậy thì mở ra một cơ chế nào đó, với cơ hội nào đó, để đất nước thay đổi, quan trọng là thay đổi đó có được sự bảo đảm thực sự với sự công bằng để có thể đạt được tự do dân chủ hay không. Do đó nếu đây là một cơ chế do nhà nước cộng sản Việt Nam mở ra khung cửa và mời mọi người vào, chắc chắn nếu chỉ đơn giản như vậy thôi, chắc chắn đảng Việt Tân không bao giờ tham dự. Vì chúng ta không thể nào hợp tác hay thảo luận trong một vị thế mà mình không có quyền lực, không có áp lực nào nhất định. BBC:Theo ông việc một đảng chính trị đặt trụ ở nước ngoài được cho là thường xuyên gửi Đảng viên của mình tới một quốc gia khác hoạt động có vi phạm luật pháp ở đâu không? Ở Mỹ, theo ông có đảng phái chính trị nào từ nước ngoài vào Mỹ hoạt động chống chính quyền Mỹ và được phép hoạt động không? Thứ nhất, Đảng Việt Tân hay nhiều đảng đấu tranh chính trị khác, gọi là có những thành phần lãnh đạo ở nước ngoài, không có nghĩa là họ đang hoạt động ở nước ngoài. Tại vì mọi đảng chính trị, nguồn gốc và phát sinh cũng là từ ở trong nước mà ra. Đảng Việt Tân là một Đảng ở trong nước với những người, nhân sự cùng hợp tác. Vì chúng ta đứng ở trong nước có những lợi thế riêng, mà đứng ở ngoài nước cũng có những lợi thế khác, cái lợi thế đối với quốc tế, lợi thế về vấn đề truyền thông, thông tin. Tất cả các loại công tác, nếu mà muốn được an toàn, vẫn là kiểu liên lạc chéo. Từ trong nước liên lạc với một người bên ngoài, bên ngoài liên lạc với một người khác để bảo vệ an ninh mà thôi và thành phần lãnh đạo ở trong nước của Đảng Việt Tân vẫn phải cố gắng giữ được một vị thế nhất định để có độ an toàn nhất định. Do đó bảo là Đảng Việt Tân là một đảng ở hải ngoại, điều đó hơi quá đáng. Thực sự ra, Đảng Việt Tân hoạt động ở trong nước rất nhiều và mọi nỗ lực của Đảng Việt Tân đều là dồn cho cái sự phát triển lớn mạnh của những người Đảng viên trong nước, cũng giống như những người đồng bào có cùng quan niệm với Đảng Việt Tân ở trong nước. BBC: Việt Tân, hoặc các tổ chức đảng phái, giới bất đồng chính kiến, hoạt động ở trong và ngoài nước có tương lai nào và ra sao trong một Việt Nam ở tương lai gần, trung bình hay xa hơn? Thực sự ra, mong mỏi của tất cả mọi người yêu dân chủ nói chung và những người Việt Nam đã bị đè nén về tự do, về nhân quyền và dân chủ, đều muốn cho đất nước sớm có một đời sống được tôn trọng nhân phẩm, mà không chấp nhận chế độ độc tài. Chế độ độc tài sợ nhất là gì? Chế độ độc tài sợ nhất là sự thật. Vì họ luôn luôn muốn che lấp những điều sai, hay điều trái, để họ làm những việc đó. Họ sợ thứ nhì là họ sợ công lý, sợ người dân cùng nhau đòi lại lẽ phải cho mình. Và thứ ba, họ rất sợ sự liên kết. Tôi đã nhìn thấy những người dân trong nước đã liên kết, và dần dần đã có nhiều tôn giáo khác nhau liên kết với nhau và các tổ chức chính trị liên kết với nhau. Tôi tin rằng ở trong nước, cũng như những người Việt ở nước ngoài, luôn luôn mong có một sự liên kết, nhất là trong giai đoạn này; hơn bao giờ hết, sự liên kết đó rất quan trọng. Sự liên kết đó không nhất thiết phải nhất thống trong một tổ chức mà liên kết hướng về mục tiêu. Và chúng ta cùng bước với nhau, để thực hiện điều đó. Tôi rất lạc quan trong tinh thần liên kết đó, nó thể hiện qua sự tiếp cận của nhiều nhà dân chủ, đối với đảng Việt Tân nói riêng và đối với nhiều đảng khác ở nước ngoài cũng như ở trong nước, nói chung. Tôi rất lạc quan sự liên kết trong thời gian tới mỗi ngày một vững mạnh hơn. Nguồn: BBC    
......

Biểu tình vì chủ quyền đất nước tại Hà Nội ngày 02.06.2013

Như để thách thức dân tộc Việt Nam, không đầy 24 tiếng trước giờ biểu tình, hải quân Trung Quốc lại đâm chìm một tàu đánh cá của ngư dân Việt. Thêm một sinh mạng đồng bào chìm vào Biển Đông. Đứng trước tình trạng nhu nhược của nhà cầm quyền CSVN, từ Lương Thanh Nghị đến Nguyễn Tấn Dũng chỉ đánh võ mồm. Người Việt Nam không thể nào chấp nhận để đất nước Việt Nam dần dần rơi vào tay kẻ thù ngàn đời của dân tộc. Đồng bào trong nước đã đứng lên kêu gọi toàn dân xuống đường biểu tình Phản đối Trung Quốc gây hấn và xâm phạm chủ quyền Việt Nam trên biển Đông. Trong khi Bắc Kinh ngày càng leo thang gây hấn trên biển Đông thì nhà cầm quyền Việt Nam vẫn ngồi yên với câu nói nước đôi về "niềm tin chiến lược" của ông Nguyễn Tấn Dũng tại Singapore. Niềm tin giữa những ai? giữa đảng CSVN và đảng CSTQ? Câu trả lời có thể thấy qua việc công an đàn áp các cuộc biểu tình của người dân  từ ngày hôm trước tại Hà Nội và Sài Gòn. Hưởng ứng lời kêu gọi xuống đường biểu tình, sáng Chủ Nhật, 2.06.2013, lúc 08 giờ 30 tại khu vực Hồ Gươm - Hà Nội đã diễn ra cuộc biểu tình tuần hành mang theo các biểu ngữ chống Trung Quốc.       Nhiều người bị công an bắt đưa lên xe buýt chở đi. Trong số những người bị bắt có blogger JB Nguyễn Hữu Vinh, bà Bùi Thị Minh Hằng, blogger Nguyễn Tường Thụy, blogger Lã Việt Dũng, blogger Trương Văn Dũng... Xin xem tiếp loạt Tin Nhanh về cuộc biểu tình vì chủ quyền đất nước ngày 2/6/2013: Tin Nhanh Số 8: Những tiếng nói tiêu biểu trong ngày biểu tình vì chủ quyền Đất Nước Tin Nhanh Số 7: Công an xác nhận lãnh đạo bảo kê cho Trung QuốcTin Nhanh Số 6: Làm sao công an bênh vực nổi chính sách Hèn với Giặc - Ác với Dân?Tin Nhanh Số 5: Tàu còn không sợ, sá gì công an!Tin Nhanh Số 4: TÀU KHỰA, HÃY CÚT KHỎI BIỂN ĐÔNG!Tin Nhanh Số 3: Công an không thể chận hết mọi ngã đường...Tin Nhanh Số 2: Biểu tình trên đường phố - Biểu tình ngay tại nhà - Nối kết nhau qua mạngTin Nhanh số 1: Biểu tình ngày 2/6/2013 - uống đường vì Tổ Quốc   Xin xem tiếp  Youtube: Biểu tình chống Trung Quốc gây hấn - Hà Nội ngày 02/06/2013http://www.youtube.com/watch?v=_R8-R6OWtR0&feature=player_embedded Công an tấn công dân trong đồn Lộc Hàhttp://www.youtube.com/watch?feature=player_embedded&v=2IbU9uCpNqo#!      
......

Pages